222222
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO SỰ LUYẾN ÁI GIỮA GÁI TRAI
1. Ai về Đông-tỉnh, Huê-cầu,
Để thương, để nhớ, để sầu cho ai.
Để sầu cho khách vãng lai,
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.
2. Ai đi, đợi với tôi cùng,
Tôi còn dở mối tơ hồng chửa xe.
Có nghe nín lặng mà nghe.
Những lời anh nói như xe vào
lòng.
3. Ai đi đâu đấy hỡi ai,
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm,
Tìm em như thể tìm chim,
Chim ăn bể Bắc đi tìm bể Đông.
Tìm bể đông thấy lông chim nhạn,
Tìm bể cạn thấy đàn chim bay.
Hôm qua là chín, hôm nay là mười.
Tìm em đã mướt mồ hôi,
Lại đứt nút áo, lại rơi khăn đầu,
Tìm em chẳng thấy em đâu
Lội sông thì ướt, quanh cầu thì
xa.
4. Ai về em gởi bức thơ,
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
?
Non kia ai đắp mà cao,
Sông kia biển nọ ai đào mà sâu ?
5. Ai đi bờ đập một mình,
Phớt phơ chéo áo giống hình lang
quân.
6. Ai về đường ấy mấy đò,
Mấy cầu, mấy quán cho anh mượn tiền.
Ước gì quan đắp đường liền,
Kẻo ta đi lại tốn tiền đò ngang.
Em về dọn quán bán hàng,
Để anh là khách đi đàng trú chân.
7. Ai về Phú-lộc gởi lời,
Thơ nầy một bức nhắn người tri
âm.
Mối tơ chín khúc ruột tằm,
Khi tháng, tháng đợi, khi năm,
năm chờ.
Vì tình, ai lẽ làm ngơ.
8. Ai về, em gởi bức tranh,
Tô con chim sáo đậu nhành
lan-chi.
Ai làm nên bước phân ly,
Cám công mưa nắng kẻ đi, người về.
9. Ai kêu vòi vọi bên tai,
Ta đang bắt chấy cho người tình
nhân.
10. Ai về đường ấy hôm mai,
Gởi dăm điều nhớ, gởi vài điều
thương.
Gởi cho đến chiếu, đến giường,
Gởi cho đến chốn buồng hương em nằm.
11. Anh thương em tam tứ núi
cũng trèo,
Thất bát sông cũng lội, cửu thập
đèo anh cũng qua.
12. Anh là con trai út ở
nhà,
Anh đi kén vợ đàng xa quê người.
Thấy em đẹp nói, đẹp cười,
Đẹp người đẹp nết, lại tươi răng
vàng.
Vậy nên anh gởi thơ sang,
Tình cờ anh quyết lấy nàng mà
thôi.
13. Anh đã có vợ con chưa,
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.
Mẹ già anh để nơi nao,
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.
Chả tham nhà ngói rung rinh,
Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.
Miệng cười anh đáng mấy mươi,
Chân đi đáng nén, miệng cười đáng
trăm.
Tờ giấy hồng anh phong chữ Thọ,
Anh gửi thư này cả họ bình yên.
Đầu rồng mà đối tay tiên,
Ước gì tay ấy gối lên đầu này.
Đầu ấy mà gối tay này,
Như chim loan phượng ấp cây ngô đồng.
Một mai nên vợ, nên chồng,
Như cá gặp nước, như rồng gặp
mây.
14. Anh về, em nọ dám đưa.
Hai hàng châu lệ như mưa tháng mười.
15. Anh còn son, em cũng còn
son,
Ước gì ta được làm con một nhà.
16. Anh thương em không biết
để đâu,
Để trong cái hũ lâu lâu lại dòm.
Em thương anh không biết để đâu,
Để trên thúng cám, để đầu chuồng
heo.
17. Anh thấy em anh cũng muốn
thương,
Sợ lòng bác mẹ soi gương chẳng tường.
18. Anh kia lịch sự đi đàng,
Mời anh hãy ghé vào hàng nghỉ
ngơi.
Tay nâng chén rượu toan xơi,
Tay gạt nước mắt : Thiếp ơi !
Chàng về.
- Chàng về thiếp cũng như mê,
Thiếp ở, chàng về, chàng nghĩ làm
sao.
Đôi bên đông liễu, tây đào,
Dạ sầu ngao ngán làm sao bây giờ
?
19. Anh nhất kỳ tâm,
Sao cô bây khéo nhị kỳ tình ?
Vì ai xui giục cho cô mình nhị kỳ
tâm.
Đêm hôm qua vắng khách tri âm,
Vắng hoa thiên lý thăm thầm cội
cây.
Đêm hôm qua rót đọi dầu đầy,
Than thân với bóng, bóng rầy bóng
chẳng có thương.
Suốt năm canh bế bóng lên giường,
Ngọn đèn dập tắt, nửa thương, nửa
cười.
Bấy lâu nay gần bến, xa vời.
20. Anh chờ em từ thuở mô
tê,
Không hề bóc lá, không hề để nha.
Bóc lá, kinh em mau già,
Để nha sợ nữa ra cành mía lau.
Khoan hồ khoan !
Thiếp như mía tiến vừa tơ,
Chàng như mía tiến rật chờ đợi ai
?
Núi cao, sông hãy còn dài,
Thương nhau đã dễ bằng ngày gặp
nhau.
Khoan hồ khoan !
21. Anh đi đường ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng
?
22. Anh về, em nắm cổ tay,
Em dặn câu này anh chớ có quên :
Đôi ta đã trót lời nguyền,
Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng.
23. Anh đi đâu cũng ghé lại
nhà,
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm
em.
24. Anh về xẻ ván cho dày,
Bắc cầu sông Cái cho thầy mẹ
sang.
Thầy mẹ sang, em cũng theo sang,
Đò dọc quan cấm, đò ngang không
chèo.
25. Anh muốn trông, anh lên
Ba-dội anh trông.
Một Dội anh ngồi, hai Dội anh
trông.
Trống thu không ba hồi điểm chỉ,
Anh ngồi, anh nghỉ, thở ngắn,
than dài.
Trúc nhớ mai thuyền quyên nhớ
khách,
Quan nhớ ngực bạch, bóng lại nhớ
câu.
Anh nhớ em đây, biết bao giờ được,
Đạo vợ chồng, chẳng trước thời
sau,
Trăm năm xin chớ quên nhau.
26. Anh đây mục hạ vô nhân,
Nghe em xuân sắc mười phân não
nùng.
Xưa nay những gái má hồng,
Anh thề anh có thèm trông đâu
nào.
Lấy em đi trước cho hào,
Dù ngắm, dù nguýt, dù sao mặc
lòng.
27. Áo xông hương của chàng
vắt mắc,
Đêm em nằm, em đắp lấy hơi.
Gởi khăn, gởi túi, gởi lời,
Gởi đôi chàng-mạng cho người đàng
xa.
Vì mây cho núi nên xa,
Mây cao mù mịt, núi nhòa xanh
xanh.
28. Ăn trầu chọn lấy cau
khô,
Trèo lên ba Ba-dội có cô bán
hàng,
Cô bán hàng lòng cô buồn bã,
Bóng xế chiều, bóng ngã về tây.
Đợi cô ba bảy hai mươi mốt năm
nay.
29. Ăn cơm ba chén lưng
lưng,
Uống nước cầm chừng để dạ thương
em.
30. Ấy ơi dắt mối tơ mành,
Cho thuyền quen bến, cho anh quen
nàng.
Tơ tằm đã vấn thì vương,
Đã trót dan díu thì thương nhau
cùng.
31. Ba phen lên ngựa mà về,
Cầm cương níu lại xin đề câu thơ.
Câu thơ ba bốn câu thơ,
Câu đợi, câu chờ, câu nhớ, câu
thương.
32. Bãi dài cát nhỏ tăm tăm,
Phải căn duyên trời định bấy
nhiêu năm anh cũng chờ.
33. Bãi dài cát nhỏ, hột to.
Thác đi thì mất sống lo kết nguyền.
34. Bạn ơi, ơi bạn vô đây,
Tội chi đứng sáng ngoài đường,
Sương sa nhỏ xuống cảm thương hàn
không ai.
35. Bao giờ cho sóng bỏ
gành,
Cù lao bỏ bể thì anh bỏ nàng.
36. Bao giờ cho gạo bên
sàng,
Cho trăng bén gió, cho nàng lấy
anh.
37. Bao giờ cho hương bén
hoa,
Khăn đào bén túi, cho ta bén
mình.
Thuyền không đậu bến Giang-đình,
Ta không, ta quyết lấy mình làm
đôi.
38. Bắc thang lên hái hoa
vàng,
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây
?
39. Bắc Nam lòng chẳng
thương tình,
Để anh gắn bó một mình sao đang.
40. Bây giờ mận mới hỏi đào
:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
- Mận hỏi, thì đào xin thưa :
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai
vào.
41. Bấy lâu vắng mặt khát
khao,
Bây giờ thấy mặt tính sao hỡi
tình ?
42. Bấy lâu vắng mặt khát
khao,
Bây giờ thấy mặt muốn trao lạng
vàng.
Bên nầy sông bắc cây cầu mười tấm
ván,
Bên kia sông lập cái quán mười
hai từng.
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi
anh.
43. Bên sông thanh vắng một
mình,
Có ông ngư phủ biết tình mà thôi.
44. Bên hữu con thiên-lý-mã,
Bên tả con vạn-lý-vân,
Hai bên nhắm cũng cân phân,
Lòng anh muốn cỡi một lần đủ đôi.
Thiên-lý-mã sải như tên bắn,
Vạn-lý-vân chạy tế giống rồng
bay.
E khi anh cỡi chẳng tài,
Sa cơ một phút ngàn ngày lại đau.
45. Bớ chiếc ghe sau chèo
mau anh đợi,
Kẻo khuất bóng bần anh bắc em
nam.
46. Bớ chiếc ghe sau chèo
mau anh đợi,
Kẻo khỏi khúc sông nầy bờ bụi tối
tăm
47. Bởi thương nên ốm nên gầy,
Cơm ăn chẳng đặng gần đầy ba
trăng.
Ngó lên sao mọc như giăng,
Thấy em có nghĩa mấy trăng cũng
chờ.
48. Buồn buồn, nhớ nhớ,
thương thương,
Nhớ người áo trắng đi đường cái
quan.
49. Buồng nhà trong mắc dở
chăn tằm,
Buồng nhà ngoài chứa khách, biết
nằm nơi mô.
50. Bữa nay giọng tắt tiếng
khan,
Trong mình mỏi mệt choan van cả đầu.
Tai anh nghe chị em hò hát đã
lâu,
Giật mình trở dậy bới đầu bịt
khăn.
Bước ra ba bước than rằng :
Biết nơi đâu xứng nợ, biết nơi
nào bằng kết đôi ?
51. Bữa ăn có cá cùng canh,
Ăn chưa mát dạ, bằng anh thấy
nàng.
52. Cá sầu ai cá chẳng quạt
đuôi,
Như lan sầu huệ, như tui sầu
mình.
Tử sanh, sanh tử tận tình,
Dù ai ngăn đón, tui cứ mình tui
thương.
53. Cá chẳng ăn câu thiệt là
cá dại,
Câu anh cầm câu ngãi, câu nhân.
54. Cách bức chẳng được nói
luôn,
Những người bên ấy có buồn cùng
chăng ?
55. Cách mấy thu tưởng là em
đi biệt,
Hay đâu em còn trực tiết đợi anh.
56. Cái quạt mười tám cái
nan,
Ở giữa phất giấy hai nan hai đầu.
Quạt nầy anh để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt nầy,
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ cái quạt nầy làm thân,
Rồi ta chung gối, chung chăn,
Chung quần, chung áo, chung khăn
đội đầu.
Nằm thời chung cái giường Tàu,
Dậy thời chung cả hộp trầu, ống
vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu chung cả dầu hồi, nước
hoa.
Chải đầu chung cái lược ngà,
Soi gương chung cả ngành hoa giắt
đầu.
57. Cái ngọn sông Đào vừa
trong vừa chảy,
Anh đi kén vợ mười bảy năm nay.
Tình cờ bắt gặp cô mình ở đây,
Mượn cắt cái áo mượn may cái quần.
Khâu xong anh tính tiền công,
Em đi lấy chồng anh giúp của cho.
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng
cau.
Chúc cho anh chị lấy nhau,
Một số là giàu, hai số lắm con.
58. Cầm lược lại nhớ đến
gương,
Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ
nhau.
59. Càng thắm thì lại càng
phai,
Thoang thoảng hoa lài mà được
thơm lâu.
60. Cất lên một tiếng la đà,
Cho chim nhớ tổ cho gà nhớ con.
Cất lên một tiếng linh đình,
Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ
ta.
61. Cầu Mông bước tới Cầu
Châu,
Bước sang cầu Sỷ gặp nhau Cầu Dừa.
Em ơi em có chồng chưa ?
Sông còn có rạch lọ là người ru ?
62. Cây da trước miễu ai biểu
cây da tàn,
Bao nhiêu lá rụng anh thương nàng
bấy nhiêu.
63. Có trầu có vỏ không vôi,
Có chăn có chiếu không người nằm
chung.
64. Có chồng thương kẻ không
chồng,
Không chồng ra đứng cánh đồng mà
nom.
Nom cho thấy mặt nhau luôn,
Thấy thời khỏe mạnh thuốc tơn nào
tầy !
65. Có nghe nín lặng mà
nghe,
Những lời anh nói như xe vào
lòng.
66. Con chim chích chòe đứng
hè bà chủ.
Con chim đội mũ nó đứng đám ông củ
ông Hương.
Đôi ta mới ngộ tình thương,
Dù ai đem nhiễu đổi lương cũng đừng.
67. Con chim tra trả, ai vay
mà trả,
Bụi gai sưng ai vả mà sưng.
Đây người dưng đó cũng người
dưng.
Cớ chi nước mắt rưng rưng nhỏ
hoài.
Hai tay ôm vạt áo dài,
Chặm lên con mắt, chặm hoài không
khô.
68. Con chim trên núi, con
gà dưới suối.
Nó gáy giọng chầu đôi, chầu ba.
Đêm năm canh chẳng ngủ lại ngồi,
Trông người thục nữ, bồi hồi lá
gan.
69. Con chim đại bàng bay
ngang hòn núi bạc,
Con cá ngư ông móng nước ngoài
khơi.
Gặp nhau đây phân giải đôi lời,
Kẻo mai kia con cá về sông vịnh ;
Con chim đổi dời non xanh.
70. Con gái mười bảy mười
ba,
Đêm nằm với mẹ khóc la đòi chồng.
71. Con quạ đen, con cò trắng,
Con ếch ngắn, con rắn dài,
Em trông anh trông mãi trông
hoài,
Trông cho thấy mặt như bài liền
pho.
72. Con quạ bay xa, bay qua
vườn hoa nghỉ mát.
Con hạc đậu lầu vàng nghỉ mát kêu
sương.
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm năm canh nhớ bạn, ngày thường
nhớ em.
73. Con cuốc kêu réo trên
ngàn,
Gà rừng táo tác gọi con tha mồi.
Lạnh lùng thay láng giềng ôi !
Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh
nhiều.
74. Con công tố hộ trên rừng,
Đã được con chị thì đừng con em.
- Lòng yêu vô giá quá chừng,
Con công tố hộ trên rừng mặc
công.
75. Con vượn bồng con lên non hái
trái,
Em thấy con vượn đương chuyền
khoan khoái nhớ anh.
76. Còn đêm nay nữa, mai đi,
Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi
kề.
Còn đêm nay nữa, mai về,
Lạng vàng không tiếc, tiếc kề má
son.
77. Cô kia đứng ở bên sông,
Muốn sang anh ngã cành hồng cho
sang.
78. Cô kia cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang
đây.
Sang đây, anh bấm cổ tay,
Anh hỏi câu nầy : Cô lấy anh
không ?
79. Cô kia thắt cái lưng
xanh,
Có về Nam-định với anh thì về.
Nam-định có cây bồ đề,
Có giếng tắm mát, cô về mà chơi.
80. Cô kia yếm trắng lòa
xòa,
Lại đây đập đất, trồng cà với
anh.
Bao giờ cà chín, cà xanh,
Anh cho một quả để dành mớm con.
81. Cô kia má đỏ hồng hồng,
Cô chưa lấy chồng còn chờ đợi ai
?
82. Cô kia khăn trắng tang
ai,
Nhất tang cha mẹ, thứ hai tang chồng
?
Tang chồng thì vất khăn đi,
Tang cha, tang mẹ, ta thì tang
chung.
83. Cô thương nhớ ai ngơ ngẩn
đầu cầu ?
Lược thưa biếng chải, gương Tàu
biếng soi.
Sập đá hoa bỏ vắng chẳng ai ngồi,
Buồng hương bỏ vắng cho người
quay tơ.
Cô thương nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
?
Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ trận
cười.
Đêm năm canh, ngày sáu khắc chàng
ôi !
Chàng cười nửa miệng, thiếp tôi
vui nửa lòng.
84. Cô kia đi đường này với
ta,
Trông đậu, đậu tốt, trông cà, cà
sai.
Cô kia đi đàng ấy với ai,
Trồng bông, bông héo, trồng
khoai, khoai hà.
85. Cổ tay em vừa trắng vừa
tròn,
Mặt mũi vuông vắn chồng con thế
nào ?
86. Công anh chẻ nứa đan bồ,
Con chị đi mất, anh vồ con em.
Công anh rọc lá gói nem,
Con chị đi mất, con em trốn chồng.
87. Chàng về thiếp cũng xin
đưa,
Xin trời đừng nắng, chớ mưa trơn
đường.
88. Chàng về cho chóng rồi
ra,
Kẻo em chờ đợi sương sa lạnh
lùng.
89. Chẳng tư túi chẳng trăng
hoa,
Cớ sao lại thiết việc nhà người
dưng.
90. Chẳng đi thì dạ chẳng
đành,
Đi thì mang tiếng dỗ dành nhau
đi.
91. Chẳng đi thì nhớ thì
thương,
Đi ra dãi nắng dầm sương khó
lòng.
92. Chẳng thiêng ai gọi là
thần,
Lối ngang đường tắt chẳng gần ai
đi.
93. Chẳng tham nhà ngói rung
rinh,
Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.
94. Chẳng tham vựa cá anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tày thế gian.
95. Chẳng chè chẳng chén sao
say,
Chẳng thương, chẳng nhớ sao hay
đi tìm.
96. Chân đi thẳng tới chân
ôi !
Chân đi thẳng tới chân ngồi xuống
đây.
97. Chật hào cá lội sen
rung,
Choàng ngang cổ bạn anh hun đỡ
lòng.
98. Chèo mau để thiếp gặp
anh,
Hai ta hiệp lại cho thành một
đôi.
99. Chỉ điều ai khéo vấn
vương,
Một người một xứ mà thương nhau đời.
Chữ tình ai bứt cho rời,
Tơ hồng đã định đổi dời đặng đâu.
100. Chiếc thuyền không đỗ bến
Giang-đình.
Ta nay chỉ quyết lấy mình mà
thôi.
Cây khô kia há dễ mọc chồi,
Bác mẹ già chưa có dễ ở đời với
ta.
Con dao vàng cắt miếng giò hoa.
101. Chiều chiều xách chén
mua tương,
Thấy anh trong trường cất viết
ngó ra.
Hỏi thăm anh học trường nào,
Đặng em mua giấy gửi vào cho anh.
102. Chiều chiều én liệng cò
bay,
Khoan khoan hỏi bạn, bạn rày nhớ
ai.
103. Chiều chiều vịt lội bàu
sen,
Để anh lên xuống làm quen ít
ngày.
104. Chiều chiều ra bãi mà
trông,
Bãi thì thấy vắng, người không thấy
người.
105. Chiều chiều mang giỏ
hái dâu,
Hái dâu không hái, nhớ câu ân
tình.
106. Chiều chiều chim vịt
kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột
đau.
107. Chiều chiều ra đứng cổng
làng,
Nghe trống bãi tràng em chạy đón
anh.
108. Chiều chiều lại nhớ chiều
chiều,
Nhớ người quân tử khăn điều vắt
vai.
109. Chiều chiều én liệng bờ
sông.
Hỏi thăm chú lái nào chồng em đâu
?
- Chồng em lên ngọn Sông Ngâu,
Buôn bè Mạn-hảo, năm sau mới về.
110. Chim khôn mắc phải lưới
hồng,
Hễ ai gỡ được, đền công lạng
vàng.
Anh rằng anh chẳng lấy vàng,
Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh.
111. Chim khôn kêu tiếng rảnh
rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ
nghe.
112. Chim liễu nó biểu chim
quỳnh,
Biểu to biểu nhỏ, biểu mình
thương tui.
113. Chim chuyền bụi sậy,
con cá quậy bụi tùng.
Anh thương em thảm thiết vô cùng,
Dĩa nghiên mài mực tạm cùng bức
thư.
114. Chim khôn mắc phải lưới
hồng,
Ai mà gỡ được đền công lạng vàng.
Đền vàng anh chẳng lấy vàng,
Lòng anh chí quyết lấy nàng mà
thôi.
115. Cho anh một miếng trầu
vàng,
Mai sau trả lại cho nàng đôi mâm.
116. Chờ em nên quá sức chờ.
Chờ cho rau muống lên bờ trổ
bông.
117. Chợ Đông-ba gác ra
ngoài giại,
Cầu Trường-tiền đúc lại xi moong.
Ơi người lỡ giận chồng con,
Về đây gá nghĩa vuông tròn cùng
ta.
118. Chuông già đồng điếu
chuông kêu,
Anh già lời nói, em xiêu tấm
lòng.
119. Chúng em như hoa gạo
trên cây,
Các anh như đám cỏ may bên đường.
Lạy trời dãi gió dầm sương,
Hoa gạo rụng xuống chui luồng cỏ
may.
120. Chừng nào muối ngọt
chanh thanh.
Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng.
121. Dây tơ hồng không trồng
mà mọc,
Thấy em chưa chồng anh chọc anh
chơi.
122. Dầu mà nước lớn đầy
sông,
Cầu trôi nhịp giữa tôi không bỏ
nàng.
123. Dở sách ra em sa nước mắt
Em quên chữ đầu bài vì nhớ đến
anh.
Dở sách ra lệ sa ướt sách,
Quên chữ đầu bài bởi nhớ đến em.
124. Dù ai nắm chí nàng bay,
Thì nàng cứ giữ nhẫn này cho anh.
125. Dù ai cho bạc cho vàng.
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng
hôm nay.
126. Đào lý một cành, tơ
trúc phiếm loan,
Ban tối hôm qua, nguyệt lặn, bóng
ông sao tàn.
Đêm khuya thanh vắng, khách hồng
nhan lững lờ.
Cây xanh thì lá cũng xanh,
Đã trót vin cành thì hái lấy hoa.
Cung đàn tì bà ai khéo gảy tang
tình tính tang.
Long ngâm hổ đối, cái cống xang hồ,
cái hồ xừ xang.
Anh thương cô nàng như lá Đài-bi,
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm
sương.
127. Đầu năm ăn quả thanh
yên,
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo
bòng.
Vì cam cho quít đèo bòng,
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ
thương.
128. Đầu đường kia có một
cây chuối,
Cuối đường nọ có một cây đa,
Cái góc ngã ba có một sợi dây tơ
hồng.
Con gái chưa chồng như bông hoa
lý,
Trai chưa vợ như bức tượng vẽ
tranh đồ.
Ngó lên mây bạc trời hồng,
Gẫm tôi với bậu vợ chồng sánh
đôi.
129. Đầu giồng có cây duối,
cuối giồng có cây da,
Ngõ ba đường có cây tơ hồng.
Con gái chưa chồng cái lòng hực hỡ.
Con trai chưa vợ ruột thắt như
tranh.
Ngó lên mây trắng trời xanh,
Ai ai cũng vậy ưng anh cho rồi.
130. Đầu làng có bụi chuối
khô,
Trông về xóm bắc đôi cô chưa chồng.
Cây cao gió đập đùng đùng,
Ai về đằng ấy nhắn giùm đôi cô.
131. Đấy với đây chẳng duyên
thì nợ,
Đây với đấy chẳng vợ thì chồng
Dây tơ hồng chưa xe đã mắc,
Rượu quỳnh tương chưa nhấp đã
say,
Chẳng chè chẳng chén sao say.
Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi
tìm.
132. Đấy đông thì đây bên
tây,
Đây chửa có vợ, đấy nay chưa chồng.
133. Đèn Sài-gòn ngọn xanh
ngọn đỏ,
Đèn Mỹ-tho ngọn tỏ ngọn lu,
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi mười thu em chờ.
134. Đêm nằm lưng chẳng tới
giường,
Trông cho mau sáng ra đường gặp
em.
135. Đêm nằm tơ tưởng tưởng
tơ,
Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu
không.
136. Đêm trăng thanh, anh mới
hỏi nàng,
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
?
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng,
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng
?
137. Đêm đêm anh nằm nhà
ngoài,
Để em thở ngắn than dài nhà
trong.
Ước gì anh được vô phòng,
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy
loan.
138. Đêm qua mận mới hỏi đào
:
Vườn xuân đã có ai vào hái hoa ?
Bông đào chênh chếch nở ra.
Giang tay muốn hái, sợ nhà có
cây.
Lạ lùng anh mới tới đây,
Thấy hoa liền hái biết cây ai trồng
?
139. Đêm khuya ngồi dựa gốc
bồng,
Sương sa gió lạnh chạnh lòng nhớ
anh.
140. Đêm qua mây kéo đen dầm,
Thấy hai người ấy thì thầm với
nhau.
Tưởng rằng tính toán tiền cau,
Ai ngờ nhân tình vụn với nhau bao
giờ.
141. Đêm nay hoa nở nhụy
vàng,
Sáng ngày thiếp thấy bóng chàng
áo xanh.
142. Đêm khuya thiếp mới hỏi
chàng,
Cau khô ăn với trầu vàng xứng
không ?
143. Đêm qua nguyệt lặn về
Tây,
Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài.
Trúc với mai, mai về trúc nhớ,
Trúc trở về, mai nhớ trúc không ?
Bao giờ kẻ bắc, người đông,
Kể sao cho xiết tấm lòng tương
tư.
144. Đêm qua trời sáng trăng
rằm,
Anh đi qua cửa, em nằm không yên.
Mê anh chẳng phải mê tiền.
145. Đó đây trước lạ sau
quen,
Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng
gần.
146. Đó gặp đây như rồng gặp
hội,
Em khá nghĩ chút tình kẻo tội bớ
em.
147. Đố ai quét sạch lá rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung
cây.
Rung cây, rung cỗi, rung cành,
Rung sao cho chuyển lòng anh với
nàng.
148. Đố ai ngồi võng không
đưa,
Ru con không hát, anh chừa rượu
tăm.
Đố ai chừa được rượu tăm,
Chừa ăn thuốc chín, chừa nằm
chung hơi.
- Có tôi chừa được mà thôi,
Chừa ăn thuốc chín, chung hơi chẳng
chừa.
149. Đổ lửa than nên vàng lộn
trấu,
Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ
em.
150. Đôi ta chẳng đặng sum vầy,
Cũng như chim nhạn lạc bầy kêu
sương.
151. Đôi ta là nợ, là tình,
Là duyên, là kiếp đôi mình kết
giao.
Em như hoa mận hoa đào,
Cái gì là ngãi tương giao hỡi
chàng ?
152. Đôi tay cầm đôi dao
cau,
Chỉ trời vạch đất lấy nhau phen nầy.
153. Đôi ta như rắn thìu
điu,
Nước chảy mặc nước, ta dìu lấy
nhau.
154. Đôi tay cầm đôi ống tơ,
Dù năm ba mối, cũng chờ mối anh.
155. Đôi ta như thể con tằm,
Cùng ăn một lá, cùng nằm một
nong.
Đôi ta như thể con ong,
Con quấn, con quít, con trong,
con ngoài.
Đôi ta như thể con bài,
Chồng đánh, vợ kết chẳng sai con
nào,
156. Đôi duyên ta như loan với
phượng,
Nỡ lòng nào để phượng lìa cây.
Muốn cho có đó, có đây,
Ai làm nên nỗi nước nầy chàng ôi
!
Thà rằng chẳng biết thì thôi,
Biết chi gối chiếc lẻ loi thêm
phiền.
157. Đôi ta lấm tấm hoa
nhài,
Chồng đây, vợ đấy kém ai trên đời.
Muốn cho gần chợ ta chơi,
Gần sông tắm mát, gần nơi đi về.
158. Đồn rằng kẻ Lạng vui
thay,
Đi ba bốn ngày kể đã lắm công.
Bên dưới có sông, bên trên có chợ,
Anh lấy em về làm vợ nên chăng.
Tre già để gốc mọc măng.
159. Đường xa thì thật là
xa,
Mượn người làm mối cho ta một người.
Một người mười tám, đôi mươi,
Một người vừa đẹp, vừa tươi như
mình.
160. Đường xa mượn cáng mà
đi,
Xin cho tốt tuế quản chi xa đường.
Trồng hường lấy lá che hường,
Thương em chẳng quản nỗi đường xa
xôi.
161. Đũa tre một chiếc khó cầm,
Thương nhau phải tính âm thầm sao
nên.
162. Đứng đây quyết đợi một
thì,
Đợi chàng tất phải có khi gặp
chàng.
163. Em có yêu anh, tam tứ
núi chúng anh cũng trèo,
Thập bát sông tang tình chúng anh
cũng lội,
Tứ cửu tam thập lục đèo chúng anh
cũng trèo qua.
Chén son em ơi, anh nguyện với
ông trăng già.
Càn khôn đưa lại mấy một nhà vui
chung.
Con đàng xa xôi, xin em chớ ngại
ngùng.
Xa người, xa tiếng, nhưng lòng
không xa.
Nói ví dầu sớm biết nhau ra,
Đá vàng cũng quyết, phong ba anh
cũng liều.
Đường tình riêng mới nhớ ít, tưởng
nhiều.
Xăm xăm đè nẻo Lam-kiều lần sang.
Con dao vàng anh liếc đá vàng,
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng
đưa.
Ta mần thinh đi kẻo thế gian ngờ,
Lòng đây thương đó biết cơ hội
nào.
Quyết sắn tay, anh bẽ khóa Động
Đào.
164. Em về thưa mẹ cùng thầy,
Có cho anh cưới, tháng nầy anh
ra.
- Anh về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang
sêu.
Chắc như lời ấy không sai,
Tháng giêng đẵn gỗ, tháng hai làm
nhà.
Tháng ba ăn cưới đôi ta.
165. Em thương nhớ ai ngơ ngẩn
bên đầu cầu,
Lược thưa biếng chải, gương Tàu
biếng soi.
Cái sập đá hoa bỏ vắng em không
ngồi,
Vườn hoa bỏ vắng mặc người quay
tơ.
Em thương nhớ ai, ra ngẫn vào
ngơ,
Đêm quên giấc ngủ ngày mơ trận cười.
Bấy lâu nay gần bến, xa vời.
166. Em đi đâu đào liễu một
mình,
Để ai nặng khối chung tình trong
tâm.
Đêm qua vắng khách tri âm,
Vắng hoa luống những âm thầm cỗi
cây.
Đêm đêm ngồi tựa cành cây,
Than thân với bóng, bóng rày bóng
chẳng có thương
Đêm đêm rước bóng lên giường,
Ngọn đèn thấp thoáng, nửa thương
nửa sầu.
167. Em rằng em chẳng lấy
anh,
Để anh bán cửa bán nhà anh theo.
Còn một cái cối dâm bèo,
Anh đây bán nốt anh theo em về.
168. Em về dọn quán bán
hàng,
Để anh làm khách qua đàng trú
chân.
169. Em dầu có thác xuống suối
vàng,
Hồn em cũng bận bịu theo chàng
sánh đôi.
170. Em nghiêng tai dưới
gió,
Qua kể nhỏ cho em rành,
Đôi ta còn vướng tơ mành,
Đó chẳng đành, đây anh cũng gắng,
Sóng ba đào mưa nắng chẳng nao.
171. Em ôm bó mạ xuống đồng,
Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai.
172. Em là con gái chợ Cơ,
Hái rau lú bú ngẩn ngơ bên đường,
Ví dù anh có lòng thương,
Mời anh về đất bãi, em muối dưa
càng anh xơi.
173. Gái chưa chồng trông
mong đi chợ,
Trai chưa vợ lơ lửng đứng đàng.
174. Gặp nhau ăn một miếng
trầu,
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào.
Miếng trầu đã nặng bằng bao,
Muốn cho đông liễu tây đào là
hơn.
Miếng trầu kể hết nguồn cơn,
Muốn xem đây đấy thiệt hơn thế
nào.
Miếng trầu là nghĩa tương giao,
Muốn cho đây đấy duyên vào hợp
duyên.
175. Giả đò mua hẹ bán hành,
Vô ra chợ Cống thăm anh kẻo buồn.
176. Giả đò buôn bán kén bán
tơ,
Đi ngang qua ngõ rơi thơ cho
chàng.
177. Giả đò mua khế bán
chanh,
Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn.
178. Gió đưa tờ giấy lên
mây,
Gió đưa cô tú vào đây ăn trầu.
179. Gió đưa gió đẩy bông
trang,
Ai đưa ai đẩy duyên nàng tới đây.
180. Gió vàng hiu hắt đêm
thanh,
Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về.
Mảnh trăng đã trót lời thề,
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai
!
181. Gió đưa cành mận, gió lận
cành đào,
Vì em, anh phải ra vào tối tăm,
Tối tăm, thì mặc tối tăm,
Chờ cho bác mẹ đi nằm sẽ hay.
Thoạt vào anh nắm cổ tay,
Xin em đừng hô hoán việc nầy nên
to.
182. Gió đưa cây cửu lý
hương,
Hai người hai họ mà thương nhau
cùng.
183. Gió đâu thổi mát sau
lưng,
Dạ sao dạ nhớ người dưng vô cùng.
184. Gió đưa cột phướn hao dầu
Thương em để dạ chớ sầu mà hư.
185. Gió đánh đò đưa, gió đập
đò đưa,
Sao cô mình lơ lửng mà chưa có chồng
?
Gió đánh cành hồng, gió đập cành
hồng.
Hỏi cô mình đã muốn lấy chồng hay
chưa ?
186. Giở xem một truyện
phong tình,
Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ
ta.
Nhớ nhau, nên thất, nên gia,
Nên cửa, nên nhà, nên vợ, nên
con.
Chim họa mi réo rắt trên non,
Ước gì ta được vợ con như người.
187. Gối chăn gối chiếu chẳng
êm,
Gối lụa chẳng mềm bằng gối tay
em.
188. Ghe anh lui về Gia-định,
em thọ bịnh đau liền.
Không tin anh hỏi lại xóm giềng
có không.
189. Hai tay ôm bản đàn kìm,
Nguyện cùng trời đất kết nguyền với
nhau.
190. Hai tay bưng chén rượu
đào,
Xin mời quân tử uống vào cho say.
191. Hai tay cầm bốn tay
nôi,
Tay thẳng, tay giùn, tay nhớ, tay
thương.
192. Hai thuyền đi chung một
dòng,
Bơi chèo gần lại cho lòng đỡ
suông.
Chào cô trước mũi tiền phuông,
Chào cô sau lái mặt vuông chữ điền.
Chào rồi tôi lại hỏi liền,
Hỏi rằng cô đã kết duyên nơi nào
?
Hay còn phong nhụy huê đào,
Thì chờ nhau đặng thăm chào đôi
câu.
Kẻo mà thuyền lại xa nhau,
Xuân này hờ hững, xuân sau buồn
lòng.
193. Hai bên, bên liễu, bên
đào,
Mặc tình ý bạn, thương bên nào
thì thương.
194. Hang sâu núi hiểm như vầy,
Ai xui anh đến chốn này gặp em.
195. Hiu hiu gió thổi bờ đê,
Cửa nhà bỏ phế, mảng mê lời mình.
196. Hoa cau gặp hội hát
suông,
Em ở một làng, anh ở một nơi.
Bây giờ mới gặp nhau đây,
Ước làm phu phụ muôn đời nên
chăng.
197. Học trò trong Quảng ra
thi,
Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành.
198. Hồi hôm xuống bói ông
Thầy,
Sáng ra xuống đám ruộng nầy gặp
em.
199. Hôm qua em đi trên đường,
Nghe ai kêu gọi, em cứ tưởng là
tiếng anh.
200. Hỡi cô yếm trắng lòa
lòa,
Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc
bâu,
Hay là lụa bạch bên Tàu,
Người cắt cũng khéo, người khâu
cũng tài.
Một đàng anh thêu nên nhạn,
Hai đàng anh mạng nên hoa,
Yếm em anh để trong nhà,
Khen thay thầy mẹ mở khóa đem ra
cho nàng.
- Trông anh như thể nhìn vàng,
Bỏ ra thì khách hồng nhan được nhờ.
Anh như chỉ thắm thêu cờ,
Em như rau má lờ mờ giếng khơi.
Dù anh mà chửa có nơi,
Em xin vượt biển qua trời theo
anh.
201. Hỡi cô yếm trắng lòa
lòa,
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm
thâm.
Ước gì anh được ở gần,
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công
anh.
202. Hỡi cô thắt dải lưng
xanh,
Ngày ngày thấp thoáng bên mành
trông ai.
203. Hỡi cô gánh nước quang
mây,
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng.
Cây ngô đồng cành cao, cành thấp,
Ngọn ngô đồng lá dọc, lá ngang…
Từ ngày anh gặp mặt nàng,
Lòng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn
ngơ.
204. Hỡi cô mặc áo yếm hồng,
Đi trong đám hội có chồng hay
chưa ?
206. Hỡi anh đi đường cái
quan,
Xin anh đứng lại em than vài lời
:
Đi đâu vội mấy, anh ơi !
Cái quần, cái áo như người nhà
ta.
Cái ô em để trong nhà,
Khen ai mở khóa đưa ra cho chàng.
207. Huệ xào vì bởi mất
sương,
Anh xanh xao vì bởi nhớ thương
nghĩa nàng.
208. Kĩu cà kĩu kịt, em gánh
nặng xuống ngàn,
Anh có thương xin đợi, em muôn
vàn đội ơn.
209. Khăn vuông bốn chéo một
chùm,
Miệng mời người nghĩa hò dùm ít
câu.
210. Khi xưa ai biết ai đâu,
Chỉ vì điếu thuốc miếng trầu quen
nhau.
211. Không buông giọng bướm
lời hoa,
Cớ sao lại bắt lòng ta cảm tình.
212. Không sơn mà gắn với
hèo,
Không bùa, không thuốc mà theo mới
tình.
213. Khuất bóng đèn lang anh
nhìn nàng không rõ,
Thấy dạng em ngồi, còn nhỏ anh
thương.
214. Lạ thay nết nói, nết cười,
Nết sao lại khiến cho người muốn
thương.
215. Làm thơ mà dán cây
chanh,
Trai bỏ học hành, gái bỏ bán
buôn.
216. Lẳng lơ vầng quế soi thềm,
Hương đưa bát ngát càng thêm bận
lòng.
Gió thu thổi ngọn phù dung,
Dạ nàng là sắt anh nung cũng mềm.
217. Lên chùa lạy Phật
Thích-ca,
Lạy ông Tam-thế, vua cha Ngọc-hoàng.
Bước ra kết nghĩa cùng nàng,
Túi anh có nhẫn cho nàng đeo tay.
Dù ai bấm chí cô bay,
Thì nàng cũng giữ nhẫn này cho
anh.
218. Lộc còn ẩn bóng cây
tùng,
Thuyền quyên đợi khách anh hùng
vãng lai.
219. Lơ thơ tơ liễu buông
mành,
Con oanh học nói trên nhành mỉa
mai.
Em nghĩ mình em cái cúc bạc lưu
tai,
Cúc bạc tình chung thời có, cái
trâm cài vốn không.
Cái tóc mây em vấn lộn khăn sồng,
Quần lĩnh thâm đôi ba chiếc, đôi
má hồng cô nhởn nhơ.
Sáng trăng suông,
Sáng cả vườn Đào, sáng cả vườn
chanh.
Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn
không ?
Có một cô thật đích cô chưa có chồng.
Có cho anh ghé chút làm chồng nên
chăng ?
Các cô mình về có nhớ chúng anh
chăng ?
Ta về ta chỉ nhớ cái hàm răng cô
mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan anh chả tiếc, anh chỉ
tiếc người răng đen.
Cái răng đen ai khéo nhuộm cho cô
mình,
Để duyên các cô mình đẹp,
Cho cái tình chúng anh yêu.
Trăm con như cái sợi chỉ diều,
Trăm con sợi chỉ ấy nó cũng buộc
vào cái tay anh.
Một duyên, hai nợ, ba tình,
Ấy cái tang tình, ngày hai tình
mười một,
Cái tình mong song hỡi tình,
À lên một, lên hai, lên ba, lên bốn,
Làm con mẹ cha, lên chín, lên mười.
Soi gương tình chung đánh phấn,
Tang tích tịch tang tình tang,
Cho nó đẹp em sắp ra lấy chồng.
Ò ý e, ò e ý ò.
220. Lửng lơ vầng quế soi thềm,
Hương đưa bát ngát càng thêm bận
lòng.
Dao vàng bỏ đẫy kim nhung,
Biết rằng quân tử có dùng ta
chăng ?
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,
Ai đem người ngọc thung thăng chốn
này ?
221. Mai lan cúc trúc tứ hữu
thanh nhàn,
Ngộ tình cờ cây mọc gặp lá vàng
có xứng không ?
222. Mai rằng : Mai chiếm bảng
mai,
Trúc khoe quân tử trúc ở trên đồi
là đứng trượng phu.
Thôi thời giàu khó chớ lo,
Nữa một mai ông Thiên-địa lại cho
xoay vần.
Ta yêu nhau xa cũng nên gần,
Tham bên phú quí, phụ bần khó
coi.
Chớ ta yêu nhau duyên phận mà
thôi,
Của thì như nước hồng vơi lại đầy.
223. Mâm thau chùi sáng để
dưới ván thấy hình,
Cháo đậu xanh, đường cát trắng, mảng
sầu tình quên ăn.
224. Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ,
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy
nhau.
225. Mấy khi rồng gặp mây
đây,
Để rồng than thở với mây vài lời.
Nữa mai rồng ngược, mây xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây
226. Mẹ em khéo đẻ em ra,
Đẻ em gốc bưởi cho ta đèo bòng.
227. Mẹ già như chuối chín
cây,
Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu
cùng.
Khế với sung, khế chua, sung
chát,
Mật với gừng, mật ngọt, gừng cay,
Đấy với đây chẳng duyên thì nợ,
Đấy với đây chẳng vợ thì chồng,
Dây tơ hồng chửa xe đã mắc,
Rượu quỳnh tương chửa nhấp đã
say.
228. Miếng trầu ăn nặng bằng
chì,
Ăn rồi, em biết lấy gì đền ơn.
- Miếng trầu ăn nặng là bao,
Muốn cho đông liễu, tây đào là
hơn.
229. Miệng anh đọc cửu
chương,
Tay anh nương bàn toán,
Anh hỏi thăm nàng quê quán ở đâu
?
230. Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm lấy áo, ta đề câu thơ.
Câu thơ ba chữ đành rành :
Chữ « Trung », chữ « Hiếu », chữ
« Tình » là ta.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ
Tình.
231. Mình về đường ấy thời
xa,
Có về Tổng Mễ với ta cho gần.
Tổng Mễ có ao rửa chân,
Có sông tắm mát, có đình nghỉ
ngơi.
Tháng tám thì đi xem bơi,
Tháng hai xem rước, mình ơi hỡi
mình.
232. Mình về, mình nhớ ta
chăng,
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người
tình nhân.
Người tình nhân ta để trong cơi,
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ.
Đêm qua ba bốn lần mơ,
Chiêm bao thì thấy, dậy rờ thì
không.
233. Một đàn cò trắng bay
quanh,
Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ
ta.
Mình nhớ ta như cà nhớ muối,
Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng.
Mình về mình nhớ ta chăng ?
234. Một duyên, hai nợ, ba
tình,
Chim bao lẩn quất bên mình năm
canh.
Nằm một mình lại nghĩ một mình,
Ngọn đèn khêu tỏ bóng huỳnh bay
cao.
Trông ra nào thấy đâu nào,
Đám mây vơ vẩn, ngôi sao mập mờ.
Mong người lòng những ngẩn ngơ.
235. Một đàn cò trắng bay
chung,
Bên nam, bên nữ ta cùng cất lên.
Cất lên một tiếng linh đình,
Cho loan sánh phượng, cho mình
sánh ta.
Cất lên một tiếng la đà,
Đàn ông hát trước, đàn bà hát
sau.
236. Một thương, hai nhớ, ba
sầu,
Cơm ăn không được, ăn trầu ngậm
hơi.
Thương chàng lắm lắm chàng ơi !
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở
than ?
237. Một chờ, hai đợi, ba
trông
Bốn thương, năm nhớ, bảy, tám,
chín, mong, mười tìm.
238. Muốn cho sông cạn đò đầy,
Muốn cho chung mẹ chung thầy với
em.
239. Muốn ăn cơm trắng, cá
kho,
Trốn cha, trốn mẹ, xuống đò theo
anh.
240. Muống than thân muống,
Trứt đọt nấu canh,
Anh than thân anh,
Vợ con chưa có.
Người nói lòng nọ,
Kẻ nói lòng kia,
Liều mình như súng bắn bia,
Biết làm sao cho đặng, sớm khuya
cùng nàng.
241. Mưa từ trong núi mưa
ra,
Mưa khắp thiên hạ, mưa qua Chùa
Thầy.
Đôi ta bắt gặp nhau đây,
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.
242. Năm ngoái anh lên ngọn
sông Ngâu,
Dầm sương dãi nắng, chẳng tìm đâu
bằng nàng.
Năm nay anh về lắm bạc, nhiều
vàng,
Để anh sắm sửa thời nàng lấy anh.
Lấy anh, anh sắm sửa cho,
Sắm ăn, sắm mặc, sắm cho chơi bời.
Khuyên em có bấy nhiêu lời,
Thủy chung như nhất là người phải
nghe.
Mùa đông lụa lụa, the the,
Mùa hè bán bạc hoa sòe sắm khăn.
Sắm gối thì phải sắm chăn,
Sắm gương, sắm lược, sắm ngăn đựng
trầu.
Sắm cho em : đôi lược chải đầu,
Cái ống đựng sáp vuốt đầu cho
xinh.
243. Năng mưa thì giếng năng
đầy,
Anh hay đi lại cho thầy mẹ
thương.
244. Ngày nào mà đặng gần
mình,
Mới là hết bịnh tư tình cùng em.
245. Ngày ngày ra đứng bờ
sông,
Sông xa xa tít cho lòng em đau.
Nhớ ai đứng tủi, ngồi sầu,
Mình ve sương tuyết bao lâu mà
mòn.
246. Ngày ngày em đứng, em
trông,
Trông non, non ngất, trông sông,
sông dài.
Trông mây, mây kéo ngang trời,
Trông trăng, trăng khuyết, trông
người, người xa.
247. Ngó đâu ngó đó thì vui,
Ngó về xóm cũ ngùi ngùi nhớ em.
248. Ngó ra sông cái, ngó
hoáy thấy đình,
Hạc chầu thần còn đủ cặp,
Huống chi mình lẻ đôi.
Ngó lên đầu tóc hai vòng,
Thấy mình yểu điệu chạnh lòng
thêm thương.
249. Ngó vô nhà nhỏ,
Thấy đôi liễn đỏ,
Có bốn chữ vàng,
Thạnh suy anh chưa biết, thấy
nàng vội thương.
250. Ngọc còn ẩn bóng cây
tùng,
Thuyền quyên chỉ đợi anh hùng mà
thôi.
251. Ngọc sa xuống giếng, ngọc
biến thủy tinh.
Gặp mặt nhau đây kết nghĩa chung
tình,
Dẫu ăn cơm quán, ngủ đình cũng
ưng.
252. Ngọc làng ai nỡ bán
rao,
Chờ người quân tử mà trao ngọc
lành.
253. Ngọc còn ẩn đá chờ
vàng,
Anh đây ẩn sĩ chờ nàng lớn khôn.
254. Ngồi buồn gởi bức thư
sang,
Có con rồng bạch chắn ngang giữa
trời.
Vậy nên thư chẳng tới nơi,
Trong thư ai biết những lời làm
sao.
255. Ngồi buồn tính đốt ngón
tay,
Tính đi tính lại ngón này hơn
trăm.
256. Nhà anh cách đây, nhà
em cách đó,
Cách đây, cách đó, cách chẳng bao
xa.
Đi đâu chẳng ghé lại nhà,
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm
em.
257. Nhạn lạc bầy hai ngả
kêu sương,
Cá ao hồ trông nguyệt, đêm trường
trông em.
258. Nhớ ai, nhớ mãi thế
này,
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên
ăn.
259. Nhớ ai dãi nắng dầm
mưa,
Nhớ ai tát nước bên đàng hôm nao.
260. Nhớ ai, em những khóc
thầm,
Hai hàng nước mắt đầm đầm như
mưa.
Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai.
Nhớ ai bôi hổi, bồi hồi,
Như đứng đống lửa, như ngồi đống
than.
261. Nhớ ai lơ lửng đầu cầu,
Lược thưa biếng chải, gương Tàu
biếng soi.
262. Nhớ ai như nhớ thuốc
lào,
Đã chôn điếu xuống, lại đào điếu
lên.
263. Nhớ ai con mắt lim dim,
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
264. Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người tình
nhân.
265. Nhứt nhựt bất kiến như
tam nguyệt hề,
Thăm em một chút, anh trở lộn về.
266. Nói lời thì giữ lấy lời,
Đừng như con bướm đậu rồi lại
bay.
267. Nói ra cho cô bác đừng
cười,
Để cho tôi bắt bộ một người áo
đen.
Áo đen tra nút cũng đen,
Tôi hò với người lạ, chớ người
quen không hò.
Tới đây chào hỏi quí nương,
Chào ông chủ ruộng, người thương
tôi người nào,
268. Nước trong giếng đá, cá
lội thấy hình,
Thấy em có nghĩa, động tình anh
thương.
269. Nước trong cá lội, thấy
kỳ,
Thấy em ăn nói ngoan nghì anh
thương.
270. Nước còn quyện cát làm
doi,
Huống chi ta chẳng tày bồi lấy
nhau.
271. Nước trong ai chẳng rửa
chân,
Cái má trắng ngần ai cũng muốn
hôn.
272. Nước mắm ngon dầm con
cá đối,
Nhắn với nàng đợi tối anh qua.
273. Nước ròng chẳng thấu
Nam-vang,
Sớm trưa hái tảo, bẻ tần em dâng.
274. Ơn cha rộng thinh thinh
như biển,
Nghĩa mẹ dài dặc dặc bằng sông,
Thấy em phận gái chưa chồng,
Dầm sương phản mại nên lòng anh
thương,
275. Phải chi trời khiến em
gần,
Sớm trưa hái tảo, bẻ tần em dâng.
276. Phải chi sông cái có cầu,
Em qua em giải cơn sầu cho anh.
277. Phụng hoàng sắp sửa muốn
bay,
Thấy người quân tử chau mày khá
thương.
278. Phượng hoàng lẻ bạn sầu
tư,
Em đây lẻ bạn cũng như phượng
hoàng.
279. Qua đình ghé nón trông
đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình
bất nhiêu.
280. Quạ kêu nam đáo nữ
phòng,
Người dưng khác họ đem lòng nhớ
thương.
281. Quay tơ phải giữ mối
tơ,
Dầu năm bảy mối cũng chờ mối anh.
282. Quế càng già càng tốt,
Mía càng đốt càng ngon,
Anh thương em đặng nghĩa vuông
tròn,
Mấy sông cũng lội, mấy hòn cũng
leo.
283. Quí hồ anh có lòng
thương,
Em có lòng đợi như rương khóa rồi.
284. Ra về không dứt mà về,
Bỏ non, bỏ nước, bỏ lời thề cho
ai.
285. Ra về để áo lại đây,
Để khuya em đắp gió tây lạnh
lùng.
286. Ra về anh chẳng cho về,
Cầm tay kéo lại xin đề câu thơ.
287. Rau răm đất cứng dễ bứng
khó trồng,
Anh thương em từ thuở mẹ bồng
trên tay.
288. Rồng nằm ngoài Huế, ngựa
tế Đồng-nai,
Nước sông trong chảy lộn sông
ngoài.
Thương em xa xứ lạc loài tới đây.
289. Rượu nằm trong nhạo chờ
nem,
Anh nằm phòng vắng chờ em đôi
ngày.
290. Rượu ngon cái cặn cũng
ngon,
Thương em chẳng luận chồng con mấy
đời.
291. Rừng hoang sóc nhảy
tưng bừng,
Hoa chưa nở nhụy bướm đừng lao
xao.
292. Sáng trăng, sáng cả vườn
đào,
Ba cô đứng đó, cô nào chồng chưa.
Cô đây quả thiệt chưa chồng,
Để tôi gá chút má hồng vô duyên.
293. Sáng ngày cắp nón ra
đi,
Gặp thằng đỏ hỏi rằng : Dì đi đâu
?
Dì rằng : Mang giỏ hái dâu
Gặp dượng thằng đỏ ngồi câu bên
đường.
Thấy dì, dượng nó cũng thương.
294. Sao vua chín cái nằm
ngang,
Thương em hồi thuở mẹ mang trong
lòng.
295. Sáng trăng giã gạo giữa
trời,
Cám bay phất phưởng thương người
xứ xa.
296. Sầu ai mặt nọ không
vui,
Hay là sầu duyên nợ, nói tui sầu
giùm.
297. Sóng bên doi, bỏ vòi
qua vịnh,
Anh với nàng trời định đã lâu.
298. Sông Tiền-đường cá lội
giao đuôi,
Kiều thương Kim-Trọng giả như tui
thương mình.
299. Sông sâu cá lội mất
tăm,
Chín tháng cũng đợi, mười năm
cũng chờ.
300. Sông sâu mà sắm đò
ngang,
Em nhiều nhân ngãi, em mang oán
thù.
301. Sông sâu sào vắn khó
dò,
Muốn qua thăm bậu sợ đò không
đưa.
302. Sông hồ một giải con
con,
Gặp cơn sóng giò chớ non tay
chèo.
Yêu nhau sinh tử cũng liều,
Thương nhau lặn suối, qua đèo có
nhau.
303. Sông bao nhiêu nước
cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng
lòng.
304. Sông kia nước chảy lờ đờ,
Con thuyền lững vững với trăng mờ
nào soi.
Con sông bên lở, bên bồi,
Lở kia lở mãi, bên bồi bồi thêm.
Lúc bao giờ gió đứng, sóng êm,
Con thuyền anh xuôi ngược qua đêm
lại về.
Với em anh trót nặng lời thề.
305. Sợ đó không ưng,
Đó ưng đây anh mừng biết mấy,
Hễ anh thương rồi cha mẹ thấy
cũng thương.
306. Sơn lâm mất cội tương
vàng,
Cành bao nhiêu lá, thương chàng bấy
nhiêu.
307. Ta nghe tiếng hát đâu
đây,
Ta về rút chiếc thuyền mây đi
tìm.
Ta nghe tiếng hát bên kia,
Ta về ta bảo mẹ cha sang mời.
308. Tàu Nam-vang chạy ngang
cồn cát,
Xuồng câu tôm hớt sát mé nga,
Anh thấy em có một mẹ già,
Muốn vô hoạn dưỡng biết mà đặng
không ?
309. Tay cầm cái kéo con
dao,
Chọc trời, vạch đất lấy nhau phen
nầy.
310. Tay cầm cái kéo cây
kim,
Vai mang hàng lụa đi tìm thợ may.
Tìm anh bảy tám hôm nay,
Mượn may cái áo, mượn may cái quần.
311. Tay cầm cuốn sách bìa
vàng,
Sách bao nhiêu chữ dạ anh thương
nàng bấy nhiêu.
312. Tay tiên rót chén rượu
đào,
Đổ đi thì tiếc, uống vào thì say.
Chẳng chè chẳng chén sao say ?
Chẳng thương, chẳng nhớ sao hay
đi tìm.
Tìm em như thể tìm chim,
Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Đông.
313. Tay bưng chậu cúc năm
bông,
Chờ anh chẳng đặng nên trồng xuống
đây.
314. Tay cầm cây viết liếc
xem,
Thấy ai đi đó tưởng tình nương vội
mừng.
315. Tiếc công anh vạch lỗ
chun rào,
Thăm không đặng bậu, hàng rào nó
cào trầy lưng.
316. Tiếng đồn cặp mắt em
lanh,
Ai ai không ngó, cứ anh, em nhìn.
317. Tình cờ bắt gặp nàng
đây,
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần.
May xong anh trả tiền công,
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho.
Anh giúp cho một thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Anh giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo.
Anh giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng
cau.
318. Tình nhân ơi hỡi tình
nhân !
Lại đây ta kể mưa xuân, nắng hè.
319. Tình về Đại-lược,
Duyên ngược Kim-long.
Đến đây là chỗ rẽ lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến
nào ?
320. Tình cờ bắt gặp nàng
đây,
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần.
Để mà kết nghĩa tương thân,
Mai ngày chỉ Tấn, tơ Tần xe
duyên.
321. Tình cờ anh gặp nàng
đây,
Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.
Rồng gặp mây, bán văn, bán vũ,
Cá gặp nước, con ngược, con xuôi.
Chồng Nam vợ Bắc anh ơi,
Sao anh chẳng lấy một người như
em ?
322. Tình cờ bắt gặp nàng
đây,
Hỏi rằng duyên ấy tình nầy làm
sao ?
Cái gì là mận, là đào,
Cái gì là ngãi tương giao hỡi
nàng ?
323. Tính tháng rồi lại tính
năm,
Tính tháng tháng đoạn, tính năm
năm rồi.
Đôi ta biết thuở nào nguôi.
324. Tóc em dài lại cài hoa
lý,
Thấy miệng em cười thắm ý anh
thương.
325. Tối trời đom đóm chớp
giăng,
Xa em một bữa mấy cái khăn ướt dầm.
Mưa sa sấm chớp ầm ầm,
Tuy chưa gặp cuộc ăn nằm cũng
thương.
326. Tối trời như mực như
than,
Thương anh bất quản đỗi đàng xa
xôi.
327. Tơ tằm đã vấn thì
vương.
Đã trót dan díu, thì thương nhau
cùng.
328. Tới đây chiếu trải trầu
mời,
Can chi mà đứng giữa trời sương
sa.
329. Từ khi bước cẳng xuống
thoàn,
Bao nhiêu sóng dợn thương chàng bấy
nhiêu.
330. Thân em như tấm lụa
đào,
Còn nguyên hay xé vuông nào cho
ai ?
331. Thẩn thơ đứng gốc cây
mai,
Bóng tôi, tôi nghĩ, bóng ai, tôi
lầm.
332. Thẩn thơ đứng gốc mai
già,
Hỏi thăm ông nguyệt có nhà hay
không ?
333. Thấy em nhỏ thó lại có
duyên ngầm,
Anh phải lòng thầm hơn mấy năm
nay.
334. Thấy anh lịch sự có
duyên dịu dàng,
Thấy anh em cũng mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết
đôi.
Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,
Ai ngờ anh đã vội dời gót loan.
Thiếp tôi mê mẩn canh tàn,
Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi
bên,
Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên,
Tương tư, bệnh em nó phát liên
miên cả ngày.
Ngỡ rằng duyên nợ đó đây,
Xin chàng hãy lại chơi đây chút
nào.
Cho thiếp tỏ thiệt mới nao.
335. Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp người đẹp nết lại tươi răng
vàng.
Vậy nên anh gởi thơ sang,
Tình cờ anh quyết lấy nàng mà
thôi.
336. Thấy em như chói mặt trời,
Chói chang khó chịu, trao lời khó
trao.
337. Thấy bạn mà chẳng thấy
chàng,
Bâng khuâng như mất lạng vàng
trên tay.
338. Thiên duyên kỳ ngộ gặp
chàng,
Khác gì như thể phượng hoàng gặp
nhau.
Tiện đây ăn một miếng trầu,
Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là.
Xin chàng quá bước vào nhà,
Trước là hỏi chuyện, sau là nghỉ
chân.
Thiền quang đãng rật,
Thục khí nhân huân.
Ngũ lão ban đồng kiên lão,
Tam đa chúc hiệp hoa phong,
Tam đạt tôn chữ Sĩ làm đầu,
Ai ai cũng mừng ông Trùm tuổi thọ.
Sách có chữ rằng :
« Tuế hữu tứ thời Xuân tại thủ,
Nhân kiêm ngũ phúc thọ vi tiên ».
Mừng ông Trùm đây Phúc Lộc kiêm
tuyền.
Lại gồm chữ « Hương trung thượng
thọ ».
Tước lộc thế mà danh lợi thế,
Dẫu nghìn năm còn tiếng thơm dai,
Thảnh thơi thọ vực xuân đài,
Đâu đâu cũng hoan hài ca vũ.
339. Thiếp mà chẳng đặng gần
chàng,
Quyết lòng chờ đợi hoa tàn cũng
ưng.
340. Thò tay mà ngắt ngọn
ngò,
Thương em đứt ruột, giả đò ngó
lơ.
341. Thuyền tình đã ghé tới
nơi,
Khách tình sao chẳng xuống chơi
thuyền tình.
Thuyền không đỗ bến Giang-đình.
342. Thuyền ngược hay thuyền
xuôi,
Thuyền về Nam-định cho tôi ghé nhờ.
Con gái chỉ nói ỡm ờ !
Thuyền anh chật chội còn nhờ làm
sao.
Miệng nói tay anh bẻ lái vào,
Rửa chân cho sạch bước vào trong
khoan.
Thuyền dọc anh trải chiếu ngang,
Anh thời nằm giữa hai nàng đôi
bên.
343. Thuyền trôi trước,
Cho tôi lướt đến cùng,
Chiều đã về trời đất mung lung,
Phải duyên thì xích lại
Cho đỡ não nùng tiếng sương.
344. Thuyền đã đến bến, anh
ơi,
Sao anh chẳng bắc cầu noi lên bờ.
345. Thuyền ơi có nhớ bến
chăng ?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi
thuyền,
346. Thuyền ai đứng chực bên
sông,
Có lòng đợi khách hay không hỡi
thuyền ?
Để ta kết nghĩa làm quen.
347. Thúng lủng trôn khôn
bưng khó bợ,
Anh tới chốn nầy bợ ngợ có em.
348. Thuở hồi anh nhỏ thầy
anh có bảo rằng :
Cứ chuyên tập nghiệp hằng,
Phải siêng năng đọc sách
Câu : Võ vô thiết tỏa năng lưu
khách,
Sắc bất ba đào dị nịch nhân,
Xét xa rồi lại xét gần,
Thấy em ai khiến mười phần nên
thương.
349. Thương em anh biết để
đâu,
Để vào tay áo, lâu lâu lại dòm.
350. Thương anh chẳng biết để
đâu,
Để vào khúc gỗ hai đầu sơn son.
351. Thương anh dầu dãi nắng
mưa,
Hết khơi ruộng thấp, cày bừa ruộng
cao.
352. Thương nhau nên phải đi
tìm,
Nhớ nhau một lúc như chim lạc
đàn.
353. Thương em chẳng dám vô
nhà,
Đi ngang qua ngõ hỏi gà bán
không.
354. Thương em vô giá quá chừng,
Trèo non quên mệt, ngậm gừng quên
cay.
355. Thương em anh cũng muốn
vô,
Sợ truông nhà Hồ sợ phá
Tam-giang.
356. Thương em như lá đài
bi,
Ngày thì dãi nắng đêm thì dầu
sương.
357. Thương em thuở áo mới
may,
Bây giờ áo rách thay tay vá
quàng.
358. Thương sao thấy mặt
thương đành,
Hay là tơ nguyệt để dành cho anh.
359. Trái bòn hòn trong tròn
ngoài méo,
Trái thầu dâu trong héo ngoài
tươi.
Em thương anh ít nói ít cười.
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con
trăng.
360. Trăm năm đá nát vàng
phai,
Lời nguyền với bạn, nhớ hoài
không quên.
361. Trầu bọc khăn trắng cau
tươi,
Trầu bọc khăn trắng, đãi người
xinh xinh
Ăn cho nó thỏa tâm tình,
Ăn cho nó thỏa sự mình với ta.
362. Trầu nầy, trầu quế, trầu
hầu,
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi
lấy mình.
Trầu nầy trầu tính, trầu tình,
Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình
lấy ta.
Trầu nầy têm tối hôm qua,
Giấu cha, giấu mẹ đem ra cho
chàng.
Trầu nầy không phải trầu hàng,
Không bùa, không thuốc, sao chàng
không ăn ?
Hay là chê khó chê khăn,
Xin chàng đứng lại mà ăn miếng trầu.
363. Trầu ăn là nghĩa,
Thuốc xỉa là tình,
Đội ơn phụ mẫu sinh mình dễ
thương.
364. Trầu em, trầu gói trong
khăn,
Trầu gói trong áo, anh ăn sao
đành.
365. Trèo lên cái núi
Thiên-thai,
Gặp hai con phượng ăn xoài trên
cây,
Đôi ta được gặp nhau đây,
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng.
366. Trên trời có đám mây
xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây
vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thời anh mua gạch Bát-tràng về
xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt, cho nàng rửa
chân.
367. Trên đầu em đội khăn
vuông,
Trông xuống dưới ngực, cau buồng
còn non.
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Mặt mũi vuông vắn chồng con thế
nào ?
368. Trên trời có chín từng
mây,
Anh còn trèo được nữa duyên có
mình.
369. Trên trời sa xuống hai
tiên,
Lòng anh không mộ, mộ duyên của
nàng.
370. Trong nhà anh lát đá
hoa,
Chân tảng đồng bạch, lợp nhà tiền
trinh.
Cửa bức bàn anh lồng kính thủy
tinh,
Hai bên bức thuận anh chạm tứ
linh, rồng chầu.
Nhà anh kín trước rào sau,
Tường đâu bốn mặt, hơn đâu hỡi
nàng ?
Nhà anh vóc nhiễu nghênh ngang,
Nhiễu điều lót áo cho nàng đi
chơi.
Áo nàng anh sắm đủ mười đôi,
Bộ ba áo nhiễu để mặc chơi ngày
thường.
Dù nàng có bụng nàng thương,
Thì anh quyết đóng bốn thang giường
gỗ lim.
371. Trông anh như thể nghìn
vàng,
Bỏ ra thì khách hồng nhan được nhờ.
Anh như chỉ thắm thêu cờ,
Em như rau má lờ mờ giếng khơi.
Dù anh mà chửa có nơi,
Em xin vượt bể qua trời theo anh.
372. Trồng hường bẻ lá cho
hường,
Thương em bất quản đỗi đường xa
xôi.
373. Trống quỳnh tiên đánh
trước,
Kèn nhà nước thổi sau,
Ba mươi lăm xu không nỡ làm giàu.
Xin cho thấy mặt không chào cũng
vui.
374. Trời mưa ướt áo em rồi,
Kiếm nơi có lửa lần hồi mà hơ.
375. Trời xanh kinh đỏ đất
xanh,
Đĩa bu muỗi cắn làm anh nhớ nàng.
376. Trời mưa xắn ống cao quần,
Hỏi cô bán thuốc nhà gần hay xa.
377. Trời vần vũ mây giăng bốn
phía,
Nước biển đông sóng dợn tư bề.
Biết làm sao cho nên nghĩa phu
thê,
Đó đây chồng vợ đi về có đôi.
378. Trời vần vũ mây phủ tối
tăm,
Bấy lâu thổn thức ngã tâm,
Làm sao chung gối ngồi nằm với
nhau.
379. Trước tôi chào anh em
đông đủ,
Sau tôi chào bạn cũ bá niên,
Câu chào câu hỏi đà yên,
Còn câu gá nghĩa chào riêng mình
chàng.
380. Trước đường xe ngựa bời
bời,
Bụi hồng mờ mịt, ai người mắt
xanh.
381. Ước gì anh lấy được
nàng,
Thì anh gánh gạch Bát-tràng về
xây.
382. Ước ao ăn ở một nhà,
Ra đụng vào chạm kẻo mà nhớ
thương.
383. Ước gì anh hóa ra dưa,
Để em đem rửa nước mưa chậu đồng.
Ước gì anh hóa ra hồng,
Để cho em bế, em bồng trên tay.
384. Ước gì em hóa ra giơi,
Bay đi bay lại tới nơi anh nằm.
385. Ước gì sông hẹp một
gang,
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang
chơi.
386. Vách thành cao lắm khó
dòm,
Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con
ngươi.
387. Vào vườn hái quả cau
non,
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi Tàu,
Giữa đậm cát cánh, hai đầu quế
cay,
Trầu này ăn thiệt là say,
Dù mặn, dù lạt, dù cay, dù nồng.
Dù chẳng nên đạo vợ chồng.
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ
thương.
Cầm lược thì nhớ đến gương,
Cầm khăn nhớ túi, nằm giường nhớ
nhau.
388. Vào vườn hái quả cau
non,
Anh thấy em dòn, muốn kết nhân
duyên.
Hai má có hai đồng tiền,
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng
ưa.
- Anh đã có vợ con chưa ?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.
Mẹ già anh để nơi nao ?
Để em tìm vào hầu hạ thay anh,
Chả tham nhà ngói rung rinh,
Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.
Miệng cười anh đáng mấy mươi,
Chân đi đáng nén, miệng cười đáng
trăm.
Tờ giấy hồng anh phong chữ thọ,
Anh gửi thư nầy cả họ bình yên.
Văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình,
Mặt tuy chưa thấy mặt, nghe tình
nên thương.
389. Vì chàng thiếp phải bắt
cua,
Những như thân thiếp, thiếp mua
ba đồng.
Vì chàng thiếp phải long đong,
Những như thân thiếp cũng xong một
bề.
390. Vì tình ta phải tìm
tình,
Vì duyên ta biết quê mình ở đây.
391. Vì sàng cho gạo xuống
nia,
Vì em, anh phải đi khuya về thầm.
392. Vì chuôm cho cá bén
đăng,
Vì tình nên phải đi trăng về mờ.
393. Ví dầu ấy có lòng yêu,
Bảo ta gánh đá Đông-triều cũng
đi.
394. Vú em chum chúm chủm
cau,
Cho anh bóp cái có đau cũng đền.
Vú em chỉ đáng một tiền,
Cho anh bóp cái, anh đền quan
năm.
395. Xa đường mượn áo mà đi,
Xin cho tốt quế quản chi xa đường.
Trồng hồng bẻ lá che hồng,
Thương em chẳng quản nỗi đường xa
xôi.
Thương thương, nhớ nhớ, thương
thương,
Nước kia muốn chảy, mà mương
không đào.
396. Xa xôi em chớ ngại
ngùng,
Xa người xa tiếng, nhưng lòng
không xa.
397. Yêu nhau chữ vị là vì,
Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo.
398. Yêu nhau chẳng quản chiếu
giường,
Dẫu rằng tàu lá che sương cũng
tình.
398. Yêu nhau tam tứ núi
cũng trèo,
Thất bát khe cũng lội, tứ cửu,
tam thập lục đèo cũng qua.
399. Yêu nhau quá đỗi nên
mê,
Rồi sau mới biết kẻ chê người cười.
400. Yêu anh tâm trí hao
mòn,
Yêu anh đến thác cũng còn yêu
anh.
401. Yêu nhau cởi áo cho
nhau,
Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay.
402. Yêu nhau chẳng quản gần
xa,
Một ngày chẳng đến thì ba bốn
ngày.
403. Yêu nhau chẳng quản gần
xa,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng
qua.
404. Yêu em gánh gạch về
đây,
Chẳng đắp nên núi, cũng xây nên
thành.
405. Yêu nhau vạn sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.
406. Yêu nhau chẳng quản đường
xa,
Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng
liều.
407. Yêu anh cốt rũ xương
mòn,
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh.
b) QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN
Hôn nhân bắt nguồn từ sự luyến ái
giữa gái trai. Nó là bước đầu nẩy sinh chế độ gia đình, làm nền móng cho xã hội,
ràng buộc con người vào lẽ sống của tổ chức tập thể có qui củ. Trái lại, hôn
nhân cũng chịu ảnh hưởng ngược chiều do lẽ sống con người chi phối. Bởi vậy từ
nghìn xưa, không ai có thể phủ nhận tính chất quan trọng của nó.
Chúng ta đi tìm quan niệm hôn
nhân của người xưa tức là chúng ta đi tìm ý thức sống chung giữa trai gái, ước
vọng tạo lập gia đình, và gầy dựng sự nghiệp.
Ý thức ấy rải rác trong ca dao, tục
ngữ rất nhiều. Tuy nhiên, dân tộc Việt-nam vừa bước vào thời kỳ bán khai đã bị
lệ thuộc vào nước Tàu, chế độ phụ hệ của người Tàu gieo ảnh hưởng vào chế độ
cai trị ở Việt-nam, khiến dân tộc ta từ khi bắt đầu nhận thức được lẽ sống, nói
lên tiếng nói của tâm tư mình, thì cũng là lúc bắt đầu thu nhận một chế độ gia
đình đã thành hình sẵn.
Đó là một đau khổ, một bất công
cho nữ giới mà người đàn bà Việt-nam suốt mấy nghìn năm đã phải cam chịu.
Từ chế độ phụ hệ đi đến chế độ phụ
quyền, tập trung quyền lực vào đàn ông, vào kẻ làm cha mẹ, khiến con cái mất hẳn
quyền định đoạt cuộc đời mình, mà trong lãnh vực hôn nhân, người đàn bà chịu
thiệt thòi hơn hết.
Nếu có một nhà cách mạng nào đã
nói một cách xác đáng : « Con người là một con vật với cái gì rồi nó cũng
quen », cho nên, dù chịu dưới áp lực của chế độ xã hội, nhưng ai ngăn cấm
được tiếng lòng của gái trai rào rạt dâng lên theo tiếng chày khua trong những
đêm trăng dằng dặc, tiếng liềm xào xạc trên ruộng lúa, tiếng chèo khuấy lăn tăn
mặt nước, tiếng võng kẽo kẹt lúc trưa hè…
Từ những tiếng động gợi tình, những
cảnh vật huyền ảo bao quanh cuộc sống của những tâm hồn vừa chớm nở hoa xuân,
khiến họ cảm thấy dồi dào nguồn sống, sự luyến ái nẩy nở, lòng họ khao khát yêu
đương, và họ mơ màng ước ao một đối tượng yêu đương, một ý trung nhân, hay rõ
hơn, một người chồng lý tưởng. Do đó mà quan niệm hôn nhân đã được bộc lộ, cởi
mở bằng những lời ca dao mộc mạc, cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn được nghe
âm thanh ấy vang vang trên lòng đất Mẹ.
Đừng tưởng tiền nhân chúng ta, những
người bình dân khổ cực ấy không có ý thức đối với lẽ sống ! Tuy phải làm lụng vất
vả suốt ngày trong nắng hạ mưa đông, mặt cháy mày nám, nhưng tâm hồn họ vẫn
vươn lên tìm cho mình một sức sống.
Sức sống ấy chính là ý thức phản
lại những gì đang bóp chết tâm hồn và thể xác họ.
Con người và lẽ sống là hai yếu tố
tương quan và hiện diện mãi, dù ở thời đại nào, con người cũng vẫn tranh đấu
cho hai yếu tố ấy. Chúng ta không thể phủ nhận một trong hai yếu tố ấy mà bảo vệ
được sự tồn tại của tổ chức sinh hoạt của con người. Cho nên, chế độ hôn nhân
là của xã hội, của một ý thức hệ, của guồng máy cai trị, mà quan niệm hôn nhân
là của con người, của ý sống. Nhưng con người lại bị ràng buộc trong xã hội, lẽ
dĩ nhiên quan niệm hôn nhân hay ý sống vẫn phải chịu ảnh hưởng theo trình độ
sinh hoạt xã hội, song bản chất của nó vẫn không xa rời con người.
Bản chất ấy dậy men và bốc lên
thành tiếng hát từ ngàn xưa vọng lại, mà tâm hồn chúng ta ngày nay còn cảm
thông được nỗi ray rứt trong lòng tiền nhân đã phải phân vân khi đứng trước
tình yêu và lẽ sống con người.
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
?
Em ngồi cành trúc em dựa cành
mai,
Đông đào tây liễu biết ai bạn
cùng ?
Tâm trạng ấy ở thế hệ ngày nay,
những người con gái đang yêu, và đang lựa chọn tình yêu, dù được hưởng một chế
độ xã hội tự do cởi mở hơn, nhưng chắc đã không một lần bối rối trước quan niệm
hôn nhân của mình.
Làm thế nào xây dựng đời mình đây
? Làm thế nào để khỏi trợt chân khi bắt đầu bước vào cuộc sống ?
Dè dặt ư ? Thận trọng ư ? Nhưng
cái nghĩa thời gian thì sao ?
Khi tâm tư chúng ta chưa quyết định,
thì ngoài kia, trong buổi sáng tinh sương, ánh mặt trời mềm dịu như nhung tơ
đang sưởi ấm những cành hoa vừa hé nhụy, và những cành hoa ấy cứ âm thầm lớp lớp
nở rồi tàn.
Thử trèo lên mặt đê, nhìn về những
cây mạ non chúng ta vừa mới cấy ngày nào, bây giờ đã ngậm dòng trổ gié. Nguồn sống
của lúa non vươn lên theo dung lượng chồng chất của thời gian khiến lòng người
vì đó mà luyến tiếc tuổi xuân xanh.
Còn duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về trưa một
mình.
Còn duyên đóng cửa kén chồng,
Hết duyên ngồi gốc cây hồng nhặt
hoa !
Còn duyên kén cá chọn canh,
Hết duyên củ ráy dưa hành cũng
trôi.
Còn duyên kén những trai tơ,
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng
!
Duyên ! Một vấn đề quan hệ đối với
hôn nhân ! Nhưng một chàng trai thời xưa đã quan niệm duyên như thế nào ? Dĩ
nhiên họ không coi ý nghĩa « duyên » như ý nghĩa của tôn giáo. Ý nghĩa duyên của
họ, chúng ta thường được nghe giải thích qua câu hát của những mục đồng :
Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con gái có duyên
Đồng tiền có lỗ…
Vậy « duyên » ở đây có thể là một
mái tóc huyền, một nụ cười hàm tiếu, một vành khăn nâu, một làn da trắng, một
chiếc yếm điều… hoặc tất cả những gì đưa họ vào luyến ái. Chúng ta có thể hiểu
theo ý nghĩa rộng hơn thì « duyên » là mức sống, là cái gì đang vươn lên tràn
ra ngoài thể chất, là hấp dẫn lực lôi cuốn tâm hồn đối tượng chìm đắm trong cảm
khoái say sưa, có khi khứu giác ta còn bắt gặp mùi vị ngọt lịm của hương yêu.
Trong phút giây ngây ngất ấy, sự phân tích thẩm mỹ của nhãn quan dường như giao
trách vụ lại cho sự nhận định cái duyên của tâm hồn. Và khi chúng ta muốn làm kẻ
hưởng thụ cái duyên tức là chúng ta muốn đi tìm sức sống ấy.
Thời gian đem đến cho mỗi con người
chúng ta một sức sống thì thời gian cũng sẽ đoạt mất trong con người chúng ta sức
sống ấy. Người bình dân trước kia không cần suy luận như chúng ta, nhưng vẫn
quan niệm được điều đó.
Thời gian đối với hôn nhân rất
quan hệ ; nó thúc bách, cho nên quan niệm kén chọn của người xưa nhiều lúc tỏ
ra bâng khuâng trước định mệnh :
Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần,
Làm thân con nhện mấy lần vương
tơ !
Chắc về đâu trong đục mà chờ,
Hoa thơm mất tiết biết nương nhờ
vào đâu !
Đâu đã hết ! Sức sống thoát ra
trên con người chưa hẳn là yếu tố quyết định ! Hôn nhân còn chịu ảnh hưởng vào
sức sống của xã hội, sức sống thực tại bằng áo, bằng cơm, bằng mồ hôi, nước mắt
nữa. Cho nên nhiều lúc cái duyên của luyến ái bị sức sống xã hội ám ảnh, làm
cho quan niệm hôn nhân của người xưa dồn vào chỗ mung lung bất định. Trạng thái
tâm tư ấy, chúng ta có thể ghi nhận ở những câu hát sau đây :
Rắp mong trời sa xuống cõi trần,
Hỏi xem duyên kiếp, nợ nần ra sao
?
Tím gan thay, khách má đào,
Mông mênh bể Sở dễ vào khó ra,
Hươu trót đã mắc phải chà,
Khi vào thì dễ, khi ra hiểm
nghèo.
Hai sức sống trên con người và
ngoài xã hội tuy tương quan nhưng lại mâu thuẫn nhau. Chính sự tương quan trong
mâu thuẫn ấy tạo thành dòng lịch sử tâm tư trong quan niệm hôn nhân từ sơ cổ dẫn
đến thế hệ chúng ta, và có lẽ còn mãi mãi chưa biết bao giờ dứt.
Thật vậy, từ nghìn xưa, trong tâm
tư con người, quan niệm hôn nhân đã chia thành hai chiều hướng : quan niệm
hôn nhân vị luyến ái và quan niệm hôn nhân vị mưu sinh.
1) Quan niệm hôn nhân vị luyến
ái cho đời sống hôn nhân là cái gì cao đẹp về tinh thần, cái gì hòa hợp của
tình cảm giữa trai gái. Đôi vợ chồng không thể sống chung nhau trong dị biệt
về tư tưởng, về mỹ quan, v.v… Do đó, họ chủ trương vợ chồng phải xứng lứa vừa
đôi :
Màn hoa lại trải chiếu hoa,
Bát ngọc đũa ngà thì phải mâm
son.
Những người chủ trương cho luyến
ái là thiết yếu đối với hôn nhân, họ chối bỏ mọi ràng buộc về sinh sống trong
quan niệm hôn nhân. Nguồn hạnh phúc gia đình đối với họ không phải ở chỗ giàu
sang, mà ở chỗ đẹp duyên. Đẹp duyên ở đây có nghĩa là xứng vợ xứng chồng, hòa hợp
tình cảm.
Phải duyên, thì bám như keo,
Trái duyên, trái kiếp như kèo đục
vênh.
Họ bảo : « Nhân nghĩa khó kiếm,
tiền bạc dễ tìm ». Sự hòa hợp tình cảm lứa đôi sẽ là năng lực tạo nên sự nghiệp
vật chất :
Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông
cũng cạn.
Bởi vậy nghèo khó đối với họ
không quan trọng bằng chênh lệch lứa đôi. Một cô thôn nữ khi đã có quan niệm
hôn nhân vị luyến ái tất nhiên sẽ xem nhẹ tiền của, địa vị, mặc dù cô ta đang sống
trong khổ cực :
Số em giàu lấy khó cũng giàu,
Số em nghèo chín đụn mười trâu
cũng nghèo.
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm
chi.
Chữ nhân duyên thiên tải nhất
thì,
Giàu ăn khó chịu lo gì mà lo.
Với quan niệm ấy, họ chọn vợ kén
chồng không căn cứ vào địa vị xã hội, không cần đặt vấn đề con dòng cháu giống.
Họ chủ trương :
Trai khôn tìm vợ chợ đông,
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba
quân.
Nguồn giao cảm giữa cá nhân quyết
định tất cả. Chẳng những họ chú trọng phương diện cân xứng về tinh thần, mà còn
chú trọng về mặt thăng bằng thể chất nữa.
Về tinh thần, họ nhắm trọng tâm
chỗ khôn dại, như :
Vợ khôn lấy thằng chồng dại,
Tỷ như hoa lài cặm bãi cứt trâu.
Tiếc thay con người da trắng tóc
dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu.
Rồng vàng tắm vũng ao tù,
Người khôn ở với đứa ngu bực
mình.
Sự chênh lệch về tinh thần đối với
vợ chồng xưa cũng như nay, chúng ta thấy quả là một trở ngại lớn lao trong việc
xây dựng hạnh phúc gia đình. Những cảm nghĩ của người xưa không phải tự nhiên
mà có, chính họ đã đạt được một phần kinh nghiệm do tiền nhân để lại, và một phần
do nhận định trong tâm tư họ.
Dưới đây là điển hình một tan vỡ
tâm hồn khi bị đun đẩy đến hoàn cảnh trái ngược quan điểm hôn nhân. Các nàng
cùng nhau trách phận và đã run rẩy phản đối chế độ khắc nghiệt, nhưng cũng
không xong :
Chị em ơi ! Người ta thấy chồng
thì mừng.
Sao tôi thấy mặt chồng thì nóng
như gừng với vôi.
Cũng tại lấy chồng trước chẳng
kén đôi,
Từ ngày tôi lấy nó chẳng nguôi
trong lòng.
Ba bốn lần tôi trả cũng chưa
xong.
Tình yêu không đến với con người
bằng ý nghĩ, bằng lý luận, mà phải bằng giao cảm. Từ cảm giác đi vào ý thức ; nếu
sự giao cảm không đạt thì chẳng bao giờ có tình yêu. Giao cảm lại đòi hỏi mực
cung cầu tương ứng, vì vậy hạnh phúc vợ chồng phải xây trên sự khắn khít của
giao cảm. Chính vì vậy mà người xưa bực mình, thốt ra câu tục ngữ như :
Ông nói gà, bà nói vịt.
Hoặc câu ca dao như :
Lọng vàng che nải chuối xanh,
Tiếc con chim phượng đậu cành cây
khô.
Về thể chất, họ chủ trương đáp ứng
tương xứng tính chất thụ hưởng để đem lại công bằng, không bên nào bị thiệt
thòi. Chồng đẹp lấy vợ đẹp, chồng xấu lấy vợ xấu, đó là trạng thái công bằng.
Có công bằng thể chất thì tinh thần mới bình đẳng giữa vợ chồng được. Khi quan
niệm ấy lệch lạc, họ liền có ngay ý thức phê bình như sau :
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Răng đen rưng rức chồng con kém
người.
Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi !
Tiên ở với cú, người cười với ma
!
Con công ăn lẫn với gà,
Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên !
Nếu Nho-giáo chủ trương kén vợ
kén chồng dựa trên môn đăng hộ đối, xem đó là một vinh dự của hai bên về dòng
giống, thì ở đây quan niệm hôn nhân vị luyến ái lại xem sắc đẹp trai gái là một
tài sản, một vinh dự trời ban, nếu có sự chênh lệch về sắc đẹp giữa vợ chồng
thì là một sỉ nhục, phạm đến vinh dự của con người :
Tiếc thay cái tấm lụa đào,
Áo rách không vá, vá vào áo tơi.
Trời kia có thấu chăng trời !
Lụa đào mà vá áo tơi sao đành !
Đã chê trách những đôi vợ chồng
không xứng lứa, họ còn lớn tiếng phản đối những anh chồng xấu có tham vọng lấy
vợ đẹp, hoặc những cô gái xấu kén chồng đẹp :
Gió đưa lúc lắc cột chòi,
Đồ đen như mọi mà đòi vợ xinh !
Hoặc : Cóc mà mang guốc ai
ưa,
Đỉa đeo chân hạc sao vừa mà mong
!
2) Trái lại với quan niệm
hôn nhân vị luyến ái, quan niệm hôn nhân vị mưu sinh cho rằng hạnh phúc vợ chồng
tồn tại trên cơ sở sự nghiệp mới là yếu tố căn bản đem lại cho vợ chồng một nguồn
sống êm vui. Bởi vì hôn nhân là khởi điểm của gia đình, mà khi nói đến gia đình
tức là nói đến sự sinh sống hàng ngày có liên hệ đến mọi sinh hoạt xã hội, nói
đến cuộc tranh đua vật lộn với đời.
Con người sở dĩ phải tạo lập gia
đình, phải cấu kết thành họ hàng là để chung sức nhau chống lại sức mâu thuẫn của
loài người trong xã hội.
Bất kỳ với xã hội nào, mỗi con
người đều thụ nhận một sức ép, nếu kẻ nào không chống nổi sức ép ấy thì cũng
không thể nào tìm thấy cái tươi đẹp trong cuộc sống cá nhân nữa, bởi vì cá nhân
không thể tách rời cuộc sống xã hội.
Mặt khác, so với đời người thì
nhan sắc chỉ là cái gì tạm bợ, không tồn tại với thời gian, dù chỉ là thời gian
của đời người. Nếu xây dựng hôn nhân chú trọng trên nhan sắc tức là đã cố nắm
phần phụ mà quên mất phần chính của lẽ sống.
Những tâm tư trên đây, chính người
xưa đã nói lên qua những câu ca dao, như :
Anh ơi trẻ mãi ru mà,
Càng đo đắn lắm, càng già hết
duyên.
Hoặc : Trai ba mươi tuổi
đang xuân,
Gái ba mươi tuổi như đùm mắm nêm
!
Câu nói trên không phải nhất thiết
thốt ra từ cửa miệng của đàn ông để đề cao giống phái mình, mà chính người con
gái cũng cảm thấy những gì đau khổ khi nhan sắc bị tàn phai, nên họ đã than :
Một mai cúc ngã lan quì,
Bậu lò thân bậu, lo gì thân qua.
Mùa xuân không dừng lại với loài
người ! Khi những cánh én kia không còn bay lượn ở lưng trời, những thảm cỏ
xanh đổi màu vàng úa, tiếng ve sầu ngâm vang buồn nắng hạ, con người mới cảm thấy
những dòng nước trong kia rỉ rả chảy vào lòng đất chính là nguồn an ủi đối với
mọi sinh vật trước thiên nhiên.
Vì quan niệm lẽ sống ảnh hưởng
vào đời người như vậy, nên người xưa cũng đã mạnh dạn chủ trương hôn nhân vị
mưu sinh.
Quan niệm này không lựa vợ kén chồng
trên yếu tố xứng đôi vừa lứa, mà chú trọng vào địa vị, thế lực, vào sức sống vật
chất mạnh mẽ của người con trai, con gái hiện có. Họ cho rằng :
Chồng sang vợ được đi giày,
Vợ sang chồng được ghé ngày cậy
trông.
Khi đã chủ trương hôn nhân trên
quan niệm mưu sinh rồi, tất nhiên họ khai thác về khả năng tài sản và địa vị :
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công tô điểm má hồng răng đen.
Không tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.
Anh đồ ngày xưa là tượng trưng
cho ngựa xe, võng lọng, trượng trưng cho địa vị quan liêu. Ngày nay tuy anh chỉ
là chàng hàn nho, nhưng ngày mai, tên chiếm bảng vàng thì trước voi anh, sau
võng nàng, cuộc đời phong lưu phú quý như mở một đường hoa. Cái ngày rực rỡ ấy
không làm sao cho khỏi bao nàng gắm ghé :
Đi đâu chẳng lấy học trò,
Thấy người ta đỗ thập thò mà nom.
Hình ảnh tương lai huy hoàng ấy,
nhiều khi đã len lỏi vào tâm tư khiến họ mơ màng :
Đêm nằm nghĩ lại mà coi,
Lấy chồng hay chữ như soi gương
vàng.
Cùng với quan niệm ấy, họ còn đặc
biệt lưu tâm đến nòi giống, vì nòi giống tượng trưng cho giai cấp xã hội, mà thời
xưa, giai cấp xã hội rất quan trọng trong guồng máy sinh hoạt. Bởi vậy, sự quyết
định của họ như cầm chắc :
Mua thịt thì chọn miếng mông,
Lấy chồng thì chọn con tông nhà
nòi.
Tuy sự quyết định ấy, đôi khi thực
tế cũng phản lại ý thức của họ, nhưng họ vẫn bám lấy niềm an ủi :
Mạch trong nước chảy ra trong,
Thế nào đi nữa con dòng cũng hơn.
Với quan niệm vị mưu sinh, vì tôn
trọng sự sang giàu và địa vị xã hội, dần dần hôn nhân lệ thuộc vào quyền lực vật
chất, hơn nữa nằm trong chế độ phụ hệ, người đàn bà trở thành kẻ ỷ
lại, sống bám vào đàn ông ! Ý thức ấy phát hiện trong một tinh thần liều lĩnh :
Lấy chồng ăn của nhà chồng,
Ăn hết con mắt, khoét lòng con
ngươi.
Hoặc : Hẩm duyên lấy phải chồng
đần,
Có trăm mẫu ruộng bán dần mà ăn.
Cũng từ quan niệm hôn nhân trong
mưu sinh, họ dần dần dẫn đến phong tục thách nhau về hôn lễ. Chính sự thách đố
là hình thức phô trương sự giàu sang, địa vị của mình ; hơn nữa, là cây thước để
đo lường khả năng của đối tượng hôn phối. Bản chất thuần túy của hôn nhân vị
nhân sinh bị khai thác quá đáng đã khiến trong văn chương bình dân Việt-nam,
ngoài những câu phong dao biểu lộ phong tục cưới gả, chúng ta còn thấy những
bài hát có tính chất hài hước trong việc thách cưới sau đây :
Em là con gái nhà giàu,
Mẹ cha thách cưới ra màu xinh
sao.
Cưới em trăm tấm lụa đào.
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám
ngôi sao trên trời.
Trắp tròn, vấn đủ trăm đôi,
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng
vàng.
Sắm xe tứ mã đem sang,
Để quan viên với họ hàng đưa dâu.
Ba trăm nón Nghệ đội đầu,
Mỗi người một cái quạt Tàu cầm
xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi-đình,
May chăn cho rộng, tôi mình đắp
chung.
Cưới em chín chĩnh mật ong,
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi
vò,
Cưới em tám vạn trâu bò,
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm.
á đa mặt nguyệt hôm rằm,
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm
Thiên-lôi.
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi.
Xin chàng chín chục con dơi góa
chồng.
Thách thế mới thỏa trong lòng,
Chàng mà lo được thiếp cùng theo
chân.
Hôn lễ từ giản dị đến phức tạp,
gây thành một lề thói để khoe khoang, họ lấy sự khoe khoang ấy làm hãnh diện.
Cho đến một ngày nào đó, phong tục dựng vợ gả chồng nếu không có mâm cao cỗ đầy,
không có giàu dòng cả họ thì đôi trái gái tự cho mình là duyên phận hẩm hiu.
Chúng ta không lạ lùng gì khi một
cô gái sắp bước chân lên ngưỡng cửa đời, nuôi trong lòng một ước vọng :
Ước gì cho Bắc họp Đông,
Cho chim loan phượng ngô đồng
sánh đôi.
Ước gì cho quế sánh hồi,
Ước gì ta sánh được người văn
nhân.
Ước gì ta được quần thâm,
Thì ta làm cỗ mười mâm bánh dầy.
Bánh chưng có lẫn bánh dầy,
Giò hoa chả lụa ta bày lên trên.
Quang song tám giẻ cho bền,
Mượn người cho khỏe gánh lên họ
hàng.
Ta thấy, phong tục, lễ nghi ban đầu
chỉ có mục đích khoe khoang, dần dần ảnh hưởng vào tâm tư con người biến thành
một sức mạnh cổ động cho quan niệm hôn nhân vị mưu sinh.
Sắc đẹp là một liều thuốc mê, xưa
nay có thể làm say đắm những khách đa tình, đến nỗi người ta phải than :
Má hồng không thuốc mà say,
Nước kia muốn đổ, thành này muốn
nghiêng.
Thế mà, với người xưa, khi quan
niệm hôn nhân vị mưu sinh đã chi phối đời sống xã hội con người, ăn sâu vào lề
thói, thì sắc đẹp giảm mất hiệu lực. Đứng trước nữ sắc, người con trai không chỉ
nghĩ đến sự quyến rũ của cơ hình mà trong thâm tâm mãi bận rộn đến mưu sinh :
Giếng trong mà nước hôi phèn,
Tuy rằng em đẹp nhưng hèn mẹ cha
!
Ôi ! Người con gái hẩm hiu kia !
Sắc đẹp không còn là yếu tố duy nhất để quyết định đời mình trước một kẻ không
quan niệm hôn nhân vị luyến ái ! Sắc đẹp đối với họ không phải là một linh tượng
để tôn thờ. Nếu vì một tham vọng nhất thời nào đó đối với sắc đẹp thì kẻ ấy
cũng chỉ xem như luồng gió thoảng trước một chiều hè khi mồ hôi đang nhuễ nhoại,
chống cuốc ngồi nghỉ bên ven đồi. Thích thú đấy ! Nhưng gió mát không đem đến
cho họ một cảm khoái thiết thực bằng niêu cơm tấm, bát canh rau đang chờ họ lúc đói lòng.
Cho nên, sắc đẹp dễ bị họ phũ phàng :
Còn duyên anh cưới ba heo,
Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi
!
Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng tưởng
quan niệm hôn nhân vị mưu sinh chỉ làm mất ảnh hưởng giá trị của sắc đẹp mà
thôi. Thực ra nó còn ảnh hưởng đến nhiều phương diện khác nữa, khi giá trị con
người, giá trị đời sống lệ thuộc vào tiền bạc, danh vọng.
Một gã nông phu nghèo, khi muốn lấy
vợ giàu sang ít ra cũng phải tỏ cho mọi người thấy mình có tài tháo vát, đủ sức
gây nên một sự nghiệp để các cô thôn nữ nhìn vào đó, đặt một hy vọng tương lai
trong quan niệm hôn nhân.
Nếu một anh đồ, một hàn sĩ, lấy
bút nghiên làm mồi danh vọng mà được khách má hồng để ý, thì chính những anh
nông phu nghèo khổ kia cũng biết lợi dụng tài năng mình, cái tài cày sâu cuốc bẫm,
cái tài chịu đựng gian khổ để hứa hẹn với khách má hồng một nguồn sống vững
chãi ở tương lai.
Trạng thái đấu tranh tâm lý của
các nông phu đã làm đảo lộn một số cảm nghĩ của những chị em đồng ruộng sống
trong thực tế. Cho nên, chúng ta không lạ gì khi thấy có nàng cố gò gẫm sắc
đẹp bằng cách tô điểm má hồng răng đen để nhởn nhơ với anh hàn sĩ, thì lại cũng
có những cô xem nhẹ cái bút cái nghiên anh đồ :
Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.
Mùa đông trời rét căm căm,
Đi cấy được ba mươi sáu đồng kẽm
về,
Nó lại nằm nó xơi !
Cái bút cái nghiên trước quan niệm
mưu sinh cũng không còn là yếu tố độc quyền của tham vọng nữa khi họ nghi ngờ đến
sự thành đạt của ông đồ. Sức lao động của các anh nông phu kia tuy không hấp dẫn
lắm, nhưng lại đủ sức chi phối quan niệm hôn nhân.
Và, trong cuộc chiến đem mồ hôi
chống lại ảnh hưởng của cái nghiên cái bút, sự thực, anh nông phu cũng phải
điêu đứng trước tình đời mới đánh đổi nổi giá trị tuyệt đối của cấp « sĩ ».
Cảnh điêu đứng ấy diễn biến trong
những gia đình giàu có, chấp nhận một chàng rể kém thế hơn. Sự kém cỏi ấy được
bù đắp bằng chỗ chàng rể phải bỏ hết sức mình phụng sự cho nhà vợ.
Đem giá trị lao động đấu tranh với
giá trị giai cấp, người lao động lần lần rơi vào ý thức lợi dụng trong quan niệm
hôn nhân. Đây, những hình ảnh trong ý thức ấy đã lưu lại :
Có con mà gả chồng gần,
Nửa đem đốt thuốc mang phần cho
cha.
Có con mà gả chồng xa,
Ba sào ruộng tréo chẳng ma nào
cày.
Thực ra, người nông dân không phải
không biết cực nhọc trước những công việc vất vả về lao động, song quan niệm
hôn nhân vị mưu sinh đã chi phối họ, lôi họ vào ý thức chung của tổ chức xã hội,
buộc họ phải gánh chịu hậu quả tai hại của quan niệm ấy.
Đây, ta hãy nghe lời than thở của
cô thôn nữ trước nỗi khổ cực của người chồng nông phu khi phải đem sức lao động
đấu tranh với đời :
Trời mưa cho ướt lá khoai,
Công anh làm rể đã hai năm ròng.
Nhà em ruộng lắm ngoài đồng,
Bắt anh tát nước cực lòng anh
thay !
Tháng chín mưa bụi gió bay,
Cất lấy gào nước chân tay rụng rời.
Chính sức lao động đã tạo ra cơm
áo, nhưng trên trường tranh đấu, người lao động muốn tỏ ra cho xã hội thấy giá
trị của họ cũng không phải dễ !
Quan niệm hôn nhân vị mưu sinh đối
với người con trai đã vậy, thì đối với người con gái cũng không thể thoát ra
ngoài ảnh hưởng quyền lực kinh tế.
Trước hết chúng ta thấy căn bản
quan niệm mưu sinh là tước bỏ yếu tố luyến ái. Khi yếu tố luyến ái đã bị xem nhẹ,
tự nhiên quyền lựa chọn của người con gái không còn được tồn tại nữa, mà tâp
trung vào sự định đoạt của mẹ cha. Bởi vì cha mẹ mới chính là người đủ kinh
nghiệm trong tầm ảnh hưởng mưu sinh.
Cho nên, quan niệm hôn nhân vị
mưu sinh chính là nguồn gốc dẫn đến việc tước đoạt quyền lựa chọn của con gái.
Và, đạo làm cha mẹ, đối với người
nghìn xưa cũng vậy, không ai không thương con, sở dĩ họ giành lấy quyền định đoạt
là mong bảo vệ con cái trong cuộc sống. Còn đối với người con, khi trao quyền định
đoạt cho cha mẹ, thì đó là một điều hiếu đạo. Họ lý luận :
Phụ mẫu sở sinh, để cho phụ mẫu định.
Em đâu dám tư tình cãi lịnh mẹ
cha.
Hoặc : Phụ mẫu sở sinh, để
cho cha mẹ định,
Trong việc vợ chồng, chờ lịnh mẹ
cha.
Quyền định đoạt của cha mẹ dần dần
trở thành tập quán, một tối hậu quyết định. Người con hoàn toàn bị thụ động lúc
trưởng thành ; khi muốn giao tình với nhau, họ vẫn nơm nớp lo sợ cái uy quyền tuyệt đối
ấy :
Gặp mặt em đây, anh chẳng dám
chào,
Sợ cha mẹ hỏi thằng nào biết con
?
Đôi ta như đôi đũa nòng nòng,
Đẹp duyên mà chẳng đẹp lòng mẹ
cha.
Thấy em anh cũng muốn thương,
Sợ lòng cha mẹ không tường lòng
anh.
Đôi ta làm bạn thong dong,
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm
vàng.
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,
Nên đôi đũa ngọc mâm vàng cách
xa.
Tuy nhiên, nếu phong tục lễ giáo
ràng buộc con người vào chỗ phục tùng thì tư tưởng cá biệt lại là phản động lực
luôn luôn chống lại những gì tước đoạt, đè nén trên ý thức tự do của họ.
Cho nên, cùng một lúc với quan niệm
hiếu đạo và bổn phận làm con, chúng ta lại thấy xuất hiện những tâm tư đau khổ
trong hôn nhân khi bị áp chế :
Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Cha mẹ ép gả cho anh học trò.
Đường đi những lách cùng lau,
Cha mẹ ham giàu, ép uổng duyên
con.
Ăn sung ngồi ở gốc sung,
Lấy anh thì lấy, nằm chung không
nằm.
Tiếng nói của họ chính là tiếng
rên rỉ, kêu than dưới quyền lực của mẹ cha, đồng thời cũng là sức chống đối giữa
hai quan niệm hôn nhân vị mưu sinh và hôn nhân vị luyến ái.
Thực ra, đó cũng chỉ là sự lầm lạc
trong tư tưởng con người, mà sự lầm lạc ấy không thể đổ tội cho ai cả, nếu
chúng ta hình dung xã hội loài người là một trạng thái chứa đầy mâu thuẫn,
trong đó có cả vật chất lẫn tinh thần, có cả tâm tư lẫn tình cảm.
Trên phương diện hôn nhân xưa nay
có ai muốn cho tình duyên gái trai trắc trở đâu, dù với quan niệm nào, nhưng
chúng ta lại luôn luôn chứng kiến nhiều cảnh tủi hờn ngang trái :
Lấy chồng từ thuở mười lăm,
Chồng chê tôi nhỏ chẳng nằm cùng
tôi.
Đến năm mười tám đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên
giường.
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân giường gãy một còn
ba.
Đi về nhắn với mẹ cha,
Chồng tôi nay đã giao hòa cùng
tôi.
Tại cha mẹ ư ? Thì dĩ nhiên do sự
ép uổng của cha mẹ rồi ! Tâm trạng đó đã phản ảnh qua những câu ca dao, như :
Mẹ em tham thúng xôi dền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh-hưng.
Tôi đã bảo mẹ rằng đừng,
Mẹ hám, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ kẻ thấp người cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
Nhưng đổ tội cho cha mẹ ham lễ vật
mà ép duyên con thì thật cô gái thời xưa chưa quan niệm được tâm tư của kẻ làm
cha mẹ ! Trong xã hội loài người không có bậc cha mẹ nào không thương con. Tình
thương con là tình thiêng liêng như mặt trời phải có sức nóng. Sở dĩ có sự ép uổng
của cha mẹ, hoặc sự phản đối của con cái chỉ vì bất đồng trong quan niệm hôn
nhân mà thôi. Chính xã hội thời xưa đã phản ảnh lại những hoàn cảnh con gái nhờ
vào hôn nhân mà thay đổi địa vị xã hội :
Cô ấy mà lấy anh này,
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu.
Ngồi trong cửa sổ têm trầu,
Có hai con bé đứng hầu hai bên.
Chúng ta thử tưởng tượng một cô
thôn nữ, tay lấm chân bùn, dầm sương dãi gió suốt tháng năm, trong phút chốc nhờ
vào hôn nhân mà chễm chệ trong cửa các lầu son thì lòng cha mẹ ai khỏi ước ao.
Mặt khác, quan niệm hôn nhân vị
luyến ai, cũng có lúc làm cho họ khổ cực, chán nản, tự cho mình đã lầm lạc,
không thể nào sống bằng một túp lều tranh với hai trái tim vàng mà có được hạnh
phúc. Họ không thể sống với ái tình bằng một thể tích không khí nhỏ hẹp, bằng một
vò nước lã. Họ không thể thoát ra ngoài cái ăn, cái mặc ; nói chung, cơ thể họ
luôn luôn đòi một sự cung ứng vật chất cho bản năng sinh tồn.
Dưới đây là điển hình một linh hồn
đã sa vào trạng huống buồn đau :
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước sang vườn cà hái nụ tầm
xuân.
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay
!
Thoạt vào anh nắm cổ tay,
Xưa kia em trắng, sao rày em đen
?
Hay là lấy phải chồng hèn,
Cơm hẩm, canh mặn nó đen mất người
?
- Ba mươi đồng một xấp trầu cay.
Sao anh không nói từ ngày còn
không !
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra !
Trái lại, nếu chú trọng vào quan
niệm hôn nhân vị mưu sinh thì chính họ cũng vấp phải cảnh não lòng trong tình
ái :
Em tham giàu, em lấy thằng bé tỉ
ti,
Làng trên xã dưới thiếu gì trai
tơ.
Em đem thân cho thằng bé giày vò,
Mùa đông tháng giá nó nằm co
trong lòng.
Cũng đã mang là gái có chồng,
Chín đêm trực tiết nằm không cả
mười !
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá một thời xuân
xanh.
Em cũng liều mình vì thằng bé trẻ
ranh,
Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ
buồn.
Buồn tình em bế thằng bé nó lên.
Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì
!
Nó ngủ nó ngáy khì khì,
Một giấc đến sáng còn gì là xuân
!
Chị em ơi ! Hoa nở mấy lần !
Thật là một thảm trạng ! Mà thảm
trạng ấy do xã hội loài người, do sự mâu thuẫn tất yếu của lẽ sống ! Hỡi loài
người ! Có bao giờ con người được sống toại nguyện để cho những tiếng rên than
tức tửi ấy không còn nữa chăng ?
Chưa hết, quan niệm hôn nhân vị
mưu sinh còn dẫn đến chế độ đa thê mà cho đến nay vẫn còn lưu lại dấu vết trong
lịch sử, mặc dù giới quần thoa vẫn luôn luôn chống đối :
Đói no một vợ một chồng,
Một niêu cơm tấm đầu lòng ăn
chơi.
Hoặc : Đói lòng ăn nắm lá
sung,
Chồng một thì lấy, chồng chung
thì đừng.
Mặc dù bị chống đối, sức mạnh của
cơm áo không vì sự chống đối của nữ giới mà mất hiệu lực. Cảnh chồng chung vợ
chạ đã gieo vào lịch sử hôn nhân của dân tộc nhiều nỗi đắng cay :
Lấy chồng làm lẽ khó thay,
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công.
Đến tối chị giữ lấy chồng,
Chị cho mang chiếu nằm không nhà
ngoài.
Đêm đêm gọi những bớ Hai !
Chờ dậy nấu cám, thái khoai, băm
bèo !
Nếu chế độ đa thê của vua chúa đã
đem lại bất công, tủi nhục cho đời cung phi, đến nỗi trong « Tần cung oán » một
nàng phi Tần đã rên la, nức nở, thì trong chế độ đa thê của lớp người bình dân
cũng để lại trong dân gian những tâm tư đau khổ của kẻ lấy chồng chung :
Thân em làm lẻ chẳng hề
Có như chánh thất nằm lê giữa giường.
Tới tối chị giữ mất buồng,
Cho em mang chiếu nằm suông chuồng
bò.
Mong chồng, chồng chẳng xuống
cho,
Đến khi chồng xuống, gà ó o gáy dồn.
Mẹ cha con gà, sao mày vội gáy dồn,
Mày làm tao mất vía kinh hồn về nỗi
chồng con !
Nếu cảnh bất công ấy ở trong cung
điện nhà vua thì nàng cung phi phải giận hờn trong ray rứt :
Đang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà
ra !
(Cung oán ngâm khúc)
Nhưng ở nơi thôn quê đồng nội, sự
giận hờn ấy lại trở thành lời xỉ mạ, châm biếm kẻ chuộng đa thê :
Ba vợ bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng
chổi.
Hoặc : Một vợ nằm giường
lèo,
Hai vợ nằm chèo queo,
Ba vợ nằm chuồng heo !
Sự châm biếm ấy chính là tâm tư
phẫn nộ của người đàn bà đối với những ông chồng bình dân, không có quyền lực
như một ông vua.
3) Tóm lại, từ ngàn xưa,
quan niệm hôn nhân nước ta vẫn diễn biến theo hai dòng lịch sử của tâm tư chống
đối nhau. Sự chống đối khá mãnh liệt mà chúng ta còn tìm thấy tính chất tích cực
phản ảnh trong ca dao, tục ngữ rất nhiều.
Ở đây, chúng tôi xin lược dẫn một
số ít để chứng minh điều đó.
Trước hết, những người có quan niệm
hôn nhân vị luyến ái xem những cặp vợ chồng không xứng đôi như những cây đinh
đóng trước mắt, họ lớn tiếng châm biếm :
Chồng lớn vợ bé thì xinh,
Vợ lớn chồng bé ra tình chị em.
Hoặc : Chồng thấp mà lấy vợ
cao,
Qua sông nước lớn, cõng tao bớ mầy
!
Thật mỉa mai ! Tuy nhiên phái hôn
nhân vị mưu sinh cũng chẳng vừa, họ tìm cách chống chế :
Chồng già vợ trẻ là duyên,
Vợ già chồng trẻ là tiên ba đời.
Hay : Có phúc lấy được vợ
già,
Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm
canh.
Vô phúc lấy phải trẻ ranh,
Nó ăn nó phá tan tành nó đi !
Chúng ta thấy rõ ràng là một
tương phản về quan niệm luyến ái. Trong xã hội bình dân trải mấy nghìn năm,
hình ảnh hôn nhân đã diễn ra đủ màu sắc. Trong lúc làm lụng gần gũi nhau nơi thửa
ruộng nương dâu, nơi mặt đê thềm giếng, nếu sự gần gũi ấy là cơ hội để thổ lộ
tâm tình luyến ái thì cơ hội ấy cũng xảy ra những quan niệm chống đối về hôn
nhân. Sự tương phản ấy đã chạm nhau chan chát. Nếu bên nào không chống chế nổi
tất nhiên bị nhục suốt đời. Bởi vậy, dù muốn dù không họ vẫn phải bảo vệ lấy
hoàn cảnh mình.
Một cô gái lấy anh chồng lớn tuổi,
tức thì bên tai cô ta đã nghe ngay một lời châm chọc :
Vô phúc múc phải anh chồng già,
Ra đường người hỏi rằng : cha hay
chồng ?
Nói ra đau đớn trong lòng,
Ấy cái nợ truyền kiếp, có phải chồng
em đâu !
Dù là một cô gái quê mùa, buộc
lòng cô ta cũng phải đứng vào quan niệm vị mưu sinh chống đỡ :
Áo dài chẳng nệ quần thưa,
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm
!
Chẳng những châm biếm các cô gái
lấy chồng già, các chàng trai lấy vợ già, họ còn chế diễu nhau sâu đậm hơn nữa
đối với những chàng trai tơ lấy gái góa :
Trai tơ ai hỡi trai tơ,
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?
Nạ dòng lấy được trai tơ,
Đêm nằm hí hửng như vơ được vàng
!
Trai tơ vớ phải nạ dòng ?
Như nước mắm thối chấm lòng lợn
thiu !
Tuy lời nói mộc mạc nhưng rất đau
độc, khiến những chàng trai trong phái mưu sinh phải tìm cách trả đũa. Sự trả
đũa của họ nhắm vào quan niệm xứng đôi của phái vị luyến ái châm biếm :
Chồng hen mà lấy vợ hen,
Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.
Chồng còng lấy vợ cũng còng,
Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.
Chồng què lấy vợ xà lai,
Mướn được đứa ở lại sai bánh chè
!
Họ bảo phái chủ trương vị luyến
ái biết xứng đôi chưa phải là đẹp, đôi khi chỉ là trò cười trong thế gian. Thực
ra, họ tìm được ý tưởng như vậy để châm chọc cũng khá công phu và cay nghiệt.
Nhưng sự chống đối chẳng ai chịu thua ai. Phái luyến ái lại bới móc tính chất
tham tiền của các cô gái quê mà đùa bỡn :
Lấy chồng chẳng lấy một chồng,
Lấy anh hàng thịt ăn lòng sớm
mai.
Lấy ai thì chẳng một chồng,
Lấy anh câu ếch nằm song xí hoài
!
Lòng ta muốn lấy thợ kèn,
Đám sang thì bánh, đám hèn thì
xôi.
Lòng ta muốn lấy thợ sơn,
Một mình một cỗ lại hơn thợ kèn.
Họ cũng dí dỏm và hiểu tâm lý
nhau lắm ! Để khỏi bị thua thiệt, phái vị mưu sinh tìm thấy trong bản chất phái
vị luyến ái hay kén chọn, nên trễ duyên, họ châm biếm :
Ai ơi trẻ mãi ru mà,
Càng đo đắn lắm càng già hết
duyên !
Hoặc : Cô kia má đỏ hồng hồng,
Cô không lấy chồng còn kén đợi ai
?
Buồng không lần lữa hôm mai
Đầu xanh mấy lúc da mồi tóc sương
!
Hay : Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng,
Trăm khôn nghìn khéo không chồng
cũng hư.
Con trai chưa vợ đã xong,
Con gái không chồng buồn lắm em
ơi !
Lại nữa : Đi đâu mà chẳng lấy
chồng,
Người ta lấy hết chổng mông mà
gào.
Gào rằng : Đất hỡi trời ơi !
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng
?
Ông Trời ngoái cổ xuống trông :
- Mày hay kén chọn, ông không cho
mày !
Phái vị luyến ái đáp lại :
Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng nhắng vỗ về quanh
năm.
Phái vị mưu sinh châm biếm :
Còn duyên kén những trai tơ,
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
Phái vị luyến ái trả đũa :
Chồng em vừa xấu vừa đen,
Vừa kém nhan sắc vừa hèn chân đi.
Chồng em rổ sứt rổ sì,
Chân đi chữ bát, mặt thì ngửng
thiên.
Phái vị mưu sinh đáp :
Củi mục dễ nấu,
Chồng xấu dễ sai.
Những ý tưởng chống đối trên đây
tuy hài hước, song phân tích tỉ mỉ tính chất căn bản thì đó là sự phân hóa
trong quan niệm hôn nhân. Sự phân hóa ấy chia thành hai dòng tư tưởng rõ rệt. Đối
tượng của phái vị luyến ái là đả phá giai cấp quí tộc trong xã hội, đồng thời
chống lại áp lực của ngoại bang dùng thế lực, tiền bạc, lung lạc tính chất luyến
ái của dân tộc.
Sự chống đối ấy đã biểu hiện những
nét căn bản qua những câu ca dao sau đây.
Chống đối giai cấp quí tộc họ nhắm
vào việc đả phá chế độ đa thê và phong tục thách cưới. Họ ca tụng sự luyến ái
chung thủy trong cảnh thanh bần :
Đôi ta như lúa phơi màu,
Đẹp duyên thì lấy, ham giàu làm
chi.
Hoặc : Gà nào hay bằng gà
Cao-lãnh,
Gái nào bảnh cho bằng gái
Tân-châu.
Anh thương em chẳng nại sang
giàu,
Mứt hồng một lượng, trà Tàu một
cân !
Chống đối thế lực, ảnh hưởng của
ngoại bang chi phối hôn nhân, họ nhắm vào đả phá uy thế Nho học bằng cách khinh
miệt học trò, tức là các ông đồ Nho xưa :
Ai ơi chớ lấy học trò,
Cái lưng thước mốt, cái giò thước
hai !
Hoặc : Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm !
Họ còn chống đối trực tiếp người
Tàu đô hộ bằng cách bêu xấu những cô gái ham tiền lấy khách :
Thà rằng ăn cá diếc chôi,
Còn hơn lấy khách có đuôi trên đầu.
Trèo lên trái núi mà coi,
Kìa kìa Ngô khách mọc đuôi trên đầu.
Em ơi, dạy anh tiếng Tàu,
Chưa hết, họ còn châm biếm độc
hơn nữa trong những câu ca dao như :
« Tiểu na má nị » đâm đầu lấy Ngô
!
Đêm ba mươi Tết, Tết ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú
khách,
Một tay cầm cái dù rách,
Một tay xách cái chăn bông,
Em đứng trên bờ sông,
Em trông sang xứ người
Hỡi chú chệnh ơi là chú chú chệch
ơi !
Một tay em xách quan tiền,
Một tay em cầm thằng bù nhìn
Em ném xuống sông
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi
Ai ơi, của nặng hơn người !
Hoặc : Tham vàng lấy được thằng
Ngô
Đêm nằm hú hí như vồ đập bông !
Tóm lại, nếu chúng ta đã xác định
quan niệm hôn nhân vị luyến ái có tính chất chống đối giai cấp quí tộc và thế lực
ngoại bang,thì ngược lại, quan niệm hôn nhân vị mưu sinh tất nhiên nằm vào ảnh
hưởng chi phối của xã hội.
Hai quan niệm ấy là dòng lịch sử
tâm tư mà cũng là hai dòng lịch sử chống đối giữa con người và xã hội con người
di lưu cho đến ngày nay.