Khi tôi viết những dòng này thì thầy đã về với tổ tiên được mấy
năm. Nhưng trong tôi, trong lòng nhiều bạn bè, nhiều thế hệ sinh viên khoa Ngữ
Văn, đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là trường đại học KHXH&NV thì hình ảnh
PGS Bùi Duy Tân bao giờ cũng đọng lại nhiều ấn tượng.
Khi khoá chúng tôi vào trường thì thầy cũng đã thành danh rồi.
Giáo trình thầy viết, những bài báo của thầy in tuy chưa nhiều nhưng đã thấy sự
chắc chắn, cẩn trọng trong những đánh giá, nhận định lúc nào cũng chừng mực, có
cơ sở. Tổ Văn học Cổ-Cận-Dân hồi ấy do GS Đinh Gia Khánh là Tổ trưởng gồm nhiều
thầy rất trứ danh như các PGS Trần Đình Hượu, Bùi Duy Tân, Nguyễn Lộc, Chu Xuân
Diên, Võ Quang Nhơn, Mai Cao Chương và hai thầy giáo trẻ hơn là Lê Chí Quế và
Trần Vĩnh cũng đang trên con đường khẳng định vị thế chuyên môn của mình. Các
thầy đều đã là những chuyên gia, đã công bố nhiều công trình nên chúng tôi được
nghe những bài giảng về văn học dân gian, văn học cổ trung đại hay đến mức sau
này, khi đã trưởng thành rồi, trong nhiều câu chuyện với bạn bè, đồng môn khoa
Ngữ Văn, câu chuyện về các thầy luôn là những đề tài không bao giờ cạn. Học
trò, dù đầu đã bạc, nhưng cái chất “nhất quỷ nhì ma” thì không bao giờ hết. Xen
giữa những chuyện chúng tôi kể cho nhau về các thầy, bao giờ cũng có vài ba chuyện
thực có, bịa có về một thói quen, một cá tính nào đó về thầy, chỉ để nhớ lại và
cười vui mà trong đó phần yêu mến và trân trọng vẫn nổi trội nhất. Gần như chưa
thấy có sự oán trách hay hờn giận, dù mỗi người trong chúng tôi cũng có một đôi
lần thủa đi học làm mếch lòng thầy vì sự lười biếng hoặc dốt nhưng lại giấu dốt.
Chúng tôi hiểu cái đạo thầy trò như vậy dù bây giờ đã có khác nhiều. Cái thời ấy
như thế và chúng tôi sản phẩm của thời ấy nên cũng không thể khác. Hay nếu có
thì chỉ là cá biệt.
Với nhiều thế hệ sinh viên Ngữ Văn thì thầy Bùi Duy Tân để lại những ấn tượng rất đặc biệt. Thầy gắn bó với sinh viên nhiều một phần vì thầy giản dị, thường đưa ra những chỉ dạy, khuyên nhủ như một người thầy, người cha, người ông khi sinh viên có những khúc mắc nào đó trong cuộc sống.
Mặt khác, thầy lại ở ngay trong ký túc xá nên các em cũng hay đến nhà thầy. Với số anh em ở trong khu tập thể Mễ Trì, thầy như bậc trưởng lão, ai có chuyện gì cũng tìm đến thầy tâm sự, ai có băn khoăn về chuyên môn cũng muốn nhận được những lời khuyên từ thầy. Thầy biết lắng nghe đã đành. Cái hay nhất mà anh em chúng tôi cảm nhận được nơi thầy là một sự quan tâm, quan tâm xen lẫn những lo lắng, yêu thương của một người thầy, người cha chỉ mong muốn cho lớp hậu bối chúng tôi trưởng thành. Thầy rất nghiêm. Nghiêm từ trong cách ứng xử, cách nhắc nhở. Lúc giận lắm, thầy nghiêm mặt, giọng nói căng lên “Sao lại có thể như vậy nhỉ?” làm cánh trẻ chúng tôi rất sợ. Ở với thầy lâu, quen dần chúng tôi mang những chuyện ấy ra đùa, kể lại cho thày nghe, thày cười: “mình không chịu được những cách thức như thế”. Khi giận lắm, thầy mắng “quân phố phường”. Sau này, khi đã gần nhau lắm, lúc thầy vui, thầy cũng nói lại câu ấy nhưng kèm theo là nụ cười và giục “Thôi, về làm việc đi, mất thì giờ”. Hiểu và yêu thầy, anh em hay cười kể cho nhau nghe và bảo “cụ Lý nói thế này”, “cụ Lý nói thế kia”. Thầy biết, cánh trẻ gọi thầy là Lý trưởng vì cách thầy nói có cái gì đó như gia trưởng, mệnh lệnh, không cho cãi nhưng ẩn chứa đằng sau đó là một sự quan tâm, một mong mỏi đầy yêu mến.
