Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Bùi Giáng - Thi sĩ của mưa nguồn

Bùi Giáng - Thi sĩ của mưa nguồn
1. Thơ là hạnh phúc
Trở lại với giai đoạn Mưa nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng còn giữ niềm tin ở mùa xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong bài Bờ xuân tiếp theo:
Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích. (Mưa nguồn)
Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh sáng, long lanh thinh sắc. Trong niềm hoan lạc của đất trời, con người an tâm vui hưởng, vì tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào một cánh én:
Én đầu xuân tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
(Mưa nguồn)
Người ta thường nói: xuân về. Chữ về tin tưởng an lạc như Về Cố Quận. Xuân về với gió đông, xuân mang thương nhớ trở về (Nguyễn Bính). Chữ về gây cảm giác ấm cúng, thân thiết, tin cậy:
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng
Nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại
Với dòng trong em hẹn ở bên đường
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi
Bên đời ai vạn đợi đã chia lìa
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi còn giữ mãi hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.
(Mưa nguồn)
Thơ là hạnh phúc của ngôn từ như trong Một ngày lễ hội, tên một bài thơ Hoelderlin. Hạnh phúc trong lời nói, của lời nói, dù nói để chẳng nói gì: Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia. Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa kia làm gì? Bờ nước ấy: ấy nào? Nào ai biết. Chỉ biết là không gian và thời gian hạnh phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc không cần lý do, không cần tự thức. 
Ngõ ban sơ hạnh ngân dài, cổng xô còn vọng...
Bùi Giáng mách ta thế, và có lần kể:
Xưa kia tôi đã có lần
Và bây giờ đã đôi phần tôi quên
(Ca dao, Mưa nguồn)
Nhà thơ không cho biết đã có lần làm gì, nhớ gì và quên gì, nhưng chúng ta cảm rằng xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ tần ngần, ngập ngừng, lơ đãng. Hồ Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đã thật thà hơn:
Có lần tôi thấy tôi yêu
Dáng cô thôn nữ khăn điều cuối thôn
Xa rồi, nay đã lớn khôn
Biết cô hàng xóm có còn nhớ nhau? 
Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh phúc của ngôn ngữ: 
Xin yêu mãi và yêu nhau mãi mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Hạnh phúc ấy là Xuân trần gian, ăm ắp trong thơ Bùi Giáng, thời điểm mưa nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó, trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ vô tận vui cho một tập di cảo.
Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây chỉ là một minh triết về cuộc sống. Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc nào cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương đối của sự đời. Vui ở đây hiểu theo nghĩa hiền triết Đông Phương, như cá vui, bướm vui trong Nam Hoa kinh của Trang Tử. Nhìn dưới góc độ tư tưởng hiện sinh của phương Tây, thì ngược lại, có thể nói đến "bi kịch". 
Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm ký: Ngày Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa nguồn). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó nằm trong mạch Vũ trụ ca của Huy Cận:
Lòng chim gieo sáng dệt vân sa
Trên bước đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép rằng: vui một sáng
Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta
(Áo xuân, 1942)
Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ đề “chết từ sơ ngộ”, và Màu hoa trên ngàn sơ khai đã là Màu hoa cuối cùng: 
Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng
(Chớp biển)
Bùi Giáng, rất sớm, đã linh cảm rằng mình suốt đời đứng nguyên ở một tọa độ, xác định bởi một không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên Xuân: 
Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu? Xưa chính ở chỗ này
(Chỗ này, Mưa nguồn)
Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong trời đất, cùng với niềm vui nào đó. Nhưng có một hạnh phúc khác, màu xuân khác không bao giờ trở lại với nhân gian: 
Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào
(…) Người viết mãi một màu xanh cho cỏ
Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…
(Bài ca Quần Đảo)
Rồi suốt đời, khi sáng suốt, khi cuồng điên, qua hàng vạn trang sách, người thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho mình một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.
Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt
Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ
(Bài ca Quần Đảo)
Năm mười sáu tuổi đã xảy ra biến cố gì trong đời tác giả làm chìm tắt mùa xuân? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo lời ông kể ở đầu sách Lời Cố Quận.
Xuân về xuân lại xuân đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về 
Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.
Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một.
2. Bùi Giáng nguồn xuân
Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi mồng một mồng hai của hôm nay Nguyên Đán (Mưa Nguồn).
Câu thơ văn xuôi này của Bùi Giáng mang hai đặc tính: một là ý nghĩa nói về ngày Tết và mùa Xuân, hai là chữ nghĩa đi ngược chiều thời gian.
Dĩ nhiên là mồng ba đẩy lùi mồng hai; mồng hai đẩy lùi mồng một. Như vậy hôm nay Nguyên Đán nằm ở vị trí nào trên chuỗi tháng ngày? Nói khác đi, Bùi Giáng đứng tại thời điểm nào ở đầu tháng giêng để phát ngôn? 
Lời thơ theo trật tự số mục, và lối đếm thông thường: mùng một, mùng hai… mùng ba, mùng bốn… Nhưng theo ý nghĩa câu thơ thì phải nói ngược lại: mùng bốn mùng ba (sẽ) theo nhau đẩy lùi mồng hai mồng một. Như vậy, nhà thơ phát ngôn từ ngày hôm nay Nguyên Đán, như Nguyễn Bính năm 1940: 
Năm mới tháng giêng mồng một Tết
Còn nguyên vẹn cả một trời Xuân 
Nhưng nếu hiểu (đã) theo nhau, thì tác giả lên tiếng vào ngày mồng năm. Và trong cả hai giả thuyết, trật tự chữ nghĩa trong câu thơ Bùi Giáng vẫn không thuận chiều.
Rối rắm như vậy để nói lên một điều cơ bản: thơ Bùi Giáng là một “dòng nước ngược”, một tâm thức đi ngược chiều thời gian, trong một Sử Lịch, ngược dòng Lịch Sử.
Trong hàng vạn trang sách để lại, Bùi Giáng thường dùng từ Sử Lịch. Chỉ một lần dùng chữ Lịch Sử để chối bỏ: 
Sử Lịch phai trang
Chạy quàng
Là Lịch Sử
(Lá Hoa Cồn)
Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy nhất và tuyệt đối, mà ông gọi là Nguyên Xuân (Lá Hoa Cồn), là khởi thủy của nguồn sống, nguồn thơ, quê của Em Mọi, của Đười Ươi, đồng thời là đối tượng, là cứu cánh của sáng tạo, của Lời Cố Quận, Tiếng Gọi Về: 
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
(Mưa Nguồn)
Tác phẩm, và cuộc đời Bùi Giáng là niềm thủy chung trước sau như một với một Màu hoa trên ngàn ông khởi đi từ đây và trở về lại đấy. 
Xuân là nguồn mạch thơ tuôn tuôn từ miền xa biệt:
Lỡ từ lạc bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn 
Mùa xuân xuất hiện thường xuyên trong tập Mưa nguồn, và tái hiện trong Lá Hoa Cồn, về sau chỉ thấp thoáng mỗi ngày một ít, ở những thi phẩm cuối đời. 
Mưa nguồn - thi phẩm đầu tay và đều tay nhất của Bùi Giáng được in năm 1962, gồm có nhiều bài làm từ 1948. Lời thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết, vào tập bằng hai câu mào đầu:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau 
Là câu thơ nổi tiếng sớm nhất của Bùi Giáng, vì nó có thể được sử dụng ở nhiều tần số khác nhau: buồn hay vui, u hoài hay đùa cợt, ví dụ khi bè bạn gặp nhau ngoài phố, lặp lại câu thơ: Xin chào nhau giữa con đường, dù không hiểu miên trường là gì. 
