Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024
Nhà văn Nguyễn Minh Châu: Tên thực ứng với đời thực
Nhà văn Nguyễn Minh Châu:
Trái ngược với cái tên Minh Châu “đẹp như mộng”, thuở mới lọt lòng, nhà văn tài năng của chúng ta đã được các cụ thân sinh đặt cho cái tên thậm xấu: Nguyễn Thí. Vâng, Nguyễn Thí, vì đó là đứa con “thêm nếm” (tức con út) mà các cụ được Trời Phật ban cho.
Nhà văn Trang Thế Hy gió đưa gió đẩy
Nhà văn Trang Thế Hy
gió đưa gió đẩy
“Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua”
(Ca dao)
“Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu (vĩnh biệt)”.
Ông nói, giọng ngùi ngùi. Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng
hẫng như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những
cú hẫng những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ
nghe lại đọc lại cũng khiến tôi ngùi ngùi…
Về nhà văn Trang Thế Hy, Từ điển văn học (bộ mới)
viết: “Trang Thế Hy chuyên viết truyện ngắn và ký. Những tập truyện ký đã xuất
bản: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người
yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (1989), Tiếng
khóc và tiếng hát (1993). Tác phẩm mới nhất, có thể coi như một tuyển tập
của ông: Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001)”. Và từ điển
trích một câu trong một truyện ngắn của Trang Thế Hy để nói về quan niệm nghệ
thuật của chính tác giả: “Tôi nghe đó (từ câu chuyện của chị bán thuốc lá)
là lời răn dạy rất nghiêm có giá trị thức tỉnh cao của một hiện thực đau buồn
nhắc nhở người cầm bút đừng bao giờ đánh mất cái điểm tựa đáng tin cậy của mình
là nỗi đau khổ lớn của số đông thầm lặng”.
Sinh năm 1924, Trang Thế Hy đã tham gia hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ. Hiện sống tại quê nhà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
***
Có thể nói cả đời Trang Thế Hy thuận theo những con “gió đưa
gió đẩy”. Gọi những con gió ấy là số phận cũng được, mà gọi là sự tình cờ vô
thường cũng xong! Nghe nói, hồi ở chiến khu miền Đông Nam Bộ, Trang Thế Hy luôn
thủ sẵn vài trăm… lưỡi câu để sẵn sàng giăng câu kiếm cá, hay ông có biệt tài bắt…
nhái băm chả, câu rắn mối, biến những điều không thể thành có thể, viết chầm chậm
những câu văn trong khi chờ mấy gã chuột sa bẫy trong những đêm rừng lạnh. Ngày
đó, tôi ở bên binh vận cùng Lưu Kiểng Xuân – một nhà văn đặc Nam Bộ quê Cần Giuộc,
Long An. Tư Xuân vốn là trung úy lái trực thăng của quân đội Sài Gòn, nhưng là
cơ sở cách mạng ở nội thành, là cộng tác viên của nhóm Tin Văn – tên một tờ tạp
chí văn nghệ thiên tả, có liên hệ với cách mạng. Tư Xuân sau đó đã lên chiến
khu,viết truyện và bút ký có nhân vật là lính Sài Gòn, nên được đưa về ban
tuyên truyền binh vận. Còn tôi chỉ là anh sinh viên mới tốt nghiệp ở Hà Nội,
vào bộ đội chưa lâu, cũng làm tuyên truyền binh vận cho đài phát thanh, rồi đi
B2, rồi về ban binh vận, rồi…
Chúng tôi chơi với nhau do có chút máu văn chương, và mỗi lần,
khi chuyện trò về văn học, bao giờ Tư Xuân cũng léo vào cái tên Trang Thế Hy dưới
biệt danh thân mật là Tư Sâm: “Tui khoái cha Tư Sâm này, văn chả kỹ mà sâu, lại
đúng giọng Nam Bộ!” Dù chưa gặp Trang Thế Hy, cũng chưa có may mắn đọc văn ông
– trong rừng mấy thứ văn chương còn hiếm hơn cả chuột hay rắn mối – nhưng tôi tự
nhiên có cảm tình với Trang Thế Hy từ đó. Qua Tư Xuân, tôi còn biết Tư Sâm là
người có “hoàn cảnh” có tâm trạng và nhiều lúc rất buồn, cô đơn nữa.Như thế lại
giống Tư Xuân và tôi. Có một lần, Tư Xuân rủ tôi đi sang cứ của ban
văn n ghệ R chơi, thăm Tư Sâm. Tiếc thay, lần đó khi chúng tôi mất nửa ngày trời
băng qua những trảng cỏ voi và rừng dầu đến với Tư Sâm, thì ông lại đi công tác
chiến trường, không có ở cứ. Hai chúng tôi được Anh Đức tiếp tại nhà, đãi
một bữa cơm có thịt hẳn một con gà – điều quá hiếm ở rừng hồi ấy. Thôi thì ông
anh Tư Sâm cũng xá cho, tôi với Tư Xuân chẳng qua cũng “gió đưa gió đẩy về cứ ăn…
gà” chứ chúng tôi không cố ý. Hôm đó, trở về qua trảng cỏ voi, và tôi viết được
bài thơ “Những dấu chân qua trảng cỏ”. Âu cũng là cái duyên với Trang Thế Hy, dẫu
chưa gặp được ông, nhưng nhờ chuyến thăm hụt ông mà lận lưng được bài thơ không
đến nỗi nào, vậy là ấm bụng! Cách đây mấy năm, khi gửi tặng tôi tuyển tập truyện
ngắn “Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác” – Lão nhà văn Trang Thế Hy đề tặng: “Tặng
Thanh Thảo, người trở về vùng Tháp Chàm còn để lại ở rừng già phương Nam những
“dấu chân trên trảng cỏ”. Một lời đề tặng vừa tình cảm vừa “kỹ”- đúng văn chất
Trang Thế Hy.
