Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Những bản tình ca bất hủ


Những bản tình ca bất hủ
Dân ca quan họ dù có nhiều chức năng, hình thức diễn xướng nhưng về cơ bản vẫn là một thể loại ca hát đối đáp kết bạn giao duyên và hát hội hát canh vẫn là những hình thức diễn xướng chủ yếu. Những bài hát theo Giọng vặt, giọng Giã bạn trong các cuộc hát đối đáp kết bạn giao duyên, hát hội, hát canh thường là những bài có sức sống lâu bền nhất và được lưu truyền rộng rãi nhất.
 Bởi vậy, có thể nói, tinh hoa của dân ca quan họ chủ yếu nằm trong mảng ca hát về tình bạn và đặc biệt là về tình yêu nam nữ.
Học giả Vũ Ngọc Phan cho rằng "Dân ca quan họ chủ yếu là xây dựng tình bạn". Cao Huy Đỉnh cũng nhìn nhận: "Hát quan họ là lối hát tiếp bạn lịch sự và tế nhị ở trong nhà. Một lối hát tiếp bạn tập thể rất lịch sự và tế nhị đã có phần thuần văn hoá và nghệ thuật". Chính vì quan họ là nghệ thuật của tình bạn nên không có gì lạ khi dân ca quan họ là dân ca nói về tình bạn nhiều nhất và hay nhất trong dân ca Việt Nam.
Các ngày hội quan họ là những ngày hội kết bạn, những ngày “Tứ hải giao tình”:
Hôm nay tứ hải giao tình
Tuy rằng bốn bể như sinh một nhà
Hôm nay ba huyện giao hòa
Tuy rằng ba huyện hóa ra một làng.
Sự thân thiện, cởi mở, tin cậy, lòng hiếu khách, luôn luôn là cội nguồn và là một “đảm bảo bằng vàng” cho mọi tình bạn. Những điều ấy thì người quan họ rất sẵn:
Mấy khi bạn đến chơi nhà
Lấy than quạt nước pha trà người xơi
Chè này tinh khiết người ơi
Bạn hiền ơi, mời người ngồi chơi xơi nước để tôi bằng lòng..,
Chỉ mới là buổi sơ giao mà đã tha thiết thế, tận tuỵ thế, tin cậy thế làm sao mà một tình bạn đẹp không thể bắt đầu. Và quả thật, đắm mình trong thế giới huyền hoặc của quan họ, ta có thể cảm nhận “Một ngày sum họp trúc mai/Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm” như người quan họ cảm nhận.
Tình bạn quan họ càng thắm thiết là cái tình của bạn quan họ, trong một bọn quan họ, một đôi quan họ, giữa các bọn quan họ kết nghĩa với nhau, đối đáp cùng nhau, thi thố với nhau trong các buổi hát hội hát canh thâu đêm suốt sáng. Trong ca từ quan họ luôn xuất hiện từ “bốn tôi”, “bốn em” như một đại từ nhân xưng chỉ có trong quan họ:
Bốn em như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Bốn em như thể con ong
Con quấn, con quít, con trong con ngoài...
Nhất vui bằng tối hôm nay
Vui bằng đám hội vui tày bốn tôi...
Dây nào xe bốn chúng tôi
Se chín lần kép, se mười lần đơn...
Bốn tôi như thuyền dưới ao
Lòng tôi đắm, dạ tôi đuối...
Bốn em như chiếc thuyền hoa
Yêu nhau về nết, mặn mà về duyên...

Quan họ cổ truyền luôn là hát đôi cùng giới, một đôi quan họ liền anh hay liền chị luôn luôn là một đã đành. Nhưng đôi đó hợp cùng đôi đối thủ trong thi tài hát đối cũng được “se chín lần kép, se mười lần đơn” để trở thành một thì thật kỳ lạ. Hoá ra, người ta thi thố với nhau không nhằm phân rõ sự hơn thua, cao thấp mà chỉ để được chia sẻ, đồng cảm, hoà hợp tuyệt đối với nhau, để trở thành một“bốn tôi” như thế.
Điều thú vị và độc đáo trong nội dung quan họ là tình bạn bao giờ cũng hết sức “gần” với tình yêu hoặc nói như GS dân tộc học Lê Thị Nhâm Tuyết , trong dân ca quan họ có một sự “ỡm ờ”, “úp mở”, “mờ tỏ” (chữ dùng của GS Tuyết) rất đặc trưng giữa tình bạn và tình yêu. Rất nhiều câu hát dường như không thể đoán định được đang nói về tình cảm gì, tình bạn hay tình yêu. Có người nói cái tình cảm mờ tỏ đó nếu cần phải có một cái tên thật chính xác thì nên gọi là “tình quan họ”.
Nhưng thực sự thì dân ca quan họ là cả một bách khoa thư về tình yêu đôi lứa. Những nấc thang và những cung bậc vĩnh cửu, muôn màu, muôn vẻ của tình yêu đôi lứa: giao tiếp làm quen, tìm hiểu, ướm hỏi, tương tư, tỏ tình, hẹn ước, hy vọng, nhớ thương, trách móc, hờn ghen, sầu hận, tuyệt vọng, hạnh phúc và bất hạnh... được thể hiện thật phong phú, tinh tế, quyến rũ trong ca từ quan họ.
Tỏ tình ư? Thường là bằng cách xa xôi, kín đáo, e lệ ngập ngừng một chút:
Ai làm đường sá xa xôi
Nào ai có biết rằng tôi nhớ người...
Cổ tay người trắng như thể gương tàu
Con mắt bồ câu làm cho phải khổ...
Chim khôn mắc phải lưới hồng
Muốn bay em gỡ búi tơ hồng cho chăng...
Bắc Nam đôi ngả đôi nơi
Chim khôn chết mệt về nhời nhỏ to...
Nhưng cũng có thể bằng cách rõ ràng hơn, tự tin hơn, cũng là câu hỏi nhưng đã ngầm ý khẳng định:
Người như cây gỗ xoan bào
Tôi như câu đối dán vào nên chăng?
Người như tấm vóc đại hồng
Tôi như kim tuyến thêu rồng nên chăng?...
Ai ra Quán Trắng, phố Nhồi
Để thương để nhớ cho tôi thế này
Người về thưa mẹ cùng thầy
Có cho tôi kết duyên này hay không?...
Người quan họ yêu nhau, phải lòng nhau, vì cái “cổ kiêu mắt phượng”, “răng đen hạt ấu”, vì “mũi chỉ đường khâu”, vì “cái bút nghiên ông đồ”, vì những “nhời nhỏ to”, vì cái đẹp cái tài cái khéo đã đành, nhưng son sắt, bền chặt chính là nhờ cái “duyên”:
Còn duyên ngồi gốc cây thông
Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa
Chị ba có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà)
Còn duyên buôn nụ buôn hoa
Hết duyên ngồi gốc cây đa đợi chờ
(Chị năm đừng thấy chúng em lắm bạn mà ngờ
Lắm bạn thì lắm vẫn chờ người đây).
Và quan trọng hơn cả là nhờ tình thương, sự chia sẻ, chịu đựng, hy sinh vì nhau:
Gió đưa cây cải lên trời
Cây dăm ở cỗi chịu nhời đắng cay...
Cầu tre ai bắc gập ghềnh
Người đi khéo ngã lấm mình em nâng
Quan họ hay nhất, phong phú, tinh tế, ám ảnh nhất là khi diễn tả cái tương tư, niềm nhớ nhung, nỗi nghi ngại, hờn trách. Tương tư trong quan họ là cái tương tư xuyên thời gian, xuyên không gian, dằng dặc, mênh mông:
Sầu về một tiết tháng Giêng
May áo cổ kiềng người mặc cho ai
Sầu về một tiết tháng hai
Bông chửa ra đài người đã hái hoa
Sầu về một tiết tháng ba
Con mắt la đà dạ nọ tương tư
Sầu về một tiết tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng buồn ăn
Sầu về một tiết tháng năm
Chưa đặt mình nằm gà gáy chim kêu...
Năm thức rau em nấu năm mùi
Em đơm năm bát đợi người đàng xa
Hỡi người xa, hỡi đường xa
Đêm năm canh em ngủ có ba
Còn hai canh nữa em ra trông giời...
Thương nhớ, bồn chồn da diết, thậm chí “thảm thiết” thế, tin tưởng đinh ninh vào lời thề non hẹn biển thế, nhưng vẫn thoáng nỗi nghi ngại hờn trách dù có thể là không đâu. Bởi thế mới có chuyện “Gửi bức thư sang” khuyên người đừng “ngả ngả nghiêng nghiêng”, đừng “đứng núi này trông núi nọ cao hơn/đứng sông này trông sông nọ sâu hơn”, đừng “tham vàng bỏ ngãi, tham phú phụ bần”, đừng “cam hương quít chín người chê”, nhắc nhở người rằng “ngọc còn có vết nữa là chúng em đây”, nhắn nhủ người rằng “đâu hơn người kết đâu bằng người chờ đợi em”.
Cái nền rộng, chiều sâu và tầm cao nhân văn, sự tinh tế, thanh cao của văn học quan họ về đề tài tình yêu đã góp phần quan trọng cùng âm nhạc quan họ làm nên những tình ca bất hủ trong nghệ thuật diễn xướng truyền thống Việt Nam. Từ rất lâu, người Việt Nam và các đôi lứa các thế hệ Việt Nam đã sống, lao động, chiến đấu và thương yêu nhau trong âm vang của giai điệu và lời ca quan họ. “Trống cơm”, “Hoa thơm bướm lượn”, “Cấy trúc xinh”, “Ra ngõ mà trông”, “Xe chỉ luồn kim”, “Chàng buông vạt áo em ra”, “Qua cầu gió bay”, “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Còn duyên”, “Khách đến chơi nhà”, “Thuyền thúng”, “Người ở đừng về”... đã vượt khỏi không gian các làng quan họ Kinh Bắc đến với mọi miền đất nước và vượt biên giới đất nước đến với bạn bè thế giới và được chào đón nồng nhiệt.
Cần nói rõ rằng phần lớn các bài quan họ vừa nhắc trên đều là các bài quan họ đã được một số nhạc sĩ nổi tiếng ghi âm, tân nhạc hoá để dễ truyền bá, phổ biến, về mặt âm nhạc “hương đồng gió nội” đã bị “bay đi rất nhiều”. Tuy nhiên về mặt ca từ, lời ca gần như vẫn được giữ nguyên vẹn có lẽ bởi sự toàn bích khó có thể cải biên, thêm bớt để hay hơn.

Ta hãy xem trường hợp bài “Người ở đừng về”. Đây là bài hát được nhạc sĩ Xuân Tứ lấy giai điệu và lời ca của hai bài quan họ nổi tiếng thường được hát trong giọng Giã bạn trong chặng cuối của một canh quan họ là “Chuông vàng gác cửa Tam Quan’ và “Tua rua chưa đến đỉnh đầu” để cấu tạo, biên soạn lại mà thành. “Người ở đừng về” như chúng ta đã biết hiện nay tuy vẫn có âm hưởng giai điệu của “Chuông vàng gác cửa Tam Quan” và “Tua rua chưa đến đỉnh đầu” nhưng cấu tạo âm nhạc không hoàn toàn giống với hai bài quan họ truyền thống trên. Nhưng riêng về ca từ thì gần như nguyên vẹn lời ca của “Tua rua chưa đến đỉnh đầu”, nhạc sĩ chỉ đảo hai câu “Người về em dặn người rằng/ Đâu hơn người kết đâu bằng đợi em” từ vị trí ở phần mở đầu thành hai câu cuối bài hát. Dưới đây là lời ca bài “Tua rua chưa đến đỉnh đầu”:
Tua rua chưa đến đỉnh đầu
Bây giờ người nhớ bạn đâu người về
Người ơi người ở đừng về
Người về em dặn người rằng
Đâu hơn người kết đâu bằng đợi em
Người về em vẫn khóc thầm
Đôi bên vạt áo ứơt đầm như mưa
Người ơi nguời ở đừng về
Người về em vẫn trông theo
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người ơi người ở đừng về
Người về em dặn tái hồi
Người về em chả đứng ngồi với ai
Người về em dặn mấy nhời
Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua
Người ơi người ở đừng về.
Trường hợp “Người ở đừng về” và hàng loạt bài dân ca quan họ được các nhạc sĩ hoặc nhạc công nhạc mới ca khúc hoá, tân nhạc hoá để trình diễn phổ biến, âm nhạc có thể cấu trúc lại, “bỏ thô lấy tinh” theo quan niệm của các nhạc sĩ, nhưng lời ca thì vẫn phải trông cậy hoàn toàn vào lời quan họ truyền thống. Thế mới biết sức chinh phục của ca từ quan họ là lớn đến mức nào. Đó là những lời ca bất chấp mọi thử thách của thời gian.
Nguyễn Thế khoa
Theo http://www.vanhoanghean.com.vn/

Trường phái Bùi Giáng


Trường phái Bùi Giáng (*)
Tôi đến gặp ông vào những ngày đầu năm 1976 và từ đó đến nay ông có đến nhà tôi một lần. Nói cho đúng là tôi đưa ông về nhà tôi số 6 Đặng Thái Thân. Hôm đó ông đương đứng dưới trời mưa giữa ngã tư Nguyễn Tri Phương - Lý Thường Kiệt, chỉ trỏ người qua đường. Người ông ướt mèm, tay chân run cầm cập.
Tôi nhen lửa cho ông sưởi và đưa một bộ quần áo lính cho ông thay. Ông luống cuống tìm chỗ kín. Tôi bảo ông cứ cởi truồng ra. Ông nói cái đó không phải thơ lúc nào cũng bày ra được. Ông vừa sưởi vừa làm tặng tôi một bài thơ. Mấy ngày sau tôi thấy ông đứng giữa một ngã ba khác, vừa chỉ đường vừa la hét rằng ông ở Campuchia mới về. Thỉnh thoảng ông có đến 81 Trần Quốc Toản uống bia, rất tỉnh táo. Ông nâng ly bia, trịnh trọng hớp từng hớp một, trầm lặng. Có một lần tôi và Trịnh Công Sơn cụng ly với ông, trong bàn có một nhà thơ trẻ thích nói tiếng Tây và chê ông nói tiếng Tây bồi. Tôi cản nhà thơ trẻ không được. Tôi nói rằng: Người mà anh chê nói tiếng Tây bồi đó là một gã đã từng dịch khoảng 50 tác phẩm của thế giới. Tôi kể tên tác giả được ông dịch như Martin Heidegger, Albert Camus, André Gide, Saint-Exupéry, Shakespeare và có 10 tập thơ đã in. Trong khi nhà thơ trẻ đó hăng hái tranh cãi thì ông rút lui nhẹ nhàng. Tôi quay lại đã thấy ông đứng giữa ngã tư Trần Quốc Toản và Tú Xương, chỉ trỏ lên trời như muốn hướng dẫn các thần linh đi lại.
Bẵng đi một dạo tôi thấy vắng ông, tôi hỏi Bùi Bảy và Thái Râu về sức khoẻ của ông. Được biết ông bị một gã chủ quán vô lại đánh bị thương nặng đương cấp cứu ở Bệng viện Chợ Rẫy. Bùi Bảy làm đơn kiện tên chủ quán thì bị ông ngăn lại. Ông nói hãy tha cho nó, nó có ngu dốt mới đánh mình, vì nó không biết mình là con nhà trời. Nếu kiện, nó ở tù, không ai bán hủ tiếu cho bà con ăn. Tôi vào bệnh viện thăm ông thì các bác sĩ nói rằng ông đã trèo tường trốn đi mất rồi. Tôi nhìn lên bờ tường bệnh viện Chợ Rẫy cao vời vợi lởm chởm thép gai thế mà ông đã vượt bằng cách nào?
Vài lần nữa, tôi đọc thơ ở Trường Đại học Sư phạm nhìn xuống thấy ông ngồi nghiêm chỉnh ở dãy ghế giữa. Tan đêm “Tiếng thơ” tôi xuống tìm thì ông đã lẩn đâu mất.
Những người thân cật ruột của ông như Bùi Văn Nam Sơn, Bùi Bảy và những người bà con khác cố đưa ông về một chỗ để tiện việc nuôi nấng cấp dưỡng, nhưng ông đâu có chịu. Nhà của ông là vũ trụ. Hồi chiến tranh có lần nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đến thăm ông đương ngủ trong nghĩa trang thành phố, Hoàng Phủ Ngọc Tường đánh thức ông dậy. Ông từ từ ngồi dậy và cố ý bảo Tường nói nho nhỏ đừng làm những người dưới mộ thức giấc.
Ông sinh trưởng ở Vĩnh Trinh, Duy Xuyên trong một gia đình hào phú. Ông cố nội Quảng Nghi có đến 4.000 mẫu đất, giàu có nổi tiếng một vùng. Nhưng lớn lên ông sống cuộc đời khổ cực lang thang khắp miền Trung, khi thì chăn bò, lúc mở nông trại. Rồi cuối cùng không biết ông điên từ lúc nào. Khó có người lý giải được ông. Ông không đứng ở hiện tại. Ông sống tại thể bơ vơ. Khi tận cùng dĩ vãng, lúc chót vót tương lai. Cái có thì không, cái không thì có. Ông si tình và si thượng đế nhưng tình cũng không mà thượng đế cũng không. Ông sống với cõi tiên cõi phật nhưng thể xác đau đớn vì bệnh hoạn. Nhưng ông có thấy đau đâu. Quần áo tả tơi nhưng ông không thấy nó rách nát. Ông buộc vá những chỗ lành bằng những túm chỉ xanh đỏ vàng. Những chỗ rách thấy thịt da thì ông cho là lành lặn vì ông nghĩ da thịt ông đã mặc áo da trời. Ông chơi trò bảy sắc cầu vồng trong cái thế giới vô vi mà ông đã bày đặt ra và say mê nó như một cứu cánh an ủi. Ông thương những người da bọc xương và cả những người no béo bị giam hãm trong nhà lầu xe hơi. Khi trò chơi chưa đã, ông bắt đầu kéo căng dĩ vãng về đến tương lai rồi làm ngược lại. Ông đứng chỗ nào trong trời đất này? Ta không lý giải nổi, nhưng ta hiểu nổi:
... Hôm nay tôi kiếm củi trong rừng
lạc mất đường về chơi bỗng dưng
sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm
là quê thân thiết biết bao chừng.
(Người Về)
Khi về quê thì ông viết:
... Bây giờ điệu cũ bay xa
Nguồn trôi... nước bạc đổ ra vô cùng.
(Tặng Bạn)
Cũng có lúc ông lên trời để tìm một nàng tiên:
Nàng tiên ấy đã đi đâu?
Về thăm viếng một trước sau không lời
Một lần như một trùng khơi
Về trao biển rộng muôn nơi nghìn trùng
Cõi bờ như một mộng lung
Chiêm bao gió ngược tháp tùng chiều xuôi
Trái tim người chẳng như tôi
Mẫu người sấm chớp chơi vơi dịu dàng
Người đi tôi ở giữa đàng
Máu tim mộng tưởng bạt ngàn trắng xanh
Người đi tôi khóc một mình
Đười ươi vô tận thình lình tôi ca.
(Một Nàng Tiên)
Rồi ông trở lại trần gian, cái trần gian chỉ có mình ông tới:
Đi về một bữa hôm nay
Nhớ ngàn xưa đã về đây một lần...
(Trở Lại Trần Gian)
Những năm cuối đời ông lại làm thơ, nhưng bệnh tật khổ đau đói rách vò xé ông, sức đã tàn, tim đã yếu:
... Bài thơ lẻ tẻ xuống hàng
Chào nhau như một chào tràng giang xa
Đi về bất chợt mà ra
Tình yêu như đã từng tha thiết buồn.
Gần như tới cõi thiên đường bỗng nhiên thơ ông sà xuống gần nhân thế hơn và lòng ta cũng như thắt lại:
Đường lây lất chiều nay sương lổ đổ
Đứng bên trời em lại hôm qua.
(Không Đề)
Bây giờ em ở nơi đâu
Có bao giờ biết chốn nào là nơi...
(Bây Giờ)
Và ta đau cùng nỗi đau của thi nhân:
... Anh quỳ xuống giơ hai tay bệ vệ
Chỉ xin nâng một giọt lệ êm đềm.
(Tự Hỏi Vì Sao)
... Gập ghềnh núi đá sương tuôn
Hoàng hôn xin xoá nỗi buồn trăm năm.
(Chuyện Thình Lình)
Làm sao xoá hộ nỗi buồn trăm năm của ông:
Còn hai con mắt khóc người một con!
Nhạc Trịnh Công Sơn nói hộ ông điều đó.
Có một lần tôi nghe xưng ông là “Hoàng Tử Bé” và tôi nghĩ tác phẩm của Saint Expéry gần với thơ nên ông dịch rất đạt. Gần đúng như vậy nhưng xa hơn ông đã hóa thân vào “Hoàng Tử Bé”:
“... Chỉ có thấy một thoáng chớp vàng loé lên mắt cá chú. Chú đứng yên một lúc. Chú không kêu. Chú té xuống dịu dàng như một cái cây. Cũng không nghe một tiếng động nào vì cát rộng...
Bây giờ thì tôi thấy hơi an ủi. Nghĩa là... không hoàn toàn an ủi. Nhưng tôi biết chú rõ lắm. Chú bé đã trở về tinh cầu mình, bởi vì lúc trời sáng, tôi không thấy tấm thân chú ở đâu. Tấm thân chẳng có chi nặng lắm... và tôi thích nghe tinh tú ban đêm. Ấy cũng như năm trăm triệu chuông con lấp lánh dịu dàng reo...
Tôi bỗng ngạc nhiên chợt hiểu sự huyền bí nọ của cát. Thuở tôi còn bé tôi đã ở trong một ngôi nhà cổ kính và một truyền kỳ truyền lại rằng có một kho tàng chôn giấu tại đó. Hẳn nhiên, chẳng bao giờ có kẻ nào khám phá ra kho tàng nọ và cũng chẳng có ai kiếm tìm nó... nhưng nó đã âm thầm làm cho toàn thể ngôi nhà trở thành huyền ảo. Ngôi nhà của tôi chứa chất một niềm bí ẩn ở dưới đáy linh hồn của nó...”.
Có lẽ tôi phải mượn đoạn văn của Saint Expéry viết về “Hoàng Tử Bé” do ông dịch để nói về ông: “... Tôi nhìn dưới ánh trăng vầng trán xanh xao nọ, hai con mắt khép kín nọ, mấy mớ tóc run rẩy trước gió và tôi tự nhủ: Cái ta thấy đó chỉ là một lớp vỏ thôi, cái hệ trọng nhất thì vô hình...”.
Tôi ghi thêm vào đây mấy dòng tôi viết về Bùi Giáng, khi giới thiệu ông và thơ ông trong tuyển Thơ Quảng Nam thế kỷ 20mà tôi đang làm dở:
“Riêng một mình thơ ông cũng có chỗ đứng trong thơ Việt Nam - trường phái Bùi Giáng - một trường phái mà không một nhà thơ nào học nổi. Nếu chúng ta không lưu ý nghiên cứu nhà thơ này thì quả là một mất mát đáng tiếc”.
Ghi chú:
(*) Bài in theo Đặc san tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng do nhóm thân hữu Quảng Nam Đà Nẵng thực hiện, luu hành nội bộ.
Thu Bồn (1935 - 2003): Tên thật là Hà Đức Trọng, nhà thơ, nhà văn, quê ở Quảng Nam.
Thu Bồn
Nguồn: Bùi Giáng trong cõi người ta. Nxb Lao động. 
Trung tâm văn hóa - ngôn ngữ Đông Tây. 2012.
Theo http://www.vanhoanghean.com.vn/

Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn


Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn 
nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn (*)
Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân mồng.

(Lá Hoa Cồn)
1. Người thi sĩ ấy đã ra đi. Cho dù người đã yêu thương thắm thiết trần gian và cuộc tồn sinh này. Nhưng giờ hẹn đã đến, và người phải rời bỏ cuộc lữ hiện tại để lên đường đi về một biên giới khác. Cho dù cuộc lữ người vừa rời bỏ có thể vẫn còn lắm chuyện thiết tha, người đã bỏ con đường kia ở lại. Trước khi đi vào đối diện hư không, giữa lòng những đêm thâu lục nhạt của cuộc đời, người đã nằm suy nghĩ và mơ ước những gì? Có phải người mơ được trở lại "một miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy dài suốt cả tuổi thơ" (1).
Người muốn trở về đó để tìm kiếm lại một màu xanh không còn nữa của những tháng ngày tuổi nhỏ, hay để tìm lại một ánh trăng châu thổ, một giọt sương tỳ hải, hoặc những cánh châu chấu chuồn chuồn mà ai đó đã thả đầy trong mấy vạt nắng mong manh sầu úa một chốn quê nhà? Chốn quê nhà kia, nơi có những bóng tre, một màu rạ, một bờ ruộng, một con đường, một khúc sông... mà lúc nào người cũng mãi gìn giữ trong chính thịt xương thân thể mình:
Con đường, bờ ruộng, khúc sông...
Bóng tre, màu rạ như trong ruột rà
(Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại II)
Hay là người vẫn còn mãi nhớ về bờ lúa cũ, nơi người vẫn còn nhìn thấy in đậm một dấu chân em:
Em chết trên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nhìn mây trời bữa nọ
Ðêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Ðếm lại lúa bờ liền
Máu trong mình mòn ruỗng
Xương trong mình rã riêng                      
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang.
(Bờ Lúa, trích nguyên bài)
Hay là người muốn trở lại những ngày xưa để lùa bò vào đồi sim trái chín:
Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn hàng
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không
(Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín)
Hay người muốn tìm lại những ngày tháng ngao du cũ, những sương bình nguyên, một màu hoa trên ngàn, và những đêm sâu đầy màu sử lịch của một khúc sa mạc trường ca? Người đã sống điên dại giữa đời, hay đúng hơn, người đã chọn một cuộc chơi vĩ đại, trầm thống với tất cả "thân thể máu me và da xương" của chính mình mà mẹ cha cũng như trời đất đã ban cho. Chẳng mấy kẻ trên đời này đã dám xông vào trận như thế. Người làm ta nghĩ đến Paul Gauguin, kẻ đã dám từ bỏ thế giới văn minh của con người để đi tìm một sắc màu thơ mộng mới cho chính cuộc tồn sinh mình. Gauguin, cũng như người, đã suốt đời lang thang để đi tìm một màu hoa sơ thủy. Người cũng đã làm ta nghĩ đến Van Gogh, kẻ đã tự ý đánh mất cái khôn ngoan của những con người sống giữa đời thường, để có thể đi sâu vào trong ánh sáng điên cuồng chói lọi của những starry nights, của những đêm sao lồng lộng, và nhìn ra ở đó những chính bản của cuộc đời. Cuộc đời như chúng ta đang sống chỉ là những phó bản với thật lắm điều sai chệch.  Bùi Giáng đã van xin:
"... Hãy để yên cho tôi điên tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có bàn đến thơ tôi. Tôi không dám si mê, cũng không dám hoài vọng. Một mai tôi chết. Nghĩa là tôi không còn sống. Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống..."
Hãy nghe lời kinh Cầu Nguyện Ca mà người thi sĩ đã viết:
Hãy mang tôi đến giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một triều khe nương
Hãy mang tôi tới dặm trường
Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ
Hãy mang tôi tới bất ngờ
Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên
Hãy mang tôi tới diện tiền
Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia....
(Sa Mạc Trường Ca)
2. Nhắc đến Bùi Giáng, người ta hay nói về thơ của ông. Ðó cũng là điều tất nhiên. Ông là một thi sĩ bát ngát, ngây thơ và cỏ hoa điên đảo. Cỏ hoa điên đảo trong cõi đời cũng như trong những cõi phi-đời và pha-đời. Còn ngây thơ, bát ngát là ở trong cõi bờ tịch lặng của triết lý uyên nguyên mà ông vẫn hằng lui tới. Thơ Bùi Giáng tràn đầy thiên nhiên hoa cỏ của một thế giới sơ đầu vẫn còn giữ mãi một hồn nguyên tiêu ẩn mật. Thơ ông đựng đầy ẩn ngữ, mật ngữ, nhưng không trì nặng mà vẫn bay lượn phiêu diêu như những cánh châu chấu chuồn chuồn ở ngoài đồng nội. Ông làm thơ, nhưng không cần biết thơ là gì:
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì
Thì đó là điều
Ta không biết
(Sa Mạc Trường Ca)
Kẻ thi sĩ không biết thơ là gì, nhưng ông biết rõ tại sao ông lại làm thơ:
"Thơ tôi làm (...) chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão động một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi. (...) [T]ôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao..."
Có những người đã thử bàn về thơ của Bùi Giáng. Tôi cũng đã thử có lần "vạch hai lá cỏ ra nhìn" để rủ một lũ chuồn chuồn châu chấu trở về bay liệng trong thơ ông (2). Tôi yêu cái hình ảnh của Bùi Giáng trong một màu trăng châu thổ và trong đìu hiu của hoang vu những Lá Hoa Cồn, hay trong những Bài Ca Quần Đảo; nhưng tôi cũng rất thích cái nét thơ ngây uyên bác đầy nhiệt tình, nhiệt thú, nhiệt huyết và nhiệt mộng của ông trên cả hơn một ngàn trang sách trong ba tập Tư Tưởng Hiện Ðại (in khổ lớn). Ðể thấy được những nét tài hoa và cái đọc, cái biết phơi phới (3) của Bùi Giáng về văn học, tư tưởng và triết lý Tây Phương cũng như Ðông Phương, tôi nghĩ người ta phải tìm vào những trang sách này. Những trang sách mà Bùi Giáng đã viết trong những năm ngoài ba mươi tuổi của mình, những năm đầu thập niên sáu mươi. Con người này tài hoa rất mực, chu du trong thế giới tư tưởng và ngôn ngữ Tây Phương nhưng lúc nào cũng yêu thương thắm thiết một màu hoa trên ngàn của ngôn ngữ Việt.
Có lần ông nói với Trần Tuấn Kiệt là ông viết về triết học, bàn về tư tưởng hiện đại là để cuối cùng nêu lên mấy câu về Kiều hay của Huy Cận chơi. Quả thật là có thế. Nhưng không phải chỉ là như thế. Bùi Giáng nói chơi đấy thôi. Trong những quyển này, ông bàn về một số những khuôn mặt lớn của tư tưởng hiện đại như Karl Jaspers, Jean-Paul Sartre, André Malraux, Saint-Exupéry, Gabriel Marcel, Albert Camus, Paul Claudel, Simone Weil, Martin Heidegger, William Faulkner, Nietzsche, Kierkegaard... Từ những khuôn mặt này, và đặc biệt là từ Heidegger, Bùi Giáng đã bàn rộng ra về những vấn đề của triết lý và tư tưởng hiện đại. Ðọc mấy cuốn này để hiểu Bùi-Giáng-trẻ là như thế nào. Ông vẫn luôn là một nhà thơ, một con người hết sức thơ mộng. Nhưng ông lại là một con người của lý luận và mang đầy tính "vượt biên" trong cung cách dắt dìu ngôn ngữ, tư tưởng của mình. Ông gạt bỏ mọi rào cản trong sự diễn tả và trong mạch lý luận. Ông sẵn sàng đưa Khổng, Lão, Trang cũng như cả Thúy Kiều, Kim Cương, Phùng Khánh, Brigitte Bardot, Marilyn Monroe, Dương Quí Phi, Ariane, Diane, Nausicaa, Juliet, Desdemona... vào trong cuộc thảo luận mà ông bày ra với Heidegger, Nietzsche, Sartre, cũng như với những nhà tư tưởng lớn khác của thế giới. Bùi Giáng cho rằng những người con gái đó "Phải trở về bủa rộng chiêm bao để thiết lập mộng luân lưu giữa thời gian bay múa", và có như thế thì "Cuộc tồn hoạt của tồn sinh [mới] được tiếp xúc trở lại với hương màu vạn cổ...".
Bùi Giáng không thích Sartre vì, trong cái nhìn của ông, Sartre đã quá bất công với Camus, không hiểu Faulkner cũng như kỹ thuật thời gian đồng hiện của nhà văn này trong The Sound and the Fury (Âm thanh và Cuồng nộ), và không ngay thẳng với Heidegger. Sartre đã tìm cách giết chết Camus trong việc "giải thích" L'Étranger (Người xa lạ) một cách không đúng tinh thần mã thượng trong bài Explication de l'Étranger (Giải nghĩa Người xa lạ) của mình. Và Sartre đã bóp méo, xuyên tạc, rồi sau đó tấn công Heidegger, tung hỏa mù về tư tưởng của Heidegger vào thế giới trí thức Tây Phương. Trong quyển đầu, Tư Tưởng Hiện Ðại, Bùi Giáng còn khá nghiêm túc, tính chất "vượt biên" trong ngôn ngữ, tư tưởng của ông, phần lớn, còn nằm đằng sau những con chữ, những mặt chữ, chứ chưa lộ hẳn ra ngoài. Những nhận định của ông về Sartre, trong khi bàn về Camus, còn sự quý mến và nể trọng. Qua đến quyển hai, Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại I, vì giận Jean Wahl, giáo sư Đại học Sorbonne, qua quyển Vers la Fin de l'Ontologie của ông này nhằm phê bình quyển Introduction à la Métaphysique (Siêu hình học nhập môn) của Heidegger, và giận Sartre trong việc ông cho rằng Sartre đã xuyên tạc triết gia này, có những chỗ Bùi Giáng đã "mày tao chi tớ" với họ. Ông cho rằng Jean Wahl đã “Bám vào những chi tiết mấp mô mà bỏ quên nguồn thác chảy. Cái phần sâu thẳm trong chiêm niệm viễn tượng siêu hình "dư dục vô ngôn" Heidegger gọi là cái phần Im-pensé [...] hoàn toàn bị Jean Wahl và Sartre hững hờ không dọ tới. Jean Wahl là hình ảnh biểu trưng trọn vẹn cái sa đọa của duy lý thô thiển mài miệt trong cái học công truyền đo đếm quanh năm [...] Cái gì gì Jean Wahl cũng nằng nặc đòi cho được "tout à fait".  Ðức Khổng Tử thấy vậy, Ngài bèn lắc đầu: Nếu đòi hỏi mãi cho được cái "tout à fait" thì than ôi! còn chi là cái cõi lòng của ta nữa [...] Cái phần vô-suy tư là cái phần quý báu ta trao gửi êm đềm cho mỗi mỗi Hãy mở tâm thức mình ra mà đón lấy...”.
Bàn về việc Sartre, trong cái nhìn của Bùi Giáng, bóp méo và xuyên tạc rồi tấn công Heidegger trong khái niệm "In-der-Welt-sein"của triết gia này trong cuốn l'Être et le Néant (Hữu Thể Và Hư Vô) của mình, Bùi Giáng viết:
"Ở đây, rõ ràng ý Sartre muốn triệt để công kích Heidegger cho tả tơi tan tành trong-hào-ngoài-lũy-bằng cái toán quan quân kỳ dị truy sát đuổi dài. Bởi đâu ta dám bảo như vậy. Bởi rằng: cái tiếng l'être-au-milieu-du-monde là tiếng của Heidegger.Vật-thể-trong-đời hay tại-thể-trong-thế-gian chính là In-der-Welt-sein - một khái niệm cốt yếu trong tư tưởng Heidegger. Và sở dĩ ta bảo rằng đám loạn quân truy sát của Sartre quả thật là kỳ dị, ấy bởi rằng: Sartre xuyên tạc trước, rồi tra tấn sau. Sartre bóp méo tư tưởng của người ta rồi lên án người ta.
Cái khái niệm "trong đời" của Heidegger không có nghĩa ù lì, trơ trơ gỗ mục như Sartre bảo. Tại thể trong đời, là xuất võng ngoại tồn phát tiết tinh hoa ra ngoài cõi đời để mở phô đời cõi, thiết lập lại bên dòng cái cuộc đời rời rã cho kết tụ tròn đầy lài liễu soi gương, khâm phụng lên đường theo thiết tha phóng hoạt - là thiên chức con người trước tiếng gọi Vô Ngôn.
Sartre đã đẩy Logos Hình Nhi Thượng của Heidegger cho té xuống bình diện Hình Nhi Hạ. Phusis bị dập hết hương màu. Thế còn chi là hồng nhan em Thúy? Tha hồ mà đo đếm đuổi xô. Ðem bụi lầy bết vào thân tiên tử, đem bùn-đen trát vào mình mẩy mềm mại của giai nhân, rồi la to: - Con đĩ kia ơi! Mày hãy đưa tứ chi cho ông xiềng xích lại, rồi vào ngục tối mà nằm.  Ông là nhân viên kiểm tục.
Duy có điều: Sartre vẫn đáng được ta mến là ở chỗ: Cái điệu tài tình ba gai của Sartre nghe ra lắm chiều ngộ nghĩnh. Dường như Sartre thử đùa một cuộc chơi để xem thử thiên hạ sẽ nghĩ như thế nào. Nếu ta nói chơi, mà đời lại nghe theo làm thật, lại ngây thơ hơn con trẻ, cứ lượm đá mà ném mãi vào thân thể giai nhân để tự biến mình làm quỷ thì cũng là đáng cho cái kiếp các ngươi lắm đó. Giai nhân chết đi, thì rồi các người sẽ cưới ma cuồng về mà ôm ấp (...)" (4).
Phong cách diễn tả của Bùi Giáng cho thấy ông có sở học rộng, mặc dù ông cũng rất chủ quan. Ở đây, ông là một nhà phê bình; nhưng cái chất nghệ sĩ trong con người ông còn mãnh liệt hơn cái chất phê bình kia. Và nghệ sĩ nào mà lại không chủ quan. Ông có cái tài hoa trong ngôn ngữ, cái nhiệt tình trong việc bênh vực cho lẽ phải trong quan điểm của mình, và cái cao ngạo, "pha" đời của một người coi thường cái học từ chương, trường ốc, khinh thường cái nhóm "trường trại lao xao". Tự nói về ngôn ngữ của chính mình, ông bảo: "Lời mông-lung-cỏ-lá là xem thường hệ thống lý luận phỉnh gạt của những phường giá áo túi cơm là cá chậu chim lồng" (Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại I) và "Ðã là người Việt Nam thì chẳng lẽ lại viết triết học bằng chữ. Phải viết bằng lời. Mà lời của biển dâu không thể là lời văn xuôi. Phải là lời thơ "tái tân thanh" tái tạo. Văn xuôi cũng phải buộc là thơ. Và mở cửa cho thơ rúc vào nằm trongmột vòng tròn trịa méo mó ôm nhau."(Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại I).
Bởi vậy, cho dù ngoài thơ ra, Bùi Giáng có dịch một số tác phẩm của văn chương thế giới, có bình luận chú thích về tư tưởng hiện đại, thật sự, tất cả những gì ông viết ra đều nằm trong một bài thơ lớn. Một bài thơ lớn theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Bài thơ đó chính là đời sống của ông, là cuộc tồn lưu kỳ thú mà ông đã chọn lựa để sống trọn vẹn sinh mệnh mình trong cuộc lữ trần gian này:
Tôi đã nguyện yêu trần gian trọn vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương.
(Mưa Nguồn)
Bùi Giáng viết mấy quyển Tư Tưởng Hiện Ðại chỉ là để, cuối cùng, nêu lên mấy câu của Tố Như trong Kiều hay mấy câu thơ của Huy Cận. Thì thực là như thế đó. Nhưng ông cũng viết những quyển sách ấy để nói lên những vấn đề trầm trọng của Sử Lịch Việt Nam, của con người Việt Nam giữa mấy trời lửa khói:
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão dông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Ầm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng với lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
(Mắt Buồn, trích nguyên bài trong tập Mưa Nguồn)
Ầm trang sử lịch. Sử Lịch. Hình như đây là chữ đặc biệt của Bùi Giáng. Trước ông, hình như chưa có ai dùng từ sử lịch. Và kể từ Bùi Giáng, mỗi khi viết về ông, hoặc mỗi khi viết theo thể điệu của ông, người ta thường dùng từ này để nói lên cái tính lịch sử của đời sống, của con người, của một cuộc lữ, hay của một vòng quay, một dòng vận động. Có thể nhiều người trong chúng ta thấy từ ấy lạ, đầy nét Bùi Giáng, và đã tưởng là người thi sĩ cho "nét chữ lên đàng quẩn quanh". Và chúng ta cũng cho nét chữ của mình quanh quẩn lên đàng đuổi theo nét chữ của người. Ðiều đó cũng là hợp lý khi đi tìm hay khi nói về phong cách của nhà thơ. Có lẽ ít người biết rằng, dù là có một phong cách dùng từ độc đáo, trong việc dùng từ "Sử Lịch" này, Bùi Giáng có quan niệm rõ ràng của ông. Ông sáng tạo ra từ "Sử Lịch"- hoặc nếu nó đã có trước đó, trong văn mạch của ông nó đã được dùng theo một nghĩa đặc biệt - để diễn một khái niệm triết lý của Heidegger. Ở đây không phải chỉ là chuyện "hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh" mà thôi. Sử Lịch là Lịch Sử nhuốm đẫm màu thời gian pha phôi thiên cổ. Ở phần phụ lục cuối sách trong quyển Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại II, trong phần chú giải về những ngôn từ cốt yếu của Heidegger (vài chục từ) mà Bùi Giáng có nhắn gửi với người đọc là: "Nắm lấy chừng này Ngôn Từ, bạn sẽ có cái Chìa Khóa mở một Cửa Mộng", ông chú giải về từ Geschichtetheo thể điệu Bùi Giáng:
“Geschichte: Sử Lịch, Sử Mệnh, Sử Kiếp, Hồng Sử, Thanh Sử...
Trên trang sách Heidegger, tiếng Geschichte có âm vang kỳ bí não nùng như những tiếng Cổ Lục Sử Xanh của Nguyễn Du. Trong Ðức ngữ cũng có tiếng Historie như History (Anh), Histoire (Pháp).
Theo nghĩa thông dụng thì trong Ðức ngữ hai tiếng Historie và Geschichte vẫn không khác gì nhau. Nhưng trong sách Heidegger thì triết gia phân biệt hẳn hai nghĩa. Historie được dùng theo nghĩa sử là sử ký, sử sự, sử kiện, sử chi li biến cố. Tĩnh tự là historisch. Còn Geschichte thì có nghĩa man mác mênh mông của Thời Gian hòa vào Vĩnh Thể trong tâm thức con người là Tại Thể hoài vọng luân lưu. Âm hưởng Sử Lịch phiêu bồng trong chiều hướng quá vãng theo về bờ cõi mai sau.
Những tiếng Geschichte, geschichtlich, Geschichtlichkeit đều mang đủ những gì trầm trọng của Sein und Zeit(5) của Zeitlichkeit chan gội tồn lưu tố chất... Dịch giả Anh, Pháp đã bối rối rất nhiều trước những tiếng này. Việt Nam nhờ có Nguyễn Du nên đỡ sợ.
Tạm đưa một vài thí dụ để dễ nhận nghĩa hơn: khi bàn tới tiếng philosophia củaCổ Hy Lạp, Heidegger bảo: vì tiếng kia là của Hy Lạp ngàn xưa mênh mông, nên lời của philosophia là lời của nghĩa Con Ðường, lời của Ðạo. Ðến bây giờ, theo dấu cỏ, ta đi. Bước trên đường, và ta hiểu đạo philosophia. Nhưng thật ra cái con đường của yêu thương, cái sophon đã mất nhiều cỏ hoa vì bàn chân ta thô bạo. Ta bứt trụi lá cây. Và từ đó ta tưởng mình quen biết con đường, nhưng thật ra cũng hầu như không biết. Biết rất mù mờ, dù có nhớ rõ vanh vách những hòn sỏi, những cồn lau. Dù có thuộc làu làu những gì trong Cổ Sử: chuyện trước, chuyện sau, câu đầu, hàng cuối, sử ký, sử ghi, sử sự tràn lan đùn đẩy. Vẫn chưa rõ đạo của đường. Bởi đâu?
[Bỏ một đoạn trích tiếng Ðức của Bùi Giáng để làm bật nghĩa historische Kenntnisse.]
Ấy bởi rằng những Sở Tri Sử Ký chồng chất kia (viele historische Kenntnisse) nó nằm trong trí óc lao xao, nó xui ta bận trí đếm đo hoài, nên ta không còn tâm linh mà mặc niệm. Ta bỏ lạc tồn lưu và mất trụi cái cốt thiết của Căn Cơ ẩn kín (innerst Grundzug) của Sử Lịch là Geschichte nằm trong Sử-tố-chất của Tại Thể - die Geschichtlichkeit des Daseins.
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Lời cổ độ gây rung động dị thường. Vì Dasein đã nhìn vạn vật trong vẻ kỳ ảo Sơ Khai. U huyền trong cổ độ, huyền mộng trong tà huy, mộng tình trong thệ thủy, tình tự trong thu phong... Ðứng rũ vì nhớ nhung, ngồi trơ vì thê thiết. Quán và Cầu là hình ảnh của hoài niệm về Sơ Thủy không nguôi...
Ðoạn trích dẫn vừa rồi khá dài. Nhưng, ở đây, tôi chỉ muốn cho người đọc thấy rằng nhiều khi chúng ta cứ tưởng rằng Bùi Giáng chỉ thích đùa cợt gùn ghè giỡn chơi với chữ nghĩa, nhưng thật sự thì chẳng phải vậy. Ông đùa giỡn, điên đảo, quẩn quanh hoa cỏ thật, nhưng ông cũng là một người thật hết lòng nghiêm cẩn với chữ nghĩa của mình. Ta hãy thử đọc vài ba định nghĩa nữa của ông về mấy từ thiết yếu trong sách của Heidegger, người mà Bùi Giáng rất mực tâm đắc và yêu mến.
“Sein: Hữu Thể, Tồn Thể, Vĩnh Thể.
Seiende: Hiện sinh, Hiện Thể, Vật Thể
Gefrage: Ðiệu hỏi ò e, lao xao, theo lối trường trại ồn ào, làm tan nát màu hương của chiêm niệm u uyên”.
Hai từ đầu nghiêm cẩn. Từ thứ ba rất "mông lung cỏ lá", diễn được cái ý xem thường "lối trường trại" ồn ào của Bùi Giáng.
3. Con người của Bùi Giáng không chỉ để lộ nét tài hoa trong thơ của mình. Hay trong hằng ngàn trang sách của Tư Tưởng Hiện Ðại, và trong hằng mấy ngàn trang sách khác nữa của những quyển khảo luận về văn chương, tư tưởng Việt Nam cũng như về văn chương, tư tưởng thế giới. Nét tài hoa ẩn mật mở phơi hào hứng của ông còn được thể hiện rất rõ trong những dịch phẩm mà ông đã để lại cho đời. Tùy vào cái tạng của mỗi người mà chúng ta có thể cảm hay không cảm, thích hay không thích cái phong cách dìu ba đào về những chân trời viễn mộng trong những bản dịch của Bùi Giáng. Dù sao, ai cũng phải công nhận đó là những bản dịch đặc biệt, những bản dịch có một không hai trong văn dịch của chúng ta.
Có một lần, Bùi Giáng đã thổ lộ về quan niệm dịch văn của mình trong Lời Tựa quyển Cõi Người Ta (6)) mà ông dịch từ Terre des Hommes của Saint-Exupéry như sau:
“(...) Theo dõi giấc mộng dài của Saint-Exupéry, lại gọi ngôn ngữ Việt Nam về hạ tứ, nhiều phen phải bàng hoàng: Chúng ta đứng trước mấy lần hiểm họa của màu sắc lục hồng cứ trùng điệp rủ nhau bay, tung lên phủ xuống (...)
Dịch văn - sao cứ gọi là dịch? - dịch văn biến thành câu chuyện; vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi.
Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Ðó là điều đáng xui chúng ta tư lự đăm chiêu.
Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Ðây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết điệu của ngôn ngữ đương nói rất nhiều.
May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải ở mọi cơ hội đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển hóa thỏa đáng thì lời dịch sẽ tái lập được "cung bậc" gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà diệu vợi, vừa chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu. "Tả nhi nữ tư tình, đãng khí hồi trường. Tả anh hùng sự tích, nghĩa bạc vân tiêu.” (...).
Trong bản dịch, có mấy chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu ngôn ngữ đa âm. Thỉnh thoảng lại bớt vài lời, ấy là bởi: Việt ngữ mang nhiều tính chất parataxique trong khi Pháp ngữ lại triệt để là một ngôn ngữ syntaxique.”
Sau đây, ta hãy thử đọc một đoạn trong Terre des Hommes của Saint-Exupéry, rồi thử tìm xem cái giọng điệu lãng đãng thơ mộng ấy của Saint-Exupéry ngân vang bồi hồi trong bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng ra sao:
“J'ai atterri dans la douceur du soir. Punta Arenas! Je m'adosse contre une fontaine et regarde les jeunes filles. A deux pas de leur grâce, je sens mieux encore le mystère humain. Dans un monde où la vie rejoint si bien la vie, où les fleurs dans le lit même du vent se mêlent aux fleurs, où le cygne connait tous les cygnes, les hommes seuls bâtissent leur solitude.
Quel espace réserve entre eux leur part spirituelle! Un songe de jeune fille l'isole de moi, comment l'y joindre? Que connaitre d'une jeune fille qui rentre chez elle à pas lents, les yeux baissés et se souriante à elle-même, et déjà pleine d'inventions et de mensonges adorables? Elle a pu, des pensées, de la voix et des silences d'un amant, se former un Royaume, et dès lors il n'est plus pour elle, en dehors de lui, que des barbares. Mieux que dans une autre planète, je la sens enfermée dans son secret, dans ses coutumes, dans les échos chantants de sa mémoire. Née hier de volcans, de pelouses ou de la saumure des mers, la voici déjà à demi divine.
Punta Arenas! Je m'adosse contre une fontaine. Des vieilles viennent y puiser; de leur drame je ne connaitrait que ce mouvement de servants. Un enfant, la nuque au mur, pleure en silence; il ne subsistera de lui, dans mon souvenir, qu'un bel enfant à jamais inconsolable. Je suis un étranger. Je ne sais rien. Je n'entre pas dans leurs Empires.” (7)
Lời văn của Saint-Exupéry mang tiết điệu trầm buồn, u hoài, đầy nét vợi xa lãng đãng. Và, từ đó, Bùi Giáng dịch là:
“Tôi hạ cánh giữa tịch mịch chiều vàng. Punta Arenas! Hãy nhìn ta tựa lưng vào bờ giếng mà ngó gái giữa thanh xuân. Cách nhau hai bước, tôi càng cảm thấy rõ cái lẽ huyền nhiệm kiếp người... Trong một thế giới mà sự sống giao tiếp dễ dàng với sự sống, mà những cành hoa giữa lòng gió hồn nhiên hôn phối với những cành hoa, một thế giới mà con thiên nga nào cũng quen biết mọi con thiên nga, trong thế giới đó, chỉ riêng con người là xây dựng căn lầu mộng cô đơn.
Phần tinh anh còn cách biệt nhau nghìn trùng. Một giấc mộng "đầu hoa ngang ngửa thắm" của gái xuân càng chia nường biệt lập tôi, biết làm sao mà tìm cái lối vàotrong nẻo đó ở trong kia? Làm sao hạnh ngộ, làm sao nghe ra, làm sao ngóng thấy, làm sao biết rõ những cơn man mác trong nhịp bước gái tơ đi lững thững chiều hôm về căn nhà cha mẹ, mắt lim dim khép mở hai hàng, hai đôi má núng đồng tiền mở nụ, một mình mỉm cười với gió ẩy tà xiêm một mình em hay, một mình em biết, một mình rộn lên những trận viễn du khai phá, những mộng tưởng phát minh, những u hương rập rình quân nhạc dối nhau xiêu đình đổ quán... Nàng đã tự thiết lập một điện đài ẩn bí trong một vương quốc rẽ riêng, bằng những gì của riêng ai đem lại, bằng những gì của gã tình nhân đăm chiêu tơ tưởng? bằng điệu nói của chàng? bằng lặng lẽ của anh? Từ đó về sau, đối với em, chỉ riêng chàng là hoàng tử chí tôn, ngoài chàng ra, người người trong thiên hạ thảy thảy là bọn lưu manh man dại côn đồ? Em khép thân ngà trong một cõi, kín đáo hơn lối vào một viễn cách hành tinh, em che lấp đời riêng trong những lối đi về kiều diễm, trong những thói nhà băng tuyết, trong những âm thanh dìu dặt của ký ức não nùng lờ lững phỉ phong. Sinh ra từ giữa lòng núi lửa, từ giữa lòng thảo hoa, từ chất muối trùng khơi thổi mặn, mới đó hôm qua, nay em đã hầu thành Tiên Nữ.
Punta Arenas! Tôi tựa lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đòi ấy thôi. Một bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ còn ghi riêng hình ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạ tới đây. Tôi không biết, không biết gì hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào. Làm sao tôi dám nói”.
Ngày còn trẻ, những năm mười tám, mười chín, hai mươi, đọc Terre des Hommes, rồi đọc bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng, thú thật, tôi chịu không nổi. Trong những tháng năm tuổi trẻ ấy, cái gì mình cũng muốn đâu vào đấy, cái gì mình cũng muốn thẳng lối ngay hàng. Mình thích sự nghiêm cẩn, thích sự gọn gàng chính xác. Câu văn của Bùi Giáng thêm thắt lòng vòng, ngõ trước vườn sau, mông lung lá cỏ. Làm sao tuổi hai mươi ngày ấy chấp nhận được. Nhưng rồi thời gian trôi qua lãng đãng. Bây giờ, đọc lại câu văn dịch của Bùi Giáng, tôi thấy bập bềnh cái hơi thở u hoài của trần gian thênh thang mà miên man lồng lộng. Trên những câu văn của Bùi Giáng, tôi vẫn thấy còn sót lại một vạt nắng vàng trong man mác chiều tà. Người con gái đầy ắp xuân thì, cúi đầu, tự mỉm cười với chính mình, bước đi lững thững về nhà, trong lòng chất đầy mơ mộng. Những bàgià ra giếng kín nước. Một cậu bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Câu văn dịch của Bùi Giáng lòng vòng diệu vợi. Thế mà bây giờ, đọc lại, sao tôi lại thấy nó để lại trong lòng mình những ấn tượng thật mạnh và buồn (8).
Một bản dịch khác của Bùi Giáng, cũng là một tác phẩm của Saint-Exupéry, mà tôi rất thích là quyển Le Petit Prince. Bản dịch của Bùi Giáng là Hoàng Tử Bé (9) . Ðây là một cuốn sách tuyệt vời. Và bản dịch của Bùi Giáng cũng đạt được độ tuyệt vời của nguyên tác. Cuốn sách kể lại câu chuyện của một chú hoàng tử bé, sống trên một tinh cầu xa xăm. Chàng có một đóa hoa và chàng đã ngày ngày tận tâm tưới nước, chăm sóc cho đóa hoa ấy. Ðó là một đóa hoa đặc biệt của một chủng tử đặc biệt trên tinh cầu chàng. Ðó là đóa hoa duy nhất của chủng tử nọ, và chính là vì đóa hoa yêu kiều diễm lệ này mà hoàng tử bé đã lên đường phiêu lưu. Chàng đi qua nhiều tinh cầu khác nhau và thấy được nhiều sự lạ lùng trong tính chất của "con người": một ông vua, một người hay khoe khoang, một chàng thích ăn nhậu, một người làm áp-phe, một người chuyên đi thắp đèn, một nhà địa lý. Tới trái đất, sau khi gặp một con rắn, sau khi gặp những đóa hoa hồng, hoàng tử bé kia gặp một con chồn. Và, trong nguyên tác cũng như trong bản dịch của Bùi Giáng, con chồn này quả là phiêu hốt và thơ mộng đáng yêu quá thể.
Sau khi gặp gỡ, chào hỏi nhau, hoàng tử bé nói chàng muốn con chồn đến ở chơi với chàng, vì chàng buồn quá. Con chồn trả lời là nó không thể chơi đùa với chàng được vì nó chưa được "tuần dưỡng", bởi thế tính khí chưa thuần. Hoàng tử bé hỏi con chồn "tuần dưỡng" là gì. Nhưng con chồn nói sang chuyện khác. Sau hai, ba lần như thế, hoàng tử bé vẫn không quên câu hỏi của mình. Chàng lại hỏi con chồn: Tuần dưỡng có nghĩa là gì?
 “- Ðó là một điều bị quên lãng quá nhiều, con chồn đáp: Đó có nghĩa là "tạo nên những mối liên lạc..."
- Tạo nên những mối liên lạc?
- Hẳn thế, con chồn nói. Ðối với tôi, chú hiện giờ chỉ là một đứa trẻ giống y như trăm nghìn đứa trẻ bé khác. Và ta không cần thiết gì tới chú. Và chú cũng chẳng cần gì tới ta. Ðối với chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang như trăm nghìn con chồn lũi phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi. Nhưng nếu chú tuần tuần thiện dưỡng ta, thì chúng ta sẽ cần tới nhau. Chú sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với ta. Ta sẽ trở nên duy nhất trong cõi đời, đối với chú...
- Ta bắt đầu hiểu rồi đó, hoàng tử bé nói. Có một đóa hoa... ta tưởng nàng đã tuần dưỡng ta...
Thế rồi con chồn tâm sự:
- Ðời ta tẻ nhạt. Ta đuổi bắt những con gà mái, loài người đuổi bắt ta. Mọi con gà mái đều giống nhau, và mọi mọi con người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rỡ, dù là người phố thị đìu hiu...). Vậy nên ta có u sầu chán ngán đôi chút. Nhưng nếu chú tuần dưỡng ta, cuộc sống của ta sẽ sáng sủa ra, kể như có bóng mặt trời chiếu vào vậy (...). Và này coi kìa! chú thấy ở đằng xa kia kìa những cánh đồng lúa mì đó chớ? Ta không ăn bánh mì. Lúa mì đối với ta vô dụng. Những cánh đồng lúa mì chả có nhắc nhở ta cái gì ráo. Và cái điều đó, thật đáng buồn! Nhưng chú có những sợi tóc màu vàng óng. Vậy nên sự vụ sẽ trở thành huyền diệu, một khi chú đã tuần dưỡng ta xong! Lúa mì, màu vàng óng, từ đó về sau sẽ nhắc nhở ta nhớ tới chú. Và từ đó ta sẽ yêu tiếng gió thổi thánh thót trong lúa mì hiu hiu...”.
Rồi con chồn thủ thỉ hẹn hò. Cho nhu cầu "tuần dưỡng", nó yêu cầu hoàng tử bé đến đúng giờ, mỗi ngày. Và nó giải thích rõ lý do vì sao chàng phải đúng giờ như thế:
- “Nếu chú đến, chẳng hạn, vào lúc bốn giờ chiều, thì khởi từ lúc ba giờ chiều, cõi lòng ta đã bắt đầu sung sướng. Tới bốn giờ chiều thì, ha! ta loay hoay, e ngại, ta ngồi đứng không an; ta sẽ khám phá được ý nghĩa vô ngần hắt hiu của phù du mênh mông hạnh phúc! Nhưng nếu chú tới bất kể lúc nào, thì ta sẽ chẳng biết đâu vàođâu mà mò ra cho đúng cái giờ phải chuẩn bị cho cái trái tim, cái phút phải vận y phục vào cho cái cõi lòng đón chào tươm tất... Cần phải có những nghi thức thơ mộng, những điển lễ phôi pha”.
"Tuần dưỡng", từ này nghe lạ. Bùi Giáng khéo chọn từ, nó làm cho mình nhớ mãi. Trong những dịp đi lang thang vào các nhà sách bên Âu Châu, năm này năm nọ tôi đã mua được năm sáu bản dịch khác nhau của tác phẩm này. Vì là sách dành cho trẻ con (!)(10), ấn bản của ngôn ngữ nào cũng in thật đẹp với những hình vẽ bằng màu nước của chính Saint-Exupéry. Trở lại với "tuần dưỡng". Ở đây, xin lấy ra vài bản dịch với những ngôn ngữ thông dụng. Trong nguyên tác, Saint-Ex dùng từ Apprivoiser. Bản Anh dịch của Katherine Woods, dùng từ Tame. Bản Tây Ban Nha, dịch giả Bonaficio del Carril dùng Domesticar. Những từ này, nói chung, là những từ bình thường, quen thuộc, không đặc biệt tạo ra một ấn tượng rõ nét. Từ của Bùi Giáng dùng, đối với người Việt chúng ta, nghe thấy lạ lẫm. Và nó tạo được ấn tượng sâu sắc làm cho ta nhớ mãi.
Câu con chồn nói, "Ðối với chú, ta chỉ là một con chồn lũi lang thang giống như trăm nghìn con chồn lũi phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ thế thôi" là một câu đầy nét Bùi Giáng. Bản chính chỉ là "Je ne suis pour toi qu'un renard semblable à cent millle renards." Bản Anh dịch là, "To you, I am nothing more than a fox like a hundred thousand other foxes”. Bản Tây Ban Nha, "No soy para ti más que un zorro semejante a cien mil zorros." Cái sự vụ "lang thang (...) phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ" hoàn toàn là do Bùi Giáng thêm vào. Nhưng sao nó lại làm cho câu văn phiêu bồng phất phơ thơ mộng làm vậy! Dịch được một câu như thế có lẽ vì chính Bùi Giáng cũng đã là một con người "lang thang phất phơ phiêu hốt dưới sương trời lỗ đổ" suốt cả đời mình.
Câu "Cần phải có những nghi thức thơ mộng, những điển lễ phôi pha", trong chính bản chỉ là, "Il faut des rites." Bản tiếng Anh, "One must observe the proper rites..." Bản Tây Ban Nha, "Los ritos son necesarios."
Câu "Mọi con gà mái đều giống nhau, và mọi mọi con người đều giống nhau (dù là người phồn hoa rực rỡ, dù là người phố thị đìu hiu...). Vậy nên ta có u sầu chán ngán đôi chút", trong chính bản là "Toutes les poules se ressemblent, et tous les hommes se ressemblent. Je m'ennuie donc un peu." Bản Anh, "All the chickens are just alike, and all the men are just alike. And, in consequence, I am a little bored." Bản Tây Ban Nha, "Todas las gallinas se parecen y todos los hombres se parecen. Me aburro, pues, un poco." Cái phần thêm thắt vào, "dù là người phồn hoa rực rỡ, dù là người phố thị đìu hiu", của Bùi Giáng, trong cảm nhận của riêng tôi, thật là "đã". Nó làm cho con chồn lũi ấy phất phơ phiêu hốt hơn những con chồn trong chính bản và trong các bản dịch kia nhiều. Nó làm cho cuộc đối thoại của hoàng tử bé và chú chồn ấy "có da có thịt" thêm. Nó làm cho những "nhân vật" ấy có cá tính hơn nữa.
Như thế, ta thấy rõ là Bùi Giáng đã làm đúng với quan niệm dịch văn mà ông đã đề ra, "Dịch văn biến thành câu chuyện; vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa lẽo đẽo nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. (...) Trong bản dịch, có mấy chỗ thêm vài lời, ấy là gắng đưa ngôn ngữ đơn âm đuổi theo tiết điệu ngôn ngữ đa âm. (...)" Bùi Giáng, trên một số phương diện, quả đã thành công một cách đáng yêu trong những bản dịch của mình.
4. Tôi nhớ trong tập Mưa Nguồn, Bùi Giáng có viết:
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù.
Bùi Giáng đã ra đi rồi. Nhưng vầng trăng ông để lại vẫn mãi còn nguyên một màu sơ thủy. Những lá hoa cồn hay những dòng chữ mà ông để lại cho đời vẫn thấp thoáng mãi trong những bóng sương mù của thi ca, của hồn nguyên tiêu ngày cũ. Mãi mãi, chúng sẽ còn để ngân lại trong lòng những người yêu quý ông những tiếng gọi trở về. Trở về bến sơ đầu của những cơn mưa nguồn ngày cũ, của những bài ca quần đảo hoang vu, của những lời cố quận mịt mù gang tấc. Hẳn đã nhiều lần trong cuộc tồn sinh của mình, Bùi Giáng đã nhận thấy rằng quê hương của ông, cố quận của ông, đã không còn như xưa. Dù quê hương hay cố quận đó có được hiểu như thế nào đi nữa thì ông cũng đã "chết nhiều lần trong trận sống", và trong cuộc đời này, hình như nhiều lúc ông đã lạc mất lối về. Bởi thế, để tìm về đường xưa lối cũ của những Hồn Nguyên Tiêu (Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài/ Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua/ Lỡ từ lạc bước bước ra/ Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn), có lẽ người thi sĩ ấy chỉ còn có thể tìm về và tìm vào trong những cuộc chiêm bao:
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao.
(Rượu Uống)
Một giấc chiêm bao có mang mang thật nhiều nắng lạ:
Người nằm ngủ thấy gì
Thấy thật nhiều nắng lạ.
(Mưa Nguồn)
Nắng lạ ấy có lẽ là thứ nắng đã làm cho "trời xanh đỏ chín" trong rừng sim những ngày chăn bò tuổi trẻ của Bùi Giáng. Và chắc đó cũng là thứ nắng làm cho ông thấy "Cây lá bốn bên song song từng lứa/ Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn hàng" khi ông để cho bò tự do gặm cỏ trong rừng sim, còn mình thì nằm ngó ngất ngây trời đất, nghe "Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm/ Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng/ Mùilên men phủ ngập mông lung/ Không biết nữa mà cần chi biết nữa".
Bùi Giáng đã yêu trần gian, yêu cuộc sống, yêu cuộc chơi mà ông đã dấn thân vào với tất cả hồn xác, với tất cả "thân thể máu me và da xương" của mình biết bao:
 (...) Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ơi! cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở với trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao.
(Mưa Nguồn)
Ðọc Bùi Giáng, biết về cuộc sống của ông sau này, thương yêu và quý mến ông làm có những khi tôi tự hỏi rằng tuổi thơ của ông đã như thế nào, và ông đã sống tuổi trẻ của mình ra sao. Ông đã nhìn thấy những gì khi ông vừa biết mở rộng cặp mắt để ngó vào đời. Những viễn tượng nào trong thuở đầu xanh mà ông nhìn thấy đã đẩy ông vào cuộc lữ:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Ðời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình
Ðường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
Ðêm tàn canh khắc vợi nguyệt gương ngàn
Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
Ðể bây giờ em có biết nơi đâu
Bờ trùng ngộ một phen nầy phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không.
(Hư Vô Và Vĩnh Viễn, Mưa Nguồn)
Nguyễn Ðức Quỳnh có lần nói Bùi Giáng giống như là Lão Tử. Ông không dẫn giải gì thêm. Thật sự, so sánh nào cũng khập khễnh, nhất là khi ta so sánh những đối tượng sống xa nhau cả trong thời gian lẫn không gian như thế. Nhưng nếu ta chấp nhận tính tương đối của sự so sánh, hẳn nhiên nhận xét ấy có những điểm đích đáng của nó. Lão Tử chống lại và mạt sát lễ. Chương 38 sách Lão Tử (Ðạo Ðức Kinh) chép: "Thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc nhi loạn chi thủ", có nghĩa là "Ðạo mất rồi sau mới có Ðức, Ðức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện sự suy vi của trung tín (trung hậu, thành tín), là đầu mối của sự hỗn loạn" (11).
 Bùi Giáng cũng không thích lễ nghi phiền toái. Ông rất ghét cái thói "lễ nghĩa" của những kẻ từ chương, trường ốc mà ông gọi là "bọn trường trại lao xao". Ông không thích cái giọng mà ông gọi là "bo bo lễ nhượng hương nguyện lưa thưa" của họ. Ông cũng rất ghét những màn thủ tục lễ nghi rườm rà. Thậm chí, theo Mai Thảo, có những lần Bùi Giáng ra đứng tắm ở cái máy nước trước tòa soạn báo Văn cũ ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, thản nhiên trước bao nhiêu người qua kẻ lại, quần áo lướt thướt đi qua đường, một đám con nít tròn mắt đi theo. Ông mặc quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải trên vai, lại thêm một cây gậy chống nữa. Ông lang thang đây đó, ngủ bất cứ ở đâu, dưới trời sao, dưới một gầm cầu, hay dưới một mái hiên. Có những lúc lại thấy ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ. Trẻ con và người lớn đều xem ông là một người điên. Bùi Giáng điên vì đời. Nhưng, ở một mặt nào đó, ông lại là một người rất sáng suốt. Lão Tử giấu mình, ẩn danh. Bùi Giáng sống với đời, thiết tha với cuộc chơi mà ông đã chọn với tất cả "thân thể máu me và da xương" của mình. Tôi nghĩ, trong nhiều khía cạnh, có lẽ Bùi Giáng giống Trang Tử hơn. Trang Tử chọn lối sống tiêu dao, lại thích lý luận, tranh cãi hào hứng với mọi người, đặc biệt với bạn thân là Huệ Tử. Một cá tính nữa của Trang là vui sống, thiết tha với cuộc sống (12). Tất cả những điều này ta đều thấy thể hiện nơi con người Bùi Giáng. Ông là con người của tiêu dao, lang thang phiêu hốt dưới sương trời lỗ đỗ, không chấp nhận bất cứ một hình thức gò bó nào. Và ông chấp nhận trả giá cho cuộc chơi, cho cuộc tồn sinh của mình.
Nói mà chơi chứ Bùi Giáng chẳng phải Trang mà cũng chẳng phải Lão. Ông là một con người Việt Nam, yêu Truyện Kiều, yêu Nguyễn Du, Huy Cận, và yêu luôn ca dao chuồn chuồn châu chấu. Ông yêu ngôn ngữ quê hương, và ông đã cả đời ăn nằm, chơi nghịch nghiêm trang với nó. Bùi Giáng là một người đã đi lang thang trong chốn tư tưởng của nhân loại, trong cõi thi ca của thế giới, nhưng lúc nào ông cũng chỉ muốn cuộn mình "tròn trịa méo mó" để nằm trong vòng nôi của ngôn ngữ dân tộc. Hôm nay, ông đã bỏ đi. Bỏ đi để tìm lại một màu hoa cũ. Một màu hoa trên ngàn. Một hồn nguyên tiêu. Một giấc mộng ban đầu đã bao năm khuất bóng. (Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa). Xin chúc ông lên đường phơi phới. Xin chúc ông tìm lại được một bầy nắng lạ. Và nguyên sơ một vầng trăng cũ. Một vầng trăng châu thổ. Cùng những sắc màu thiên thu cổ độ. Và xin bẻ tặng ông một nhành mai ngày cũ.
Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết dòng này
Hồng vàng tụ bữa kia em có thấy
Nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo
Tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gảy
Mộng miên man là mây phủ lưng đèo
Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu 
Tìm theo dấu chân người xưa tư lự
Ở bên đường ngóng dõi khánh vân bay
Mờ con mắt một lần lên tiếng thử
Em ồ em, anh nói một lời này.
(Những Nhành Mai,
trích nguyên bài trong Mưa Nguồn)

Bùi Giáng, có lẽ đã đến lúc ông lên đường trở về Cố Quận. Chúng ta phải chia tay. Lần cuối, xin tiễn ông một bài thơ cũ. Một bài thơ năm nào. Tôi vẫn tin rằng, một ngày nào đó, một cách nào đó, ông sẽ trở về. Và, ở đây, tôi xin phép được không nói lời vĩnh biệt.
Người đã bỏ đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân mồng
Bóng trắng như sương vàng bay pha hạc
Quanh Trường Thành bờ cõi đất in rêu
Dòng trở lại ngậm ngùi khe bến cát
Gió mông lung vì mây nổi lưng đèo
Xuân đi đến đi về nằm ở giữa
Hẹn một kỳ bấn loạn mấy mùa đông
Màu tuyết bạch mơ màng trang lệ ứa
Rớt chung quanh là đú đởn cầu vồng
Từ vĩnh biệt một lần đi từ đó
Nước xuôi dòng cổ độ chẳng nhìn theo
Lòng lây lất bên trời phương hướng nọ
Mắt ngu ngơ nhìn bọt nước sa bèo
(Từ Thức, trích nguyên bài trong tập Lá Hoa Cồn)
Irvine, California, 1998
Chú thích:
(*) Bài đăng trên Hợp Lưu, số 44, tháng 12/1998 & tháng 1/1999.
Bùi Vĩnh Phúc: Nhà văn, nhà nghiên cứu tâm lý, văn chương, sinh năm 1953 tại Hà Nội, lớn lên ở Sài Gòn, hiện sống tại Hoa Kỳ.
(1) Trong Ngày Tháng Ngao Du, Bùi Giáng thổ lộ: "(...) Hồi nhỏ, tôi đã được sanh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt cả tuổi thơ (làng tôi xưa kia có nhiều cỏ mọc. Cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh. Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn thiêu nướng khổng lồ...."
(2) Xem Bùi Vĩnh Phúc, Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật, Văn Học số 10 (tháng 11, 1986). Ðăng lại trong Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại, 1975-1995 (California: Ðại Nam, 1995) và Lý luận và phê bình/ Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước, 1975-1995 (California: Văn Nghệ, 1996).
(3) Ðọc sách có nhiều cách đọc, và cách đọc của Bùi Giáng (và ngay cả cách dịch của ông) mang rất đậm tính phơi phới, phóng khoáng và thơ mộng. Dù là trong thi ca, trong dịch thuật, hay trong việc phê bình tư tưởng hiện đại, cách làm của Bùi Giáng mang cái cung cách của một thi sĩ. Với tự do của chính hắn ta. Ðiều đó có thể rất trái chống với tinh thần làm việc một cách khoa học, phân minh và nghiêm túc. Nói như vậy để đặt trở lại tất cả tác phẩm của Bùi Giáng trong một mắt nhìn nào đó mà tôi nghĩ tôi muốn có khi tiếp cận những gì ông viết. Dĩ nhiên, một con người như Bùi Giáng có thể được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau. Và chính những sự khác biệt trong mắt nhìn của người đời ấy tạo nên vóc dáng của Bùi Giáng.
(4) Trong Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Ðại II (Saigon: Bờ Cửu Long Nam Việt), 1963. [Ðề tên nhà xuất bản như thế, nhưng tôi nghĩ đây là nhà xuất bản An Tiêm của thày Thanh Tuệ]. Ở đây, phê bình Sartre, nhưng Bùi Giáng phần nào vẫn còn lòng quý mến Sartre; bởi thế, ông áp dụng chiến thuật vừa đánh Sartre lại vừa đỡ đòn cho triết gia này. Tôi nghĩ, dù sao đi nữa, Bùi Giáng vẫn còn lòng quý mến Sartre, đặc biệt qua vở kịch Les Mouches (Ruồi).
(5) Sein und Zeit, Hữu Thể và Thời Gian, một tác phẩm cốt yếu của Heidegger.
(6) A. de Saint-Exupéry, Terre des Hommes. Bản dịch Cõi Người Ta của Bùi Giáng. Sài Gòn: Quế Sơn Võ Tánh, 1960, trang 77-79.
(7) A. de Saint-Exupéry, Terre des Hommes. Paris: Gallimard, 1963 (trang 71-72) (theo bản in năm 1939)
(8) Ðể thấy rõ phong cách dịch văn của Bùi Giáng, tác giả bài viết có trích dẫn phần dịch Anh văn của cùng một đoạn văn trên trong bản dịch Terre des Hommes của Lewis Galantière dưới tựa đề Wind, Sand and Stars(San Diego, New York, London: Harcourt Brace Jovanovich, Publishers, 1967); những người biên soạn tập sách xin lược bỏ đoạn này.
(9) A. de Saint-Exupéry, Le Petit Prince. Bản dịch Hoàng Tử Bé của Bùi Giáng. Paris, California: An Tiêm (in lần ba), 1990.
(10) Quyển Le Petit Prince của Saint-Exupéry đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bùi Giáng có lẽ rất thích thú khi nó được coi là sách của trẻ con. Tôi nghĩ khi dịch quyển này, Bùi Giáng cũng có được cái hạnh phúc rất là con trẻ như Saint- Exupéry khi viết nó vậy. Cuốn sách thật thích hợp với con người Bùi Giáng. Nó là sách kể chuyện cho trẻ con, nhưng người lớn xem vào lại còn thích thú hơn là con trẻ nữa. Cái tuyệt vời và đáng yêu của Saint-Exupéry là ở đây. Viết truyện trẻ con để nêu ra mấy câu hỏi triết lý vừa trầm trọng vừa thơ ngây về con người, về đời sống chơi! Trẻ con tha hồ đọc mà không hề hấn gì. Người lớn cũng tha hồ đọc để sung sướng tìm lại một đứa bé con trong tâm hồn mình.
(11)Xem Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Ðạo Ðức Kinh. Hà Nội: Văn Hóa, 1994, trang 17.
(12) Xem Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử Nam Hoa Kinh. Hà Nội: Văn Hóa, 1994.
Bùi Vĩnh Phúc
Theo http://www.vanhoanghean.com.vn/

"Trăm năm một thuở": Lời tri ân sâu sắc đến người thầy của bao thế hệ

"Trăm năm một thuở": Lời tri ân sâu sắc đến người thầy của bao thế hệ Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Giáo sư, Nhà giáo nhân dân,...