Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

 

Khóc cười trong thơ Nguyễn Ngọc Thu

Người ta thường nói nước mắt mặn, nước mắt đắng, nhà thơ Thanh Tùng đã nới về thiếu nhi “các em mềm như nước mắt” nay Nguyễn Ngọc Thu lại phát hiện ra nước mắt không già trong bài Gặp lại: “Bao nhiêu điều nuối tiếc/ Thời chinh chiến đã qua/ Chỉ những giot nước mắt/ Gặp nhau mãi không già”…

1. Tất cả nhân loại khi sinh ra đã chào đời bằng tiếng khóc, tiếng khóc bắt đầu cho tương lai, một hành trình có bình yên, có thăng trầm dâu bể, có hạnh phúc, có khổ đau cứ thế mà xê dịch, mà lay động cuộc đời chúng ta cho đến những ngày cuối cùng trước khi vắng mặt vĩnh viễn trên mặt đất này: “Khi có dịp chụp hình/ Người ta thường thích cười/ Bởi đời một con người/ Cười không nhiều bằng khóc (trong bài Cười-khóc).

Nước mắt của con người chảy vào thiên tai địch họa, chảy vào chiến tranh, chảy vào những nỗi đau rình rập bất ngờ, cũng có thể do chính con người tự gây ra, từ khi có nhân loại nước mắt có thể tụ thành biển lớn và nụ cười thì cũng đầy ắp cả không gian, cũng có khi cười lại ra nước mắt và người ta đã ví nụ cười là cái khóc khô không lệ. Đời người được bắt đầu bằng tuổi thơ qua thành niên đến trưởng thành, yêu đương , lập gia đình rồi mải mê với hành trình cơm áo. Nhưng Nguyễn Ngọc Thu thì không phải vậy. Anh cùng với thế hệ của mình sinh ra trong hoàn cảnh đất nước ta đang có quân thù dày xéo, anh đã xếp bút nghiên , đáp lời sông núi vào cuộc trường chinh vệ quốc, bỏ lại sau lưng những ước mơ, những mộng tưởng, những người thân và môi chưa chạm phải lời yêu, chưa nghĩ đến ngày về bâng khuâng trong anh “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Anh đã tự giới thiệu mình “Ta về Thanh Miện quê hương/ “Chôn nhau cắt rốn” lớn khôn thành người/ Mênh mông biển lúa mây trời/ “ đất lành chim đậu” ngàn đời ông cha…” (Ta về). Và đây nữa “… Bến phà xưa không còn/ Cầu Mỹ lợi bắc ngang/ Con lại về bên  ấy/ Bao nghĩa tình nặng mang” (Quê nội).

Có lẽ trời Nam đất Bắc đã làm cho không gian thơ Nguyễn Ngọc Thu lung linh, huyền ảo, luôn hiện ra muôn cảnh, muôn màu, yên lặng mà dữ dội, từ trong sâu lắng mà bật ra những âm thanh xé lòng, mỗi lúc càng mở rộng biên độ cảm xúc làm cho ta rung lên khi lạc vào không gian thơ Nguyên Ngọc Thu. Anh là nhà thơ của lính nên tính ngăn nắp, gọn gàn, nguyên tắc, trung thành, chịu đựng, và cái thi vị của người chiến binh vệ quốc đánh giặc bảo vệ độc lập quê hương, tất cả đã làm nên chất liệu cho thơ anh bềnh vững nhưng không thiếu những ảo điệu mong manh, nhẹ nhàng, xao xuyến lòng người: “Đời người ngắn lắm ai ơi/ Khôn ra thì đã… gần nơi… cõi về” (Hoài niệm) nhẹ nhàng mà triết lý nhân sinh lắm, “Ngắt hoa sau vườn nhà/ Thắp nhang bàn thờ em/ Những bông trang đỏ thắm/ Còn đọng giọt sương đêm/ Nhiều người còn muốn ngắm/ Cũng đành giành thương em” (Sớm mai) mong manh mà nước mắt lắm Nguyễn Ngọc Thu ơi.

Hoàn cảnh tác giả luôn luôn lắng đọng vào trong thơ như người phương Tây đã nói “le style c est l home”, văn chương chở đạo đời. Nguyễn Ngọc Thu thuộc mẫu người nội tâm, anh yên lặng viết, yên lăng nghe và yên lặng tìm kiếm phát hiện, miệt mài như những cánh ong hút mật chữ nghĩa mà thành cái nghiệp văn chương. Mới gặp tưởng anh là người kiêu bạc nhưng khi đã kết nối thì tôi đã đếm được nỗi buồn anh, có lúc anh lại vô vi, do vây các từ “trời phật” hay xuất hiện tong thơ anh. Anh như một bông hoa súng tím mộng mơ, bên một góc trời, không làm rạo rực cỏ cây như hoa sen, nhưng sẽ xao động lòng ai đã ngang qua đấy và dừng lại khi nghe “… Dạ thưa nước mắt xuôi dòng/ Con ru cháu tiếp mênh mông biển dời/ Đồng lòng là kiếp con người/ Lời ru muôn thuở… ru nuôi tâm hồn”. Những nụ cười trai tráng của Nguyễn Ngọc Thu, đã tạc vào Trường Sơn thành ký ức tươi xanh thời kháng chiến, anh đã dấn thân yêu đời và tự hào. Những tiếng khóc của Nguyễn Ngọc Thu đêm đêm cho đồng đội nằm lại chiến trường, cho người vợ hiền quá cố từ độ thanh xuân, cho những giả dối của lòng người…

2. Sóng lòng hay sóng thi ca cứ vỗ vô biên giục giã anh viết, viết cho quê hương, viết cho thiên nhiên và thân phận con người. Với “Biển đời” xuất hiện một Nguyễn Ngọc Thu giàu trải nghiệm, qua những dông bão, bể dâu, ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, chỉ 27 đoản khúc viết cho người vợ hiền quá cố của anh đã rung lên trong ta những tiếng kêu thất thanh từ sự dồn nén khổ đau, thương nhớ. Sau đó sự xuất hiện của “Mùa hoa dã quỳ” anh lại gần gủi với thiên nhiên, với bao hoài niệm, bi hùng một thời trận mạc. Rồi qua “Ngôn ngữ tứ tuyệt” thơ anh đã có tầm khái quát cho những triết lý nhân sinh. Đến trường ca “Đã gần 40 năm” anh đã bộc lộ sự trăn trở của người lính sau ngày về đang tồn tại giữa hiện thực xã hội của thời anh đang sống với thái độ nghiêm túc mà nhìn nhận mọi diễn biến xã hội trước mắt anh. Bây giờ đến “Phía mặt trời” thơ Nguyễn Ngọc Thu có tầm khái quát, tư liệu chiến tranh là nguồn cảm xúc phong phú, sự chân thành, nghiêm túc, những hoài niệm đã mở ra và hướng tới cho thơ Nguyễn Ngọc Thu không lẫn vào ai được.

Những bước chân lãng du qua mọi miến đất đã khơi gợi cho anh nguồn cảm xúc bất tận nhìn ngoại mà hướng nội, hòa hợp dân tộc hòa hợp gia đình “… Xa bao năm hội ngộ / Buồn vui chuyện trong nhà / Tiền tài không hẳn sẳn / Tâm tình thì bao la / Chuyện Quốc Gia Quốc Tế/ Đụng đến là lệch pha/ Tranh luận càng thêm rối/ Yên lặng và tránh xa/ … Chiến tranh dã lùi xa/ Lòng người còn sóng gió!” (Hội ngộ) hoặc là “Ngày xưa anh chị vượt biên/ Nay người yêu nước mặc nhiên Việt Kiều/ Dân như giọt nước thủy triều/ Mặc cho trái đất xoay chiều xuống lên/ Cho dù thế giới đảo điên/ Gà cùng một mẹ Tổ Tiên… vẫn là!” (Hoàn cảnh). Mùa trong thơ Nguyễn Ngọc Thu luôn phảng phất hương quê, anh lại gần gũi với thiên nhiên “Tháng ba những trận mưa rào/ Cá rô lạch vượt hồ ao ra đồng/ Thảm lúa con gái ken chồng / Khói lam chiều vịn uốn cong tre làng…” (Tháng ba). Lục bát không phải sở trường của anh nhưng “Lúa thì con gái kén chồng/ Khói lam chiều vịn uốn cong tre làng…” là hình tượng, là hiện đại ngôn ngữ, làm cho lục bát mới ra, một cách nhẹ nhàng. Nguyễn Ngọc Thu luôn mở lòng ra với thiên nhiên “Đã lập tiết sang đông/ Sao Thu còn níu lại/ Hờn giận mà làm chi/ Xuân về ta xanh lại/ Thời gian kéo mùa đi/ Tình ta còn ở lại”.

Trong những nội hàm của cách phê bình hiện đại hôm nay là phê bình sinh thái hướng văn chương phải vào cuộc để cứu lấy môi trường sống đã và đang bị đe dọa từng ngày. Nguyến Ngọc Thu đã đi đúng hướng ấy trong “Phía mặt trời” có không ít những bài thơ gắn chặc thiên nhiên và con người. Đêm đêm hơi thở của mùa chinh chiến cũ đã phả vào anh những gian truân vội vả của ngày xưa, mùi hương của đồng đội, của quê hương, của núi rừng.

Hình ảnh của người vợ quá cố, mà anh đã hết lòng yêu thương “đi đâu em vẫn là số một”cứ hiện về. Tất cả làm cho thơ Nguyễn Ngọc Thu càng trăn trở, những bi hùng, những mãn hội ức, những khóc cười, những vật vả áo cơm, những gắn kết, quá khứ hào hùng và hiện tại đa đoan, thì anh đã tìm ra được hướng đi cho thơ và đời anh dã vượt qua gian khổ để tìm ra lẽ sống cho chính mình. Đây quý vị hãy nghe anh vô vi: “… Thân phận loài chim yến/ Lấy cái chết làm đầu/ Cả cuộc đời dâng hiến/ Trọn kiếp đời đau thương” (Chim yến) và đây nữa: “Hình như em hiện hình về/ Bóng em lẫn giữa bốn bè hoa lau/ Âm dương cách trở đã lâu/ Vẫn nghe tiếng vọng hai đầu nhớ thương” (Hình như).

Người ta thường nói nước mắt mặn, nước mắt đắng, nhà thơ Thanh Tùng đã nới về thiếu nhi “các em mềm như nước mắt” nay Nguyễn Ngọc Thu lại phát hiện ra nước mắt không già trong bài Gặp lại: “Bao nhiêu điều nuối tiếc/ Thời chinh chiến đã qua/ Chỉ những giot nước mắt/ Gặp nhau mãi không già”. Hai câu đầu là hoài niệm, hiện thực một thời, nhưng hai câu sau đậm chất thơ, nâng lên cung bậc cảm xúc, một phát hiện rất gần gủi mà ít ai nghĩ ra, đúng là cười ra nước mắt vì mừng quá đấy thôi. “Phía mặt trời” là thông điệp bình yên, mở ra và hướng tới, vượt qua những bóng tối để mà tồn tại, để mà thủy chung, để mà gắn kết, phải chăng nó là liều thuốc quý giá giúp cho đời bình sinh sau những phong ba bão táp hãi hùng.

Khép lại trang viết này vẫn chưa hết những điều tôi muốn nói cho thơ Nguyễn Ngọc Thu. Xin quý vị hãy tiếp tục cảm nhận. Chúc anh thành công trong hướng đi của mình, cũng là trong cái nghiệp, cái vô thường của thi ca.

6/6/2020

Xuân Trường

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Dòng chủ lưu của thơ Hà Nội hôm nay

Nhân có Hội thảo về thơ Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Việt chiến có nhắn tin bảo tôi viết hai trang về thơ Hà Nội trong sức sống của dòng chảy thơ châu thổ sông Hồng. Đó là một đề tài rất hay, rất hấp dẫn nhưng thành thật mà nói là rất khó. Vì thế, tôi nghĩ rằng tốt nhất là mình nên viết đôi điều về dòng chủ lưu của thơ Hà Nội hôm nay.

Lâu nay, khi nói về một nền thơ, về một vùng thơ người ta hay đi tìm đỉnh của nền thơ, vùng thơ ấy. Nhưng thế nào là đỉnh của một nền thơ. Đỉnh của một vùng thơ. Cũng giống như thế nào là thơ hay. Thế nào là thơ mới. Thế nào là thơ cũ. Đó là những khái niệm mù mờ, thật khó xác định, nói về nó là võ đoán. Cho đến nay chưa có câu trả lời thỏa đáng nào về các vấn đề này.

Ta thấy giai đoạn nào cũng có một vài nhà thơ được tôn vinh nhưng thơ của họ có hay thật không. Có sống được với đời sống hay không. Có giá trị gì về văn chương hay không. Hay chỉ có giá trị ngoài văn chương. Hay đó chỉ là cách đánh giá của một vai người có vai trò nào đó. Thậm chí, đó chỉ sự thổi phồng hết sức hồn nhiên của một vài cây bút phê bình ”trực chiến”, phê bình vặt, phê bình thông tấn hưởng lương ở một vài nhật báo, nguyệt san. Đọc lại các đánh giá hàng năm, xem lại các giải thưởng thường niên chợt thấy có cái gì đó thật khôi hài.

Nhiều người làm thơ, trong đó có tôi, hăm hở đi tìm cái khác, cái mới cho thơ mình. Ý là muốn tạo ra sự khác biệt với các nhà thơ khác. Nhưng muốn là một việc. Còn làm được hay không lại là chuyện khác. Theo quan sát của tôi, đa số các nhà thơ của chúng ta không mấy người quan tâm đến chuyện thơ mới hay cũ, thơ khác hay không khác. Với các nhà thơ thơ là thơ. Đơn thuần là họ làm thơ để giãi bày tâm tư tình cảm của mình, để chia sẻ cùng mọi người, để tỏ nỗi lòng mình trước cuộc đời, trước nhân thế, để giải phóng năng lượng cá nhân. Các nhà thơ có quan niệm về thơ rất khác nhau. Vì thế, các tác phẩm thơ ra đời cũng có số phận rất khác nhau.

Một tác phẩm thơ ra đời sẽ rơi vào 1 trong 3 tình trạng: 1) Được đông đảo bạn đọc đón chào nồng nhiệt; 2) Chia đôi độc giả một nửa phê phán một nửa tụng ca; 3) Không ai nói gì. Điều này dễ hiểu. Tình trạng này phản ánh thực trạng về độc giả hôm nay. Đối với tác phẩm được đông đảo ca ngợi nghĩa là tác phẩm ấy ngang tầm bạn đọc đương thời. Đó là bạn đọc số đông, bạn đọc bình dân, bạn đọc của thời nay. Những cuốn sách ăn khách chính là những cuốn sách đã may mắn gặp được nhóm bạn đọc này. Đối với tác phẩm chia đôi độc giả đó là tác phẩm phù hợp với nhóm độc giả này và không phù hợp với nhóm độc giả khác. Có thể nhóm phản đối là tinh hoa, nhóm tụng ca là bình dân, nhưng cũng có thể ngược lại, nhóm phản đối là bình dân và nhóm tụng ca là tinh hoa. Tùy vào nhóm phản đối hay tụng ca mà biết được thực chất giá trị của tác phẩm này. Đối với tác phẩm không ai nói gì. Hoặc là tác phẩm ấy quá tầm thường không ai thèm đọc, không có gì để nói. Hoặc là tác phẩm ấy quá cao siêu không phải của bạn đọc hôm nay. Nên có đọc cũng không dám nói gì. Trong ba loại tác phẩm trên thì loại không ai nói gì là loại tác phẩm bi kịch. Là bi kịch nhưng thời nào cũng có loại tác phẩm này. Không phải tất cả những tác phẩm này đều vô giá trị. Trong những tác phẩm ấy có thể đa số thực sự bị lãng quên. Nhưng cũng có những tác phẩm hôm nay bị xem là vớ vẩn nhưng ngày mai lại được xem là kiệt tác.

Dĩ nhiên, bên cạnh ba loại tác phẩm nêu trên, vẫn còn nhiều loại tác phẩm đặc thù khác. Đó là tác phẩm viết ra nhưng không được cấp giấy phép xuất bản. Đó là loại tác phẩm viết ra và có giấy phép xuất bản những lại bị cấm phát hành. Đó là loại tác phẩm in ra rồi nhưng lại bị thiêu hủy… Những trường hợp đặc thù này nhìn chung không có cơ hội đến với đọc giả hôm nay, nên cũng khó phán xét là hay hay dở, vì thế xin không đề cập ở đây.

Mấy chục năm qua, thơ Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ, chưa bao giờ chúng ta có nhiều thành tựu về thơ như hiện nay. Rất nhiều thành tựu nhưng cơ bản là thuần nhất, đồng điệu và giản đơn. Có thể phân thành 2 trường phái. Đó là thơ chính trị và thơ dân dã với hai chủ soái là Tố Hữu và Bút Tre. Gọi là hai trường phái cho sang chứ thực ra chả có trường phái nào. Hai trường phái nhưng cả hai cùng có đối tượng bạn đọc chung là quần chúng nhân dân. Cả hai có nhiệm vụ chung là tuyền truyền chính trị, tụng ca lãnh tụ, ngợi ca đời sống mới.

Gọi là hai trường phái chứ thực chất chỉ là một dòng chảy nhưng dãn ra thành hai cực. Giữa hai cực chính trị và dân dã chính là dòng chảy chính của thơ Việt Nam mấy chục năm qua. Đó là nơi giao nhau giữa thơ chính trị và thơ dân dã, thơ của quan và thơ của dân. Một đằng cao giọng cổ vũ chính trị và ngợi ca lãnh tụ, một đằng thì thủ thỉ, véo von ngợi ca đời sống thường nhật với hiếu hỉ buồn vui. Ở nơi này, lúc này thì thơ chính trị được tôn vinh, ở lúc khác, nơi khác thì thơ dân dã được tôn vinh. Thực ra, chưa bao giờ có sự phân chia rạch ròi giữa thơ chính trị và thơ dân dã. Thơ chính trị, kể cả tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng cũng rất dân dã bình dân và thơ dân dã cũng rất nhiều bài ca ngợi lãnh tụ hay tuyên truyền chính trị cũng rất cao giọng, lập trường vững vàng, khẩu khí anh hùng ca.

Dòng chủ lưu của thơ Việt Nam nói chung, thơ Hà Nội nói riêng mấy chục năm qua và hiện nay chính là thơ dân dã và thơ chính trị. Xét dưới góc độ khái niệm triết học có thể gọi là thơ Chính trị dân dã hay thơ Dân dã chính trị. Chính trị trước hay Dân dã trước, tùy thuộc vào đặc điểm thơ và cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Dù thế nào thì nó chính là thực thể thơ nằm giữa thơ Bút Tre và thơ Tố Hữu. Nghĩa là nằm trong ”từ trường” thơ vừa chính trị vừa dân dã. Đó là một dòng chảy cuồn cuộn, mạnh mẽ nhưng lại rất ngọt ngào, hài hòa, véo von, hấp dẫn. Thơ ấy rất hữu dụng có thể ngâm được, đọc diễn cảm được, hát được. Nó vẫn gắn bó mật thiết với đời sống chính trị đất nước, nhưng chủ yếu lại gắn liền với tâm tư, tình cảm đời sống thường nhật của mọi người. Ngày nay ta thấy, rất ít tác giả viết hoàn toàn ngô nghê, môn na, mách qué như theo kiểu Bút Tre. Cũng rất ít tác giả viết kiểu hô hào, cổ vũ chính trị thô thiển như Tố Hữu.

Chúng ta đang có một nền thơ rất đông đảo và bền vững rất vừa tầm với bạn đọc, rất vừa tầm với các nhà phê bình văn học hôm nay. Chính đời sống thơ ca phong phú, đa dạng này đã tạo ra một thế hệ các nhà phê bình mới rất ngang tầm. Tôi thấy thơ của Hà Nội hiện nay có rất nhiều bài thơ hay, câu thơ hay và có nhiều tác giả viết thật giản dị nhưng lại rất mới lạ và hấp dẫn. Hà Nội có hàng trăm câu lạc bộ thơ. Đơn vị, tổ chức nào cũng có câu lạc bộ thơ. Phương xã nào, tổ dân phố nào cũng có các câu lạc bộ thơ. Ngay ở tổ dân phố  nơi tôi ở cũng có Câu lạc bộ thơ tổ dân phố 26, do nhà thơ nổi tiếng Bế Thị Xong làm chủ nhiệm. Mấy năm nay tôi tham gia sinh hoạt thơ ở câu lạc bộ này và học hỏi được rất nhiều điều. Do ảnh hưởng của Câu lạc bộ thơ tổ dân phố mà thơ tôi hầu như đã thay đổi hẳn.

Ta thấy, ở đâu cũng có người làm thơ. Gần đây, rất nhiều tác phẩm thơ của các nhà thơ câu lạc bộ phường, xã, tổ dân phố đạt giải cao trong các cuộc thi thơ của các tờ báo, tạp chí văn nghệ tầm cơ quốc gia, các giải thơ hàng năm của các hội nhà văn, các hội văn nghệ. Rất nhiều hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội nhà văn Hà Nội được kết nạp khi đang là các hội viên ưu tú của các câu lạc bộ thơ phong trào ở Hà Nội. Về điều này tôi không dám bình luận rằng các câu lạc bộ thơ phong trào ở Hà Nội đã trưởng thành hay Hội Nhà văn Việt Nam đã trưởng thành. Có một sự thật là các câu lạc bộ thơ hoạt động hết sức sôi nổi, các nhà thơ tham gia vô cùng nhiệt huyết, sự sinh hoạt được tổ chức chặt chẽ, bài bản và rất chuyên nghiệp. Đến tham dự các câu lạc bộ thơ sinh hoạt thường kỳ ta mới thấy sức sống vô cùng mạnh mẽ của thơ và đời sống thực sự của thơ Hà Nội. Ai nói thơ hiện nay khủng hoảng, thơ hiện nay không có bạn đọc thì chứng tỏ họ chưa bao giờ thâm nhập vào đời sống thực sự của thơ ở các câu lạc bộ thơ Hà Nội.

Chúng ta không thể đòi hỏi thơ phải thế này, thơ phải thế kia và phán rằng thơ hiện nay chỉ có nền mà không có đỉnh. Đó là những suy nghĩ chủ quan của những người không làm thơ, của sự hiểu biết hạn chế, nông cạn về thơ và của những nhà phê bình vặt, phê bình nghiệp dư. Khi anh không trả lời được câu hỏi thơ là gì. Thơ hay là gì. Thơ mới là gì. Đỉnh thơ là gì thì anh không thể nói gì về thơ. Thơ phải gắn liền với đời sống. Đó có thể là đời sống của giới tinh hoa cũng có thể là đời sống của giới bình dân. Với thơ thì giới tinh hoa hay giới bình dân cũng đều bình đẳng như nhau. Mỗi giới có những quan niệm khác nhau về thơ không thể lấy chuẩn mực về thơ của giới này để đánh giá chuẩn mực về thơ của giới khác. Vì vậy, không thể nói thơ có nhiều bạn đọc là thơ có nhiều giá trị, còn thơ có ít bạn đọc là thơ ít giá trị. Cũng như làm sao có thể dám nói một câu đơn giản rằng thơ của người này hay còn thơ của người kia dở.

Nói như thế không có nghĩa tôi phủ nhận khuynh hướng tìm tòi, đổi mới thơ Hà Nội và thơ cả nước nói chung. Không ai có thể phủ nhận được thơ của các nhà thơ tiên phong tìm tòi và đổi mới thơ nếu thơ của họ hay, tạo ra sự khác biệt và có giá trị đích thực. Tìm tòi, đổi mới, tạo ra sự khác biệt và bứt phá thoát khỏi sức hút của nền thơ hết sức đông đảo vừa cuồn cuộn, mạnh mẽ vừa ngọt ngào, véo von hấp dẫn hiện nay không phải là chuyện đơn giản. Muốn làm được việc đó nhà thơ phải thực sự có nội lực, có vốn kiến văn dồi dào, có nghị lực phi thường và có bản lĩnh cao siêu. Không có bản lĩnh sẽ bỏ cuộc bởi sự phê phán của các nhà phê bình bình dân, bởi sự thờ ơ lạnh nhạt của độc giả, bởi sự ghen ghét, đố kỵ, hãm hại của những nhà thơ đồng thời.

Nhìn lại thành tựu thơ của chúng ta mấy chục năm qua chính là thành tựu của nền thơ được xây dựng bởi đặc trưng vừa chính trị vừa dân dã. Đó là thơ chính trị dân dã hoặc thơ dân dã chính trị. Mọi giải thưởng văn chương về thơ đều trao cho những tác phẩm đỉnh cao của loại thơ này. Tác phẩm được trao giải nếu không đặc sắc kiểu thơ Bút Tre thì cũng đặc sắc kiểu thơ Tố Hữu. Hoặc là đặc sắc bởi cả hai. Trong đa số các nhà thơ Hà Nội hôm nay cơ bản ta vẫn thấy lấp ló bóng dáng của Tố Hữu và Bút Tre. Chính họ – các nhà thơ chính trị dân dã hay dân dã chính trị, đã, đang và sẽ tiếp tục sáng tạo ra dòng chủ lưu của thơ Hà Nội hôm nay. Có thể khẳng định một đội ngũ các nhà thơ hết sức đông đảo, tràn trề nhiệt huyết, vô cùng đắm đuối với thơ của Hà Nội đang sáng tạo ra một nền thơ vừa vô cùng sôi động, mạnh mẽ, vừa ngọt ngào, véo von, dịu dàng hấp dẫn rất hợp với đông đảo bạn đọc hôm nay.

8/6/2020

Nguyễn Linh Khiếu

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Thiên nhiên phục sinh trong thơ Trần Lê Khánh

Đã lâu rồi, ít nhất trong quan sát của tôi, giới làm thơ đương đại dường như chẳng còn để ý đến thiên nhiên nữa.

Câu thơ:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió;

mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây

của Xuân Diệu có vẻ như đã bị niêm phong trong một góc khuất nào đó của ký ức phai màu.

Người đương đại giờ bận bịu nhiều với việc thanh toán những hệ lụy phàm trần. Bị bủa vây bởi công việc, bị hấp dẫn bởi những tiện nghi của văn hóa tiêu thụ, bị điều kiện hóa bởi nhịp sống siêu tốc độ người ta thực sự chẳng còn chút thảnh thơi nhỏ nhoi nào về thân xác lẫn tâm hồn cho mơ mộng. Hi hữu dòng chảy vô tình của thời gian có đưa người ta tới một cõi nào khác, thì cõi ấy cũng đã đầy những va đập dữ dằn, ưu tư, phiền não.

Biết làm sao được, cuộc sống nhiều toan tính và đổi thay này không còn chỗ cho cái lãng mạn đích thực, mặc dù, có thể nhiều người làm thơ vẫn biết và vẫn còn nhớ nó từng được sinh ra một cách huy hoàng trong thơ của thế kỉ trước như thế nào.

Thảng hoặc, có bắt gặp đâu đó cái lãng mạn. Mừng và rồi thất vọng. Vì chạm phải fake romantism của thơ ngôn tình.

Bởi thế, nên, khi đọc “Lục bát múa” (2016), “Dòng sông không vội” (2017) và “Ngày như chiếc lá” (2018) của Trần Lê Khánh, tôi vừa ngạc nhiên vừa tò mò…

Làm sao một người từng tu nghiệp ở một đô thị lớn của Hoa Kỳ rồi về sống ở một đô thị lớn nhất của xứ sở này và vì công việc kinh doanh mà in dấu chân mình qua nhiều đô thị sầm uất khắp hành tinh nhưng với cả ba tập thơ dày gần ngàn trang bóng dáng đô thị hiện lên trong thơ anh thật ít ỏi.

Không chỉ ít ỏi mà đô thị còn được nhắc tới bằng một thái độ thật thờ ơ:

ngọn đèn nghĩ ngợi miên man

người đi qua phố chẳng màng bước chân

(mà thôi – ngày như chiếc lá)

Trong khi, ngược lại, thiên nhiên tràn ngập trong cả ba tập thơ ấy.

Tuy nhiên, sự hiện diện với một địa vị khá đặc biệt của thiên nhiên trong thơ Trần Lê Khánh dù gây không ít ngạc nhiên nhưng ngay cả chính điều đó cũng không mấy quan trọng. Thiên nhiên trong thơ anh thường gây ngạc nhiên bởi cái nhìn và cách diễn tả mang tính lạ hóa:

mây xoa ngọn đồi

sỏi đá mềm như khói

(làm gì với thời gian – dòng sông không vội)

Cái nhìn hồn hậu, đầy ngẫu hứng và hết sức tự do này gần như chi phối thường trực trong hành trình mới mẻ của thi sĩ và là điều cốt yếu khiến cho thiên nhiên không chỉ được phục sinh mà còn hiện ra với một dáng vẻ hoàn toàn tươi mới.

Có hình ảnh nhân hóa:

con sóng mải gội đầu trên cát

 biển cởi cài chiếc cúc hải âu…

Có hình ảnh siêu thực:

gió chảy dưới dòng sông

con cá nằm mơ đeo chiếc lục lạc hồng

(nàng – dòng sông không vội)

Có hình ảnh bán tượng trưng và bán siêu thực:

ngân hà giãn nở từ từ

đôi đồng tử, con sói thu nhỏ dần…

(lục bát múa)

Và cũng có lúc với những hình ảnh cũ, ngôn từ cũ. Vậy mà thi nhân vẫn cấu trúc được cả một thế giới mới.

trăng bỏ đi ảo ảnh sa lầy

áng mây xưa nhớ cơn gió

(dòng sông không vội)

Tại sao ta cảm nhận được điều đó? Một phần do tài năng. Nhưng chủ yếu là ở thái độ. Thiên nhiên trong thơ Trần Lê Khánh không phải là cái cõi để ngắm nhìn và thưởng thức mà là cái cõi để người ta sống chung, sống cùng. Do đó, người ta bắt gặp trong thơ Trần Lê Khánh những cảnh “mặt trời vội đi làm”, “mây mệt mỏi ngả lưng” cùng bao nhiêu vần vũ. Trong thơ Khánh cũng tràn đầy cảnh đuổi bắt và truy tìm. Của gió (gió đuổi gió), của mây (mây vò mây), của sóng (sóng đẩy sóng) và của sương khói (sương khói tìm sương khói)…

Thiên nhiên trong thơ anh cũng chẳng phải là đối tượng thẩm mĩ để thi nhân diễn tả bằng những ngôn từ hoa mĩ. Thiên nhiên trong thơ anh là cái cõi để tạo vật được sống tinh tế và cao độ trong những ân tình:

hạt sương đang giấc ngủ say

lá trở gió, đêm run tay chần chừ

Cái vũ trụ bao la bỗng bé lại bởi những cử chỉ đầy yêu thương, chăm chút:

gió ru chiếc lá trên tay

ầu ơ giọt nắng ngủ say lắm rồi

Vì thiên nhiên là để sống chung, sống cùng nên anh nhìn thấy tạo vật còn là nơi bộc lộ những vị tha, bao dung, độ lượng:

ngày như lá rời khỏi cành

đêm xô ngọn gió làm lành với cây

(lục bát múa)

những chiếc lá me bay cao

vá lại mùa thu đang vỡ

(dòng sông không vội)

Nhãn quan ân tình của thi sĩ cũng khiến thế giới được cấu trúc lại theo một trật tự mới:

… có một ngày kia

ngón tay thả mặt trời xuống dòng sông

trôi cánh hoa giọt sương chiếc lá

 trôi theo hoàng hôn lấp lánh…

(phía sau mặt trời – ngày như chiếc lá)

ở đó, thiên nhiên mạnh dạn đổi thay thân phận và diện mạo. Mặt trời sẽ không còn vẻ gay gắt, chói chang, hơn thế còn biết thu mình nhỏ xíu trong lòng tay người để vũ trụ kia bỗng nhiên đổi tọa độ và mặt trời cũng đã tự nguyện gia nhập vào một thái dương hệ khác, theo đó, mọi sự vật chuyển động theo một trật tự mới, trở nên bình đẳng để hòa điệu cùng nhau rồi cùng tỏa sáng theo một cách hoàn toàn mới.

Cũng từ khi thi sĩ xuất hiện, không chỉ có mặt trời mà mọi vật đều đổi thay thân phận và sống bằng một giá trị khác:

có một ngày kia

đóa hoa lưu li nở mãi không tàn

chiếc lá non run nắng…

Cả những vật vô tri từ đấy cũng khởi hành sống theo cách mới:

có hạt bụi đỏ đi thiền

trong nắng sáng, bị thôi miên từ từ…

Và làm mềm lại những vết thương, làm dịu đi những bơ vơ, trôi dạt:

là hoa theo sóng đến đây

là tiếng nước vỗ ra ngày, từ đâu

Nhưng thiên nhiên đâu chỉ là cõi riêng của những ân tình?

Thiên nhiên trong thơ Trần Lê Khánh là một thế giới đầy và là một thế giới mở với nhiều phát hiện lạ, đầy ngẫu hứng:

từ ngày trái đất đười ươi

cỏ hoa học cách tươi cười chào nhau

hàng cây rũ lá lặng yên

rừng xưa khản đặc lời nguyền sau lưng

chờ người nhầu cả bóng đêm

lá xanh lá úa lặng câm trên cành…

(lục bát múa)

Thiên nhiên còn là cõi tưởng thân thuộc mà hoàn toàn xa lạ; tưởng thấu hiểu mà thực chất chứa bao nhiêu bí ẩn của những điều chưa biết:

chiều tàn mây gió uyên thâm

ánh đèn rơi rụng gieo mầm lối phai

Không phải là người ta không thấy trong lục bát, Trần Lê Khánh dù được tạo hóa ban tặng cho rất nhiều phóng túng và tự do để có thể tiện đường sáng tạo vẫn còn đây đó phảng phất chút bóng dáng của Bùi Giáng, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Duy…nhưng người ta cũng thấy một nỗ lực dài hơi của anh để làm mới lục bát bằng thi ảnh, cú pháp, giọng điệu và cả về ngôn ngữ.

Đó là cách làm giãn nở những gì tưởng như đã tới hạn:

pha vàng một chút lâm ly

vì mùa thu chẳng còn gì để phai

hạt mưa chưa nguội trăm năm

ngàn năm đã tạnh trên nhành lá non

Trần Lê Khánh trở thành thi sĩ do những biến động vừa tình cờ vừa bí ẩn của số phận cá nhân. Tuy nhiên, chẳng có sự tình cờ nào là ngẫu nhiên cả. Những hò hẹn của kiếp nào xui anh giờ đây trở thành thi sĩ? Anh làm sao tự biết được? Nhưng anh sẽ nắm lấy dịp may, nắm lấy cơ hội mà cao xanh đã rộng lòng ân thưởng cho mình để thực hiện cái sứ mệnh:

nhặt tiếng thác đổ trong nôi

nghe tiếng trứng vỡ ở nơi thiên hà

Thiên nhiên đã được phục sinh và phục hưng có lẽ từ lý do đó.

Tuy nhiên, đến với thiên nhiên, sống với thiên nhiên, thậm chí có lúc lạc giữa thiên nhiên với nhiều say đắm và mê cuồng đi chăng nữa, thực ra cũng chỉ là để đến được với chính mình.

Hành trình đó, không đơn giản là một hành trình đi tìm sự cứu rỗi.

Hơn thế, nó chứa đựng một nỗ lực thanh tẩy vừa cố tình vừa tự nhiên khi người thơ chợt nhận ra chính thơ đã trao cho anh ta cái cơ hội được soi mình qua cõi khác.

Hà Nội, 9/6/2019

Nguyễn Phương

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Dịch thuật và quảng bá văn học Nhật Bản ra nước ngoài

Kể từ khi trên văn đàn thế giới xuất hiện Murakami Haruki, người đã thực hiện một bước ngoặt trong việc tiếp nhận văn học Nhật Bản trên thế giới, tác phẩm của các nhà văn Nhật Bản khác đã được dịch ra tiếng Anh và các ngôn ngữ khác. Chúng ta đang sống trong thời đại, khi cần đặt ra vấn đề về thực chất của nền văn học dịch Nhật Bản và sự tồn tại tiếp theo của nó  như một nền văn học được toàn cầu hóa, vượt xa ngoài các biên giới quốc gia. Nhân kỷ niệm 30 năm ngày tác phẩm đầu tiên của Murakami Haruki được dịch ra tiếng Anh, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của Kōno Shion, GS  Đại học Sophia, Tokyo.

Murakami Haruki – nhà văn đã thay đổi hình ảnh văn học Nhật Bản

Ngày 10 tháng 9 năm 1990, tạp chí The New Yorker đã công bố bản dịch truyện ngắn của Murakami Haruki “TV People” (tạm dịch: Người Ti-vi). Đây là tác phẩm đầu tiên của tác giả được dịch ra tiếng Anh.

Sự xuất hiện của một truyện ngắn Nhật Bản trên tạp chí văn học uy tín nhất nước Mỹ đã trở thành bước đột phá không những trong sự nghiệp của chính Murakami, mà còn trong lịch sử dịch thuật các tác phẩm văn học Nhật Bản ra Anh ngữ. Từ đó, các tác phẩm của Murakami đã được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ, đã được trao nhiều giải thưởng văn học ở các nước khác nhau (ví dụ, giải thưởng văn học Jerusalem và giải Franz Kafka), và trở thành sách bestseller trên thế giới. Đây là một thành công rất lớn cả về mặt văn học lẫn về mặt kinh tế – một hiện tượng hy hữu của văn học Nhật Bản.

Sự xuất hiện của Murakami Haruki trên văn đàn đã tạo ra bước ngoặt trong sự tiếp nhận văn học Nhật Bản trên phạm vi toàn cầu. Nhà nghiên cứu Mỹ Edward Fauler cho rằng “thời đại hoàng kim của văn học dịch Nhật Bản”trong thế giới Anh ngữ bắt đầu vào năm 1955 với bản dịch tiếng Anh hai cuốn sách: “Homecoming” (Về nhà) của Jiro Otsuki và “Some Prefer Nettles” (Một số người thích cây tầm ma) của Tanizaki Jun’ichirō. Trong điều kiện phục hồi sự quan tâm đối với văn hóa Nhật Bản ở nước Mỹ thời hậu chiến, đã hình thành nên hình ảnh văn học Nhật Bản như một nền văn học duy mĩ độc đáo ở bộ phận độc giả Anh ngữ định hướng trước hết vào “ba trụ cột”: Tanizaki, Mishima và Kawabata.Thể hiện sự đan xen kỳ lạ giữa thế giới tưởng tượng và thế giới hiện thực trong việc mô tả đời sống hằng ngày của Nhật Bản, các tác phẩm của Murakami vốn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học Mỹ, đã làm thay đổi quan niệm về văn học đương đại Nhật Bản tồn tại vào thời điểm đó trong xã hội Mỹ.

Bản dịch tiếng Anh đầu tay của Murakami do một nhà xuất bản Nhật mà lúc đầu ông cộng tác, khởi xướng.  Tuy nhiên, về sau nhà văn tìm được người đại diện văn học và bắt đầu hợp tác rất chặt chẽ với các biên tập viên Mỹ, đồng thời ông trau chuốt và làm cho các tác phẩm của mình thích nghi hơn với độc giả tiếng Anh (nói chính xác hơn là độc giả Bắc Mỹ). Chính nhà văn đã viết và nhiều lần nói về điều đó. Ngoài ra, một số tác phẩm của ông, ví dụ tiểu thuyết “After Dark” (Sau bóng tối) chứa đựng những tình tiết do Murakami thêm vào với hy vọng cuốn sách sẽ được dịch.

Những mặt sáng và tối của hiện tượng “Murakami”

Đã ba thập niên trôi qua kể từ khi Murakami lần đầu tiên xuất hiện trong thế giới Anh ngữ. Có thể gọi ông là một trong những đại diện xuất sắc nhất của thời đại mình, sánh ngang với những cây đại thụ của “Thời hoàng kim của văn học dịch Nhật Bản” như Tanizaki, Mishima và Kawabata.

Bàn về văn học dịch Nhật Bản, không thể không ghi nhận sự hiện diện mạnh mẽ của Murakami Haruki mà với tưcách một hiện tượng văn học có những mặt sáng và tối. Phong cách sáng tác đặc biệt của nhà văn được hình thành dưới ảnh hưởng của Raymond Chandler, Kurt Vonnegut và Raymond Carver, và nhìn chung, khi dịch các tác phẩm của Murakami ra tiếng Anh và các ngôn ngữ châu Âu khác, trở ngại ngôn ngữ và văn hóa của ông được coi không lớn. Tác phẩm của ông được độc giả khắp thế giới hâm mộ, tuy nhiên, tác giả cũng nhận được không ít lời nhận xét từ phía các đồng nghiệp – các nhà văn và nhà phê bình văn học, trong số đó nổi bật nhất là nữ văn sĩ Mizumura Minae, sinh ra và lớn lên ở Mỹ, nhưng thành thạo cả tiếng Anh lẫn tiếng Nhật.

Nhà nghiên cứu văn học, dịch giả các tác phẩm của Yōko Ogawa và Natsuo Kirino ra tiếng Anh, giáo sư Stephen Snyder trong bài báo của mình “Hiệu ứng Murakami” đã nghiên cứu một xu thế được hình thành ở phương Tâyvề việc đánh giá bất cứ nhà văn Nhật nào trên quan điểm anh ta có thể trở thành “Murakami mới” hay không. Ví dụ, ngay cả khi các nhà văn lớn nói trên như Ogawa và Natsuo bị dán nhãn hiệu “nhà văn theo phong cách Murakami” thì các nhà phê bình sẽ không quan tâm tới những đặc điểm văn xuôi riêng của họ nữa. Nhưng đồng thời Snyder cũng thừa nhận rằng nhờ có hiện tượng “Murakami” mànhiều nhà văn Nhật trở nên nổi tiếng trên thế giới. Dù sao đi nữa, khi nói về việc dịch văn học Nhật 30 năm gần đây, không thể không nhắc tới Murakami.

Từ thơ hiện đại gendaysi đến tiểu thuyết ranobe

Liệu có thể nêu lên những đặc điểm nào đó của văn học dịch Nhật Bản ngoài Murakami?

Thứ nhất, cần phải ghi nhận sự đa dạng của các tác giả có tác phẩm được dịch. Cho tới trước những năm 1980, chủ yếu các nhà văn nam giới được dịch. Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1990, đã xuất hiện hàng loạt nữ văn sĩ có tác phẩm được dịch ra tiếng Anh:  Yūko Tsushima, Natsuo Kirino, Yōko Ogawa, Sayaka Murata, v.v…

Tiếp theo sự đa dạng về tác giả là sự đa dạng về thể loại:  ngoài văn học “cao cấp”, văn học trinh thám, viễn tưởng cũng được dịch.

Tại Trung Quốc, nhà văn trinh thám nổi tiếng Nhật Bản Higashino Keigo trở thành tác giả được yêu thích nhất trong thể loại của mình. Với việc ấn hành các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết ranobe và các tác phẩm của những tác giả đương đại như Itou Keikaku và Enjou Tou bằng tiếng Anh nhà xuất bản «Haikasoru» đã có đóng góp đáng kể vào việc quảng bá văn học Nhật Bản trong giới Anh ngữ.

Thơhiện đại gendaysi với những tên tuổi như Ito Hiromi và các tác giả khác hiện nay cũng có thể tìm đọc trong các dịch phẩm Anh ngữ.

Tiểu thuyết ranobe, một biến thể của văn học đại chúng Nhật Bản bao gồm nhiều thể loại (từ tiểu thuyết tình cảm và khoa học viễn tưởng đến tiểu thuyết kinh dị) trong phiên bản tiếng Anh dần dần chiếm lĩnh thế giới, thu hút ngày càng nhiều độc giả mới ở những nước khác nhau.

Trở nên nổi tiếng trong tình hình bùng nổ của anime (phim hoạt hình) và manga (truyện tranh), vào những năm cuối thế kỷ XX, các cuốn sách thuộc thể loại này thường được lấy làm cơ sở cho truyện tranh hoặc phim hoạt hình. Có thể nói rằng cho đến nay ranobe đã tìm thấy độc giả của mình ở các nước Anh ngữ, Đông Nam Á và các khu vực khác của thế giới.

Nhân đây xin trình bày một vài nét về sự hỗ trợ của nhà nước đối với việc dịch nghệ thuật vốn đóng vai trò không nhỏ  trong việc quảng bá văn học dịch Nhật Bản.Năm 2002, Cục văn hóa đã khởi động dự án xuất bản văn học Nhật (Japanese Literature Publishing Project) với mục đích quảng bá và hỗ trợ xuất bản văn học Nhật bằng các ngôn ngữ khác nhau: không chỉ tiếng Anh, mà còn tiếng Pháp, Đức, Nga, Indonesia, v.v… Trong khuôn khổ dự án này, các tác phẩm của các nhà văn cổ điển đương đại (Natsume Sōseki, Akutagawa Ryūnosuke và nhiều người khác),các kiệt tác văn học hậu chiến (“A Wife in Musashino” (Bà Musashino) của Shōhei Ōoka, “Embracing Family” (Vòng ôm gia đình)của Nobuo Kojima, v.v…) và các tác phẩm phản ánh đời sống của xã hội Nhật Bản đương thờiđã được dịch (đôi khi dịch lại). Ngoài sự hỗ trợ tài chính cho việc xuất bản các dịch phẩm, Dự án cũng tạo điều kiện cho các nhà xuất bản mua những cuốn sách đã xuất bản.Nhưvậy, đã mở ra con đường đến với thế giới rộng lớn của những cuốn sách quan trọng, nhưng không có triển vọng về mặt kinh tế. Nhờ có dự án nàysố lượng các tác phẩm văn học Nhật Bản được giảng dạy trong các trường đại học nước ngoài đã tăng lên đáng kể, và vì vậy nó được đánh giá rất cao trong giới hàn lâm.

Nhưng thật đáng tiếc là trong con mắt các chính trị gia, dự án không có giá trị như vậy. Tồn tại chưa đầy 10 năm, chương trình tài trợ xuất bản văn học Nhật Bản bị hủy bỏ trong khuôn  khổ “cắt giảm ngân sách” vào đầu những năm 2010.

Bước chuyển của văn học Nhật Bản: từ văn học dân tộc sang văn học thế giới

Nhờ có các dịch phẩm, trước mắt các độc giả nước ngoài đang dần dần mở ra những chân trời ngày càng mới của văn học Nhật Bản trong hơn ¼ thế kỷ gần đây. Vượt qua sự tiếp nhận rập khuôn được hình thành trong thế kỷ trước gắn chặt văn học dân tộc với văn hóa dân tộc, văn học dịch Nhật Bản có mọi điều kiện để trở thành một bộ phận của văn học thế giới. Không loại trừ một điều rằng độc giả các nước khác sẽ phát hiện ra giá trị mới của nó mà người Nhật không nhìn thấy.

Có thể, trong bối cảnh này chúng ta cần xem xét lại nội hàm khái niệm “dịch thuật”. Ví dụ, tiểu thuyết ranobe «All You Need is Kill» (Tất cả những gì bạn cần là Giết) của Hiroshi Sakurazaka, sau khi công bố bản tiếng Anh đã trở thành cơ sở cốt truyện của bộ phim bom tấn Hollywood “Edge of Tomorrow”(Cuộc chiến luân hồi).Và mặc dù một số đặc điểm của tính cách nhân vật, nơi cư trú và địa điểm xảy ra câu chuyện có nhiều thay đổi, nhưng dù sao cốt truyện chính (cuộc chiến đấu chống lại một chủng tộc ngoài hành tinh thù địch gọi là Mimics)vẫn giữ nguyên trong “dịch phẩm”. Nghĩa là, nhìn chung, những nội dung chủ yếu vốn có đã được chuyển tải. Nhưng liệu có thể gọi một “dịch phẩm” như vậy là trung thành và liệu đã đến lúc phải xem xét lại quan niệm của chúng ta về sự gần gũi của dịch phẩm với nguyên tác chưa?

Thế giới xung quanh đang thay đổi đến chóng mặt. Sau 30 năm, cùng với sự xuất hiện của sách điện tử, sự phổ cập của mạng xã hội và sự phát triển của công nghệ dịch, thực tiễn đọc sách văn học dịch cũng đã hoàn toàn thay đổi. Do đó, vấn đề về tính bức thiết của các dịch phẩm văn học cũng được đặt ra. Và mặc dù một trong những chủ đề phổ biến nhất được trao đổi trong ngữ cảnh này là vấn đề lựa chọn tác phẩm để dịch  (của ai? tác phẩm nào?), cũng như vấn đề về tiêu chí dịch thuật (cần dịch như thế nào?), tôi vẫn có cảm giác rằng hiện nay vấn đề quan trọng hàng đầu là nhận thức được các tác phẩm dịch của văn học Nhật Bản sẽ có giá trị gì (và có hay không?) đối với chúng ta.

10/6/2020

Kôno Shion

Trần Hậu dịch

Nguồn: Nippon.com/VHNA

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Nhà thơ Phùng Hiệu với “Dấu chân biển cả”

Tôi nhận tập thơ Dấu chân biển cả của Phùng Hiệu gửi tặng ngay từ những ngày đầu mùa dịch nghiệt ngã gây trở ngại không yên cho nhân dân thế giới trong đó có anh em văn nghệ sĩ. Dù tình trong như đã, nhưng anh em ở xa cách nhau, nhà thơ Phùng Hiệu vẫn ưu ái gửi đến tôi qua đường bưu điện. “Dấu chân biển cả” – cũng là tựa đề của một bài thơ trọng tâm (44 câu) đăng ở đầu tác phẩm – với lời đề tặng rất chân tình. Qua một thời gian đọc để suy nghĩ về một tác phẩm văn học được sáng tác công phu, tôi mới dám nói lên đôi lời cảm nhận của mình về đứa con tinh thần tâm huyết của một nhà thơ quen thuộc trong xã hội văn chương nước nhà.

Trong môi trường văn chương nghệ thuật của nước nhà hôm nay, nhà thơ Phùng Hiệu (sinh năm 1976) không phải là một chân dung văn học xa lạ. Nhà thơ năng nổ quen thuộc này quê ở Đà Nẵng, lớn lên ở Đồng Nai và tốt nghiệp Đại học Khoa học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay, anh là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Bến Nghé – Hội Nhà văn TPHCM và là Chủ biên wesite vanchuongphuongnam,  diễn đàn văn học của Hội Nhà văn TPHCM. Tác phẩm của nhà thơ Phùng Hiệu gồm có 5 tập thơ: Tình không dám ngỏ (Nxb. Văn học-2007), Thức giấc (Nxb. Thanh niên- 2010), Trong thế giới  ngụy trang (Nxb. Trẻ- 2014), Dấu chân biển cả (Nxb. Văn hóa – Văn nghệ – 2019), Biên bản thặng dư (Nxb. Hội Nhà văn- 2019). Nhà thơ Phùng Hiệu là hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Với sắc lam nhẹ nước biển hòa điệu cùng gam vàng lục của đá núi đại dương và màu quân phục chiến sĩ, trong khổ 13 x 20 gọn gàng, thi phẩm của nhà thơ Phùng Hiệu trước tiên đã tạo cho tôi cái cảm giác nhẹ nhàng dễ chịu khi nâng niu nó trong lòng tay. “Dấu chân biển cả” là bài thơ chủ lực hiển thị đầu tiên trong thi tập cùng tên với 36 thi phẩm nội dung kết tinh từ trái tim nóng bỏng của một nghệ sĩ vần điệu không xa lạ với thi khách bốn phương. Dù tựa đề các bài thơ đa dạng nhưng tất cả đã tập trung  nhất quán vào một chủ đề. Đó là bài ca về lòng yêu biển cả, tình cảm núi sông quê mẹ và tinh thần bảo vệ tổ quốc thiêng liêng gắn liền với hình tượng cao đẹp của những anh lính biển quả cảm ngày đêm cầm súng bảo vệ tổ quốc.

Lời giới thiệu trang trọng mở đầu của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TPHCM về tập thơ “Dấu chân biển cả” của nhà thơ Phùng Hiệu không khác một lời mời gần gũi ân tình những bạn yêu thơ để cùng dạo bước vào thế giới vườn hương nghệ thuật của một nhà thơ quen thuộc trên văn đàn. Chưa nói đến những bài thơ khác hiện diện trong tập thơ để hỗ trợ cho chủ đề mà vẫn đảm bảo tính tư tưởng nghệ thuật cho thi phẩm, gần nửa số lượng những bài thơ chủ lực đã minh họa tập trung vào nội dung thi phẩm đều trực tiếp thuyết minh cho nhan đề tập thơ: Hồ biển đảo từ bao mộ gió, Cánh chim bám biển, Tình xuân lính đảo, Màu xanh từ biển, Biển hát khúc quân hành, Biển đảo là anh, Ngày mai xa biển, Cánh thư gửi đảo xa, Em về với biển, Hoang đảo và anh…

Trong văn chương thế giới xưa nay, người đọc am tường đã có không ít hình ảnh những con đường, dòng sông và biển cả được xem là biểu tượng nghệ thuật: Đẹp Hậu Giang (Kiên Giang), Vàm Cỏ Đông (Hoài Vũ), Cửu Long cuộn sóng (Trần Hiếu Minh), Trường ca sông Lô (Văn Cao), Dòng sông xanh Danuble (J. Strauss), Sông Đông êm đềm (Mikhail Sholokhov), Biển (Xuân Diệu), Ngư ông và biển cả (E. Hemingway), Sóng (Xuân Quỳnh),… Dù là con đường, dòng sông hay biển cả, hình ảnh nào cũng thể hiện một ý nghĩa cao đẹp, liên quan đến sứ mệnh thiêng liêng của con người.

Bài thơ “Dấu chân biển cả” của thi sĩ Phùng Hiệu cũng không nằm ngoài phạm trù văn học đó. Mỗi bài thơ trong 36 tác phẩm tinh huyết của nhà thơ dù không sắp xếp lo-gic theo từng tiêu đề tư tưởng nhưng cũng đã minh họa cho chủ đề chính của tập thơ,  mà nội dung đã hình thành nên một bản họp sắc long lanh từ tia sáng trí tuệ của nhà thơ. Chịu khó hành trình từ chữ, câu, vần điệu của những bài bài thơ tư tưởng thâm thúy sáng trong suốt gần trăm trang viết đậm đặc tứ thơ chọn lọc, người đọc có cảm tưởng như cùng tác giả lâng lâng chia sẻ qua từng dòng xúc cảm chân thành.

Tình cảm trong sáng thể hiện trước tiên của nhà thơ là lòng yêu biên giới và biển đảo quê hương kết tinh ở tâm hồn nhà thơ từ sau chuyến đi thực tế 11 ngày (29/4/2018- 9/5/2018) tại hai hòn lớn của miền Trung: đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) và đảo Phú Quý (Bình Thuận). Nhận thức sâu sắc được tinh thần bất khuất, ý chí quyết tâm bám biển khơi giữ đảo nhà của quân dân nơi đây, nhà thơ cảm thấy cảm xúc dâng trào, không thể không nói lên cùng đồng bào về lòng cảm phục và niềm tự hào về những chiến sĩ biên cương hôm nay và thế hệ  cha ông một thời đi mở cõi.

Bao trùm lên không gian tư tưởng chủ đề bài thơ là sự ca ngợi những con người ra đi giữ nước rất khả kính trong bài thơ chủ lực vốn được đặt trước tiên trong thi phẩm: Theo cánh sóng ngược về bao thế kỷ/ Thuở cha ông nòi giống Tiên Rồng…// Theo bước gió của đoàn binh Nam tiến/ Vượt Trường Sơn xuôi về phía đồng bằng…(Dấu chân biển cả). Cảm phục và tự hào về những người đi trước dũng cảm mở đường, nhà thơ như cảm thấy có bổn phận phải nói lên những nỗi khổ cực gian nan lẫn nguy hiểm chết chóc khi họ phải đối đầu trước thiên nhiên hoang sơ nghiệt ngã và những ác thú hung dữ vô nhân:  Họ vác cuốc ngày băng rừng khai khẩn/ Đêm gối đầu lên thác đá hoang sơ/ Tay vung giáo xua tan bầy thú dữ/ Tiếng gầm vang còn vọng đến ây giờ. Tình cảm về nguồn của nhà thơ Phùng Hiệu khá gần gũi với vần thơ bất hủ của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ trong “Nhớ Bắc”: Từ thuở mang gươm đ mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Nhà thơ Phùng Hiệu hoài niệm, trong thế hệ tiền nhân đi mở nước trên bước đường Nam tiến, các chúa Nguyễn đã có những công lao to lớn mà hậu thế không thể nào quên: Qua mấy đời chúa Nguyễn khai hoang/ Lưng tựa núi hồn xuôi về biển cả/ Nghe trùng khơi réo gọi bước quân hành…// Đêm sóng vỗ/ Chúa Hiền trăn trở…/ Phía đảo hoang, lòng con luôn tưởng nhớ/ Biển thiêng liêng từ thuở bước cha về.

Nhà thơ Phùng Hiệu không quên huyền sử Rồng Tiên và thể hiện lòng biết ơn những chiến sĩ từ đất mẹ dũng cảm vượt phong ba ra bảo vệ biển đảo Trường Sa, nhà thơ vinh danh những con người đẹp nhất của quê hương đã ra đi đầu không ngoảnh lại và quyết tử chiến đấu với kẻ thù mà không hẹn ngày về đoàn tụ với gia đình vợ con: Theo chiếu chỉ đoàn hùng binh vượt sóng/ Tiến về Hoàng Sa khẳng định chủ quyền/ Đoàn tướng sĩ không hẹn ngày trở lại/ Với hải trình quên mất sự đoàn viên. Thật vô cùng cao quý cho những con người trong cảnh nước nhà nguy biến đã biết chia sẻ rạch ròi theo từng  tình cảm riêng chung.

Bài thơ chỉ 36 câu nhưng đã có đến 4 câu tác giả ân tình nhắc đến Trường Sa biển đảo máu thịt của quê hương: Trường Sa cũng là mục tiêu nhân dân nuôi ý chí tiến đến đánh đuổi kẻ thù cướp đất hung tàn: Tiến về Hoàng Sa khẳng định chủ quyền; là cõi cheo leo đầy nắng gió, mưa bão giữa trùng khơi ngày đêm sóng gầm biển hét: Giữa nắng gió Hoàng Sa như vời vợi. Trường Sa là tiếng kêu thương réo gọi với đồng bào: Kìa Hoàng Sa đang réo gọi đoàn thuyền; và nơi đó cũng là sa trường bao chiến sĩ đã gửi luôn thân xác ở biển đảo khơi xa : Các anh không về thân xác gửi Hoàng Sa.

Phùng Hiệu đau đáu thừa hiểu rằng các anh ra đi chiến đấu không về, thân xác đã gửi lại nơi mảnh đất tổ tiên đã dày công khai phá như một phần xương thịt của tổ quốc, hiện nay còn hằn in dấu chân của những người đi trước, còn rành rành những cột mốc quê hương từng thắm giọt máu hồng của bao liệt sĩ anh hùng. Với ngôn ngữ dung dị có chọn lọc, bài thơ mới tám chữ (alexandrin) cách tân, câu thơ đôi lúc dài ngắn tạo nên giai điệu khác biệt để thích hợp với từng tứ thơ và thi cảnh từ một vùng đất lịch sử nơi biển khơi.“Dấu chân biển cả” là một đóa hoa thơ đẹp, long lanh hương sắc trong khu vườn nghệ thuật dân tộc hôm nay: lành mạnh về nội dung tư tưởng và điêu luyện về phong cách nghệ thuật rất đáng trân trọng.

Tập thơ “Dấu chân biển cả” của nhà thơ Phùng Hiệu xứng đáng là một bản tình ca ấm nồng giai điệu tình tự quê hương, đậm ý nghĩa của những trang hùng sử viết bằng vần điệu văn chương. Tôi có cảm nhận đây là một bài thơ hay về lòng hoài niệm tình yêu đất nước, mang tính cách của một thông điệp về nguồn, kêu gọi nhân dân ta quyết tâm đánh kẻ thù xâm lược để bảo vệ miền biển đảo quê hương.

6/6/2020

Nguyễn Thanh

Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ

Ca dao là “Thơ của mọi nhà” (Xuân Diệu). Ca dao Nam Bộ(1) nói riêng, cả nước nói chung, là những tượng đài ngôn từ bất hủ về tâm hồn, trái tim, tài năng của nhân dân. Ngôn ngữ của ca dao – dân ca là lời đề tựa rất sinh động cho tư duy, tâm hồn, ngôn ngữ của nhân dân các miền trên Tổ quốc. Ca dao – dân ca Nam Bộ đã góp phần nuôi dưỡng những nhà thơ, nghệ sỹ đất Đồng Nai – Gia Định như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Huân Nghiệp…

1. Cha ông chúng ta mới khám phá, xây dựng mảnh đất Nam Bộ trong vòng hơn ba thế kỉ nay. Ca dao – dân ca Nam Bộ, tất nhiên cũng mới chỉ thực sự được hình thành và khởi sắc trong quãng thời gian ấy. Diện mạo ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền thống của ngôn ngữ ca dao – dân ca dân tộc mà cha ông từ các miền ngoài mang vào, đồng thời là quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của cuộc sống ở mọi hoàn cảnh, mọi mục đích giao tiếp.

Để tạo nên diện mạo đó, nhân dân đã, một mặt, sử dụng kho tàng ngôn ngữ sẵn có của ca dao – dân ca dân tộc; mặt khác, biến đổi không ít từ ngữ, câu ca và sáng tạo rất nhiều bài ca mới, từ ngữ mới. Do đó trong vốn từ ngữ mà ca dao – dân ca Nam Bộ sử dụng, bên cạnh kho từ ngữ giàu có được phổ biến khắp cả nước, là sự có mặt của những từ ngữ nảy sinh tại địa phương. Đó là những từ ngữ làm tên gọi cho các sự vật, sản vật mới, những từ ngữ biểu hiện các sắc thái tình cảm khác nhau của con người nảy sinh trong bối cảnh tự nhiên và xã hội mới. Trong quá trình giao lưu với các miền, một bộ phận trong số này đã và sẽ được phổ biến rộng rãi, một bộ phận khác vẫn giữ nguyên tính chất của phương ngữ. Do hoàn cảnh lịch sử, sự giao lưu văn hoá giữa các miền trên Tổ quốc trong quá khứ chủ yếu là con đường từ các miền ngoài đi vào. Đất nước đã thống nhất, chắc chắn sự giao lưu văn hoá từ Nam Bộ trở ra các miền ngoài sẽ phát triển mạnh hơn, rộng và sâu hơn, trong tình cảm mong mỏi của nhân dân cả nước.

2. Nam Bộ, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều cái nhất: đồng bằng lớn nhất nước; sản lượng lúa gạo nhiều nhất nước; kinh rạch nhiều nhất nước; trái cây nhiều nhất nước; diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước; lượng thủy hải sản thu được hàng năm cũng nhiều nhất nước; diện tích rừng ngập mặn nhiều nhất nước… Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó máu thịt với hệ thống sông ngòi dọc ngang chằng chịt của khoảng 5.000 km đường kinh rạch, với những cánh đồng mênh mông của đồng bằng châu thổ Cửu Long, mang tầm của những đồng bằng rộng lớn, đặc biệt của thế giới, và với những miệt vườn phì nhiêu, màu xanh trải tràn, rậm rì cây trái. Nhiều nhà nghiên cứu đã dùng định danh “văn minh sông rạch”, và nhà văn Sơn Nam dùng định danh “văn minh miệt vườn”(2) để nói về cảnh quan sinh thái – nhân văn và cuộc sống của người dân đồng bằng sông Cửu Long. Con số thống kê sau về “chợ nổi” – chợ họp trên sông, “thương cảng dân gian”độc đáo, nơi buôn bán không chỉ lúa gạo, tôm cá, mà cả các loại trái cây và hoa, cho thấy thêm điều đặc biệt của Nam Bộ: Tiền Giang có 160 chợ nổi, Bến Tre có 175, Đồng Tháp 203 và Trà Vinh có 110 chợ nổi. Sử sách viết về tự nhiên và sự giàu có của Nam Bộ không thể thiếu những trang về cảnh quan nổi bật, đặc sắc đó cùng với những chủ nhân của nó. Sông nước, ruộng đồng, miệt vườn – ba bối cảnh tiêu biểu của thiên nhiên và cuộc sống người dân Nam Bộ cũng là ba bối cảnh mà ca dao – dân ca Nam Bộ thường bộc lộ những đặc điểm ngôn ngữ của mình.

3. Người nông dân truyền thống, như C. Mác nhận xét, “trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội”(3). Nền thi ca của họ, cũng giống như bản thân họ, luôn thở hít trong thiên nhiên tươi mát, sống động. Nhân dân luôn lấy những cảnh vật thân thuộc quanh mình để phô bày tâm sự.

Ở Bắc Bộ, những hình ảnh tiêu biểu làm nên gương mặt của nông thôn cổ truyền – cây đa, bến nước, mái đình, luỹ tre, cổng làng… rất hay được nhắc tới trong các bài ca. Câu hát Trung Bộ trùng điệp hình ảnh của núi non, rừng rú, mênh mông và dữ dằn hình ảnh của biển cả… Trong ca dao – dân ca Nam Bộ, hình ảnh ghe xuồng, sông rạch, tôm cá xuất hiện với tần số rất cao. Nét độc đáo này biểu hiện ở những bài ca thuộc mọi chủ đề. Chuyện với mình hay chuyện với người, nhân vật trữ tình thường mượn hình ảnh trung gian – sông nước và ghe xuồng, tôm, cá:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo giông khói đèn trời lại tối tăm.

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mải mê.

Không xuồng nên phải lội sông

Đôi lòng nên phải ăn ròng bẹ môn.

Ở đâu bằng xứ Lung Tràm

Chim kêu như hát bội, cá lội vàng tợ mắm nêm.

Phản ánh cuộc sống tình cảm của nhân dân trên sông nước, ca dao – dân ca Nam Bộ đã khai thác triệt để vốn từ ngữ của địa phương để chỉ các đối tượng trên bối cảnh này. Chẳng hạn, trong ca dao – dân ca Nam Bộ có 19 từ chỉ các loại ghe xuồng: ghe tam bản, ghe giàn, ghe lòng, ghe lườn, ghe mỏ vạch, ghe rổi, ghe tắc rán, ghe bầu, ghe bầu nóc, ghe be, ghe bản lồng, ghe cá vom, ghe chài, ghe cửa, ghe cui, ghe hầu, ghe ngo, ghe vỏ lải, xuồng ba lá. Có 24 từ chỉ các loại nước : nước ròng, nước rong, nước rông, nước lớn, nước kém, nước rặc, nước nhửng, nước ương, nước chửng, nước lửng, nước sình, nước xẹt, nước đứng, nước bò, nước nhảy, nước nằm, nước giựt, nước sụt, nước dềnh, nước lên, nước lui, nước rút, nước sụt, nước trồi. Số lượng từ phong phú đó là “chỉ số” cuộc sống gắn bó mật thiết với sông nước và cái nhìn rất tinh tế, nhạy cảm của con người với thiên nhiên, sự vật. Nếu ở Bắc Bộ, làng xóm được bao bọc, khép kín nghìn đời bằng những lũy tre xanh, thì ở Nam Bộ, xóm ấp là làng mở, trải dài theo kinh rạch, nhà cửa người dân luôn hướng ra thủy lộ –  những dòng kinh. Chiếc xuồng là vật dụng không thể thiếu của mỗi gia đình, được ví như “đôi chân” (“Sắm xuồng là để làm chân”) của con người vùng sông nước. Người nông dân Nam Bộ nghe hơi gió là biết con nước sắp lên hay xuống; nhìn con nước, màu nước là biết thời tiết hôm đó, lúc đó ra sao; ngửi mùi nước là biết dòng kinh, con rạch nhiều hay ít cá tôm…Trong ca dao Nam Bộ, ở từng trường hợp cụ thể, những từ ngữ nào đó sẽ có tác dụng biểu hiện trạng thái tình cảm khác nhau của nhân vật trữ tình:

Nước rong nước chảy tràn đồng

Tơ duyên sẵn đó, chỉ hồng chưa se.

Nước ròng bỏ bãi xa cừ

Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông

Anh đi trên bờ quần nó khô ráo

Bước xuống ruộng quần nó ướt mem

Cẳng bước tới, lòng dạ thương em

Anh đi trên bờ nước xẹt gặp em trao lời.

Khác với vườn ở đồng bằng sông Hồng thường là những mảnh vườn nhỏ trước hoặc sau nhà, vườn ở Nam Bộ rộng lớn, có khi tới hàng chục mẫu; tại một số nơi, vườn tập trung lại với nhau để trồng cây ăn trái, trồng hoa, tạo thành những không gian vườn mênh mông, trù phú, hiệu quả kinh tế cao hơn đồng ruộng. Nam Bộ nổi tiếng với những vùng trồng cây, trồng hoa ở Châu Thành, Cái Bè (Tiền Giang), Sa Đéc (Đồng Tháp), Mỹ Khánh (Cần Thơ), Phụng Hiệp (Hậu Giang), Lái Thiêu (Bình Dương), Long Khánh (Đồng Nai), v.v… Văn hóa vườn đem lại những đặc sắc cho ca dao Nam Bộ. Nếu ca dao Bắc Bộ có nhiều hình ảnh của vải, nhãn, hương xoan, hương bưởi, hương chanh, hoa lí,… thì ca dao Nam Bộ lại có nhiều hình ảnh cây bần, cây mù u, sầu riêng, sầu đâu, trái khổ qua… Những cây trái này thực ra chưa thật tiêu biểu cho “văn minh miệt vườn” như vú sữa, dừa, xoài, măng cụt, chôm chôm, ổi xá lị, mận hồng đào, bình bát. Nhưng tên gọi của chúng – mù u, bần, khổ qua, sầu riêng, sầu đâu – dễ gợi cảm xúc thơ ca về số phận, tâm trạng con người. Ca dao Nam Bộ triệt để sử dụng ý nghĩa biểu vật và biểu thái của các từ ngữ đó:

Bướm vàng đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn.

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

Nước ròng chảy thấu Nam Vang

Sầu riêng chín rụng sao chàng ở đây?

Trong các bối cảnh khác của tự nhiên, xã hội, nhân dân Nam Bộ cũng sáng tạo nên những từ ngữ mang màu sắc địa phương. Chẳng hạn: Tờ đề – giấy li hôn; Rổ tiến – rổ đựng kim chỉ vá may của các cô gái khi về nhà chồng; Để chế – để tang; Đau ban cua – bệnh thương hàn; Nhớ mạy – nhớ không rõ; Chẳng khứng – không ưng, không chịu; gối luôn – gối liền cho hai người, dành cho các cặp vợ chông mới cưới…

Chịu tác động của những đặc trưng của văn học dân gian, trực tiếp nhất là tính tập thể, tính truyền thống, ca dao – dân ca có những nhóm chữ, những kiểu câu mở đầu đã định hình. Hệ thống những nhóm chữ, những kiểu câu mở đầu này mang đặc trưng thẩm mĩ, tính khái quát cao về ý nghĩa, trở thành những mô-típ truyền thống, những “tín hiệu”, “mã” ca dao với nội dung thông báo xác định. Các nội dung tư tưởng, tình cảm mang tính khái quát và ổn định của ca dao được bộc lộ qua nhiều mô-típ, trong đó có những mô-típ về nhóm chữ, kiểu câu mở đầu. Ví dụ, hệ thống những bài ca mở đầu là “Thân em như…” thường nói về thân phận, địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Những bài ca mở đầu là “Chiều chiều…” thường biểu hiện nỗi nhớ nhung, hoặc nỗi ngóng trông đơn chiếc của con người, nhất là người con gái lấy chồng xa quê. Những bài ca về tình yêu quê hương đất nước có nhóm chữ mời, nhắn gọi: “Ai về…”, “Ai lên…”, “Ai vô…”, nhóm chữ xếp hạng, hình, giá cảnh vật : “Thứ nhất… Thứ nhì…”, “Nhất cao… Nhất sâu…”, “Đâu bằng… Đâu hơn…”, v.v…

Bên cạnh việc sử dụng nhiều nhóm chữ như ca dao – dân ca các miền khác, ca dao – dân ca Nam Bộ có những hệ thống nhóm chữ riêng, nảy sinh từ ngôn ngữ, cách nói của nhân dân. Chẳng hạn, những bài ca mở đầu là “Mảng coi…” thường biểu hiện nỗi trách cứ, hờn giận:

Mảng coi cúc lủi bờ mi

Anh có vợ rồi sao không nói lại tiếng gì cho em.

Mảng coi con kiến lửa lên xuống cửa thềm

Anh là người quân tử chi hiềm mĩ nhân.

Những bài ca mở đầu là “Hai đứa mình…” thường diễn tả những nỗi niềm xung quanh sự gắn bó của đôi lứa:

Hai đứa mình đứng cũng bằng vai

Người ngoài không biết nói hai vợ chồng

Hai đứa mình ăn một trái cau

Giấu cha giấu mẹ ăn sau bóng dừa.

Hai đứa mình như cặp cá ở đìa

Ngày ngao du giỡn bóng, tối lại lìa, trời ơi!

Những kiểu câu mở đầu dưới đây xuất hiện rất nhiều trong ca dao – dân ca Nam Bộ:

Mù u bông trắng lá quắn nhuỵ huỳnh

Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh (hoặc ông Phó)

Ba phen quạ nói với diều

Nước mắm ngon dầm con cá đối (hoặc con hẹ)

Phụng hoàng đậu nhánh vông nem (hoặc cẩm lai)

Sông sâu sóng bủa làng cò

Bần gie đốm đậu sáng ngời

Đờn cò lên trục kêu vang

Gió nam non thổi lên hang dế (hoặc hang chuột)

Khăn rằn nhúng nước ướt mem

Ghe lên ghe xuống dầm dề.

Toàn bộ những hệ thống nhóm chữ, kểu câu mở đầu đó gắn chặt với cách phát âm, cách nói, từ ngữ, với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Nam Bộ.

Ca dao – dân ca Nam Bộ cũng có hệ thống biểu trưng riêng. Chẳng hạn, hình ảnh cá sấu, cọp là biểu trưng cho thiên nhiên hoang sơ, dữ dằn trong buổi đầu cha ông ta “hành phương Nam” khai khẩn, mở đất, mở nước: “Tới đây xứ xở lạ lùng/ Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”; con nước lớn – biểu trưng của những gian nan, vất vả: “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi/ Buôn bán không lời chèo chống mải mê”; Châu Đốc, Nam Vang – biểu trưng cho không gian xa xôi: “Anh đi Châu Đốc, Nam Vang/ Gởi thơ nhắn lại em khoan có chồng”; Đèn cầu tàu – biểu trưng cho những nơi phồn hoa đô hội: “Đèn cầu tầu ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/Anh về học lấy chữ nhu/ Chín trăng em đợi, mười thu em chờ”(4).

4. Ca dao – dân ca Bắc Bộ như “hòn đá lăn vạn năm được trau chuốt” và do đó “hơi thơ thoải mái ngọt ngào, như không còn khập khiễng chỗ nào nữa. Tuy nhiên, trong cái trau chuốt nhiều khi xảy ra cái khuôn sáo… Cái chất sáng tạo và phát hiện của nghệ thuật dường như mòn dần, và đó là nhược điểm của nhiều bài ca dao Bắc Bộ” (Xuân Diệu)(5). Ca dao Nam Bộ không thiếu những câu óng ả, chải chuốt, nhưng mức độ và liều lượng không nhiều như trong ca dao Bắc Bộ. Khác với ca dao Bắc Bộ đã đạt đến hình thức cổ điển trong các phương tiện và hình thức diễn tả, nhiều câu ca dao Nam Bộ như những lời nói nôm na, câu nói trong sinh hoạt hằng ngày đi thẳng vào. Tính cách, cách sống của người Nam Bộ góp phần không nhỏ làm cho ngôn ngữ sinh họat đời thường hoạt động mạnh mẽ hơn ngôn ngữ thi ca trong ca dao. Thực tế này, một mặt giúp ca dao Nam Bộ có thể tiến xa vào lĩnh vực hiện thực của tâm trạng, mặt khác làm cho không ít câu ca dao chưa được trau chuốt, gọt giũa nhiều. Đây là nguyên nhân làm cho không ít người nghiên cứu cho rằng ca dao – dân ca Nam Bộ không có giá trị cao về mặt nghệ thuật như ca dao – dân ca các miền ngoài. Thực ra vấn đề không đơn giản như vậy. Cần chú ý, xu hướng thẩm mỹ của người dân Nam Bộ là thích hướng về sự giản dị, chân thực trong nội dung cũng như hình thức thể hiện các đối tượng, hiện tượng, thích nói những gì chân thực và thích cách nói giản dị, phù hợp với tâm tư tình cảm mọi người vùng đất này. Một điều cần lưu ý nữa là, do tác động của môi trường diễn xướng trên sông nước, đồng ruộng mênh mông, mỗi dòng thơ của những câu hò chèo ghe, hò cấy, v.v… có thể kéo rất dài từ 9 đến hơn 20 âm tiết, vần và nhịp của các âm tiết đó có vẻ khá trúc trắc nhưng tạo ấn tượng rõ rệt:

Anh xách cây mác nhỏ anh ra trước ngõ đốn cây tre đỏ làm cái thang nhỏ bắc từ ngõ anh đến ngõ em

Tay anh gõ cắc cắc, anh ngoắc em ra

Em nói: Em thương anh em đợi em chờ

Sao anh bối rối như cờ bị vây?

Phụ mẫu đánh em quằn quại treo tại ngọn cây dương

Phụ mẫu biểu em từ ai em từ đặng, chứ người thương em không từ.

Sáng mai tôi ngủ dậy, tôi súc cái miệng, tôi rửa cái mặt

Tôi vô trong nhà, tôi lấy chìa khóa, tôi mở cái rương

Tôi lấy năm quan tiền, đem ra ngoài chợ, mua xấp vải nhiễu, chạy tắt về nhà

Con Hai cắt

Con Ba may

Con Tư viền

Con Năm đột

Con Sáu đơm nút

Con Bảy vắt khuy

Con Tám níu

Con Chín trì

Bớ Mười ơi, sao em để vậy, còn gì áo anh!

Chú ý đến sự tác động của môi trường diễn xướng, sẽ có sự giải thích thoả đáng hơn những trường hợp như thế. Nói như thế không có nghĩa là ca dao – dân ca Nam Bộ không có những hạn chế về ngôn ngữ nghệ thuật. Đây đó vẫn có những từ ngữ được sử dụng chưa chính xác, chưa hay : “Cọc tìm trâu người ta đồn rực rỡ”, “Nước mắt anh riu ríu tuôn ra”, v.v… Đây đó vẫn còn những trường hợp lạm dụng từ Hán – Việt, v.v…

5. Một đặc điểm nổi bật nữa là: Ngôn ngữ, cách nói của ca dao – dân ca Nam Bộ thường biểu hiện ở hai cực. Một cực là nhỏ nhẹ, hiền lành, dễ thương :

Trông lên chữ ứ

Ngó xuống chữ ư

Anh thương em, thủng thẳng em ừ

Anh đừng thương vội, phụ mẫu từ nghĩa em.

Nước chảy liu riu

Lục bình trôi líu ríu

Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.

Hãy chú ý những chữ ứ, ư, ừ, từ và liu riu, líu ríu, nhỏ xíu. Giọng tâm tình rất nhỏ nhẹ, duyên dáng và sâu lắng. Điều ấy cũng thể hiện cả trong cách xưng hộ. Chẳng hạn, ở Nam Bộ, về phía bên ngoại, em hoặc chị ruột của mẹ đều được gọi là dì, em hoặc  anh ruột của mẹ đều được gọi là cậu. Nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Nam Bộ giọng nói nhẹ trong hơn, điệu hát thanh thú hơn. Chủ quan tôi, tôi nhận thấy câu ca dao Nam Bộ có một dáng trong trẻo, lành hiền”(6). Sắc thái tình cảm đó rất phù hợp với tâm trạng của họ – tâm trạng của những người dân nghèo khổ, phiêu bạt, phải rời bỏ quê cha đất tổ ở miền Trung, miền Bắc vào phương Nam mở đất, tìm một phương trời mới, để mong tháo bỏ những thiết chế của xã hội phong kiến trên cổ, bước ra khỏi cuốn sổ đinh nặng như gông cùm phủ trên mái nhà nhỏ bé của mình, hoặc muốn lùi xa binh lửa phân tranh đẫm máu của tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn. Người dân Nam Bộ rất quý trọng đời sống tình cảm, tình nghĩa, nhạy cảm với sự dịu dàng, mềm mại, duyên dáng, đầy tình nhân ái của con người và ngôn ngữ Việt Nam.

Cực thứ hai là chất sống xông xáo, phóng túng, trẻ trung, hài hước. Điều này vừa phù hợp với tâm lí tính cách con người ; vừa phù hợp với phong cách sinh hoạt xã hội ở Nam Bộ. Với người Vệt Nam Bộ và những di dân khác tại đây, cuộc sống trên vùng sông nước, ruộng đồng, miệt vườn mênh mông đem đến sự tự do, thoát khỏi những qui ước, ràng buộc nặng nề truyền thống vốn tồn tại ở những trung tâm có bề dày lịch sử như Bắc Bộ và Trung Bộ. Người dân Nam Bộ yêu ra yêu, ghét ra ghét, cực nào cũng sống hết mình. Cuộc đời họ đã chứng tỏ sự yêu trọng nghĩa khí, ưa tự do, thích tung hoành ngang dọc, đề cao trung hiếu, tiết nghĩa,  bản lĩnh cứng cỏi, táo bạo  được hình thành trong cuộc đấu tranh không ngừng không nghỉ trước một thiên nhiên hoang vu, dữ dằn trong những buổi đầu mở đất và trước một thực tế lịch sử ngày càng phức tạp dưới chế độ phong kiến – thực dân: “Trời sanh cây cững lá dai/ Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều”. Cũng vì vậy ca dao – dân ca Nam Bộ mang phong cách ngôn ngữ mạnh mẽ, xông xáo, bộc trực, đầy sức sống và cũng đầy dí dỏm, hài hước :

Con ếch ngồi dựa gốc bưng

Nó kêu cái quệt biểu ưng cho rồi.

Anh về em nắm vạt áo em la làng

Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

Đau tương tư đắp chiếu nằm liều

Chờ em không tới bốn giờ chiều anh tắt hơi.

Ngôn ngữ biểu hiện tình yêu của các chàng trai Nam Bộ giản dị, chân thực. Họ tâm sự : “Lòng em ở thẳng như đờn lên dây”, “Liệu sao em liệu thương thầm khó thương”, “Em nói rồi anh cũng vọt miệng nói theo”. Yêu nhau là “Cẳng bước tới miệng lại chào liền”, “Dao phay kề cổ máu đổ anh không màng/ Chết anh chịu chết buông nàng anh không buông”, “Thương mình chặt tóc mình thề/ Chỉ trời vạch đất chớ hề bỏ nhau”.

Ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ đập mạnh vào các giác quan người nghe. Chẳng hạn, tiếng trống điểm “Trống điểm ba nhịp sáu ình ình”, cây đờn cò “Dứt dây cái bựt quên hò xự xang”. Hàng loạt danh từ, động từ có tính từ mức độ kèm theo để diễn tả chính xác hơn, mạnh mẽ hơn : “trời sáng phứt”, “áo rách te”, “khăn ướt mem”, “yêu đại”, “kêu đại”, “thương quấn, thương quýt”, “bực đà quá bực”, “căm đã quá căm”, “ốm nhom ốm nhách”, “chiều ai không chiều”, v.v… Mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ rất cao. Nghệ sĩ dân gian luôn đi vào chính mình, gợi ra những “tài nguyên” thi ca của tâm trạng. Con người như muốn nói đến đáy, đến tận cùng các trạng thái cảm xúc bằng những từ ngữ ngỡ như không gì giản dị hơn, nhưng có sức tác động mạnh mẽ. Nói được như thế mới khỏi bứt rứt, cô đơn mới đủ lớn, nỗi niềm mới đủ thành hình :

Tui than với anh hết sức, tui cũng dứt hết mình

Thiếu điều cắt ruột trao cho mình, thấy chưa?

Đêm khuya con gà gáy vang trời

Bầm gan nát ruột nhớ lời anh than.

Anh mất cây hộp quẹt bực đà quá bực

Anh giang tay đấm ngực, căm đã quá căm

Đũa so le đôi chiếc khó cầm

Liệu sao em liệu, thương thầm khó thương.

Chính vì không bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ, nên ca dao – dân ca Nam Bộ có khả năng rộng mở, tạo nên và sử dụng những từ ngữ đầy sáng tạo:

Hột châu nhỏ xuống kẹt rào

Thò tay em lượm, phụ mẫu chào em buông.

Luỵ chan chan đưa chàng xuống vịnh

Em trở lên về thọ bịnh tương tư

Anh nói ra thì té lẽ biểu bài.

Thương vợ nhà hai mươi chín bữa, nhín nửa ngày thương em.

Với tài thẩm âm kì diệu và vốn ngôn ngữ giàu có, họ đã lắng nghe và diễn tả được một cách đặc sắc những âm thanh của tự nhiên, của tâm trạng. Có bao nhiêu tiếng gió thổi trong những bài ca:

Gió thổi rao rao lòng anh đau dạ anh đớn,

Gió thổi re re cây tre trộ nguyệt

Anh có thương em từ biệt chốn này,

Gió đùng đùng mưa dăng lá hẹ

Cảm thương này có mẹ không cha.

Gió hiu hiu chín chiều ruột thắt

Nhìn sao bên bắc, nước mắt chảy bên dòng

Ai xui chi những vợ vợ chồng chồng

Biết đây với đó dây tơ hồng có so?

Bao nhiêu tiếng nước chảy: “Nước chảy liu riu”, “Nước chảy ro ro”, “Nước chảy re re”, “Nước chảy bon bon”… Bao nhiêu âm thanh của thiên nhiên, của nỗi lòng thổn thức: “Chim kêu dưới suối tang tình”, “Con chim kêu thương”, “Con gà gáy nhớ”, “con dế ngâm sầu”…

Thiên nhiên giàu có, trù phú, người Nam Bộ cởi mở, phóng khoáng, có riêng “hệ đếm” của mình: “Một chục mười tám trái xoài”.

6. Ca dao là “Thơ của mọi nhà” (Xuân Diệu). Ca dao Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung, là những tượng đài ngôn từ bất hủ về tâm hồn, trái tim, tài năng của nhân dân. Ngôn ngữ của ca dao – dân ca là lời đề tựa rất sinh động cho tư duy, tâm hồn, ngôn ngữ của nhân dân các miền trên Tổ quốc. Ca dao – dân ca Nam Bộ đã góp phần nuôi dưỡng những nhà thơ, nghệ sỹ đất Đồng Nai – Gia Định như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Huân Nghiệp… Dễ hiểu vì sao ca dao Nam Bộ đến nay vẫn sống trong các bối cảnh sinh động khác nhau của đời sống nhân dân, đi vào nhiều ca từ của những bài ca vọng cổ, những trang văn của các nhà văn. “Ca dao tự vạch cho mình một lối đi, dẫu không hào nhoáng song hết sức hiên ngang, hết sức độc lập. Phát sinh vì dân tộc, sống còn nhờ dân tộc, ca dao là kết tinh thuần túy của tinh thần dân tộc”(7). Tìm về cội nguồn ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ, sẽ tìm được nhiều minh chứng, nhiều bài học về sự sự giáu có, trong sáng của tiếng Việt, về tình yêu tiếng mẹ đẻ, tiếng dân tộc. Bởi vì đó là “tiếng nói của quần chúng nhân dân đầy tình cảm, hình ảnh, màu sắc và âm điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa” (Phạm Văn Đồng).

Chú thích:

(1). Tư liệu ca dao – dân ca sử dụng trong bài viết này rút từ các tập sách sau: (i) Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao Dân ca Nam Bộ, Nxb Tp Hồ Chí Minh; (ii) Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ (19970), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục.

(2) Sơn Nam (1970, tái bản 2014), Văn minh miệt vườn, trong “Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa & văn minh mệt vườn”, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

(3). Tuyển tập Mác – Ăngghen, tập II, Nxb Sự thật, H., 1981, tr. 515.

(4). Xem thêm: Trần Văn  Nam (1999), Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ địa danh trong ca dao Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tr. 49-53.

(5), (6) Xuân Diệu (1979), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy, Nxb Tác phẩm mới, tr. 176, 178.

(7). Thuần Phong (1970), Ca dao giảng luận, Nxb Á Châu, Sài Gòn.

12/6/2019

Bùi Mạnh Nhị

Theo https://vanhocsaigon.com/

  Khóc cười trong thơ Nguyễn Ngọc Thu Người ta thường nói nước mắt mặn, nước mắt đắng, nhà thơ Thanh Tùng đã nới về thiếu nhi “các em mềm ...