Và ý tác giả có thể ngược lại: mùa xuân phía sau, miên trường phía trước. Cũng cần nói thêm, thời đó, 1962, thơ Bùi Giáng chỉ được truyền tụng trong một giới độc giả và bằng hữu, đồng hương, chứ không phải là một “hiện tượng văn học” như gần đây. 
Có thể là thơ của tuổi xanh, nên tập Mưa nguồn đã khởi đi từ nhiều hình ảnh thắm tươi: 
Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lất bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết dòng này
(Những nhành mai - Mưa Nguồn)
Lời thơ tham dự với đất trời vào niềm hoan lạc của mùa xuân. Thể thơ cổ điển, nhưng tác giả đã trộn lẫn thơ bảy và tám chữ, với âm điệu lạ ở câu hai. Nhưng đặc sắc trong thơ Bùi Giáng thời ấy là những hình ảnh tân kỳ trong thể thơ truyền thống: 
Tay lẩy bẩy níu gì xuân bay biến
Ô thiều quang! Làn nước cũ trôi mau
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc
Xa biệt lắm Mưa Nguồn trên mái tóc
Đã mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa
(Giã từ Đà Lạt, 1958 - Mưa nguồn)
Lời thơ diễn tả niềm hoang mang trước thời gian, ý tưởng không mới, nhưng lối kết hợp ẩn dụ thì mới, so với lối thơ tám chữ trước đó. 
Ở Xuân Diệu, Huy Cận niềm ám ảnh của phôi pha không gây bất ngờ như với Ôi thiều quang ! làn nước cũ trôi mau… 
Trần gian phôi pha, thời gian hủy diệt, nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật, nên đã ghì siết hai tay Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ: 
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cành mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiểng chân cao
Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với ngươi thôi
Ta chết lặng bó tay đầu lắc
Đài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi
(Phụng Hiến - Mưa nguồn)

Những bài thơ tin yêu cuộc sống, tươi sáng và thắm thiết như vậy ít khi thấy ở những tập thơ sau, mà cũng ít người nhắc đến. Âu cũng là một thiệt thòi cho ông. Chúng tôi trích dẫn một bài thơ xuân thắm tươi, có lẽ làm vào mùa xuân 1973, toàn văn: Nắng Nguyên Đán
Chạy đi em, nắng gió bốn chân trời
Về chân đất dưới chân em mọc cỏ
Nắng Nguyên Đán lục lam hay hồng đỏ
Tía vi vu hồng lục cũng bao hàm
Chạy đi em! sương gió nắng thênh thang
Trời đất đẹp từ bình minh vũ trụ
Nắng Nguyên Đán của nguyên xuân đầy đủ
Cỏ hoa hương chồi nhú lộc miên man
Và riêng mở duy Một Hàng Ẩn Mật
Nắng phơ phất vì sắc hương phơ phất
Dưới khung trời mặt đất mở thênh thang
Chạy đi em, gót ngọc bỏ hai hàng.
(Bài Ca Quần Đảo)
Phong cách nhắc lại một bài thơ trước:
Chạy đi em, qua vườn thắm theo ngày
Cùng với phút giây này phơi mở lá
Em ngó nhé cành xanh cây giục giã
Hoa nghiêng đầu ríu rít cạnh chim kêu…
(Mưa nguồn)
Nhưng nhịp thơ nhanh, âm điệu khỏe, hình ảnh rộn ràng hơn, một điệu thơ hiếm có ở Bùi Giáng, nhưng vẫn lấy lại chủ đề nguyên xuân, và giọng lẳng lơ cố hữu, cỏ mọc hai hàng, đi đến ngôn ngữ Ẩn Mật về sau. Tóm lại, một bài thơ không Bùi Giáng mà vẫn Bùi Giáng.
3. Nguồn Bùi Giáng
Mưa nguồn, tên sách là một từ ngữ, hình ảnh thông thường, như trong thành ngữ dân gian chớp bể mưa nguồn.
Những trận mưa rừng núi là hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, có lẽ Bùi Giáng đã nhiều lần chứng kiến cụ thể thời trai trẻ, khi chăn dê miền trung du Trung Phước, khoảng 1946. Đây là những trận mưa giông lớn, ào ạt đổ xuống rất nhanh,nhất là vào mùa hè, gây ấn tượng mạnh. Mưa nguồn có thể hiểu theo nghĩa đen.
Lại thêm nghĩa bóng: mưa móc, ân sủng dội xuống nơi cội nguồn cuộc sống, ào tuôn,“giáng” xuống một lần rồi thôi, nhưng cũng có thể trở lại, trong lẽ tuần hoàn, như lời chờ mong của Tản Đà: Nước đi ra bể lại mưa về nguồn trong Thề non nước. 
Cần hiểu thêm, chữ nguồn, ở quê Bùi Giáng, còn có nghĩa khác nữa trong đời sống của dân tộc thiểu số miền trung du Trung Bộ, mà Bùi Giáng thường xuyên tiếp xúc. Họ thuộc nhiều chủng tộc, chủ yếu là người Gié Triêng và Ca Tu, mà cuộc đời hoang dã đã tạo ra và lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm thức Bùi Giáng. Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai miền xuôi ngược - ngày nay gọi là Kinh Thượng - đã để lại câu ca dao: 
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên
Nậu nguồn là những thương nhân chuyên môn buôn bán với mạn ngược. Và ở đây có thể phát âm hai vần ngùn/chùn theo giọng Quảng Nam của Bùi Giáng, cũng như Mưa ngùn. Như vậy mới kết vần được hai câu ca dao địa phương khác, mà Tế Hanh hay Sơn Nam ưa tham chiếu: 
Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên ngùn (nguồn) đốt than
Thơ Bùi Giáng, có khi cần phải phát âm theo giọng tác giả, mới thú vị:
Chén trà sương sớm bên thềm
Vừa chờ chim hót vừa thèm chim (chiêm) bao.
Chữ nguồn ở Bùi Giáng là một hình ảnh vừa quê mùa vừa uyên bác, tự nhiên mà tinh tế.Gốc Hán Việt là “nguyên”, là nguồn cội, là nguồn sống, là Sơ Nguyên Ngọn Suối: con chim điên vì nhớ Suối vô cùng. Suối cũ Suối xanh Suối bờ mọc cỏ. Suối võ vàng em có hai tay Suối mừng nhìn thấy. Suối khóc suốt đêm bây giờ suối nín... (Gió Nguồn -  Lá Hoa Cồn).
Suối ở đây là Nguồn Xuân Tinh Thể. Nhưng nói vậy là nói lắp, vì Xuân đã là Nguồn, và Suối đã là Xuân. Tiếng Anh rất hàm súc khi dùng một từ Spring để chỉ Xuân và Nguồn. Trong thơ Bùi Giáng, Xuân đồng nghĩa với Nguồn, như trong tiếng Anh. Nó là cõi uyên nguyên có trước Trời Đất, là “cái cửa khe huyền diệu” - “huyền tẫn chi môn” theo lời Lão Tử. Chữ “tẫn” Ngô Tất Tố diễn dịch là khe, mà có người cắt nghĩa là giống cái, tức là mẹ đẻ của muôn vật. Đó cũng là một nghĩa”(1).
Có lẽ, từ đó hình ảnh khe, kết hợp với người Nữ, thường xuất hiện nơi thơ Bùi Giáng.Chữ môn nghĩa là cửa (nhân tạo), linh mục Dòng Tên, Claude Larre dịch là Porte (des secrètes merveilles) (2) có lẽ, về sau đã gợi ý cho Bùi Giáng làm đoạn thơ nổi tiếng bắt đầu với hai chữ ngõ và cửa: 
Ngõ ban sơ, hạnh ngân dài
Cửa xô còn vọng điệu tài tử qua
Niềm vui, nghĩa sống con người đã xô cửa bước ra từ cõi ban sơ ấy, và ngân dài, âm vọng qua lời thơ của người tài tử. Nhưng về sau lại: lỡ từ lạc bước bước ra... Và tác giả, hay độc giả có thể tùy nghi ráp nối nhiều câu lục bát khác vào đoạn trên, như Tuệ Sĩ đã gợi ý trong một bài báo rất uyên bác, trên tạp chí Văn:
Ta về ngóng lại mưa sa
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào
Hoặc:
Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay
Vân vân... Như đã nói, toàn bộ tác phẩm Bùi Giáng có thể xem như là một bài thơ duy nhất, một nét chữ lên đàng quẩn quanh. Và người đọc lý thú, vì cảm giác tham dự vào cuộc chơi, thậm chí là đồng tác.
Người đời thường trích dẫn mấy câu thơ hay, bề ngoài đơn giản, nhưng kỳ thật là phức tạp: 
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
(Chớp Biển)
Hai câu đầu là một hình ảnh từ chương. Câu sau đã khó hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là gì? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không cần tìm hiểu; hoặc ta tìm hiểu và tham chiếu vào Đạo Đức Kinh, lời Lão Tử: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”; ý thức con người đong đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi thì không có diệu, không nhờ cái diệu thì không giải tỏa được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng còn là, là gì? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là gì? Chúng ta trở về vị trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.
Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đã đơn giản. 
Bàn về một chữ Xuân mà phải dàn xa dặm dài, như vậy phải biết ngừng lời, vì:
Thưa rằng nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
 (Chào Nguyên Xuân - Mưa Nguồn)
4. Hoài vọng tìm về thiên tính con người
Và có lúc, Bùi Giáng đã đẩy niềm u hoài tiền sử của mình lên xa hơn nữa trong thời gian, qua hình ảnh Đười Ươi - người chưa thành người :
Ta về rũ áo đười ươi
Trút tờ phong nhã cho người phụ nhau
(Ta về - Thơ Bùi Giáng)
Đi vào cảnh giới si mê
Gọi đười ươi dậy nhe răng ra cười
(Nhe Răng u buồn, trong Sa Mạc Trường Ca) 
Bùi Giáng có bài thơ tổng kết đời mình:
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
(Thuở chưa điên -  Thơ Bùi Giáng)
Hai chữ Đười Ươi ở đây sao mà bùi ngùi, thê thiết!
Đười Ươi Thi Sĩ, nhiều lần Bùi Giáng tự xưng như thế, để bày tỏ niềm hoài vọng tìm lại thiên tính của con người, khi chưa lập thành xã hội, trong cõi trời đất Sơ Nguyên.
Thuở Uyên Nguyên ấy, là mùa Xuân của Đất Trời, mùa Xuân của Con Người. Nói chuyện Mùa Xuân trong thơ Bùi Giáng mà chưa lên tận Ngọn Nguồn để diện kiến Đười Ươi, thì chưa vui. 
Viết đến đây, chợt nhớ về đôi kỷ niệm, chung quanh ngày Tết và mùa Xuân, hiểu theo nghĩa thông thường, không ẩn ý hay biểu tượng, triết lý gì. Ba ngày Tết, ba tháng Xuân, và hình ảnh Tuổi Xuân, như một cành hoa mai, nở một lần trong thơ Bùi Giáng : 
Xuân này em có về không
Nhành mai cố quận nở bông dịu dàng 
Và đối với Bùi Giáng, ngày xuân không câu nệ hình thức:
Mỗi mùa xuân lá trổ bông
Quên tờ cung chúc cũng không hề gì
(Bài Ca Quần Đảo)
Tiếp theo là một hình ảnh khác của ngày Tết Nguyên Đán:
Mồng ba Tết ra đường con gặp
Một trẻ em đi bán đậu phụng rang
- "Thầy mua giúp! Đầu năm, dịp Tết"
Con mua nhiều, rồi nước mắt chứa chan
Vì con biết ngày Mồng ba một dịp
Không còn về cho bao đứa trẻ con
Bán đậu phụng hay lau giày lau dép
Đã lang thang đầu gối rụng mỏi mòn. 
Hỡi Thượng Đế! Cúi đầu con thưa lại
Ở trần gian ai cũng khổ liên miên
Người đã dựng cảnh tù đày đọa mãi
Để làm gì? Cho sáng nghĩa Vô Biên?
(Chớp Biển)
Bài thơ hé mở một góc độ khác trong tâm hồn Bùi Giáng: khía cạnh xã hội, nhân đạo trong thơ ông, xuất hiện ngay ở tập thơ đầu, nhưng càng ngày càng rõ nét về sau.
Nhất là từ khoảng 1970, trong đời sống lang thang bên hè phố, ông chung đụng với nhiều lớp người cùng khổ, chủ yếu là trẻ em nghèo khó và côi cút, mà ông rất mực yêu thương, chia sẻ từng miếng cơm manh áo. Đây là thời gian ông ý thức rõ tình người trong cơ khổ: 
Anh vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ,
Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau
Ôi đầu đường ôi xó chợ nơi đâu
Là nơi đó chốn kia anh rất rõ
Trong máu me từng khoảnh khắc sơ đầu
(Anh vẫn Tưởng, Bài Ca Quần Đảo)
Bùi Giáng là một nghịch lý.
Ông là một tác gia hàng đầu, một nhà thơ lớn trong văn học Việt Nam hiện đại, đã sống, làm thơ và qua đời, bên lề dòng văn học chính thống. Rồi trong những điều kiện lịch sử nhất định, thơ ông được truyền tụng, truyền khẩu, tạo nên một hiện tượng Bùi Giáng, vào ba thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi
Tác giả Bùi Giáng, và nhà thơ Bùi Giáng đích thực, bị chen lấn giữa những huyền thoại Bùi Giáng. Và những kẻ mến yêu Bùi Giáng đầy thiện chí, đã nhiệt tình viết bài ca ngợi, càng làm rối mù thêm tọa độ của ông trên văn đàn, thêm phần tơ chỉ rối chiêm
Bùi Giáng cả đời chăm chỉ đặt hai bàn chân, chân trái và chân mặt, bên lề xã hội, nhưng đã lừng danh. Đây là một nghịch lý, giới hiện sinh một thời có thể gọi là phi lý. 
Bài này dĩ nhiên là không có tham vọng giải quyết nghịch lý nói trên. Nhưng lần theo ý xuân đến thượng nguồn thơ Bùi Giáng, người đọc có thể tìm lại được một trong nhiều sợi tơ mành xuyên qua thi phẩm và tư tưởng Bùi Giáng.
Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ
Kể ra từ bấy tới giờ 
Tình yêu phảng phất như tờ giấy rung. 
Áo xanh
Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu 
Tuổi thơ em có buồn nhiều 
Thì xin cứ để bóng chiều đi qua 
Biển dâu sực tỉnh giang hà 
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh. 
Thơ Bùi Giáng
Đặng Tiến
Theo https://thanhnien.vn/


Dưới mái nhà sàn

Dưới mái nhà sàn 
Trên mái cọ, những hạt mưa xuân lất phất đọng thành giọt tí tách bên hiên nhà sàn. Căn nhà liếp nứa gió lùa vào bếp khiến chị rụi mắt liên tục vì khói. Tiếng ho của anh mỗi lúc yếu dần, anh không còn đủ sức để kêu lên vì đau đớn nữa. Cả nhà vì cơn đau của anh mà lắng lòng lại, chẳng ai nói với nhau điều gì chỉ còn những giọt nước mắt và bàn tay xiết chặt kìm nén nỗi đau sắp ập xuống tổ ấm nhỏ bé của chị.
Tiếng chuông điện thoại reo lên trong đêm muộn, tôi quờ tay lấy điện thoại. Đó là cuộc gọi đến của mẹ, tôi thấy trong lòng hốt hoảng vì chưa thấy mẹ gọi muộn như thế bao giờ. Tôi vừa bắt máy đã nghe thấy giọng mẹ run rẩy:
Con à, chị Tuyết đã gọi điện báo cho con chưa?
Tôi biết là đã có chuyện chẳng lành xảy ra. Mẹ nghẹn ngào: Anh rể con bị ung thư gan giai đoạn cuối rồi. Con cố gắng sắp xếp thời gian lên thăm và động viên anh chị. Mẹ tôi đang rất rối bời và nghe tin dữ đó tôi vẫn phải tự trấn tĩnh mình rằng sẽ không sao. Nhưng rồi mọi thứ đã tồi tệ hơn sau đó. Mọi thứ diễn ra quá nhanh và bất ngờ.
Vừa mùng 3 Tết cả nhà anh chị và nhà tôi còn đi cùng chuyến xe về quê thăm mẹ. Tôi thấy anh da sạm đen và có phần mệt mỏi, tôi hỏi thì anh vẫn cười bảo do anh đi làm vất vả, nắng nôi nhiều thôi không sao đâu dì. Tết này về anh như linh tính được mọi chuyện sắp xảy ra, anh đi tết thăm hỏi hết các nhà anh em trên quê.
Lên thăm anh, anh đã gầy sọp đi hẳn nhưng vẫn rất lạc quan. Tôi vẫn mong có phép màu kì diệu sẽ thay đổi được hiện tại, tôi đưa anh xuống Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương khám lại lần nữa. Anh đau đớn nhưng cũng không kêu than nửa lời, nhìn chị dìu anh cầm phiếu chỉ định khám đi từng phòng khám mà lòng tôi quặn thắt. Sau mấy tiếng đồng hồ ở bệnh viện, bác sĩ gọi vào phòng trả kết quả. Bác sĩ nhỏ nhẹ nói: Sao anh chị không đi khám sớm hơn, giờ em sẽ liên lạc giúp anh chị bác sĩ ở trung ương để anh chị khám thêm một lần nữa để có kết quả chuẩn xác hơn. Thực ra bác sĩ chỉ đang cố gắng động viên anh thôi chứ mọi thứ đã không còn kịp nữa rồi.
Anh chị nén nỗi đau trở về căn nhà sàn mái cọ lâu năm đã dột nát. Chị chạy vạy khắp nơi tìm thuốc thang cho anh, chỉ cần có ai mách ở nơi nào có thuốc chữa được bệnh là chị tìm bằng được chỉ mong vớt vát được điều gì. Đã gần một tháng trôi qua, những bát thuốc nam chị sắc đã không chiến thắng được những cơn đau đang hành hạ anh từng ngày, hạch mọc lên khắp cơ thể yếu ớt của anh.
Anh chị đưa nhau xuống viện lần nữa. Trong sự nghèo túng vì bệnh tật, giữa ranh giới của sự sống và cái chết mong manh mới thấu được hết nỗi đau tận cùng của một người vợ. Chị tôi vốn phải chịu thiệt thòi vì gia đình khi từ nhỏ đã không được đến trường để ở nhà phụ mẹ làm lụng vất vả nuôi các em đi học. Tưởng chị sẽ được bù đắp lại những thiếu thốn nhưng bờ vai vững chắc, trụ cột cuối cùng giờ cũng không còn ai đủ sức giữ lại giúp chị. Anh nằm viện, trưa và tối nào tôi cũng tranh thủ ra chăm anh để chị chợp mắt một chút. Một tuần thở ô xy ở bệnh viện càng khiến anh đau đớn hơn vì có thể chỉ trong một cái chớp mắt là anh sẽ mãi không thể ở lại bên chị nữa.
Và điều không muốn cũng đã xảy ra. Chiều tối sầm lại, những hơi thở nặng nhọc yếu dần và lịm hẳn. Một ngày tháng ba mưa bụi giăng kín ngoài thung, chị tôi đội tang trắng tiễn đưa anh về đất mẹ. Từ giờ anh sẽ không còn phải chịu thêm một nỗi đau nào nữa còn nỗi đau của chị không biết đến khi nào mới nguôi ngoai.
- Dì Thứ ơi em Quỳnh Chi ngoan không? Hôm nay Bí đi học được phiếu bé ngoan nhé.
- Bí của dì ngoan lắm. Thế Bí đến lớp cô giáo dạy gì nào?
- Cô giáo dạy Bí hát, dạy Bí đọc thơ.
- Thế Bí thuộc bài nào hát dì nghe xem nào.
Bên kia đầu máy giọng con bé bi bô “Ba thương con thì con giống mẹ, mẹ thương con thì con giống ba…” con bé đang hát thì giọng chị vọng lại thôi con à đừng hát nữa mẹ buồn. Nghe thấy vậy mà tôi không kìm nổi nước mắt, thương chị và thương hai đứa nhỏ vô cùng.
Tôi đã lớn lên và đi qua những năm tháng tuổi thơ mồ côi cha trong sự thiếu thốn về mọi thứ. Ai sống trong cảnh mồ côi mới thấu được sự khát khao về một mái ấm đủ đầy, một tiếng “cha ơi” mỗi lần đi đâu trở về mà không thể gọi vì mãi mãi cả cuộc đời không còn cha để chúng con được yêu thương. Hai đứa bây giờ cũng như tôi ngày xưa còn quá nhỏ để biết về mọi khó khăn phía trước. Đàn bà góa phụ nhất định phải là một người rắn rỏi và kiên cường để vượt qua mọi vất vả, sự cô đơn và cả những thị phi đặt điều của thiên hạ.
Tháng 3 về, những bông hoa gạo thắp lên trời đỏ rực phía núi. Chị tôi cặm cụi nhổ từng khóm cỏ non mọc xanh trên phần mộ của anh, chị đặt lên đó những chiếc bánh dày ngũ sắc và bộ quần áo giấy. Hương khói nghi ngút tỏa khắp các khu mộ bên bìa rừng.
 Trịnh Thị Thứ 
Theo http://vanhocnghethuat.tuyenquang.gov.vn/



Hoa nở trên núi

Hoa nở trên núi 
Nhìn từ làng lên những ngọn núi cao trước nhà con suối mảnh như sợi chỉ trắng chảy ra từ ruột núi, băng qua những cánh rừng già rồi dịu dàng chảy vào thung lũng như thiếu nữ Tày trong veo và ngọt ngào. Từ mó nước ở những vũng nước sâu nơi con suối chảy qua dân trong làng thường đục ống tre làm thành máng nước lần dẫn nước về nhà. Nước suối mải miết chảy suốt ngày đêm về “hằng tin”* nơi chân cầu thang của nhà sàn. Tuổi thơ tôi lớn lên, gắn bó với con suối, núi rừng cùng mẹ đi nương, lấy củi, tìm măng, xúc cá. Quê hương trong ký ức mỗi khi cảm xúc ngược về luôn đau đáu nỗi nhớ mẹ già.