Hoá ra ở đời vẫn có những tương hợp tình cờ như thế, “gió đưa
gió đẩy” chúng tôi qua những cánh rừng miền Đông những bưng biền Đồng Tháp để
cuối cùng, dù người về Bến Tre “đứng như bóng dừa”, kẻ trở lại quê nhà miền
Trung nương bóng Tháp Chàm, ăn don và cả ăn đòn, chúng tôi lại gặp nhau… ăn
cua. Vâng, ăn cua cốm. Ngay tại thị xã Bến Tre, sát mé sông Hàm Luông hẳn
hoi. Tôi, nhà thơ Chim Trắng với nhà giáo dạy văn Nguyễn Tấn Huy từ
Sài Gòn về Bến Tre thăm lão trượng Trang Thế Hy. Chim Trắng đã ngót 70 mà tay lái còn
“lụa” lắm! Nghe nói ở quê tôi có ông chủ tịch ít tuổi hơn Chim Trắng nhưng mới
về hưu, nhớ tiếc một thời vàng son oanh liệt nên “Buổi sáng ông mặc áo đi
giày ra đứng ngoài đường”… chờ xe, kết luận theo thơ Trần Vàng Sao thì ông là “một
người yêu nước mình”. Đứng chờ xe, dẫu xe không đến, là còn muốn làm việc, là
còn “yêu nước mình”, chứ sao! Chim Trắng cười ngất, nói là anh sẵn sàng ra
Trung lái xe hầu “một người yêu nước mình” ấy. Anh vốn hâm mộ những người yêu
nước.
Chúng tôi ăn cua cốm, thứ cua hai da vừa lột
chưa lâu, có gạch béo và mềm, hạp với răng cỏ lão nhà văn. Lỗ Tấn có biệt
tài là viết nhấn, mỗi câu văn là một con sóng, con sau cao hơn, mạnh hơn con
trước. Chekhov thú nhận là mình không thật đam mê trong bất cứ việc gì, cả
làm thuốc và viết văn. Tôi nói với Nguyễn Quang Sáng, anh viết về tôi
đúng cả, chỉ có cái này là sai: Trang Thế Hy quyết sống chết với văn chương.
Không có đâu! Tôi chỉ dám là “người tình thoáng chốc” của văn chương thôi. Tôi
không ăn thua đủ về bất cứ cái gì. Đó là cái dở nhất của tôi. Kể cả giải thưởng
mà người ta định trao cho ông rồi… thôi? Ừ, cả giải thưởng. Nhưng tôi phải
thú nhận là tôi có sốc nhẹ, vì khi nghe thông báo cứ như đã “được rồi”, tôi lỡ
dại khoe với mấy người bà con nghèo, là Tư Sâm sắp khá, có món tiền to, sẽ biếu
mấy anh em chút đỉnh tiêu chơi. Nào ngờ. Coi như tôi nói dối họ. Không nói
dối đâu, anh Tư, nhưng là nói chưa thành sự thật. Quán ăn Trương Ký, lão nhà
văn khẽ khàng gắp miếng cá chẽm kho ngót (kho ngọt) có để chanh, chiêu ngụm rượu
vang trắng Alsace chánh hiệu mà Chim Trắng mang từ Sài Gòn xuống. Lỗ Tấn
nói “nhà văn như con bò ăn cỏ khô rơm khô nhưng phải cho đời sữa tươi”. Tôi đế: Cá
chẽm với vang Pháp cũng là cỏ khô sao anh Tư? Lão nhà
văn cười mỉm mỉm. Ở đời, như Gorki phân loại, thì có hai kiểu chết: một là
cháy bùng lên, hai là mục rã. Tôi thuộc loại thứ 2. Nhưng cố gắng làm sao mục
rã coi cho được. Kể cả bùng cháy, cũng đừng bùng cháy khó coi, phải hôn anh Tư?
Lại cười mỉm mỉm. Cua cốm này ăn đậm, cua cũng phải tới kỳ, ăn mới ngon, nữa
là văn chương. Trang Thế Hy đeo bên thắt lưng một điện thoại loại xịn nhất, dường
như có kết nối toàn cầu, màu bạc sáng loáng. Thỉnh thoảng ông lại móc điện thoại,
mở nắp, chiêu một ngụm. Một ngụm thông tin toàn cầu? Rượu này tôi đặt
riêng, nấu bằng nếp, uống thử coi, ngon hơn rượu Tây đó! Chúng tôi cứ trò
chuyện lai rai không đâu vào đâu. Bóng tối len nhẹ vào quán trên những bước
chân mèo, và trong ánh chập chờn, mắt ông lão nhà văn lấp láy. Người như thế có
khi biết mà không nói, có khi nói nửa câu những gì mình nghiền ngẫm trọn đời. Nửa
câu còn lại, để gió sông Hàm Luông giải quyết.