Với nhiều thế hệ sinh viên Ngữ Văn thì thầy Bùi Duy Tân để lại những ấn tượng rất đặc biệt. Thầy gắn bó với sinh viên nhiều một phần vì thầy giản dị, thường đưa ra những chỉ dạy, khuyên nhủ như một người thầy, người cha, người ông khi sinh viên có những khúc mắc nào đó trong cuộc sống.
Mặt khác, thầy lại ở ngay trong ký túc xá nên các em cũng hay đến nhà thầy. Với số anh em ở trong khu tập thể Mễ Trì, thầy như bậc trưởng lão, ai có chuyện gì cũng tìm đến thầy tâm sự, ai có băn khoăn về chuyên môn cũng muốn nhận được những lời khuyên từ thầy. Thầy biết lắng nghe đã đành. Cái hay nhất mà anh em chúng tôi cảm nhận được nơi thầy là một sự quan tâm, quan tâm xen lẫn những lo lắng, yêu thương của một người thầy, người cha chỉ mong muốn cho lớp hậu bối chúng tôi trưởng thành. Thầy rất nghiêm. Nghiêm từ trong cách ứng xử, cách nhắc nhở. Lúc giận lắm, thầy nghiêm mặt, giọng nói căng lên “Sao lại có thể như vậy nhỉ?” làm cánh trẻ chúng tôi rất sợ. Ở với thầy lâu, quen dần chúng tôi mang những chuyện ấy ra đùa, kể lại cho thày nghe, thày cười: “mình không chịu được những cách thức như thế”. Khi giận lắm, thầy mắng “quân phố phường”. Sau này, khi đã gần nhau lắm, lúc thầy vui, thầy cũng nói lại câu ấy nhưng kèm theo là nụ cười và giục “Thôi, về làm việc đi, mất thì giờ”. Hiểu và yêu thầy, anh em hay cười kể cho nhau nghe và bảo “cụ Lý nói thế này”, “cụ Lý nói thế kia”. Thầy biết, cánh trẻ gọi thầy là Lý trưởng vì cách thầy nói có cái gì đó như gia trưởng, mệnh lệnh, không cho cãi nhưng ẩn chứa đằng sau đó là một sự quan tâm, một mong mỏi đầy yêu mến.
Thầy có nhiều tâm sự không đắc ý. Mà điều này cũng là do những
ấu trĩ và sai lầm của một thời. Đã nhiều lần tổ chức Đảng ở khoa về quê thầy
xác minh lý lịch để kết nạp Đảng cho thầy nhưng không thành, kể cả khi thầy
đang làm Phó Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn. Những thiên kiến và định kiến đã cản trở
chuyện này. Khoảng chục năm trước, trong một lần hai thầy trò ngồi nói chuyện với
nhau rất lâu, thầy bảo tôi: “Mình đã cởi bỏ được tất cả những thứ ấy rồi. Ai giữ
mãi những điều đó làm gì, dù không phải là dễ quên. Ở đời, mỗi thời người ta đều
có cái lý của mình. Mình bị thiệt thòi hơn người khác nhưng những cái ấy bây giờ
đã qua cả rồi. Còn ít hơi sức nào thì cố làm một vài thứ nữa, mà cũng ngắn thôi
chứ quỹ thời gian cũng ngắn rồi”. Nhìn mái tóc thầy cắt cua, lốm đốm bạc, tôi
thấy thương thầy vô cùng. Nhưng năm cuối đời thầy đỡ vất vả hơn vì các em đã lớn,
mỗi người có đời sống ổn định, thầy không còn phải vừa lo ở trường, vừa lo ở hậu
phương theo nghĩa đen của câu này.
