Đối với riêng tôi, phố Hàng Chuối, Hà Nội là con phố văn hóa
rất dễ thương. Cái tên phố thì nôm na, dân dã, nhưng chính đường phố ấy lại là
nơi tọa lạc của mấy cơ quan văn hóa tầm cỡ trung ương, quan trọng: Ủy ban Khoa
học xã hội, Viện sử học, Nhà xuất bản Phụ nữ, báo Phụ nữ, và đặc biệt là Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Gần mười năm qua, đường Hàng Chuối, số nhà 16, với
tôi đã thành một lối đi về.
Năm năm trước, khi viết những dòng chữ cuối cùng trong bài Đường
tới Hàng Chuối để kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Nhà xuất bản ĐHQGHN, tôi nhìn
ra ngoài cửa sổ, thấy trời mưa tối sầm. Bước xuống cổng thường trực, tôi thấy ớn
lạnh: đường Hàng Chuối nước ngập mênh mang, trong ánh hoàng hôn, lòng phố giống
như một dòng sông nhỏ. Tôi không có thuyền, chỉ có xe máy, vì vậy phải chờ nước
rút. Tôi quay lên phòng làm việc, ngồi viết, chờ nước xuống. Viết trong tiếng mưa
rơi dầm dề, viết trong tâm trạng chờ nước cạn, thông đường, tự nhiên tôi có
linh cảm: chỗ mình ngồi không phải nơi này. Phòng Tổng Biên tập là nơi mình ngồi
nhầm chỗ.
Thấm thoắt, vậy mà đã bốn năm tôi xa nơi nhầm chỗ. Bốn năm đi
xa, ba năm làm việc trước đó, cộng lại là bẩy năm. Cái con số rành mạch như vậy,
nhưng trong tôi, cảm giác trải nghiệm sự sống lại không rành mạch như vậy. Bẩy
năm – vẫn như một giấc mơ trưa.
Bẩy năm trước, khi đang làm Phó chủ nhiệm khoa Báo chí và TBT
Bản tin Đại học Quốc gia HN, tôi có chuyến công tác Sài Gòn. Xong công việc ở Sài
Gòn, tôi dành ra một ngày đi thăm địa đạo Củ Chi. Giữa lúc đang chui hầm, ngẩn
ngơ trong những cánh rừng chiến địa thì tôi nhận được một cú điện thoại di động
làm tỉnh hẳn người : “ Có Quyết định rồi thì anh phải về nhận bàn giao và làm
việc đi chứ !” Đó là tiếng anh Phùng Quốc Bảo. Đó cũng là tiếng giục dã của hiện
tại, cắt đứt những hồi ức của tôi về một thời trận mạc.
Thật ra, nếu có anh Bảo bên tôi trong khu rừng địa đạo lúc này,
cả hai chắc sẽ rất vui. Anh Bảo và tôi cùng từ trường Đại học Tổng hợp lên đường
nhập ngũ tháng 9 năm 1971 và cùng chung một đại đội huấn luyện, trước khi vào
chiến trường. Ngày nhập ngũ, anh Bảo đã là sinh viên khoa Vật lý năm thứ tư, còn
một năm nữa là ra trường. Ngày mùng 6 tháng 9 năm đó, Trường ĐH Tổng hợp tiễn ồ
ạt hơn bốn trăm sinh viên thuộc hai năm thứ hai và thứ 3. Năm thứ tư, nghe nói được
miễn, vì sắp ra trường. Nhưng rồi hơn một tuần sau, có lẽ do chiến trường miền
Nam thiếu quân, các trường đại học lại “vét” thêm sinh viên năm cuối, bổ sung.
Thế là sau một tuần, khi bộ quần áo lính ga-ba-din của chúng tôi còn sột soạt,
chưa giặt hết màu hồ, thì chúng tôi đã thấy anh Bảo và các chàng sinh viên Lý 4
xuất hiện . Nhìn khuôn mặt thư sinh trắng trẻo, lại có tiếng học giỏi, sắp được
giữ lại trường của anh Bảo, ai cũng mến, thích bắt chuyện, làm quen. Nhưng quan
sát kỹ, tôi vẫn nhớ, khuôn mặt ấy giấu kín một nỗi buồn. Cầm súng tập bắn đấy, trò
chuyện, cười đùa đấy, nhưng hồn anh vẫn để đâu đâu, thi thoảng lại giật mình,
như sực nhớ điều gì. Tôi đoán chắc cũng không phải do anh vấn vương với những
quy luật vật lý nào xa xôi, mà chỉ buồn vì tiếc học, giống tôi. Suy bụng ta ra
bụng người kiểu ấy, tôi cảm thấy hãnh diện, vì dù sao tôi cũng giấu được, kiềm
chế được, vì đã vào lính trước anh một tuần…
Kết thúc chiến tranh, sinh viên Tổng hợp từ các đơn vị và các
chiến trường khác nhau lục tục xuất ngũ, trở lại trường học tiếp. Một hôm tôi gặp
anh trong bộ cánh dân sự. Hỏi ra mới biết: anh đã ra quân với chức vụ Trung đội
trưởng, học nốt năm thứ 4, tốt nghiệp, và sau một thời gian giảng dạy ở khoa Lý,
anh đã qua một kỳ làm chuyên gia giáo dục ở châu Phi.
Bẵng đi một dạo, một ngày nọ anh Bảo tìm đến nhà tôi chơi,
thuyết phục, củng cố ý định chuyển nghề của tôi. Tôi vui vẻ nhận lời, đem sách
mình dịch ra khoe với anh. Thật ra, trước đó, khi nghe Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp
và ông bạn Phạm Quang Long gợi ý tiến cử tôi từ Bản tin ĐHQGHN sang làm Tổng biên
tập NXB, tôi đã thấy khoan khoái, không đắn đo gì. Tôi cũng chẳng quan tâm tới
chuyện ai làm Giám đốc. Tôi chỉ quan tâm tới chuyện chuyên môn, bất biết ai là đồng
sự. Đến khi nghe nói anh Bảo sẽ làm Giám đốc, tôi thấy mình quả là kẻ hữu duyên.
Đến lúc này, khi lang thang trên vùng du lịch Củ Chi, nghe điện
thoại anh Bảo giục về làm việc, tự nhiên tôi thấy xương sống ớn lạnh. Hình như
linh tính cho tôi biết rằng: tôi đã quyết định hơi vội vã, hình như cuộc đời tôi
sắp sang chương mới. Hình như sau chuyến bay trở về Hà Nội ngày mai, tôi sẽ phải
dấn thân vào một cuộc chiến đấu mới, cũng gay go, cũng khốc liệt như mặt trận Củ
Chi này.
Chỉ mấy ngày sau, tôi đã có mặt trong phòng Tổng biên tập.
GS. Giáp đưa tôi một chiếc chìa khóa kèm một mảnh giấy ghi chép nguệch ngoạc. Hóa
ra đó là chìa khóa phòng và bản kê đồ đạc, đại khái “ coi như là biên bản bàn
giao” - Giáo sư tặc lưỡi bảo thế. Tôi vào phòng, ngồi xuống bộ xa lông, nhưng bộ
xa lông đóng rất hà tiện, ngồi chỉ được nửa mông. Lúc ra tôi về, ổ khóa hóc, ba
người thay nhau xoay chìa mới khóa được cửa. Đại úy Chương an ủi tôi: “Có gì mà
sợ mất, anh. Ổ khóa này ông Giáp phải dùng mẹo mới mở được. Tôi sẽ trang bị lại.
Đi làm chầu bia đã”.
Uống bia trò chuyện một lúc tôi mới nhận ra là, ở nhà xuất bản
của mình (gọi là của mình được rồi), đàn ông không già, đàn bà không trẻ. Nhiều
tuổi như ông Chương, nhưng ngồi uống bia mới biết tính tình rất trẻ. Còn phụ nữ
thì, trước đó, nhiều người tôi gọi là cháu, xưng chú, bây giờ hỏi ra mới biết
có con lớn rồi. Đã trót gọi “cháu” rồi, bây giờ lại chuyển sang “em” thấy ngọng.
Gọi “cháu” đấy nhưng mà tiêng tiếc, thấy thiệt, vì nói chung phụ nữ nhà này tất
cả đều xinh. Sau này, khi xem ảnh chụp dàn đồng ca nữ Nhà xuất bản tham gia hội
diễn văn nghệ, có người đã nhầm với đoàn văn công Tuyên Quang. Xinh xắn,
trẻ dai, nhưng phải đến một nửa là đáo để. Vì sao nói vậy?
Sự đáo để này tôi đã được thụ hưởng luôn ngay trong tháng làm
việc đầu tiên. Món quà tặng ấy thường được hưởng vào buổi sáng, khi anh Bảo gọi
tôi sang nghe kiện. Có lẽ anh Bảo có ý định chia sẻ cùng anh “suất ăn sáng” đó
thì ít, mà muốn tôi nắm bắt, làm quen với không khí xuất bản để mà “tùy tục”
thì nhiều. Mở cửa phòng ra ngoài hành lang, chủ yếu chỉ nghe thấy tiếng phụ nữ.
Khiếp quá! Tôi đã định khi nào phải quát một cái, ra oai Tổng biên tập,
nhưng suốt 3 năm không quát nổi câu nào. Có một lần định quát thì cái nộ khí
trong bụng nó nở ra quá mức, chuyển hóa thành ý định bóp cổ. Nghe la làng,
tôi biết mình sai, mấy tuần sau phải nhanh chóng mượn rượu cưới giảng hòa. Tôi
phàn nàn với Tiến sĩ Phạm Ngọc Trâm: “phải đến một nửa là đáo để”. Ngọc Trâm
cải chính: “Nửa là thế nào. Hai nửa. Thật ra, một nửa tạm gác lại ở nhà, không
mang đến cơ quan nên anh vẫn thấy cái nửa nhu mì đấy thôi. Phụ nữ thời nay không
đáo để, sống sao được.”
Nghe Ngọc Trâm tuyên ngôn thế, tôi càng hoang mang, lập tức
nghĩ đến vợ mình, không biết nàng cất cái nhu mì ở đâu. Từ đó tôi càng nâng cao
tinh thần cảnh giác.
Nhưng rồi câu chuyện con người cũng chìm đi sau câu chuyện công
việc. Làm Tổng biên tập, tôi được hưởng thứ hạnh phúc nghề nghiệp rất ngọt ngào
khi giải trình, tranh luận hoặc thuyết phục được Cục xuất bản cho phép một cuốn
sách nào đó ra đời. Có những tiêu đề sách bị xem thuộc khu vực nhạy cảm về chính
trị nên buộc phải tạm xếp lại yêu cầu về tính khoa học khách quan. Tuy nhiên khái
niệm “chính trị” nhiều khi được hiểu quá máy móc, khái niệm “nhạy cảm” thì lại
rất mù mờ, tối nghĩa, do vậy không ít cuốn sách mãi mãi tồn tại trong dạng bản
thảo chờ duyệt. Tác giả thiệt thòi là đương nhiên, nhưng thiệt nhiều nhất chính
là độc giả. Những điều bị coi là “sai phạm về tư tưởng” nhiều khi chẳng thấm tháp
gì, thậm chí là vô nghĩa trước những luận điệu la lối của kẻ thù bên ngoài biên
giới. Những điều “sai phạm” đó chỉ hiện ra trong mắt một số nhà chức trách, một
hai cơ quan hữu trách, còn đối với quảng đại độc giả thì gần như không hiện hình,
không hề tồn tại. Tình yêu cuộc sống, tình cảm yêu nước và cái tâm trong sáng dễ
dàng tiêu hóa luôn, bỏ qua luôn vài hạt sạn trong cái khối vàng ròng chân - thiện
- mỹ mà tác giả chưng cất. Tôi đánh giá các bản thảo bằng lòng tự tin của một
người thắng Mỹ, một công dân trên đất nước tự do.
Năm 2005, Nhà xuất bản đã công bố được 2 công trình của nhà
triết học Trần Đức Thảo và một cuốn sách dưới dạng chân dung học thuật về ông.
Cuốn sách “Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo” mỏng manh nhưng đã trở thành một
hiện tượng lạ đối với trí thức Việt Nam hải ngoại. Xa nước lâu năm, nhiều người
gốc Việt ở Pháp ở Mỹ vẫn hình dung không khí đất nước như thời “Cải cách”. Nhiều
học giả nước ngoài gửi thư từ, tư liệu về cho Ban biên tập Nhà xuất bản, xin được
công bố. Thư viện Quốc gia Việt Nam chủ động tổ chức Hội thảo khoa học về Nhà
triết học Trần Đức Thảo và ra mắt cuốn sách giúp NXB rất trang trọng. Nhà kinh
tế học Việt Phương -nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tặng toàn bộ tập
di cảo Trần Đức Thảo với niềm tin cậy “gửi gắm cho Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia HN”. Tôi không ngờ cuốn sách nhỏ có tiếng vang đến vậy. Nhân tiện, tôi lấy
luôn bài viết mới của mình trong cuốn sách gửi cho báo Văn Nghệ - cơ quan ngôn
luận chính thống của Hội Nhà văn Việt Nam. Nửa tháng chờ đợi, đến đúng ngày kết
thúc Đại hội Đảng, trong số báo chào mừng thành công của Đại hội, bài báo đó lừng
lững xuất hiện như một lời tuyên cáo chính thức quan điểm đánh giá về văn học
quá khứ và cũng như lời chiêu tuyết đầu tiên cho một học giả lữ thứ.
Tôi nhận được liên tục thư yêu cầu tái bản, yêu cầu tặng sách. Nhà xuất bản ĐHQGHN được coi như một địa chỉ Mạnh Thường Quân của văn hóa, khoa học. Hạnh phúc của tôi là đấy.
Tôi nhận được liên tục thư yêu cầu tái bản, yêu cầu tặng sách. Nhà xuất bản ĐHQGHN được coi như một địa chỉ Mạnh Thường Quân của văn hóa, khoa học. Hạnh phúc của tôi là đấy.
Nhưng có một điều lạ lùng, sau này tôi mới nhận ra, là sách đó
lại bán không chạy. Hóa ra lý do ở nghiệp vụ phát hành chi là thứ yếu,
nguyên nhân sâu xa vẫn là nhu cầu thị trường, nhu cầu xã hội. Hàm lượng trí tuệ
và chất xám thông tin trong mỗi cuốn sách đang từng ngày tỷ lệ nghịch với số lượng
độc giả. Mảng độc giả trí thức đang mỗi năm một co lại như mảnh da lừa trong tiểu
thuyết Ban-dắc. Đã đến lúc có những cuốn sách cần được in thật nhiều, phát không
cho độc giả. Từ cửa nhà xuất bản ĐHQG này các cuốn sách quý đó sẽ ra đi, lan tỏa
vào cuộc sống, len lỏi như những người lính đặc công về văn hóa - tư tưởng. Món
lãi lớn nhất từ sách ấy không thuộc về ai, mà thuộc về chế độ.
Nhưng than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!
Quỳnh Anh, Đinh Quốc Thắng, Ngọc Anh vào Đảng, tôi mừng lắm.
Nhưng vào Đảng mấy hôm, Ngọc Anh nói với tôi, giọng rất bi quan, rằng: Anh về
NXB chứng tỏ anh là người dũng cảm. Thấy có lời khen hơi lạ tai, tôi hỏi lại,
Ngọc Anh chỉ cười, không chịu nói. Mấy ngày sau, chị Nguyễn Ngọc Quyên rủ tôi và
nhóm biên tập nữ đi uống cà phê. Tôi lần lượt nhờ Thu Hương, Lan Hương, Mai Lương,
Thu Trang, Thu Thủy, Thanh Nhàn, Nguyễn Thủy trả lời câu hỏi ấy. Nhưng những người
giải đáp cho tôi thấm thía nhất vẫn là Trưởng phòng Phát hành Trần Thị Lan và
hai vị “tay hòm chìa khóa” khi ấy: Vền và Thêm. Hai cô thống nhất cho rằng, “anh
về khi NXB đã qua thời oanh liệt, Giáo sư Nguyễn Văn Đạo, một người say viết sách,
trân trọng nhà xuất bản đã nghỉ chức Giám đốc rồi, sách thời thầy Nguyễn Văn Thỏa
là sách có thể in vô tư”. Tôi thẩm tra lại điều đó qua Giám đốc Phùng Quốc Bảo.
Anh trả lời: “điều đó quá rõ. Khi đó ĐHQG như bầu sữa. Bây giờ cạn rồi, không
thể xuất bản hồn nhiên được. Anh nhìn sách tồn đọng đấy. Bây giờ chính là lúc Tổng
biên tập phải tự tạo ra thời oanh liệt đấy.
Nghe anh Bảo nói vậy, tôi hiểu sự oanh liệt ở đây
không hàm nghĩa thi ca mà là kinh tế, là thu nhập, là cơm áo gạo tiền. Sách tôi
đứng tên Tổng biên tập rất hay, sách tôi chủ biên và làm người đỡ đầu bản thảo
rất hay. Nhưng sách càng hay, đồng lương và tiền thưởng cho anh chị em trong Nhà
mỗi ngày một teo lại. Lương thấp thì lười làm, càng lười sách càng nhiều lỗi, càng
chậm tiến độ xuất bản. Đại học Quốc gia HN gần như chỉ cần cái danh nhà xuất bản
của riêng mình trong một số cuốn, vì vậy thường xuyên nhắc nhở tôi và Ban Giám đốc
chuẩn bị doanh nghiệp hóa. Ban Giám đốc lúc này thêm TS. Phạm Ngọc Trâm. Có Ngọc
Trâm tham gia, tôi mừng lắm. Sự nhạy cảm trước đối tác, cách làm việc năng nổ,
quyết đoán của cô làm tôi hy vọng. Giám đốc nhận hàm Phó giáo sư. Tôi mừng cho
anh thì ít mà lo cho NXB thì nhiều. Học vị, học hàm và uy tín của anh như thế,
có thể làm anh bị cuốn vào các đề tài khoa học, các dự án và hợp đồng giảng dạy
nhiều nơi. Chính vì vậy, tôi quyết chí không đề xuất việc tổ chức tặng hoa chúc
mừng anh. Suốt mấy tháng liền, tôi cảm thấy Ban Giám đốc, trong đó có tôi cứ lúng
túng như gà mắc tóc, vì chưa biết hướng thoát hiểm chỗ nào.
Thế rồi tôi thành người nghiện bia lúc nào không hay. Thêm một
ông Ivan Annam là Dịch giả Nguyễn Văn Thảo về NXB, tôi có thêm bạn bia. Đỗ
Quốc Viện kéo tôi đi đá bóng. Trường Lâm giới thiệu cho tôi biết quán rượu Tam
Trinh. Nhưng chỗ ngồi yêu thích hơn cả mà tôi hay rủ anh em ngồi chia sẻ vẫn là
quán bia Nhà thờ Hàm Long.
Có lẽ không đâu có quán bia đặt sát nhà thờ đến thế. Quán bia này đối diện với nhà thờ. Đây là nhà thờ thuộc dòng Chúa Cứu thế, quãng giữa trưa là kéo chuông 30 phút một lần. Tôi thường ngồi nghe đủ 4 lần chuông. Mùi bia lâng lâng, tiếng người râm ran, tiếng chuông dóng dả ngân dài. Tất cả hợp lại thành một cái gì đó thật kỳ khôi, thánh thiện đấy mà cũng trần tục đấy. Có lẽ cuộc đời là vậy. Tôi cứ ngồi, nghĩ hết chuyện này sang chuyện khác: Nghĩ tới hợp đồng sách liên kết, sách nhiệm vụ, nghĩ tới triển lãm sách, kho sách, rồi nghĩ cả về tương lai chung của xuất bản Việt Nam lẫn văn hóa Việt Nam… Nhưng rồi càng nghĩ tôi càng nản. Có lẽ tôi làm Tổng biên tập cũng chỉ thoang thoảng, mơ hồ như hồi chuông trưa kia thôi. Ngân lên một hòi rồi biến mất vô tăm tích. Chỉ có cốc bia này là thật. “Nâng cốc đi em, mừng hồi chuông thứ 4”
Có lẽ không đâu có quán bia đặt sát nhà thờ đến thế. Quán bia này đối diện với nhà thờ. Đây là nhà thờ thuộc dòng Chúa Cứu thế, quãng giữa trưa là kéo chuông 30 phút một lần. Tôi thường ngồi nghe đủ 4 lần chuông. Mùi bia lâng lâng, tiếng người râm ran, tiếng chuông dóng dả ngân dài. Tất cả hợp lại thành một cái gì đó thật kỳ khôi, thánh thiện đấy mà cũng trần tục đấy. Có lẽ cuộc đời là vậy. Tôi cứ ngồi, nghĩ hết chuyện này sang chuyện khác: Nghĩ tới hợp đồng sách liên kết, sách nhiệm vụ, nghĩ tới triển lãm sách, kho sách, rồi nghĩ cả về tương lai chung của xuất bản Việt Nam lẫn văn hóa Việt Nam… Nhưng rồi càng nghĩ tôi càng nản. Có lẽ tôi làm Tổng biên tập cũng chỉ thoang thoảng, mơ hồ như hồi chuông trưa kia thôi. Ngân lên một hòi rồi biến mất vô tăm tích. Chỉ có cốc bia này là thật. “Nâng cốc đi em, mừng hồi chuông thứ 4”
Ba năm trôi qua, ba năm bao nhiêu niềm vui mà cũng đằng đẵng
những lo buồn. Vào một ngày hè oi ả, tôi quyết định viết đơn xin Ban Tổ chức ĐHQG
cho miễn nhiệm. Tôi viết trong tâm trạng áy náy. Áy náy trước hết là vì phụ lòng
tin của anh Bảo. Biết làm sao được. Tôi với anh có thể chung một chiến hào chống
Mỹ. Nhưng cái chiến hào kinh tế hôm nay thì đúng là tôi không đủ sức đào, nên
không thể đứng cùng ai.
Trong những ngày mưa dầm, ngập phố ngập làng, tôi bâng khuâng
hình dung về một TBT tương lai, kế nhiệm mình. Tôi nhớ ngay đến những ý tưởng
luôn độc đáo, mới mẻ, khác thường của PGS.TS Nguyễn Bá Thành khi anh làm Chủ
nhiệm Khoa Văn. Tôi tin khả năng đồng cảm, gần gũi của anh với Ngọc Trâm, người
đồng hương với anh. Có anh, bạn đồng khoa, làm TBT, sau này tôi còn nhờ được
việc này việc khác. Chính vì vậy, trong những lần gặp gỡ, tôi động viên, khích
lệ anh rất nhiều. Tôi bảo anh: “Khoa Văn phải có người làm TBT, không thể để
cho người khoa khác, ngành khác được. Ông không về, để người khoa khác về làm,
tức là ông thiếu trách nhiệm, là ông không tử tế”. Anh Thành nhìn tôi, nghi hoặc.
Thế rồi cái ngày tôi được giải phóng khỏi trọng trách đã đến.
Cả NXB vui vẻ dự tiệc tiễn tôi và đón anh Thành về. Mọi người chạm cốc rượu
vang với tôi rồi thay nhau cho tôi xin chữ ký vào 2 cuốn từ điển - quà tặng NXB
cho tôi. Nhà thơ Trần Văn Thi tặng tôi mấy câu thơ vui. Chị Châu, cháu Vân Hà vắng
mặt, nhưng Trọng Hải, Đỗ Văn Bình, Phạm Văn Hiển, Hoàng Văn Thịnh, Hoàng Thao, Đào
Thị Lệ, Phong Lan, Lê Thị Mùi, Đặng Phương Liên đều ký cho tôi.
Cuốn từ điển có thêm chữ ký, tôi cầm như thấy nặng hơn. Đấy là
cái nặng của kỷ niệm, nói theo kiểu xưa, là nặng nghĩa, nặng tình.
Tôi viết những dòng chữ này trong đêm về sáng, khi ngày kỷ niệm
15 năm thành lập NXB đến gần. Tôi lại lật những trang đầu của cuốn từ điển quà
tặng 4 năm trước. “Cảo thơm lần rở trước đèn”. Những dòng lưu bút trong hai cuốn
sách chưa hề phai. Những gương mặt thân yêu của nhà xuất bản cứ thấp thoáng đau
đó sau dòng chữ. Mà khuất đi sao được. Gần như suốt 4 năm qua, nghiệm lại, mùa
nào tôi cũng có mặt ít nhất một lần. Khi thì vì sách của vợ, khi thì vì nhớ quán
Hàm Long, khi thì kiếm cớ đến trêu TBT Nguyễn Bá Thành mấy câu. Mỗi lần nhìn thấy
anh Thành ngồi chúc cặp kính viễn xuống trang bản thảo như con chim gõ kiến, quả
thực tôi thấy cũng thương. Đến khi thấy anh có ý định bỏ dở nhiệm kỳ giống tôi,
tôi ra sức can ngăn, nhưng không lại. Anh về được một thời gian, tôi cảm thấy
NXB mỗi ngày một vững mạnh, ăn nên làm ra. Tôi hoang mang không biết trong chuyện
anh ở anh về, tôi có lỗi với ai, với anh hay với Phùng Quốc Bảo và Phạm Ngọc Trâm - những người đứng mũi chịu sào. Bí quá, tôi bắt tay anh xí xóa: “Cả ông lẫn tôi
đều không đủ sức tạo ra thời oanh liệt. Hai ta đều lỗi lớn. Hôm nọ tôi mơ trở lại
Củ Chi, đang nằm mat-xa lim dim, bỗng có người gọi: “có quyết định đề bạt rồi,
về nhận nhiệm vụ đi chứ”. Tôi chồm dậy, toát hết mồ hôi, ông ạ”. Anh Thành cười
váng nhà rồi bảo: “Bây giờ già rồi, sợ đề bạt là phải. Cái quý nhất là trong đời
2 ta, số 16. Hàng Chuối đã thành một lối đi về”.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét