Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023
Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua vọng cổ của Cao Văn Lầu
Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua
Trong lịch sử ca nhạc sân khấu ở phương nam, sự xuất hiện của
bản Vọng cổ trong dòng nhạc cải lương thực sự đã đem lại một luồng sinh khí mới
có thể coi là một cuộc cách mạng lớn trong nghệ thuật đờn ca tài tử, làm thay đổi
bộ mặt âm nhạc truyền thống dân tộc.
Những người thương nhớ dắt nhau đi
Những người thương nhớ dắt nhau đi
Đọc văn khi bắt được cái giọng của nhà văn, sự tiếp nhận văn
bản được xem là lý tưởng. Nhà thơ Lê Thanh My đã chọn giọng cho độc giả, khi chị
chọn tiêu đề của tập thơ bằng một câu thơ “Những người thương nhớ dắt nhau
đi” trong bài thơ “Thức dậy lúc không giờ” (bỏ đi một hư từ “chỉ”).
Bìa tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi
Tôi đã đọc thơ chị trong một ngày đông mưa phùn, gió bấc, lạnh
lẽo của xứ Huế, trong tôi bất ngờ xuất hiện những cuộc đối thoại cùng chị, thi
nhân ơi, sao chị viết thơ như đang kể chuyện của nhiều người vậy:
“em nhớ anh/ loanh quanh/ dường như không thoát được/ anh
quăng lưới vào ý nghĩ/ trói buộc em/ khi thở cũng thơm mùi khói thuốc/ nhìn mây
tưởng tượng bồng bềnh/ ngày xa/ tháng xa/ năm xa… chẵn và lẻ xếp hàng chăn gối/
em sờ quanh có chín mươi chín triệu thiên hà/ miền nào cũng lạ/ con kiến bò
loanh quanh/ ừ, có lẽ đã điên vì nhớ” (Nhớ)
Loanh quanh vì nhớ, quẩn quanh vì nhớ, tương tư vì nhớ, điên
lên vì nhớ… chỉ có những tình yêu đích thực, tình yêu sâu sắc, tình yêu mộng
mơ, tình yêu xa ngái… thì mới có cái cảm xúc da diết, dâng tràn, chân thành và
giản dị đến thế. Tôi đã từng đọc câu thơ “nàng nhớ mùi thuốc lá của chồng” (Khỏa
thu – Phan Thanh Bình), rồi nhận ra, thì ra khi xa nhau người phụ nữ thường
nhớ mùi thuốc lá của chồng – một mùi vị đặc trưng của người đàn ông, cho dù bây
giờ người ta đang “tẩy chay” thuốc lá, thì mùi khói thuốc như là cái cớ để nhớ
về nhau.
Giọng thủ thỉ, tâm tình của chị đã bày tỏ các cung bậc cảm
xúc của tình yêu: nhớ nhung, trông mong, chờ đợi, rồi khắc khoải… “biết ngày
xa/ hoang phế sẽ khôn lường/ cuồng dại yêu thương dễ tan thành bọt nước/ làm
sao anh biết được/ khi hoàng hôn nhấn chìm nửa bầu trời/ biển của em/ sụt sùi/
khóc” (Biển của em). Có lúc nhà thơ tự vấn: “đã có tì vết nào trong lòng mình
chưa?” để rồi nhận ra một điều hiển nhiên, giản dị: “Những câu thơ em viết cứ như
đùa/ một ngày nắng sẽ phai/ một ngày gió thổi bay/ còn lại sau cùng/ là vòng
tay anh rụt rè nơi bậc cửa” (Đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?). Như
đốn ngộ, như nhận chân giá trị cuộc đời, những vần thơ của chị đã thức tỉnh biết
bao tâm hồn còn đắm đuối trong “bến mê”, hãy nhận chân giá trị của tình yêu mà
gìn giữ “vòng tay anh”.
Tứ thơ “đêm qua” trùng điệp trong bài thơ “Hỏi thăm” là điểm
nhấn trong suốt bài thơ. “Đêm qua/ con đường bỏ tôi một mình… đêm qua/ ghế đá
công viên thức trắng rầu rầu… đêm qua/ tôi nghe những bước chân tìm nhau… đêm
qua/ tôi nhớ một người ở tận đâu đâu”… Chị viết như không viết vậy, những câu
thơ tràn trên giấy, còn lại suy tưởng chìm sâu. Lấy thời gian đêm qua để đo
không gian, đo tâm tưởng. Vẫn lối nói quen thuộc của dân gian, nhưng ngữ liệu
thì mới, hiện đại, mang âm hưởng nhộn nhạo của phố phường, tâm tưởng thì chìm
sâu vào nỗi nhớ. Tưởng chừng cái tôi đang để chuyện ai, nhưng không, cái tôi ẩn
giấu đến tận cùng mới thốt ra: Tôi nhớ một người ở tận đâu đâu – mơ hồ mà
đa nghĩa, bởi ai đó chắc đã nhận ra; con đường, ghế đá công viên, bước
chân… đã từng có kỉ niệm với ai.
Tôi rất thích tứ trong bài thơ “Ngộ”, 6 câu thơ như kể lể, thở
than, rồi bất ngờ hạ một câu kết làm sáng cả bài thơ: “em khâu nỗi nhớ từ chiều
qua cho đến hôm nay/ bằng sợi chỉ nôn nao/ bằng thở dài bối rối/ bằng nhịp đồng
hồ nông nổi/ ngày dại khờ/ đêm mòn mỏi thở than/ thì ra nhớ nhau đâu có dịu
dàng”. Đúng vậy, nhớ nhau đâu chỉ dịu dàng, nôn nao, bồn chồn, nông nổi, vội
vàng, như chàng trai trong ca dao thuở xưa vừa “trèo lên” lại lúng túng “bước
xuống”: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Nhưng
cái lúng túng của chàng trai trong ca dao là cái lúng túng của thuở ban đầu
chưa kịp trao lời để rồi hối tiếc. Còn nỗi nhớ trong bài thơ “Nhớ” là đã từng
có kỉ niệm, đã từng dặn dò, chỉ là thời gian quá chậm so với cái nôn nao của
lòng người mà thôi, cho nên “nỗi nhớ đâu có dịu dàng”…
Có những vần thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên cứ du dương, ru
lòng ta nhè nhẹ, ai cũng có một thời tuổi trẻ, ai cũng có một thời mộng mơ, ai
cũng có những cái nắm tay thề thốt suốt cuộc đời: “mỗi người bước đi bằng hơi
thở của chính mình/ tay nắm chặt để em đừng nghi ngại/ ta chú thích vào tương
lai thân ái/ con đường có tên đêm xa…” (Chú thích đêm)
Thơ viết về cõi riêng của tình yêu thật đẹp: “nói gì/ khi ta
yêu nhau/ không nói gì/ khi ta yêu nhau/ bóng tối làm lu mờ xác thịt/ lại rực rỡ
xúc cảm phần người/ góc nhỏ này của riêng ta thôi/ nhớ nhau ta tự tìm về… ngôi
nhà người tình hư hao theo năm tháng nhạt nhòa/ hóa sứ đỏ nở nôn nao một góc/
bao thăng trầm mệt nhọc/ rồi cũng hết trăm năm/ lối thông hành của tim là một
con đường hun hút xa xăm/ chờ trong li biệt/ chờ trong da diết/ những dòng tin
nhắn như chim bay mỏi cánh/ chẳng có lời nói nào ở ban công/ đêm/ nở lập lòe nụ
môi giã biệt” (Góc riêng ta). Những vần thơ tự sự, tâm tình rất nữ tính. Ở góc
nhỏ tình yêu người phụ nữ đã tỉ mỉ nhớ lại từng chi tiết nhỏ nhất, đó là nỗi nhớ
trong trái tim đã yêu, đang yêu và vẫn còn yêu. Dù “lối thông hành của tim là một
con đường hun hút xa xăm”. Ta nói đó là thủy chung. Ta nói đó là chung tình. Ta
cũng nói đó là thất tình. Điều ta nhận ra là tình này thật đẹp. Kỷ niệm thật
đáng yêu. Bởi tình yêu khi đã đắm say, dâng hiến thì “lại rực rỡ xúc cảm phần
người”, nó như tiểu thuyết, mỗi ngày mở ra mỗi trang là nhớ về một kỉ niệm.
“biết làm sao quên/ tiếng chuông vọng vào miền thao thức/ hơi
thở gấp truyền qua lồng ngực/ đêm hoang vu trở về// không giờ// dường như tất cả
đã ngủ mê/ bóng đèn đường rụt rè bật sáng/ ở giữa lối thông hành lãng mạn/ chỉ
những người thương nhớ dắt nhau đi” (Thức dậy lúc không giờ). Cái thao thức của
trái tim khao khát yêu thương trở nên đáng yêu bởi có “lối thông hành lãng mạn”;
trong cái tĩnh lặng về đêm dường như kí ức và nỗi nhớ cùng ùa về, để trái tim
tình yêu nhận ra một điều rất giản dị: “chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”,
khi đã trao trái tim thương nhớ cho nhau, dù có xa ngái, cũng chỉ là tạm thời.
Nói như ai đó là “tình yêu trong xa cách được ví như ngọn lửa trong gió. Gió thổi
tắt những ngọn lửa nhỏ và thổi bùng những ngọn lửa lớn”.
Dường như mỗi sắc màu của nỗi nhớ tình yêu đi vào thơ chị như
một câu chuyện kể về một kí ức, một kỉ niệm, với không gian và thời gian đồng
hiện. Và rồi, tứ thơ “chỉ khi con tim biết nói lời yêu thương/ hạnh phúc sẽ
theo ta đến cuối con đường” như một chân lý hiển hiện trong toàn bộ tập thơ của
nhà thơ Lê Thanh My. Một tập thơ không nhiều chỉ với 50 bài, cầm lên tay nhẹ
tênh, nhưng chứa đựng sức nặng của một trái tim phụ nữ thi nhân thật chân tình,
hồn hậu, chị đã nói thay cho biết bao người phụ nữ đang yêu, đang kháo khát
tình yêu, đang đợi chờ, rằng khi yêu thương bằng chính trái tim mình, thì hạnh
phúc sẽ mỉm cười.
Đọc thơ của nhà thơ Lê Thanh My, tôi nhận ra giọng thơ của
nhà thơ Nam bộ, thủ thỉ, tâm tình, giản dị, chân thành, thẳng thắn khi giải bày
các trạng thái cảm xúc của tình yêu… không cố tỏ ra bóng bẩy hay trau chuốt cho
cái tôi kiêu hãnh trong tình yêu. Thơ chị như “người đàn bà” kể, câu chuyện kể
mỗi ngày làm sáng lên một vùng kí ức, gợi về một vùng kỉ niệm và biết đâu đó
cũng là kinh nghiệm riêng cho mỗi người. Con đường tình yêu, chỉ là một hành
lang hẹp, nếu ai đó biết nắm tay thật chặt, thật tự tin thì đi đến cuối con đường.
Nếu vụng dại, không may hay lỡ lầm thì đó cũng chưa phải là tận cùng, và hãy nhớ
“trong lòng người đàn ông/ nụ cười người đàn bà hơn tất cả thế gian”. Bài thơ
“Khi con tim biết nói lời yêu thương” với kết cấu đầu cuối tương ứng là sự đúc
kết những trải nghiệm của cái tôi thi sĩ trước tình yêu và cuộc đời. Bài thơ thật
có giá trị nhân văn cho những ai đã yêu, đang yêu và sẽ yêu.
Đến với tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi, tôi
nhận ra một điều rất giản dị là hãy đọc chậm, đọc kỹ, đọc nhiều lần một văn bản
thơ, bởi đặc trưng mơ hồ và đa nghĩa của thơ ca, và cũng bởi lối bày tỏ cảm xúc
của nhà thơ từ tốn, chậm rãi… giá trị nhận thức của văn chương chính là ở chỗ
giúp ta tự ngộ ra, tự biết thêm về mình, về mọi người; dường như đó cũng là
thông điệp của nhà thơ với cuộc sống hối hả hiện nay với những ai có thói quen
“bấm” và “lướt” mỗi ngày, nếu chỉ bấm và lướt quá nhanh bạn sẽ không thể cảm nhận
hết cái đẹp của tình yêu và cuộc đời bởi vì “ở giữa lối thông hành và lãng mạn/
chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”
Huế
ngày 6/1/2019
H.T.T.T
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
"Bông hồng vàng" - Bút ký của Châu La Việt
"Bông hồng vàng" - Bút ký
của Châu La Việt
Năm 1971, mặt trận Lào đang chiến dịch “cù kiệt” (trả hận),
bom đạn tóa lửa trên trời dưới đất, bỗng một sáng anh Trung Nhân đi giao ban cơ
quan Chính trị về, bảo rằng:” Hoài ơi, em chuẩn bị ra Hà nội tham gia trại viết
của Tổng cục nhé.”… Thế là chiều tối ấy, khoác ba lô chào anh em ra barie đón
xe từ Phunokcok về đèo Đất, bom đạn vẫn cứ ầm ầm xung quanh, rồi đêm sau đón xe
từ Đèo Đất về Mường xén, vẫn cứ máy bay bay theo xả hàng loạt đạn bom… Cho đến
khi về tới Mường xén thuộc đất mình mới tạm yên ổn, rồi nhảy xe BT 11 từ Mường
xén về ga Si đón tàu về Hà Nội…
Nhà thơ Châu La Việt
Phải nói từ mặt trận về trại viết khi ấy cứ như từ địa ngục
khét lẹt đan bom về thiên đường. Trại viết ở tại công trường 800 (Nay là đường
Hoàng Quốc Việt), cùng với đoàn chèo Tổng cục, những chị Tuất chị Sửu chị Quỳnh
Dung em Oanh em Hoàng đẹp mê man , hát múa ngúng nguẩy cứ như tiên nữ hết lượt
(Trong ánh mắt những thằng lính từ mặt trận mới về). Lại được ăn cơm tiểu táo,
ngày ba bữa cứ đánh tì tì, lại chuyên tâm chỉ mỗi việc viết lách, có thầy giỏi
là những văn nghệ sỹ nổi tiếng kèm tay, lại thêm có ông thầy Tào Mạt nhiệt tình
đến mức nửa đêm còn dựng trò dạy hát chèo cho nghe, miệng hát tay khua cứ như
lên đồng… Mới thầm nghĩ thiên đường là đây chứ còn là đâu nữa !
… Quả với tôi, văn chương đàn hát từ ngày ấy thực sự là thiên
đường. Tôi chẳng thiết gì khác ngoài nó. Khổ đau cùng cực hay ăn đói mặc rách
vì nó cũng chẳng sá gì!…
Sau trại viết ấy về, một thời gian sau, binh trạm lại cử tôi
ra Hà nội học một lớp điện ảnh. Ở đây tôi gặp một thằng tân binh người Tày cũng
rất thích làm thơ là Hứa Vĩnh Sước. Thế là hai thằng chẳng học điện ảnh mấy,
(thực chất là chiếu bóng không làm tôi mấy hứng thú so với việc làm thơ viết
văn), nên chỉ cùng Hừa Vĩnh Sước suốt ngày đàm đạo thơ ca và chở nhau đi khắp
Hà Nội theo đuổi văn chương… Sau này Hứa Vĩnh Sước kể lại về con đường thơ ca của
chúng tôi:
“Dạo ấy đang là mùa hè. Việt nhễ nhại đèo tôi bằng chiếc xe đạp
Thống Nhất đi từ Thanh Trì lên nội thành Hà Nội. Việt dẫn tôi đến ngôi nhà số 4
phố Lý Nam Đế. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được bước chân vào ngôi nhà
Văn nghệ Quân đội. Cảm xúc lâng lâng thật khó tả. Ngạc nhiên có. Sờ sợ có.
Choáng ngợp có. Thinh thích có. Và người đầu tiên, Việt giới thiệu với tôi. Đây
là nhà thơ Xuân Sách. Còn đây là nhà thơ Văn Thảo Nguyên. Họ là nhà thơ ư ? Sao
họ cũng ăn ở sạch sẽ, chỉnh chu, bình thường như mọi người. Thậm chí hai nhà
thơ này chỉ nhúm cười thân mật. Họ ít nói về mình, càng không nói gì về thơ văn
cả. Trời ơi! Tôi đã đọc họ rồi. Thậm chí còn thuộc khá nhiều bài của họ. Nhưng
sao nhà thơ… Lẽ ra họ… không biết nói thế nào về những người này. Trong mắt
tôi, họ là những người âm u bí hiểm. Đại loại như mấy ông thày mo thày tào trên
quê tôi. Đại loại họ bẩn bẩn một chút. Hôi hôi một chút. Tóc dài, râu dài, móng
tay quăn tít như hoa móng rồng. Họ nói như ma nói. Âm thanh giọng người phát ra
như chuông rè, đầy màu sắc mộng mị…
Kỉ niệm ấy không bao giờ quên. Nó nhắc đi nhắc lại trong tôi.
Nhà thơ là thế đó. Bình thường như mọi người. Dễ mắc sai lầm hơn mọi người. Ảo
tưởng mơ mộng thì nhiều hơn mọi người. Khóc vì nỗi đau nhân thế nhiều hơn mọi
người. Buồn vì tay mình luôn ngắn hơn ống tay áo. Làm thơ có gì sướng, thi nhau
lăn lưng vào là sao nhỉ?..
Châu La Việt là người đưa tôi đến ngôi nhà văn chương một
cách ngẫu nhiên thôi. Việt bảo tao đưa mày đi chơi cho biết Hà Nội. Dạo ấy tôi
đâu đã thiết tha với cái nghiệp thi ca văn chương, chỉ muốn đi cho biết Hà Nội
nó to như thế nào. Lúc đầu chỉ là thỏa mãn trí tò mò. Tò mò mãi đâm ra thành
quen. Ngày đầu mới chỉ làm quen văn chương thôi. Sau này và kể cả bây giờ, tôi
“chết” như rệp. “Chết” là bởi cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ…”
Năm 2017, tôi lại về Nha Trang dự một trại viết về người
lính, cũng của NXB Quân đội tổ chức. Trước khi tham gia trại, tôi có hai tập
sách là tiểu thuyết “Triền dâu xanh ngát” và tập truyện ngắn” Binh trạm phía
tây” in ở NXB, có lẽ bởi thấy tôi tâm huyết với đề tài người lính nên anh em đã
mời tôi tham gia trại ( cùng các nhà văn, nhà thơ Mai Nam Thắng, Chi Phan, Nguyễn
Trọng Tân, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Huy Quang, Trần Bích Nga, Nguyễn xuân Hùng, Đỗ
Ngọc Yên…).Chính ở Nha trang, tôi vô cùng xúc động gặp lại dấu vết người sư
đoàn trưởng đầu tiên của tôi: Thiếu tướng Hà VI Tùng, sư trưởng sư đoàn 320 b.
Thế là lẳng lặng thuê một chiếc taxi, rồi xe ôm, đường loằng ngoằng lắm, tìm đến
nhà lưu niệm của thủ trưởng để dâng hương lên thủ trưởng.Tôi nhớ lúc thắp hương
xong, tôi cứ đứng lẩm nhẩm vừa như báo cáo, lại vừa như tâm sự với Sư đoàn trưởng,
lại cả đọc thơ cho sư trưởng nghe nữa…
– Thưa thủ trưởng – Tôi thầm thì cùng ông – Chúng em (Ngày ấy
chúng tôi hay xưng là em với các thủ trưởng) là những người người lính sư đoàn
320b năm xưa được thủ trưởng dìu dắt và huấn luyện, sau đó được bổ sung cho các
mặt trận, chiến trường. Chúng em trở thành những người lính chiến dũng cảm,
hoàn thành sứ mệnh với quê hương đất nước cũng một phần từ chính sự huấn luyện,
giáo dục, yêu thương của các thủ trưởng”
Bất giác, tôi thầm đọc ông nghe một bài thơ tôi viết về những
người lính Hà nội ngày ấy do ông huấn luyện, vào chiến đấu ở mặt trận và anh
dũng hy sinh: “ Hà nội ơi có biết bao chàng trai/Như bạn tôi đã không về nữa/Sông
Hồng vẫn trôi và mây trắng vẫn bay/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Như
có mùa thu của ngày ấy lên đường/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Có bạn
về trong mỗi làn hương…”
Vâng, thưa thủ trưởng, chúng em đã chiến đấu, đã sống xứng
đáng với những gì thủ trưởng đã trao, đã dạy dỗ,huấn luyện, xứng đáng với truyền
thống của sư đoàn 320 B ngày ấy. Mãi mãi chúng em không bao giờ quên các thủ
trưởng, quên người sư đoàn trưởng đầu tiên của mình…
Và ngay đêm ấy, trong một niềm xúc động dâng trào, tôi đã viết
ký sự:”Sư đoàn trưởng của tôi”, bổ sung ngay để hoàn chỉnh cho tập sách “ Một
người lính Nam tiến” về Sư trưởng của tôi – Tướng Hà Vi Tùng.
Trại viết về người lính 2019 Vũng Tàu…
Tôi ngồi lặng lẽ trong một căn phòng của Trại viết, và nhìn
ra biển rộng. Văng vẳng bên tai tôi, hòa trong tiếng sóng biển, là lời Nhà văn
Paustovsky trong truyện ngắn Bụi quý :” Giống như bông hồng vàng của người thợ
hót rác già kia làm ra là để cho Xuyzan được hạnh phúc, sáng tác của chúng ta
là để cho cái đẹp của Trái Đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm
vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng
bóng tối, cho chúng ta rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt.”
Và lời Nhà văn Đỗ Chu yêu thương dặn riêng cho nghiệp cầm
bút của tôi: ”Việt ơi, hãy viết như mẹ em từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng
câu ,đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương
nhớ cũng tột cùng…”
Và rồi trong sóng biển Vũng Tàu, tôi viết trường ca “
Dòng sông thơm hương cỏ xương bồ”. Viết theo thể thơ 7 chữ cổ kính, đúng như thể
thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết trường ca “Theo chân Bác”.
Tôi chỉ thầm nghĩ một điều: Phía trước là kỷ niệm 100 năm
ngày sinh của Tố Hữu- Một nhà thơ lớn, người đã có những vần thơ tuyệt vời về Đất
nước, Nhân dân, về những người chiến sỹ, và đặc biệt là về Bác Hồ. Có lẽ nào
không có những vần thơ, những trường ca hay đẹp viết về ông? Có lẽ nào tôi
không có một bông hồng vàng để kính dâng ông, một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã
ru hồn thế hệ chúng tôi từ tuổi ấu thơ, đã sát cánh chúng tôi trên con đường ra
trận mà thơ ông như tiếng kèn thôi thúc. Và với riêng gia đình tôi, ông là người
đã nâng đỡ và mang rất nhiều hạnh phúc đến cho mẹ tôi, cũng là người bố vợ đằm
thắm và giàu tình cảm vô cùng cho cuộc đời em ruột tôi?
… Sóng Vũng tàu cứ mải mê vỗ suốt đêm, và từng vần thơ của
tôi cũng vang lên trong tiếng sóng biển ấy. Tôi khao khát có một bông hồng vàng
kính dâng ông - Nhà thơ Tố Hữu…
19/3/2020
Châu La Việt
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023
Hữu Loan - Cây gỗ vuông màu tím
Hữu Loan - Cây gỗ vuông màu tím
Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời ở tuổi 95. Thơ Hữu Loan ở lại với
người đời. Thơ đó “có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do, cho
dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm
thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt”, như ông đã
nói và đã làm được. Từ thơ, có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ vuông
màu tím – đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.
Chân dung cố nhà thơ Hữu Loan
Với ông, tôi cũng như những người cùng thế hệ, chỉ được biết
rất muộn, cả về thơ và đời. Gặp ông ngoài đời còn muộn hơn nữa. Mãi tới năm
2008 tôi mới có dịp lần đầu về nhà ông ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga
Sơn, tỉnh Thanh Hóa, khi ông đã tuổi cao sức yếu. Nhưng từ đó cho đến khi ông
qua đời tôi lại có mấy dịp đưa các bạn bè Hà Nội và Sài Gòn về thăm ông.
Ông mất ngày 18/3/2010 tại quê nhà. Tôi được tin ông mất khi
đang ở TPHCM dự một hội thảo khoa học quốc tế tại Khoa Ngữ văn, trường Đại học
Khoa học Xã Hội và Nhân văn. Đó là vào trưa 19/3/2010. Báo Tuổi Trẻ đặt tôi viết
bài ngay về ông. Thế là trưa đó, sau phiên họp sáng của hội thảo, trong khi các
bạn bè đồng nghiệp vui vẻ bữa trưa, tôi rút vào phòng khách sạn ngồi viết. Ngồi
mãi một lúc tôi vẫn chưa biết mình sẽ viết gì. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của
ông “Màu tím hoa sim” và “Đèo Cả” thì hẳn nhiên là phải nói đến. Nhưng viết thế
nào cho ra cái chất người và chất thơ Hữu Loan trong khuôn khổ một bài viết ngắn
cho báo? May sao, khi nhớ lại bài thơ “Cây gỗ vuông” thì tôi đã có được cái tứ
cho bài viết của mình: “Hữu Loan – cây gỗ vuông màu tím”. Bài viết đã lên báo
Tuổi Trẻ ngày 20/3/2010. Sau này khi đưa nó vào tập sách của mình “Nhà văn như
Thị Nở” tôi đã bổ sung thêm hai bài thơ mới của ông được sưu tầm về sau.)
Cố nhà thơ Hữu Loan cùng nhà phê bình
Phạm Xuân Nguyên
1. Ông là một nhà thơ đích thực của nền thơ hiện đại Việt
Nam. Đích thực bởi thơ. Chỉ bằng hai bài “Màu tím hoa sim” và “Đèo Cả”, Hữu
Loan đã ghi danh mình cho thơ Việt ở sự riêng tư và mới mẻ. “Màu tím hoa sim”
là tiếng khóc của một người chồng cho người vợ xấu số, là một tiếng kêu cho
tình yêu trong thời đạn lửa, là lời phẫn uất trước số mệnh phũ phàng của con
người. “Nhưng không chết/ người trai khói lửa/ Mà chết/ Người gái nhỏ hậu
phương/ Tôi về /không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình
hoa ngày cưới/ thành bình hương/ tàn lạnh vây quanh.” Tiếng thơ ấy đã lập
tức đồng vọng và lan xa trong lòng bao người, dẫu ở một thời chiến tranh bắt
con người phải nén nỗi đau riêng, vùi chôn tâm trạng cá nhân để ra trận và cầm
súng, bởi vì đó là tiếng thổn thức thắt nghẹn của con tim. “Đèo Cả” hào hùng,
hào sảng tinh thần của một thế hệ dấn thân cho vận nước trong hình ảnh những
chiến binh như trượng phu ngang tàng giữa núi rừng, chấp mọi hiểm nguy, đùa
cùng gian nan.
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?
Hai bài thơ khắc ghi dấu ấn rất riêng của Hữu Loan vào một thời
thơ. Thơ, chứ không phải cái gì khác, đã làm nên Hữu Loan, đã vinh danh ông. Và
ông xứng đáng được vinh danh bằng thơ đó. Những nhát thơ Hữu Loan đục vào thời
gian, đục vào tâm khảm, để lại dấu tích không phai.
Cố nhà thơ Hữu Loan cùng người vợ gắn bó cả đời với ông
2. Ông đã sống một cuộc đời dài, thật dài, mà những khổ nạn,
thử thách chỉ càng làm bền thêm trong ông những lựa chọn ban đầu khi làm cách mạng
và làm thơ. Bỏ phố thị thủ đô về lại quê hương, tự tay vỡ đất vỡ đá lầm lụi
tháng ngày nuôi vợ con nuôi mình chống chọi với cuộc sống thiếu thốn vất vả và
nhiều chướng ngại, nhưng ông không nề hà, nản chí. Hữu Loan là một con người
cương cường. Ai đã một lần gặp ông, nhìn ngắm khuôn mặt ông, nhất là đôi mắt,
và nghe giọng ông nói, đều có thể cảm nhận đây là một con người không chịu gục
ngã trước thử thách. Trời đã cho ông sức khỏe và ý chí để thọ cao đến vậy sau
bao khổ nhọc chồng chất. Nhưng tôi tin trời đã thương ông nên đã ban Thơ cho
ông để ông sống được là mình như vậy. Ông tự gọi mình là cây gỗ vuông: “Tôi,
cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời/ Đã làm thất bại âm mưu/ đẽo tròn/ để muốn
tùy tiện/ lăn long lóc/ thế nào/ thì lăn lóc. Chân lý đấy/ hỡi/ rìu/ bào/ phó mộc”. Nhà
ông, trên bàn thờ chỉ để một chữ Tâm.
3. Tôi đã thấy chữ Tâm đó mỗi lần bước vào nhà ông ở một vùng
quê xứ Thanh. Lần gần đây nhất là trước tết dương lịch 2010 mấy ngày. Khi ấy
ông đã yếu nhiều, giọng đã thều thào, nhưng cũng như bao lần có khách đến thăm
yêu cầu, ông vẫn cất giọng đọc thơ. Đọc hai bài “Màu tím hoa sim” và “Hoa lúa”.
Một bài cho người vợ đầu xấu số mất sớm khiến ông đau xót khôn nguôi hơn sáu
mươi năm qua. Một bài cho người vợ sau gắn bó hơn nửa đời người cùng ông trải
bao hoạn nạn đắng cay, sinh cho ông mười người con, giữ cho ông tinh thần phải
sống. Giọng ông lúc khỏe nghe rõ ràng, khúc triết, sai một chữ một từ là ông sửa
lại ngay. Lúc yếu, giọng nghe không rõ, nhưng vẫn thấy tỏa ra trong giọng đọc
đó tình cảm sâu nặng sắt son của ông dành cho hai người phụ nữ đã làm nên đời
ông – đời một con người và đời một nhà thơ. Nói đến thơ, nhắc lại những năm
tháng làm văn nghệ, ông vẫn cương trực với mình trong cách nhìn nhận sự việc, vẫn
trung thành với một quan niệm thơ, quan niệm sống đã có từ đầu và từ lâu. Ông
như không bận tâm đến việc ra một tập thơ riêng của mình khi mà tập thơ đó nếu
ra không đầy đủ, không vẹn con người ông. Nhưng thơ ông đã nằm lòng bao nhiêu độc
giả hàng chục năm qua. Không chỉ là một, hai bài đã nổi tiếng, mà còn những bài
khác được truyền tụng. Như bài “Tình thủ đô”, mới được nhà thơ Dương Tường và
nhà văn Mạc Lân khôi phục lại mấy năm trước. Như bài “Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn”
năm 1956: “Một đám tang đã diễu hành/ Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài/ Nấc
lên mầu huyết/ Một đám tang đi/ Không/ bao/ giờ/ tới/ huyệt”.
Chữ Tâm trên bàn thờ trong nhà của cố nhà thơ
4. Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời ở tuổi 95. Thơ Hữu Loan ở lại
với người đời. Thơ đó “có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do,
cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác
phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt”, như
ông đã nói và đã làm được. Từ thơ, có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ
vuông màu tím – đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.
Sài Gòn 19.3.2010
Hai bài thơ của Hữu Loan
Thánh mẫu hài đồng
Nhà thơ Hữu Loan suốt đời mình luôn khắc ghi hình bóng người
vợ đầu. Sau bài thơ Màu tím hoa sim bốn mươi hai năm, ông lại làm bài thơ này hồi
tưởng lại đêm tân hôn đầu tiên của mình. Bài thơ vẫn đúng chất hồn và giọng điệu
Hữu Loan, đầy ắp cảm giác cảm xúc đôi lứa tình yêu. Đây còn được gọi là bài Tục
Màu tím hoa sim.
Em ngả cánh tay còn nhiều
ngấn sữa
Cho ta làm gối gối đầu
đêm tân hôn
Sao lại không chính là tay ta
đỡ trước lấy vai nàng
Ta râu ria như râu thép gai
như xương chổi
Gân guốc sù xì phong sương
như một gốc cây rừng
Ta lo lắng sợ tay nàng gãy
Tay nàng mảnh mai như một
nhánh huệ trong bình!
Nhưng lạ thay
nàng ghì đầu ta như
chẳng hề hấn chuyện gì!
Chỉ có chuyện là
ta thấy ta càng lúc
càng thêm nhỏ bé trong
vào ngực măng tơ
Chà dụi
Rúc tìm
Tham lam
Cuống quýt
Ngẩn ngơ
như một hài nhi
khát
mẹ
Nàng càng riết chặt
ta càng thấy bé
Vòng tay nàng đánh đai
Nàng thì thào thổn thức
bên tai
– Anh của em!
– Anh vô cùng lớn của em!
Nhưng trái lại
Anh đang rất bé.
Nàng:
– Anh ơi anh!
Ta:
– Mẹ ơi mẹ!
Bằng một giọng học nói
Hài nhi bập bẹ
(trong hơi thở trộn nhau
bốc men)
– Tôi đối thoại hay là
vô thức nói.
Sau đêm ấy là
em đi
đi
mãi!
Em đi tím đất chiều hoang
Ta như mất mẹ khóc
tang
hai
lần!
Xin kính cẩn hôn chân
Tất cả những đấng gái Việt Nam
Đã sớm mang chất
mẹ
loài
người.
Em trong mẹ
Mẹ trong em
em
ngôi
thánh mẫu
hài đồng
1991
Tòng quân
(Nhà thơ Dương Tường nhớ và ghi lại bài này)
Nếu anh ra đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Thương con khó nhọc
Nếu anh ra đi
Người vị hôn thê
Những giọt nước mắt
Đọng trên hàng mi
Nhưng
Nếu anh không đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Mà con không đi
Mẹ thà thương con tóc trắng
Ngày mai cờ về chiến thắng
Mà con không về
Mẹ thà như lá rụng chiều quê
Đến khi con về
Cỏ vàng nấm đất
Nhưng khi nước mất
Vì vị hôn thê
Mà con không đi
Nếu anh không đi
Người vị hôn thê
Mặt nghiêng tay che
Đêm thương lời thề
Thà đợi người đi
Già trên lời thề
Nhưng khi nước mất
Mà anh không đi…
(Khoảng 1947)
20/3/2020
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...



