Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025
Bắt đầu
Bắt đầu
Có những quá khứ buồn đau, nhưng vẫn nhớ để từ đó hướng về tương lai. Gửi truyện ngắn mời anh chị em đọc để nhớ một thời đã xa.
- Anh à, làm sao chứ trẻ nhỏ khóc quá vì đói.
Anh cảm thấy chua xót trước thực tại. Vắt tay trên trán nằm ngửa nhìn lên trời cao. Trời vẫn màu xanh, mây trắng yên bình nhưng lòng ông dậy sóng.
Sau những ngày ở trại về ông dự liệu cho mình và gia đình gian nan còn rất dài phía trước.
- Anh à, làm sao đây? Tiếng nói lớn của vợ làm ông sực tỉnh.
- Em chạy sang nhà bác Hai mượn đỡ lon gạo về nấu cho con ăn đỡ đói
- Anh à, em mượn từ chiều nhưng nhà bác không có. Bác trai đã đi vay người anh em ở huyện từ hôm qua, sáng nay chưa về.
Trời tối mặt người không nhìn rõ, anh cùng chị vợ cố liều lấy trộm chiếc máy bơm nước Koler của Hợp tác xã nông nghiệp. Chắc sẽ có tiền mua gạo đủ tháng no cơm. Lặng lẽ, đi nhẹ như mèo đem đến tiệm sửa máy nước bán lấy tiền mua gạo. (Tất nhiên anh đã điều nghiên kỹ lưỡng và nói với vợ cặn kẽ), Nào ngờ thằng bạn chủ tiệm ở làng nó biết hoạch tẹt:
- Trời đất, Tao không mua được. Máy này của HTX là máy hầm bà lần, hồi ấy, tao ráp toàn đồ hợp chủng quốc, bán cho HTX chạy tăng cường nước vào mùa hạn năm ấy. Tao mua dễ bị ở tù lắm. Mày trả lại vị trí cũ đi.
Thôi thế này:
- Tạo cho vợ chồng mi mượn đỡ tiền về giải quyết khó khăn, thiếu đói. Khi nào có trả tao.
Vợ chồng anh vừa mừng, vừa sợ, vừa lo. Tuy vậy anh vẫn bình tĩnh. Lần này hai người nhanh chân khiêng máy nước ném xuống ao, phi tan.
Khoảng 3 giờ sáng cả hai về nhà với niềm vui và nỗi buồn chen lẫn. Lần đầu tiên trong đời anh táo tợn kinh khủng vì...con đói.
Với anh cả hàng trăm lần đói như thế nhưng chưa bao giờ có ý niệm bất lương. Nó dày vò tâm hồn anh đến mức ngoài tưởng tượng từ lúc làm người.
Tin HTX bị trộm máy nước nhanh chóng được loa phóng thanh thôn rao ơi ới. Cả làng hoang mang lo lắng. Không biết ai cả gan, bị du kích bắt ở tù như chơi.
Đến mấy tháng sau không có động tĩnh gì, chẳng biết thủ phạm lấy cái máy Koler là ai.
Gia đình anh vẫn bình an, nhưng lòng anh ngỗn ngang, cả đời lương thiện, mỗi một lần vì con đã liều lĩnh táo tợn một việc tày trời. Chỉ có anh và đất trời mới hiểu được sự hy sinh - hy sinh cả danh dự làm người chỉ vì con.
Anh rời quê hương vào vùng Kinh tế mới tự túc An Viễn, Đồng Nai. Đến vùng đất mới tâm hồn như cởi bỏ một vật nặng ám ảnh, có lẽ đây là vùng đất dưỡng nuôi gia đình anh. Đất cũ đãi người mới: “Đồng Nai gạo trắng nước trong/ Ai đi đến ấy lòng không muốn về”.
Nhiều người cùng quê đi trước yêu mến, hướng dẫn anh buôn bán để may ra đời sống đỡ khổ hơn.
Cả đời xé sóng biển, oanh liệt lênh đênh khắp miền, giúp đỡ biết bao nhiêu con người, đến đâu ai cũng quý mến tính thật thà và nghiêm nghị ở anh. Khi trở về đời sống thường nhật từ trại ra, anh lúng túng, khó khăn mọi bề vây bủa.
Người phụ nữ tốt bụng cạnh nhà bày vẻ anh:
- Anh à, buôn bán như em cũng sống được chứ làm rẫy vất vả nhưng mình không quen, khó lắm. Tướng anh như quan, làm sao anh chịu nổi.
Mùa tiêu, Sài Gòn đắc lắm đi lọt được năm, mười ký tiêu mua gạo đủ cả tháng ăn. Tôi cho anh mượn vốn. Chị bạn bên nhà chân thành nói với anh.
- Tôi đi cùng chị xem sao.
Chị bảo: "Anh mặc quần ống rộng, dễ cởi ra".
Đỏ mặt, ngỡ ngàng anh nói:
- Chuyện gì vậy chị?
- Anh cứ nghe em.
Rồi anh ngoan ngoãn mặc quần rộng thùng thình cùng cô bạn ấy lên đường.
Đến nơi hen, chị bảo anh cởi quần.
- Trời đất, em làm chi rứa?
- Anh cứ nghe em, coi anh có cứng cát không?...
Chị lấy tiêu hột áp, bó vào sau chân anh, trông đôi chân anh như phi hành gia của nhà thám hiểm mặt trăng phi thuyền Apollo 11 đáp xuống mặt trăng đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX.
Lên xe than tiến về Sài Gòn - Ngày ấy tất cả nhà xe đều độ xe chạy dầu, xe chạy xăng bằng xe than như đầu thế kỷ XX. Sự thụt lùi gần trăm năm.
Trạm Ngã ba Vũng Tàu người người lao nhao, thuế vụ có lịnh chặn lại.
Anh xuống xe lớ ngớ, tính ra xa gải cho đã ngứa, bởi mồ hôi đổ ra dưới chân làm ẩm tiêu nóng và ngứa không chịu nổi.
Cán bộ trạm thấy anh đi xa, bèn gọi giật lại:
- Anh kia, vào đây.
- Tôi đi tiểu, xong tôi vào ngay. Trong tích tắc anh nghĩ phải nói sao cho họ cảm động tha cho, không thu mua.
- Anh cởi quần ra.
- Cán bộ à, sao lại cởi quần giữa bá quan, nhiều người?
- Anh cứ cởi quần ra
Tiếng nói của cán bộ như xé vào tai những hành khách. Vài người bật cười chế giễu vừa xót thương.
- Anh cởi quần ra, kiểm tra.
Anh cởi quần và người nhân viên thuế vụ phụ mở.
- 6 kg tiêu, anh đi buôn. Bọn buôn nhiều mưu kế, nhưng chúng tôi không thua bọn họ, Mỹ chúng tôi còn đánh thắng huống hồ bọn buôn, anh cán bộ trạm hiu hiu tự đắc.
Anh chẳng thiết tha gì cúi xuống gải một trận cho đã sướng. Kệ mẹ, thua keo này, bày keo khác. Tuy vậy, anh năn nỉ:
- Tôi là giáo viên, nghỉ hè tính đi vài chuyến kiếm ít đồng mua gạo cho con. Tụi nhỏ nó ăn mì ngán cả bản họng
- Giáo viên à? Có chế độ, còn đi buôn vi phạm chính sách. Lập biên bản. Tịch thu!
Buổi đầu đi buôn với chị thất bại, lại mang nợ chị, cảm ơn lòng tốt của chị. Tôi nhớ mãi vụ này, anh đến gần chị, chị nói thật khẽ:
- Tính sau anh à.
Cả chị nữa, chuyến ấy tay không trở về.
Lòng anh buồn rười rượi, chị cũng chẳng thua gì, ai không xót khi mất cả chì lẫn chài dù đã cố gắng tận nhân lực, đâu phải cố gắng là được.
Anh và chị bạn đón xe quay về. Chị hiểu được chuyến mở màn bị quét sạch no ấm của gia đình nhà anh. Chị nói:
- Lần sau mình đi hướng Cát Lái. Chắc ăn hơn tuy nhiều vất vả vì đường khó đi.
Ngõ vào nhà anh như dài hơn, đôi chân nặng nề hình như còn 6 kg trên đôi chân mỏi. Trưa nắng nóng, không một chút gió, oi bức lạ thường. Anh lẫm nhẫm:
Thất bại là mẹ thành công. Không thể nãn lòng đươc, mới chỉ một lần thất bại. Anh sẽ trải nghiệm lần nữa cùng chị.
Chỉ là mới bắt đầu cuộc sống tha hương.
Đất trời sẽ ban tặng cho ai nhiều tận tụy và nỗ lực trước những gian nan, đắng cay, có cả tủi nhục.
(Ba mươi năm sau, anh là một doanh nghiệp khá giả, khi trà dư tửu hậu anh kể lại, vài người yên lặng lắng nghe.Có đôi mắt ướt, lệ rơi xuống bàn vì xúc động một thời sống không bằng chết). Hữu khổ thành thân.
May thay, tất cả đã trôi xa, nhưng sẽ chẳng bao giờ quên với con người anh.
Ngã Du Tử
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Ấm trà đêm giao thừa
Ấm trà đêm giao thừa
Hồi mới vào bậc trung học đệ nhất cấp khoảng năm sáu tám, sáu chín, lúc ấy ông nội tôi còn tại thế, mỗi lần đi học về, tôi thường lân la với ông để chuyện trò, có những điều không biết tôi thường hỏi ông tôi. Nội tôi có thói quen là đọc sách và uống trà. Sách ông đọc thường bằng chữ Nho, thỉnh thoảng ông vẫn đọc sách quốc ngữ dịch từ tiếng Hán như Tam quốc chí, Thuyết Đường, Đông Chu liệt quốc… nghe ông nói việc uống trà từ rất sớm lúc ấy chắc vào lúc ngoài bốn mươi, tôi còn nhớ những động thái của ông lúc pha trà cũng như lúc uống trà.Thế mới biết thú uống trà cũng công phu quá đổi: ‘nghề chơi cũng lắm công phu’.
Đầu tiên ông đun nước sôi, không hiểu sao ông nói chỉ ấm đất nước mới ngon pha trà mới tuyệt, lẽ ra phải dùng nước giếng buổi sáng múc từ dưới giếng của nhà cũ của mình hình như là mạch nước đó tốt, tôi thì chả hiểu tốt xấu thế nào nhưng rõ ràng là mỗi lần về quê những lần nghỉ học là khoái uống ngụm nước giếng quê nhà múc từ giếng, nó ngọt ngào làm sao, cái vị ngọt ấy tôi chẳng thể nào quên, nhưng điều kiện ở thành phố không có đành chịu, nước thủy cục thì chẳng thể nào bằng, lúc nước sôi bùng ông vẫn còn để trên bếp bớt lửa cứ dùng từ từ, ông tráng ấm, tráng chén, xong đâu đó ông thận trọng mở lon trà, lon trà làm bằng cạc- tông của Đài Loan màu đỏ, ngoài có viết chữ thảo của Tàu, có ấm trà và chén trà khói nghi ngút, họa sĩ Đài loan vẽ rất đẹp, bên trong còn tráng lớp ny lông. Trà ông thường uống là trà Kim Phát do người Tàu định cư ở Quảng Ngãi sản xuất nước có màu xanh thơm lạ thường lúc bấy giờ nó là danh trà ở xứ tôi, thỉnh thoảng ai đó biếu ông bịch trà Đài Loan, ông quý lắm ông cẩn trọng thêm bịch ny –lông dày buột dây cao su đeo tay kỷ lưỡng lắm, ông nói làm như vậy trà sẽ ít bị bay hơi, mùi trà thơm lâu, rồi ông khum tay dốc trà vào lòng tay mình liều lượng tương đối nhất định, ông bỏ vào bình. Ông tráng ấm, tráng ấm cũng rất điệu nghệ, lắc đều nước quay đều đến thành miệng ấm mà chẳng ra ngoài, rồi ông dốc bỏ nước ấy, sau đó ông chế tiếp nước sôi vào ấm nước đặt trên bếp rề sô nhỏ màu ô liu quân đội,ba kiềng táo khi không nấu nữa thì xếp vào thân gọn gàng lắm, ông rất ngăn nắp vị trí nào ra vị trí nấy. Cái bình trà cũng ngộ lắm, nhỏ chút xíu màu gan gà nghe ông nói đó là ấm thời nhà Minh bên Tàu. Đặc biệt bên dưới in chữ Tàu trong ô vuông, chữ sắc sảo lắm và lại nữa khi ông úp xuống nó cùng nằm trên mặt phẳng thẳng tắp ba tiếp điểm vòi bình, miệng bình và quai bình.
Bộ bình của ông chẳng hiểu sao có ba chén nhỏ và một chén tống,(có lẽ bể một chén chăng?) nước đầu tiên ông rót cả vào chén tống, rồi ông tiếp tục đỗ nước sôi vào bình lần hai, đợi ra trà lần nầy ông rót cả vào chén nhỏ, ông rót tuần tự hết vòng tới vòng, trước khi uống ông đặt vào thành mắt mình cho hơi trà xông vào mắt ông, ông nói rằng như vậy sẽ làm mắt sáng hơn, chẳng biết điều nầy đúng hay sai thế nào nhưng sau nầy thỉnh thoảng khi uống trà buổi sáng tôi cũng thường làm như vậy, tôi cũng thấy mắt mình dễ chịu.Chuyện uống trà buổi sáng của ông có khi đến 7, 8 giờ sáng mới xong.
Khi đâu đấy xong xuôi ông thận trọng lau chùi bình tách và đặt lại đúng vị trí cũ, và không quên phủ lên nó miếng nỉ màu cổ trầu.
Mùa xuân năm ấy, sau khi bàn thờ, nhà cửa được trang trí mới để đón xuân, dù đời sống của cha mẹ tôi là công chức chính phủ tương đối nhưng cái tết cũng bình thường thôi, ba tôi có thói quen là chơi nhành mai, lỡ năm nào mai đắt đỏ quá ba tôi sai anh tôi về quê chặt mai ở vườn nhà ra chơi, năm nào nhành mai ra nhiều cánh mai sáu cánh là ông và ba tôi vui lắm vì ông quan niệm rằng mai sáu cánh là hên lắm. trên nhành mai bao giờ cũng có nhiều thiệp chúc xuân và vài chữ phúc, lộc, thọ vàng mua ở phố về gắn lên.
Giao thừa năm ấy, tôi cũng đã lớn. Sau thời khắc giao thừa thiêng liêng, khi cái radio nhà tôi bắt đầu lời vang vang chúc tết của Tổng Thống, ba tôi chăm chú nghe, chỗ nào đắc ý thì gục đầu trông có vẻ nghiêm nghị lắm, mẹ tôi thì cứ bảo: ‘mình° lúc nào cũng thời sự’còn ông tôi thì thỉnh thoảng vuốt chòm râu ‘mỹ nhiệm công’°° của ông rồi từ tốn:
- Đàn ông, ngoài công việc của chính phủ cũng phải hiểu thời sự,con à,
mẹ tôi chỉ nghe chứ không trả lời.
Lúc bấy giờ chiến tranh đã ác liệt, thường đêm đêm những tiếng pháo cứ ầm ì vào khu vực ngoại thành, thỉnh thoảng cũng vào trong thành mỗi lần như thế là xôn xao cả phố. Thị xã Quảng Ngãi là thị xã nhỏ nên mỗi lần như vậy tôi cũng biết được, chẳng những biết mà thậm chí tôi hiếu kỳ rủ bạn bè trương lứa cùng xem.
Nhang đèn nghi ngút trên bàn thờ, ông tôi pha ấm trà, tết mà, ấm trà Đài Loan chính hiệu, sau khi rót vào ba chén nhỏ xong ông mời ba mẹ tôi uống trà giao thừa, còn chúng tôi thì náo nức các dĩa bánh trên bàn thờ, khi nào hạ là sẽ được ăn thỏa thích. Lúc làm bánh thuẩn tôi chỉ được hưởng những cái bánh thầy tu (không nở) mà đã thấy ngon lành.
- Trà ngon lắm con à, ông tôi nói vậy, ba mẹ tôi cùng ông ngồi uống.
- Năm nay đình chiến từ giao thừa đến hết ngày mùng một, nên quân đội có ít người về ăn tết, ba tôi nói với ông tôi như vậy, hình như còn muốn nói thêm điều gì ….trầm ngâm một lúc lâu ông lại tiếp:
- Ngày Tết là ngày thiêng liêng đó là truyền thống ngàn đời của dân ta, thế mà chiến tranh, chiến tranh khốc liệt quá các con à, không biết năm nay sẽ ra sao? Ông tôi nói rất ôn tồn, rồi ông phe phẩy cái quạt lông ông tự kết bằng lông chim cán gỗ khéo lắm, ông tiếp:
- Người dân bao giờ cũng muốn thanh bình, an cư lạc nghiệp đó là nguyện vọng ngàn đời duy nhất của dân, chiến tranh chỉ làm khổ nhân dân, nhân dân bao giờ cũng vậy thích thanh bình làm ăn tự do không biết những người cầm quyền có hiểu điều đó hay không, hay là họ cố tình không hiểu? và rồi ba tôi và ông tôi mãi miết chuyện trò còn bọn tôi khi hạ đèn là chén sạch các dĩa bánh, trước khi đi ngủ lại ba tôi còn căn dặn:
- Ngày mai là Tết các con không được dậy trễ, không được khóc, phải cẩn thận không cho đổ vỡ đồ đạc, mặc quần áo mới để mừng tuổi ông bà tổ tiên, ông nội, ba mẹ và được… lì xì.
Chúng tôi dạ rân và đi ngủ lại, trong đầu tôi còn nghe văng vẳng ông tôi nói với ba tôi:
- ‘Trà tam, tửu tứ, chu du nhị’, có lẽ bấy giờ mẹ tôi cùng chúng tôi đi ngủ lại chăng không còn đủ ba người nên ông nói vậy?
Tết nào cũng vậy đó là truyền thống của gia đình cha mẹ tôi, Sau nầy tôi có gia đình tôi cũng sẽ giữ thói quen đẹp và đáng trân trọng như vậy với các con tôi.
Sau lần chứng kiến uống trà đêm giao thừa của ông và ba tôi, tôi không có dịp nào nữa nên lần ấy cứ len lén vào tôi mỗi khi tết đến xuân về, nhất là những khi có ai đó nhắc đến việc uống trà
Chiến tranh kết thúc, thời thế khó chúng tôi vào Nam lập ngiệp, thời gian trôi đi lạnh lùng như thác đổ, mới đó đã mấy mươi năm, ông tôi thì mất ở những năm bảy ba của thế kỷ trước, mỗi lần giỗ ông bao giờ mẹ tôi cũng pha ấm trà đắt tiền, mẹ tôi bảo:
- ‘Lúc sinh tiền ông nội thích uống trà ngon, ông cẩn thận trong cách pha chế và uống trà’ tri ân cha như thế cũng quí lắm rồi.
Còn riêng tôi thì cứ băn khoăn hồi ấy tại sao không hỏi ông hoặc ba tôi ‘trà tam, tửu tứ, chu du nhị là gì? mặc dù tôi vẫn tiếp tục sống với cha mẹ tôi và đã có quá nhiều kỷ niệm vui buồn trong đời với ba tôi nhưng có lẽ tôi không đặt vấn đề đó nữa, có lẽ vì cơm áo, mà thú thật với các bạn đọc ngày ấy khó lắm, tưởng rằng chữ nghĩa không còn nghĩa lý gì khi mọi chuyện bị chi phối bởi cái bao tử, đời sống duy nhất lúc bấy giờ chỉ là lao động, sản xuất. Tủ sách đồ sộ của ba tôi tích cóp từ thời ông còn rất trẻ, tháng lương nào ông cũng sắm năm bảy đầu sách, khi giải phóng Quảng Ngãi ông ‘được’ chính quyền quân quản cho hồi hương, ông cẩn thận bỏ từng cuốn sách vào những vỏ bao phân hóa học cột kỹ lưỡng cái gia tài chữ nghĩa ấy, riêng chuyện chuyên chở gia tài sách ấy về quê cũng mất cả ngày vì lúc đó vận tải bằng… xe cộ, ông thì quý sách như thế nhưng lệnh của chính quyền thì tất cả các sách là tàn dư đồi trụy của thực dân, đế quốc phải bị tịch thu, cha tôi sợ quá nên làm củi nấu bếp, trong ánh lửa bập bùng của những trang sách, con chữ tôi thấy cha tôi mắt nhòa lệ, ông nói chỉ chính ông nghe rất khẽ khàng: ‘chữ nghĩa là tài sản quí của đời tôi, nhưng thời thế đành phải đốt, chẳng biết sau nầy thế hệ con tôi có còn...’ hình như ông nghẹn ngào không nói hết câu.
Và như ông còn tiếc rẻ nên lựa một số sách thuần túy văn học cẩn thận bỏ vào những vỏ bao phân hóa học nhiều lớp và cùng chúng tôi chôn chặt dưới lớp đất trong vườn, mấy năm sau khi tình hình tương đối lắng dịu chúng tôi lại đào lên, than ôi, mối mọt đã tàn phá hơn 3/4.
Thời gian lại trôi qua, ba tôi sau khi học tập về quê cha đất tổ, ba tôi bịnh bọn chúng tôi thì thất thời, thuốc thang lúc nầy quá đắt đỏ, mua từng bửa, từng ngày, ông cũng mất cuối thập niên tám mươi của thế kỷ trước, lòng tôi cứ ân hận hoài chuyện cha tôi mất vì lúc ấy quá nghèo, không đủ tiền chạy chữa. Mỗi lần nghĩ đến chuyện nầy lòng tôi lại nhỏ lệ rưng rưng.
Rồi sau nầy tôi cũng tìm hiểu thế nào về chuyện: - trà tam tửu tứ chu du nhị, khốn thay những lời giải thích của nhiều người tôi chưa thấy thuyết phục nên nửa tin nửa ngờ.
Mãi khi tôi gặp thầy Thiện Nhơn, người mà tôi rất kính phục về sự uyên bác kiến thức, đặc biệt là thầy kể các chuyện Tàu như Tam quốc, Thủy hử, Đông Châu liệt quốc…những nhân vật thầy nhớ rõ lắm, khi tôi hỏi thầy về vấn đề nầy:- “tại sao người xưa lại bảo: trà tam, tửu tứ, chu du nhị” thầy suy nghĩ lục lạo lại trí nhớ của mình, rồi ôn tồn trả lời:
- Thầy có đọc vấn đề nầy ở đâu đó nhưng bây giờ thì không nhớ chính xác tài liệu nào, đại loại như thế nầy: người xưa cẩn thận lắm, nên thường bàn những việc đại sự của đất nước, dân tộc, chuyện còn mất…phải kín kẻ, ba người tâm phúc nhau thôi bởi vì ba ít lộ ra ngoài, uống trà ba người để đàm đạo việc đời phải trái, thắng thua, đạo đức, luân lý, chính trị, xã hội, đời sống…nên phải tỉnh táo để thấy được cái thâm sâu của người xưa vì trà là chất làm sảng khoái thần kinh, và ba cũng là cụm đoàn kết ước lệ tối thiểu, tức yếu tố cần và đủ của cổ nhân, nên ca dao có câu ‘ một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao’, khác với rượu, rượu là uống để vui vầy cùng bạn bè, người thân nên không khí ồn ào đông vui là chính nên tửu tứ là vậy chắc các con trong đời cũng từng thấy được điều nầy, có ai bàn việc tối quan trọng bằng rượu đâu nào. Còn chu du nhị ư? Ngày xưa, đâu có phải ai cũng du lịch được, người đi chơi là giới trung thượng lưu nên đi chơi tức là đi thưởng lãm những danh lam thắng cảnh non nước hữu tình rồi cảm tác, rồi chuyện trò nên nếu một thì có cảnh buồn vui thì ai chia xẻ, tâm tình lúc thưởng ngoạn, cảm tác…vì vậy đi chơi với hai là thú vị nhất, nên ‘ chu du nhị là như vậy’
Nghe thầy giải thích như vậy tôi lấy làm vui vì có tính lý luận thuyết phục nên tôi tin là như vậy, nhưng trong tài liệu nào thì đến nay tôi vẫn chưa có duyên để đọc được, dù sao cũng nói lên điều nầy để những ai đọc rồi giới thiệu cho nhau cùng hiểu thêm.
Sau nầy các anh chị em tôi ai cũng có gia đình riêng lẽ nên chẳng thể có được cái hương vị quá khứ ấy.Từ mấy chục năm nay, sống ở đất Sài Gòn hoa lệ nầy nhưng tôi chưa bao giờ tận hưởng cái không khí ấm áp đó, có lẽ phong tục mỗi vùng miền khác nhau hay là lý do gì nữa hoặc vì không ai đàm đạo.
Những năm gần đây, cứ mỗi lần tết đến xuân về tôi lại nhớ ấm trà đêm giao thừa xa lắc năm xưa, khi còn ông nội tôi vui vầy với cha mẹ và anh chị em tôi, sao mà nghe ấm áp lạ thường.
Cuộc đời nầy làm gì có được những chuyện đã mất đi, nếu còn chăng là kỷ niệm của đời người, mà kỷ niệm đẹp thì giữ vào góc riêng hồn mình để tận hưởng ký ức ngọt ngào, việc ấy tự do chẳng ai cấm cản, may thay.
Chú thích:
° Mình: tiếng gọi thân mật của vợ chồng với nhau
°° mỹ nhiệm công: người có bộ râu đẹp.
Ngã Du Tử
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Cuộc di tản vô tiền khoáng hậu
Cuộc di tản vô tiền khoáng hậu
Họ đã gồng mình lên chống chọi với những thiếu thốn, đói khổ trong mùa đại dịch Covid của lịch sử nhân loại đang làm cho Sài Gòn đảo điên liên tiếp rất cao độ trong vài tháng qua.
Tiền đã hết trong ví, những đồng tiền còm cõi trong tài khoản đủ làm lộ phí đường xa, giá như thiếu thốn có thể xin dọc đường, họ tin một điều người lương dân còn có trái tim cùng nhịp đập với kẻ khốn khổ. Cuối cùng họ quyết định trở về, dù sao về quê vẫn có thể tồn tại dễ hơn ở Sài Gòn. Họ quyết định.
Rất nhiều người đã nghĩ như thế trong giai đoạn cùng cực này, họ ra đi như sự trốn chạy vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Sài Gòn. Từ bao đời này chỉ có chạy vào là an, chưa bao giờ chạy ra, bây giờ điều ấy thực sự xảy ra
Thì ra, từng đoàn, từng đoàn người lũ lượt như hoàn cảnh họ đã nghĩ và cuối cùng làm như thế.
Trước đây mấy ngày, các trang viết xôn xao hàng trăm người đi làm thuê trên các địa phương khác như Ban Mê, Bình Định để kiếm sống không còn đủ sức chống chọi được sự sống nơi ấy đã cùng nhau hò hẹn lội bộ về quê nhà vượt hàng trăm cây số vật vã trong nắng gió, khát đói, ai nghe thấy cũng nghẹn ngào, không cầm được nước mắt, vì sao nên nổi vậy?
Dấu hỏi lớn này chỉ có những người đại diện chính phủ trả lời nổi, chứ người lương thiện chỉ biết chíp miệng yêu thương và sẻ chia nỗi buồn thân phận nghèo khó trên từng phận người.
Đứa bé chín ngày tuổi nằm yên trong khăn quấn trên tay mẹ như thiên thần hộ mệnh đã làm tăng thêm sức mạnh và tình yêu cho cha mẹ nó trên đoạn đường hơn nghìn cây số. ôi chao!, thấy mà thắt lòng.
Nắng gió và cực nhọc không làm cha mẹ nó nản lòng. Chiếc xe bon bon trên đường như hối hả, như nhắc nhở phải về trước quê khi người thân đang chờ đón trong vòng tay ấm yêu thương, nâng đỡ trong cơn khủng hoảng của dịch Covid còn tiếp diễn chưa thấy điểm dừng.
Dòng người tháo chạy ngược đường về quê đỗ ra khắp các nhánh, nhất là từ Sài Gòn ra trung nối dài không thể tưởng tượng.
Lần đầu trên trần gian có cuộc tháo chạy khỏi Sài Gòn trong lịch sử suốt hơn 300 năm qua.
Người lương tri nghe tin nầy ai cũng nhói lòng, thương cảm. Cầu mong cho họ trở về bình an.
Em bé ơi, rồi mai này em lớn, rồi dịch giã sẽ qua. Mẹ cha sẽ kể cho em nghe có một mùa dịch Covid dữ dội mà người từ Sài Gòn đỗ xô về lại quê nhà trên mọi nẻo đường mưu sinh kiếm cái ăn trong thành phố bao dung, độ lượng luôn chở che cho bất cứ mảnh đời nghèo khó nào từ các tỉnh thành của đất nước quyết đến Sài Gòn để mưu cầu cuộc sống no đủ hơn của Quê hương Việt Nam.
Trận đại dịch Covid đã làm thay đổi những trật tự cũ cả ý thức nữa, không ai có thể lường trước điều gì sắp xảy ra với con virus nhỏ hơn sáu bảy trăm lần sợi tóc con người ngay cả việc tử sinh.
Mọi người trên đất nước này chỉ mong cơn đại dịch mau qua, trả lại sự bình yên cho loài người trên hành tinh thân yêu này, nhất là mảnh đất hình chữ S nhiều khổ đau trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Người Sài Gòn bây giờ chỉ mong con số dịch cũng vô tiền khoáng hậu dừng lại và đi đến triệt tiêu để trả về sự yên bình cho Sài Gòn náo nhiệt, hào phóng và độ lượng như trước đây.
1/8/2021
Ngã Du Tử
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Hoa mua trắng
Hoa mua trắng
Mỗi lần trở gió, cơn váng đầu lại dày vò tôi... trong miên man tôi như là người mộng du lang thang vào một cõi chật chội những kỷ niệm. Quá khứ mỏi mệt và giãy giụa ấy cứ vò xé tôi ra rồi lại đẩy tôi về xa lắc...
Ký ức lao xao tiếng gọi, tiếng cười, tiếng ríu ran của loại chim ri ri vang lên xao xác. Muôn cặp mắt lá hé mở. Thoảng mơ hồ tiếng thì thầm truyền nhau tan ra "Thùy... ơi!...". Tôi bật dậy. Mồ hôi nhồn nhột dọc sống lưng. "Chú Kha đâu rồi?". Tôi ngơ ngác. Chợt có tiếng sột soạt ngoài cửa. Rồi tiếng quát nhẹ: "Các cậu có để cho người ta nghỉ ngơi một tí". Một người đàn ông đậm chắc đi qua, gương mặt trông dữ tợn và quắc thước. Ông Đảo trưởng.
Biển chói chang. Gió chao chác thổi hắt vị muối biển đầy lồng ngực. Lưỡi tôi mặn khát cố ngoi ngóp đơm đớp chút không khí khô khan nóng hực song hơi thở cứ chợt bật ra. Tôi ngao ngán: "Chắc đảo này hiếm cây xanh rồi". Lại có tiếng rậm rịch chen nhau ở ngoài cửa. Tiếng thì thào, tiếng cười lích rích. Tiếng hối thúc đùn đẩy nhau. Một vài gương mặt thập thò. Lính đảo. Tiếng gõ rụt rè vào cánh cửa đã mở toang, một giọng lí nhí: "Có ai ở nhà không?". Tiếng thập thình rộ lên: "Hỏi gì mà ngốc, để tao". Cái đầu trọc thò vào thản nhiên: "Anh Hùng có nhà không đấy?". Tôi choàng dậy. Gương mặt ngẩn ra bối rối: "Xin lỗi" rồi biến mất. Lại rúc rích thì thào: "Mày vào đi... cứ vào... nhìn thật kỹ nhé...". Một gương mặt bầm bậm thò vào cất giọng hồn nhiên: "Thủ trưởng ơi, em xin tí lửa". Tiếng xô đẩy phía sau: "Gan cóc tía đâu, ngồi chơi đại một lúc... sợ cóc gì...". Tôi lắc đầu cười. Anh chàng hé mắt nhìn tôi, bần thần mất một lúc lâu rồi nhoẻn miệng cười: "Cô là phóng viên ạ?". "Vâng".
"Mời ngồi". "Sợ Đảo trưởng lắm". Hắn nhún vai chun mũi phô hàm răng trắng toát rồi vội vã chui ra khỏi nhà mất tăm dạng sau cánh cửa. Tiếng cười rộ lên ở phía những mỏm đá lô nhô. Tiếng hỏi nhau líu ríu "Thế nào nhìn kỹ chưa?". "Chuyện" - "Đẹp không?". "Hừm". "Thế nào?" "Trẻ". "Tao hỏi có đẹp không?". "Bí mật". "Mày ích kỷ thế?". "Ai bảo mày nhát như cáy". Đột nhiên tiếng thì thào im bặt. Những bước chân chạy rộn... xa dần... chú Kha hiện ra ở cửa nháy mắt thật vui...
Hầu như chúng tôi chỉ gặp nhau vào cuối ngày. Phút đoàn tụ hiếm hoi ấy anh dành cho tôi nhiều thứ lắm. Bao giờ cũng vậy, anh hôn lên trán lên mắt tôi và bắt đầu những câu chuyện công sở. Đại loại: "Chiều nay anh nhận mười lăm đơn thư khiếu nại đòi chế độ thương binh trợ cấp. Hết khổ. Sao mà chết lắm, tàn phế lắm thế? Đã đành là chiến tranh nhưng cũng lắm kẻ cơ hội. Cứ như cuộc chiến tranh đã đi qua phàm là người lính ai cũng có quyền đòi hỏi...".
Tôi lặng yên... mà biết nói gì. Dĩ vãng ào ạt chảy trong trái tim nhạy cảm. Tôi chẳng thể, về cậu lính trẻ của tôi ư? Không bao giờ, bởi thế chắc chắn anh sẽ chồm lên: "Em làm sao thế?". Tôi chẳng làm sao cả. Tôi thành đàn bà rồi, trao cho anh một thời thiếu nữ trắng trong. Với anh, thế là đủ.
... Không lời đề tặng, trên bậu cửa phòng tôi đã để sẵn một bó mua dại trắng và chuỗi vòng ốc biển. Tôi hào hứng. Những con ốc trắng tinh, bé xíu kêu lách tách trên cổ tôi rộn ràng. Nắng dịu, gió biển bắt đầu chở vị mát tê vào đảo, những cánh mua trong ánh chiều chợt sáng long lanh. "Thùy ơi... anh không xứng đáng là biển xanh...". Tôi chững lại. Có gì đó rất đáng ngờ ở phía sau những tảng đá. Nhìn kỹ, thấy lấp lánh giữa kẽ đá là những đôi mắt non. Xấu hổ, tôi chạy biến... "Thùy đừng đi xa nghe con. Đảo này hoang vu lắm". Chú Kha dặn dò. Tôi nhướng cổ: "Không ạ! Con đi làm thơ, con muốn tối nay gặp gỡ những người lính. Con đọc thật nhiều thơ tặng họ". "ừ, đi nhanh rồi còn về..." ... Anh hỏi "Tại sao em ít viết về người lính thế?". Tôi nói "Ngại quá chẳng biết viết như thế nào cả". Anh vuốt ve tay tôi: "Đừng em. Viết đi, quá khứ hào hùng như vậy sao lại không cảm xúc. Đừng nghĩ đâu đâu, nếu em viết về chiến tranh, về những người lính em sẽ nổi tiếng đấy". Tôi cười: "Sao anh không đi bộ đội?" Anh bảo: "Bận học". "Thế à?". "Họ cử đi". "Sao họ thiên vị anh thế?". Anh cười "Thuộc diện chính sách mà lỵ". Có lẽ giữa tôi và anh khoảng cách cứ đầy lên mãi là vì thế. Nhiều lúc tôi tự hỏi có phải là tôi và anh đang hạnh phúc? Hay chuyện đó chưa từng xảy ra? Hay bây giờ lắm tuổi rồi tôi đâm ra lẩn thẩn! Chỉ biết, tôi đến với anh bình yên như con thuyền cần một bến trú. Ngày ấy, tôi thấy mình thanh thản.
... Lối đi ấy nhỏ và ngoằn ngoèo vắt cheo leo qua những tảng đá. Chiều buông thứ ánh sáng óng ả. Đảo Cồn đỡ nóng. Lác đác một vài bông mua nở chen nhau trên đá. Tôi quỳ xuống, khỏa vào lòng những bông mua dại. Biển yên ả hơn. Ngoài xa kia chắc là những con sóng đang bò cồn cào bên những vách đá. Tôi mỉm cười... lối đi nhỏ dần... tôi hì hụi bò, bỏ lại sau lưng đại dương mênh mông, trại lính và những căn nhà khô cong với một hòn đảo nóng rẫy những đá. Một vài bụi cây loằng ngoằng lúp xúp hiện ra, loại cây gì thân không thấy, lá không thấy chỉ thấy những bộ rễ đâm xòe, đan vào nhau rồi tõe như một lũ rắn. Phía sâu dưới những rễ cây kỳ lạ ấy có một hồ nước trong vắt.
... Để nguyên quần áo lót, tôi nhảy ùm xuống nước. Nhắm nghiền mắt lại rồi lẩn thẩn: "Biết đâu mình sẽ hóa thành cô tiên và bay thẳng lên trời? Chú Kha và hết thảy những người lính đảo sẽ tha hồ tìm kiếm nuối tiếc và truyền tụng nhau về câu chuyện cô gái mười tám tuổi hóa tiên ở hồ này". Tôi lắc đầu cười vang và tò mò ngắm bầu vú trinh nữ của mình.
Có tiếng sột soạt, cái gì loay hoay phía sau tảng đá. Thôi chết rồi. Tai họa? Có thể là hổ. Hay một con trăn? Đúng rồi. "Ma", tôi lập cập nhảy lên bờ, lập bập tìm quần áo. Không kịp nữa rồi. Tôi hét. Một gương mặt đàn ông non choẹt hiện ra. Một cậu lính. Hắn trạc tuổi hoặc hơn tôi một chút. Thoạt đầu cả tôi và hắn không ai định thần nổi tại sao lại có sự gặp gỡ lạ lùng này. Hắn giương mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Hai tay ôm lấy ngực, tôi hốt hoảng la lên: "Anh đi đi! Tôi đang tắm mà. Anh đi đi! Không biết tôi là phụ nữ hả? Tôi đang tắm, anh hiểu không?". Hắn cứ thế, đứng như trời trồng, mặt mũi ngây ra kinh hoàng, trong tay cầm bó mua rừng. Trán lấm tấm mồ hôi, vành tai đỏ ửng lên, đỏ lan cả má, cổ. Tôi bắt đầu khóc, cái lưỡi cứng lại vì sợ. Vớ lấy quần áo ôm khư khư trước ngực, miệng la hét kinh hoảng: "Anh điên hả! Tránh ra cho tôi đi! Đồ không biết xấu hổ". Hắn lùi lại một chút, trên tay hắn những bông mua rừng lả đi lác đác rơi xuống đá. Tôi thấy hắn lẩm bẩm, hắn tiến về phía tôi, bước chân cuống quýt vướng víu. Một khuôn mặt sạm đen hai má hắn ửng đỏ bởi vô số những mụn cá. Duy chỉ có đôi mắt thán phục đến đờ đẫn. Không kịp mặc quần áo, tôi lao chạy thục mạng: "Cứu tôi, cứu tôi với". Hắn ngã chững xuống mép đá, mặt ngây nhìn. Rồi đột nhiên, hắn lồm cồm bò dậy lao chạy đuổi theo.
Chỉ có một lối đi nhỏ cheo leo. Tôi bò trước, hắn bò sau. Mồ hôi hai đứa rỏ tong tong trên đá. Tôi nhảy chồm chồm miệng la hét. Tiếng gọi run rẩy méo mó của tôi rơi tõm vào không gian mênh mông và tiếng vọng của những con sóng. Vừa trườn, vừa quay đầu lại, thấy hắn mỗi lúc một gần hơn. Tôi càng khóc to, khóc ầm nhằm át đi nỗi sợ, hy vọng hắn sẽ mủi lòng. Sẽ tỉnh ngộ. Ai đó sẽ nghe và đến cứu. Nhưng không. Hắn vẫn lầm lũi đuổi. Hắn gọi tôi ríu rít, hốt hoảng. Cả hai đều mệt nhoài... loáng thoáng tiếng kêu: "Đừng sợ, đừng chạy, ngã... ngã... nguy hiểm". Tôi không nhớ, không biết, không nghe. Lúc ấy không hiểu sao chúng tôi không ngã đầu đập vào đá hay lăn xuống vực thẳm biển mà chết. Trong mơ hồ thẳm sâu ký ức. Gương mặt chú Kha hiện ra lo lắng xót thương. Gương mặt người Đảo trưởng quằn lại, hung dữ, u uất. Tôi chỉ tay về phía hắn. Anh lính trẻ vẫn còn đứng đó với gương mặt ngây dại. Tôi thều thào: "Hắn... hắn... hắn!". Rồi lả đi...
Hôm nọ anh về và khoe. "Hai năm nay bọn anh xây được sáu mươi lăm ngôi nhà tình nghĩa, chi phí 870 triệu đồng". Tôi hỏi anh "Sao xây nhiều thế?". Anh mắng tôi: "Phải làm nhanh làm nhiều để kịp đền bù cho họ những mất mát thiệt thòi. Chiến tranh qua lâu rồi, nỗi đau thì vẫn dai dẳng. Anh đang định trong năm tới sẽ xây hết để tất cả các mẹ liệt sĩ đều có nhà tình nghĩa". Rồi anh cật vấn: "Mà em làm sao nhỉ?" Ba mươi lăm tuổi rồi chưa kết nạp Đảng nghĩa là sao. Không ổn đâu, em phải phấn đấu đi chứ". Tôi kêu đau đầu. Anh hốt hoảng: "Em nghỉ đi, khổ, lại đau đầu, em làm sao mà lại cứ xanh xao lên thế. Thôi, em nằm đi, anh còn phải rà soát lại danh sách những bà mẹ anh hùng để còn kịp phong danh hiệu đợt này nữa. Suốt ngày công việc muốn đứt hơi". Tôi rã rời...
Đêm thơ ấy chú Kha dỗ dành mãi tôi mới tham gia. Cả hai ngày liền khóc hết nước mắt. Môi tôi mọng tròn và gương mặt ắp ứ những nước. Trăng đầu tháng nhợt nhạt. Những người lính ngồi quây quần bên tôi. Đầu họ gục xuống, mỗi người một cái bóng âm thầm. Họ không dám ngước nhìn tôi. Họ sợ bắt gặp ở mắt tôi những điều gì đó, với họ thật khủng khiếp. Không khí bao quanh u uất và lặng lẽ. Thi thoảng lén những tiếng thở dài. Ngoài kia, sóng đập ầm ầm vào đá. Sóng trào bọt. Biển thẫm đen, không gian chung quanh một màu đặc quánh. Tất cả bỗng dưng ngột ngạt nặng nề. Một mình chú Kha hát, đọc thơ, pha trò, nói tếu táo vui nhộn mà rồi chẳng ai để ý, chẳng ai hưởng ứng. Không khí căng thẳng. Thời gian nhích dần từng tí một. Tôi - những người lính không ai nói với ai một lời. Thế rồi, dường như không chịu nổi, ông Đảo trưởng đứng dậy, ông hùng hồn tuyên bố, hùng hồn trình bày một vấn đề gì đó rồi ông thay mặt đồng đội những người lính đảo xin lỗi tôi. Tôi không muốn nhớ... Không muốn nghe. Tôi ngồi lặng phắc với trái tim bầm dập tổn thương, lòng đớn đau tê dại. Không một lời nói, không một giải thích, tôi co mình lại rúm ró như một con ốc sắp bị vỡ nát. Đêm ấy, lẽ ra tôi phải đọc thơ cho những người lính nghe, nói chuyện với họ, an ủi họ để vơi bớt nỗi nhớ xa quê thì tôi lại không thể nhắc nổi mình thoát khỏi vực thẳm đen ngòm đầy mặc cảm và tủi hổ. Tôi mệt lả, khô khốc. Không còn khóc được nữa. Những người lính ngồi đấy, bóng họ đổ dài trên những tảng đá. Còn tôi ngồi đây khổ đau bẽ bàng. Cái con bé Thùy lúc ấy không đủ lớn đủ sức để hiểu để phán xét hay cắt nghĩa rành mạch điều gì. Chuyện xảy ra với nó hôm nay nằm ngoài sức tưởng tượng. Nó không đủ từng trải, đủ bình tĩnh để hiểu thực ra đã xảy ra điều gì? Lâu lâu sau... có một ai đó cất tiếng hát. Tiếng hát nhỏ, run run như tiếng nấc. Rồi tiếng hát im bặt, tiếng khóc vỡ oà. Lúc này tất cả những người lính quàng vai nhau hát. Họ vừa hát vừa khóc. Tiếng nức nở cứ thế đầy lên. Tôi thì không. Tôi ngồi đó, hồn tràn ngập cảm giác mất mát trống rỗng đến tận cùng. Thế mà hôm nọ tôi cứ nói mãi với chú Kha: "Chú ơi, cháu sợ ra với lính đảo cháu khóc mất, làm sao để đọc được thơ, hát tặng họ mà không khóc hả chú? Cháu thương quá, những người lính xa nhà dễ chừng từ hai đến tám năm rồi không thấy mặt người thân". Thế mà...
... Tối hôm ấy anh về nhà mặt khó đăm đăm. Tôi gạn hỏi, anh trả lời: "Khó nghĩ quá! ở xã X có một trường hợp bà mẹ không chồng có một con trai độc nhất đi lính những năm bảy mươi đến nay không thấy trở về. Bà mẹ hỏi mãi nhưng đơn vị cũ đã lưu lạc đâu không rõ. Chỉ thấy trên Bộ người ta báo về cái tin: "Mất tích không rõ lý do". Bà mẹ ấy bây giờ không nơi nương tựa. Xã ta đề nghị xây cho bà ngôi nhà tình nghĩa nhưng anh xét thấy không được". Tôi chồm lên: "Sao thế?". Anh trầm ngâm: "ở cương vị anh không thể quyết định hồ đồ được. Biết anh chàng kia hy sinh hay đào ngũ không chừng lại vượt biên rồi. Vả lại, thành phần không rõ lý lịch. Mình làm không đúng ai người ta nghe, rồi xã hội có mà loạn". Tôi hét: "Anh tàn nhẫn quá". Rồi ôm mặt chạy ra cửa. Tại sao anh khắt khe chính xác và lạnh lùng đến vậy. Trong chiến tranh có phải mất mát nào cũng rõ ràng? Mà sự mất mát này có thể đền bù được gì và có dễ gì sẻ chia bù đắp nổi.
Tôi nằng nặc đòi về đất liền sớm hơn dự định. Tất cả lính đảo đến đưa tiễn, họ không dám nắm lấy tay tôi. Họ sợ nếu đụng vào tôi thêm chút nữa họ sẽ làm vụn vỡ đi chút còn lại của họ trong đôi mắt lạnh lùng vô cảm của tôi. Họ không dám tặng tôi hay kỷ niệm tôi chút quà biển. Tôi biết họ sợ tôi không nhận. Sự từ chối này sẽ làm đau thêm những trái tim người lính. Vậy mà khi lên thuyền, vẫn phát hiện ra có ai đó đã bỏ vào ba lô tôi những xâu vòng ốc biển nhánh san hô và bó hoa mua rừng. Lúc đấy, chờ cho tàu đi khuất khỏi tầm tay vẫy tôi giận dỗi ném tất cả chúng xuống biển và vò nát bó hoa rừng. Tôi trả cho đại dương mênh mông chuyến đi không may mắn. Trả cho biển hòn đảo chết tiệt ấy và nhận về tôi giọt nước mắt mặn chát đầu tiên của tuổi đời mười tám trong trẻo. Để rồi, biết bao năm trôi qua tôi dị ứng với một người đàn ông, những người có gương mặt sạm đen và má nổi đầy mụn cá.
... Khi hiểu đời hơn một chút và biết cắt nghĩa mọi chuyện thì quá khứ đã trôi vào xa lẵc. Dĩ vãng của người đàn bà thường nặng nề và nỗi đau này thì không thể tỏ bày sẻ chia. Bao nhiêu năm rồi tôi sống trong ám ảnh khắc khoải, tự hỏi tại sao tôi và người lính trẻ kia lại phải trả giá cho nhau nhiều đến thế. Dằng dặc chuỗi ngày làm đàn bà tôi thường mơ những giấc mơ mộng mị về người lính trẻ.
Chiều muộn. Tôi gặp lại chú Kha trên cái sân rụng đầy lá xà cừ của bệnh viện. Chú Kha đột nhiên hỏi: "Thùy ơi, mười bảy năm qua cháu có ra đảo Cồn lần nào nữa không? Có gặp lại thằng Hòa, cái thằng rình xem con gái tắm ấy?". Thực ra, nó ra nó hái hoa mua trắng để tặng cháu đấy thôi. Tình cờ gặp cháu tắm. Nó hoảng quá. Cháu lại càng hoảng hốt hơn nên mới sinh chuyện... Nước mắt tôi rơi chan hòa trên má. "Tội nghiệp! Thằng bé không bị kỷ luật gì đâu. Cậu Đảo trưởng cũng thật tốt và hiểu rõ mọi chuyện. Nhưng khốn khổ, lúc ấy cả đảo đã ồn ã lên cái tin: "Thằng Hòa cưỡng dâm đứa con gái mười tám tuổi". Nước mắt tôi ràn rụa... "Sau cái tin ồn ã ấy không một ai thèm nói chuyện với nó nữa. Những người lính đồng đội không hề oán thán, trách móc hay xỉ vả nó một lời, thà họ chửi mắng nó còn hơn. Họ lặng im, coi như không có chuyện gì xảy ra, cũng như không hề có nó". Vai tôi run bần bật......
Con đường ấy giờ đây đã được làm lại đỡ cheo leo hơn. Cái lối ra phía bờ hồ hoa mua vẫn nở bạt ngàn chen kín một mầu trắng trong tinh khiết. Nhưng hồ nước thì đã cạn. Tôi nhìn thấy lòng hồ trống hoác rạn nứt từng vệt lớn thăm thẳm. Anh lính trẻ đưa tôi một tập báo cáo thành tích dày cộm rồi líu ríu kể: "Chỉ có ở đây hoa mua nở nhiều nhất. Mỗi lần có ai ra thăm lính đảo, bọn em thường ra đây hái hoa?" Tôi lơ đãng...
Tại sao tôi lại khóc nhiều đến thế? Nước mắt thì có thay đổi được gì! Có còn ai biết và nhớ tới người lính trẻ mà tôi đi tìm. Ông Đảo trưởng cũ đã về đất liền. Người mới đến thì không rõ chuyện. Những người lính cũ đã xuất ngũ. Những người lính mới không một ai biết về Hòa. Hòa ơi! Bây giờ bạn ở đâu?
Tôi ngồi lặng yên. Bóng chiều đổ xuống hai vai khóc muộn màng. Phía sau kia những dãy nhà xây khang trang, các anh lính trẻ đang thi nhau cười đùa và bóc thư từ của bạn tứ phương gửi về. Một nhóm lính đang chơi thể thao. Một vài người hát Karaoke. ở đây có hẳn một giàn nhạc điện tử để người lính sinh hoạt văn nghệ. Một vài người có điện thoại réo nhau cười vang. Những người lính đảo này đang rất trẻ. Nước da mầu đồng hun của họ bóng lên dưới nắng trời.
Họ vẫn hồn nhiên cười đùa. Nhưng có một điều, họ không biết, không một ai biết. Cách đây hai mươi năm tôi đã từng đến đây, một lần, cái thuở tôi mười tám tuổi?.
Như Bình
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Cửa sổ
Cửa sổ
Không có gì khá hơn ở ngoài đó. Khung cửa sổ đã sờn cũ. Bốn thanh gỗ bợt bạt áp vào bốn bức tường đã ruỗng mọt. Trên đó lỗ rỗ những chấm đen. Hằng đêm, thậm chí cả ban trưa, tiếng mọt nghiến gỗ kiên nhẫn. Đương nhiên không thể có gì khác ngoài những thứ đã quá cũ. Cây bàng già chậm chạp nghiêng những cành trần truồng sần sùi như cố thu vén dáng vẻ đồ sộ cũ kỹ của mình qua bao tháng năm phôi pha với sương gió. Em có thể không cần lắng nghe, không cần áp cái nhìn qua ô cửa sổ căn buồng ẩm tối này cũng thấu được tiếng thở dài trầm đục và buồn bã của những chiếc chồi non chưa thức giấc trên thân thể cây bàng già cổ kính ấy. Không có gì mới lạ ở ngoài kia đâu. Mấy con sẻ non chíu chít từ cành nọ sang cành kia cãi vã nhau ỏm tỏi. Những chú sẻ nâu đậu trơ trụi trên xương cành bàng đã hết lá nom mới ngớ ngẩn làm sao. Không cần nhìn thì em cũng đã thấy nó tức cười lạ lùng. Ôi những chú sẻ non tội nghiệp. Chúng có thể bay đi tìm một cái cây nào đấy đầy lá để chọn cho mình một nơi trú ẩn ấm áp hơn, tuyệt hơn chứ. Sao lại cứ rối rít chành choẹ nhau trên đó. Này xem, cây bàng đã già lắm rồi, và khung cửa sổ của em cũng cũ lắm rồi. Ước gì em có đôi cánh như lũ chim ngốc nghếch kia nhỉ.
Em ngồi trong bóng tối, lưng dựa vào bức tường lạnh giá loang lổ những mảng lở lói tróc tráy gục đầu vào giữa hai đầu gối say sưa ngủ. Từ ngày thôi không đến trường, em giam mình trong căn phòng nhờ nhợ tối với giấc ngủ chập chờn miên man nối nhau vô tận. Trong giấc ngủ, em mơ thấy vô vàn điều kỳ thú và những ý nghĩ... Cho đến khi, lũ sẻ non kia cãi nhau, đập cánh bay loạn xạ bên ngoài khung cửa sổ em mới tỉnh giấc. Thật tuyệt vời. Mẹ vẫn chưa về, nếu mẹ về thì vòi nước ở cạnh cửa ra vào sẽ tuôn xối xả. Tiếng xoong chảo sẽ va vào nhau lanh canh, mẹ sẽ nói rất to quát mắng ầm ĩ lũ nhện sao lại chăng tơ ở cửa toa lét, hay lũ gián can cớ gì ngang nhiên mò vào chạn bát. Mẹ sẽ càu nhàu, quát tháo, làm cho căn nhà tĩnh lặng tuyệt đối ấy rung lên bần bật bởi những thanh âm sồn sã của cuộc sống náo động mà mẹ mang từ ngoài phố về. Những thanh âm loảng xoảng ấy sẽ ngưng bặt khi bước chân nặng chịch của bố vang lên ngoài hành lang hẹp. Bố về đấy, mẹ sẽ chuyển tất cả những câu chuyện không có chủ ngữ, không có người đối thoại sang bố. Thôi thì đủ thứ trên trời dưới biển từ lão ăn xin giả vờ què chân đến bà cô lên đồng không chồng mà chửa.... Sau rốt, mẹ cười nịnh bợ đến bên bố thẻ thọt xem hôm nay bố có đắt khách không, cả ngày làm được mấy cuốc xe ôm và số tiền cụ thể bố kiếm được trong ngày có nhỉnh hơn hôm qua chút đỉnh. Em gọi đùa sự im lặng ấy là đồng loã, là thông đồng, là đầu hàng là thoả hiệp. Bố lột hết mấy túi quần sờn cũ đưa kỳ hết những tờ giấy bạc nhàu nhĩ cáu bẩn. Mẹ chộp hộp vồ lấy hoan hỉ, siếc sẩm rồi thở dài tiếc rẻ. Với mẹ, tiền không bao giờ đủ. Tiền lúc nào cũng hiếm hoi, quý báu và ít ỏi, đủ để mẹ háo hức chờ đợi và nuôi cái khát vọng khủng khiếp ăn mòn cuộc đời nghèo túng và đạm bạc của mẹ. Sau đó, cả nhà lặng đi một lúc, một lúc hiếm hoi khi mẹ mãi bận cất những đồng bạc cáu lẻ ấy vào bao giấu tận dưới đáy rương. Lúc ấy, bố thả người xuống một góc nhà kê chiếc bàn gỗ vẹo vọ trong góc dú chiếc điếu cày. Bố lọ mọ tẩy điếu rồi thong thả véo dúm thuốc sợi bùi nhùi ở bao ni lông dém thật chắc thật kỹ vào nỏ điếu. Với cái bật lửa để trên bàn, bố quẹt vào cái đèn dầu vặn bấc cho lửa lên ngọn khi đó mới thong thả nhón một chiếc đóm dui lửa thắp cho cháy lên châm điếu cày rít một hơi sâu lẻm rồi đổ kềnh bên góc nhà nhả khói. Bố hút xong một điếu, lơ mơ say vừa đủ cho mẹ cất xong mớ tiền vụn. Mẹ quay ra, hai tay quạt khói thuốc lào lại tiếp tục câu chuyện dở dang ngoài đường ngoài chợ mà mẹ thấy cả ngày hôm nay cho bố nghe. Bố không khi nào hưởng ứng những câu chuyện của mẹ nhưng bố không nói gì. Điều đó không thể nào ngăn cản sự hưng phấn của mẹ sau một ngày dài tích trữ bao nhiêu chuyện đáng kể chỉ để kể cho bố. Những câu chuyện trên trời dưới bể của mẹ có khi đã đưa bố vào những giấc ngủ ngắn ngay bên chân bàn bên chiếc điếu cày vừa rít khói. Tuyệt đối bố im lặng. Em gọi đùa sự im lặng ấy là đồng loã, là thông đồng, là đầu hàng là thoả hiệp. Cho đến khi thằng Ngọc, đứa em trai duy nhất của em chạy bầm bập từ ngoài cửa vào vứt xoạc cái cặp sách xuống ghế thì mẹ mới ngừng nói. Mẹ chạy lại ôm chặp lấy Ngọc mừng húm lên xoa xoa hết cả người nó nựng rối rít. Thằng Ngọc đã lớn, nó cao hơn mẹ tới nửa cái đầu, năm tới nó thi vào đại học rồi thế mà mẹ coi nó y như đứa trẻ lên ba. Ngọc khó chịu, nó gạt phắt vòng ôm của mẹ đi thùi lũi vào nhà. Nó chui vào buồng của hai chị em và thế là hết những khoảnh khắc triền miên mà vô cùng ngắn ngủi em được một mình chìm đắm trong giấc ngủ ở bờ tường, trong những mộng mị ở phía sau khung cửa sổ cũ kỹ. Thằng Ngọc nằm thở nhè nhẹ, nó sợ làm em thức giấc.
Nhưng bây giờ là miên man yên tĩnh. Mẹ chưa về. Cái cuộc sống bé nhỏ mà sôi động, mà quyết liệt nơi ngôi nhà cũ kỹ của em chưa bừng giấc. Em thở thật sâu, khoan khoái tận hưởng cảm giác tự do và yên tĩnh. Bóng tối của căn buồng nơi em từng ngày đi qua lớp thời gian ngưng trệ ấy thật kỳ lạ. Xuyên qua lớp lớp mờ ảo của không gian là một thế giới im lặng rợn ngợp. Em ngồi tựa lưng vào tường, hơi lạnh ẩm ướt từ ngoài bức tường thấm vào làn áo mỏng làm cho cả người em giá như một thỏi kem. Em thích thú quờ đôi tay vào khoảng không trước mặt để nắm bắt để chộp lấy mơ hồ một cái gì đó có thể. Có lần, mẹ em về nhà giữa buổi bắt gặp cảnh tượng ấy mẹ bước tới giang tay tát bốp vào mặt em. Em sững sờ với một bên má lằn bỏng năm ngón tay thô nhám của mẹ. Mẹ cười óng ánh, đôi mắt đầy nước. Mẹ nói, làm như thế cho em đỡ mê. Cho em tỉnh trí lại để nhận biết mọi sự đang diễn ra bình thường của cuộc sống. Nhất quyết mẹ không thể để cho em bị mê, bằng mọi giá, mẹ không bao giờ chịu để số phận cướp mất nốt đời sống tâm hồn của con gái mẹ. Mẹ đứng dậy ào ạt đi mở cửa sổ, vén màn và bế em lên xe rồi đẩy em đến bên khung cửa sổ. Mẹ nói con có thể quan sát từ cửa sổ này biết bao chuyện của người khác mà không thấy chán khi cả nhà đi vắng. Mẹ chỉ sợ em buồn, em không là em nữa khi sơ sểnh đôi cánh tay của mẹ. Từ đó mẹ kiếm đâu ra sách chuyện nhiều đến thế. Chủ yếu là sách Đôrêmon đã mất đầu mất cuối, chắc mẹ nhặt được từ bãi rác góc đường ai vứt ra, hay mẹ xin của trẻ con hàng xóm. Những cuốn sách không có tên đã giữ em ở mãi tuổi thơ.
Nhưng có gì lạ ở bên ngoài cửa sổ đâu. Mùa đông làm cho cây bàng già trơ trụi lá. Mùa đông phả những cơn gió buốt lạnh qua cửa sổ vào căn buồng của em khiến cho cơ thể bé bỏng bàng hoàng run rẩy. Thỉnh thoảng, gió rứt từ ngoài xa những chiếc lá xà cừ còn biếc xanh thả lên bậu cửa sổ. Những chiếc lá không kịp chết trước khi bị tước đi cuộc sống của chính mình giãy lên dưới nắng trong ngơ ngác. Vòm xà cừ rậm rạp, mất đi chừng ấy chiếc lá cũng chẵng thể nào cây biết. Là em đoán thế vì lũ sẻ nâu chán cãi nhau ở cây bàng già lại về chíu chít trên vòm xà cừ rỉa mỏ cho nhau. Chúng gù gù trong nắng hanh, trong gió lạnh hệt như tiếng thở than của người già trước thời tiết ghê người. Nhưng cũng y như tiếng thút thít của trẻ con xoè tay trước bếp lửa rên lên vì sung sướng.
Thấp thoáng sau vòm xà cừ kia là những ô cửa sổ có rèm che. Mỗi ô cửa sổ giấu sau đó những cuộc đời, những con người và những số phận. Là em đoán thế bởi ít ra, có vô số những gương mặt khác nhau xuất hiện nơi ô cửa sổ với những dáng vẻ không bao giờ giống nhau. Mẹ nói đúng, quan sát cuộc sống của người khác vô cùng thú vị. Nhưng em sẽ làm gì khi sau một ô cửa có một gương mặt đàn bà muộn phiền đang khóc. Hay một gương mặt đàn ông nhàu nhĩ bên chiếc đèn bàn mỏi mệt ngủ vùi. Hay những âm thanh cắn xé chà đạp lẫn nhau của một cặp vợ chồng nào đó không hạnh phúc. Ôi! Nếu phải mở cửa sổ ra để khỏi mê thì em chỉ ước ao không phải nhìn thấy một ai sau khung cửa sổ.
Nhưng, dưới gốc bàng già nua ấy, sau tán lá xà cừ sum suê ấy có một người hay dừng xe đứng đợi. Người ấy như chỉ chờ em mở cửa sổ ra để ngước nhìn lên. Người ấy hay mặc áo trắng bỏ thùng vào quần màu ghi, trước giỏ xe vắt vẻo chiếc cặp lớn đựng đầy sách (là em đoán vậy). Người ấy không đeo kính cận như thằng Ngọc, không đội mủ lưỡi trai như bố. Gương mặt người ấy tràn ngợi dưới vòm trời đầy nắng. Người ấy hay ngước nhìn lên ô cửa sổ nhà em, hay chăm chú nhìn em và đôi lúc như thể là mỉm cười. Thỉnh thoảng vào buổi sáng, có khi là buổi chiều, rồi có cả buổi đêm. Người ấy đến thản nhiên ngồi lên yên xe, một chân gác lên rễ cây xà cừ to xù và ngước nhìn. Từ đó em vụt lớn lên. Những cuốn truyện Đôrêmon không giữ được em, cô bé 19 tuổi ở mãi tuổi thơ...
Vẫn biết không có gì mới ngoài kia, tuyệt đối không kể cả người ấy. Nhưng em thích mở cửa sổ cả ngày lẫn đêm cho dù em không tìm cách đến bên khung cửa, không hề hé mắt nhìn dù một chút chừng ấy thứ đã cũ. Suốt mùa đông giá, em ngồi co ro bên bức tường ẩm ướt và gục ngủ giữa những cơn gió buốt nhói. Cửa sổ mở toang, mùa đông mang mưa về ướt mèm khung cửa sổ, ướt mèm những lỗ rỗ hang của lũ mọt ngủ đông, và em ngây dại bên khung cửa tìm bóng dáng quen thuộc của người ấy. Mẹ em thôi không sợ em mê nữa nhưng người đàn bà tinh khôn là mẹ lại phấp phỏng lo em bị ảo giác. Mẹ nói, có gì ngoài đó đáng để nhìn đêm nhìn ngày đâu con. Mẹ lại đi khép cửa, càu nhàu những hạt mưa, càu nhàu thời tiết, càu nhàu mùa đông năm nay sao dài lê thê, ủ ượi khiến mẹ không thể làm gì cho số tiền dành dụm khá lên một chút để đổi căn nhà mới rộng rãi hơn. Mẹ nói, có nhà mới rồi, em Ngọc ở riêng một buồng, con ở riêng một buồng, sau này thằng Ngọc lấy vợ, mẹ cho nó cái nhà này tìm chỗ khác để bố mẹ có thể ở cùng con suốt đời. Suốt đời nghĩa là mãi mãi, là bất tận là không bao giờ hết cả. Mẹ mỉm cười nói với em như vậy.
Em không biết điều mẹ cháy bỏng ước muốn kia liệu có mang lại cho em chút ý nghĩa gì. Với mẹ, em không được lớn lên, càng không được già đi, không được thay đổi. Em mãi là con bé con trong góc tối ngôi nhà bé nhỏ của mẹ, để mỗi lần trở về, mẹ có thứ để chăm nom, để lo lắng và thương xót. Em ngồi gục đầu vào hai đầu gối, đôi chân không phải của em, nó không phải là đôi chân cho cơ thể em đang cố chống đỡ gương mặt em thầm thì cười. Em cố để không đến gần cửa sổ lấy một lần nào trong ngày hôm nay. Em cố không mở nó ra hai cánh cửa gỗ ẩm mốc ấy. Ngoài kia có gì lạ nào? Có gì lạ không? Hay gió vẫn túm rứt những chiếc lá xà cừ xanh thò vào bậu cửa. Lũ sẻ non lại chíu chít cãi nhau đánh rơi những cọng rơm vàng chúng cất công tìm về từ cánh đồng.
"Thằng Ngọc đỗ đại học rồi Lành ơi". "Em con đỗ một lúc cả ba trường đấy". Đó là những âm thanh náo động của mẹ. Mẹ về. Em lười nhác không buồn ngẩng đầu lên. Gương mặt mãi bận thầm thĩ cười trên đôi chân tàn tật. Mẹ ào vào giật tung cửa sổ. Mẹ đến bên khung cửa gỗ chống hai tay lên thành cửa hệt như một đứa trẻ mỉm cười và hét to lên sung sướng: "Con hiểu không, em con đậu một lúc cả ba trường đại học. Con thử nghĩ xem em con nên chọn trường nào nhỉ. Ôi thôi, phải chờ bố chúng mày về bàn bạc cụ thể. Chỉ có ông ấy mới quyết định được". Nói rồi mẹ lại ào ra. Mẹ đi làm cơm, mẹ tíu tít với niềm hạnh phúc vô bờ bến. Mẹ lấy gạo, tìm xoong, vặn vòi nước ào ào. Rồi như chợt nhớ ra điều gì đó, mẹ lại ào vào phòng em, nâng gương mặt đẫm nước mắt của em lên và rơi lệ: "Con khóc phải không. Ừ, khóc đi cho thoả. Thế là em Ngọc thay con mang lại niềm tự hào cho cả nhà mình đấy". Nước mắt to và nặng của mẹ rớt âm ấm trên tóc em.
Mẹ khóc vội như cười. Bố lệt xệt trở về. Đôi chân đi chừng ấy dặm đường hẳn đã mỏi mệt lắm. Bố tiếp nhận chừng ấy thanh âm vỡ ra của mẹ mà lẳng lặng. Lần đầu tiên mẹ không kể chuyện ngoài phố. Mẹ không hỏi tiền bố kiếm cả ngày được bao nhiêu. Mẹ khóc cười sang sảng, rối rít. Bố ngồi bệt nơi góc nhà mó chiếc điếu cày. Thong thả, bố rứt một dúm sợi thuốc vàng tơ từ đùm ni lông giắt trên túi áo. Cẩn thận, gói ghém như sợ rơi mất dù chỉ một bông thuốc nhỏ lẩy ra từ sợi thuốc. Bố dém sâu vào nỏ điếu, bật lửa rít thuốc. Tiếng rít thuốc lào của bố em nghe mạnh hơn gấp nhiều lần trước, sâu thẳm hơn rất nhiều lần trước. Bố ngã vật ra nền nhà say lơ mơ. Mẹ đỡ bố dựa lưng vào tường cười như sấm. "Ông cứ bắn vài điếu say cho nó đã rồi đợi tôi làm cơm". Mẹ tất bật vào bếp. Bố bước vào căn buồng của em khẽ khàng đến mức làm em giật mình. Đôi mắt của bố nhìn em lạ lắm. Em tưởng như lần đầu tiên bố nhìn em với ánh nhìn lạ lùng như vậy. Ánh mắt của một người đàn ông ít lời bao giờ cũng ẩn chứa quá nhiều điều. Trái tim bé nhỏ của em như vỡ ra trong muôn vàn những cảm nhận ấy. Bố lẳng lặng bước đến bên khung cửa sổ. Nắng vàng ói! Không còn nắng vàng bởi lũ sẻ nâu đã cõng những sợi nắng cuối ngày bay về tổ. Hoàng hôn buông sẫm trên từng tán xà cừ đong đưa. Bố tựa cửa nhìn ra. Bóng bố in lên nền trời xám nhạt mơ hồ và hiu hắt. Lâu lâu, bố quay mặt về phía em, cất tiếng như chỉ để mình bố nghe. "Chỗ này em con sẽ đặt chiếc máy tính để con muốn viết gì tuỳ thích. Bố thấy con thích đọc, hẳn con cũng sẽ thích viết. Đấy là sáng kiến của em Ngọc con nhân ngày sinh nhật con tròn 20 tuổi. Em Ngọc nói, con có thể ôn thi vào đại học với chiếc máy tính này mà không cần ai phải giúp đỡ. Em con muốn con cũng thi đỗ đại học như nó".
Nước mắt em rơi trong veo vào bóng tối.
Cửa buồng đã kẹt mở. Ngọc lễ mễ bưng vào một chiếc máy tính. Nó nhìn em và háo hức: "Nó cũ một tý thôi nhưng chị sẽ thấy thật tuyệt vời khi có nó". Mẹ cũng chun vào buồng há hốc mồm. "Trời i! Tiền đâu ra mà mua thế này?" Không ai trả lời mẹ. Bố và Ngọc lụi hụi tìm chỗ kê máy tính cạnh khung cửa sổ. Bố bảo, ở vị trí này, em sẽ thấy thoải mái và dễ chịu hơn khi ngồi trước máy tính. Mẹ thôi không ồn ĩ lẳng lặng lẩn ra bếp.
Ngọc lầm lỳ như chưa hề xảy ra điều gì đáng kể để có thể làm xáo động được cuộc sống trầm lặng xưa nay của nó. Em nghe Ngọc thở dài khe khẽ. "Em nghĩ là chị sẽ làm được điều gì đấy có ý nghĩa trên chiếc máy tính này. Chị hãy viết đi, viết những gì chị nhìn thấy, tưởng tượng ra. Điều đó, sẽ mang lại cho chị cảm giác vô cùng thích thú". Ôi trời ơi! Thay vì việc mang về cho em những cuốn Đôrêmon cáu bẩn thì bố đã dành lại, chắt chiu những đồng tiền còm cõi bố kiếm được để mua cho em món quà khi em tròn 20 tuổi. Món quà này là do Ngọc nghĩ ra, thằng em trai lầm lỳ ít nói của em nghĩ ra. Ở phía bên kia chiếc ri đô ngăn căn buồng chật hẹp của hai chị em, em biết Ngọc đang khóc. Thôi, cứ để cậu ấy khóc một chút. Em lần đến bên khung cửa sổ. Ôi! Em đã thèm khát biết bao được tự do bay vào trời xanh. Dưới kia, người ấy lại đang ngước mắt nhìn lên. Hình như người ấy đang mỉm cười với em đấy. Người ấy có biết không, ngày hôm nay em tròn 20 tuổi.
Đây là tự truyện đầu tiên chị tôi viết bằng chiếc máy tính cũ kỹ tôi mua bằng số tiền dành dụm được trong suốt cả cuộc đời lam lũ của bố. Khi đọc nó, tôi đã không thể cầm được nước mắt. Tôi mang đến cho một toà soạn báo văn học. Ông nhà văn già giương mục kỉnh nhìn tôi lạ lẫm. "Của cậu à?" "Không". "Thì là của ai, già hay trẻ". "Của một người viết trẻ ạ". Ông nhà văn già cười khằng khặc "Tôi biết ngay mà. Đích thị là một sáng tác đầu tay của người viết trẻ. Thứ văn học này chẳng có một tý tư tưởng nào sất. Hãy về bảo với bạn cậu cố lên, viết thật nhiều vào, phải có vốn sống, phải lăn lộn thực tế thật nhiều hơn nữa để khi cầm bút cho nó chín chắn". "Truyện ngắn là một lát cắt của đời sống hiện thực, một lát cắt của tiểu thuyết, nhớ phải là lát cắt đầy ám ảnh đấy nhé. Truyện thiếu tính tư tưởng, đó là điểm yếu của những người viết trẻ".
Tôi mang nó trở về căn gác xép của mình. Ngoài khung cửa sổ căn buồng của chị tôi, những lộc non đã líu ríu đâm chen trên thân bàng khẳng khiu. Lũ sẻ non rí rích nhảy loi choi giữa những cụm lá vừa kịp mở đôi mắt non ngơ ngác. Nắng ấm nồng rót nhựa lên những tay bàng vươn cao giữa trời xanh. Nhưng ở dưới đó, người đàn ông vẫn hay ngắm nhìn chị tôi không bao giờ còn xuất hiện ở đó nữa. Anh ta đã cưới được người con gái kiêu kỳ thường bắt anh phải đợi ít nhất một tiếng đồng hồ dưới sân trước khi đi chơi. Và trong khoảng thời gian đợi người yêu mặc quần áo, trang điểm, người đàn ông ấy đã ngắm nhìn và quan sát mọi thứ xung quanh. Trong vô số thứ anh ta quan sát có gương mặt trong veo của cuộc đời tật nguyền là chị tôi, mà anh không bao giờ biết được nửa phần khuất nẻo. Nửa phần khuất nẻo ấy, chị tôi sống được là nhờ những tưởng tượng, và trong số ấy, có cả anh, một người không hề biết tới sự tồn tại của mình trong trái tim thơ bé của chị tôi.
Chị tôi vùi mình, mê đắm thổn thức vào những trang viết. Cửa sổ hằng đêm vẫn mở. Hằng đêm, những người đàn ông tựa gốc bàng già ngước nhìn lên mỉm cười. Những người đàn ông xuất hiện, chờ đợi rồi biến mất. Ngoài khung cửa sổ, cây bàng già lại trút bỏ những chiếc lá để âm thầm thức đợi lộc non. Và tự truyện đầu tay của chị tôi đã làm cho ông giáo sư già nhà bên phải nhỏ lệ. Chị tôi vẫn tiếp tục viết, cuộc sống của chị, thế giới của chị bây giờ đã thay đổi. Dù vậy, không khi nào, chị rời bỏ khung cửa sổ của mình. Hằng đêm, chị ngồi trên xe lăn đến bên khung cửa và hướng mặt vào nơi xa thẳm.
Chị tôi không tiếp tục học để thi vào đại học như tôi đã thầm nghĩ. Chị cũng không trở thành một người làm vi tính văn phòng thật giỏi để sau này có cái nghề cầm tay mà sống như mong đợi của bố khi bố mẹ không còn mãi trên đời để lo cho chị được nữa. Chị như chiếc lá xanh gió trời tàn nhẫn rứt xuống ném vào khung cửa sổ ngôi nhà của tôi. Và mẹ tôi không sao hiểu nổi chị không vĩnh viễn ở tuổi thơ để sống cùng với mẹ, để được mẹ được thương xót cưu mang suốt đời và mãi mãi. Chị trở thành người viết văn xuất sắc. Một người viết không tư tưởng. Tôi không biết chị tôi cần phải đi những đâu, học những gì để trở thành một nhà tư tưởng, khi cái quý giá nhất từ trang viết của chị là chị đã rút ruột hết mình với những tự truyện mang dấu ấn của đời sống mà chị đang đi qua. Mỗi một tự truyện của chị là những mảng sáng tối của cuộc đời mà chị đã sống tận cùng và trải nghiệm. Không một ai trong gia đình tôi hình dung được điều này.
Như Bình
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Cõi về
Cõi về
Khó khăn lắm ông Thệnh mới tới được nơi này. Vậy mà bây giờ ông cứ lần khần mãi. Ông nghĩ, về già con người ta càng lẩn thẩn. Suy cho cùng một đời người luẩn quẩn trong cõi dương gian cố tìm cho mình một cõi hạnh phúc mà nào có được. Với ông Thệnh, hiện tại hay quá khứ đều chỉ là một mớ kỷ niệm không có tuổi, đã rêu phong…
Vì sao ông tới được chính nơi này? Mọi thứ cứ tưởng như là hoang tưởng. Ông Thệnh thấy mình đã yếu lắm, rồi biết có tìm được đường về không? Ngoài kia, trắng những mồ mả lô nhô, không gian tối thẫm từng vệt hoàng hôn loang lổ. Trăng cuối tháng xuệch xoạc như một nét vẽ vội nặng nề treo ngang trời. Khói bếp nhà ai đã reo, ùn cao tầng vòng bay xòe xòe xuống đám ruộng mạ non rồi bỏ lên nghĩa địa quấn quýt lấy từng ngôi mộ. Gió thổi se se, những sợi khói mềm và dẻo như rắn quấn vào đêm. Đêm âm âm tiếng vọng của triệu triệu âm thanh dội về thành một thứ tạp âm nghe rờn rợn. Cũng thật kì lạ, nhà thằng Bính lại ở ngay nơi này, thế mà ông Thệnh cứ ngỡ nó chết trong trận đánh Cồn Cát rồi. Cuộc đời thế mà hay, gần đất xa trời rồi ấy mới biết lắm nỗi kì ngộ. Ông Thệnh đi tìm cô Mền, lại gặp được bạn chiến đấu cũ. Kẻ tình địch năm xưa nay đã con đàn cháu đống dưới quê, sống lập dị làm chóp nhà nơi đồng hoang, bầu bạn với cá sông chim trời.
Thằng Bính về quê gả chồng cho cô gái út, mình ông Thệnh ở nhà, bà Thệnh mà biết ông đang ở đây trong điều kiện ăn ở thế này chắc bà tru tréo đến chết. Lâu lắm rồi trong nhà cao cửa rộng chăn ấm nệm êm lắm khi ông Thệnh không còn thiết nhớ đến quá khứ. Nhưng quá khứ là một cái hõm đầy máu nằm sâu trong tim, cố lấp đầy chỉ thêm khơi sâu, dễ gì mà quên được. Chỉ cần mình tròng trành tấm thân một chút máu ở hõm lại rỉ ra đau nhiều hơn là buồn. Ông Thệnh trọng trẹo tấm lưng còng. Ông ngồi cú rú bên bếp lửa, chân tay đau rừ không buồn nhúc nhắc. Hai bàn tay, từng ngón dài quá khổ quắp vào nhau không sao ngay ra được. Mùa đông qua rồi mà ông Thệnh không thôi rét. Đêm giao mùa, ông Thệnh thấy khó ở. Ông cắp một nắm hương gác trên giàn bếp rồi xách đóm bước ra nghĩa địa.
Lửa hắt chập choạng trên những ngôi mộ, chập choạng theo bước chân của ông Thệnh. Ông Thệnh đốt hương, sợi hương bay lác rác từng chấm đỏ. Ông cắm một vòng hết lượt những múp đất chen nhau. Chiều qua ông và Bính cãi nhau. Thằng Bính cứ quả quyết đây là mộ của các cô gái Thanh niên xung phong thuộc phân đội cô Mền, còn ông lại nghĩ rằng có thể chỉ là những múp đất người ta đào ruộng rồi tiện thể úp lên. Mà thôi, cãi nhau làm gì, biết đâu đó là chốn của những linh hồn lạc loài trú ngụ trong cõi về. Nhưng có một điều ông Thệnh biết rất rõ đây là đất thiêng, nơi ông đã tự tay chôn cô Mền. Cây cảnh giới cả Bính và ông làm dấu nay đã tỏa cành sum suê cổ thụ, dân làng đi làm đồng cấy lúa xung quanh chừa mô đất này ra. Ai đó để cái bát vỡ vào gốc cây làm thành chỗ cho bà con cầu khấn mùa vụ. Gốc cây cảnh giới đen quắt lại vì khói hương vậy mà cành vẫn đậu trái xum xuê ăn ngon ngọt.
Hôm tới đây, ông Thệnh rớt nước mắt vừa tủi vừa thương. Vậy là Mền vẫn nằm đây từ bấy đến nay chẳng có ai đưa về. Ông Thệnh đã giận thằng Bính lắm, nó cãi ngang ngang. “Mả người khác họ còn cày lên làm ruộng, nhà tui ở giữa đồng, Mền cũng ở được dưới đồng.” Ông Thệnh không buồn nói, vì giải thích nó cũng không nghe, tính nó vẫn bướng. Ngày xưa hai thằng thân nhau lắm, đi bộ đội cùng nhau rồi cùng yêu một người. Nó tuyên bố xanh rờn: “Nếu cả ba còn sống, tui và ông phải làm một keo vật, ai thắng thì được lấy Mền, bằng không tui chết, coi như Mền của ông và ngược lại.” Ngày ấy ông Thệnh nói gở: “Lỡ Mền chết thì sao.” Thằng Bính trợn mắt “Thì tui cũng chết, xuống âm phủ tha hồ cưới nhau, đỡ ông quấy quả.” Ông Thệnh giận thằng Bính, ấy thế mà bây giờ nó sống nhăn răng ra đó, không thèm đưa Mền về nghĩa trang. Cái thằng thế mà tệ.
Hai tay ông Thệnh cào cào lên chóp mả. Bữa trước ông mới xủi cỏ thế mà chưa được vài ngày cỏ dại đã chóe lên xanh non phủ kín chóp mả. Ông Thệnh nao cả người không hiểu sao ông không dứt ra nổi với những công việc luẩn quẩn này. Lẽ ra ông phải đưa cô Mền về nghĩa trang sớm hơn. Ông đã có gần 30 năm chuẩn bị cho công việc này. Vậy mà khi tới đây rồi ông lại không thể. “Mền ơi!” ông Thệnh bật khóc, tiếng khóc rền rĩ của ông Thệnh trôi trong đêm trên những chóp mả. Đốm hương bắt gió xòa cháy sáng lòe.
Chưa sáng đã có người đến quấy. Ông Thệnh lấy làm khó chịu vô cùng. “Anh Thệnh ơi, chú Thệnh ơi! Bác Thệnh ơi!” Tiếng réo gọi tên ông Thệnh râm ran. Ông Thệnh mệt mỏi trở dậy. Nắng rọi chênh chếch qua khe cửa. Ngoài sân một đám đàn bà con gái cô mười tám đến hai mươi lăm đang tấp nập đi lại nói cười đùa giỡn. Chúng ngồi tùm tum xổ tóc ra bắt chấy cho nhau cười râm râm. Một dám thì bu xúm xít bên lu nước kê cạnh góc sân, múc nước dội ùm ùm. Đứa gội đầu, đứa tắm, vừa làm vừa chọc nhau, nước đổ tung tóe ra sân. Ông Thệnh nhấp nhóm. “Rõ khỉ cái bọn tùm lum nào vô nhà ông mà phá phách thế.” Rồi ông chợt ngây người ra mà nhìn. Tiếng gọi nhau í éo. Thôi, ông phải dậy mắng cho chúng nó một trận. Gái gớm gì mà dạn dĩ thế. Chưa kịp thả chân xuống đất chợt hai bàn tay mát như đất thịt bịt lấy mắt ông Thệnh đè nghiến ông nằm xuống. “Ô hay, cái bọn nào mà quá quắt thế. “Ông Thệnh lẩm bẩm. Đôi bàn tay mát rượi luồn vào cổ ông, vào nách ông cù nhẹ. Ông Thệnh nhột oằn cả người. Một giọng đàn bà ngọt lịm thì thầm bên tai ông. “Anh Thệnh ơi, già rồi mà còn nhìn trộm đàn bà tắm là xấu lắm nhé.”
Ông Thệnh quay người lại, cô gái giấu mặt vào mớ tóc dài như suối khẽ ngượng nghịu cười. Ông Thệnh quát, giọng run run “Các cô ở đâu mà kéo nhau cả đàn về phá phách nhà tôi thế?” Cô gái vùng dậy chạy ra ngoài sân, tức thì cả đám ngoài sân chạy ùa vào nhà hè nhau vây chặt lấy ông Thệnh. Đứa tay, đứa chân thi nhau cù tiếp vào cổ vào nách ông Thệnh. Ông Thệnh trợn mắt kêu không ra tiếng vậy mà chúng cứ thản nhiên vày vò ông đến bã.
Một cô trông bặm trợn nhất dí tay vào trán ông Thệnh cười cười “Gớm, biết tính ông anh cảu rảu thế này tụi em chẳng ghé vào chơi làm gì. Lâu lắm rồi chẳng có ai thèm nhớ tới tụi em, chỉ có anh là vẫn còn nghĩ tới tụi em. Mà sao ông anh dẩu người thế. Thì chính hôm qua ông anh gọi tụi em đến chơi mà.” Một cô khác ló gương mặt tròn tròn, đôi mắt thập thò tinh nghịch chen vào… “Ông anh ơi, dễ chừng ông anh đuổi thì tụi em xin đi, đừng quá nóng nảy. Tụi em lâu không được tắm gội, sẵn nước mát tụi em nhờ vả tý, ông anh đừng giận nhé.” Cô gái vừa nói vừa đập tay lên vai ông Thệnh. Cả bọn lại ôm nhau cười ré lên khanh khách.
Cô gái có gương mặt trắng ngà và mái tóc dài như suối chạy ôm lấy cổ ông Thệnh nũng nịu: “Bác Thệnh ơi, mẹ cháu vào chơi với bác?” Ông Thênh dụi mắt, gương mặt trắng ngà chập chờn ẩn hiện. Đôi mắt đen thắm lúng liếng cười. Thôi chết, có phải Mền đó không? Mền ơi! Mền! – Ông Thệnh thấp thỏm gọi. Cô gái lại cười. “Cháu! Cháu là con gái của mẹ Mền. Mẹ cháu đang gội đầu ngoài kia kìa.” Ông Thệnh lập cập nhìn ra ngoài sân. “Có phải Mền đấy không? Thôi đúng là Mền rồi.” Cái cổ trắng ngần đang cúi xuống, mớ tóc dài như suối xổ tung ra hai tay Mền đang vắt những dòng nước ở đuôi tóc. Ông Thệnh bò khỏi giường lập bập bước ra sân thều thào gọi. “Mền, Mền ơi! Cô vẫn còn sống sao?” Nghe tiếng gọi của ông Thệnh, bọn con gái lại ùa vào đứa xách tay đứa ôm chân lôi ông Thệnh vào nhà, đứa cù tai cù nách ríu ran cả lên. “Thôi mà, chẳng có bà Mền nào hết. Ông có mơ ngủ không?” mồ hôi ông Thệnh rõ từng giọt. Gió thổi qua lớp mái tranh lếch thếch trước hiện nhà. Ông Thệnh không tin ở mắt mình nữa. Rõ ràng Mền đứng đó, gương mặt lênh loang nước, đôi mắt buồn nhìn ông thăm thẳm. Đám đàn bà con gái lục cục dưới bếp thổi cơm. Những cái cổ trắng ngần, những khuôn ngực phập phồng, những mớ tóc đổ dài như suối. Những cặp mắt óng ánh ánh lửa.
Chiều đổ xuống nền sân nhà nắng vàng sóng sánh. Tiết Thanh Minh, đám mạ non dưới ruộng lên đầu tăm tắp xanh mởn. Lũ đàn bà con gái đã nấu chín cơm đang hí húi xới ra bát. Ông Thệnh mệt đến không nhấc nổi mình ra khỏi giường. Đám khách nữ yêu này quấy ông muốn chết. Mền đang sắp cơm ra mâm. Từng bát cơm úp bày la liệt nhiều đến nỗi không đếm xuể. Ông Thệnh gọi “Mền! cô Mền ơi!” Chẳng ai đáp lời ông. Ông Thệnh gắng gượng trở dậy tìm chiếc gậy. Ông thấp thỏm bước về phía thơm thoáng tiếng nói cười. Vừa đi ông vừa gọi “cô Mền ơi. Cô đừng giận tui, tui đi tìm cô đây… cô Mền ơi”.
Lần xuống đến cửa bếp thấy vắng hoe, ông Thệnh lập cập lên nhà trên. Nhà cửa vắng tanh vắng ngắt. Thấy mỗi mẹ con cô Mền đứng ôm nhau bên la liệt những bát cơm úp. Ông Thệnh run rẩy cất tiếng, “Sao? Các cô ấy đâu hết cả rồi.” Cô Mền cúi đầu đáp khẽ. “Họ về nhà cả rồi.” Ông Thệnh thánh thốt: “Nhà họ đâu.” Cô Mền chỉ tay ra cửa. Ông Thệnh dụi mắt mãi nhưng chỉ thấy độc một màu trắng bàng bạc. Hình như sương mù dày đến độ không thấy gì. Ông Thệnh hỏi. “Các cô ấy là ai thế?” Cô Mền buồn rầu đáp: “Thì ra ông quên hết rồi. Bạn bè tui, bạn bè ông cả đấy. Bao nhiêu năm ở chiến trường sống chết với nhau vậy mà ông vội quên thế.” Ông Thệnh ngơ ngác “Họ chết cả rồi mà.” Cô Mền rầu rĩ “Chết không có nghĩa là mất. Nhưng linh hồn của họ đấy, họ ở quanh đây cả. Tại vì ông là người trần nên ông không thấy đó thôi.” Ông Thệnh ngạc nhiên hơn “Sao họ không được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ.” Cô Mền cười héo hon: “Chiến tranh, loạn lạc, biết đâu mà tìm. Bây giờ chỗ của các cô ấy, bà con đã cày ruộng trồng lúa lên rồi. Âu cũng mỗi người một kiếp, cả khi đã chết.”
Ông Thệnh ngồi thụp xuống ghế. “Mền ơi, thế đây là con chúng mình phải không?” Cô Mền cúi đầu. “Ngày đó thì vậy nhưng bây giờ nó đã là con của anh Bính rồi. “Ông Thệnh xanh lợt mặt mày. Cô Mền dắt tay cô con gái và đi nhanh ra phía cửa. Ông Thệnh nhìn thấy mâm cơm chưa ai đụng đũa gọi với theo. “Cô Mền ơi! Khoan đã. Sao không bảo các cô ấy ăn cơm đã. Lúc nãy thấy đứa nào cũng kêu đói mà.” Tiếng ông Thệnh chưa dứt thì mẹ con cô Mền đã mất hút. Ông Thệnh run rẩy nhìn theo. Ông không hiểu điều gì đã và đang xẩy ra, ông không đủ sức để đuổi theo những bóng người kia nữa. Nước mắt ông rỉ ra, ông Thệnh thấy người nhẹ tênh như là bay trong không gian vậy.
Ông Thệnh chống gậy đi về phía gò đất. Tiết Thanh Minh, những bông cúc đất nở trắng xóa trên mộ cô Mền. Thôi ông phải từ giã Bính, từ giã Mền để về thành phố thôi. Mền bây giờ đã có Bính chăm sóc. Mà sao ông lại tới muộn thế chứ. Ông Thệnh ngồi xuống bên nấm mộ và cảm thấy mỏi mệt vô cùng. Đám hương hôm qua ông đốt đã cháy hết. Gió gào mạnh thế mà lõi hương không tàn cháy cong cong về phía mộ. Ông Thệnh thấy đầu váng vất. Ông lê bước vào nhà. Căn nhà ông ở đêm qua đã kịp mọc thêm vài đám nấm mốc. Ông Thệnh xuống bếp, bếp lạnh te, mọi thứ vẫn nguyên, nước vẫn đầy ắp, như cũ. Trước sân, vài con nhện láu lỉnh đã vội giăng tơ nơi từ cọc úp gáo nước tới thành lu, sương đọng một dải trong như ngọc.
Căn nhà ông bà Thệnh chộn rộn. Người tới đông kìn kìn. Gần một tháng nay, ông Thệnh trong tình trạng mê man. Con cháu Nam Bắc nhận được điện của bà Thệnh đã kịp về đông đủ. Ông Thệnh nằm rúm ró, người dính bệt vào chiếc nệm cao tới gần nửa mét. Xung quanh ông chất đầy sâm và thuốc quý hiếm của con cái mang về. Bà Thệnh ngồi một bên cầm lấy tay ông, gương mặt bà cũng đột nhiên vô hồn và đờ dại. Bác sĩ quả quyết là ông Thệnh đã tắt thở. Nghĩa là đã chết.
Vị linh mục già được mời đến làm lễ thì chắc chắn rằng ông Thệnh đã tịnh hồn lạc vào cõi âm rồi không còn trở lại nữa. Con cháu tề tựu sẵn sàng chuẩn bị làm những công việc còn lại để linh hồn người đã khuất được an lành. Mỗi bà Thệnh là thấy vô lí. Bà biết sớm muộn gì thì ông cũng bỏ bà mà đi nhưng sao chẳng hề nói với bà lấy một lời. Cả khi bên bà, khi xa bà điều vô lí ấy luôn tồn tại không thể lí giải. Bà Thệnh thấy đau rát ở ngực. Bàn tay ông Thệnh đã lạnh dần, đôi mắt mỏi mệt đã khép lại, nỗi đau dai dẳng suốt cuộc đời làm vợ của bà Thệnh bỗng rơi hụt vào cõi không nghe thảng lạnh đến lạ.
Như Bình
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo http://vietnamthuquan.eu/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...