Anh Nguyễn Hùng Vĩ có lần bảo tôi: “Cụ Tân vừa bảo em là cánh
trẻ khoa mình có xuất phát điểm khá nhưng chưa chú tâm vào việc lắm như lớp tôi
ngày xưa”. Tôi bảo: “So với thế hệ các thầy sao được. Các cụ ngày xưa nhu cầu
ít, mọi thứ chỉ dồn vào việc đọc và viết. Lũ chúng ta bây giờ đọc ít hơn, chí
ít hơn và sự nghiêm cẩn cũng kém hơn”. Anh Vĩ bảo các cụ vừa nghiêm cẩn, vừa
trước sau mà làm cái gì cũng “đuya lắm”. Anh kể khi GS Bùi Duy Tân in xong cuốn
chuyên luận về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, hai thầy trò đi quê Trạng để dâng
hương. Anh ngạc nhiên thấy thầy đặt lễ 500.000 đồng bởi ngày ấy, số tiền này
cũng khá và hầu như trừ dân buôn bán ra, không ai đặt lễ như thầy. Hơn nữa, thầy
lại cũng không dư dả gì. Trên đường về, anh đem băn khoăn ấy ra hỏi thầy, thầy
nói rất chân thành: “Tôi vào nghề thì nghe Cụ Khánh (GS Đinh Gia Khánh) khuyên
chọn Cụ Trạng để nghiên cứu. Thế là mình trình làng cũng từ di sản của Cụ, một
phần thành danh cũng từ Cụ. Mấy chục năm sau mới hoàn thành được cuốn này
(chuyên luận dày dặn nhất trong giới nghiên cứu về Phùng Khắc Khoan). Hưởng lộc
Cụ nhiều, giờ tạ Cụ chút lòng thành”. Anh Vĩ bảo tôi: “Mình không theo được các
cụ anh ạ”. Anh còn kể khi đến hỏi thầy về chuyện nọ, chuyện kia, thầy chỉ bảo:
“Tôi đọc cũng không được nhiều (trời ơi, đọc như các thầy mà vẫn bảo chưa nhiều,
trong khi có người còn sau chúng tôi nữa mà dám nói đã học hết chữ của thầy rồi
thì loạn thật), chỉ biết là cổ nhân dạy đọc sách thì theo đòi nghĩa sách,
cố theo đòi cái đạo lý ấy, để sống. Chả biết nói thế có lọt tai anh không? Bây
giờ người ta nói nhiều chuyện lạ lắm. Họ bảo cụ này cụ kia không đọc được chữ
Nôm. Lạ thế. Tất cả vốn liếng chữ Nôm tôi có được là học từ cụ ấy đấy chứ”. Rồi
thầy buồn. Nỗi buồn thấm thía trước những nỗi ỉ eo không đáng có của người đời.
Với chúng tôi, có lẽ PGS Trần Đình Hượu và PGS Bùi Duy Tân là những bậc cây cao bóng cả ở bộ môn Cổ - Cận - Dân đẫm chất Nho nhất. Thầy Trần Đình Hượu chỉ miệt mài với những tìm kiếm tư tưởng và lý giải các vấn đề khoa học mà những tìm kiếm và kiên trì xác tín của mình đã đơm hoa kết trái, đã khẳng định sự đúng đắn ấy trong giới nghiên cứu không cần đến bất kỳ yếu tố bên ngoài nào. Ngoài những điều ấy ra, mọi eo xèo của cuộc sống, thầy bỏ ngoài tai. Khi đem chuyện ấy ra hỏi thầy Bùi Duy Tân, tôi được thầy bảo: “Tầm của ông Hượu là tầm của bác học. Không nhiều người hiểu được ông Hượu lúc ông ấy đang tìm kiếm. Nhiều cái ông ấy viết trước đây có in đâu. Giờ thì in chả sót chữ nào. Tôi không có cái thông minh như ông Hượu, cái tài hoa như ông Lộc, chỉ do cần cù nhặt nhạnh chữ nghĩa mà cũng có được chút ít. Việc của chúng ta, lạ thế, đọc, ngẫm nghĩ mãi còn chả ăn ai. Tôi sợ mấy vị ăn xổi lắm”.
Cái cẩn trọng trong đời và trong nghề ở thầy, bây giờ đám anh em chúng tôi vẫn thường nhắc đến và vẫn coi như một lời răn với nghề.
