Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua vọng cổ của Cao Văn Lầu

Dạ cổ hoài lang - Bài ca vua
vọng cổ của Cao Văn Lầu

Trong lịch sử ca nhạc sân khấu ở phương nam, sự xuất hiện của bản Vọng cổ trong dòng nhạc cải lương thực sự đã đem lại một luồng sinh khí mới có thể coi là một cuộc cách mạng lớn trong nghệ thuật đờn ca tài tử, làm thay đổi bộ mặt âm nhạc truyền thống dân tộc.
Khán giả mê ánh đèn màu lấp lánh trước cánh màn nhung, trong hai thập niên 50 và 60 của thế kỷ trước vốn được coi là thời đại hoàng kim của cải lương, chắc hẵn sẽ không bao giờ quên được không khí hoạt động vô cùng sôi nổi của các gánh hát và giới nghệ sĩ cải lương lúc bấy giờ. Trong những đêm hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, đường Trần Hưng Đạo, cứ mỗi lần trên sân khấu, những danh ca như: Út Trà Ôn (1919-2001), Minh Cảnh (sinh năm 1938), Thanh Nga (1942-1978), Phượng Liên (sinh 1947)… sau khi hò, hát điệu lý, nói lối vài câu hoặc hát một bản ngắn như: Thủ phong nguyệt, Kiều nương hay Hoài tình… rồi dứt tiếng hò… ngọt ngào, muồi mẫn ở cuối câu, mở đầu bản vọng cổ, nghe rất đã tai, là cả một rừng pháo tay của khán giả nổ dòn dã, dậy cả hí trường. Và tiếp ngay sau đó là những tờ giấy bạc của người mộ điệu hào phóng, đua nhau được tới tắp bay lên sân khấu, để tặng thưởng cho nghệ sĩ vừa bắt đầu bài ca vua, không khác gì đàn bướm lượn. Sức hấp dẫn và lôi cuốn đến độ cuồng nhiệt của bản vọng cổ mà tiền thân là bài Dạ cổ hoài lang, của Cao Văn Lầu, thật vô cùng ấn tượng.
Nghệ sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976), còn gọi Sáu Lầu – vì là con thứ 6 trong gia đình – sinh ra tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Cha của Cao Văn Lầu là Cao Văn Giỏi, (Chín Giỏi), mẹ là Thạch Thị Tài là những nông dân hiền lành, lam lũ Xuất thân từ một thành phần lao động nghèo khó vì bị áp bức, bóc lột bởi bọn cường hào ác bá, tay chân của thực dân, mới lên 4 tuổi (1896), cha của Sáu Lầu mang cả gia đình gồm vợ và 6 con, tìm nơi khác sinh sống. Tha phương cầu thực đến tận Bạc Liêu, buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau 9 tháng đi làm mướn cật lực mà không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc quận Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng. Chỉ một năm sau, hơn 40 công đất có được do công lao khó nhọc, bị chúa đất tìm cách chiếm đoạt. Được người thương tình giúp đỡ và giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) tiếp tục khẩn hoang nhưng rốt cuộc số đất này cũng về tay người khác.
Thương cảnh lận đận, trắng tay của ông Chín Giỏi, hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hóa (Bạc Liêu), cho ông cất một căn chòi lá trên đất công điền, gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Nơi đó, vợ chồng ông Chín Giỏi và các con hàng ngày phải khổ sở đi làm mướn, đi câu, chạy gạo lo ăn từng bữa. Thấy vậy, hòa thượng Minh Bảo (? – 1912) trụ trì chùa Vĩnh Phước An thông cảm, tìm cách giúp đỡ gia đình ông đang trong cảnh ngặt nghèo. Vị Hòa thượng giàu lòng nhân ái đề nghị với ông Chín Giỏi cho Cao Văn Lầu, khi đó mới lên 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng với gia đình ông Chín. Kể từ đó, chú bé Sáu Lầu, vừa làm công việc đánh nhờ trống dọng chuông, vừa đọc kinh kệ lại được nhà sư dạy cho chữ Nho.
Đến năm 1903, ông Chín Giỏi nhớ thương và lo lắng cho tương lai của con trai, đến xin hòa thượng Minh Bảo cho Cao Văn Lầu được trở về nhà để đi học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến “lớp Nhì năm thứ hai” (Cours Moyen 2e Année) tức lớp 4 ngày nay, Cao Văn Lầu phải nghỉ học vì nhà lại gặp cảnh khó khăn đơn chiếc: anh đi ở rể, chị phải theo chồng và cha mẹ già yếu, nay ốm mai đau. Như vậy là, năm 17 tuổi (1907), Cao Văn Lầu đã phải thay cha và anh chị, đi tìm công việc làm mướn để nuôi cả gia đình. Lúc bấy giờ, tại xóm Rạch Ông Bổn, có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, thường gọi Hai Khị hay Nhạc Khị, gốc người Minh hương. Cha của Nhạc Khị là một thầy đờn kiêm luôn bầu Hát bội, thường được gọi là Bầu An, có một gánh hát. Nhạc Khị từ nhỏ thân thể ốm yếu, bị bệnh mù cả hai mắt, lại thêm hai chân bị liệt. Bầu An thấy con tàn tật, ra sức truyền nghề lại cho con.
Chỉ vài năm sau, Hai Khị đã trở thành một nhạc sĩ lừng danh, một mình chơi thông thạo được nhiều loại đàn, và trống, kèn. Độc đáo nhất là cùng một lúc mà Hai Khị vẫn chơi được nhiều thứ nhạc cụ chẳng thua gì một quái kiệt. Ngón đàn điêu luyện – trong nhạc tài tử và nhạc lễ – làm ông nổi tiếng không chỉ ở Bạc Liêu mà khắp cả Nam kỳ lục tỉnh. Con của Hai Khị là Lê Văn Chột (Ba Chột) và rể là Trịnh Thiên Tư  cũng đều giỏi cổ nhạc như ông. Học giả Vương Hồng Sển (1902-1996) trong cuốn Hồi ký 50 năm mê hát, năm mươi năm cải lương của ông đã nhắc lại: “Ông Hai Khị đau cổ xạ, hai ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó. Thế mà ông có tài nhạc riêng, không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài đàn, cứ đến nhà ông ”.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu.
Bẩm sinh vốn mê nhạc, năm 16 tuổi (1908), nghe danh Hai Khị, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để tranh thủ thì giờ, xin học đàn mỗi đêm vì ban ngày phải đi làm mướn. Nhờ đam mê và siêng năng, tính tình hiền lành, được thầy thương, nên khoảng  bốn năm sau, Cao Văn Lầu đã nhanh chóng sử dụng thành thạo các nhạc cụ như: đàn tranh, cò, kìm, trống lể và trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy. Trong buổi Hội Lễ nhạc tài tử Bạc Liêu do hương sư Chơn đứng ra tổ chức nhằm mục đích thi tài giữa ban nhạc các tỉnh tại Bạc Liêu, Cao Văn Lầu được thầy Khị cho phép chỉ huy Ban nhạc của thầy, điều khiển thành công rực rỡ khiến người xem nhiệt liệt tán thưởng. Năm 20 tuổi (1912), Cao Văn Lầu bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn bài Tứ đại oán Bùi Kiệm thi rớt.
Trong những năm học đàn tại nhà Thầy Khị, Sáu Lầu đem lòng yêu cô Hai Thân (còn gọi là Hai Sang), trưởng nữ của Thầy. Cô Hai Thân cũng dành tình cảm đặc biệt cho chàng thanh niên học trò tài hoa giỏi nhạc của cha mình, thể hiện trong mỗi khi hai người có dịp gặp nhau. Nhưng Cao Văn Lầu mặc cảm gia đình mình quá nghèo nên không dám mở lời với cô Hai. Tuổi ngày một lớn, cô Hai phải lấy chồng khi có người đến cầu hôn. Hôm lễ cưới cô Hai, Ban Nhạc Bạc Liêu do Cao Văn Lầu thay thầy điều khiển, đã chơi một đêm khiến những người đến dự phải nhớ đời.
Tiếng đàn tranh điêu luyện, chứa đựng tâm sự thầm kín, réo rắt bổng trầm, từ những ngón tay rỉ máu, dặt dìu uyển chuyển như than như oán của chàng nhạc sĩ tài danh Cao Văn Lầu, đã làm ngây ngất bao người, và cũng âm thầm lay động không ít đến trái tim của người đẹp sắp sửa lên xe hoa vào sáng hôm sau! Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu sáng tác được một bản ngắn có tên: Bá điểu (sau đổi tên là Thu phong, gồm tám câu, nhịp 4. Về sau, bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và đổi thành tên mới là Mừng khi gặp bạn.
Năm 1917, Cao Văn Lầu sáng tác thêm một một khúc gồm 22 câu theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng “Chinh phụ vọng chinh phu” mà nội dung dực vào bản Nam ai “Tô Huệ chức cẩm hồi văn”. Cũng trong năm này, vâng lệnh cha mẹ, Cao Văn Lầu đi cưới vợ, cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na hiền lành đang ở đợ cho chủ điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Một cơ hội để Cao Văn Lầu tạm quên đi một mối tình câm đầu đời không vẹn. Nhưng cũng chính người vợ do cha mẹ sắp đặt này đã làm cho tên tuổi Cao Văn Lầu mãi sáng chói và trở thành bất tử trong nền âm nhạc tài tử cải lương với bản Dạ cổ hoài lang.
Do gia đình nghèo, phải vay mượn tiền bạc để cưới vợ cho con, nên đã lâm cảnh nợ nần, ông Chín Giỏi phải xoay trở bằng cách đi xuống vùng Họng Chàng Bè (thuộc xã Định Thành, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu) để khai phá đất rừng làm ruộng. Nhưng Bạc Liêu, Cà Mau thuộc vùng nước mặn, đất bị nhiễm phèn, cọng thêm sự phá hoại nặng nề của loài chim, chuột, sâu rầy nên việc làm ruộng của ông Chín Giỏi cũng không khá lên được. Cuối cùng ông bà Chín Giỏi phải trở về Bạc Liêu, làm công việc mò ốc, bắt cua và giao lại miếng đất mới khai thác cho vợ chồng Sáu Lầu. Nhưng chưa quen làm ruộng, nên không phát triển được nghề nông, chỉ mới làm được một mùa, miếng đất của Sáu Lầu đành để rơi vào tay chủ điền Trần Trinh Trạch – cha của Hắc công tử Trần Trinh Huy, còn gọi là Công tử Bạc Liêu. Nhưng cái đau mất đất không bằng nỗi đau phải thôi vợ (còn gọi là để vợ hay trả vợ) của Sáu Lầu.
Sau khi hai vợ chồng ở với nhau được hơn 4 năm, Trần Thị Tấn vẫn không cho ông bà Chín Giỏi một đứa cháu nội nào dù là trai hay gái. Trong khi cha mẹ chồng mong vợ chồng Sáu Lầu có con để nối dõi tông đường để tránh khỏi phải đi vào con đường tuyệt tự ở đứa con mà gia đình cực khổ nuôi dưỡng và đầu tư công sức lo cho ăn học và đã thành danh. Cô dâu Trần Thị Tấn vô tình đã không làm tròn thiên chức của người vợ, người mẹ và luôn cả đứa con dâu trong gia đình. Khổ đau, trăn trở giữa hoàn cảnh éo le bên tình bên hiếu, Sáu Lầu phải nghe theo cha mẹ xa người vợ tào khang, gian khổ với mình đã nhiều năm qua dù trong lòng ông vẫn không quên câu nói về nghĩa tình vợ chồng sâu nặng của người xưa “Nhất dạ phu thê, bá dạ ân” (tình chồng vợ một đêm cũng nặng nghĩa trăm năm).
Ngày xưa, vợ chồng ăn ở với nhau không có con, nguyên nhân dẫn đến tuyệt tự đều đỗ lỗi cho người đàn bà chứ không do người đàn ông! Ngày nay, sự tiến bộ của y học đã khẳng định sự cố ấy xuất phát từ một trong hai người như trường hợp của Cao Văn Lầu. Dù thương vợ rất nhiều, sau hơn bốn năm chăn gối, Cao Văn Lầu vẫn phải vâng lời cha mẹ. Ông bà Chín Giỏi quyết định đem nàng dâu Trần Thị Tấn trả về cho nhà gái, khiến vợ chồng ông phải đau đớn chịu cảnh phân ly. Hằng đêm, Cao Văn Lầu một mình thao thức, âu sầu đếm từng tiếng trống điểm canh, đầu óc luôn nghĩ về người vợ khổ đau đang ở cách đó không xa mà sao như cảnh én bắc nhạn nam. Cao Văn Lầu tư tưởng rằng trong không gian tiếng trống này, vợ mình cũng nghe được và đang âm thầm đau khổ nhớ chồng! Cao Văn Lầu mường tượng ra hoàn cảnh, tâm trạng vợ mình bây giờ chẳng khác nào một chinh phụ, đang mỏi mòn đêm đêm trông ngóng tin chồng nơi biên ải xa xôi.
Lòng người chinh phụ lúc nào cũng mong cho người chinh phụ được bình an và thiết tha ước nguyện cảnh chồng vợ sum vầy. Khoảng một năm sau (1918), trong tâm trạng thương nhớ vợ, bản nhạc trên được đem ra soạn lại. Nghe lời bạn đồng môn Ba Chột, ông bỏ bớt hai câu trùng lặp, bản nhạc còn chẵn 20 câu nhịp đôi. Đúng và Tết Trung Thu năm Mậu Ngọ (nhằm ngày 19/9/1918 dương lịch), Cao Văn Lầu cùng các bạn đến thăm thầy, trình bản nhạc chưa có tên cho thầy xem và thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi. Nhân đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng có mặt, thầy nhạc Khị nhờ nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói: “Tuy nhạc và lời còn vài chỗ chưa khớp, nhưng nhìn chung bài ca vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ”.
Vậy cứ theo sự tích này mà đặt tên cho bài ca là “Dạ cổ hoài lang”, có nghĩa là: Nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng. Kể từ hôm đó, bài ca này được loan truyền nhanh chóng vì tính cách nghệ thuật mới lạ và nội dung cảm động của bài ca. Thế là bao nỗi khắc khoải ở ông như một chàng chinh phu, cộng với tâm tư đau đáu ở người vợ hiền xa cách mà ông tưởng tượng ra, đã bật dậy lên như triều sóng tình cảm miên man vô bờ, khiến Cao Văn Lầu nhả ra thành vần điệu, thanh âm não nùng trong từng nốt nhạc của bản Dạ cổ hoài lang, mà về sau, qua thời gian, đã trở thành bản Vọng cổ, bài ca tài tử ấn tượng của nhạc cổ và là bài ca vua của sân khấu cải lương. Đến năm 1919, Cao Văn Lầu làm nhạc công cho gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu).
Như vậy, thời điểm khai sinh ra bản Dạ cổ hoài lang là năm 1919. Trước tiên, bài ca được sáng tác trong 20 câu, nhịp hai (hay hai nhịp). Sau khi phát triển thành nhịp tư, được trình bày đầu tiên vào năm 1921, trên sân khấu cải lương Tập Ích Ban của ông bầu Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung (sinh năm 1906) thành nhịp tám trên sân khấu Tái Đồng Ban vào năm 1922. Nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa (Năm Nghĩa, 1911-1959), ông bầu của đoàn Cải lương Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga), đã đưa bản nhạc cổ này lên thành nhịp 16 với tên mới là Vọng cổ Bạc Liêu vào năm 1936.
Một bước tiến quan trọng của bản Vọng cổ cải biên là từ nhịp 16 của Mộng Vân với 20 câu, lên nhịp 32 rút lại còn 6 câu của Trần Tấn Hưng. Sự kiện xảy ra vào ngày 12/08/1941 trong ngày giỗ tổ Cải lương tại Bạc Liêu. Được phép của thầy Nhạc Khị và nhạc trưởng Sáu Lầu, Năm Nhỏ (Trần Tấn Hưng) đã độc tấu bằng đàn guitar phím lõm bản Vọng cổ nhịp 32 do ông cải biên và được sự nhuận sắc của Cao Văn Lầu. Khoảng đầu năm 1951, nghệ sĩ Nguyễn Thành Út  (Út Trà Ôn- 1919-2001) đã biến thành bản Vọng cổ nhịp 32. Và sau cùng là nhịp 64 cải tiến của Lý Khi mà đa phần nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát.
Nhớ lại, từ ngày bị trả về nhà cha mẹ ruột, bà Trần Thị Tấn đau khổ nhớ chồng, ngày đêm quên ăn, biếng ngủ, ngồi đâu khóc đó ngay cả những lúc đang làm công việc, khiến thân thể ngày càng tiều tụy héo mòn. Trước thảm cảnh này, mẹ vợ Sáu Lầu liên lạc cùng ông, đưa vợ đến ở nhờ nhà ông Chín Đại để vợ chồng có thể gặp nhau vào những khi có cơ hội thuận tiện. Nhưng gởi vợ ở lâu một chỗ sợ bị cha mẹ mình phát giác, Sáu Lầu lại gởi vợ sang ở nhờ nhà bà Ba Xịu, một nơi khuất xa, trẹo đường, không sợ cha mẹ mình biết. Hơn một năm sau, người vợ khổ đau đó đã cho chồng biết là mình đã có mang. Thế là nàng dâu được mẹ chồng rước về nhà ông Chín Giỏi để vợ chồng Sáu Lầu được tái hợp và sống mãi với nhau suốt đời. (Tại đây, nàng hạ sinh cho chồng một cậu con trai đầu lòng trong số bảy đứa con: năm trai và hai gái của ông bà sau này).
Cách mạng tháng Tám thành công, cũng như nhiều văn nghệ sĩ yêu nước khác, Cao Văn Lầu tham gia Mặt trận Liên Việt tại ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, Cao Văn Lầu nhận nhiệm vụ đặc biệt, rất quan trọng là cứu một số cán bộ tử tù bị thực dân Pháp bắt còn đang giam giữ trong ngục. Để giải cứu các chiến sĩ cách mạng, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nghĩ ra cách tổ chức một buổi đờn ca tài tử ở gần trại giam. Lòng nôn nao làm sao phải giải thoát cho kỳ được các chiến sĩ yêu nước trong lao tù, chỉ còn chờ ngày ra máy chém, đêm hôm đó, Cao Văn Lầu cùng các bạn đã đem hết tâm huyết và nghệ thuật để chơi xuất thần một buổi văn nghệ như chưa từng có, trong đó có bản Dạ cổ hoài lang.
Trước mũi súng của kẻ thù, tỏ ra bình thản sử dụng tùy lúc đàn tranh ru hồn và trống ta dòn dã để làm cho kẻ thù ngây ngất lắng nghe, đồng thời cũng tạo được âm thanh và bối cảnh thuận lợi cho hiện trường bí mật của đội cảm tử đang âm thầm hoạt động trong đêm. Không mấy chốc, các chiến sĩ đặc công quyết tử quả cảm, đã an toàn lọt vào trại giam, giải cứu thành công toàn bộ cán bộ và chiến sĩ cách mạng sắp phải chịu án tử hình. Sau đó, để tránh bị bại lộ, Cao Văn Lầu hòa mình dòng sinh hoạt ca nhạc đó dây bằng vỏ bọc của một chàng nhạc sĩ lãng tử giang hồ.
Đánh giá bản Dạ cổ hoài lang mà hậu duệ là bài ca vua Vọng cổ sau này, Chủ tịch Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã có ý kiến: Dạ cổ hoài lang là “một báu vật của nền âm nhạc cải lương Nam bộ”. Năm 1938, nhạc sư Vĩnh Bảo (1918-2015), người nghệ sĩ cao niên nổi tiếng về âm nhạc dân tộc, đã đàn cho cô Năm Cần Thơ (1917-2007) hát bài Dạ cổ hoài lang, nói: “Tôi đã từng gặp ông Cao Văn Lầu, tác giả của bản Dạ cổ hoài lang và thấy ông ấy là một con người rất giản dị…, ông học hỏi được rất nhiều giá trị âm nhạc từ kho tàng cổ nhạc của dân tộc mà viết nên tác phẩm ấy”.
GS.TS. Trần Văn Khê khẳng định: “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như “Dạ cổ hoài lang” đã biến thành Vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể,… sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt”. Với tinh thần thiết tha yêu nghệ thuật và lòng yêu tổ quốc nồng nàn trong suốt cuộc đời, Cao Văn Lầu đã sáng tác và lưu lại cho hậu thế bài ca vua Vọng cổ độc đáo, với giai điệu, âm hưởng tuyệt vời, mang đậm tính nghệ thuật dân tộc và nhân văn sâu sắc. Tôn vinh nhà nghệ sĩ âm nhạc tài hoa có óc sáng tạo đặc biệt, nhà nước đã xếp hạng Khu Lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu tại thành phố Bạc Liêu vào: Di tích lịch sử – Văn hóa quốc gia vào tháng 4 năm 2014. Và cơ quan quốc tế UNESCO cũng ra nghị quyết công nhận Đờn ca tài tử Nam bộ trong đó nổi trội là bài ca Dạ cổ hoài lang tức tiền thân của bản Vọng cổ, bài ca vua sân khấu cải lương – trong số 20 bài tổ: 6 Bắc, 3 Nam, 7 Hạ, 4 Oán – là di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Tương Như
 
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Những người thương nhớ dắt nhau đi

Những người thương nhớ dắt nhau đi

Đọc văn khi bắt được cái giọng của nhà văn, sự tiếp nhận văn bản được xem là lý tưởng. Nhà thơ Lê Thanh My đã chọn giọng cho độc giả, khi chị chọn tiêu đề của tập thơ bằng một câu thơ “Những người thương nhớ dắt nhau đi” trong bài thơ “Thức dậy lúc không giờ” (bỏ đi một hư từ “chỉ”).
Bìa tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi
Tôi đã đọc thơ chị trong một ngày đông mưa phùn, gió bấc, lạnh lẽo của xứ Huế, trong tôi bất ngờ xuất hiện những cuộc đối thoại cùng chị, thi nhân ơi, sao chị viết thơ như đang kể chuyện của nhiều người vậy:
“em nhớ anh/ loanh quanh/ dường như không thoát được/ anh quăng lưới vào ý nghĩ/ trói buộc em/ khi thở cũng thơm mùi khói thuốc/ nhìn mây tưởng tượng bồng bềnh/ ngày xa/ tháng xa/ năm xa… chẵn và lẻ xếp hàng chăn gối/ em sờ quanh có chín mươi chín triệu thiên hà/ miền nào cũng lạ/ con kiến bò loanh quanh/ ừ, có lẽ đã điên vì nhớ” (Nhớ)
Loanh quanh vì nhớ, quẩn quanh vì nhớ, tương tư vì nhớ, điên lên vì nhớ… chỉ có những tình yêu đích thực, tình yêu sâu sắc, tình yêu mộng mơ, tình yêu xa ngái… thì mới có cái cảm xúc da diết, dâng tràn, chân thành và giản dị đến thế. Tôi đã từng đọc câu thơ “nàng nhớ mùi thuốc lá của chồng” (Khỏa thu – Phan Thanh Bình), rồi nhận ra, thì ra khi xa nhau người phụ nữ thường nhớ mùi thuốc lá của chồng – một mùi vị đặc trưng của người đàn ông, cho dù bây giờ người ta đang “tẩy chay” thuốc lá, thì mùi khói thuốc như là cái cớ để nhớ về nhau.
Giọng thủ thỉ, tâm tình của chị đã bày tỏ các cung bậc cảm xúc của tình yêu: nhớ nhung, trông mong, chờ đợi, rồi khắc khoải… “biết ngày xa/ hoang phế sẽ khôn lường/ cuồng dại yêu thương dễ tan thành bọt nước/ làm sao anh biết được/ khi hoàng hôn nhấn chìm nửa bầu trời/ biển của em/ sụt sùi/ khóc” (Biển của em). Có lúc nhà thơ tự vấn: “đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?” để rồi nhận ra một điều hiển nhiên, giản dị: “Những câu thơ em viết cứ như đùa/ một ngày nắng sẽ phai/ một ngày gió thổi bay/ còn lại sau cùng/ là vòng tay anh rụt rè nơi bậc cửa” (Đã có tì vết nào trong lòng mình chưa?). Như đốn ngộ, như nhận chân giá trị cuộc đời, những vần thơ của chị đã thức tỉnh biết bao tâm hồn còn đắm đuối trong “bến mê”, hãy nhận chân giá trị của tình yêu mà gìn giữ “vòng tay anh”.
Tứ thơ “đêm qua” trùng điệp trong bài thơ “Hỏi thăm” là điểm nhấn trong suốt bài thơ. “Đêm qua/ con đường bỏ tôi một mình… đêm qua/ ghế đá công viên thức trắng rầu rầu… đêm qua/ tôi nghe những bước chân tìm nhau… đêm qua/ tôi nhớ một người ở tận đâu đâu”… Chị viết như không viết vậy, những câu thơ tràn trên giấy, còn lại suy tưởng chìm sâu. Lấy thời gian đêm qua để đo không gian, đo tâm tưởng. Vẫn lối nói quen thuộc của dân gian, nhưng ngữ liệu thì mới, hiện đại, mang âm hưởng nhộn nhạo của phố phường, tâm tưởng thì chìm sâu vào nỗi nhớ. Tưởng chừng cái tôi đang để chuyện ai, nhưng không, cái tôi ẩn giấu đến tận cùng mới thốt ra: Tôi nhớ một người ở tận đâu đâu – mơ hồ mà đa nghĩa, bởi ai đó chắc đã nhận ra; con đường, ghế đá công viên, bước chân… đã từng có kỉ niệm với ai.
Tôi rất thích tứ trong bài thơ “Ngộ”, 6 câu thơ như kể lể, thở than, rồi bất ngờ hạ một câu kết làm sáng cả bài thơ: “em khâu nỗi nhớ từ chiều qua cho đến hôm nay/ bằng sợi chỉ nôn nao/ bằng thở dài bối rối/ bằng nhịp đồng hồ nông nổi/ ngày dại khờ/ đêm mòn mỏi thở than/ thì ra nhớ nhau đâu có dịu dàng”. Đúng vậy, nhớ nhau đâu chỉ dịu dàng, nôn nao, bồn chồn, nông nổi, vội vàng, như chàng trai trong ca dao thuở xưa vừa “trèo lên” lại lúng túng “bước xuống”: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”. Nhưng cái lúng túng của chàng trai trong ca dao là cái lúng túng của thuở ban đầu chưa kịp trao lời để rồi hối tiếc. Còn nỗi nhớ trong bài thơ “Nhớ” là đã từng có kỉ niệm, đã từng dặn dò, chỉ là thời gian quá chậm so với cái nôn nao của lòng người mà thôi, cho nên “nỗi nhớ đâu có dịu dàng”…
Có những vần thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên cứ du dương, ru lòng ta nhè nhẹ, ai cũng có một thời tuổi trẻ, ai cũng có một thời mộng mơ, ai cũng có những cái nắm tay thề thốt suốt cuộc đời: “mỗi người bước đi bằng hơi thở của chính mình/ tay nắm chặt để em đừng nghi ngại/ ta chú thích vào tương lai thân ái/ con đường có tên đêm xa…” (Chú thích đêm)
Thơ viết về cõi riêng của tình yêu thật đẹp: “nói gì/ khi ta yêu nhau/ không nói gì/ khi ta yêu nhau/ bóng tối làm lu mờ xác thịt/ lại rực rỡ xúc cảm phần người/ góc nhỏ này của riêng ta thôi/ nhớ nhau ta tự tìm về… ngôi nhà người tình hư hao theo năm tháng nhạt nhòa/ hóa sứ đỏ nở nôn nao một góc/ bao thăng trầm mệt nhọc/ rồi cũng hết trăm năm/ lối thông hành của tim là một con đường hun hút xa xăm/ chờ trong li biệt/ chờ trong da diết/ những dòng tin nhắn như chim bay mỏi cánh/ chẳng có lời nói nào ở ban công/ đêm/ nở lập lòe nụ môi giã biệt” (Góc riêng ta). Những vần thơ tự sự, tâm tình rất nữ tính. Ở góc nhỏ tình yêu người phụ nữ đã tỉ mỉ nhớ lại từng chi tiết nhỏ nhất, đó là nỗi nhớ trong trái tim đã yêu, đang yêu và vẫn còn yêu. Dù “lối thông hành của tim là một con đường hun hút xa xăm”. Ta nói đó là thủy chung. Ta nói đó là chung tình. Ta cũng nói đó là thất tình. Điều ta nhận ra là tình này thật đẹp. Kỷ niệm thật đáng yêu. Bởi tình yêu khi đã đắm say, dâng hiến thì “lại rực rỡ xúc cảm phần người”, nó như tiểu thuyết, mỗi ngày mở ra mỗi trang là nhớ về một kỉ niệm.
“biết làm sao quên/ tiếng chuông vọng vào miền thao thức/ hơi thở gấp truyền qua lồng ngực/ đêm hoang vu trở về// không giờ// dường như tất cả đã ngủ mê/ bóng đèn đường rụt rè bật sáng/ ở giữa lối thông hành lãng mạn/ chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi” (Thức dậy lúc không giờ). Cái thao thức của trái tim khao khát yêu thương trở nên đáng yêu bởi có “lối thông hành lãng mạn”; trong cái tĩnh lặng về đêm dường như kí ức và nỗi nhớ cùng ùa về, để trái tim tình yêu nhận ra một điều rất giản dị: “chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”, khi đã trao trái tim thương nhớ cho nhau, dù có xa ngái, cũng chỉ là tạm thời. Nói như ai đó là “tình yêu trong xa cách được ví như ngọn lửa trong gió. Gió thổi tắt những ngọn lửa nhỏ và thổi bùng những ngọn lửa lớn”.
Dường như mỗi sắc màu của nỗi nhớ tình yêu đi vào thơ chị như một câu chuyện kể về một kí ức, một kỉ niệm, với không gian và thời gian đồng hiện. Và rồi, tứ thơ “chỉ khi con tim biết nói lời yêu thương/ hạnh phúc sẽ theo ta đến cuối con đường” như một chân lý hiển hiện trong toàn bộ tập thơ của nhà thơ Lê Thanh My. Một tập thơ không nhiều chỉ với 50 bài, cầm lên tay nhẹ tênh, nhưng chứa đựng sức nặng của một trái tim phụ nữ thi nhân thật chân tình, hồn hậu, chị đã nói thay cho biết bao người phụ nữ đang yêu, đang kháo khát tình yêu, đang đợi chờ, rằng khi yêu thương bằng chính trái tim mình, thì hạnh phúc sẽ mỉm cười.
Đọc thơ của nhà thơ Lê Thanh My, tôi nhận ra giọng thơ của nhà thơ Nam bộ, thủ thỉ, tâm tình, giản dị, chân thành, thẳng thắn khi giải bày các trạng thái cảm xúc của tình yêu… không cố tỏ ra bóng bẩy hay trau chuốt cho cái tôi kiêu hãnh trong tình yêu. Thơ chị như “người đàn bà” kể, câu chuyện kể mỗi ngày làm sáng lên một vùng kí ức, gợi về một vùng kỉ niệm và biết đâu đó cũng là kinh nghiệm riêng cho mỗi người. Con đường tình yêu, chỉ là một hành lang hẹp, nếu ai đó biết nắm tay thật chặt, thật tự tin thì đi đến cuối con đường. Nếu vụng dại, không may hay lỡ lầm thì đó cũng chưa phải là tận cùng, và hãy nhớ “trong lòng người đàn ông/ nụ cười người đàn bà hơn tất cả thế gian”. Bài thơ “Khi con tim biết nói lời yêu thương” với kết cấu đầu cuối tương ứng là sự đúc kết những trải nghiệm của cái tôi thi sĩ trước tình yêu và cuộc đời. Bài thơ thật có giá trị nhân văn cho những ai đã yêu, đang yêu và sẽ yêu.
Đến với tập thơ Những người thương nhớ dắt nhau đi, tôi nhận ra một điều rất giản dị là hãy đọc chậm, đọc kỹ, đọc nhiều lần một văn bản thơ, bởi đặc trưng mơ hồ và đa nghĩa của thơ ca, và cũng bởi lối bày tỏ cảm xúc của nhà thơ từ tốn, chậm rãi… giá trị nhận thức của văn chương chính là ở chỗ giúp ta tự ngộ ra, tự biết thêm về mình, về mọi người; dường như đó cũng là thông điệp của nhà thơ với cuộc sống hối hả hiện nay với những ai có thói quen “bấm” và “lướt” mỗi ngày, nếu chỉ bấm và lướt quá nhanh bạn sẽ không thể cảm nhận hết cái đẹp của tình yêu và cuộc đời bởi vì “ở giữa lối thông hành và lãng mạn/ chỉ những người thương nhớ dắt nhau đi”
Huế ngày 6/1/2019
H.T.T.T
 
19/3/2020
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 
 

"Bông hồng vàng" - Bút ký của Châu La Việt

"Bông hồng vàng" - Bút ký
của Châu La Việt

Năm 1971, mặt trận Lào đang chiến dịch “cù kiệt” (trả hận), bom đạn tóa lửa trên trời dưới đất, bỗng một sáng anh Trung Nhân đi giao ban cơ quan Chính trị về, bảo rằng:” Hoài ơi, em chuẩn bị ra Hà nội tham gia trại viết của Tổng cục nhé.”… Thế là chiều tối ấy, khoác ba lô chào anh em ra barie đón xe từ Phunokcok về đèo Đất, bom đạn vẫn cứ ầm ầm xung quanh, rồi đêm sau đón xe từ Đèo Đất về Mường xén, vẫn cứ máy bay bay theo xả hàng loạt đạn bom… Cho đến khi về tới Mường xén thuộc đất mình mới tạm yên ổn, rồi nhảy xe BT 11 từ Mường xén về ga Si đón tàu về Hà Nội…
Nhà thơ Châu La Việt
Phải nói từ mặt trận về trại viết khi ấy cứ như từ địa ngục khét lẹt đan bom về thiên đường. Trại viết ở tại công trường 800 (Nay là đường Hoàng Quốc Việt), cùng với đoàn chèo Tổng cục, những chị Tuất chị Sửu chị Quỳnh Dung em Oanh em Hoàng đẹp mê man , hát múa ngúng nguẩy cứ như tiên nữ hết lượt (Trong ánh mắt những thằng lính từ mặt trận mới về). Lại được ăn cơm tiểu táo, ngày ba bữa cứ đánh tì tì, lại chuyên tâm chỉ mỗi việc viết lách, có thầy giỏi là những văn nghệ sỹ nổi tiếng kèm tay, lại thêm có ông thầy Tào Mạt nhiệt tình đến mức nửa đêm còn dựng trò dạy hát chèo cho nghe, miệng hát tay khua cứ như lên đồng… Mới thầm nghĩ thiên đường là đây chứ còn là đâu nữa !
… Quả với tôi, văn chương đàn hát từ ngày ấy thực sự là thiên đường. Tôi chẳng thiết gì khác ngoài nó. Khổ đau cùng cực hay ăn đói mặc rách vì nó cũng chẳng sá gì!…
Sau trại viết ấy về, một thời gian sau, binh trạm lại cử tôi ra Hà nội học một lớp điện ảnh. Ở đây tôi gặp một thằng tân binh người Tày cũng rất thích làm thơ là Hứa Vĩnh Sước. Thế là hai thằng chẳng học điện ảnh mấy, (thực chất là chiếu bóng không làm tôi mấy hứng thú so với việc làm thơ viết văn), nên chỉ cùng Hừa Vĩnh Sước suốt ngày đàm đạo thơ ca và chở nhau đi khắp Hà Nội theo đuổi văn chương… Sau này Hứa Vĩnh Sước kể lại về con đường thơ ca của chúng tôi:
“Dạo ấy đang là mùa hè. Việt nhễ nhại đèo tôi bằng chiếc xe đạp Thống Nhất đi từ Thanh Trì lên nội thành Hà Nội. Việt dẫn tôi đến ngôi nhà số 4 phố Lý Nam Đế. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được bước chân vào ngôi nhà Văn nghệ Quân đội. Cảm xúc lâng lâng thật khó tả. Ngạc nhiên có. Sờ sợ có. Choáng ngợp có. Thinh thích có. Và người đầu tiên, Việt giới thiệu với tôi. Đây là nhà thơ Xuân Sách. Còn đây là nhà thơ Văn Thảo Nguyên. Họ là nhà thơ ư ? Sao họ cũng ăn ở sạch sẽ, chỉnh chu, bình thường như mọi người. Thậm chí hai nhà thơ này chỉ nhúm cười thân mật. Họ ít nói về mình, càng không nói gì về thơ văn cả. Trời ơi! Tôi đã đọc họ rồi. Thậm chí còn thuộc khá nhiều bài của họ. Nhưng sao nhà thơ… Lẽ ra họ… không biết nói thế nào về những người này. Trong mắt tôi, họ là những người âm u bí hiểm. Đại loại như mấy ông thày mo thày tào trên quê tôi. Đại loại họ bẩn bẩn một chút. Hôi hôi một chút. Tóc dài, râu dài, móng tay quăn tít như hoa móng rồng. Họ nói như ma nói. Âm thanh giọng người phát ra như chuông rè, đầy màu sắc mộng mị…
Kỉ niệm ấy không bao giờ quên. Nó nhắc đi nhắc lại trong tôi. Nhà thơ là thế đó. Bình thường như mọi người. Dễ mắc sai lầm hơn mọi người. Ảo tưởng mơ mộng thì nhiều hơn mọi người. Khóc vì nỗi đau nhân thế nhiều hơn mọi người. Buồn vì tay mình luôn ngắn hơn ống tay áo. Làm thơ có gì sướng, thi nhau lăn lưng vào là sao nhỉ?..
Châu La Việt là người đưa tôi đến ngôi nhà văn chương một cách ngẫu nhiên thôi. Việt bảo tao đưa mày đi chơi cho biết Hà Nội. Dạo ấy tôi đâu đã thiết tha với cái nghiệp thi ca văn chương, chỉ muốn đi cho biết Hà Nội nó to như thế nào. Lúc đầu chỉ là thỏa mãn trí tò mò. Tò mò mãi đâm ra thành quen. Ngày đầu mới chỉ làm quen văn chương thôi. Sau này và kể cả bây giờ, tôi “chết” như rệp. “Chết” là bởi cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ…”
Năm 2017, tôi lại về Nha Trang dự một trại viết về người lính, cũng của NXB Quân đội tổ chức. Trước khi tham gia trại, tôi có hai tập sách là tiểu thuyết “Triền dâu xanh ngát” và tập truyện ngắn” Binh trạm phía tây” in ở NXB, có lẽ bởi thấy tôi tâm huyết với đề tài người lính nên anh em đã mời tôi tham gia trại ( cùng các nhà văn, nhà thơ Mai Nam Thắng, Chi Phan, Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Huy Quang, Trần Bích Nga, Nguyễn xuân Hùng, Đỗ Ngọc Yên…).Chính ở Nha trang, tôi vô cùng xúc động gặp lại dấu vết người sư đoàn trưởng đầu tiên của tôi: Thiếu tướng Hà VI Tùng, sư trưởng sư đoàn 320 b. Thế là lẳng lặng thuê một chiếc taxi, rồi xe ôm, đường loằng ngoằng lắm, tìm đến nhà lưu niệm của thủ trưởng để dâng hương lên thủ trưởng.Tôi nhớ lúc thắp hương xong, tôi cứ đứng lẩm nhẩm vừa như báo cáo, lại vừa như tâm sự với Sư đoàn trưởng, lại cả đọc thơ cho sư trưởng nghe nữa…
– Thưa thủ trưởng – Tôi thầm thì cùng ông – Chúng em (Ngày ấy chúng tôi hay xưng là em với các thủ trưởng) là những người người lính sư đoàn 320b năm xưa được thủ trưởng dìu dắt và huấn luyện, sau đó được bổ sung cho các mặt trận, chiến trường. Chúng em trở thành những người lính chiến dũng cảm, hoàn thành sứ mệnh với quê hương đất nước cũng một phần từ chính sự huấn luyện, giáo dục, yêu thương của các thủ trưởng”
Bất giác, tôi thầm đọc ông nghe một bài thơ tôi viết về những người lính Hà nội ngày ấy do ông huấn luyện, vào chiến đấu ở mặt trận và anh dũng hy sinh: “ Hà nội ơi có biết bao chàng trai/Như bạn tôi đã không về nữa/Sông Hồng vẫn trôi và mây trắng vẫn bay/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Như có mùa thu của ngày ấy lên đường/Nhưng lắng nghe từ trong hương hoa sữa/Có bạn về trong mỗi làn hương…”
Vâng, thưa thủ trưởng, chúng em đã chiến đấu, đã sống xứng đáng với những gì thủ trưởng đã trao, đã dạy dỗ,huấn luyện, xứng đáng với truyền thống của sư đoàn 320 B ngày ấy. Mãi mãi chúng em không bao giờ quên các thủ trưởng, quên người sư đoàn trưởng đầu tiên của mình…
Và ngay đêm ấy, trong một niềm xúc động dâng trào, tôi đã viết ký sự:”Sư đoàn trưởng của tôi”, bổ sung ngay để hoàn chỉnh cho tập sách “ Một người lính Nam tiến” về Sư trưởng của tôi – Tướng Hà Vi Tùng.
Trại viết về người lính 2019 Vũng Tàu…
Tôi ngồi lặng lẽ trong một căn phòng của Trại viết, và nhìn ra biển rộng. Văng vẳng bên tai tôi, hòa trong tiếng sóng biển, là lời Nhà văn Paustovsky trong truyện ngắn Bụi quý :” Giống như bông hồng vàng của người thợ hót rác già kia làm ra là để cho Xuyzan được hạnh phúc, sáng tác của chúng ta là để cho cái đẹp của Trái Đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng bóng tối, cho chúng ta rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt.”
 Và lời Nhà văn Đỗ Chu yêu thương dặn riêng cho nghiệp cầm bút của tôi: ”Việt ơi, hãy viết như mẹ em từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng câu ,đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương nhớ cũng tột cùng…”
 Và rồi trong sóng biển Vũng Tàu, tôi viết trường ca “ Dòng sông thơm hương cỏ xương bồ”. Viết theo thể thơ 7 chữ cổ kính, đúng như thể thơ nhà thơ Tố Hữu đã viết trường ca “Theo chân Bác”.
Tôi chỉ thầm nghĩ một điều: Phía trước là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tố Hữu- Một nhà thơ lớn, người đã có những vần thơ tuyệt vời về Đất nước, Nhân dân, về những người chiến sỹ, và đặc biệt là về Bác Hồ. Có lẽ nào không có những vần thơ, những trường ca hay đẹp viết về ông? Có lẽ nào tôi không có một bông hồng vàng để kính dâng ông, một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã ru hồn thế hệ chúng tôi từ tuổi ấu thơ, đã sát cánh chúng tôi trên con đường ra trận mà thơ ông như tiếng kèn thôi thúc. Và với riêng gia đình tôi, ông là người đã nâng đỡ và mang rất nhiều hạnh phúc đến cho mẹ tôi, cũng là người bố vợ đằm thắm và giàu tình cảm vô cùng cho cuộc đời em ruột tôi?
… Sóng Vũng tàu cứ mải mê vỗ suốt đêm, và từng vần thơ của tôi cũng vang lên trong tiếng sóng biển ấy. Tôi khao khát có một bông hồng vàng kính dâng ông - Nhà thơ Tố Hữu…
19/3/2020
Châu La Việt
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

Hữu Loan - Cây gỗ vuông màu tím

Hữu Loan - Cây gỗ vuông màu tím

Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời ở tuổi 95. Thơ Hữu Loan ở lại với người đời. Thơ đó “có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do, cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt”, như ông đã nói và đã làm được. Từ thơ, có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ vuông màu tím – đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.
Chân dung cố nhà thơ Hữu Loan
Với ông, tôi cũng như những người cùng thế hệ, chỉ được biết rất muộn, cả về thơ và đời. Gặp ông ngoài đời còn muộn hơn nữa. Mãi tới năm 2008 tôi mới có dịp lần đầu về nhà ông ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, khi ông đã tuổi cao sức yếu. Nhưng từ đó cho đến khi ông qua đời tôi lại có mấy dịp đưa các bạn bè Hà Nội và Sài Gòn về thăm ông.
Ông mất ngày 18/3/2010 tại quê nhà. Tôi được tin ông mất khi đang ở TPHCM dự một hội thảo khoa học quốc tế tại Khoa Ngữ văn, trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn. Đó là vào trưa 19/3/2010. Báo Tuổi Trẻ đặt tôi viết bài ngay về ông. Thế là trưa đó, sau phiên họp sáng của hội thảo, trong khi các bạn bè đồng nghiệp vui vẻ bữa trưa, tôi rút vào phòng khách sạn ngồi viết. Ngồi mãi một lúc tôi vẫn chưa biết mình sẽ viết gì. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của ông “Màu tím hoa sim” và “Đèo Cả” thì hẳn nhiên là phải nói đến. Nhưng viết thế nào cho ra cái chất người và chất thơ Hữu Loan trong khuôn khổ một bài viết ngắn cho báo? May sao, khi nhớ lại bài thơ “Cây gỗ vuông” thì tôi đã có được cái tứ cho bài viết của mình: “Hữu Loan – cây gỗ vuông màu tím”. Bài viết đã lên báo Tuổi Trẻ ngày 20/3/2010. Sau này khi đưa nó vào tập sách của mình “Nhà văn như Thị Nở” tôi đã bổ sung thêm hai bài thơ mới của ông được sưu tầm về sau.)
Cố nhà thơ Hữu Loan cùng nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên
1. Ông là một nhà thơ đích thực của nền thơ hiện đại Việt Nam. Đích thực bởi thơ. Chỉ bằng hai bài “Màu tím hoa sim” và “Đèo Cả”, Hữu Loan đã ghi danh mình cho thơ Việt ở sự riêng tư và mới mẻ. “Màu tím hoa sim” là tiếng khóc của một người chồng cho người vợ xấu số, là một tiếng kêu cho tình yêu trong thời đạn lửa, là lời phẫn uất trước số mệnh phũ phàng của con người. “Nhưng không chết/ người trai khói lửa/ Mà chết/ Người gái nhỏ hậu phương/ Tôi về /không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương/ tàn lạnh vây quanh.” Tiếng thơ ấy đã lập tức đồng vọng và lan xa trong lòng bao người, dẫu ở một thời chiến tranh bắt con người phải nén nỗi đau riêng, vùi chôn tâm trạng cá nhân để ra trận và cầm súng, bởi vì đó là tiếng thổn thức thắt nghẹn của con tim. “Đèo Cả” hào hùng, hào sảng tinh thần của một thế hệ dấn thân cho vận nước trong hình ảnh những chiến binh như trượng phu ngang tàng giữa núi rừng, chấp mọi hiểm nguy, đùa cùng gian nan.
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?
Hai bài thơ khắc ghi dấu ấn rất riêng của Hữu Loan vào một thời thơ. Thơ, chứ không phải cái gì khác, đã làm nên Hữu Loan, đã vinh danh ông. Và ông xứng đáng được vinh danh bằng thơ đó. Những nhát thơ Hữu Loan đục vào thời gian, đục vào tâm khảm, để lại dấu tích không phai.
Cố nhà thơ Hữu Loan cùng người vợ gắn bó cả đời với ông
2. Ông đã sống một cuộc đời dài, thật dài, mà những khổ nạn, thử thách chỉ càng làm bền thêm trong ông những lựa chọn ban đầu khi làm cách mạng và làm thơ. Bỏ phố thị thủ đô về lại quê hương, tự tay vỡ đất vỡ đá lầm lụi tháng ngày nuôi vợ con nuôi mình chống chọi với cuộc sống thiếu thốn vất vả và nhiều chướng ngại, nhưng ông không nề hà, nản chí. Hữu Loan là một con người cương cường. Ai đã một lần gặp ông, nhìn ngắm khuôn mặt ông, nhất là đôi mắt, và nghe giọng ông nói, đều có thể cảm nhận đây là một con người không chịu gục ngã trước thử thách. Trời đã cho ông sức khỏe và ý chí để thọ cao đến vậy sau bao khổ nhọc chồng chất. Nhưng tôi tin trời đã thương ông nên đã ban Thơ cho ông để ông sống được là mình như vậy. Ông tự gọi mình là cây gỗ vuông: “Tôi, cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời/ Đã làm thất bại âm mưu/ đẽo tròn/ để muốn tùy tiện/ lăn long lóc/ thế nào/ thì lăn lóc. Chân lý đấy/ hỡi/ rìu/ bào/ phó mộc”. Nhà ông, trên bàn thờ chỉ để một chữ Tâm.
3. Tôi đã thấy chữ Tâm đó mỗi lần bước vào nhà ông ở một vùng quê xứ Thanh. Lần gần đây nhất là trước tết dương lịch 2010 mấy ngày. Khi ấy ông đã yếu nhiều, giọng đã thều thào, nhưng cũng như bao lần có khách đến thăm yêu cầu, ông vẫn cất giọng đọc thơ. Đọc hai bài “Màu tím hoa sim” và “Hoa lúa”. Một bài cho người vợ đầu xấu số mất sớm khiến ông đau xót khôn nguôi hơn sáu mươi năm qua. Một bài cho người vợ sau gắn bó hơn nửa đời người cùng ông trải bao hoạn nạn đắng cay, sinh cho ông mười người con, giữ cho ông tinh thần phải sống. Giọng ông lúc khỏe nghe rõ ràng, khúc triết, sai một chữ một từ là ông sửa lại ngay. Lúc yếu, giọng nghe không rõ, nhưng vẫn thấy tỏa ra trong giọng đọc đó tình cảm sâu nặng sắt son của ông dành cho hai người phụ nữ đã làm nên đời ông – đời một con người và đời một nhà thơ. Nói đến thơ, nhắc lại những năm tháng làm văn nghệ, ông vẫn cương trực với mình trong cách nhìn nhận sự việc, vẫn trung thành với một quan niệm thơ, quan niệm sống đã có từ đầu và từ lâu. Ông như không bận tâm đến việc ra một tập thơ riêng của mình khi mà tập thơ đó nếu ra không đầy đủ, không vẹn con người ông. Nhưng thơ ông đã nằm lòng bao nhiêu độc giả hàng chục năm qua. Không chỉ là một, hai bài đã nổi tiếng, mà còn những bài khác được truyền tụng. Như bài “Tình thủ đô”, mới được nhà thơ Dương Tường và nhà văn Mạc Lân khôi phục lại mấy năm trước. Như bài “Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn” năm 1956: “Một đám tang đã diễu hành/ Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài/ Nấc lên mầu huyết/ Một đám tang đi/ Không/ bao/ giờ/ tới/ huyệt”.
Chữ Tâm trên bàn thờ trong nhà của cố nhà thơ
4. Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời ở tuổi 95. Thơ Hữu Loan ở lại với người đời. Thơ đó “có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do, cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt”, như ông đã nói và đã làm được. Từ thơ, có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ vuông màu tím – đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.
Sài Gòn 19.3.2010
Hai bài thơ của Hữu Loan
Thánh mẫu hài đồng
Nhà thơ Hữu Loan suốt đời mình luôn khắc ghi hình bóng người vợ đầu. Sau bài thơ Màu tím hoa sim bốn mươi hai năm, ông lại làm bài thơ này hồi tưởng lại đêm tân hôn đầu tiên của mình. Bài thơ vẫn đúng chất hồn và giọng điệu Hữu Loan, đầy ắp cảm giác cảm xúc đôi lứa tình yêu. Đây còn được gọi là bài Tục Màu tím hoa sim.
Em ngả cánh tay còn nhiều
ngấn sữa
Cho ta làm gối gối đầu
đêm tân hôn
Sao lại không chính là tay ta
đỡ trước lấy vai nàng
Ta râu ria như râu thép gai
như xương chổi
Gân guốc sù xì phong sương
như một gốc cây rừng
Ta lo lắng sợ tay nàng gãy
Tay nàng mảnh mai như một
nhánh huệ trong bình!
Nhưng lạ thay
nàng ghì đầu ta như
chẳng hề hấn chuyện gì!
Chỉ có chuyện là
ta thấy ta càng lúc
càng thêm nhỏ bé trong
vào ngực măng tơ
Chà dụi
Rúc tìm
Tham lam
Cuống quýt
Ngẩn ngơ
như một hài nhi
khát
mẹ
Nàng càng riết chặt
ta càng thấy bé
Vòng tay nàng đánh đai
Nàng thì thào thổn thức
bên tai
– Anh của em!
– Anh vô cùng lớn của em!
Nhưng trái lại
Anh đang rất bé.
Nàng:
– Anh ơi anh!
Ta:
– Mẹ ơi mẹ!
Bằng một giọng học nói
Hài nhi bập bẹ
(trong hơi thở trộn nhau
bốc men)
– Tôi đối thoại hay là
vô thức nói.
Sau đêm ấy là
em đi
đi
mãi!
Em đi tím đất chiều hoang
Ta như mất mẹ khóc
tang
hai
lần!
Xin kính cẩn hôn chân
Tất cả những đấng gái Việt Nam
Đã sớm mang chất
mẹ
loài
người.
Em trong mẹ
Mẹ trong em
em
ngôi
thánh mẫu
hài đồng
1991
 
Tòng quân
(Nhà thơ Dương Tường nhớ và ghi lại bài này)
Nếu anh ra đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Thương con khó nhọc
Nếu anh ra đi
Người vị hôn thê
Những giọt nước mắt
Đọng trên hàng mi
Nhưng
Nếu anh không đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Mà con không đi
Mẹ thà thương con tóc trắng
Ngày mai cờ về chiến thắng
Mà con không về
Mẹ thà như lá rụng chiều quê
Đến khi con về
Cỏ vàng nấm đất
Nhưng khi nước mất
Vì vị hôn thê
Mà con không đi
Nếu anh không đi
Người vị hôn thê
Mặt nghiêng tay che
Đêm thương lời thề
Thà đợi người đi
Già trên lời thề
Nhưng khi nước mất
Mà anh không đi…
(Khoảng 1947)
 
20/3/2020
Phạm Xuân Nguyên
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
 

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...