Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối

Các nhà thơ từ cổ chí kim không nhiều thì ít đều viết thơ tình, điều đó không có gì lạ; vì tâm hồn họ lãng mạn, mơ mộng, tôn thờ phái đẹp. Nhà thơ Nguyên Bình không nằm ngoài số đó. Anh viết văn làm thơ từ thời sinh viên, cả trước và sau năm 1975.
Những bài thơ tình, anh không dám trao tay cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế anh yêu say đắm: Vẫn mãi “Là bài thơ còn hoài trong vở/Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” thơ Đỗ Trung Quân. Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối, mê say, nồng cháy. Nay nhà thơ chậm rãi bước qua bảy mươi hai mùa lá vàng rơi, thú nhận: “Tôi yêu em đến cuồng điên/Một trăm năm nữa lụy phiền em không?” (Lụy phiền). “Em hãy dịu dàng yêu kiều thầm lặng/Tôi sẽ trao thơ đến tận muôn đời” (Sương khói). “Đã đầy đầy một vòng tay/Tròn ba vạn sáu ngàn ngày yêu em” (Đã đầy). “Thơ là sợi tóc chẻ đôi/ Em cầm một nửa cột tôi đêm ngày” (Thơ tình). Thế là đã rõ, trong cuộc đời nhà giáo – nhà thơ Nguyên Bình chỉ tôn sùng hai thứ: Thơ và Ái Tình.
Nhà thơ Nguyên Bình là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tên thật Nguyễn Bá Bỉnh, sinh năm 1953, tại thôn La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thôn La Chữ nằm sâu bên trái đường quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Huế hơn chục km về hướng Bắc; nhà thơ Nguyên Bình sinh ra và lớn lên trên mảnh đất hiếu học “bao la chữ nghĩa” ấy. Sau khi tốt nghiệp khoa địa lý, trường đại học sư phạm Huế, thầy giáo trẻ độc hành vào  phương Nam lập nghiệp.
Nhà thơ Nguyên Bình say mê “cày ải” trên “cánh đồng” chữ nghĩa không mệt mỏi, kết quả cho ra đời những tác phẩm văn học: Truyện ký “Những mùa trăng cũ”, “Tiền kiếp” thơ, năm 2019. “Hoa vàng trên áo xanh” thơ, năm 2020. “Dòng nhựa thơm nguyện ước” thơ, năm 2021. “Giấc mơ tôi” thơ, năm 2021. “Phù vân” thơ, năm 2021. “Khắc bóng thời gian” thơ, năm 2021. “Quyền năng của ngôn ngữ từ trái tim” cảm nhận văn học – tập 1, năm 2021. “Bài luân vũ của giao cảm thi ca” cảm nhận văn học – tập 2, năm 2022. “Thắp nến tôi để giành” thơ, năm 2022. “Giao cảm văn chương” cảm nhận văn học – tập 3, năm 2024. Chủ biên 2 tuyển tập thơ: “Hương mùa gió lạ”, năm 2023 (gồm 108 tác giả) và “Mở cửa mùa xuân”, năm 2025 (gồm 99 tác giả). Ngoài ra có một số tập thơ anh tự in và lưu hành nội bộ: “Thầm lặng yêu người” , “Mùa hoa giã quỳ”, “Cung đàn tình thơ”, “ nhặt nhạnh ý đời” (thơ Haiku). Nhà thơ Nguyên Bình viết thơ tình chiếm 70%, chủ yếu hoài niệm về tình yêu tuổi hoa niên; thơ Triết luận chiếm 15%, thể hiện quan niệm nhân sinh, suy tưởng về mối quan hệ xã hội; thơ Thiền khoảng 15 %, thể hiện cảm thức tôn giáo, ý thức ứng xử tinh thần. Được biết, tác giả có 100 bài thơ tình được phổ nhạc; có hơn 300 trang viết về các tập thơ, các bài thơ đã in.
Viết về đề tài tình yêu, mỗi nhà thơ có cách khai thác nhân vật trữ tình khác nhau. Nhà thơ Nguyên Bình lấy thi liệu là đối tượng nữ đang ôm cặp đến lớp với đôi tà áo dài trắng như đôi cánh bướm tinh khôi, hay người đẹp trong mộng để gây nên chất men xúc tác. Theo Bạch Cư Dị “Tình là cái gốc của thơ”. Mới mùa xuân mát mẻ, chim ca hoa nở đó, mùa hạ vội vàng tới. Khi hoa phượng đỏ thắp những chùm lửa cháy bập bùng trong sân trường, cộng với tiếng ve ngân thổn thức biết mùa hè đã đến “gieo mầm ly biệt”. Cuộc đời học trò vô tư sắp kết thúc, để chọn một con đường tương lai đang chờ phía trước: “Trang sách học trò chưa hết bâng khuâng/Em úp mặt vào trong vạt áo/Mùa cứ trôi nhuộm buồn chân sáo/Sắp hết rồi những bước tung tăng”(Mùa qua). Khi đang yêu tâm hồn ngập tràn một trời mơ ước, mang tâm trạng “rơm rớm nhớ, lưa thưa buồn”. Tình yêu của chàng trai về cô gái chưa có gì nắm bắt cụ thể, chỉ chút tình suông, vẽ mộng lên bốn bức tường lớp học, con đường xưa em qua chỉ còn lại những dấu chân mờ. Chàng thở than: “ Có ai khờ dại yêu liều như tôi/Ơi à năm tháng đầy vơi/Tôi đem phơi áo hong lời nguyện xưa” (Như chưa bao giờ). Nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng mang tâm trạng tương tự: “Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu/ Nên có một gã khờ/Ngọng nghịu đứng làm thơ”. Nhà bác học Lê Qúi Đôn nhận định: “Thơ phát khởi từ lòng ta”, so sánh khi đọc thơ tình của Nguyên Bình quả không sai. Những bài thơ tình anh viết dạt dào cảm xúc bắt nguồn từ tâm trạng yêu đương mãnh liệt, khởi từ lòng anh nhưng không có tên nhân vật cụ thể, không có địa chỉ cụ thể, không có hoàn cảnh cụ thể, không có thời gian cụ thể và không có không gian cụ thể. Chủ thể trữ tình trong thơ anh mông lung, mờ ảo, bồng bềnh mây, lãng đãng sương, thực thực, hư hư: “Ra phố thèm nhắm mắt/ Mộng du trên vỉa hè/chạy quanh triền cơm áo/Tôi gặp tôi u mê/Chẻ đôi câu thơ đắng/Tôi đứt lìa giấc mơ/Nửa thân ôm hoang phế/Nửa hồn treo ngác ngơ” (Chẻ thơ). Hình ảnh mùa thu thật đẹp, cây trút lá vàng, thơm hương cốm mới, trăng rằm sáng tỏ, ánh nắng vàng tươi, tiếng trống trường ngân vang báo hiệu ngày khai gỉang năm học mới. Trong sắc thái mùa thu vàng dịu dàng ấy, giữa anh và em có biết bao kỷ niệm đẹp “cùng chung lối về”, “cùng thưởng thức ly chè ướp hương thề”, anh gửi ngàn câu thơ em cất giữ nêm chật trong cặp sách học trò. Vì ngại ngùng nên lời yêu em, anh chưa dám thổ lộ, để: “Mùa thu chia ly mùa thu vấn vương/Em lấy chồng xa khi tình đang chớm/Chiếc lá bơ vơ thở dài sầu muộn/Mùa thu nghẹn lòng…ta chợt mất nhau” (Thu hoang đường). Trong tình yêu, giận dỗi là chuyện thường tình, nó như chất gia vị để nêm nếm tình yêu thêm hương vị đậm đà hơn. Anh muốn em phụng phịu, làm mặt giận để anh có cớ chiều chuộng em, vì anh yêu em hơn mọi thứ trên đời: “Có một điều anh nhớ em gần chết/Nhớ như điên khùng da diết khôn nguôi/Đã ba hôm hay hơn thế mất rồi/Giận đi em để anh còn dành dỗ” (Không giận cũng buồn). Những vần thơ khi yêu thật đắm say, thổn thức, khơi mạch nguồn thơ tuôn chảy, nhen lên ngọn lửa hồng tình ái. Anh là nhà thơ giàu tình cảm, không có bạc vàng châu báu, chỉ biết nâng niu lòng thơm thảo trao em: “Anh lại viết cho em/ Những bài thơ nho nhỏ/Gói ghém vào trong đó/Chút gió, chút mây, chút hương cỏ cây” (Thơ tình). Dù cách xa nhau, nhưng anh biết giờ này em vừa mới thức dậy chải đầu soi gương, chuẩn bị đến nhà thờ dự lễ. Em hãy xưng tội giùm anh: “Chàng làm thơ yêu em/Quên trời quên đất/Quên Chúa lòng lành/Quên Phật từ bi” (Em đi xem lễ). Anh yêu em, yêu trong mộng tưởng, như lấp lánh ánh sao, là sóng biếc dạt dào, đêm từng đêm khát khao bờ môi mềm dịu ngọt: “Dù sao cũng đã một lần/ Yêu nhau mà chẳng nợ nần gì nhau” (Niệm khúc). Nhà thơ Xuân Diệu từng thở dài: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu/Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết!” (Yêu). Còn nhà thơ Nguyên Bình yêu em đang độ trăng tròn, em duyên dáng đếm bước giữa sân trường rực nắng, đẹp như một bông hoa. Định bụng ngày ra trường anh sẽ thổ lộ tình yêu với em. Nhưng có ngờ đâu mẹ cha ép uổng, em đành nuốt lệ theo chồng để hồn anh giông bão. Thời gian thoi đưa, mới đó đã: “Ba mươi bảy năm cách trở, tôi về đơn lẻ một mình/Hỏi ai một câu ấp ủ/Sao xưa em phụ tình tôi” (Tìm gặp). Cõi lòng anh tan nát mà hỏi vậy thôi, chỉ để giải bày cho lòng nhẹ vơi chút nào, chứ mong chi một lời giải đáp từ em. Vì em hóa thành bóng chim tăm cá khuất bóng cuối chân trời góc bể gần bốn chục năm rồi! Tình yêu không đáp ứng được tình yêu nó cào xé, đớn đau, thương nhớ biết nhường nào!.
Tôi may mắn có dịp tiếp xúc với nhiều nhà thơ ở ba miền, mỗi người một tính cách, một giọng điệu thơ và một sự đam mê thơ khác nhau. Riêng nhà thơ Nguyên Bình chung thủy với “nàng thơ” thật mãnh liệt. Anh chủ động điều khiển các con chữ tinh anh linh hoạt phù hợp theo tứ thơ, câu thơ, bài thơ mình khai triển. Anh nắm chắc cách gieo vần các thể thơ nhằm tạo nên sự biểu đạt cao nhất. Thơ tình Nguyên Bình ngôn ngữ tinh tế, lấp lánh sự lãng mạn thanh cao. Ít có nhà thơ nào giành phần lớn viết thơ tình như nhà thơ Nguyên Bình. Mỗi bài thơ tình của anh dạt dào, nồng nàn, đắm đuối đề cao cái đẹp của tình yêu lứa đôi.
30/8/2025
Nguyễn Xuân Sang
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Tư tưởng nhân dân anh hùng

Tư tưởng nhân dân anh hùng

1. Vì tình yêu quê hương đất nước, Trần Bảo Định đến với văn chương. Nhà văn Long An để lại dấu ấn đáng kể trong sinh hoạt văn chương từ những năm 2010 đến nay. Bên cạnh bộ sách Đất và người Nam Bộ mến yêu gồm 14 tập truyện ngắn, Trần Bảo Định còn có 6 tập thơ, 5 tập tiểu luận phê bình.
Năm 2024, nhà văn trình làng tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện gồm 3 tập (thượng, trung, hạ) do Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tái hiện diễn trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ hồi một 1620, hồi hai 1859, đến hồi ba 1900, tuyển tập có thể xem như trường thiên tiểu thuyết ca ngợi tinh thần đấu tranh yêu nước anh dũng của nhân dân Nam Bộ, như lời giới thiệu của Nhà xuất bản: “Chính các anh hùng vô danh mới thể hiện toàn bộ chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định, cho thấy tư tưởng: nhân dân anh hùng!”
Với trường ca Mặt đường khát vọng (Nxb Giải phóng, 1974), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa đất nước trong các chiều kích khác nhau, từ đó khẳng định quan niệm “đất nước của nhân dân” và trách nhiệm của nhân dân đối với đất nước. Với Đất Việt trời Nam liệt truyện, Trần Bảo Định cho thấy đất nước chính là nhân dân. Nhân dân là chủ thể và nền tảng của đất nước. Cơ hồ, Nguyễn Khoa Điềm lấy nước làm trọng, Trần Bảo Định lấy dân làm gốc. Hai nhãn quan tương hỗ biện chứng. Nguyễn Khoa Điềm nhìn từ dân thấy nước, Trần Bảo Định nhìn từ nước thấy dân. Vì thế, Mặt đường khát vọng là lịch sử thiêng liêng của đất nước, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là lịch sử oanh liệt của nhân dân. Mặt đường khát vọng là trang quốc sử, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là trang dân sử trong văn chương. Bởi “được nuôi dưỡng trong bầu sữa dân gian, nhà văn Trần Bảo Định mang lại góc nhìn riêng về lịch sử Nam Bộ xưa nay: liệt truyện của người bình dân hay dân gian triết và dân gian sử”. Theo đó, hình tượng nhân dân anh hùng hiện lên trang văn từ chính góc nhìn của người lao động bình dân.
2. Nhìn vào lịch sử dân tộc, bạn đọc dễ dàng nhận thấy hịch khí đấu tranh yêu nước vốn có trong lòng người Việt. Tinh thần yêu nước và bảo vệ đất nước đã trở thành bản sắc giống nòi. Kế thừa truyền thống đó, Đất Việt trời Nam liệt truyệncủa Trần Bảo Định, với quy mô chiều kích rộng lớn về không-thời gian, không chỉ hàm chứa quan niệm đất nước của nhân dân mà còn phát triển thành tư tưởng nhân dân anh hùng. “Nhân dân anh hùng” trên trang văn Trần Bảo Định không đơn thuần là một quan niệm mà còn biểu hiện ra như hệ thống tư tưởng. Bởi tư tưởng này phủ bóng lên trang viết và tỏa ra bóng mát trên nhiều phương diện văn hóa, lịch sử, xã hội… Cần khảo cứu toàn diện hơn về tư tưởng nhân dân anh hùng, nhưng về cơ bản tư tưởng này là kết quả hợp nhất của tinh thần thời đại và tinh thần dân tộc (nhân nghĩa, nhân đạo, nhân bản). Chính vậy, Đất Việt trời Nam liệt truyện vừa biểu hiện dòng sinh mệnh văn hóa dân tộc vừa là sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa Việt trên vùng đất mới. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ nhận ra âm hưởng địch khái của Nam quốc sơn hà, hịch khí của Dụ chư tì tướng hịch văn, nam nhi chi chí của Thuật hoài, nhân nghĩa chi cử của Bình Ngô đại cáo, và tuyên bố đanh thép “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” trong lời truyền chống quân Thanh xâm lược. Trần Bảo Định cho thấy nghĩa khí đó tiếp tục lan tỏa, trổ hiện ra trên mảnh đất Nam Bộ bằng cách “liên văn bản” với Kê kinh, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Minh Tân tiểu thuyết… Đẹp thay! Tất cả hịch khí đó đều được hàm chứa trong câu ca dao dung dị của xứ sở: Tham chi đồng bạc con cò/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang Sa. Có thể nói, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là nỗ lực kết dệt, tôi luyện và khêu sáng truyền thống anh hùng của giống nòi, không chỉ trong lịch sử hơn ba trăm năm của đất Đàng Trong, mà còn gợi nhắc đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt.
3. Để xây dựng tư tưởng nhân dân anh hùng, trang văn của Trần Bảo Định khởi đi từ tinh thần dân tộc với cốt lõi gồm có hành động nhân nghĩa, quan niệm nhân đạo và nền tảng nhân bản. Như sự tiếp nối “nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”, những truyện ngắn như Phận má hồng, Hỡi ai còn nhớ!(tập Thượng) khắc họa xúc động bóng hình hai vị công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa trên tiến trình lịch sử mở mang bờ cõi. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn quan niệm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, cũng chính là quan niệm lấy dân làm gốc. Bởi dân có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền. Sau nữa, tinh thần “điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo” được cụ thể hóa hết sức khẳng khái qua hình tượng “dân binh Gia Định chủ động đánh giặc, không trông cậy vào quân triều đình rúc cổ rụt đầu trong Đại đồn” (tập Trung, tr.19). Âu Dương Lân nói: “Thà sống ngắn có lợi cho nước cho nhà, vẫn hơn sống dài hại nhà hại nước” (tập Trung, tr.103). Câu nói hệch hạc chẳng hoa mĩ đã biểu hiện bộc trực nghĩa khí dân đen. Hay nói như cụ Đồ Chiểu: Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng (Lục Vân Tiên). Đó chính là nhân nghĩa Nam Bộ vốn phổ truyền khắp miền sông nước Cửu Long giang.
Nhân nghĩa lại dựa trên nhân đạo, biểu hiện thành vẻ đẹp tình thương rộng lớn. “Tiếng chuông ngày rằm ở chùa Vĩnh Tràng vang lên giữa trưa đầy hương bưởi làng Mỹ Phong, một vùng đất dân tình trọng lễ nghĩa và từ rất lâu, họ chịu ảnh hưởng giáo dục ở những nhà nho yêu nước, như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Phan Hiến Đạo, Phan Văn Trị, Học Lạc…” (tập Hạ, tr.53). Nho đạo ấy cần được xác định như nhân đạo dân gian của người bình dân, và nhân đạo này ảnh hưởng đến lối học của giới trí thức, góp phần tạo nên biểu hiện của học phong phương Nam. Mà nếu nhìn rộng hơn, ta sẽ thấy dòng mạch trao truyền chí ít khởi đi từ lối học “tri ngôn dưỡng khí” trọng tâm ở chữ Thành của Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản. Trong đời sống bình dân, nhân đạo ấy lấy tình thương làm cốt lõi. Thương nên có thể bỏ qua. Chuyện Hai Siêu Đất (tập Hạ) vừa tình thương trong đạo vợ chồng, vừa tình thương dành cho tha nhân. Sở dĩ thương vì thấu cảm, nhờ thấu cảm nên có thể đặt mình ở giữa mọi người. Bấy giờ có thể thể tất! Tình thương và khí khái như thế có sức cảm hóa to lớn. Điều này có thể thấy trong truyện ngắn Người phụ nữ ấy (tập Hạ). Sau câu nói “Tụi bây là quân cướp nước và bán nước, nhứt định sẽ bị những người cộng sản chúng tao đánh đổ” và sự hi sinh của Nguyễn Thị Bảy (tập Hạ, tr.181), Đốc phủ Phan Văn Chương bỏ vinh hoa phú quý vào chiến khu cùng nhân dân chống thực dân Pháp. Nhân đạo và khí khái bình dân có sức mạnh lay động lòng người. Theo đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện, với tư tưởng nhân dân anh hùng đậm đà tinh thần dân tộc, làm rõ nhãn quan đạo đức bình dân miền sông nước Cửu Long. Nhãn quan đạo đức ấy bền vững đẹp tươi trong sinh hoạt thường ngày, trong lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ đất nước.
4. Bên cạnh tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân dân anh hùng của tuyển tập còn được nung nấu trong tinh thần thời đại. Ở hồi thứ nhất từ năm 1620, tinh thần thời đại biểu thị qua việc mở cõi, hỗn dung văn hóa, khẳng định dấu ấn dân tộc Việt trên đường tiến về phương Nam. Hồi thứ hai từ năm 1859 đến hồi thứ ba từ năm 1900, tinh thần thời đại đối diện làn sóng xâm lược, thực dân hóa của thực dân phương Tây, càng không ngừng thay đổi để thích ứng với không khí thời đại, góp phần thúc đẩy vận động đấu tranh yêu nước. Từ cuộc đấu tranh của những nhà nho từ quan về với nông dân nghĩa sĩ chống giặc nửa sau thế kỉ XIX đến vận động “Minh Tân” phát triển toàn diện xã hội tạo tiền đề cho đấu tranh chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX, bạn đọc sẽ nhận ra dịch chuyển hệ hình tư tưởng đấu tranh yêu nước từ thế hệ của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Âu Dương Lân, Võ Duy Dương, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực… đến thế hệ của Đặng Thúc Liêng, Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Ninh… và không khí đấu tranh yêu nước sôi nổi ở làng Phước Lại quận Cần Giuộc tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) qua hình tượng người phụ nữ kiên trung bất khuất Nguyễn Thị Bảy. Ở bót Pô-lô (thành phố Chợ Lớn), giặc phải khâm phục tôn gọi bà là Hoàng hậu đỏ. Ở khám Phú Mỹ, bà bị giam chung với Nguyễn Thị Minh Khai – cả hai đều mang án tử hình, bà được chị em tù gọi là bà Cố Hỷ. “Theo lịnh, cai ngục Toản dẫn chị Bảy giam chung phòng với chị Năm Bắc. Gặp lại, hai chị em rất vui mừng dù đang chung cùng cảnh ngộ bị giặc tuyên án tử” (tập Hạ, tr.189). Đúng như câu thơ của Nguyễn Thị Minh Khai: Vững chí bền gan ai hỡi ai/ Kiên tâm giữ dạ mới anh tài, người phụ nữ ấy xứng danh nữ anh hùng. Qua từng truyện ngắn, bạn đọc sẽ nhận ra sóng gió thời đại và tinh thần bất khuất của những thảo dân Nam Bộ xưa; đồng thời thấy vận động mau lẹ của trời đất con người phương Nam từ những ngày thân sơ thất sở khăn gói vào Đàng Trong cho tới khi giặc dữ tràn tới quê hương khiến cho: Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây/ Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này?Câu hỏi của cụ Đồ Chiểu trong Chạy Tây còn tiếp nối trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;/ Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Trong khi quân binh vương triều ngó mặt làm ngơ thì những người nông dân anh hùng đã hưởng ứng lời kêu gọi chống ngoại xâm. Cho đến nửa đầu thế kỉ XX, ánh sáng cách mạng vô sản đã trở thành câu trả lời cho truy vấn của cụ Đồ Chiểu năm xưa, càng thổi bùng khí khái oanh liệt quả cảm của nhân dân Nam Bộ. Có thể thấy, từ nửa đầu thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, trọng tâm chính trị xã hội của đất nước đã xoay chuyển từ vương triều Nguyễn sang nhân dân cần lao. Đồng thời, bạn đọc cũng sẽ nhận thấy bước phát triển về ý hệ và đường lối đấu tranh cách mạng (từ chỗ chỉ là “dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” đến thế hệ thanh niên cao vọng của Nguyễn An Ninh, và đỉnh cao là sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đến Đất Việt trời Nam liệt truyện là quá trình gìn giữ, trao truyền và phát huy sáng đẹp tư tưởng nhân dân anh hùng của người và đất Nam Bộ. Tế văn của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng đài bất tử cho nghĩa sĩ vị quốc vong thân; liệt truyện của Trần Bảo Định đã tạc bia ghi công cho các anh hùng bình dân Nam Bộ.
5. Tựu trung, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyệnlà biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng của người lao động bình dân Nam Bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau. Tuyển tập này còn là dân gian sử, hàm chứa dân gian triết, biểu thị dân gian tính và khí phách oanh liệt của đất và người Nam Bộ mến yêu. “Đất Việt trời Nam liệt truyện vì thế không chỉ là bản anh hùng ca của một cá nhân, một dòng họ, một vương triều, mà hơn hết là bản anh hùng ca của người bình dân Nam Bộ. Sử quan triều đại có thể bỏ qua song bao nhiêu anh hùng bình dân vô danh hẳn còn sống mãi trong tâm hồn người dân Nam Bộ về sau” (Lời Nhà xuất bản). Hào sảng, trượng nghĩa, khí phách là vẻ đẹp của những anh hùng vô danh xuất thân bình dân và trọn đời gắn bó bình dân. Qua những hình tượng như thế, trang văn bộc lộ tư tưởng nhân dân anh hùng. Đây là bài học quý giá cũng như món quà tinh thần mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau biết “hướng thiện”, “hướng thượng” và hun đúc hoài bão cuộc đời xứng đáng với người xưa. Một trận khói tan/ Nghìn năm tiết rỡ (Nguyễn Đình Chiểu).
Đà Lạt, 1/6/2025
Võ Quốc Việt
Nguồn: VNQĐ
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Đỗ Nguyễn Thương đắm say miền ký ức

Đỗ Nguyễn Thương
đắm say miền ký ức

Tôi quen nhà giáo, nhà Lý luận Phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương thật tình cờ trong buổi Tọa đàm về Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng chủ trì có sự phối hợp của Hội nhà văn Cần Thơ và khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn tường Đại học Cần Thơ.
Tôi và chị có những điểm chung: cùng học Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, cùng dạy Văn trường chuyên, cùng làm công tác thanh tra giáo dục, cùng có học sinh đạt giải quốc gia môn Văn, cùng viết Lý luận phê bình và làm thơ. Chị đã thử sức mình ở nhiều thể loại: Lý luận phê bình, thơ, truyện, ký nhưng thế  mạnh của ngòi bút Đỗ Nguyên Thương vẫn là Lý luận phê bình bởi nó gắn liền với nghề dạy Văn, về phân tích giới thiệu tác giả, tác phẩm trong và ngoài nước có trong chương trình, và đặc biệt là những chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn cấp quốc gia. Chị đã xuất bản tác phẩm Lý luận phê bình “Đi tìm vẻ đẹp văn chương”  3 tập  và một tập thơ được đông đảo bạn đọc đón nhận. Và giờ đây chị lại thử sức ở thể loại thơ mới, thơ 1-2-3 với tập “Tìm về miền ký ức”.
Thơ 1-2-3 là một thể thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng và thể nghiệm gần bốn năm nay, đã có hàng nghìn bài thơ và hàng trăm tập thơ 1-2-3 ra đời của các tác giả trong và ngoài nước hưởng ứng. Song, để làm một bài thơ 1-2-3 cho hay ở thể loại này không phải dễ. Vì nó có quy định nghiêm ngặt về số câu (6 câu) số chữ tối đa ở mỗi câu, kể cả đầu bài (Khổ 1 là 1 câu- đầu đề bài thơ, tối đa 11 chữ. Khổ 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ, và Khổ 3 có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Câu đầu và câu cuối phải có sự hô ứng để làm rõ chủ đề bài thơ). Một bài thơ hay cần nhiều yếu tố, nhưng có ba yếu tố quan trọng như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã nói:
Túi nhà thơ có ba ngăn
Tứ, Từ, Tư đủ quanh năm tiêu xài.
(Một là có Tứ thơ mới lạ, hai là Từ ngữ dùng đúng lúc, đúng chỗ, ba là tính Tư tưởng của bài thơ phải cao và đẹp). Thơ Đỗ Nguyên Thương dù viết về đề tài nào, thể loại nào cũng đằm thắm một tình yêu đôn hậu, chân tình, tạo được sự lắng đọng nơi trái tim người đọc. Một hồn thơ  như thế luôn chứa đựng những buồn, vui, sướng, khổ về nhân tình thế thái.
Riêng tên tập thơ 1-2-3 “Tìm về miền ký ức” đã toát lên chủ đề của những bài thơ. Đó là những kỷ niệm đẹp về quê hương với bốn mùa xuân hạ thu đông rất đáng yêu. Đó là những kỷ niệm về tuổi học trò, tình đồng nghiệp gắn với bảng đen phấn trắng. Đó là tình bạn, tình yêu, là những ước mơ, hy vọng đẹp. Mỗi bài thơ như một lát cắt về cuộc sống và con người trong quá khứ và hiện tại, tương lai. Ký ức là hành trang theo ta suốt đời, là nguồn sữa mẹ nuôi ta trên mỗi chặng đường. Bài “Ký ức” có thể coi là tuyên ngôn của tập thơ:
 Ký ức
Là những gì hôm qua mà hôm nay còn thức
Chẳng chịu ngủ yên năm tháng qua rồi
Có buồn, có day dứt, có vui
Có hình ảnh người thân và rất nhiều cảnh vật
Nuôi lớn trong ta như sữa mẹ tinh thần.
Những ký ức ấy hiện lên vẻ đẹp đáng yêu qua cách cảm, cách nghĩ thấm đậm tình đời, tình người rất trong sáng và nhân văn qua “Đôi mắt nhìn đời”:
Đôi mắt nhìn đời
Nhìn đời qua lăng kính yêu thương
Mọi sự vật lung linh hơn dáng hình sẵn có
Xung quanh đều là bạn, cả lá hoa cây cỏ
Ai cũng đẹp hơn và thánh thiện hơn nhiều
Thế giới diệu kỳ – thế giới thật đáng yêu.
Tình cảm này, hồn thơ này qua “lăng kính yêu thương” sẽ lan tỏa khắp tập thơ, nó như chất xúc tác để gắn kết tính hiện thực, tính lãng mạn và tính thẩm mỹ và từ đó toát nên tính tư tưởng cao đẹp, không gượng ép hô hào kiểu khẩu hiệu.
Đỗ Nguyên Thương viết Lý luận phê bình văn học là chính, và chị đến với thơ như một sự tình cờ để giãi bày những ẩn ức, vui buồn của cuộc đời. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chị đã rất yêu thơ. Giấc mộng văn chương vẫn đeo bám chị trên mỗi chặng đường. Chính tình yêu nghề và sự đam mê văn chương là ngọn lửa thắp nên niềm đam mê để chị viết khỏe, để cảm xúc thơ luôn thăng hoa qua tư duy hình tượng kết hợp hài hòa với tư duy logic.
Ở “Tìm về miền ký ức”, người đọc thấy rõ hơn những rung động của con tim trước vẻ đẹp của quê hương đất nước. Đó là những cung đàn vang ngân của tâm trạng. Đó là những bức tranh về thiên nhiên khi mơ màng, lung linh ẩn hiện như tranh thuỷ mặc, khi điệp trùng hùng vĩ như núi cao, biển rộng, khi thủ thỉ như lời tâm sự lứa đôi hiện ra ở các bài: Mưa mùa hạ, Nói với mùa xuân sắp đến, Mùa đông và nước hoa, Đông lạnh cần hơi ấm, Chiều Trung du, Hồ mờ sương, Mộc Châu mãi xanh trong ký ức, Về quê đất Tổ đi anh, Về Ngã ba Đồng Lộc… Những bài thơ là những bức tranh nội tâm với nhiều gam màu thương nhớ. Hãy lắng nghe lời tâm tình trước Mưa mùa hạ. Mưa của thiên nhiên và mưa của tình yêu đôi lứa?
Mưa mùa hạ
Gõ vào mái tôn nhà hàng xóm
Gõ vào khung cửa sắt nhà mình
Âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh
Làm dịu mát những ngày hè nóng bức
Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa.
Ở khổ 1 là câu thơ đầu bài mang tứ thơ “Mưa”, và từ đó nhà thơ triển khai bằng hai câu tả thực ở khổ 2: Mưa gõ vào mái tôn hàng xóm và gõ vào khung cửa sắt nhà mình. Tiếng gõ của mưa làm bừng tỉnh không gian, đánh thức giác quan và sự rung động để dẫn đến khổ 3: Là những nhận định mang hình hài lý trí “âm thanh mạnh mẽ, hào sảng và khô đanh/Làm mát những ngày hè nóng bức”. Và câu kết mới là “điểm sáng thẩm mỹ”, khép lại tứ thơ: “Và anh làm dịu khát trong em là có thực, bốn mùa”. Câu 6 góp phần “hô ứng” với câu 1 – đầu đề bài thơ. Và người đọc thấy mưa chỉ là cái cớ để chị mượn nói về tình yêu – một tình yêu đích thực, khát khao suốt năm tháng (bốn mùa). Có thể xem đây là cơn “mưa tình” rất đẹp, nó làm dịu mát tâm hồn ta với bao hy vọng đợi chờ trong xa cách nhớ thương. Bài thơ được đưa lên đầu tập thơ làm đọc giả muốn đọc tiếp một mạch để khám phá vẻ đẹp của các bài thơ khác. Thơ 1-2-3 có được những bài đầy liên tưởng ẩn dụ như vậy không nhiều.
Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để thương để nhớ, và nếu Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành người (Đỗ Trung Quân), thì chị đã cho ta thấy một tình quê hương, đất nước nồng nàn, tha thiết. Bàn chân chị đặt đến vùng đất nào là những địa danh vùng đất ấy ùa vào trang thơ. Nào Đền Hùng, đất Tổ, Việt Trì (Phú Thọ) hay Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Mộc Châu (Sơn La). Nào Hồ Xuân Hương (Đà Lạt), đường lên Tây Tiến  hay miệt vườn Tây Nam Bộ…Cảnh sắc thiên nhiên và con người cứ hiện lên qua mỗi vần thơ như một đoạn phim quay cận cảnh, thật đáng yêu dường nào. Trong hành trang nỗi nhớ của những kỷ niệm xưa, Đỗ Nguyên Thương luôn khắc sâu về những vùng đất chị đã qua và nơi chị trở lại. Nơi đó không biết giờ này ra sao, nỗi hoài niệm cứ dâng lên tầng tầng lớp lớp. Nếu không có tâm hồn lộng gió bốn phương và cái nhìn đầy nhân ái, làm sao có được những vần thơ như thế. Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ chị chính là tình yêu đời, là nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, là sự hiến dâng tự nguyện cho hạnh phúc cộng đồng, về tình yêu đôi lứa. Từ những rung động vi mô đến những rung động vĩ mô của con tim đều ẩn chứa trong thơ chị. Bài “Về quê” là tiếng mời gọi tâm tình nhỏ nhẹ rất nữ tính: “Về quê/Về quê em đi anh/Nắng vẫn nắng và hoa sen khoe sắc/Gió vẫn tự tình khúc hát trung du/Khúc nắng hạ dọn dẹp đợi mùa thu/Như em đợi anh, bất chấp hè nắng gió”. Đó cũng là tiếng gọi của quê hương, tiếng gọi của tình yêu với người xa xứ.
Nhà Lý luận phê bình văn học Đào Thái Sơn đã viết “Bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật”. Hình tượng trong thơ chị ẩn chứa trong ánh mắt và con tim của nhân vật trữ tình, có khi hiện ra dễ thấy một cách chân thực và mang tính triết luận: “Một cuộc đời ý nghĩa khi hoàn thiện giấc mơ vui”, hay “Trong em, anh là hòn sỏi nhỏ sức mạnh vô song”, hoặc “Ánh sáng từ biển tri thức vô bờ tan lạnh giá con tim”…Những câu thơ về tình yêu như thế ghim được vào trái tim người đọc. Lại có khi hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu thơ ẩn hiện như con “rồng thần” khó nắm bắt. Khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, nhìn kỷ vật đơn sơ mà thấy lòng nghẹn đắng một miền xanh ký ức, để rồi “Có tiếng nhói phía sau lồng ngực/Nghẹn ngào/Thương…”. Tôi có cảm giác như thấy những giọt nước mắt của cái tôi trữ tình đang lặng thầm chảy ngược vào tim. Hoặc những câu thơ gợi nhiều liên tưởng “Bên cây xanh thấy lãi nhiều ngày” (Vui một ngày là lãi một ngày)
Ở mảng thơ thời áo trắng sân trường, tuy không mới nhưng chị đã tìm được tứ thơ và có cách thể hiện một cách hồn nhiên, chân tình gần gũi ở các bài: Sân trường ngày hiến chưng nhà giáo Việt Nam, Một ngày vui tại trường em… và đó chính là những vần thơ  “nhịp cầu nhân vạn dặm yêu thương”… để vui cùng thầy cô bè bạn ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 hàng năm, để được ôm hôn bè bạn cùng trang lứa, để được các em học sinh vây quanh như đàn chim tìm về tổ ấm của lớp mình năm xưa.
Trong miền ký ức sâu thẳm của tập thơ, có nỗi nhớ, niềm thương, niềm tin và những khát khao, hy vọng. Nó cứ trải dài theo mỗi bước chân của chị trên mỗi cung đường. Sáu mươi ba bài thơ 1-2-3 của chị không bị câu thức bởi luật thơ. Chị đã cố gắng nén năng lượng chữ ở mỗi câu thơ. Có câu chỉ một chữ có câu 2,3,4,,6,7 chữ, ít có câu tối đa 13 chữ. Hình ảnh, nhịp điệu của cảm xúc trữ tình được diễn đạt một cách dễ hiểu, luôn toát lên lòng lạc quan yêu đời.
Gương mặt thơ Đỗ Nguyên Thương qua thơ 1-2-3 đến với bạn đọc đã để lại nhiều cảm mến. Chị đã đánh thức con tim của bao người về những miền ký ức đẹp xa vời qua ngôn ngữ vừa dân dã vừa hiện đại, có sự kết hợp khéo léo giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ văn chương. Điều đó đã góp phần làm cho nhiều bài thơ nổi gió, bay cao như giai điệu vút lên ở những bản nhạc. Tôi tin rằng thơ chị sẽ còn bay xa và vang vọng hơn nữa. Mong rằng thơ 1-2-3 của chị luôn là một “hằng số bất biến” “mặc định” những thông điệp yêu thương đa sắc đa thanh tắm mát hồn người. Xin trân trọng giới thiệu tập “Tìm về miền ký ức” của nhà giáo, nhà Lý luận phê bình văn học Đỗ Nguyên Thương cùng bạn đọc.
3/9/2025
Lê Xuân
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của nghệ sĩ thị giác, thủ khoa Vũ Tú

Tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của
nghệ sĩ thị giác, thủ khoa Vũ Tú

Sự tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của nghệ sĩ thị giác, thủ khoa Vũ Tú mang một ý nghĩa không chỉ đối với giới nghiên cứu nghệ thuật mà còn đối với công chúng yêu cái đẹp. Bởi lẽ, thân thế chính là cội nguồn hình thành nhân cách và tài năng của một con người. Khi đi sâu vào quê hương, gia tộc, môi trường văn hóa nơi Vũ Tú sinh ra và lớn lên, ta sẽ thấy rõ sự kết hợp giữa truyền thống Kinh Bắc giàu bản sắc với nền học vấn hiện đại đã nuôi dưỡng nên một tâm hồn nghệ sĩ. Chính bối cảnh ấy đã tạo nên một con người vừa gắn bó với cội nguồn dân tộc, vừa có khát vọng mở ra những chân trời sáng tạo mới.
Tìm hiểu thân thế nghệ sĩ thị giác Vũ Tú trong dòng chảy của lịch sử và văn hóa, để thấy rõ Vũ Tú không chỉ là một cá nhân tài hoa mà còn là hiện thân của tinh thần một thế hệ. Những năm tháng học tập và thi đỗ đầu hàng loạt các bài thi của thủ khoa Vũ Tú cho thấy hình ảnh của một triết gia, đồng thời lý giải vì sao con đường nghệ thuật của Vũ Tú luôn gắn với ánh sáng lí trí. Hành trình ấy cho ta thấy rõ sự kết hợp độc đáo giữa trí tuệ và sáng tạo, giữa khoa học tự nhiên và nghệ thuật thị giác, để từ đó định hình nên những tác phẩm mang giá trị lâu dài.
Nghệ sĩ thị giác Vũ Tú sinh ngày 20 tháng 2 năm 1987 tại thôn Ngọc Quan (xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh), làng quê vốn được mệnh danh là “Làng khôi nguyên xứ Bắc”. Đây là một làng quê bình dị xứ Kinh Bắc nhưng giàu truyền thống khoa danh, nơi sản sinh ra nhiều bậc hiền tài có công với đất nước. Từ thời kỳ khoa cử Nho học cho đến hiện đại, mảnh đất này vẫn luôn giữ vững danh hiệu là “cái nôi của những người đỗ đầu”.
Dòng họ Vũ của nghệ sĩ Vũ Tú tại thôn Ngọc Quan có nhiều đời trâm anh, có nhiều danh nhân đã được lưu danh sử sách, chẳng hạn có thể lấy ví dụ:
Vũ Miên giữ chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Tri Lễ phiên, Tể tướng Đại Việt, kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Quốc sử quán Tổng tài dưới triều Lê Trung hưng.
Vũ Chiêu giữ chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Tham đồng, Đề lĩnh Tứ thành quân vụ tại Thăng Long, góp phần giữ yên kinh đô.
Vũ Trinh, giữ chức Tham tri Chính sự (Á tướng Đại Việt), Lại bộ hữu Thị lang kiêm Hình bộ hữu Thị lang, nhà văn hoá lớn nước ta thời Lê mạt-Nguyễn sơ.
Vũ Quyền, nhà giáo dục tiêu biểu nhất thời Nguyễn, đào tạo nhiều học trò trở thành quan lớn phụng sự triều đình.
Vũ Chu, quan đứng đầu tỉnh Thái Nguyên thời Nguyễn, thông gia với chí sĩ Nguyễn Thiện Thuật, đã góp phần vào phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp…
Vẫn còn dấu tích về công ơn của cụ Vũ Xuân (được ban Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Ngự sử đài Thiêm đô ngự sử, tước Triệu Phái Bá) với dân xã về xoá nợ cho dân và bắc cây cầu đá để dân xã đi lại; công lao của Tể tướng Vũ Miên đóng góp của cải xây dựng đình làng; công lao của quan lớn Tiến triều Vũ Chiêu trong việc giúp vua Lê; công lao của Thiên Trường Tri phủ Vũ Tể trong xây dựng quê hương và Văn chỉ; công giúp Khởi nghĩa Bãi Sậy của Phó bảng Vũ Chu…
Như vậy, từ nhiều thế kỷ, gia tộc họ Vũ đã thấm đẫm trong mình cả khoa danh, lòng trung nghĩa và công lao với non sông, đất nước. Sự kết tinh của truyền thống ấy đã hun đúc trong nghệ sĩ Vũ Tú tâm thế của một Khôi nguyên thời hiện đại: vừa tôn trọng cội nguồn, vừa khát vọng cống hiến cho đời.
Ngay từ thuở thiếu thời, Vũ Tú đã bộc lộ trí thông minh sắc bén, niềm say mê khám phá nghệ thuật: anh từng tạo nhiều hình tượng từ đất rồi đem nung khi cha của anh làm gạch, ngói xây dựng. Quá trình học tập của anh luôn gắn liền với những thành tích nổi bật, khiến nhân dân tin tưởng, yêu thương. Bằng sự kiên trì, ý chí và niềm đam mê tri thức, anh đã xứng đáng đạt danh hiệu Thủ khoa hiện đại – một dấu son sáng ngời, trong sự mến phục của bạn bè sinh viên các khoá trong trường Đại học.
Không dừng lại ở danh vị học thuật, nền tảng khoa học tự nhiên mà anh theo đuổi, đặc biệt là ngành Vật lý, đã rèn luyện cho Vũ Tú một tư duy logic, hệ thống và chính xác. Từ đó, anh hình thành thói quen làm việc cẩn trọng, kỹ lưỡng, và sự kiên trì trong nghiên cứu. Đây chính là bước đệm quan trọng để sau này, khi bước vào nghệ thuật, anh biết cách kết hợp khoa học với cảm hứng sáng tạo, tạo nên một con đường rất riêng.
Với Vũ Tú, danh hiệu Thủ khoa hiện đại là trách nhiệm để sống xứng đáng với truyền thống gia tộc và niềm tin của quê hương. Anh chọn cách âm thầm cống hiến, bền bỉ cho hành trình nghệ thuật.
Sau khi tốt nghiệp, thay vì đi theo con đường nghiên cứu khoa học thuần túy, Vũ Tú lại rẽ hướng sang mỹ thuật trên đá và papier-mâché thuộc nhóm nghệ thuật thị giác – một lĩnh vực tưởng như hoàn toàn khác biệt. Nhưng với anh, đó không phải là sự ngẫu nhiên, mà là một hành trình tìm về chính mình.
Trong những khối đá vô tri, anh nhìn thấy hơi thở của thiên nhiên, của thời gian hàng triệu năm. Với đôi tay khéo léo và tâm hồn giàu cảm xúc, anh khắc chạm để biến đá thành hình, biến vô tri thành hữu linh. Anh không xem nghề điêu khắc chỉ là thủ công, mà coi đó như một hình thức cầu nguyện và thiền định: mỗi nhát đục, mỗi đường chạm là một lần trò chuyện với đá, với quá khứ, với chính tâm hồn mình.
Vũ Tú bước vào nghệ thuật với tinh thần của một trí thức và trái tim của một nghệ sĩ đắm say. Anh mang trong mình sứ mệnh dung hòa hai dòng chảy: khoa học và nghệ thuật, truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây. Chính điều đó đã khiến nhiều tạp chí gọi anh là “hoa Trạng nguyên” trong làng điêu khắc đương đại, Khôi nguyên của giới nghệ thuật. Thế nhưng, người nghệ sĩ thị giác Vũ Tú luôn khiêm tốn cho rằng mình là học trò của các nghệ sĩ thị giác huyền thoại của nhân loại Michelangelo, Leonardo da Vinci, và Raphael.
Trong sự nghiệp sáng tạo, Vũ Tú đặc biệt gắn bó với những tác phẩm mang tính tâm linh và biểu tượng nhân văn. Từ những pho tượng Quan Âm Tự Tại, tượng Phật Thích Ca, tượng Chúa Giê-su, hình tượng Công giáo… đến các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng như chậu bonsai đá, hồ nước cảnh, tượng trang trí décor – tất cả đều toát lên tinh thần vừa trang nghiêm vừa giàu thẩm mỹ.
Điểm đặc biệt trong tác phẩm của Vũ Tú là sự hòa quyện giữa vẻ đẹp truyền thống và tư duy hiện đại. Anh không gò bó mình vào một khuôn mẫu, mà luôn tìm cách làm mới hình khối, thổi vào đá hơi thở đương đại. Chính nhờ đó, sản phẩm của anh vừa gần gũi với đời sống, vừa chạm đến tầng sâu tâm linh.
Nhiều tác phẩm của anh được các chùa chiền, nhà thờ, cơ sở tôn giáo và nhà sưu tập mỹ thuật đón nhận, coi như vật phẩm thiêng. Người thưởng lãm nhận ra ở đó không chỉ là tay nghề điêu khắc tinh xảo, mà còn là tâm hồn gửi gắm: một nghệ sĩ biết lắng nghe tiếng nói của đá, và truyền tiếng nói ấy thành ngôn ngữ của nghệ thuật.
Dù tuổi đời còn trẻ, Vũ Tú đã để lại dấu ấn sâu đậm trong giới nghệ thuật. Anh là minh chứng sống động cho quan điểm: khoa học không đối lập với nghệ thuật, trí tuệ không tách rời cảm hứng. Từ một Thủ khoa hiện đại, anh trở thành một nghệ sĩ thị giác – một hành trình tưởng chừng trái ngược nhưng lại thống nhất trong chiều sâu tư tưởng.
Điều làm nên tầm vóc của Vũ Tú không chỉ là tài năng, mà còn là tinh thần khiêm tốn, bền bỉ. Anh chọn cách lặng lẽ sáng tạo trong xưởng đá, không chạy theo ồn ào danh tiếng, mà để chính tác phẩm lên tiếng. Hãy thử quan sát: Nghệ sĩ thị giác, Thủ khoa hiện đại Vũ Tú tuy cùng tuổi với danh hài Trấn Thành nhưng Trấn Thành luôn có mặt trên các trang báo, trong video, trong quảng cáo… còn Vũ Tú vẫn nguyện âm thầm cống hiến và không khoa trương, không ồn ào trên truyền thông. Cái tên Vũ Tú dần trở thành biểu tượng cho một thế hệ nghệ sĩ trẻ Việt Nam: có học vấn rộng sâu, có tâm hồn cao đẹp và có khát vọng phụng sự nghệ thuật.
Trong mắt bạn bè, đồng nghiệp và giới thưởng lãm, anh là “Khôi nguyên của nghệ thuật đương đại”, là đóa hoa Trạng nguyên trong giới điêu khắc. Tạp chí “Chánh pháp” số 165 cho biết: “Nghệ sĩ thị giác Vũ Tú là tinh hoa trí tuệ đồng hành cùng Phật giáo”. Tạp chí “Đạo Phật ngày nay” xem nghệ sĩ Vũ Tú như “đoá sen trắng tinh khôi toả rạng trong các hình tượng Phật giáo”. Nhiều tạp chí đã ghi nhận Nghệ sĩ thị giác Vũ Tú là tấm gương sáng cho các thế hệ đến mai sau.
Hành trình từ một cậu bé yêu mỹ thuật có quê hương ở làng Sen (thôn Ngọc Quan, tỉnh Bắc Ninh); đến Thủ khoa tốt nghiệp Đại học ở lĩnh vực Khoa học; rồi trở thành nghệ sĩ điêu khắc đá: đó là minh chứng cho sự giao hòa kỳ diệu giữa trí tuệ – nghệ thuật – truyền thống – hiện đại. Vũ Tú đã thắp sáng ngọn lửa sáng tạo trên nền tảng gia tộc khoa danh, và biến nó thành một di sản nghệ thuật sống động.
Trong con người Vũ Tú, ta nhìn thấy hình ảnh một Trạng nguyên thời hiện đại: không cầm bút nghiên thi cử như cha ông, mà cầm búa đục, biến đá thành nghệ thuật, thổi hồn vào những khối vật chất vô tri. Và từ đó, anh để lại một thông điệp đẹp: nghệ thuật chính là cách con người đối thoại với thời gian, với tâm linh và với chính cội nguồn của mình.
13/9/2025
Hoàng Dũng
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Nhà văn Mai Văn Tạo - Viết từ tấm lòng sâu nặng để tri ân nguồn cội

Nhà văn Mai Văn Tạo - Viết từ tấm lòng
sâu nặng để tri ân nguồn cội

Vùng đất miền Tây Nam Bộ đã luôn ghi khắc văn nghiệp của các nhà văn kỳ cựu, đưa tên tuổi họ trở thành những nguồn sáng rạng rỡ với những trang viết đậm hồn đất và tình người của xứ sở nơi đây. Có thể kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hầu…; các nhà văn Sơn Nam, Anh Đức, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Lập Em, Phạm Trung Khâu, Lê Đình Trường, Ngô Khắc Tài…; các nhà thơ Thanh Hải, Phạm Hữu Quang, Đinh Thị Thu Vân, Trịnh Bửu Hoài, Thu Nguyệt, Phạm Nguyên Thạch, Ngọc Phượng, Song Hảo…
Nhà văn Mai Văn Tạo
Và càng khó có thể lãng quên một tên tuổi lớn, với nhiều đóng góp ấn tượng và quan trọng cho vùng đất này – đó là nhà văn Mai Văn Tạo. Ông tên thật là Nguyễn Thanh Tân, sinh 15.3.1924 tại xã Vĩnh Tế, tỉnh Châu Đốc cũ (nay thuộc tỉnh An Giang). Nhà văn đã từ giã cõi đời vào ngày 03.7.2002. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, để lại di sản thơ văn gần 30 tác phẩm, in từ Nam chí Bắc. Ông có những tác phẩm đã để lại dư âm, đương thời gây được tiếng vang như các truyện ngắn: “Hoa Lê” (1962), “Đường rừng” (1973), “Bông điệp đỏ” (1975)… Các bút kí, truyện kí: “Núi Sam quê mình”, “Lời ru của Mẹ”, “Lại về quê lụa Tân Châu”, “Làng quê ngày ấy”, “Củ Chi đất thép”, “Em bé sông Hương”… Ông đồng thời còn là soạn giả các vở kịch nói và cải lương, tuồng cổ với bút hiệu Chí Linh. Năm 1999, ông đã cho ra mắt tập tản văn Mai Văn Tạo, với độ dày 300 trang. Nhà văn một thời tham gia chiến đấu trong quân đội, sau làm công tác biên tập tại Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam.
Mai Văn Tạo ghi dấu ấn bởi những trang viết mang đậm hơi thở lịch sử thời đại, nặng tình, gắn với các sắc thái của đời sống quê hương và những vùng đất mà ông đã đi qua, gắn bó. Ông viết văn như là một cách hồi tưởng dòng ký ức, kể lại những câu chuyện giản dị mà lấp lánh những giá trị nhân văn bền chặt, sâu sắc. Ông từng trải lòng: “Lịch sử An Giang đã viết bằng những cuộc đời lận đận, những số phận bi thương, những tâm hồn vĩ đại, bằng máu và nước mắt, bằng những lưỡi gươm và cây súng thô sơ. Tới bây giờ tôi được vinh hạnh viết cuộc đời của mẹ – Người mẹ An Giang – bằng cây bút. Hạnh phúc cho người cầm bút biết bao…” (SGK Ngữ văn lớp 7, NXB Giáo Dục 2007). Đọc những dòng viết chân thật gợi thương cảm ấy, nhà báo Lê Phú Khải đã phải bật lời thảng thốt ngợi ca: “Riêng tôi, chưa thấy có người cầm bút nào lại nặng tình quê hương như ông Tạo”. Tấm hình Núi Sam được phóng to, lồng khung kính trang trọng trong nhà ông ở giữa chợ Tân Định (Sài Gòn cũ) là minh chứng rõ nét nhất.
“Tôi muốn thấy lại ánh lửa đồng những đêm Đức Cố quản Trần Văn Thành luyện tập nghĩa quân Láng Cháy – Bãi Thưa. Tôi đã về Hồ Đá, An Định, Thới Sơn… tìm những lùm bụi nào các chí sĩ Cần Vương hội tụ, chỗ nào Cử Tri ngồi vắt óc làm thơ, Nguyễn Thông dạy học, Bùi Hữu Nghĩa trấn đồn… Về Mỹ Luông ngắm cột dây thép ông Đỏ treo cờ năm 1940… Qua Kiến An nhìn tận mắt lò rèn của bác thợ Gộc rèn gươm khởi nghĩa… Trờ lại cầu sắt Vĩnh Thông nhìn lại chiến trường xưa…” (Đất quê hương, 1979)
Niềm ao ước của nhà văn thật đẹp, cao cả biết bao. Một cách sống ân nghĩa đáng cho người đời sau trân quý. Nhà văn như sống giàu tình nặng nghĩa với những trang sử vàng hào hùng của các ông cha thuở trước. Với tấm lòng yêu nước thương dân, yêu làng quê xứ sở, các bậc nghĩa sĩ xưa đã dấn thân vào bao cuộc chiến đầy nỗi can qua, nhọc nhằn, hòa lẫn máu và nước mắt để bảo vệ bờ cõi quê hương, giữ gìn lòng nhân và chính nghĩa. Những danh sĩ, những địa danh bi hùng xưa cũ, ông đã cất công truy tìm đến “gốc rể lẫn ngọn ngành”.
“Tôi tha thiết muốn biết triền đá nào chí sĩ can trường Trương Gia Mô đã từ ngọn tháp rơi xuống tuẫn tiết, không thể sa vào tay giặc Pháp… Tôi hiểu được thêm rằng Phật Thầy chùa Tây An là nhà chí sĩ bản lĩnh mượn chiếc áo nhà tu che mắt kẻ thù…”
Hơn thế nữa, nhà văn còn bộc bạch tâm sự khi đất nước chưa được hòa bình. – “Tôi lững thững đi vào đường phố Châu Đốc, Long Xuyên như một con người nhàm chán mảnh đất đang đi – bóng núi làng xưa phía trước…”. Dòng tùy bút là nỗi suy tư miên man của một mảnh hồn nặng nợ với quê hương xứ sở, bản quán cội nguồn. Có lẽ nơi nhân vật “tôi” sinh ra – đất mẹ đã hóa thân thành một linh hồn cất tiếng nói, đang dõi theo từng rung cảm trái tim nơi ông.
Nhà văn Mai Văn Tạo sinh ra và lớn lên trong ngôi làng vùng biên viễn Vĩnh Tế. Bà con, chòm xóm miền sơn cước xứ Học Lĩnh Sơn – Vĩnh Tế Sơn thân thiết với ông từ tên gọi “ở nhà” rất mộc: “Chín Giỏi”. Cả làng ông Chín ấy đã cuộn chảy lớn lên từ dòng sữa Vĩnh Tế ngọt lịm, ấm nồng. Từ nhịp đập háo hức, rực lứa của trái tim ông mới sản sinh được những lời văn chân mộc, thiết tha, đằm thắm làm về tình quê, tình người của làng mình, của vùng biên giới cực Nam Tổ quốc đầy sâu nặng, thân thương. Điều đó còn lắng sâu trong bài ca vọng cổ nổi tiếng của soạn giả Chí Linh -“Quê Mẹ An Giang”, đã để lại dấu ấn đậm đà hương vị đồng quê, cho những đứa con đã ra đi biệt xứ, những mảnh đời trôi sông, lạc bến nơi chợ lạ xứ xa đêm ngày khắc khoải. Thêm một vùng đất được định danh trong cõi chữ miên man của hoài niệm ký ức. Một vẻ đẹp lấp lánh rất riêng giữa trăm miền quê hương của Tổ quốc…
Các lớp học trò ngày trước, đã học qua chương trình bộ môn Quốc văn lớp 7 đều biết đến tác phẩm Mai Văn Tạo, qua thể tài tản văn và các đoạn trích dẫn từ bút kí của ông. Đó là những trang viết về “An Giang quê tôi”, “Ký ức một miền quê”, “An Giang – tình sâu nghĩa nặng”….Trong ông luôn phảng phất niềm tự hào về “cái đẹp, cái lớn của quê mình”, qua bút pháp tả cảnh gợi sự tâm tình, giàu biểu cảm. Như sự hiện diện của dòng sông Vĩnh Tế, khung cảnh quê hương đối với người dân bản xứ, đã được ông ghi lại: “Tuổi thơ tôi hằn sâu trong ký ức những ngọn núi trông xa lấp lánh như kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng như cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi những dòng sông quê mênh mông vẫn cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa. Tôi yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya. Tôi yêu cây gáo mồ côi, cây gáo đôi im lìm xa xăm ngoài đồng bãi…”. Với điệp khúc “Tôi yêu…Tôi yêu …” như một lối văn vừa kể, vừa tỏ bày. Tất cả tạo điểm nhấn tư tưởng, làm điểm tựa cho cảm xúc tuôn trào một niềm yêu quý quê hương xứ sở đầy chất chứa. Văn ông đậm đà sắc thái tự sự trữ tình, nhẹ nhàng mà cứ da diết trĩu nặng tâm hồn. Kỷ niệm vui buồn tuổi ấu thơ, khung cảnh quê nhà tĩnh lặng đơn sơ, mộc mạc, mỹ quan của sắc màu đá núi được đặt trong tâm cảnh, nhà văn đã dẫn dắt bạn đọc đi từ biểu đạt trực tiếp đến truyền tải những tâm tình gián tiếp, giàu sức gợi những cung bậc cảm xúc, tình cảm. Từ kỷ niệm của hồi ức đi đến tâm tình và mong ước những chuyến đi điền dã “tự nguyện” về những nơi vùng đất lịch sử, con người kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm:
“An Giang từ bao đời đến bây giờ là đất nóng, là bãi chiến trường. Bờ cõi An Giang đời này sang đời khác luôn bị xâm lăng và đẫm máu… Tôi thèm được leo lên Pháo Đài tìm lại phiến đá nào đã in dấu chân Hoàng Đạo Cật, cùng các đồng đội, đồng chí của anh…” Tôi muốn tìm lại vang bóng con người đến phút cuối đời còn làm cho giặc khiếp sợ mà nhà cách mạng Phan Bội Châu nghe tin đã khóc…”
Từ truyền thống đấu tranh can trường của đồng bào mình – khoảnh khắc sống và trở về giữa vùng đất quê hương chịu nhiều bom đạn, giờ đã ngời rạng nét hòa bình an lạc, tác giả bày tỏ niềm xúc cảm nhớ nhung, tự hào khi quay về quê cũ, cảm thấy quê hương mình đẹp hơn lúc ra đi. Những nỗi niềm cảm, tưởng sâu thẳm trước thời gian, trước đất mẹ…
Đọc Mai Văn Tạo ta cảm nhận được tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của nhà văn đối với từng tất đất quê hương… Một giọng văn đằm thắm, gợi cảm sâu sắc. Sức hấp dẫn của văn Mai Văn Tạo đến giọng điệu trữ tình, những quan sát tinh tế, chọn lọc và chân thực. Mỗi lời văn thủ thỉ, thiết tha với cả tâm tình, hồn quê len lỏi qua mỗi nhịp đập con tim, khối óc và nơi con chữ tượng hình. Nơi ấy, đã được ông định danh như “lẽ sống” đời mình. Ông muốn mang theo quê hương trên mỗi bước hành trình. Để vừa đi, vừa sống mà không xa nguồn cội, luôn thủy chung nhất quán với tình đất, tình người quê hương.
15/9/2025
Trần Quang Khanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Hình ảnh người phụ nữ Nam bộ qua trang văn Đoàn Giỏi

Hình ảnh người phụ nữ Nam bộ
qua trang văn Đoàn Giỏi

Đọc nhiều tác phẩm của Đoàn Giỏi, độc giả không khó nhận ra hình ảnh người phụ nữ Nam bộ hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, mạnh mẽ, thủy chung và giàu tình thương.
Hồi ký “Từ đất Tiền Giang” của bà Nguyễn Thị Thập – nguyên Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam do nhà văn Đoàn Giỏi chấp bút
Sáng 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM diễn ra tọa đàm về cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Đoàn Giỏi nhân 100 năm ngày sinh của ông. Sự kiện do Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TPHCM, Hội Nhà văn TPHCM phối hợp tổ chức.
Tham gia tọa đàm có nhiều tên tuổi trong giới văn học, nghệ thuật như Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM Bích Ngân, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM Trầm Hương, đạo diễn phim truyền hình Đất phương Nam Nguyễn Vinh Sơn, nhà văn Đoàn Minh Tuấn…
Phát biểu tại buổi tọa đàm về cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Đoàn Giỏi, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói trong “Đất rừng phương Nam”, Đoàn Giỏi đã dựng lên một bức tranh văn hóa sống động của vùng đất Nam bộ
Dấu ấn phụ nữ Nam bộ trong văn Đoàn Giỏi
Chia sẻ tại tọa đàm, nhà văn Đoàn Minh Tuấn cho biết: Những năm tháng tập kết ra Bắc và cùng công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, ông có rất nhiều kỷ niệm gắn bó cùng Đoàn Giỏi cả trong sáng tác lẫn trong cuộc sống đời thường. Trong ký ức của nhà văn Đoàn Minh Tuấn, Đoàn Giỏi là một cây bút tài hoa của vùng đất Nam bộ và là một nhân cách hiếm có: Thẳng thắn, trọng nghĩa tình và hết mực tôn trọng phụ nữ.
“Tôi nhớ về anh Đoàn Giỏi với ấn tượng là một con người Nam bộ thẳng tính, giàu nghĩa khí, trọng tình cảm và hết mực tôn trọng những người phụ nữ. Anh và vợ sống với nhau hạnh phúc, giản dị vì anh coi trọng gia đình vô cùng. Đối với những người bạn văn, bạn thơ nữ, anh luôn trân trọng, khi gặp họ, dù lớn hay nhỏ, anh đều nghiêm trang cúi chào”, nhà văn Đoàn Minh Tuấn bộc bạch.
Nhà văn Đoàn Minh Tuấn cầm cuốn sách “Đất rừng phương Nam”, tác phẩm nổi tiếng bậc nhất sự nghiệp của người anh thân thiết Đoàn Giỏi
Trong lao động sáng tạo, nhiều bạn văn của Đoàn Giỏi cho rằng nhà văn vùng đất Tiền Giang rất nghiêm cẩn. Trước khi viết, nhà văn Đoàn Giỏi hay thắp một nén nhang, như để nhắc mình đang đứng trước trách nhiệm với tiền nhân, với quê hương và với độc giả.
“Viết văn với anh là lẽ sống đến tận cuối đời. Có lần, anh chèo thuyền vào ban đêm dọc các sông, cầm đèn pin để đi soi tìm từng con còng, cá kèo để có tư liệu viết. Bởi thế, trong các tác phẩm của anh, hình tượng những con vật luôn hiện lên với một thế giới sống động. Đó là cả một hệ sinh thái trù phú của vùng đất Nam bộ”, nhà văn Đoàn Minh Tuấn nhớ lại.
Đọc nhiều tác phẩm của Đoàn Giỏi, độc giả không khó nhận ra hình ảnh người phụ nữ Nam bộ hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, mạnh mẽ, thủy chung và giàu tình thương. Như ở Đất rừng phương Nam, ông xây dựng nhân vật dì Tư Béo chất phác, thiện lương, sẵn sàng cưu mang An, cậu bé phải trôi dạt đến nhiều vùng đất trong hành trình tìm cha thời chiến tranh.
Hay những người mẹ, người vợ trong kháng chiến, tần tảo lo bữa ăn, thuốc men, rồi âm thầm tiễn chồng con ra chiến trường. Dù không phải nhân vật trung tâm nhưng họ nổi bật lên với tinh thần hậu phương vững chắc, hy sinh thầm lặng để nuôi dưỡng cách mạng.
Hình ảnh Cố Chủ tịch Hội LHPN Nguyễn Thị Thập trong hồi ký “Từ đất Tiền Giang”
Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM Trầm Hương cho biết: Trong hành trình tìm hiểu về sự nghiệp văn chương của nhà văn Đoàn Giỏi, người ta không thấy Từ đất Tiền Giang nằm trong danh mục tác phẩm quen thuộc của ông. Tuy nhiên, đây lại là cuốn hồi ký về một nhân vật đặc biệt trong lịch sử – bà Nguyễn Thị Thập, mà Đoàn Giỏi ở vai trò người ghi chép, chấp bút đã làm rất tốt.
Bà Nguyễn Thị Thập là nữ Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa đầu tiên và là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam qua hai kỳ đại hội thứ 2 và thứ 3 (1956-1974). Bà cũng là phụ nữ đầu tiên được nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Sao Vàng (1985). Cùng năm, bà cũng nhận danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Là thành viên Tổ Sử Phụ nữ Nam Bộ, bà đã dành phần cuối đời cho việc sáng lập và xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, cùng với một số cán bộ phụ nữ lão thành khác như Ngô Thị Huệ, Nguyễn Thị Lựu, Trương Thị Thu, Hồ Thị Bi, Nguyễn Thị Ráo…
“Khi ấy, các dì trong Tổ Sử đã ấp ủ ước nguyện có một cuốn sách xứng đáng về người chị cả của những phong trào phụ nữ một thời. Họ đã đặc biệt chọn nhà văn Đoàn Giỏi để chấp bút hồi ký, mời ông về, tạo điều kiện gặp gỡ bà Nguyễn Thị Thập để viết. Dù những năm ấy, Bảo tàng mới phôi thai, các dì cũng ưu ái gửi nhà văn thù lao hậu hĩnh. Nhờ vậy, “Từ đất Tiền Giang” thuận lợi ra đời”, nhà văn Trầm Hương, cựu cán bộ Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ cho biết.
Càng đọc hồi ký Từ đất Tiền Giang, nhà văn Trầm Hương càng khâm phục việc các dì đã khéo chọn mặt gửi vàng để ký thác nhà văn Đoàn Giỏi viết hồi ký cho bà Nguyễn Thị Thập.
“Nhân vật tầm cỡ, chuyện kể phong phú lồng vào dòng chảy lịch sử, cảnh trí sông nước Nam bộ để bật lên hào khí Khởi nghĩa Nam Kỳ. Tôi nghĩ, đã từng trải qua những ngày đầu Cách mạng tháng Tám; hiểu những vi tế lịch sử nên chỉ nhà văn Đoàn Giỏi mới có thể chuyển tải được nội tâm của dì Mười Thập khi đứng trước những ngã rẽ của lịch sử. Chỉ nhà văn Đoàn Giỏi đậm chất Nam bộ mới dám viết hồi ký với những chi tiết chân thật và sống động, như đoạn kể quá trình bà Nguyễn Thị Thập xuyên rừng, vượt biển trong chuyến đi họp Quốc hội khóa đầu tiên như thế nào. Chỉ nhà văn Đoàn Giỏi mới hiểu được sự bất khuất của người phụ nữ Nam bộ…”, nhà văn Trầm Hương phân tích.
16/9/2025
Trần Hồ Lam
Nguồn: Phụ nữ Việt Nam
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Nhiều nhà văn ngày nay đang đánh mất đi vẻ đẹp của Đoàn Giỏi, Sơn Nam

Nhiều nhà văn ngày nay đang đánh mất đi
vẻ đẹp của Đoàn Giỏi, Sơn Nam…

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhìn nhận nhiều nhà văn thời hiện đại đang đánh mất đi rất nhiều những vẻ đẹp quyền lực của những Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng… đã làm được trước đây.
Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TPHCM cùng Hội Nhà văn TPHCM vừa tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Đoàn Giỏi (1925 – 2025).
Sự kiện quy tụ đông đảo nhà văn, nhà nghiên cứu, bạn đọc nhiều thế hệ để tưởng nhớ và tri ân 1 trong những cây bút lớn của nền văn học Nam Bộ.
Phát biểu khai mạc sự kiện, nhà văn Trịnh Bích Ngân – Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM cho biết Đoàn Giỏi là nhà văn Nam Bộ tiêu biểu luôn xem thiên nhiên là một đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn chương.
Ông gắn kết thiên nhiên và con người thành một chỉnh thể thống nhất. Trong mỗi trang văn Đoàn Giỏi, sự được mất của thiên nhiên chính là sự thành bại của con người.
“Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Đoàn Giỏi, một lần nữa, độc giả mộ điệu và thế hệ cầm bút nối tiếp ông càng nhận rõ thêm tình yêu mà ông dành cho vùng đất phương Nam”, bà phát biểu.
Về mặt con người, cố nhà văn sống chân chính trong cách ăn ở và thái độ đối với quê hương, đất nước.
Di sản thứ 2 của ông là chữ – được rất nhiều người biết và đọc, nghiên cứu trong nhiều năm qua.
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá nhiều nhà văn ngày nay đang đánh mất đi vẻ đẹp của các thế hệ Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng… đã làm được.
Ông Thiều nhớ mãi khi còn là 1 cậu bé đã say mê đọc tác phẩm Đất rừng phương Nam, từ đó dành sự kính trọng từng con chữ và tinh thần nhà văn gửi gắm vào tác phẩm.
“Khi ở tuổi ngoài 60, tôi tìm đọc lại tác phẩm, cảm giác kỳ vĩ, lạ lùng của thiên nhiên Nam Bộ vẫn vẹn nguyên”, ông kể.
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá từ vùng miền phương Nam, nhà văn Đoàn Giỏi đã dựng nên 1 vùng văn hóa đặc sắc, với những con người trung thực, kiêu hãnh, ngang tàng và đẹp đẽ, tạo ấn tượng khó phai trong nhiều thế hệ độc giả.
Theo ông Thiều, việc tổ chức lễ kỷ niệm không phải chỉ để nhớ về 1 con người, mà là 1 sự kiện để xác lập 1 lần nữa vị thế của văn chương, thế hệ của các nhà văn trong thời hiện đại.
Dẫu vậy, ông Thiều đánh giá thái độ của các nhà văn trong thời hiện đại đang đánh mất đi rất nhiều những vẻ đẹp quyền lực của thế hệ Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng… đã làm được trước đây.
Ông cho rằng mỗi nhà văn nên tự đặt câu hỏi về thái độ, trách nhiệm rằng bản thân đã sống và viết được như các thế hệ tiền bối hay chưa?
Với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Quang Thiều nhìn nhận ông và Hội đang làm tất cả để mang ơn các thế hệ nhà văn đi trước. Bởi lẽ ông quan niệm “Sự vô ơn là hành động tồi tệ nhất của 1 kẻ đang sống”. 
Mặt khác, hành trình văn chương 50 năm qua cũng nhiều sự thay đổi. Ở đó dần xuất hiện nguy cơ về sự vô ơn từ chính những người cầm bút.
“Với tư cách 1 nhà quản lý, nhà văn và bạn đọc, tôi nhận thấy chính nhà văn mới là các vật cản đối với sự phát triển của văn học Việt Nam, từ thái độ sống và cầm bút của họ”, ông Thiều nhìn nhận.
Buổi tọa đàm về cuộc đời, sự nghiệp nhà văn Đoàn Giỏi với các tham luận của PGS.TS Võ Văn Nhơn (ảnh), Tiến sĩ Hà Thanh Vân, Lưu Hồng Sơn, Trầm Hương… được diễn ra trong khuôn khổ sự kiện.
Nhà văn Đoàn Giỏi tên thật là Đoàn Văn Hòa, sinh ngày 17/5/1925 tại Tân Hiệp, Châu Thành, Tiền Giang (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Ông từng theo học Trường Mỹ thuật Gia Định nhưng sau đó chọn con đường văn chương.
Truyện ngắn đầu tay Nhớ cố hương của ông được đăng năm 1943 trên Nam Kỳ tuần báo. Trong suốt sự nghiệp, Đoàn Giỏi đã để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Đường về gia hương (truyện, 1948), Cá bống mú (truyện, 1956), Ngọn tầm vông (truyện, ký, 1956),  Khí hùng đất nước (ký, 1948) Những dòng chữ máu Nam kỳ 1940 (ký, 1948)…
Trong đó tác phẩm nổi bật nhất của ông là tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, được coi là bức tranh toàn vẹn về thiên nhiên và con người Nam Bộ.
16/9/2025
Tuấn Chiêu
Nguồn: Vietnamnet
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất

Nguyễn Trọng Luân và Đi tìm thời gian đã mất… Trong “10 truyện ngắn hay năm 2020” (Phụ bản số Tết Tân Sửu Báo Văn Nghệ) nhà văn Nguyễn Trọ...