Bàn chân trần lội ngược dòng suối, nơi nước chảy xiết khi nhìn xuống chân cong theo sóng nước phập phùng. Men theo bờ suối chừng hai con dao quăng là đến chân núi Nàng Tiên nơi có bãi đất rộng, bằng phẳng, mọc lên những đám cỏ may um tùm, rậm rịt mỗi khi đi qua đây phải xắn ống quần lên tận trên gối để đi qua. Mảnh nương nhà tôi nằm chung chiêng giữa lưng chừng núi, căn lều mái cọ dựng dưới một tán cây to các loài dây rừng bện vào nhau leo lên suốt bốn mùa xanh tốt. Đó là nơi đã nuôi lớn chúng tôi bằng củ sắn, củ khoai mẹ trồng trong những năm tháng khó khăn chồng chất.
Năm tôi 6 tuổi, bố mất vì căn bệnh ung thư vòm họng, mẹ tần tảo ngày qua tháng nuôi lớn 4 đứa con. Trước tôi có hai chị gái, tôi là thứ ba và em trai kém tôi một tuổi. Vất vả, thiệt thòi mẹ đã phải làm tất cả mọi việc từ cấy lúa, làm nương, tìm măng, bán củi, làm thuê cho người ta để kiếm cơm manh áo cho chúng tôi. Trong ký ức của tôi, bàn tay mẹ lúc nào cũng đen nhẻm, nứt nẻ, trai tay mọc như những loài quả dại xù xì vì phải liên tục cầm dao phát nương, cuốc đất. Ngày mưa cũng như ngày nắng mẹ không lúc nào nghỉ ngơi, ban ngày mẹ lo việc đồng áng, tối về mẹ lại cặm cụi bên bếp nặn men nấu rượu, đun cám lợn và tranh thủ khâu vá cho đến nửa đêm. Lúc nào rảnh rang một chút mẹ lại lúi húi ngoài vườn rau, trong mảnh vườn có vài mét vuông mà đủ các loại rau, mùa nào thức đó.
Cả làng tôi nhà nào cũng có một đến vài mảnh nương từ thời các cụ khai hoang rồi để lại cho con cháu làm kế sinh nhai. Tôi cũng không rõ diện tích nương nhà tôi là bao nhiêu, vì đất nương cứ trải theo các triền núi, thi thoảng lại có những mỏm đá tai mèo lô nhô. Người dân ở đây tính diện tích bằng kinh nghiệm sản xuất là ước chừng một mảnh nương có thể tra bao nhiêu kilogam hạt ngô hay hết bao nhiêu gánh cành sắn, cứ như vậy mà gieo trồng. Ở nương người dân làm hàng rào bằng cách trồng cây chuối hoặc cây tre, vầu để đánh dấu diện tích giữa các hộ gia đình.
Từ khi học cấp một chị em chúng tôi đã biết thắt bao dao ngang bụng, vác cuốc đi nương cùng mẹ. Những thớ đất sỏi đá, khô cằn dưới bàn tay lao động vất vả nhú lên những mầm xanh tươi tốt. Tôi thích nhất là những ngày mùa xuân khi cải nương đã già và đơm hoa vàng rộ khắp các triền núi, trong hương gió thoảng mùi thơm dịu tỏa đi khắp các cánh rừng. Khi tầng mây trở nên cao hơn so với mặt đất đó là khi mùa hè tới, những cây sắn già từ vụ trước chưa thu hoạch hết đã bắt đầu đơm những bông hoa nhỏ xíu màu hồng phớt lẫn cùng những quả sắn tròn xanh.
Mỗi lần lên nương chúng tôi thường nhặt những quả sắn tròn để làm bi chơi với lũ bạn cùng bản mỗi chiều. Khi những cây sắn rụng lá còn trơ những cành khúc khỉu và treo lúc lẻo quả sắn vàng, nâu cũng là đến mùa thu hoạch đỗ nho nhe. Những giàn đỗ nho nhe leo chằng chịt trên cây núc nác, cây sắn già, rủ xuống nặng trĩu. Mùa hè là mùa của những trái dưa mèo đơm trái trên nương, mùa những quả bí già chuyển màu vàng sậm xếp ngổn ngang trên nền cỏ xanh mướt. Mỗi lần đi nương là mò mẫm lên trên mó nước tìm những quả dưa non còn bám đầy phấn trắng, hai tay vặn qua vặn lại hết phấn rồi cắn một miếng đã hết nửa quả dưa. Khi những âu lo và muộn phiền cuộc đời chưa đến tuổi, chúng tôi vẫn cứ nằm dài trên nương ngắm những tia nắng vui đùa trên tán lá, lắng nghe từng đàn chim ríu rít vang khắp khu rừng.
Năm này qua năm khác, vụ xuân nối vụ mùa, no ấm đủ đầy nghiêng góc bếp nhà sàn. Chúng tôi khôn lớn, những gùi ngô gùi sắn cũng thưa dần vì chúng tôi đều đã trưởng thành và đi xa. Mẹ tôi đã già, cam chịu và vất vả suốt cuộc đời nhưng mảnh nương là người bạn, là nguồn sống của mẹ nên bốn mùa vẫn ngút ngát xanh tươi. Mẹ như loài hoa trên núi thanh khiết, kiêu hãnh và nghị lực trước mọi giông gió của cuộc đời.
 Trịnh Thứ 
Theo http://vanhocnghethuat.tuyenquang.gov.vn/

Nơi bầy ong làm mật

Nơi bầy ong làm mật
Từ lúc bà còn đang nằm viện, tụi con có ý ông bà sang tên đất đai của gia đình cho chúng. Trước lúc vĩnh biệt thế giới này bà cũng trăng trối với ông Minh. Theo di nguyện của bà ông Minh làm thủ tục  sổ đỏ đất đai cho con cái. Ông bà có một trai bốn gái. Hai vợ chồng con trai ở cơ quan, chồng lái xe con, vợ chạy thực phẩm cho bếp ăn tập thể. Các cô con gái đều chồng con nhà cửa đàng hoàng người chủ doanh nghiệp, người buôn bán ông để lại mấy gian nhà cũ làm nơi thờ phụng. Ông biết anh chị nào cũng máu làm giàu kể cả những việc mạo hiểm. Vợ chồng cô út sa vào đề đóm, cờ bạc, đa cấp vỡ nợ bán cả nhà cửa phải thuê chỗ ở. Ông tuyên bố không ở với bất cứ anh chị nào. Ông  quen cuộc sống độc lập thời còn lính. Mấy chục năm ông cùng đồng đội nằm gai nếm mật đánh giặc đến cùng  rèn luyện cho ông một bản lĩnh của người lính. Đồng đội dạy cho ông những kinh nghiệm sống bổ ích và những môn chữa bệnh, chữa rắn cắn bằng thảo dược, nuôi ong mật...
Nghỉ hưu ông sống chan hòa với  bạn bè làng xóm được mọi người quý mến đùm bọc.
Khi mãn tang vợ nhiều người chân tình  khuyên ông lấy vợ, để như đũa có đôi phòng khi đêm hôm mưa nắng trở trời. Ông chỉ băn khoăn vài năm nữa  sắp đến tuổi “thất thập cổ lai hy” không khéo lại mang tiếng là già  còn ham hố. Vả lại tìm người tâm đầu ý hợp thông cảm với hoàn cảnh mình đâu phải dễ.  Con cái lại không muốn ông đa mang, sau này “của ông của bà”.
Ông Minh tặc lưỡi suy ngẫm: “Biết sao cho vừa lòng người”. Cuộc sống vẫn vận động đi lên.  
Ông dành thời gian đi kiếm cây thuốc, thái phơi khô dự phòng giúp bà con thế mà có lần ông suýt tai bay vạ gió.
Lần ấy qua đồi keo ông phát hiện   một phụ nữ bị rắn cắn, cổ chân phải sưng vù, bầm tím rỉ máu, mặt  tái nhợt, quằn quại giãy giụa văng cả giấy tờ tiền nong ra đám lá khô dưới gốc cây keo. Ông Minh xé áo mình đang mặc làm ga rô vết thương, nhanh chóng đắp thuốc cấp cứu cho bệnh nhân. Ông cẩn thận lấy mũ đội đầu làm gối kê cao chân đau của nạn nhân, thu nhặt giấy tờ tiền nong để gọn vào chiếc nón lá. Qua giấy tờ biết nạn nhân tên là Lan năm mươi lăm tuổi ở thôn Thượng. Ông Minh bứt cành lá ngồi phe phẩy quạt chờ bệnh nhân hồi phục. Cô có khuôn mặt trái xoan, hàm răng trắng, tóc ngang vai vẻ trẻ hơn tuổi.
Lúc sau Lan chớp mắt đáo nhìn xung quanh, thấy mình nằm dưới đất cạnh người đàn ông cao lớn vận áo may ô  ba lỗ. Cô hốt hoảng mặt tái đinh ninh ngỡ mình bị hại, lấy hết sức bật dậy la toáng lên:
- Cướp cướp!
Tiếng la theo núi rừng đi xa dội lại làm ông Minh hết hồn thanh minh:
- Minh đây, không phải cướp…! Ông đưa tay chỉ vết thương: Rắn cắn… Chưa nói hết câu một thanh niên ở trần, quần đùi, mặt sát khí lao tới vung gậy  bổ xuống đầu ông Minh. Lan kêu thất thanh “đừng” vội đẩy ông Minh né sang bên. Ông Minh nhanh nhẹn bằng miếng đánh đỡ và khóa tay chàng thanh niên, cây gậy rơi xuống đất…
Hiểu sự việc người thanh niên nhìn ông Minh từ đầu đến chân phủi tay lắc đầu bỏ đi.
Lan chưa hoàn hồn nói không
nên lời:
- Bác có sao không? Em hết cả
hồn vía?! Lan nức nở khóc. Ông Minh pha trò:
- Không sao yên tâm! Lính mà lị. Hai người cười.
- Nó là Mạnh con trai em, làm bên vườn bưởi. Lan chỉ tay phía trước. Ông Minh gật đầu như vỡ lẽ.
Ông Minh đỡ Lan dậy. Hai người đi về phía thằng Mạnh.
Bưởi tốt tươi, cây thành hàng từ chân lên tận đỉnh đồi. Cây nào cũng mỡ màng, cành lá xum xuê, quả đan từ gốc tới ngọn. Mới tháng sáu mà quả bằng bát ăn cơm, một số to như mũ trẻ, ăn không he nhiều nước. Cành trĩu quả nặng kéo là mặt đất.
Mạnh buộc tre kiểu chữ A đỡ những cành lên khỏi mặt đất. Nhân đà ông Minh tiếp sức làm quen:
- Cháu chống được nhiều cành chưa?
- Nhiều.
- Mỗi cây có đến trăm quả không?
- Đến.
- Mạnh biết giống bưởi gì không?
- Soi Hà.
Nhấm nhẳn trả lời nhát một như miễn cưỡng câu trước câu sau Mạnh  lẩn sang chỗ khác. Sợ ông Minh phật ý Lan phân bua:
Mạnh không có tuổi thơ như bạn cùng trang lứa. Năm ba bốn tuổi bố bỏ đi sống với người đàn bà khác trong Nam bỏ hai mẹ con. Mẹ nuôi con bằng đồng lương công nhân ba cọc ba đồng. Đến lớp Mạnh bị bạn bè trêu chọc không có bố nó buồn và mặc cảm.
Đã thế mấy gã đàn ông máu me sán đến chọc ghẹo tán tỉnh thằng Mạnh ghét cay ghét đắng sinh ra định kiến lạnh lùng. Ông Minh đã hiểu vì sao Mạnh không muốn tiếp xúc. 
Theo Lan Mạnh rất thích nuôi ong mật vì ở đây mùa hoa bạt ngàn trắng hoa bưởi tím hoa chanh, hương thơm ngào ngạt, lắm mật ngọt cho ong bướm. Quang cảnh mùa đẹp như bức tranh tuyệt.    
Ông Minh tỉ mẩn chuyện với Mạnh   kỹ thuật, kinh nghiệm nuôi ong cách tạo mũ chúa, làm cầu, cách chia đàn, cho ong ăn vi ta min, vi lượng ong khỏe chống đỡ bệnh tật, bày kích thước  làm chuồng, đặt chuồng hướng Nam đón gió mát v.v. Mạnh trở nên thân thiện cởi mở yêu quý ông Minh. Bác cháu cười nói vui vẻ không còn khoảng cách. 
Lâu lắm rồi Lan mới được chứng kiến thằng Mạnh vui vẻ như thế. Lan sung sướng xao xuyến trong lòng. Cả ba người hình như đã gắn kết  gần gũi  hiểu nhau hơn.
Nắng đã nhạt, mặt trời xuống sau ngọn núi, gió thổi lao xao mát rượi, bầy ong chở đầy phấn hoa về tổ. Ai ai cũng cảm nhận lâng lâng nhẹ bẫng!
Ông Minh cố chống tay ngồi dậy, người đau ê ẩm. Căn phòng bệnh viện trắng toát sực mùi thuốc. Nhiều ngày nay cơn sốt rét có mầm bệnh từ những trận truy quét quân giặc  nằm  bờ bụi trong rừng sâu. Tuổi cao lại suy nghĩ chuyện con cái bán đất đai dốc vào những vụ làm ăn mạo hiểm hoặc đỏ đen... làm cơn sốt tái phát hoành hành ghê gớm. Mấy ngày nằm viện ông  không thấy bóng dáng con trai con gái, thỉnh thoảng con dâu đáo qua báo: “Các anh chị đang có câu chuyện làm ăn”! Ông Minh ngồi lặng thinh, nhìn vào khoảng không xa xăm lắc đầu!
Mạnh tay xách nách mang bước vào phòng bệnh vội liến thoắng:
- Hôm qua ở đây về mẹ cháu bảo  cháu mang trứng, hoa quả bác ăn nhanh chóng hồi phục. Ông Minh tươi tỉnh hẳn lên quên đi phiền muộn.
- Bác khỏe rồi. Mai ra viện.
- Bác lên với đàn ong, vườn bưởi  chứ?
- Nhất định rồi. Bác hứa. Hai bác cháu nắm tay nhau vui vẻ.
Bên ngoài phòng bệnh, mấy vị  bạn bè hàng xóm cười nói vui vẻ đến thăm ông Minh. Căn phòng ấm cúng đầy ắp tiếng cười.
Mấy ngày sau và những ngày sau nữa trên đồi keo và bưởi Soi Hà, ông Minh, cô Lan, Mạnh thỉnh thoảng chụm đầu vào nhau cười giòn tan. Những chuồng ong đông quân đang tíu tít chở đầy phấn về tổ. Bưởi đã căng da, hương thơm hoa chanh tứ mùa, hoa cỏ dại hoa keo ngan ngát.