Với chúng tôi, có lẽ PGS Trần Đình Hượu và PGS Bùi Duy Tân là những bậc cây cao bóng cả ở bộ môn Cổ - Cận - Dân đẫm chất Nho nhất. Thầy Trần Đình Hượu chỉ miệt mài với những tìm kiếm tư tưởng và lý giải các vấn đề khoa học mà những tìm kiếm và kiên trì xác tín của mình đã đơm hoa kết trái, đã khẳng định sự đúng đắn ấy trong giới nghiên cứu không cần đến bất kỳ yếu tố bên ngoài nào. Ngoài những điều ấy ra, mọi eo xèo của cuộc sống, thầy bỏ ngoài tai. Khi đem chuyện ấy ra hỏi thầy Bùi Duy Tân, tôi được thầy bảo: “Tầm của ông Hượu là tầm của bác học. Không nhiều người hiểu được ông Hượu lúc ông ấy đang tìm kiếm. Nhiều cái ông ấy viết trước đây có in đâu. Giờ thì in chả sót chữ nào. Tôi không có cái thông minh như ông Hượu, cái tài hoa như ông Lộc, chỉ do cần cù nhặt nhạnh chữ nghĩa mà cũng có được chút ít. Việc của chúng ta, lạ thế, đọc, ngẫm nghĩ mãi còn chả ăn ai. Tôi sợ mấy vị ăn xổi lắm”.
Cái cẩn trọng trong đời và trong nghề ở thầy, bây giờ đám anh em chúng tôi vẫn thường nhắc đến và vẫn coi như một lời răn với nghề.
Ngẫm kỹ, mới thấy cái chất sĩ phu Bắc Hà đã thấm vào các thầy,
cô ở khoa Ngữ Văn ở những điều bình thường nhất. Tôi không dám tuyệt đối hoá
hay thần thánh hoá những gì ở khoa chúng tôi. Tôi cũng hiểu rằng những gì có ở
ngoài đời, cũng đã xảy ra ở khoa và điều đó khiến nhiều người thấy đau lòng.
Nhưng hơn hết, những cái “cách vật, trí tri, chính tâm, tu thân, tề gia” tôi cảm
nhận thấy rất rõ ở cách sống, làm việc, cách dạy chữ, rèn người ở các thầy. Biết
nhiều nhưng chỉ nói những gì cần nói, ai hỏi thì nói, học trò nào thấy cần, đến
gặp các thầy để thụ giáo thì các thầy sẵn lòng chỉ bảo cho. Vẫn có những ưu ái
riêng, những thiện cảm riêng nhưng nói chung, tôi chưa thấy thầy cô nào của
chúng tôi lại không sẵn lòng chỉ bảo cho trò. Thầy Tân đã có lần bảo chúng tôi:
các cụ dạy rồi, trò tìm thầy học đạo dễ chứ thầy tìm được trò để truyền nghề
không dễ chút nào. Theo cảm nhận của tôi, những năm cuối đời thầy rất có ý thức
tìm “đồ đệ” không phải để cho có người sớm tối mà để những gì mình đã đọc được,
suy ngẫm một đời không bị trôi đi trong uổng phí.
Có một chuyện nhỏ này, tôi muốn kể ra đây để hiểu thêm về con
người thầy: hồi tôi còn làm ở Đại học Quốc gia, khi biết tin GS Nguyễn Văn Hiệu
nhận lời làm Chủ nhiệm khoa Công nghệ, thầy mừng lắm. Thầy gọi tôi đến chơi, hỏi
han công việc rất nhiều nhưng không đả động gì đến chuyện cần nói cả. Mãi tới
lúc tôi sắp ra về, thầy mới nói, như thoáng qua, tiện thì nhắc thế thôi nhưng
tôi hiểu ý thầy: “Này, ông Hiệu nhận làm Chủ nhiệm khoa Công nghệ à”. Tôi giãi
bày đôi điều, thầy nghe rồi lấy tay xua xua ra hiệu bảo tôi đừng nói nữa rồi bảo:
“Thiên hạ lạ lắm anh ạ. Tôi nghe có người nói này nọ nhưng tôi không tin. Ông ấy
to như thế, làm gì chả được. Vậy mà nhận làm cái chức con con như thế để lo việc
thiên hạ, không ngại những phiền hà vớ vẩn, không phải ai cũng làm được đâu.
Các anh nhìn vào đó mà sống. Tôi chỉ nói thế thôi. Anh nghe hay không, tuỳ.”
Và, khi đã biết mình bị ung thư, thầy vẫn không nguôi những
suy nghĩ về nghề, về đời. Lúc phải ngồi xe lăn rồi, biết có hội nghị bàn về một
vấn đề thầy quan tâm, thầy vẫn vượt qua măc cảm thói thường, đến và nói ý của
mình. Con người ấy, sống không có gì thật nổi bật nhưng đã để lại cho chúng tôi
- những học trò, bao ân tình. Với các anh em cán bộ ở khoa Ngữ Văn chúng tôi,
thầy mãi là một trong những “sư biểu” mà chúng tôi tôn kính.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét