Sau cơn bạo bệnh tai biến mạch máu não vào tháng 6.1998,
nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường không cầm được cây viết nữa, ông phải “viết văn bằng
miệng”, nghĩa là đọc cho người khác chép. Và cuốn sách “viết bằng miệng” về người
bạn thân Trịnh Công Sơn của ông đã ra đời vào năm 2005, cuốn “TRỊNH CÔNG SƠN
VÀ CÂY ĐÀN LYA CỦA HOÀNG TỬ BÉ”. Dưới đây là lời tựa ông viết cho cuốn sách này:
Trái sang: Trịnh Công Sơn, Bửu Ý,
Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Phủ
Ngọc Tường.
André Malraux đã định nghĩa: “Nghệ thuật là cái chống lại định
mệnh”. Ngày xưa, có một người Hy Lạp cổ đã thử cố gắng triển khai đời mình
trong một nỗ lực chống định mệnh như thế, đấy là Empédocle.
Bình sinh, Empédocle là một nhà bác học lỗi lạc, đã xây dựng
nhiều công trình có ích lợi cho nhân dân Hi Lạp, thí dụ như xẻ một trái núi, đào
một dòng sông…Lúc về già, Empédocle đi khắp nơi để truyền bá học thuyết triết học
của ông, với một tấm áo choàng đỏ, mà ông cho rằng ấy là biểu hiện của lửa. Ông
trèo lên bên miệng núi lửa Etna đang hoạt động và nhảy vào lòng núi lửa, để lại
trên miệng núi một đôi dép. Người phương Tây dùng hình tượng “đôi dép Empédocle”
(les sandales d’Empédocle) để chỉ “danh tiếng”.
Huyền thoại trên đây mang ý nghĩa thâm thúy rằng đối với con
người, trước khi trở về với hư vô, vẫn cần phải để lại dấu vết của mình trên mặt
đất, chính là tên tuổi của mình.
Người Trung Hoa thì gọi sự nghiệp của con người để lại sau cái
chết là “hồng tuyết trảo” (dấu chân chim hồng đi trên tuyết). Cũng giống như “đôi
dép Empédocle” của người Hy Lạp cổ đó thôi, vết chân thì mỏng manh có ra gì, nhưng
hợp với lẽ tự nhiên, đã đi qua thì để lại dấu chân, học theo con chim hồng đi
trên tuyết.
Bìa sách…
Trịnh Công Sơn đã cho rằng mọi cái ở đời đều là phù phiếm, như
ta đã thấy. Anh không tích lũy một chút của cải vật chất nào cho riêng mình cả.
Rốt cuộc, như một vật thể không bị hòa tan trong lịch sử, chính là tên tuổi của
anh. Khi tôi mới rời Huế ra đi vào năm 1966, tên tuổi của Trịnh Công Sơn mới bắt
đầu bằng những nét chữ mờ nhạt. Nhưng khi tôi trở lại Huế, vừa đúng với sự kiện
năm 1975, tên tuổi của Trịnh Công Sơn đã vang dậy hết thành phố này đến thành
phố khác. Trịnh Công Sơn đã thành công rất nhanh kể từ mấy bài ở phố biển,
nhanh đến độ lúc này tên tuổi Trịnh Công Sơn đã sáng chói khắp cả bầu trời âm
nhạc miền Nam.
Nhạc của Trịnh Công Sơn tồn tại rất bền lâu, nhiều bài của thời
kỳ đầu đến nay vẫn còn nổi tiếng. Qua một thời gian dài bị chính quyền Sài Gòn
cấm đoán, nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn đến được tay công chúng, bằng cách mỗi người
tự chép riêng những bài hát yêu thích và lưu chuyển đến người khác. Như thể có
một dòng sông ngầm vẫn trôi đi trong khi những dòng sông trên mặt đất đã bị tắc
nghẽn. Điều đó chứng tỏ nội lực âm nhạc của Sơn, từ đó phát ra sức mạnh thúc đẩy
sự luân lưu giữa cuộc đời. Theo công bố của Đài phát thanh Sài Gòn nghe được ở
chiến khu, thì năm 1966 Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ được quần chúng hâm mộ nhiều
nhất.
Ở Sài Gòn trước 1975, người ta vẫn thấy nhiều quán rượu hoặc
cà phê bên đường có tên là Biển nhớ, Diễm xưa, Hạ trắng, Mưa hồng… Ở Đà Lạt, ở
Huế hoặc những thành phố khác cũng đều như vậy. Ở miền Bắc dù ít hơn song không
phải là không có những cô gái đã đi qua tuổi học trò với những bản nhạc của Trịnh
Công Sơn chép tay luôn luôn được mang theo trong cặp sách.
Có lần tôi lang thang ngoài một hòn đảo vùng biển Quy Nhơn, gặp
một quán rượu nhìn ra biển, dựng trên một mảnh đất của dân mới đến khai phá. Gặp
tôi, cô chủ quán hỏi câu đầu tiên là: “Anh có thuộc bài Biển nhớ của Trịnh Công
Sơn không?”. Thậm chí, tôi muốn nói rằng có một văn hóa Trịnh Công Sơn trong đời
sống tinh thần của các đô thị miền Nam; và Trịnh Công Sơn nghiễm nhiên trở thành
một nhà văn hóa đồng thời với một nhạc sĩ.
Sự nổi tiếng của Trịnh Công Sơn cho ta thấy một hiện tượng xã
hội thật hiếm có trong chiến tranh. Chẳng những những người hâm mộ Sơn thích nhạc
Trịnh Công Sơn, mà cả những người chống Trịnh Công Sơn (về chính trị) cũng thích
nghe nhạc Sơn. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng sau chuyến đi du hành ở Pháp cùng với
Trịnh Công Sơn luôn luôn khẳng định như vậy.
Ở miền Nam, từng có một viên tư lệnh thiết giáp đã từ chối lệnh
hành quân trong chiến dịch Nam Lào vì chịu ảnh hưởng tư tưởng phản chiến của Trịnh
Công Sơn. Tôi tự hỏi những người thường lên án nhạc Sơn năm xưa có biết được tính
“tích cực” của tư tưởng phản chiến của Sơn trong những trường hợp như vậy hay
không.
Tin Trịnh Công Sơn từ trần được các báo lớn trên thế giới thông
báo cho bạn đọc, và từng nhóm Việt kiều đã tổ chức lễ tưởng niệm hoặc “đêm nhạc
Trịnh Công Sơn”. Có lẽ chưa có sự ra đi của danh nhân văn hóa nào đã để lại nhiều
cuốn sách tưởng niệm như vậy: TP. HCM ba cuốn, TP Hà Nội hai cuốn và
Huế một cuốn cùng với ba cuốn sách của cá nhân nhà văn, mỗi cuốn sách tác phẩm
của cộng đồng đều tập trung bài vở của hàng chục tác giả đủ mọi giới, nam và nữ,
âm nhạc và các ngành khác. Tất cả những người viết đều đã trực tiếp gặp gỡ Trịnh
Công Sơn, và thế mới biết bạn bè của Trịnh Công Sơn đông không thể hình dung được.
Khát vọng “lưu danh thiên cổ” tỏ ra bức xúc đến nỗi Érostrate,
cũng là một người cổ Hy Lạp, đã thề rằng nếu không được lưu danh như một kẻ xây
đền (đền thờ nữ thần Athena) ta sẽ lưu danh như một kẻ đốt đền.
Vậy thì “cái tên” là một tòa nhà còn mãi, trong đó cư ngụ đời
sống vĩnh hằng của con người sau khi chết. Cao Bá Quát đã từng nói: “Đời người
há không viết gì lên đấy, như một tấm bia không chữ”. Người đời sẵn sàng phê phán
thói hư danh, nhưng không nên nhầm lẫn với sự hiếu danh: khát vọng lưu danh là
chính đáng và là đòi hỏi đáng giá để đặt ra trước cuộc sống trần thế.
Chúng ta hài lòng khi thấy Trịnh Công Sơn đã giành được trong
tay định mệnh, cái mà người nghệ sĩ nào cũng thèm muốn: sự bất tử. Trịnh Công Sơn
không có nhà cửa nguy nga, của cải vật chất và không có vợ con riêng. Nhưng Trịnh
Công Sơn có một cái tên để lưu truyền cho hậu thế. Và tất cả đó để làm gì? Cũng
theo lời bài hát của Sơn, Để gió cuốn đi. “Khát vọng lưu danh” là một ý niệm rỗng
không về vật chất, và Trịnh Công Sơn đã sống đúng với ý niệm ấy.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét