Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm

Những đóa hoa
rừng của Hà Vinh Tâm

Trẻ trung và xinh đẹp, nhẹ nhàng và đằm thắm, đó là không chỉ hình dáng mà cả chất thơ trong thi phẩm Đan những giấc mơ của người thơ Hà Vinh Tâm, do NXB Hội Nhà văn ấn hành quý III/2018.
Một tập thơ thanh nhã do họa sĩ nổi tiếng Văn Sáng vẽ và trình bày, với những bài thơ rực rỡ như muôn loài hoa trong những cánh rừng quê chị: Anh Sơn – cửa Miền Tây Nghệ An. Những bài thơ ấy để riêng giống như những bông hoa lạ với những hình ảnh lạ: hương trẫm mình trong nắng, cách ví von lạ: Nhưng đời như tàu ấy/ lắc lư hoài không không thôi, những mong ước lạ: Bỗng ước mình là kiến/ chui lọt vào các khe/ bình yên và thanh thản. Đó là cách ví von thường bắt gặp trong thơ các tác giả của dân tộc ít người, nhưng thú thật tôi không biết chị là người Kinh hay người Thái, chỉ thấy chị đẹp như đóa hoa rừng tôi đã từng chiêm ngắm vài lần trước đây khi có dịp lên Anh Sơn, Con Cuông tham gia các trại sáng tác. Khi các bài thơ đó kết lại thành chùm thì rực rỡ ngát hương. Cả tập thơ gồm 64 bài, được chia làm chín chùm thơ: Chùm thơ mùa con gái, Chùm thơ về mưa, Chùm thơ về lá, Chùm thơ mùa hè, Chùm thơ về bão, Chùm thơ gọi mùa, Chùm thơ ngẫu hứng, Chùm thơ về người đàn bà, Chùm thơ cho một người. Chùm nào cũng dậy hương, một thứ hương rất lạ: khi ngày ồn ào vội vã/ hoa giấu hương trên cành, nhưng khi mặt trời tắt lửa/ hoa bỗng dậy mùi hương. Một mùi hương ngào ngạt khi trái tim em mở trong khu vườn vắng anh.
Tôi khá ngạc nhiên khi thấy trong thơ chị hiện lên khá đậm nét hình ảnh người phụ nữ cô đơn, dẫu biết rằng cô đơn vốn là đặc tính phổ biến của các thi sĩ, nhất là nữ thi sĩ. Bởi chị mới ngoài ba mươi tuổi, khá thành đạt trong sự nghiệp, với bằng Thạc sĩ văn chương và đang giảng dạy ở một trường Trung học phổ thông. Và hẳn chị hạnh phúc, hạnh phúc của người mẹ trẻ khi Giao cảm với con mình: Đôi vú mẩy/ Tròn xoe/ Mắt trẻ, hay khi Nghiêng vú cho con/ Vuốt tấm lưng mềm/ Vui lạ?. Sao trong giây phút hạnh phút nhất của người mẹ, chị vẫn đặt dấu chấm hỏi cuối bài thơ?! Sao đêm đêm chị vẫn ru giấc mơ thiếu nữ, sao: Suốt một đời/ Em vẫn ngóng trăng lên!. Sao vội vàng khẳng định: Anh/ chẳng bao giờ chạm được lên môi em? Và phải chăng với nỗi cô đơn ấy mà tâm hồn chị nhạy cảm với thời tiết, thời tiết thiên nhiên, thời tiết cuộc đời và nhất là những đổi thay bất chợt của lòng người. Bởi vậy chị viết rất nhiều và khá hay về những thời khắc giao mùa, nhất là khi bão tố đột ngột ập đến: Gió gầm rít như một kẻ điên cuồng/ thốc tháo như người đàn bà “nghén “nặng, để lại cảnh tượng kinh hoàng: Đường phố méo mó/ người ta khiêng cây như khiêng linh cữu người chết…. Tôi không biết và không muốn biết về đời tư của chị. Đối với tôi, để cảm nhận về một tập thơ, một bài thơ cái cốt lõi nhất là dựa trên văn bản thơ (“Phần sâu sắc nhất tâm hồn của một thi sĩ đã ghi lại trong những vân thơ đẹp” – Hoài Thanh). Thú thật, tôi không thích những câu thơ: Những mê mải của đàn ông/ Đã vùi lấp/ Tuổi thanh xuân của đàn bà…. Nó làm cho thơ chị hay chính tâm hồn chị già đi, dù đó là sự thật trong đời nữa. Người đàn bà bao giờ cũng mang trong mình một trái tim độ lượng biết hy sinh, huống chi trong cõi thế này, mấy ai không  mê mải theo những đam mê khác nhau, kể cả chính người thơ?
Là một Thạc sĩ văn chương, có nhiều bài viết phê bình in trên báo trung ương và địa phương, nên người thơ có những am hiểu về văn học nói chung và thơ nói riêng khá sâu sắc. Bởi vậy trong thơ Hà Vinh Tâm, bên cạnh cái “tươi tắn, hồn hậu, có nhiều tâm trạng và nhiều suy nghĩ “( Lê Thành Nghị) là những cố gắng đổi mới về nội dung và hình thức. “Hầu hết bài thơ có tứ thơ và có kết cấu tạo sự bất ngờ về ý, tạo âm ba ở những câu thơ cuối” (Võ Tấn Cường) nên làm cho người đọc “quý một tâm hồn thơ biết mở lòng lòng giãi bày và đối thoại” (Phan Huy Dũng). Xin dẫn ra một bài chọn ngẫu nhiên trong tập để thấy những cố gắng đó của người thơ:
ĐỜI LÁ
Lá trên cao
oằn mình trong gió
xoay xoay
rơi rơi
lả tả
gieo mình
xuống đất.
Lá hết một đời dài
vẫn tung mình trong nắng gió
reo ca
hóa kiếp
vun vào gốc
Bình yên, vĩnh hằng…
Dẫu vậy, những thành tựu trong “Đan những giấc mơ” chỉ là bước đầu. Con đường thơ của chị hãy còn ở phía trước. Chúc người thơ luôn vững bước trên con đường sáng tạo thi ca nhiều niềm vui nhưng lắm gập ghềnh. Gập gềnh hơn nhiều so với những con đường lên Miền Tây vời vợi quê hương chị. Bởi chị hằng tin: “Và tôi tin không có ngày tận thế/ sắc cầu vồng sẽ có sau cơn mưa!”.
20/8/2020
Lê Quốc Hán
Nguồn: Văn nghệ Việt Nam số tháng 6/2019
Theo https://vanhocsaigon.com/

Kho báu lớn nhất của nước Nga: Đó là nền văn học

Kho báu lớn nhất của
nước Nga: Đó là nền văn học

Cuộc sống đó là sự khám phá không ngơi nghỉ. Chúng ta bước đi, tự khai thông cho mình những con đường và trên những con đường đó lúc thì ta gặp được những bông hoa, lúc thì là những con người và đôi khi còn gặp cả những hố sâu mà chúng ta có thể rơi xuống; một đôi khi trong những bài ca của gió chúng ta còn nghe được những lời hay ý đẹp. Và cứ như thế. Cứ như thế chúng ta tự trang bị cho mình điều này, lẽ kia.
Trong chặng đường đời ấy chúng ta để lại gì ở phía sau. Và điều gì nữa chúng ta sẽ gặp được trên đoạn đường đi tiếp. Nhưng đôi khi như một sự tình cờ chúng ta phát hiện ra một trong những viên đá quý hiếm hoi mà tia sáng lấp lánh của chúng, phận số không cho phép chúng ta được gặp lại hai lần. Nhưng nếu chúng ta không nâng vật báu đó lên khỏi mặt đất, có một người khác nhất định sẽ làm việc này không một chút do dự. Những khám phá và những phát hiện may mắn như thế giá trị biết bao, mong chúng ta đừng bỏ qua. Những cơ may đó sẽ còn lại với chúng ta tận đến khi đôi chân chúng ta không khước từ bước đi trên con đường đời. Và thậm chí khi những lần phát hiện như thế làm tràn đầy trong ta sự bình yên, tăng thêm cho ta sức mạnh để bước tiếp trên con đường đời, dù không bước ra thế giới bên ngoài, chúng ta sẽ bước tiếp vào thế giới bên trong.
Giữa những khai phá xuất sắc mà chúng ta luôn luôn thực hiện, có một khám phá trở thành một phép màu thực sự. Viên kim cương này phát hào quang rực rỡ đến độ làm bừng sáng lên tất cả những thành tựu còn lại của một xứ sở lớn nhất trên thế giới. Tôi tự cho phép mình nói về nền văn học Nga – đó là báu vật đẹp nhất mà xứ sở này có được. Đó là cốc mật ngọt đã tìm thấy mà trong công thức pha chế ra nó được giữ gìn trân trọng trong chiều sâu của tâm hồn Nga. Vượt lên tất cả có thể Gogol đã diễn tả trong trích đoạn sau đây từ cuốn tiểu thuyết “Những linh hồn chết” của ông: “Bất cứ một dân tộc nào còn mang món nợ tinh thần chưa trang trải xong, trong lòng dạ tràn đầy năng lượng sáng tạo, những nét riêng và những của trời phú; dân tộc ấy nhất thiết phải mang ngôn ngữ nói và viết độc đáo riêng để phản ánh mọi việc, mọi chuyện của xứ sở mình. Không có từ chữ nào tinh tế, mạnh mẽ phóng ra từ con tim đang sôi réo, đang động đậy như những gì người Nga đang nói và viết ra”.
Như chúng ta đã thấy (hoặc nói đúng ra, như chúng ta đã cảm nhận được) trong những dòng trên mang cốt cách đặc biệt riêng của Gogol. Những lới khẳng định ấy như bao bọc chúng ta trong ánh lấp lánh vàng của một cội nguồn mà theo quán tính chúng ta muốn một lần nữa được ngụp lặn và tiếp tục được nuôi dưỡng bới những từ những chữ Nga. Chính vì sự biết ơn trước nền văn học của đất nước rộng lớn ấy câu lạc bộ sách “Abako” quyết định đầu năm nay tổ chức kỷ niệm lần thứ 10 ngày cho ra đời loạt bài bàn tới văn học Nga.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ tiểu thuyết “Những linh hồn chết”. Tác giả của nó, Nikolai Vasilevist Gogol đã viết tác phẩm này trong thời gian du hành ở châu Âu. Cái giọng hài hước quen thuộc của ông trong tác phẩm “Quan thanh tra” trước đó khiến Gogol thành vật thí mạng của cơ quan kiểm duyệt, nhưng đã trở thành khá quen thuộc với độc giả. Chính vì thế Gogol muốn làm phác thảo trước cho cuốn tiểu thuyết mới của ông, thể hiện trong sách cho bạn đọc thấy sự cần thiết của những đổi thay tất phải đến với xã hội Nga mục ruỗng như thế nào, để cơ quan kiểm duyệt không thể sinh chuyện được.
Tiểu thuyết ban đầu được đặt tên là “Cuộc du ngoạn của Chichikov” sẽ kể lại câu chuyện về một nhân vật tên là Pavel Ivannovist Chichikov, đã cứng tuổi.. Nhân vật đi tới một tỉnh nọ để tìm gặp những tay địa chủ có thể tặng hay bán cho ông những xác chết, tức những nông dân đã chết (được gọi chung là “những linh hồn”) nhưng qua thanh tra vẫn được coi là những người còn sống. Thời ấy ở đế chế Nga công việc thanh tra diễn ra thưa thớt, nông dân thì chết nhiều và địa chủ vẫn phải nộp thuế. Chichikov đã lợi dụng khe hở này.
Có lẽ bạn sẽ đặt câu hỏi để làm gì những thây ma đó và những người chết kia sẽ mang lại lợi lộc cho ai nếu họ đã là xác chết giá lạnh.Nhưng cái mà ngài Chechikov cần tới không phải là những thi thể. Điều quan trọng là ông ta cần tới những cái tên trong cuộc thanh tra. Để làm gì à? Chính bạn cần phải đọc cuốn tiểu thuyết để khám phá ra cái ý định nhẫn tâm của nhân vật chính này. Sự ma mãnh của ngài Chichikov đã bộc lộ ngài hoàn toàn có năng lực tìm ra những người để thực hiện ước muốn của mình; con người có thể đạt tới bờ bến nào của sự nhẫn tâm khi anh ta khai thác bất cứ hoàn cảnh nào để kiếm lợi lộc cho mình.
Có thể coi “Linh hồn chết” đó là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Nga. Vậy có ngạc nhiên không khi chính cha đẻ của nó lại coi đấy không phải là tiểu thuyết mà là một trường ca ở dạng văn xuôi. Và chúng ta hiểu được nguyên nhân vì sao !Thứ văn xuôi tài hoa và sống động của văn hào hoàn toàn cuốn hút người đọc. Ngoài điều đó ra, người thuật chuyện trong tác phẩm lý thú này đã sắm vai trò còn tích cực hơn nhân vật chính. Với thời gian Gogol kêu gọi những bạn đọc đã trở thành người đối ẩm với mình hãy cùng ông truyền giảng bài học văn chương, chỉ ra đâu là “những nhân vật loại hai”, hoặc thậm chí đâu là “những nhân vật loại ba”. Và về loại nhân vật cuối được miêu tả ít kỹ lưỡng hơn, ít những chi tiết đặc biệt hơn. Nhiệm vụ của ông tựu trung là ở chỗ để dành sự chú ý của độc giả tới tích truyện, tuy khá dài nhưng luôn luôn giữ được không khí bí ẩn và đích ngắm nhờ vào những chi tiết dần dần được tác giả hé lộ. Độc giả hoàn toàn sửng sốt và gắng để biết điều gì sẽ diễn ra tiếp theo , thậm chí khi các nhân vật vướng vào những công việc tưởng như chán phèo, ví như việc di chuyển các khung cửa trong phòng khách.
Những nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đầy ắp những điều bất ngờ, muôn hình muôn vẻ, thậm chí còn mang chất biếm họa. Trong các nhân vật ấy có cả những mẫu người lịch thiệp có thừa cũng như những kẻ thô nháp, cục cằn. Một số tình huống của chuyện kể như găm vào trí nhớ của chúng ta, ví như việc miêu tả tiếng chó sủa khi chào đón nhân vật chính trong chuyến ông ta về làng Corobochca trong đêm mưa khuya khoắt.
Nói chung, “Linh hồn chết” là một tác phẩm tuyệt vời của Gogol. Trong sách khi thì nhà văn nói về Tổ quốc của mình, khi thì về nỗi xúc động và niềm tự hào về nước Nga.- một nước Nga bị làm cho bại hoại, trì trệ hiển hiện trong toàn bộ cuốn sách. Nhưng Goglol vẫn bộc lộ qua từng trang, từng trang tình yêu của mình với nước Nga ấy. Nếu không nhắm tới cái đích như chúng ta vừa kể, liệu nhà văn dồn công sức lao động khổng lồ làm gì để mong có những sự đổi thay?  Nhiều đoạn của “Những linh hồn chết“ sẽ còn đọng mãi trong ký ức người đọc. Mỗi đoạn được đọc to lên với niềm khoái cảm khó lòng diễn tả hết. Ví như đoạn văn dưới đây :
“Hỏi vì sao người ta xây dựng cái làng Corobochca lâu đến như vậy? Coroboshca  sẽ có một đời sống thôn dã hay không phải như thế ! Trên thế gian này chẳng phải là ngây thơ mà người ta gột dựng lên nó: một thoáng vui biến ngay thành một thoáng buồn và nếu chỉ đứng lâu mà ngắm nhìn nó thì đến thánh cũng phát điên lên… Thôi hãy bỏ qua, bỏ qua. Nói về việc ấy để làm gì? Thử hỏi để làm gì vào giữa những giây phút thảnh thơi, vô lo nghĩ, không bận bịu này bỗng nhiên lại để những ý nghĩ ấy hiện lên? Ngay cả nụ cười cũng không kịp thoáng qua trên gương mặt, khiến ta biến thành một người khác trong đám người, một thứ ánh sáng khác rọi chiếu gương mặt ta…”.
22/8/2020
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hứng khởi đọc thơ và hứng thú sáng tạo từ ngọn lửa thơ 1-2-3

Hứng khởi đọc thơ và hứng
thú sáng tạo từ ngọn lửa thơ 1-2-3

Tình cờ tôi biết đến trang Văn Học Sài gòn, mở ra đọc và bị cuốn hút. Tôi gửi chùm thơ đầu tiên và được đăng. Thật là vui. Sau đó nhà thơ Phan Hoàng có động viên và nhắn, làm thơ 1-2-3 đi em. Tôi hỏi lại,  thơ 1-2-3 là gì vậy? Từ đó, tôi bắt đầu tìm hiểu và viết những bài đầu tiên một cách hào hứng. Bởi một lẽ, tôi đang cảm thấy nhàm chán với chính bản thân, đang loay hoay muốn viết cái gì đó khác đi, tươi mới hơn. Thật thú vị khi thơ 1-2-3 giúp tôi làm được điều đó.
Tôi còn nhớ bài thơ đầu tiên viết và được đăng trên trang Văn Học Sài gòn. Bài thơ như sau:
Hãy khơi dậy trong em ngọn lửa thi ca
Đừng để sự trống rỗng nuốt chìm cảm xúc
Chỉ có thể là tình yêu châm bùng bằng mật ngữ
Đừng lặng im khiến bốn mùa nhòa nhạt
Lá hoa cây cỏ ngác ngơ
Trổ lên đi niềm tin dưới bóng những giấc mơ.
Ngọn lửa thơ 1-2-3 bắt đầu như thế. Từ những ngày đầu bay bổng ngôn ngữ về tình yêu về cuộc sống về những giấc mơ, tôi dần mở rộng nhãn quan, chủ đề. Không chỉ là những cảm hứng lãng mạn, thơ tôi dần hướng tới những đề tài gai góc hơn. Mỗi tháng tôi gửi một vài chùm với sự say mê và niềm vui khám phá. Thật hạnh phúc khi một ngày thơ tôi được động viên, được ghi nhận bằng một tặng thưởng thơ tháng 6.2020.
Hoà theo dòng chảy thơ ca đương đại, thơ 1-2-3 đã diễn ra hết sức sôi  nổi, rất nóng từ ngọn lửa Văn Học Sài Gòn lan tỏa ra. Các bạn thơ của tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Có những cái tên đã trở nên quen thuộc vì những bài thơ 1-2-3 ấn tượng như: Trần Thị Hồng Anh, Hà Phi Phượng, Đinh Hạ, Nguyễn Doãn Việt, Lê Tuyết Lan…
Nhớ lắm những câu thơ tài hoa này:
Dưới tán rừng ngàn năm
Cổ thành Angkor Thom nhuộm hoàng hôn Khmer rực rỡ
Kết tinh vạn trí tuệ cao siêu, vạn bàn tay tài nghệ
Lặn vào đá trường tồn triều đại minh quân
Người hành hương trong trầm mặc linh thiêng
Bí ẩn nụ cười Bayon tỏa hào quang nhân từ, độ lượng.
(Hà Phi Phượng)
Hay của tác giả Đinh Hạ:
Bi ai thằng hề
Mang mặt nạ cười
Mà lòng đang khóc không người vỗ tay
Lang bạt mưu sinh
Cánh màn đau khép lại ngày
Giang hồ tay nải đựng đầy bi ai.
Và đây những câu thơ thật ấn tượng, gieo vào người đọc những cảm xúc bâng khuâng:
Này là hoa hồng đỏ, cài áo lễ Vu Lan
Chuông chùa trầm mặc vàng ươm nắng chiều
Đa già soi bóng hồ sen vắng
Vu Lan nhớ mẹ thương cha, một đời chảy xuôi một đời bao dung độ lượng
Hoa hồng đôi dòng nước mắt xót xa.
(Trần Thị Hồng Anh)
Thơ 1-2-3 chỉ mới xuất hiện vài tháng trên trang Văn Học Sài Gòn mà đã không thể nào kể hết được những câu thơ hay, những chùm thơ đặc sắc.
Hứng khởi sáng tạo và hứng thú đọc thơ là những gì mà thơ 1-2-3 mang lại cho chúng tôi, những người yêu thơ và yêu cái đẹp cái thiện trên đời. Cảm ơn Văn học Sài Gòn rất nhiều!.
Hà Nội, 23/8/2020
Đỗ Thu Hằng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thế giới thơ Thiều - Một lối vào

Thế giới thơ Thiều - Một lối vào

Cái đẹp của thơ Thiều không tựa vào vần điệu, tựa vào những ngôn từ lấp lánh của vàng Mỹ Ký, hay lối làm văn màu mè, mà là những câu chữ, hình ảnh giản dị, bình thường, nhưng được người kể chuyện nhìn bằng một cái nhìn thơ mộng. Đó là cái đẹp của sự sinh thành, của sự trở thành, vừa mộc mạc vừa huyền bí, và vừa có tính chất tiên tri. “Tôi đã đánh mất tôi một nửa/Tôi tự sinh cho tôi thêm một nửa nữa” (Dưới trăng và một bậc cửa). Như vậy, cái đẹp không chỉ là mộc mạc tiền hiện đại nữa, mà chủ yếu là huyền bí của sự trở thành. Đó chính là cái khác. Thơ Thiều không phải là mỹ học của cái đẹp, mỹ học của cái siêu tuyệt, mà là mỹ học của cái Khác…
Dây vĩ cầm cuối cùng trăng đêm vụt đứt
Bức phông đen tụt xuống lõa lồ
Ôi vở kịch cuộc đời…
Màn cuối
Tiếng hề cười
Băm chả những u mê
Nguyễn Quang Thiều
(Con bống đen đẻ trứng)
Thơ Việt Nam, từ đầu thế kỷ đến nay, đã hai lần thay đổi hệ hình: từ tiền hiện đại sang hiện đại và từ hiện đại sang hậu hiện đại. Lần thứ nhất từ mô hình thơ nghĩa à chữ sang chữ à nghĩa, dù vẫn là thiểu số, nhưng coi như hoàn tất. Lần thứ hai từ mô hình thơ chữ à nghĩa sang chữ à nghĩa à chữ, thì còn đang tiếp diễn, định hướng nhưng chưa hẳn đã định hình. Có điều những chuyển đổi ấy, không nối tiếp mà gối tiếp, nên trong mỗi dòng thơ, thậm chí trong mỗi nhà thơ, tồn tại cùng lúc cả ba hệ hình. Bởi thế, đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, nhất là định dạng thơ ông, tôi phải lần giở đường đi của thơ, để tìm vào một lối vào thơ ông.
Thơ hiện đại Việt Nam, ngay từ chào đời, đã dính phải “chấn thương sinh đẻ.” Bấy giờ mỹ học Thơ Mới, mỹ học của cái Đẹp, còn tuyệt đối thống trị. Thơ Nguyễn Xuân Sanh Xuân Thu Nhã Tập bị phê phán là hũ nút. Đến đầu Kháng chiến chống Pháp, mỹ học Thơ Mới đó lại được chính thống hóa, nên thơ không vần Nguyễn Đình Thi mới bị quy chụp nặng nề, cả về tư tưởng lẫn thi pháp. Còn Thanh Tâm Tuyền ở thành thị miền Nam lẫn Trần Dần, Lê Đạt thời Nhân văn và hậu Nhân văn ở miền Bắc đều bị cái diễn ngôn quyền uy ghẻ lạnh. Tuy nhiên, các nhà thơ thiểu số này đã đóng góp cho thơ hiện đại những thành tựu độc sáng, như tư duy thơ đứt đoạn (Nguyễn Xuân Sanh), thể thơ tự do với tư cách là một thể loại/hình thức của nội dung (Nguyễn Đình Thi), nhịp điệu hình ảnh, nhịp điệu tư tưởng (Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền), mô hình sáng tạo chữ đi trước nghĩa (Trần Dần, Lê Đạt)… Những cách tân hiện đại chủ nghĩa như vậy tưởng đã đến thiên đỉnh, nên Tô Thùy Yên và Phùng Cung đã rẽ ngang một bước làm thơ hiện-đại-cổ-điển, Điều này, vô hình trung, đã biến Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền thành nhà hiện-đại-hiện-đại, kết thúc thế hế hệ thứ nhất của thơ hiện đại Việt Nam.
Các nhà thơ hiện đại thế hệ thứ hai, những cây bút ra đời thời hậu chống Mỹ, cụ thể hơn thời Đổi mới và Mở cửa, gặp phải bức tường của người đi trước. Trước hết, thơ tự do, thể chủ đạo của thơ hiện đại, lúc này đã từ thể loại/hình thức của nội dung trở thành thể thơ/hình thức của hình thức, nghĩa là cạn kiệt tính thẩm mỹ. Còn mô hình thơ hiện đại: chữ đi trước nghĩa thì hình như khó hiểu, lại càng khó thực hành sáng tạo. Như vậy, sự phát triển theo chiều ngang, cả chiều kích xã hội lẫn chiều kích ngôn ngữ, đều khó kéo dài. Nên, muốn vượt tường chỉ còn cách lên cao, hoặc xuống sâu, tức đi theo chiều dọc. Mai Văn Phấn, Inrasara có lúc muốn đi vào chiều tâm linh của tâm thức Việt, Chăm qua các lễ hội hoặc nghi lễ vòng đời của hai tộc người này. Dương Kiều Minh sống với các triết lý dân gian. Nguyễn Linh Khiếu bám chắc vào triết luận phồn sinh phồn thực. Còn Trương Đăng Dung muốn dìm câu thơ mình vào bề sâu triết học Heidegger…
Tuy nhiên, các nhà thơ trên còn chưa chạm đến điểm linh đài, hay chỗ nhạy cảm nhất của tâm thức thời đại, để tạo nên một đối trọng (chứ không phải đối lập) nghệ thuật hay xã hội. Theo tôi, nếu cắt ngang một nhát cắt vào thân thể cây thơ đương đại, thì có thể thấy cấu trúc văn học nói chung và thơ nói riêng hiện nay là một sơ đồ ba vòng…
Thơ tiền hiện đại là vòng tròn số 1, chiếm vị trí trung tâm, gồm các nhà thơ chính thống hoặc phong trào, xoay quanh các hội nhà văn trung ương hoặc địa phương. Thơ hiện đại là vòng tròn số 2 ôm lấy vòng tròn thứ nhất và mỏng hơn nhiều so với vòng tròn này. Các nhà thơ hiện đại thế hệ hai này cũng có thể là thành viên của các tổ chức chính thức, ít nhiều lệch chuẩn, nhưng chưa thể trở thành một đối trọng nghệ thuật như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng… nên chưa tạo ra một thúc đẩy thẩm mỹ cho xã hội và, quan trọng hơn, cho bản thân họ. Thơ hậu hiện đại là vòng tròn thứ 3, mới định hướng nhưng (có thể còn) chưa định hình. Bởi vậy, tôi thể hiện nó bằng những nét đứt. Các nhà thơ hậu hiện đại của ta hiện nay còn đang ở giai đoạn dọn mặt bằng. Họ đả phá các quan niệm cũ về thơ, chức năng thơ, ngôn ngữ bằng một đối lập cực đoan: tự gọi thơ mình là thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa như nhóm Mở miệng. Hoặc đơn giản áp dụng các thủ pháp hậu hiện đại như trò chơi, giễu nhại, cắt dán, trích dẫn để lật tẩy thơ cũ. Bởi vậy, người ta có thể thấy ở thơ họ, Lý Đợi, Bùi Chát, Nguyễn Thế Hoàng Linh, mới chỉ hậu hiện đại ở cấp độ thủ pháp chứ chưa hẳn ở cấp độ bản thể. Và, do đó, thành tựu nghệ thuật của/ở họ chưa đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, cấu trúc trên không phải là tĩnh, mà là động. Bởi vậy, thỉnh thoảng vẫn có những yếu tố từ vòng 1 chuyển qua vòng 2, từ vòng 2 chuyển sang vòng 3, và không loại trừ ngược lại.
Trở lại với Nguyễn Quang Thiều. Thực ra, tôi với anh vốn có nhiều duyên nợ. Duyên nhất là tôi cùng anh đều sinh ra ở miền mây trắng, xứ Đoài, bên dòng sông Đáy, tôi khúc trên (Quốc Oai), anh khúc dưới (Ứng Hòa). Độ trước, do nghĩ thơ Thiều là thơ hiện đại, sêm sêm như thơ Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn, nên tôi cũng không đọc. Gần đây, tình cờ đến tay tôi Dưới trăng và một bậc cửa (Hội Nhà văn, 2020). Một tập gồm thơ dài và trường ca được tác giả viết trong mấy chục năm qua, nên có thể coi là tiêu biểu của thơ Thiều. Thấy lạ từ nhan đề, phụ bản tranh và in ấn, tôi tò mò đọc. Một thế giới thơ hiện ra trước mắt tôi vừa bí ẩn vừa hấp dẫn, đúng hơn hấp dẫn vì bí ẩn. Trước đây, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhiều lần tần ngần đứng trước những phòng thơ đóng kín cửa của Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, rồi lặng lẽ bỏ đi. Ngày nay, lý thuyết văn học phát triển, các nhà phê bình có nhiều lối lọt vào dù chỉ qua một khe sáng. Hơn nữa, phê bình bây giờ không chỉ có một kiểu: căn cứ đầu vào để biết kết quả đầu ra, mà còn có thể chui vào “hộp đen” để biết cả diễn trình sáng tạo và cái lò xo đằng sau nó. Thơ Thiều ấn tượng tôi ở sự đứt gãy và không có những liên lạc logic. Ở cái nhan đề Dưới trăng và một bậc cửa, thì hai yếu tố trước và sau liên từ và không đồng đẳng về từ loại và, do đó, về luận lý. Tên những bài thơ trong tập cũng vậy, không tóm tắt hay báo trước gì cho nội dung bài như cách làm quen thuộc của giới thi sĩ. Nhiều bài lại được phân chia thành 1, 2, 3… hoặc khúc 1, khúc 2, khúc 3… hoặc (hồi tưởng) tháng Giêng, tháng hai, tháng ba… cũng ít liên lạc với nhau. Mỗi bài thơ đều có tranh minh họa của tác giả cho chính thơ mình. Ấy vậy mà giữa thơ và tranh cũng không thấy sự “minh họa” cho nhau. Đặc biệt bản thân những bức tranh ấy cũng là sự lắp ghép đầy ngẫu hứng. Trước một sự phân mảnh triệt như vậy chỉ có thể cảm hiểu được bằng lối đọc phi tuyến tính. Thế giới nhìn thấy bị vỡ vụn, sau những ngày tháng hoang mang, người ta đi tìm cách sắp xếp lại những mảnh vỡ vô nghĩa ấy vào những tổng thể vô hình như cấu trúc, hay vô thức tập thể để tái lập nghĩa. Riêng thế giới thơ Thiều, tôi thấy lối tiếp cận cấu trúc luận hay phân tâm học ấy chưa đủ.
Thực ra, chìa khóa mở vào thơ Thiều được thi sĩ treo ngay nơi cánh cửa theo cái kiểu “kiển tố vừa đố vừa giảng.” Đó là thiên tuyệt bút Trong căn phòng của một người bại liệt thay cho lời tựa. Tuổi thơ của Thiều gắn liền với những tháng năm người bà bị liệt nằm chỗ. Khi cảm giác về thể xác mất dần, thì, lần đầu tiên, ý thức cá nhân của bà trỗi dậy. Bà muốn xem mặt mình. Thiều phải bưng chiếc gương để bà soi. Nhìn thấy hình dạng mình trong gương, bà vừa thích thú, vừa kinh hãi. Nhân việc người bà “cố định nghĩa mình bằng dụng cụ – chiếc gương không mang lại kết quả,” Nguyễn Quang Thiều nhớ đến thời thơ ấu mình cũng từng “tôi nhìn tôi trong gương như vậy.” Ông so sánh hành vi này với các họa sĩ vẽ chân dung tự họa. Ở đây, sự giống nhau chỉ là những “ký hiệu [thị giác – ĐLT] đơn giản,” “cắt đứt mọi quan hệ sống còn giữa anh ta và tác phẩm.” Rồi Thiều thấy bà và cả chính anh nữa tìm thấy sự tồn tại của mình bằng giọng nói, tức ngôn ngữ. Đây là một hiện thực khác, hiện thực tinh thần, “hiện thực của một bài thơ.” Đến đây người đọc có thể thấy hình ảnh cậu bé và người bà, tuổi thơ và tuổi già (tức đã trở lại là anh nhi) hòa nhập vào nhau và nguồn gốc của thơ Thiều.
Bằng việc để một viên phấn rồi lấy một viên phấn khác đè gãy nó (1), rồi cất viên phấn đi và nhìn vào chỗ trước đây từng có viên phấn (2), cuối cùng nhắm mắt nhìn vào chỗ đã có viên phấn và tưởng tượng (3), Nguyễn Quang Thiều đã đưa ra ba định nghĩa về lịch sử (1) có tuyến tính, về văn xuôi (2) phi tuyến tính và về thơ (3) cái nhìn của cái nhìn, “cái nhìn thứ ba.” Cái nhìn này là “khoảnh khắc của ánh sáng, của tia chớp làm cho chúng ta thấy toàn bộ [ĐLT nhấn] đời sống và phong cảnh quanh ta. Nỗi cô đơn [ĐLT nhấn] của ta trong đêm tối đã có nơi nương tựa và nó nhận ra con đường của nó.” Rồi Nguyễn Quang Thiểu dẫn giải thêm thơ có khả năng lưu giữ những khoảnh khắc của đời sống (Charles Simic, nhà thơ Mỹ, giải Pulitzer, 1990) và, quan trọng hơn, nối liền một con người với toàn thể nhân loại qua hàng triệu năm (Joseph Brodsky, nhà thơ Mỹ gốc Nga, giải Nobel Văn học, 1987). Như vậy, thơ Thiều, hay thơ như Thiều quan niệm, không phải là miêu tả sự vật, thậm chí kinh nghiệm về sự vật, mà là nhớ lại sự vật. Và thông qua sự nhớ lại đó, sự vật được kết nối với toàn bộ. Bởi vậy, nhìn vào mỗi sự vật đơn lẻ, thậm chí một mẩu của vật ấy, người ta thấy được toàn bộ vũ trụ như trong một bức ảnh toàn đồ (hologram). Điều này khiến cho mỗi sự vật/phân mảnh có giá trị tự thân, tuy vẫn không tách rời tổng thể, hay chính nó là tổng thể. Thơ Nguyễn Quang Thiều, vì thế, là thơ hậu hiện đại. Khác với các nhà thơ hiện đại cùng lứa với ông, và cũng khác cả với những nhà thơ hậu hiện đại thuộc nhóm Mở miệng.
Nhác trông, có thể tưởng thơ Thiều thuộc loại hình thơ thị giác, như thơ Bích Khê trong tập Tinh huyết trước 1945. Nhất là khi thơ ông thường in kèm theo mỗi bài thơ một bức tranh như một thứ cận-văn bản (paratexte). Nhưng đọc kỹ mới thấy không phải là thơ thị giác, mà thơ của trí nhớ thị giác. Trí nhớ thị giác vốn có ở trẻ nhỏ, hoặc những người có trí nhớ siêu phàm. Nhãn thức ở họ xác định sơ bộ đối tượng một cách riêng lẻ, rồi không đưa ngay thông tin này đến trung tâm ý thức, mà giữ lại như một ký tức tạm thời, Phật giáo gọi là Sở tàng. Sau đó nếu gặp lại thực thể ấy ở đâu và bất cứ lúc nào cũng dễ dàng nhận biết được đó là yếu tố hợp thành của hệ thống nào, mà không cần thông qua ý thức xử lý thông tin. Ở trình độ cao hơn, đó là nhìn bằng năng lực tâm linh, Phật học gọi là Tuệ/Huệ nhãn, hoặc Thiên nhãn thông, còn khoa học thì gọi là giác quan thứ 6 hoặc ngoại cảm. Chính loại trí nhớ trực giác này đã dẫn đến đột sinh Tuệ giác. Đây là đặc trưng quan trọng của lý thuyết đột sinh trong vật lý hạ nguyên tử lẫn trong sự phát triển tâm thức Thiền. Một công cụ có sức cuốn trôi tâm hồn chúng ta theo dòng chảy siêu thức, đưa ta vào thế giới nội tâm, mà ở đó tác động của một số định luật cơ bản của Vật lý bỗng tan biến. Những quang cảnh mà ta bắt gặp ở đây chính là hình ảnh tổng thể vũ trụ phản chiếu vào ta. “Một đời sống làm chúng ta hình dung đầy đủ hơn về vũ trụ. Nó chứa đựng một sự thật lớn: chúng ta là Vũ trụ, là Sự sống, Ý thức và Trí tuệ của nó. Cũng như Đức Phật, sau 49 ngày ngồi thiền dưới gốc Bồ Đề đã chứng đắc và giác ngộ được chân lý Thành – Trụ – Hoại – Diệt của chu trình miên viễn của Tự nhiên, dẫn đến khái niệm Vô thường và thuyết Luân hồi Tái sinh.
Ấn tượng trực tiếp và toàn bộ Dưới trăng và một bậc cửa là một cái nhìn bi thảm về cuộc sống. Có vẻ như hiện nay, chu trình vũ trụ đã đến giai đoạn Hoại – Diệt. Nhân loại sau các thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ nhôm đã đến đồ nhựa, thậm chí đồ… đểu. Nhưng khác với các nhà triết học/học triết thường nói đến thời mạt pháp, mạt thế một cách to tát và đầy luận lý, Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ, đi từ những sự vật, cụ thể và trực quan để ám gợi đến cái ngày tận thế kia. Có điều bao giờ thi sĩ cũng để một chút ánh sáng cuối đường hầm. Chỉ cần tên các bài thơ theo mục lục, ta đã thấy có một sự vận động của thời gian, của màu sắc, của sự vật từ tối đến sáng: Đoản ca về buổi tối, Bài ca những con chim đêm, Nhân chứng của một cái chết, Con bống đen đẻ trứng, Chuyển dịch màu đen, Nhịp điệu châu thổ mới, Cây ánh sáng… Như vậy, Dưới trăng và một bậc cửa là một thi phẩm có cấu trúc, điều kiện tiên quyết để một tác phẩm thơ trở thành một thi giới, một thế giới nghệ thuật, Nhưng cấu trúc thơ Thiều lại mô hình hóa sự vận động, sự đang trở thành của vũ trụ, của thiên nhiên, của con người và vạn vật, nên nó là một cấu trúc mở, cấu trúc động. Rồi mỗi bài thơ, thậm chí mỗi câu, mỗi chữ cũng âm vang cái cấu trúc tổng thể đó.
Đoản ca về buổi tối là một bài thơ ma, một thế giới hồn ma. Buổi tối là nơi dương suy âm thịnh, “Khi những ngọn đèn lần lượt tắt và chúng ta đi/Những người chết trở về thành phố.” Chúng chiếm lấy và điều khiển thể xác ta theo kiểu “xác Trương Ba hồn ma anh hàng thịt.” Rồi chúng mượn đời sống của chúng ta để lâu dần trở thành chúng ta, hòng thực hiện những điều đen tối. Điều ấy không phải ai cũng nhận ra. Bi kịch này, có lẽ, là bi kịch lớn nhất của loài người, bởi nó do chính con người tự tạo ra để tự hủy diệt mình.
”Những người chết trở về mượn nhà cửa, đồ đạc
và những pho tượng của người sống
Mượn công việc của người sống, mượn lý do của người sống
và đôi khi mượn cả giấy khai sinh của chúng ta
Bởi thế máu vẫn chảy, lời thù hận vẫn vang lên
cùng với lời thú tội và lời xin lỗi
Sự phản bội vẫn diễn ra trong khuya khoắt
cùng tình yêu đau đớn, thủy chung”
(Đoản ca về buổi tối)
May mà trong những đêm tối ấy, mượn gương mặt và tâm hồn trẻ thơ, những thiên thần đã cứu vớt con người đang rơi vào tàn lụi. Ở đây, trong sự cứu chuộc thế giới, thiên thần và trẻ thơ là một.
Nhân chứng của một cái chết kể lại một câu chuyện tưởng tượng mà có thể là sự thật nằm sâu trong vô thức tập thể của nhà thơ. Đó là một cơn mưa lớn, nước của 100 năm dồn lại, đổ xuống Hà Đông, nơi nhà thơ đang sống. Cơn giận dữ này của trời xanh nhấn chìm toàn bộ thị xã. Nước lũ làm nổi lên toàn bộ những lầm lạc, tội lỗi, tối tăm, đau đớn và hy vọng vốn ẩn khuất của thị xã bộc lộ ra. “Đêm nay mưa như sông trời đổ xuống thị xã. Những ngọn đèn lần lượt tắt và những ô cửa lần lượt mất hút. Và đêm nay, tôi ngồi, cúi đầu cúi xuống trước cây nến đang cháy. Khi tôi ngước nhìn lên cây nến, tôi thấy có gì đang xảy ra với thị xã chúng ta. Nước đang chảy chan hòa như dòng sáp từ một cây nến khổng lồ đang cháy phía xa. Cháy như buổi hoàng hôn đau đớn cuối cùng. Và như buổi rạng đông còn giá lạnh đầu tiên” (Nhân chứng của một cái chết). Nhà thơ chứng kiến cơn mưa giống như một tiểu hồng thủy hủy diệt tất cả, chỉ còn lại một người đàn ông và một người đàn bà không quần áo, run rẩy đứng trên cây cầu của thị xã. Họ được cứu thoát không phải để làm nhân chứng cho cái chết của thị xã, mà để sau trận mưa trời giáng ấy, họ quay về xây dựng lại thị xã, và xây dựng lại chính con người.
Con bống đen đẻ trứng là một bài thơ viết về sự sụp đổ của thế giới hiện đại. Người cha đưa đứa con chạy trốn trong đêm, khỏi cuộc sống bẩn thỉu, điên rồ, mất nhân tính. Họ đi qua một thế giới tự hủy diệt, tìm về những người thân đã trở thành xa lạ, rồi tìm về cánh đồng của tổ tiên, nơi có dòng sông thanh sạch cuối cùng và những con cá bống, biết giúp con người hồi sinh:
”Nấu một nồi cơm nếp hoa vàng
Đơm lặng lẽ vào mo cau cổ tích
Và mang ra bến sông
Đó là lúc con bống đen
Nổi lên giữ dòng sông Đáy
Đôi mắt sáng hai vầng Nhật – Nguyệt
Đẻ cho ban mai một dải trứng hồng”.
(Con bống đen đẻ trứng)
Thậm chí, mỗi câu thơ, mỗi ngôn từ đều chở dư âm của cấu trúc đó:
”Con gián xòe cánh bay
Chuyến vận hành mông lung mang theo ổ trứng”.
(Dưới trăng và một bậc cửa)
Điều đặc biệt là trong cái thế giới Carnival này, nhà thơ sắm vai kép, vừa là người tham dự vào sự lụi tàn hay triển nở, vừa là người kể lại quá tình đang trở thành đó bằng trí nhớ thị giác của một nhà thơ – cậu bé.
Nguyễn Quang Thiều, cũng như tôi, là một cậu bé quê. Tuổi thơ Thiều sống trong sự quay vòng của mùa vụ, của đất trời: xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng. Cánh đồng quê anh được bồi đắp bởi phù sa sông Đáy vừa trồng lúa, vừa trồng rau. Cậu bé gắn bó máu thịt với xóm làng. Bởi vậy, Thiều hiểu được tiếng lặng im của đất, tiếng yêu thương, nhẫn chịu và khổ đau của cha, mẹ, dân làng. Tất cả những tiếng nói ấy đều được nói lên bằng những câu chuyện trầm ấm bên bếp lửa, những vần thơ mộc mạc, da diết. Tất cả được “cất trong rương thơm ký ức lên mười.” (Nhịp điệu châu thổ mới). Biết bao cậu bé, để nhẹ vượt vũ môn trở thành người lớn, đã nhả bỏ viên ngọc tuổi thơ. Thiều, ngược lại, đi làm thi sĩ chỉ để tiếp tục sống cuộc sống của Cậu Bé xưa. Dĩ nhiên, từ cậu bé đến Cậu Bé là một hành trình Tuệ giác.
– Và Cậu Bé đi gọi tên linh hồn của đất
Bằng những cách gieo âm tiết của riêng mình
– Hồi sức những âm tiết đơn, sinh sôi đa bào
Mang ý nghĩa mới tiếng gọi, tái sinh mãi tiếng vọng
(Nhịp điệu châu thổ mới)
Thơ Nguyễn Quang Thiều, bởi vậy, hẳn không chỉ được làm bằng cảm xúc và trí tuệ, mà bằng trí nhớ thị giác/thiên nhãn thông/giác quan thứ 6. Như ông trả lời một bạn thơ hỏi: “Mình cứ viết như một ai đó đọc vang lên trong đầu.” Và ai đó, tôi nghĩ, chính là cậu bé ngồi đắm chìm bên bờ sông Đáy thuở nào, nay khát khao muốn được, một lần nữa, ngụp lặn trong chính dòng nước ấy.
Có một nhà thơ khác nói với tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là thơ. Tôi bảo, phải, thơ Thiều không phải là thơ, mà là phản thơ. Nhưng phản thơ theo cái nghĩa phản tiểu thuyết của các nhà Tiểu thuyết Mới ở châu Âu, tức không theo cái chuẩn thông thường của thơ, mà vượt qua nó, để trở thành lệch chuẩn, siêu chuẩn, tiến tới vô (chứ không phải không) chuẩn. Hẳn nhà thơ kia thấy thơ Thiều không thuộc vào một thể loại quen thuộc nào cả. Thơ ông vượt qua Thơ Mới, thơ tự do, và đứng chênh vênh giữa thơ văn xuôi và văn xuôi nghệ thuật. Bờ thứ ba của dòng sông. Nhưng, thơ Thiều vẫn giữ được cái thẩm mỹ, một thuộc tính của thơ. Cái làm cho thơ trở thành thơ.
Đây là thế giới trăng và dưới trăng:
”Tràn đến bậc cửa rồi
Những chiếc lá non mạ bạc
Đang múc từng thìa trăng
Những bóng cây say đổ vào nhau
Dạt dào những lớp sóng trăng
Con dế mèn lãng mạn
Con gián khát thèm
Những mối tình đang đến và chia xa
Những bối tóc góa bụa xổ tung cười ngất
Những xé rách, những vá liền, những phân tán
Những khô cong và những…”
(Dưới trăng và một bậc cửa)
Dưới trăng mọi thứ đều đẹp, và vẻ đẹp ấy đang bị hủy diệt. Vào một đêm trăng, nhà thơ đi tìm những vẻ đẹp ấy. Sau bao nhiêu tuyệt vọng và lạc đường, cuối cùng chàng đã vượt qua được một bậc cửa để đến với ánh trăng, vẻ đẹp muôn đời và bí ẩn.
Cái đẹp của thơ Thiều không tựa vào vần điệu, tựa vào những ngôn từ lấp lánh của vàng Mỹ Ký, hay lối làm văn màu mè, mà là những câu chữ, hình ảnh giản dị, bình thường, nhưng được người kể chuyện nhìn bằng một cái nhìn thơ mộng. Đó là cái đẹp của sự sinh thành, của sự trở thành, vừa mộc mạc vừa huyền bí, và vừa có tính chất tiên tri. “Tôi đã đánh mất tôi một nửa/Tôi tự sinh cho tôi thêm một nửa nữa” (Dưới trăng và một bậc cửa). Như vậy, cái đẹp không chỉ là mộc mạc tiền hiện đại nữa, mà chủ yếu là huyền bí của sự trở thành. Đó chính là cái khác. Thơ Thiều không phải là mỹ học của cái đẹp, mỹ học của cái siêu tuyệt, mà là mỹ học của cái Khác. Thực ra, cho đến nay, nhiều người còn hiểu lầm về cái khác. Cái khác như một phạm trù xã hội – chính trị chuyển sang phạm trù mỹ học cũng phải chuyển đổi qua ba hệ hình: tiền hiện đại là cái khác bộ lạc, cái khác là thù địch cần phải loại trừ (A B); cái khác hiện đại là sự thấp kém, thiểu số, ngoại vi so với chủ nghĩa châu Âu trung tâm (A ≠ B); cái khác hậu hiện đại là khác với chính bản thân nó (A = A, A ≠ A). Thơ Thiều, Dưới trăng và một bậc cửa, là một thế giới đang vận động, đang trở thành, một thế giới bao gồm những thế giới tồn tại song song. Thế giới hậu hiện đại.
Chùa Thầy, 23/5/2019
Đỗ Lai Thúy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Văn học về đề tài an ninh và một hướng tìm tòi

Văn học về đề tài an
ninh và một hướng tìm tòi

Từ sau năm 1986, văn học về đề tài an ninh đã có những chuyển đổi về chất mà tác phẩm phi hư cấu là thể hiện thành công của một hướng tìm tòi mới của các nhà văn trong ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật. Đường biên của hiện thực được mở rộng hơn. Con người được đào sâu về tâm lý, tính cách. Và nhân vật vừa là cái bóng lại vừa là nhân chứng của lịch sử. Qua tâm hồn nhân vật, lịch sử như được viết lại bằng văn…
1. Trước cách mạng văn học về đề tài này đơn thuần chỉ là truyện trinh thám. Nhưng ngay cả ở thể truyện này, một trong những tác giả tiêu biểu nhất là Phạm Cao Củng thì như Vũ Ngọc Phan nhận xét trong Nhà văn hiện đại rằng “nó chỉ là một loại văn bình thường, loại mà hạng trung lưu, trí thức thích đọc”…
Sau cách mạng, an ninh là một đề tài đã mới lại có những cái khó riêng bởi nhiều vấn đề hấp dẫn nhưng người viết chưa được phép thể hiện. Trước đây, có một số quan niệm cho rằng “những tác phẩm viết về đề tài công an thường là “dao găm, súng lục” nên hầu hết những tiểu thuyết tình báo, tiểu thuyết trinh thám hay tiểu thuyết điều tra hình sự đều bị xếp chung vào một loại rồi gọi một cách xô bồ là truyện vụ án “và xem nó như một thứ văn chương giải trí, không thuộc dòng văn học đích thực” (Lời giới thiêu cuốn Những người bạn đồng hành). Đó là chưa kể một thời văn chương còn coi nặng chuyện đề tài, đánh giá giá trị của một sáng tác còn thông qua lăng kính của các tính (tính Đảng, tính giai cấp), các chức năng (giáo dục, nhận thức), chưa coi mối quan hệ giữa văn học chính trị trong chừng mực nào đấy là bình đẳng. Văn học về đề tài an ninh trong tình hình ấy, cũng bị sức ép từ nhiều phía… và bệnh sơ lược, công thức là không tránh khỏi, chưa có tác phẩm gây được dấu ấn
Sau chiến tranh, đặc biệt từ đổi mới, văn học an ninh đã có những thay đổi quan trọng. Điều đáng ghi nhận đầu tiên là khi chức năng giải trí được đặt lại đúng vị trí của nó thì đề tài này được coi bình đẳng như mọi đề tài khác. (Mà thực tế những tác phẩm văn học dịch về đề tài này trước đây như Nam tước Phôn Gôn rinh, Chiếc khuy đồng, Rừng thẳm tuyết dày… vẫn rất hút khách). Mà không chỉ giải trí bằng những gay cấn trong các việc điều tra vụ án, văn học về đề tài an ninh còn cung cấp cho người đọc những sử liệu trước đây còn nằm trong khuất lấp. Một số áp lực được giải tỏa. Nhà văn được phép khai thác vào những miền đất trước đây có thể bị coi là vùng cấm; chất lượng, giá trị của tác phầm được đánh giá khách quan hơn. Mặt khác, phạm vi đề tài cũng không đơn thuần chỉ là truyện trinh thám mà ngoài vấn đề viết về cuộc chiến đấu “vì an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên” cả trong chiến tranh và hậu chiến, hòa bình, nhiều tác phẩm còn viết về những điệp viên nổi tiếng trong mạng lưới tình báo cách mạng mà điều kiện lịch sử giờ đây đã cho phép. Sự ra đời của tác phẩm dạng này đã mở ra một hướng đi tiềm năng cho văn học. Một điều đáng chú ý khác là đội ngũ các nhà văn về đề tài an ninh càng ngày càng đa dạng, không chỉ là nam mà còn có cả nữ, không chỉ là người đã đứng tuổi, cao niên mà còn nhiều cây bút trẻ mới bước vào nghề. Cuộc chiến đấu trên mặt trận an ninh tuy thầm lặng nhưng hết sức nguy hiểm và ác liệt vì nó không chỉ là cuộc chiến đấu giữa ta và địch, là cuộc đấu tranh chống lại cái ác, chống tham nhũng, bất công, mà còn là cuộc đấu tranh với chính bản thân mình. Nhà văn của ngành an ninh không hoàn toàn nhất thiết phải viết về đề tài an ninh và ngược lại, các nhà văn khác vẫn có thể viết về đề tài an ninh. Nằm trong văn mạch chung, đối tượng mà nhà văn hướng tới là con người và đề tài chỉ là nơi cho nhà văn trải nghiệm. Vì thế, đổi mới, hội nhập thực sự là một thử thách đối với người cầm bút. Và những đổi mới của văn học về đề tài an ninh cũng nằm trong xu hướng ấy.
Lê Tri Kỷ, rồi Văn Phan, Ngôn Vĩnh, Lương Sĩ Cầm, Trần Diễn… có thể coi là những người đã đặt những viên gạch đầu tiên để rồi cùng nhiều nhà văn thuộc nhiều thế hệ khác nhau như Khổng Minh Dụ, Mai Vũ, Nguyễn Xuân Hải, Tôn Ái Nhân, Nguyễn Như Phong, Từ Kế Tường, Nguyễn Ngọc Mộc, Nguyễn Như Phong, Hữu Ước, Phùng Thiên Tân, Trần Tử Văn…, trẻ hơn là Như Bình, Nguyễn Đình Tú, Di Li, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Thủy… đã xây nên mảng văn chương này trong nền văn học cách mạng. Cho đến hôm nay, văn học về đề tài an ninh đã có diện mạo riêng: có tiểu thuyết phi hư cấu, có tiểu thuyết trinh thám, có tiểu thuyết tình báo, với những sáng tác từng nhận được những giải thưởng cao…
2. Ở thể loại tiểu thuyết, Ván bài lật ngửa (1988) của Trần Bạch Đằng viết về anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Thảo được chuyển thể thành phim gây nên một cơn sốt hồi thập niên tám mươi. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong chuỗi sách viết về các nhà tình báo cách mạng của văn học viết về đề tài an ninh; nó có sức hấp dẫn thật sự của những tác phẩm nghệ thuật mang yếu tố ly kỳ vốn là sở thích của các độc giả trẻ, lại viết về nhân vật có thật, vốn là sở thích của lứa tuổi trung cao niên thích tìm hiểu về lịch sử. Và cuốn tiểu thuyết này thuộc thể loại phi hư cấu – thể mà chúng tôi hướng tới trong bài viết nhỏ này. Đương nhiên xây dựng nhân vật trên cơ sở nguyên mẫu ngoài đời là một việc bình thường của nhà văn. Vấn đề ở chỗ nguyên mẫu vốn là những nhân vật lịch sử, gắn với sự kiện lịch sử, có vai trò quan trọng trong sự kiện, vậy, cho phép khả năng nhà văn hư cấu đến mức nào để một khi trở thành nhân vật văn học, có sức sống riêng, nó vẫn không làm hỏng nguyên mẫu nổi tiếng ngoài đời? Xu hướng này vào đầu thế kỷ mới đã được nhiều nhà văn chú ý và trong đời sống văn học bấy giờ, sau Phạm Ngọc Thảo trong Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng, là Lê Hữu Thúy trong Điệp viên giữa sa mạc lửa của Nhị Hồ, là Vũ Ngọc Nhạ – Hai Long trong Ông cố vấn của Hữu Mai, là Mười Hương trong Trần Quốc Hương – người thầy tình báo của những huyền thoại, là Phạm Xuân Ẩn trong Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, là Đại tướng Mai Chí Thọ… của Nguyễn Thị Ngọc Hải. Đây là những tiểu thuyết (trong số đó một số cuốn là ký chân dung và hồi ký – tự truyện) mà tôi được đọc liên quan đến đề tài an ninh. Hai trong số đó là Ông cố vấn đã giành Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời đã giành giải cao của Bộ Công an và Hội Nhà văn trong cuộc thi tiểu thuyết và ký Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống, gây được tiếng vang cả trong và ngoài nước.
Ông Cố vấn của Hữu Mai là tác phẩm của một nhà văn quân đội viết về nhà tình báo cộng sản Vũ Ngọc Nhạ – người đã làm cố vấn cho hai đời tổng thống chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Thể hiện “hồ sơ của một điệp viên”, Ông cố vấn đã thực sự hấp dẫn người đọc bằng những tình tiết ly kỳ mà xác thực của một điệp viên tài ba, mưu trí và dũng cảm trong thời kỳ sống và hoạt động trong vai một cố vấn nhưng thực chất lại là một điệp viên cộng sản nằm vùng. Trải qua bao phen thử thách, Hai Long vẫn vững vàng, bản lĩnh, càng ngày càng tỏ ra khôn khéo, từng bước một, chiếm giữ được lòng tin và tình cảm của “đối phương”. Từ việc tạo được niềm tin với anh em nhà họ Ngô bằng tờ trình Bốn nguy cơ đe dọa của chế độ, đến việc chính quyền Ngô Đình Diệm bị đảo chính, rồi cụm tình báo bị vỡ trong dịp tết Mậu Thân; từ việc Hai Long cùng đồng đội bị bắt, bị xử tù chung thân và bị đày ra Côn Đảo, mặc dù Hai Long kiên quyết không khai, từ chối mọi sự dụ dỗ, mua chuộc nhưng sau đắc cử, Nguyễn Văn Thiệu vẫn đưa Hai Long về khám Chí Hòa. Được trao trả tù binh sau hiệp định Paris, ông nối lại hoạt động và đã có mặt ở dinh Độc lập với tư cách là người của lực lượng thứ ba trong ngày 30 tháng tư. Chân dung nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ qua nhân vật Hai Long không chỉ thỏa mãn của nhiều nhà báo phương Tây từng tham dự phiên tòa của chính quyền Sài Gòn trước đây xử ông mà còn gợi cho người đọc lòng cảm phục về một điệp viên tầm cỡ. Và hiệu ứng của Ông cố vấn còn được nối dài sau khi tác phẩm được chuyển thể thành kịch bản Văn học dựng thành phim.
Tiếp sau Hữu Mai, Nguyễn Thị Ngọc Hải là tác giả cuốn Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời, tác phẩm viết về Phạm Xuân Ẩn – một “điệp viên hoàn hảo” như cách gọi về ông của nhà văn-nhà báo người Mỹ Larry Berman, cũng là tên một cuốn sách của tác giả này viết về ông. Trước năm 1975 Phạm Xuân Ẩn là phóng viên của hãng Reuters, Time, là cộng tác viên của hai nhật báo The New York Herald Tribunne và The Christian Secience, nổi tiếng là nhà phân tích quân sự – chính trị, thân thiết với nhiều nhân vật quan trọng của chế độ Sài Gòn, được người Mỹ trọng dụng. Việc ông được cử đi Mỹ học nằm trong ý đồ chiến lược của Mười Hương, người phụ trách tình báo của Đảng: muốn đánh thắng kẻ thù, phải hiểu kẻ thù, phải nắm được văn hóa của nước đó. Và những năm học đại học báo chí bên Mỹ là một cơ hội rất thuận lợi để Phạm Xuân Ẩn thấm được văn hóa Mỹ phục vụ cho công việc của một nhà tình báo giàu năng lực, sau khi ông trở về nước. Sau năm 1975 ông là thiếu tướng, một nhà tình báo chiến lược, Anh hùng lực lượng vũ trang của ta. Nguyễn Thị Ngọc Hải đã dựng lại chân dung một nhà tình báo mà như giáo sư Thomas Bass gọi ông là “kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” một cách chân thực, sống động bằng thao tác của một người viết văn bởi chị “đam mê lục lọi tâm hồn con người để tìm cho ra vẻ đẹp lạ lẫm, âm thầm, dung dị rất riêng trong họ” mà nói như Lary Becman “Bà là người hiểu rõ chủ nghĩa nhân văn của ông ấy (Phạm Xuân Ẩn) hơn ai hết”… Nguyễn Thị Ngọc Hải đã nắm lấy nét đặc sắc ở một con người mang trong mình ba nền văn hóa ấy làm cơ sở để từng bước một triển khai vấn đề, cho nhân vật suy nghĩ, ứng xử và chọn giải pháp thích hợp trong hành động, vượt qua được những thử thách nghiệt ngã, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người tình báo. Và người điệp viên ấy bước chân vào tác phẩm văn học phi hư cấu đã trở thành một nhân vật văn học có sức sống riêng: nhân vật đó hấp dẫn người đọc bằng sự lịch lãm, trí tuệ, bằng cách làm việc thông minh, tận tụy và cách hành xử rất có tình người. Cả Ông Cố vấn của Hữu Mai và Phạm Xuân Ẩn – tên người như cuộc đời của Nguyễn Thị Ngọc Hải đều cho ra được câu trả lời một cách xác đáng về nỗi băn khoăn của rất nhiều người: làm thế nào mà các chiến sỹ tình báo của chúng ta “chui” sâu vào được đến vậy mà không bị lộ và làm sao nước Mỹ giàu mạnh đến vậy mà vẫn chịu thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam? Cả Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn (cùng Phạm Ngọc Thảo – Nguyễn Thành Luân, Lê Như Thúy – Lê Nguyên Vũ và một số khác) đều là những điệp viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của Mười Hương – một nhà chỉ huy tình báo có tầm nhìn chiến lược. Mười Hương đánh giá cao vai trò của văn hóa trong việc tạo ra hiệu quả công việc và luôn nhắc nhở cộng sự “tranh thủ cơ hội để phân hóa, thuyết phục; sống thật nhất với con người mình mới là vỏ bọc dày nhất, kín đáo nhất. Và nếu bị bắt thì nhất định phải giữ khí tiết, không khai báo. Đó cũng là người đã cho rằng: tình báo Việt Nam lấy văn hóa bản địa để cảm hóa và chiến thắng quân thù. Cả Hữu Mai và Nguyễn Thị Ngọc Hải đã cho nhân vật sử dụng lối ứng xử và văn hóa yêu nước như một thứ quyền lực mềm, tạo sự tài trí, thông minh cho nhân vật một cách hợp lý khi họ bị đặt vào những tình huống gay cấn mà nếu không cao tay nhân vật sẽ khó thoát khỏi những sơ lược, công thức dễ gặp, và đương nhiên, sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ bị kém đi.
3. Như vậy là từ sau năm 1986, văn học về đề tài an ninh đã có những chuyển đổi về chất mà tác phẩm phi hư cấu là thể hiện thành công của một hướng tìm tòi mới của các nhà văn trong ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật. Đường biên của hiện thực được mở rộng hơn. Con người được đào sâu về tâm lý, tính cách. Và nhân vật vừa là cái bóng lại vừa là nhân chứng của lịch sử. Qua tâm hồn nhân vật, lịch sử như được viết lại bằng văn. Khi môn lịch sử đang không được học sinh ở cấp phổ thông mặn mà thì chính tiểu thuyết lịch sử và tác phẩm phi hư cấu là một cách đưa lịch sử dân tộc, lịch sử chiến tranh đến với các em một cách hấp dẫn hơn.
25/8/2020
Tôn Phương Lan
Nguồn: Văn Nghệ số 34/2020
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ 1-2-3 đọc là thú, đọc là ham và muốn cầm bút

Thơ 1-2-3 đọc là thú,
đọc là ham và muốn cầm bút!

Thơ 1-2-3 khiến người đọc không có cảm giác nhàm bởi nghĩa của câu từ đều rất mới nhưng không dị biệt. Với đà cộng hưởng sáng tạo, lan tỏa mạnh mẽ như hiện nay, tin rằng thơ 1-2-3 sẽ có tiếng nói quan trọng lâu bền trong đời sống thi ca và văn học, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần người Việt…
Sự thăm thẳm nội tâm chưa hẳn đã nằm trong cách dàn trải con chữ. Tôi đã khẳng định như thế khi đọc thể thơ 1-2-3 trên trang web vanhocsaigon.com do một số văn nghệ sĩ, trí thức Văn Học Sài Gòn chủ trương.
Vanhocsaigon.com (VHSG) có thể nói là một diễn đàn văn học đã và đang thu hút được lượng độc giả quan tâm khá đông tại thời buổi văn hóa mạng dày đặc, đa chiều. Và tôi đã tìm thấy sự thỏa đáng trong quá trình chọn lựa nguồn thông tin về văn học nói riêng cũng như văn hóa nghệ thuật tại đây.
Chỉ trong khoảng thời gian vài tháng trước, tất cả số lượng bài viết được đăng lên VHSG tôi đọc còn có thể nhớ được tên từng tác giả. Vậy mà giờ đây chỉ riêng số lượng tác giả tham gia sáng tác thơ 1-2-3 đã đến hàng trăm người, mỗi người dăm bảy chùm, mỗi chùm dăm bảy bài liên tục xuất hiện. Nhiều tác giả thơ chưa kịp lên mặt trang lần thứ hai. Tôi nhẩm tính con số hưởng ứng thể thơ mới này cũng đã là một thành quả đáng ghi nhận.
Riêng cá nhân tôi, thơ 1-2-3 là loài hoa lạ xuất hiện trong vườn hoa đủ các sắc màu vốn đã cắm rễ ăn sâu vào tiềm thức con người từ bao nhiêu thế kỷ. Thể thức mới này cũng không phải đánh đố người sáng tác, tư duy không khu bó trong một quy tắc chật chội. Thơ 1-2-3 được phóng chữ theo cảm hứng hướng ngoại nhưng sự quyết định bài thơ có nâng cánh bay lên hay không thì còn chờ vào người viết có biết gạn lọc câu từ để cô đọng nội tâm làm bung bật tỏa nắng cả bài thơ.
Tuy ngắn, có luật chơi nhưng tựu chung thơ 1-2-3 vẫn tự do, vẫn phóng khoáng, vẫn đa chiều, vẫn lãng mạn, vẫn bao hàm được yếu tố chia sẻ cõi riêng của mỗi con người với nhau. Đọc là thú, đọc là ham và muốn cầm bút. Điều đáng lưu tâm là thơ 1-2-3 giúp cho người sáng tác tránh được sự vô tình đạo văn, vì ngay tên bài thơ cũng là câu thơ và đoạn thơ thứ nhất hoàn toàn độc lập. Người làm thơ hay đặt tên bài thơ, thậm chí cả tên tập thơ một cách dễ dãi dẫn tới trùng lắp với tên những bài thơ xuất hiện trước của tác giả khác.
Lúc đầu tôi đọc thơ 1-2-3 cảm giác còn lạ lẫm, e dè như đi vào mảnh đất chưa có dấu chân người, nhưng khi đọc kỹ vài lượt bài thơ 1-2-3 nào đó thì tôi thấy nhạc tính rộn ràng, sáo diều vi vút, thấy cả hình ảnh quê hương Việt Nam dập dìu trên những ruộng đồng sải cánh cò bay, thấy mái nhà quê nằm yên bình dưới trăng dìu dặt “Một ngày ruổi rong sa mạc đời bỗng khát/ Mơ cánh đồng quê nhà rười rượi gió đẫm trăng” của Nguyễn Doãn Việt; ta lại bắt gặp đâu đó hình ảnh đài các của Phạm Thị Kim Khánh – người đàn bà và cây đàn violin “Chị không chơi mà chải chuốt âm thanh/ Vút vắt vẻo lưng trời ngăn ngắt”.
Thơ 1-2-3 khiến người đọc không có cảm giác nhàm bởi nghĩa của câu từ đều rất mới nhưng không dị biệt. Đọc thơ của nhiều tác giả tôi còn thấy những mảnh đời lắt lay sống mòn, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, hay cơn cuồng nộ trước đại dịch đã có thể viết thành những bài thơ 1-2-3 chất chứa sức nặng của nghệ thuật diễn ngôn: “Người hối hả ra khỏi vùng cách ly bệnh dịch/ Kẻ rước lậu ngoại kiều gây sóng gió quê hương” của Phạm Phương Lan. Tôi còn được thấy cả thắng cảnh đất nước Nga hùng vĩ đang bày ra tươi đẹp ẩn hiện trong thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng “Saint Petersburg hạ ấm chuyển thu lạnh mây mưa đá/ Ánh vàng cung điện trầm tư sông Neva in bóng vĩ nhân”. Và thơ của rất nhiều bạn thơ khác như Mai Thìn, Hà Phi Phượng, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Trọng Văn, Trương Mỹ Ngọc, Võ Hoàng Phương, Võ Văn Trường, Trần Thế Vinh, Lê Đỗ Lan Anh, Bình Địa Mộc, Khang Quốc Ngọc, Lê Tuyết Lan,… kết thành trào lưu làm phong phú thể thơ mới thuần Việt đương đại mà từ lâu thi đàn cần có.
Một điều đặc biệt nữa là dòng thơ 1-2-3 chuyển tải được tâm tư tình cảm, phong cảnh, công việc đời thường nhưng lại… rất thơ. Hồn cốt chữ chính nằm ở sự công phu chắt lọc tìm tòi ngôn ngữ uyển chuyển nhưng không thiếu tính hiện đại của thể thơ mới. Nếu dễ dãi bài thơ sẽ chỉ thành những câu văn không đầu không cuối, vô hồn vô cảm, hoặc bài thơ sẽ rơi vào tình trạng đại ngôn, xóc chữ lung tung khiến cho độc giả chẳng cảm chẳng hiểu được gì. Nhưng không! Đối với thơ 1-2-3 ai đã đọc cũng sẽ thấy trùng trùng cảnh trí, bề bề cảm xúc, và điều đáng nói về cấu trúc là mỗi câu chỉ tối đa 11-13 từ trở lại nhưng mỗi cụm từ gánh trách nhiệm giải quyết thỏa đáng tư tưởng nghệ thuật của người viết lẫn cảm nhận của người đọc. Với đà cộng hưởng sáng tạo, lan tỏa mạnh mẽ như hiện nay, tin rằng thơ 1-2-3 sẽ có tiếng nói quan trọng lâu bền trong đời sống thi ca và văn học, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần người Việt.
Việt Trì, 21/8/2020
Vũ Thanh Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Aleksanrd Grin - Người kể chuyện cổ tích

Aleksanrd Grin
Người kể chuyện cổ tích

Thuở nhỏ và thời niên thiểu, hẳn bạn đã một lần lật giở những trang truyện ký thác nhiều ước vọng, nhiều mộng mơ “Cánh buồm đỏ thắm”. Aleksanrd Grin đấy!
Trong đời mình, nhà văn Grin – Aleksandr Stepanovist Grinnhevsky  lưu lại một số ngày và chết cũng tại Crưm-Cũ.
Grin – con người với số phận nặng nề, truân chuyên đã tạo ra trong những câu chuyện kể của mình một thế giới chưa từng có, đầy ắp những điều hấp dụ, những  mối quan hệ giữa người và người tuyệt vời, những ngày hội hè ở biển không thể quên. Grin – một người kể chuyện cổ tích nghiệt ngã mà cũng là một nhà thơ của những eo biển và những nơi neo đậu các con tầu. Những chuyện kể của ông khiến đầu óc lắc đảo nhẹ nhàng bởi mùi thơm của những bông hoa tươi vừa bung nở và những ngọn gió buồn vừa thoáng thổi qua đâu đây.
Trong suốt đời mình hầu như Grin sống tại các khu nhà trọ, trải qua công việc lao động cực nhọc mà rẻ tiền; nghèo túng và không bao giờ được ăn no.
Ông từng là thủy thủ, phu bốc vác, người dọn dẹp trong nhà tắm công cộng, nhưng trước hết ông là người không thành đạt.
Cái nhìn của ông ngây thơ và trong trẻo, hệt như ở một chú bé.
Ông không lưu tâm tới thế giới xung quanh và lúc nào cũng như sống giữa các đám mây, những bờ sông, bãi biển vui vẻ, nhộn nhịp.
Chỉ vào những năm cuối đời, trước khi xuôi tay nhắm mắt , trong chữ nghĩa, trong các câu chuyện kể của ông, lần đầu tiên Grin mới để ý tới những gì gần gụi trong cuộc sống của chúng ta.
Chất lãng mạn của Grin giản dị, vui vẻ, lấp lánh sáng. Chất lãng mạn ấy đánh thức trong con người ta khát vọng được sống một cuộc đời muôn màu muôn vẻ, được thả sức phiêu lưu và “xúc động cao cả “ với những cuộc đời  vốn chỉ giành riêng cho các nhà thám hiểm, đám thủy thủ lênh đênh trên các đại dương và người nào ưa thích lang thang đây đó. Chất lãng mạn ấy dấy lên nhu cầu được nhìn thấy và được hiểu biết toàn bộ hành tinh này. Lòng mong ước ấy mới cao thượng và tuyệt đẹp làm sao. Grin đã thỏa mãn ước nguyện ấy bằng tất cả những gì ông đã viết ra.
Ngôn ngữ của ông lấp lánh sáng. Lật từ trang này qua trang khác tôi tình cờ gặp được mấy trích đoạn sau:
“Đâu đó tít cao trên đầu một viên đạn lạc rít gió từ giọng kim chuyển qua giọng trầm lặng lẽ lao nhanh, để vẽ một đường vòng cung  rồi rơi vô hại trên bãi cát cạnh một chú kiến đang bận rộn, âu lo kéo lê theo mẩu cây rất cần thiết với chú”.
“Anh ta lắng nghe người lính kèn biểu diễn.Đó là thứ thi ca kỳ lạ của cuộc đời lính, khúc bi ca của những làng quê bị bỏ lại phía sau lưng, sự thảm sầu của những chiếc lưỡi lê đã được chuốt sạch”.
“Mùa đông đã chết. Mùa xuân bước đôi chân trần màu hồng, táo tợn đến thay nó ở một khe rãnh ẩm ướt, nơi có một bà lão già nằm sấp bụng, cũng giống như một lớp tuyết đang tan. Trong cơn hấp hối cuối cùng bà lão thở ra những làn hơi lạnh lẽo yếu ớt và không còn hy vọng gì”.
Grin nghĩ ra những bài ca cổ cho đám thủy thủ hát lên sau bữa ăn:
Đừng thét gào, đừng dọa dẫm nữa
Trái đất đã dọa chúng ta từ lâu lắm rồi
Ở phía nam kia
Có một thiên đường sáng lán
Dẫu sao anh em chúng ta cũng bơi tới đó  
Ông cũng nghĩ ra những bài hát khác, vui vẻ hơn:
Cho phép kể bạn  nghe
Cho phép kể
Trong cơn bão cánh buồm đã được cuộn lại ra sao
Ra sao cánh buồm được cuộn lại!
Ôi, cuốn cả bạn lại trong lá cờ 
Để trao vào tay bạn khúc giây chão sũng ướt
Trao cho bạn khúc giây chão sũng ướt
Tại Crưm-Cũ chúng tôi đã tới thăm ngôi nhà của Grin. Ngôi nhà xám ngoét đứng trong khu vườn rậm mọc rặt loại cỏ nở những chấm hoa nhỏ li ti. Trong lớp cỏ vẫn còn mướt xanh, dù là đã cuối thu, rải rác đây đó còn nhặt được những chiếc lá của cây bồ đề. Những chú ong cuối mùa rù rì bay lượn.
Ngôi nhà nhỏ đã bị trưng tập, trở nên ắng lặng. Phía sau ô cửa sổ che phủ bởi một lớp sương mù nhẹ mỏng hiển hiện những ngọn núi.
Trên cái bối cảnh đơn giản, buồn bã đó chỉ còn lại một phù điêu gỗ treo trên một bức tường trắng – chân dung Edgar Po.
Chúng tôi không trao đổi gì với nhau, cho dù trong đầu đầy ắp ý nghĩ. Với nỗi xúc động nghẹ lời chúng tôi đưa mắt ngắm nhìn những tiện nghi quá đơn sơ của một con người được trời ban cho một óc tưởng tượng mạnh mẽ và trong sạch.
Crưm-Cũ dường như ngay lập tức đã biến đổi sau lần chúng tôi nhìn thấy nơi cư ngụ của Grin và được nghe câu chuyện kiệm lời về cái chết của ông.
Grin, một nhà văn cô độc tới tận cùng trong tiếng vang rền chưa từng biết tới của những năm cách mạng khiến chúng ta phải nghĩ nhiều đến cái chết của con người ta. Ông van xin có ai đó đã từng đọc sách của ông, tìm đến với ông, cho dù chỉ là một người thôi, để  nói lời cám ơn và sau hết hưởng lấy niềm vui dẫu muộn màng của sự giao tiếp giữa con người với nhau, mà vì nềm vui này ông đã làm việc.
Nhưng cũng đã muộn rồi. Không còn một ai kịp đến cái thành phố tỉnh lẻ mặn mòi, nằm xa cách những nhánh đường sắt đó nữa.
Grin cầu mong để chiếc giường ông nằm được kê sát khung cửa sổ, để ông luôn luôn được nhìn thấy những ngọn núi xa xa. Có thể, sắc màu của những ngọn núi ấy, cái màu xanh in trên đường chân trời kia sẽ làm ông khuây khỏa nỗi nhớ những vùng biển thân yêu mà ông phải giã biệt.
Chỉ có hai người đàn bà , hai tù nhân của cảnh thanh bần ở cạnh bên Grin trong ngày ông vĩnh biệt cõi đời- vợ và bà mẹ của ông.
Trước lúc rời khỏi Crưm-Cũ  chúng tôi ra thăm ngôi mộ của ông. Một tảng đá, những bông hoa đồng nội và một bụi mận gai..và đó là tất cả.
Một nhánh đường còn nhận ra được đưa ta tới ngôi mộ.
Tôi chợt nghĩ rằng, qua nhiều năm nữa khi tên tuổi của Grin sẽ được nhắc tới với sự yêu thương, con người ta sẽ nhớ tới nấm mộ này, nhưng phải đạp xéo lên hàng triệu cành gai rậm rạp, làm nhàu nát hàng triệu bông hoa đã mọc vống cao mới tìm ra tảng đá xám bạc, bình thản kia.
Tôi tin rằng – người bạn đồng hành nói, khi chúng tôi từ thành phố ra tới con đường xe đưa thư còn lại từ ngày xưa – lúc này là thời kỳ tốt đẹp nhất trong cuộc sống của nhân loại. Nếu trước kia người ta có thể quên đi các nhà tư tưởng, các nhà văn và các nhà thơ, thì bây giờ là lúc người ta không thể sống như vậy và sẽ không thể như vậy. Chúng ta đang sống bởi những giá trị của quá khứ, những giá trị giống như thứ nước cốt nho, nhất định thứ nước cốt nho ấy sẽ biến thành thứ rượu vang tuyệt hảo. Thứ nước cốt nho như vậy trong những chuyện kể của Grin có rất nhiều.
Tôi đồng ý với anh bạn.
Chúng tôi rời khỏi núi. Vầng mặt trời đã báo hoàng hôn. Tia hồi quang như làm bừng thức những cánh rừng. Đêm đã len lỏi trong các hẽm núi. Những chiếc lá khô sào sạc như muốn ru ngủ chim chóc và những chú chuột đồng.
Một ngôi sao đầu tiên run rẩy hiện ra và dừng lại trên vòm trời. Hệt như một chú ong vàng bối rối bởi đất đai đã vào thu, vội lặng lẽ bay vút lên cao.
Tôi ngoái lại và nhận ra, trong làn ánh sáng chưa tắt hẳn, cái hẽm núi có gò đất nơi Grin yên nghỉ. Ngôi sao bỗng như vụt sáng lên phía trên đầu chúng tôi.
27/8/2020
Konstantin Pautovsky
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không thể hững hờ với… thơ 1-2-3 sảng khoái và thư giãn

Không thể hững hờ với…
thơ 1-2-3 sảng khoái và thư giãn

Điều đầu tiên cảm thấy là rất tự hào vì thơ Việt Nam đã xuất hiện thêm một thể loại mới, và vui hơn nữa khi thể thơ này đang được đông đảo các thi sĩ lựa chọn để thể hiện cảm xúc, suy tư của mình…
Với thể loại thơ ngắn, tôi đã từng làm thơ thể loại haiku, chỉ có 17 âm tiết, gói gọn trong 3 câu. Sự giới hạn về số chữ làm nội dung thơ haiku thật cô đọng. Thêm nữa là, haiku xuất phát từ Nhật Bản, nên thật lòng mà nói có những điều khác biệt giữa Việt Nam và Nhật Bản làm cho sự cảm về thơ haiku đôi khi khó thẩm thấu.
Và cách đây khoảng 2 tháng, qua bạn văn thơ Hồ Xuân Đà, tôi biết đến anh Phan Hoàng, người sáng tạo ra thể thơ 1-2-3. Điều đầu tiên cảm thấy là rất tự hào vì thơ Việt Nam đã xuất hiện thêm một thể loại mới, và vui hơn nữa khi thể thơ này đang được đông đảo các thi sĩ lựa chọn để thể hiện cảm xúc, suy tư của mình. Ngay cả cái tên “Thơ 1-2-3” cũng dễ nhớ, dễ hiểu, làm cho các thi sĩ hăng hái trải lòng mình với nó.
Quy luật thơ 1-2-3 rõ ràng, dễ chịu nhưng cũng đầy thách thức cho những ai chưa quen dùng từ ngữ đa nghĩa, đa chiều như tôi. Thế nên khi nghe bạn Hồ Xuân Đà mở lời
hờ hững sao anh lại hững hờ
cửa nhà ta bao năm không có cửa then cài
hững hờ thôi ta cùng hờ hững
dốc lòng mê mải trong tóc rối cơn mê
em nhìn thấy bao kẻ trộm đang nhập nhằng khe khẽ
đốt tàn thư đắng cay em hờ hững cùng anh
Tôi như người đang đi đường chợt dừng chân, ngẩn ngơ trước lời trách móc nhẹ nhàng “Hờ hững sao anh lại hững hờ”. Bao chuyện đời ngược xuôi, ấy vậy mà đối lập Xuân Đà nói về thái độ hững hờ trước thế sự ấy “Cửa nhà ta bao năm không có cửa then cài/ Hững hỡ thôi ta cùng hững hờ”. Hình ảnh “không cửa then cài” rõ là cụ thể ấy, cho hiện lên hình ảnh ấy. Nhưng rồi làm người đọc liên tưởng đến những ràng buộc, những luật lệ của đời người như then cài cửa, vâng, nhà ta không có những điều làm người ta ức chế ấy. Và thái độ của nhân vật cô gái là hững hỡ, như dòng nước trôi qua kẽ tay, như gió cứ thổi ngang tai. Không nắm giữ chặt nhưng trong tâm khảm nào đâu nhẹ nhõm: “Dốc lòng mê mải trong tóc rối cơn mê/Em nhìn thấy bao kẻ trộm đang nhập nhằng khe khẽ/ Đốt tàn thư đắng cay em hỡ hững cùng anh”.
Nhân vật cô gái khắc khoải với những hình ảnh thật gợi nhiều cảm xúc “tóc rối cơn mê”. Người con gái ấy đang chìm vào tâm trạng bất định trước thế giới này, trước tình cảm với người đàn ông của cô. Nhưng thật lạ, cô vẫn nhìn thấy “bao kẻ trộm”. Đó có phải là những kẻ rỗi hơi luôn dòm ngó vào hạnh phúc của người khác mà thèm thuồng, mà muốn đạp đổ. Một lần nữa, từ ngữ của Xuân Đà lại gợi ra những liên tưởng vượt thoát khỏi nghĩa đen của nó.
“Tàn thư” có phải chăng là những bức thư tình yêu giữa cô gái và chàng trai, nhưng những lời lẽ ngọt ngào đó đã tan vào hư không. Nên trong đêm khuya tĩnh mịch, cô gái một mình đốt những bức thư tình yêu ấy đi, để như dỗ dành chính mình tình cảm yêu đương đã không còn nữa. Giờ đây chỉ còn lại “đắng cay” về sự thật cô gái chỉ còn biết như người đàn ông ấy, chọn thái độ “hững hỡ”. Đó có lẽ là lối thoát duy nhất để thoát khỏi sự thất vọng đắng cay chăng?
Câu thơ đầu tiên và câu thơ cuối cùng đã là một cặp câu hô ứng với nhau và như thế luật thơ 1-2-3 đã được tuân thủ. Từ những hình ảnh rõ mồn một như đập vào mắt ấy đã khơi gợi những ý nghĩa khác sâu xa hơn, đi vào cảm xúc của người đọc hơn.
Thơ 1-2-3 quả là thi vị, không đơn sắc mà lấp lánh như ánh nắng ban mai, như nhảy múa bên ô cửa kính. Thơ 1-2-3 vì thế mà đã cho tôi ấn tượng tươi đẹp về chữ nghĩa, về những suy tư.
Hàng ngày, tôi đều vào trang www.vanhocsaigon.com mà chờ đón những chùm thơ 1-2-3 của các tác giả. Thật là sảng khoái và thư giãn biết bao. Mong rằng sẽ có nhiều tác giả hơn nữa sáng tác về thơ 1-2-3 để làm phong phú thêm thi ca Việt Nam chúng ta.
27/8/2020
Vũ Lam Hiền
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Sơn Nam - Đi và ghi nhớ

Nhà văn Sơn Nam - Đi và ghi nhớ

Nhắc đến nhà văn Sơn Nam, hẳn chúng ta ai cũng biết đó là một nhà văn nổi tiếng của vùng đất Nam bộ. Ông là nhà Nam bộ học, là nhà văn chuyên viết về các vùng đất thuộc Nam bộ, ông cũng được người đời gọi là nhà văn đi bộ, vì ông là người chuyên đi bộ.
Là nhà văn, nhưng Sơn Nam còn là một người rất chăm viết báo. Ngay trên tạp chí Xưa và nay, nhà văn Sơn Nam đã có đến hơn 80 bài báo. Sau khi nhà văn qua đời, tạp chí Xưa và nay đã chọn hơn 40 bài trong số đó tập hợp đem in thành cuốn Sơn Nam, đi và ghi nhớ này. Sau những chặng đường đã đi qua về vùng Gia Định – Sài Gòn xưa, Sơn Nam viết lại những cảm nhận rất riêng biệt qua cái nhìn tinh tế và hồn hậu của ông: “Nam bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng nào phải là “địa đàng”… Xưa kia, người Khơ me bản địa sống co cụm trên những giồng cao ráo, làm ruộng thâm canh, không thích triển khai diện tích vào nơi đầm lầy đầy rắn, cọp và bệnh sốt rét. Người Hoa vẫn giữ tập quán thâm canh, ở đất cao, làm rẫy rau cải, không xông xáo “phá sơn lâm, đâm Hà bá” như dân Việt. Dân ta đã định cư ở nơi đất thấp, nước phèn, đốn củi, phá rừng… Vùng đất Nam bộ, vùng đất Sài Gòn – Gia Định ngày nay, công ơn của tổ tiên thật là to lớn.”
Từ những câu văn thấm đẫm mồ hôi của Sơn Nam, toát lên sự hoài cổ và lòng yêu nước thâm trầm của ông.
Đọc Đi và ghi nhớ của Sơn Nam, bạn sẽ có thêm những kiến thức rất mới và rất lạ mà ngỡ như chỉ có ở Sơn Nam – ông già Nam bộ. Chẳng hạn trong bài viết này, Sơn Nam đã đem đến cho bạn đọc một hình ảnh cây me rất quen thuộc ở miền Trung nhưng lại rất hiếm hoi trên đất Sài Gòn: Ở Sài Gòn, “ Phải chăng cây me khó thích hợp với nơi khí hậu bốn mùa nên trở thành quí giá? Nét thơ mộng của cành lá me không thể chối cãi. Đường phố Sài Gòn, nơi nào có me là chỉ thị của con đường xưa, từ đầu thế kỷ 20 về trước. Giới đô đốc Pháp chuộng cây me; về sau, Hội đồng đô thành Sài Gòn phản đối, cho rằng lá  me giữ nước mưa, tạo không khí ẩm ướt, mưa tạnh rồi mà còn nước rơi (ta gọi là mưa lá me), lại quyến rũ loài muỗi gây sốt rét… trong giới nho sĩ và bình dân Nam bộ, cây me tượng trưng cho kẻ tiểu nhân. Thời xưa, chẳng ai trồng me làm cây cảnh, nếu có thì chưng bày ở góc sân sau hè.”
Quả là một sự hiểu biết quí giá mà nhà văn đã hào phóng cho bạn đọc biết về một loài cây quen thuộc.
Với lối viết giản dị, chân phương mà vẫn sâu sắc và dí dỏm, Đi và ghi nhớ của Sơn Nam như là người hướng dẫn một tua du lịch đưa bạn đọc trở về với cội nguồn của những giá trị lịch sử và địa lí của một vùng đất nổi tiếng, Nam bộ và Sài Gòn. Từ những vùng đất và con người, từ những trang viết của nhà văn miệt vườn Sơn Nam, “Người Sài Gòn hiện rõ là những con người năng động, hiếu khách, trọng nghĩa tình bè bạn.” Và nhà văn Sơn Nam giải thích, sở dĩ có được những phẩm chất ấy là do người Sài Gòn sống gần gũi và chịu ảnh hưởng trực tiếp của người Pháp. Một cách cắt nghĩa rất khoa học của Sơn Nam bởi chúng ta vẫn nói rằng “Hoàn cảnh xã hội quyết định ‎‎‎ý thức xã hội.”
Đi và ghi nhớ của Sơn Nam không chỉ nói về đất và người nói chung mà với cái nhìn biện chứng, khoa học của một nhà lịch sử, ông còn tìm dịp để phục hồi danh dự, vinh danh cho nhà nho yêu nước Phan Thanh Giản, người mà một thời đã bị gán cho tội phản quốc. Ông thẳng thắn đề nghị: Sách giáo khoa nên có bài về Phan Thanh Giản. Trong một chuyến đi về Vĩnh Long, Sơn Nam đã phát hiện ra rằng, từ thòi xa xưa, người dân Vĩnh Long đã dựng miếu Văn Thánh để thờ cụ Phan Thanh  Giản với tư cách là một nhà trí thức tiết tháo và yêu nước. Và họ đã trọng vọng cụ Phan còn hơn cả Khổng Tử, Tăng Sâm, Tử Lộ… Người Vĩnh Long từ xưa đã biết giở nón, cúi đầu mỗi khi đi qua miếu Văn Thánh để kính cẩn chào cụ Phan Thanh Giản. Nhà văn đề nghị: “Trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về Phan Thanh Giản, đủ tình, đủ lí.”
Từ chuyện lớn về lịch sử sang chuyện nhỏ như ăn nhậu, ngòi bút của Sơn Nam nhiều lúc khiến người đọc phát thèm bởi những món ăn đặc trưng Nam bộ được ông miêu tả một cách sinh động. Chẳng hạn như món chuột đồng ‎mà ông đã viết: “Ngày nay món nhậu có thể là con chuột mập béo đầu mùa, sống ngoài đồng lúa chín, chuột khá sạch sẽ, trời sa mưa, chuột ăn toàn cỏ non, không bẩn như chuột cống ở thành phố. Chuột rô ti ăn với xoài chua đầu mùa băm nhỏ, vị chua sẽ đánh tan mùi hôi chuột.”
Những bài viết của Sơn Nam về đất và người Nam bộ, Sài Gòn – Gia Định là vốn quí về lịch sử và địa lí một vùng đất máu thịt của Tổ quốc. Nó đã trở thành nguồn tư liệu giàu có cho nhiều nghiên cứu sinh cao học và tiến sĩ tìm đến trong các bản luận văn lịch sử, văn học và địa lí. Và cũng từ đó, Đi và ghi nhớ của Sơn Nam là một tập hợp gồm nhiều chủ đề, thể loại khác nhau, nhưng chủ yếu là khảo cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, tập quán của Sài Gòn – Nam bộ xưa và nay.
Đi và ghi nhớ cũng là một thành tựu khác của nhà văn Sơn Nam bên cạnh thành tựu văn học phong phú rất Nam bộ của Sơn Nam.
27/8/2020
Hà Tùng Sơn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm

Những đóa hoa rừng của Hà Vinh Tâm Trẻ trung và xinh đẹp, nhẹ nhàng và đằm thắm, đó là không chỉ hình dáng mà cả chất thơ trong thi phẩm Đ...