Đào Xuân Thủy
Theo http://vanhocnghethuat.tuyenquang.gov.vn/

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Bạn chữ

Bạn chữ 
“Ngày mai, mẹ con bà chăn bò để tôi đi công chuyện nha”. Vừa buông bát xuống mâm, chưa kịp cầm tăm xỉa răng thì lão Chõe dắng vậy. Bà Chõe đang và dở miếng cơm, tròn mắt: “Ông đi đâu?”. “Lên tỉnh!”. “Lên tỉnh?”. Bà Chõe nhồm nhoàm hỏi lại. “Tôi lên Hội Văn nghệ có tí việc”. Lão Chõe gật đầu và nói rõ hơn. “Lên nhận nhuận bút hả ông?”. Bà Chõe mắt sáng lên. Lão Chõe xạm mặt lại: “Lâu nay có đếch báo nào in mà nhuận với chả bút”. “Hay nhận đầu tư? Cuối năm là họ hay chia đầu tư lắm. Ông nhanh chân lên mà kiếm lấy mấy triệu về cho mẹ con tôi nhờ”. “Khổ quá! Làm gì đã đầu tư đâu mà đầu tư!”. “Hay ông đi nhận giải thưởng? Cuối năm người ta cũng hay chia, hay phát giải thưởng lắm. Mấy bài thơ của ông thể nào cũng được giải. Ông nhớ mang tiền về cho mẹ con tôi đấy. Công khai tài chính nha”.
Lão Chõe bực lắm. Lúc nào mụ vợ lão cũng nghĩ đến tiền và tiền. Làm thơ thì cấm cấm đoán đoán. Thế mà nghe đến xét giải, xét đầu tư, nhận nhuận bút thì nhanh đáo để, thính tai đáo để. Phải chặn ngay cái tư tưởng này không có mình đi mấy ngày mà về tay không thì chết với bà ấy. Lão thủ thỉ: “Tôi đi thăm bác Cầm Sơn và bác Vũ Quốc Khánh ở trong Thanh Sơn. Lâu quá chẳng thấy các bác ấy đăng bài vở gì cả. Nhớ lắm”.
Nghe vậy, bà Chõe thừ người. Đúng là mấy ông văn nghệ sĩ, báo chí dở người. Thăm với chả nom. Cứ như phải lòng mặt không bằng. Chẳng biết có ra tiền không hay lại thơ thơ phú phú, anh anh em em mấy ngày rồi chẳng biết đường mà về.
Lão Chõe khăn gói quả mướp bắt xe lên phố Vàng cách nhà lão hơn trăm cây số đường rừng. Được cái, thời buổi kinh tế thị trường xe cộ nhiều nên đi lại khá thuận tiện. Lão định bụng phải gặp bằng được hai ông bạn văn chương này trước hết là xem các vị ấy sống ra sao, viết lách gì không mà lâu nay im ỉm vắng bóng thế. Sau nữa là lão khoe vừa mới sáng tác được chùm thơ tình về loài bò. Chùm thơ này lão tâm đắc lắm. Thế mà không có người nghe. Vợ lão thì... thà đừng nhắc đến thơ còn hơn. Thật tội cho lão, thi tài như thế mà cứ phải giấu kín. Nó chỉ được khai quật lên khi vợ lão nhận được giấy báo lĩnh nhuận bút. Thế nên, lần này lão giắt mấy bài thơ đó vào cạp quần và quyết gặp hai ông bạn văn sĩ miền sơn cước, cùng là cộng tác viên của báo tỉnh để đàm đạo.
Sớm đầu đông, phố Vàng khá tấp nập. Chợ huyện nhộn nhịp, người xe chen nhau chật ních. Quần áo dân tộc đủ màu. Các cô gái Mông, Dao Đỏ, Dao Tiền xúng xính trong những bộ váy sặc sỡ len lỏi giữa đám con gái váy ngắn, áo hai dây người Kinh nõn nà. Cảnh ấy làm lão choáng ngợp. Thế này mà lão được ở đây thì thơ ra ầm ầm. Chẳng bù cho ở quê, lão cứ phải suốt ngày theo đít đàn bò. Lão đờ người đứng như chôn chân nhìn mấy cái áo hai dây đang khúc khích thổi sáo bằng những bắp ngô nướng. “Ơ! Cái nhà ông này! Sao đứng ngẩn người ra giữa đường thế?”. Lão Chõe giật mình ngẩng lên đã thấy một tay thanh niên đang dắt ngựa len qua. Lão né mình sang bên. Hai tay lão nắn cạp quần. Cuộn thơ tình vẫn đó. Để cho chắc ăn, lão rút ra, cầm chắc trong tay. Rồi sực nhớ đến công việc, lão đi bộ đến quầy thuốc đông y. Quầy thuốc này là của vợ ông Cầm Sơn. Nhà ông Cầm Sơn có nghề thuốc đông y gia truyền và vợ ông ấy là thầy thuốc cao tay nổi tiếng cả một vùng. Ông Cầm Sơn sống nhàn thân, viết lách được nhiều cũng chính là nhờ bà ấy.
“Chào chị, lâu nay bà chị vẫn khỏe chứ?”. Lão Chõe cất tiếng chào. Bà vợ ông Cầm Sơn nghe tiếng người ngẩng lên. Nhận ra lão Chõe, bà ấy tươi tỉnh hẳn. Hai bên vồn vã bắt tay nhau hỏi han. Khi hỏi đến ông Cầm Sơn, bà ấy xịu mặt xuống: “Khổ lắm chú ơi! Chẳng biết ông nhà tôi bị ma ám hay sao ấy mà suốt ngày đóng cửa ru rú ở nhà. Không muốn gặp ai. Không tiếp xúc với ai cả. Ông ấy dặn với tôi rằng: Tuyệt đối không cho ai gặp. Ai hỏi cũng bảo là đi vắng. Cứ nói là ở Hà Nội với con nha. Bất kể ai cũng thế nha. Ông ấy thì thào vào tai tôi: Bí mật nha. Tôi quyết rồi đấy. Kể cả ông vãi đến chơi cũng thế nha. Chú bảo thế có tức không cơ chứ?”.
Bà Cầm Sơn dừng lại thở dài đánh thượt. Lão Chõe ngây người, ù tai. Sao lại đến nông nỗi này hả ông Cầm Sơn? Tự kỷ ám thị à? Về hưu rồi không có công việc thì vui bạn vui bè mà sống sao lại hụt hẫng đến thế cơ chứ? Đoạn, bà Cầm Sơn tiếp tục: “Chú biết ông ấy làm gì không? Không hả? Viết truyện! Giời ạ! Viết truyện ngắn, chú ạ. Nửa tháng sau thì ông ấy nói thật với tôi như thế. Ông ấy bảo báo Văn nghệ đang phát động cuộc thi truyện ngắn nên ông ấy quyết tham gia thử sức. Im hơi lặng tiếng cũng vì cái vụ đó. Chú biết ông ấy viết được bao nhiêu cái rồi không? Không hả? Ba sáu cái rồi đấy! Gửi đi rồi! Đang nín thở chờ giải và vẫn tiếp tục viết đấy”.
Lão Chõe tròn mắt ngạc nhiên. Thảo nào mà bấy lâu nay cấm thấy xuất hiện trên mạng và báo chí. Ghê thật. Âm mưu thật. Đúng kiểu lão Vũ Quốc Khánh. Im ỉm im ỉm rồi đùng một cái quẳng cho thiên hạ một cuốn tiểu thuyết to đùng. Đúng là sự kiện động trời. Các bố văn sĩ phố núi kinh thật. Như một thùng thuốc nổ sẽ nổ tung lúc nào không biết. Lão vo cuộn thơ tình của mình mà cảm thấy xấu hổ. Giờ mà gặp nhà văn Cầm Sơn thì... ê mặt quá. Mất thời gian vàng ngọc của ông ấy. Mấy bài thơ cỏn con này thấm tháp gì so với mấy chục cái truyện ngắn sừng sững của ông ấy cơ chứ. Còn hứng thú nào mà thơ với phú nữa. Thế là lão hỏi thăm qua loa mấy câu rồi cáo lý do để chuồn. “Ơ! Thế chú không vào thăm anh ấy một lát à?”. Bà vợ ông Cầm Sơn gọi với theo. Lão Chõe giơ tay: “Thôi, để khi khác chị ạ”. Và lão lủi thủi tay nải bước thấp bước cao đi vội về phía núi.
Phải đến nhà Vũ Quốc Khánh. Lão này vừa xuất chiêu một tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết trong năm nay chắc đang dư sức để nghỉ ngơi. Thế thì lão mới có tâm hồn mà nghe thơ của Chõe chứ.
Từ dạo in cái tùy bút “Xuân” rét se se ngọt trên báo tỉnh đến nay, Vũ Quốc Khánh hầu như lặn mất tăm. Cả trên mạng và báo chí nữa. Bạn đọc ngơ ngác không hiểu cái lão này đi đâu. Có người đã nhắn tin dò hỏi qua ChõeChõe cũng chịu. Mãi đến khi lão ấy tặng Chõe hai cuốn sách liền thì lão mới ớ người ra rằng lão trốn mọi người để viết. Người thế mới thâm chứ, mới có chí chứ. Phổi bò như lão thì chỉ có mà xách dép. Chắc xong “vụ” tiểu thuyết rồi, Vũ Quốc Khánh sẽ xả hơi đây. Chỉ có lão ấy là chịu nghe thơ Chõe, mới hiểu thơ Chõe. Thăm Vũ Quốc Khánh chủ yếu là lão khoe chùm thơ tình về bò này. Thơ sản xuất ra mà không đọc cho ai nghe liền là nó tức lắm. “Tức anh ách như bò đá” ấy. Gặp Vũ Quốc Khánh để cho lão xả thơ. Còn cái lý do im hơi lặng tiếng kia thì... kệ cha lão ấy. Quyền của lão mà. Bạn đọc có sốt ruột thì cứ tiêu hóa hết hai cuốn sách lão vừa tung ra đấy đi đã. Chớ có vội nha.
Nhà Vũ Quốc Khánh vắng tanh. Ô tô vẫn còn trong gara kia chắc chắn lão ta ở nhà rồi. Nhưng sao cửa lại đóng im ỉm thế nhỉ? Cổng cũng khóa kín mít nữa chứ? Con becgiê thấy lão giằng xích sắt vục dậy sủa ông ổng. Lão gọi toáng lên không ai thưa. Tiếng chó sủa, tiếng lão gào trộn vào nhau nghe lốc cốc cả góc phố. Chán chê, lão đành quay đít bỏ đi.
“Ơ! Bác Chõe! Bác mới lên đây ạ?”. Lão Chõe sững người nhìn chăm chăm vào tay thanh niên vừa chào mình. “Bác không nhận ra cháu à? Cháu là Thành, con bố Khánh đây!”. Như chết đuối vớ phải cọc, lão vồ lấy tay Thành hỏi lấy hỏi để. Thành mở cổng vồn vã mời Chõe vào nhà. Đón chén trà nóng trên tay Thành, lão Chõe vội vã hỏi về ông Khánh. Đang vui vậy mà nhắc đến bố, Thành xịu mặt xuống: “Khổ lắm bác ạ. Chỗ người nhà, cháu nói thật. Dạo này bố cháu lơ ngơ lắm. Giám đốc Công ty Xây dựng, công việc bề bộn ra thế, thế mà bố cháu cứ loay hoay vào viết lách. Bố cháu dặn cả nhà rằng: Tuyệt đối không cho ai gặp, kể cả bà ngoại cháu. Sau lần ra sách vừa rồi, cháu tưởng bố cháu sẽ nghỉ ngơi, tập trung vào công trường thế mà lại còn viết ác liệt hơn hồi trước”. “Bố cháu viết gì thế? Lão Chõe sốt ruột hỏi”. Lại tiểu thuyết bác ạ.
Tập hai của “Người đổi họ” có tên là “Bến tình” thì phải? Nghe đâu tập này gay cấn lắm, ác liệt lắm. Cháu thấy bố cháu có hôm bơ phờ như bị ốm, có đêm lại cười ha hả một mình giữa lúc mọi người đang ngủ ngon. Liệu có sao không hở bác? Liệu có phải đưa bố cháu đi khám bệnh viện tâm thần không hở bác?”. Lão Chõe trầm ngâm. “Liệu có sao không hở bác?”. Thành sốt ruột hỏi lại. Lão Chõe sực tỉnh: “Không! Không sao đâu. Bệnh viết ấy mà. Xong là lại khỏe liền. Thế hôm nay bố cháu đi đâu?”. “Không cứ hôm nay đâu, hôm nào bố cháu cũng đi từ 3 giờ sáng cơ. Mấy hôm đầu mẹ cháu và cháu tưởng bố cháu đi bộ nhưng sau lại chẳng thấy bố cháu về. Thì ra bố cháu thuê một phòng khách sạn ngoài phố Vàng trốn ở đó để viết tiểu thuyết bác ạ. Công trường bố cháu giao cho cháu tất. Ngày bố cháu cắt hết điện thoại, mãi chín mười giờ đêm về mới mở máy.
Thành nói một thôi một hồi về bố Khánh. Lão Chõe thở dài ra chiều thông cảm. Công nhận lão này âm mưu thật. Hổ giấu mình lần nữa đây. Thảo nào điện thoại ban ngày cho lão ấy thì chỉ thấy có “tít tít”. Đêm thì họa hoằn lắm lão mới nghe mà lại còn trêu lão rủ lão vào uống rượu nữa chứ. Bố ai đang đêm mà đi được. Thâm hiểm quá. Lão mà tung “Bến tình” ra nữa là giới văn sĩ tỉnh lẻ này trắng mắt ra cho mà xem.
Chợt nhìn thấy cuộn thơ tình về bò trên tay mình, lão Chõe bỗng thấy xấu hổ quá. Chết thật. May mà không gặp lão Khánh, chứ gặp mà khoe của này có mà ê mặt. Văn sĩ phải chí lớn như Cầm Sơn, như Vũ Quốc Khánh thế chứ. Cái ngữ mình có họa mà “lơ ngơ như bò đội nón”.
Nghĩ vậy, lão cáo lui. Thành giữ thế nào lão cũng không ở. Thôi, về cho sớm. Về cho vợ con lão khỏi mong. Đếch có nhuận bút, giải thưởng, đầu tư thì về sớm cho đỡ lằng nhằng. Mụ vợ đang hí hửng nọ kia mà về tay không lại ở qua đêm thì chỉ có chết. Còn hai ông bạn văn sĩ kia, mai kia các lão ấy trở thành nhà văn nhớn mình đến chơi, xin ý kiến sau cũng được. Giờ thì nhất vợ nhì bò cái đã.
Và lão kịp bắt chiếc xe cuối ngày để về với bà Chõe và đàn bò.
Đỗ Xuân Thu
Theo http://vanhocnghethuat.tuyenquang.gov.vn/

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...