Hồi trưa, lúc ngồi với Trang Thế Hy trong vườn dừa nhà ông,
tôi để ý vườn dừa nhà bên có những miếng thiếc trơn bề rộng độ 3 tấc bao quanh
thân dừa. Ngạc nhiên tôi hỏi, lão nhà văn cho biết, đó là cách ngăn chuột ăn dừa. Chuột
dừa ở xứ cù lao này răng sắc và chịu khó lao động. Chúng phải gặm xuyên
qua vỏ dừa, xuyên cả gáo dừa mới ăn được cơm dừa. Ăn cơm dừa nhưng không uống
nước dừa, mà chỉ uống nước mương. Nên chúng phải trèo lên leo xuống. Những miếng
thiếc kia khác nào những “cột mỡ” đối với chúng. Xuống cũng té “bịch”, mà lên
cũng té “bịch”. Nhưng tôi không có tiền bao thiếc quanh thân dừa nhà mình,
mỗi miếng thiếc tới 30 nghìn đồng lận. Nghĩa là vì nghèo mà ông có
tình thử đạo? Tôi chọc. Tôi bây giờ “đêm nghe dừa rụng ngày nhìn
chuột rơi”, kể cả dừa và chuột hàng xóm. Những tiếng rơi ấy, nghe buồn lắm. Tôi
nhìn dáng ông lão lầm lũi đi con đường đất lầy lội dọc bờ mương về nhà mình,
lúc chúng tôi chia tay nhau. Biết đâu au revoir (tạm biệt) chẳng là adieu
(vĩnh biệt). Ông nói, giọng ngùi ngùi.
Lần đầu tiên sau 24 giờ gặp nhau, tôi nghe một thoáng hẫng
như đã từng đọc “những ổ gà không khí” có rất nhiều trong văn ông. Những cú hẫng
những ổ gà những khoảng lặng như thế trong văn Trang Thế Hy bao giờ nghe lại đọc
lại cũng khiến tôi ngùi ngùi. Ông đã 83 tuổi, cầu Rạch Miễu mới làm xong, nhưng
đoạn đường vô nhà ông vẫn sình lầy. Bao giờ? Vâng, bao giờ chúng tôi gặp lại
nhau?.
8/10/2019
Thanh Thảo
Theo https://vanhocsaigon.com/
Chàng kỹ sư yêu biển viết văn Trương Anh Quốc
Chàng kỹ sư yêu biển
viết văn Trương Anh Quốc
Trương Anh Quốc là một trong những người bạn có nhiều gắn bó
với Phú Yên trong các hoạt động văn học. Sinh trưởng ở Quế Sơn, Quảng Nam, anh
tốt nghiệp kỹ sư điện Trường Hàng hải, định cư tại TP Hồ Chí Minh, làm việc
trong ngành vận tải biển và dầu khí. Biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn
là tình yêu, nguồn cảm hứng cho chàng kỹ sư trẻ sáng tác văn học mà mới nhất là
tiểu thuyết du ký độc đáo “Sóng” do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2019.
Tiểu thuyết du ký là thể loại hiếm thấy trong văn học Việt
Nam và thế giới. Và có lẽ “Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc là tiểu thuyết du
ký biển đầu tiên của nước ta. Tác phẩm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nghề đi
biển của các thủy thủ và nhân viên tàu viễn dương, một nghề vốn rất quyến rũ
nhưng cũng đầy khó nhọc và còn xa lạ với nhiều người. Đồng thời “Sóng” còn mang
lại những kiến thức, vẻ đẹp của các vùng biển, vùng đất, con người ở nhiều nơi
trên thế giới mà tác giả đặt chân tới bằng góc nhìn, cảm nhận tinh tế riêng biệt.
Chính những điều trên, tiểu thuyết du ký “Sóng” lôi cuốn sự
tò mò của bạn đọc, nhất là giới trẻ thích xê dịch khám phá. Ngoài ra, theo nhà
văn Trương Anh Quốc: “Viết “Sóng” mình chọn lối viết nhẹ nhàng, không tập trung
vào xây dựng cốt truyện với tuyến nhân vật xung đột mâu thuẫn rồi đi tìm cách gỡ,
mình chú trọng đến nét mới lạ của văn hóa vùng miền của bước chân nhân vật du
hành bằng đường biển trải qua. Đi bằng đường biển sẽ có sự thú vị riêng, dưới
đôi mắt của nhân vật – người đi biển sẽ có cách nhìn khác qua một lăng kính
khác, nhất định sẽ khác với lăng kính của người du hành bằng đường hàng không
hay đường bộ, đường sắt. Góc nhìn từ ngoài biển vào bờ, có cả sự mong ngóng,
trìu mến và bao dung”.
Trương Anh Quốc xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm trước và
nhanh chóng gặt hái thành công. Anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn “Sóng biển
rì rào”, “Lũ đầu mùa”, “Hợp đồng chiều thứ bảy” cùng một tiểu thuyết “Biển” và
bây giờ là “Sóng”. Anh cũng được trao những giải thưởng có giá trị: Giải nhì
Văn học tuổi 20 lần 3 và Giải nhất Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ phối hợp Hội
Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức, giải các cuộc thi truyện ngắn của báo Sài
Gòn Giải Phóng, tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.
Trong số 5 tác phẩm đã xuất bản của Trương Anh Quốc thì có 3
tập viết thuần về biển là tập truyện ngắn đầu tay “Sóng biển rì rào”, 2 tiểu
thuyết “Biển” và “Sóng”. Có thể nói biển đã mang lại nguồn cảm hứng lớn lao,
giúp cho chàng kỹ sư trẻ sớm tự phát hiện và chọn cho mình con đường riêng để
bước vào thế giới văn chương. Như lời tâm sự của anh: “Có lẽ mình may mắn khi
chọn viết về biển trong lúc có rất ít người viết về đề tài này và họ không phải
là người trong cuộc. Mình viết sẽ dễ dàng hơn khi ngành hàng hải đặc thù với rất
nhiều ngôn ngữ chuyên ngành. Ngôn ngữ chuyên ngành tiếng quốc tế có khi không
thể tìm từ tiếng Việt sát nghĩa để thay thế. Tiểu thuyết “Sóng” chỉ gói ghém
trong một hành trình đi trên một con tàu, trong khi mình đã làm việc trên nhiều
con tàu đi khắp nơi như thế”.
Tiểu thuyết du ký “Sóng” của Trương Anh Quốc
Hành trình để nhà văn Trương Anh Quốc viết nên tiểu thuyết
“Sóng” chính là chuyến đi biển xa đầu tiên sau khi anh rời trường đại học với tấm
bằng kỹ sư điện ngành hàng hải. Theo lời anh: “Chuyến tàu biển vòng quanh thế
giới đầu tiên trong cuộc đời đi biển của mình đã để lại nhiều ấn tượng đẹp và
thú vị. Khi đó, mỗi lần đến cảng nào, nước nào, đi bờ ra sao… khi về tàu mình đều
ghi lại trong những tập giấy A4. Cũng trong chuyến đó mình mua được chiếc máy
tính xách tay nên cặm cụi gõ chữ từ xấp giấy vào máy tính. Mình cũng mua được một
chiếc máy ảnh kỹ thuật số bấy giờ mới ra nên quý lắm, đi bờ chụp hình về tàu
lưu hết trong máy tính”.
Thế nhưng điều bất ngờ đã xảy ra. Khi Trương Anh Quốc cùng
con tàu trở về nước thì chiếc máy tính đó bị trộm vào nhà cuỗm mất. Bao nhiêu
công sức, chữ nghĩa, hình ảnh anh lưu trong máy bay luôn. Anh cất công tìm kiếm
mua lại nhưng cái máy vẫn biệt tăm, không thể nào tìm lại được. Thế rồi một điều
kỳ diệu lại đến với anh khi khởi động viết tiểu thuyết “Sóng”, đó là bao nhiêu
cảm xúc hơn 15 năm trước chợt ùa về với những hình ảnh rõ mồn một.
Dù chuyến đi biển đầu tiên Trương Anh Quốc đặt chân lên hơn
ba chục quốc gia, hàng mấy chục bến cảng nhưng anh chỉ chọn những bến cảng,
vùng đất đã để lại ấn tượng thật sâu sắc để đưa vào tiểu thuyết du ký “Sóng”.
Anh cho biết: “Mình chọn những điểm nhấn điển hình nói lên được tập tục, văn
hóa của vùng ấy nhưng không sa đà vào chi tiết, tránh không đưa ra những thông
tin có thể tra tìm trên gu gồ (google). Nơi đến nhiều khi chỉ là cái cớ để có
câu chuyện mà thôi. Với phương châm ấy, “Sóng” nhẹ nhàng như một cuộc dạo chơi
thăm thú các vùng đất mới, mỗi nơi để lại một câu chuyện thú vị nho nhỏ vậy”.
Đúng vậy, có nhiều câu chuyện độc đáo trong tiểu thuyết
“Sóng” của nhà văn Trương Anh Quốc. Chẳng hạn, chuyện về hòn đảo Tenerife cách
châu Phi chưa đầy 300km và cách Tây Ban Nha đến vài ngàn cây số nhưng nó là khu
tự trị thuộc Tây Ban Nha. Thật kỳ lạ. Mỗi năm Tenerife đón lượng khách du lịch
quốc tế gấp mười lần số dân trên đảo. Chính quyền ưu tiên phát triển đảo còn
hơn đất liền. Biển đảo gắn liền lợi ích kinh tế, du lịch cả vị trí địa lý, vùng
trời lòng biển lòng đất…
Cũng ở châu Phi, theo nhà văn Trương Anh Quốc, khi tàu đi qua
một hòn đảo bé tẹo thì thuyền trưởng người Pháp cho tàu tạt gần hòn đảo một
chút rồi thông báo cho thuyền viên ra xem. Chỉ một thoáng, từ trong đảo có các
canô chạy ra xua đuổi tàu hàng vì xâm phạm 12 hải lý chủ quyền hòn đảo. Họ phát
loa thông báo bằng tiếng Anh, tiếng Pháp một cách kiên quyết. Bất ngờ, thuyền
trưởng tàu hàng cho căng cờ Pháp lên và cũng đáp lại bằng tiếng Pháp. Vậy là mấy
chiếc canô kia quay đầu vào bờ. Thuyền trưởng cùng mấy thuyền viên người Pháp
cười khoái chí và tỏ ra rất tự hào. Hóa ra thuyền trưởng biết hòn đảo xa tít mù
khơi tận biển châu Phi này là của nước Pháp nên trêu đùa cho vui với thuyền
viên trên tàu.
Còn trẻ và còn nhiều cơ hội lênh đênh trên khắp các đại
dương, chàng kỹ sư yêu biển Trương Anh Quốc nhất định sẽ tiếp tục mang lại cho
bạn đọc nhiều trang văn hay và độc đáo như “Sóng”.
11/10/2019
Phan Tấn Hùng
Nguồn: PYO
Theo https://vanhocsaigon.com/
Du Tử Lê: Người dâng hiến trọn đời cho thi ca
Du Tử Lê: Người
dâng hiến trọn đời cho thi ca
Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước,
ngày 9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra
đi của nhà thơ Du Tử Lê.
Nhà thơ Du Tử Lê (1942) vừa qua đời. Ông học Đại học
Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng
Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).
Ông có tới 70 tập thơ và văn xuôi. Du Tử Lê cũng là nhà thơ châu Á duy nhất được
phỏng vấn và có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times
(1983) và New York Times(1996). Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy,
làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học tại Hoa Kỳ và Châu
Âu. Vĩnh biệt ông, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết về ông của nhà thơ
Nguyễn Thụy Kha và ba bài thơ của ông.
Sau sự ra đi của nhà thơ Tô Thùy Yên mấy tháng trước, ngày
9-10-2019, giới văn nghệ hải ngoại lại thêm một mất mát nữa. Đó là sự ra đi của
nhà thơ Du Tử Lê.
Ngay sau ngày thống nhất, tôi đã đọc thơ Du Tử Lê in trên các
tạp chí văn nghệ ở miền Nam trước 1975. Được biết ông đã đoạt giải văn chương
năm 1972 do nhà thơ Vũ Hoàng Chương và nhà thơ Bàng Bá Lân làm chủ khảo. Tôi đồ
rằng có lẽ Du Tử Lê rất thích bài hát “Lời du tử” của Nguyễn Đình Phúc nên mới
lấy chữ “Du Tử” gắn với họ Lê của mình thành ra bút danh Du Tử Lê. Tôi gặp ông ở
TP.HCM trong một cuộc bàn tròn trao đổi về thơ hồi cuối tháng 3-2007. Năm đó,
tôi cũng sang Mỹ dự hội thảo về chủ nghĩa cổ điển tự nhiên tại đại học Dallas,
người ta bảo Du Tử Lê cũng đã từng đến đây đọc thơ. Trong số các nhà thơ Việt
Nam ở hải ngoại, có lẽ thơ Du Tử Lê được quảng bá ở Mỹ và châu Âu khá nhiều.
Có lẽ vì hơi thơ lãng mạn hòa trộn với hiện đại ở thơ ông đã
khiến cho bạn đọc nước ngoài chú ý. Tới năm 2014, khi Du
Tử Lê ra mắt tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” ở Hà Nội, tôi mới có dịp đọc thơ
ông nhiều hơn bởi được ông tín nhiệm để tôi giới thiệu thơ ông với mọi người. Ở
tập thơ, tôi chú ý những bài viết về mảnh đất Gia Lai mà tôi đã từng gắn
bó thời chiến tranh. Du Tử Lê cũng thế. Chỉ có khác là hai người ở hai chiến
tuyến đối đầu nhau. Khác với Nguyễn Bắc Sơn trăn trở về cuộc chiến tranh thật
rõ nét qua tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, Du Tử Lê luôn lãng
mạn hóa vùng chiến địa này qua những bài thơ tình, như thể ở đó chưa hề xảy ra
bom rơi, đạn nổ. Ngay cả đến dấu vết “mai xa lắc trên đồn biên giới” như Vũ Hữu
Định, cũng không có trong thơ Du Tử Lê. Đọc bài “Khi ngang qua Pleime” – một địa
danh nổi tiếng với chiến công thắng Mỹ cuối 1966, không thấy
một tí ti ùng oàng nào trong thơ Du Tử Lê: “Khi ta đến cây im rừng nín thở – một
mặt trời rực rỡ đỉnh truông xa – một hồn xanh gọi rét mướt hiên nhà – một tóc
chảy theo trăm dòng suối lạ…” Ở bài “Pleiku và hoa quỳ” cũng thế. Đọc thơ Du Tử
Lê, thấy rười rượi một màu vàng hoa quỳ trên đất đỏ bazan phố núi: “Khi ta trở
lại rừng – chỉ còn nghe gió hú – núi trong buổi chiều nay – nhìn ta bằng mắt lạ
– hoa nở vàng chân mây – tái tê từng cánh nhỏ”. Có lẽ bởi thế, Du Tử
Lê được phổ nhạc khá nhiều. Trong những tình ca ấy, ám ảnh nhất là “Khúc Thụy
Du” qua giai điệu Anh Bằng. Bài thơ nói về việc tìm kiếm người yêu ở miền Phú
Lâm (bây giờ thuộc quận 6) Sài Gòn sau đổ nát của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu
Thân 1968, từ đấy tác giả thấm thía về những mất còn mà chiến tranh mang lại.
Năm 2017, tôi sang Mỹ và ghé chơi quận Cam, lại gặp Du Tử Lê
nhỏ thó nơi góc bàn cà phê quen thuộc. Cũng năm ấy, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã
ấn hành trường ca “Mẹ về biển Đông” của ông. Trường ca lấy cảm hứng từ sự ra đi
của chính mẹ ông. Nó gồm 5 khúc. Khúc thứ nhất “Ngôi nhà trắng, chiếc quan tài
và những cây phong ở đường Beach”. Khúc thứ hai “”Những cánh cửa sổ, hồi chuông
và buổi sáng”. Khúc thứ ba “Những bông hoa birdflower, nắm đất và sự trở lại”.
Khúc thứ tư “Chuyến bay muộn ký ức và mẹ ở xa”. Khúc thứ năm “Cõi mẹ về”. Thật
rưng rưng khi ông viết: “Những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước – ngàn năm sau hai
tiếng Việt Nam – không ai gọi, không còn ai nhắc nữa! dúm xương xưa tanh lợm,
thiếu nguồn”. Nỗi bi kịch sinh tử của người xa xứ hình như đã được
ông cảm nhận trước khi bước đến khoảnh khắc làm bạn với cái chết. Vĩnh biệt
ông. Cầu mong linh hồn ông sớm bay về đất mẹ Việt Nam.
Chùm thơ Du Tử Lê:
Chân dung
tôi ngồi trong
nỗi tôi riêng
bên trong ghế
lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần
thiết gương người
tường sơn kỷ
niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy
suốt cơn mưa
ngực thơm hoa
bưởi, môi đưa bão về
tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn
sóng lao xao
biển muôn năm
gọi tôi nào có vui
người về có
nén hương, thôi
cắm lên phần mộ
hồn tôi úa vàng
Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn
cảm ơn kỷ niệm
nuôi em lớn.
như bóng nuôi
hình lúc thiếu nhau.
cảm ơn ngực ấm
nuôi thương bạn.
giọt lệ nuôi tình
sâu kiếp sau.
cảm ơn xa, vắng
nuôi em lớn.
như lá nuôi rừng
thuở thiếu niên.
cảm ơn chăn, gối
cho mưa, nắng.
quá khứ như
người có tuổi, tên.
cảm ơn định mệnh
nuôi em lớn.
hạt giống u tình
kia, tự tâm.
cảm ơn lênh
láng / đêm / da, thịt.
những ngón tay
thơm chọn lựa, mình.
cảm ơn thần
thánh nuôi em lớn.
như gió nuôi
trời lúc bão lên.
cảm ơn núi nhắc
sông xa, nhớ.
chẳng lớn lao
nào hơn cô đơn.
cảm ơn sách vở
nuôi em lớn.
con chữ nuôi
người trong giấc mơ.
hồn nuôi rưng
rưng từng khối đá.
tôi trầm mình
trong em, đời sau.
cảm ơn hiện tại không sau, trước.
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa
muôn tuổi vẫn xanh rì
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo
khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã
buồn hơn bóng tối
khi tôi chết nỗi
buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận
huyệt với linh hồn
(12-1977)
11/10/2019
Nguyễn Thụy Kha
Nguôn: VNN
Theo https://vanhocsaigon.com/
Tình yêu Hà Nội của một hồn thơ xứ Quảng
Tình yêu Hà Nội của
một hồn thơ xứ Quảng
Tế Hanh (1921-2009) là một trong những gương mặt tiêu biểu của
nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông nổi danh từ trước năm 1945 với tập thơ Nghẹn
ngào (1939) được giải Khuyến khích của Tự lực văn đoàn, sau đó là một trong 46
thi sĩ được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tuyển tập Thi nhân Việt
Nam. Sự nghiệp sáng tác thi ca hơn 70 năm của Tế Hanh gồm hơn 20 tập tác phẩm
in riêng, 2 tuyển tập thơ cùng nhiều bài thơ dịch và một số tiểu luận phê bình
văn học.
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn bàn riêng về một mảng
đề tài đặc biệt trong thơ ông, đó là những bài thơ, câu thơ viết về tình yêu Hà
Nội.
Tế Hanh vốn nguyên quán tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay
là xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đồng hương với hai thi sĩ
lãng mạn nổi tiếng đương thời là Nguyễn Vỹ và Bích Khê. Từ 1936 đến 1945, ông học
ở Huế và tham gia các công tác văn hóa, giáo dục của Việt Minh. Từ 1949 cho đến
1954, Tế Hanh ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau hiệp định
Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội cho đến cuối đời.
Như vậy, cuộc đời Tế Hanh có hơn nửa thế kỷ gắn bó với Thủ đô. Từ nhà ông chỉ
bước vài chục bước chân là ra tới hồ Thiền Quang Hà Nội, đó đã trở thành một
nguồn cảm hứng dồi dào và liên tục trong thơ ông, từ những bài thơ của thập
niên 50 cho đến những bài thơ cuối đời.
Nếu đọc các tác phẩm của Tế Hanh, có thể nhận thấy, một trong
những chủ đề, đề tài nổi bật trong thơ ông chính là những thi phẩm thể hiện
tình yêu quê hương đất nước, bên cạnh những bài thơ về tình yêu đôi lứa. Trong
4 bài được Hoài Thanh chọn vào Thi nhân Việt Nam đã có tới hai bài về
quê hương là Quê hương và Lời con đường quê, trong đó bài
thơ Quê hương hiện nay vẫn được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 8: Làng
tôi vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông/Khi trời
trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Sau này, Tế
Hanh còn nổi tiếng với bài thơ Nhớ con sông quê hương (1956): Quê
hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn
tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng/ Chẳng biết nước có
giữ ngày giữ tháng/Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/ Hỡi con sông đã tắm cả
đời tôi/ Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ/Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ/
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.
Tôi có cảm giác rằng, với một trái tim đôn hậu và tha thiết
như Tế Hanh, có lẽ ông cũng đã dành cho Hà Nội một tình yêu như quê hương thứ
hai của ông. Hà Nội – Thủ đô của cả nước, trái tim của dân tộc không chỉ mang
trong nó những vẻ đẹp đặc trưng mà còn là một biểu tượng về lịch sử và văn hóa.
Chính ngay trong năm 1956 (cùng thời điểm ra đời bài thơ Nhớ con sông quê
hương), Tế Hanh đã viết Bài thơ tình ở Hàng Châu với nỗi nhớ đắm say Hà Nội. Nỗi
nhớ người yêu, người bạn đời của ông đã hòa chung cùng với cái tình của không
gian quê hương xứ sở: Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh?/ Tiếng mùa xuân đem sóng
vỗ bên mình/ Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối/Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà
Nội/Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây/Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.
Dường như với chuyến đi xa nào cũng vậy, trái tim thi sĩ luôn
thao thức nhớ về Hà Nội thân yêu, nơi có một bóng hình phụ nữ đang ngày đêm
trông ngóng, nơi có mùi hoàng lan mùi hoa sữa ngọt ngào trên những con đường
quen, nơi có những mặt hồ thơ mộng với từng hàng cây in bóng. Bài thơ Nhớ về Hà
Nội hôm nay được viết trong chuyến đi công tác ở Kavkaz tháng 10/1979 là một
thi phẩm như vậy: Ở đây rét lắm em ơi/ Con chim én cuối đã rời về Nam/Đêm nghe
gió rít quanh thềm/ Nhớ về Hà Nội của em vô chừng/ Cuối thu trăng vẫn sáng
trưng/ Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian/ Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền
Quang/Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay/Nhớ về Hà Nội hôm nay/Cây me cây sấu
có thay lá vàng?/ Con chim én đã về Nam/Giục anh trở lại cầm bàn tay em.
Nếu như bên trên, chúng tôi vừa giới thiệu hai thi phẩm viết
về nỗi nhớ Hà Nội khi nhà thơ đang ở những phương trời xa xăm thì trong một bài
thơ khác, tình yêu Hà Nội lại được thắp lên ngay chính giữa lòng Thủ đô, gắn với
tình yêu đôi lứa, gắn với bóng hình của một người con gái yêu thương nay đã rời
xa. Thi sĩ yêu từng góc phố, vườn hoa, từng bóng cây của Hà Nội. Và độc đáo hơn
cả là yêu chính sự trống vắng của một bóng hình. Điều này đã mang đến một tứ
thơ độc đáo và mới mẻ cho bài lục bát Hà Nội vắng em: Thế là Hà Nội vắng em/
Anh theo các phố đi tìm ngày qua/ Phố này ở cạnh vườn hoa/ Nhớ khi đón gió quen
mà chưa thân/ Phố này đêm ấy có trăng/ Cùng đi một quãng nói bằng lặng im/ Phố
này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó
đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. Đọc đi đọc lại bài thơ, càng đọc càng thấy
yêu thương cái tình bơ vơ ngơ ngác của người thi sĩ. Những tưởng bài thơ sẽ rơi
vào bi lụy bởi sự chia cách giữa hai con người, không biết đến ngày nào gặp lại.
Nhưng không, chàng thi sĩ đã biến nỗi trống vắng ấy thành thi vị, coi Hà Nội
như một nhân chứng đầy hồn vía cho mối tình của mình. Thế nên, tình yêu với một
bóng hình không còn gặp lại đã được chuyển vị thành tình yêu Hà Nội, yêu thêm mỗi
góc phố hàng cây đã từng in dấu kỷ niệm của hai người.
Những năm tháng cuối đời, tình yêu Hà Nội trong hồn thơ Tế
Hanh dường như được dồn về một nơi quen thuộc, thân thương, nơi mà hàng ngày
nhà thơ có thể dễ dàng dạo bước. Đó chính là hồ Thiền Quang. Năm tháng qua đi
làm tàn phai nhiều thứ. Chàng trai Tế Hanh thuở nào nay đã trở thành một lão
niên. Cặp mắt sáng tinh anh ngày xưa bỗng bị mờ dần trong những năm cuối đời.
Nhà thơ đã tự bạch về tình yêu với hồ trong chính nỗi niềm đó. Bài thơ chia làm
hai đoạn, tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc đời: Tôi đi quanh hồ
hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui
buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang (…) Đi dò dẫm bên hồ từng bước/
Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ
như bước giữa hư vô (Hồ Thiền Quang). So với những bài thơ viết về Hà Nội ở
giai đoạn trước, ta thấy có sự thay đổi đáng kể về sắc thái, giọng điệu, nhịp
điệu. Nếu như những bài thơ về Hà Nội ở giai đoạn trung niên sôi nổi, dạt dào,
nhịp điệu lôi cuốn, thì cho đến bài thơ về hồ Thiền Quang, nhịp điệu thơ chậm lại,
bùi ngùi ngẫm ngợi. Cùng với tình yêu cho Hà Nội vẫn vẹn nguyên, trái tim thi
sĩ có thêm những suy tư về thân phận, về kiếp người. Ngôn ngữ thơ vì thế trầm lắng
hơn mà cũng da diết, khắc khoải hơn.
Trong số những sáng tác của Tế Hanh có một phần không nhỏ những
bài thơ viết cho thiếu nhi. Những bài viết cho thiếu nhi hầu hết có âm hưởng
trong trẻo, tươi sáng. Và ở khu vực tác phẩm này, ta cũng thấy thấp thoáng hiện
lên bóng dáng một tình yêu Hà Nội. Bài thơ Hai ông cháu và cái hồ được gợi cảm
hứng từ chính hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin là một điển hình cho những sáng
tác này: Cháu mới lên bốn tuổi/ Chưa biết biển bao giờ/Mẹ bảo: biển rộng lắm/
Nhìn xa chẳng thấy bờ/Ông đi khắp bốn biển/Trở về già mắt mờ/Chỉ còn nhớ mặt nước/Không
nhớ rõ bến bờ/Một chiều sương ông cháu/ Dạo công viên Lê nin/Đến trước hồ Bảy Mẫu/Ông
cháu cùng đứng nhìn/Mở to đôi mắt bé/Cháu ríu rít: Ơi ông!/Chỉ toàn nước là nước/Biển
là đây phải không?/Mắt ông thoáng mây qua/ Như thấy mà không thấy/Ông ôm cháu
cười xòa:/-Ừ, biển của cháu đấy/Trước hồ hai ông cháu/ Cả hai đều ngây ngô/Cháu
cho hồ là biển/ Ông thấy biển như hồ.
Nhà thơ Tế Hanh đã đi xa tròn 10 năm. Những con phố, những
hàng cây, những mặt hồ của Hà Nội không còn được thấy bóng dáng ông chầm chậm dạo
bước mỗi ngày như thể muốn ôm ấp nâng niu bao yêu thương trìu mến. Thế nhưng
tình yêu Hà Nội ông để lại qua những vần thơ sẽ còn lại mãi trong lòng bao thế
hệ người đọc. Cùng với những thi phẩm về Hà Nội, những bài thơ tình nổi tiếng một
thời như Vườn xưa, Bão, Con đường vẫn còn lắng đọng trong trái tim bao đôi lứa
đã từng yêu đương, từng đắm say những khung trời kỷ niệm…
17/10/2019
Đỗ Anh Vũ
Nguồn: THV
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nhà văn Dạ Ngân: Người đàn bà mang dấu chấm thiên di
Nhà văn Dạ Ngân: Người đàn bà
mang dấu chấm thiên di
Đời Dạ Ngân, kể cả văn chương, cái gì cũng muộn. Nhưng trong
những cái mất, cái thua thiệt của tiền vận lại có cái viên mãn của hậu vận. Người
đàn bà bé nhỏ, ngồi trong góc quán cà phê, nói những câu chuyện đời mình bằng
những tiếng nói dịu dàng. Nhưng không thỏa hiệp. Giống như nhân vật Tiệp của tiểu
thuyết “Gia đình bé mọn”, một đời không ngừng vượt những ngáng trở. Để được làm
chính mình.
Sông Hậu nuôi Dạ Ngân lớn lên và nuôi chị một chặng đường văn
chương dài. Đời người đàn bà viết văn như gió trên dòng sông, hun hút thổi những
đam mê mà đôi khi người ta cũng cần một nơi neo giữ lại.
Chị nặng tình với con sông Hậu bởi nó mang một phần máu thịt
của chị. Ở cuối dòng sông ấy, chị vẫn còn hai đứa con đã trưởng thành và biết
hiểu cho mẹ.
Thu Uyên, cô con gái chia sẻ với mẹ như một người bạn lớn
trong đời sống, cả về văn chương, tiền bạc và chuyện hạnh phúc, tình yêu. Cho đến
bây giờ, khi chị đã trở thành bà ngoại và mọi chuyện đã bình yên, Thu Uyên vẫn
là người bạn tâm giao, nghe cạn mọi điều, lấp vào khoảng trống tâm hồn của mẹ
những điều ấm áp.
Con trai, có hiếu theo kiểu khác, ngoan lành, chí thú, đang
đi Cao học ở Australia. Chị đã có cả thảy 10 đầu sách, hai lần đò, những đứa
con hiếu đễ và ba đứa con riêng của chồng cũng hiếu đễ nốt, được thế cũng có thể
xem là may mắn lớn.
Bởi thế, dù giữa Hà Nội 15 năm, giọng Dạ Ngân, cả trong văn
và trong đời, vẫn hồn hậu, chất phác, nghe như cất lên từ đồng bãi, từ phù sa của
dòng sông. Dòng sông ấy cho chị cả một cách nhìn đời, không nghiệt ngã mà luôn
“tự AQ” theo phép “thắng lợi tinh thần”, để khi rơi vào vực sâu nhất của bi kịch,
người ta vẫn không gục ngã.
Cuộc đời chị, như một sự báo trước của số phận, là một cuộc đời
không suôn sẻ. Người đàn bà mang cái bớt thiên di giữa gan bàn chân của mình.
Cái bớt ấy mang đến cho Dạ Ngân một tính cách độc lập, mạnh mẽ và quyết liệt.
Chị cười nhẹ, nói cũng nhẹ, nhưng luôn dứt khoát và khẳng định
với những lập luận chắc chắn. Chị bảo, nếu như thuận theo ý Tổ chức, nếu chị
không quyết liệt con đường văn chương, có thể chị đã trở thành một quan chức, sự
nghiệp sẽ hanh thông nhiều. Nhưng chị là một người viết.
Khi Sở Văn hóa Thông tin Cần Thơ muốn đưa chị đi Trường Chính
trị quốc gia để thành cán bộ nguồn thì chị khóc, năn nỉ để được sang Hội Văn
nghệ để ngồi viết văn. Khi chị quyết theo nghiệp văn chương (năm 1981 có truyện
in ở Văn nghệ) cũng là lúc chị nhận ra chị và chồng là hai đường thẳng song
song không có chỗ gặp.
Hoàn toàn không phải là chuyện mâu thuẫn mang tính nhật thường
của một gia đình trẻ, mà là ở ý hướng trong cuộc sống không trùng nhau. Giờ Dạ
Ngân đã nói về những năm tháng ấy thật nhẹ nhàng, bởi mọi chuyện đã ở một ngăn
xa của ký ức.
Nhưng khi ấy, tôi đồ rằng, chị đã phải vật vã nhiều, nghĩ suy
đến còm cõi, để đưa ra một quyết định mà sau này, như một cái án treo lơ lửng
trong lương tâm khi nghĩ đến quyền lợi của những đứa con.
Chia tay nhau, chị mang con đến ở nhờ cơ quan Hội Văn nghệ, sống
và viết. Trong mắt của một số người, chị giống như một “con chiên ghẻ” của
Chúa, một công chức với 7 năm không được nâng một bậc lương nào.
Vậy mà chị vẫn cứng cỏi sống, vượt mọi dư luận, cả những
ngáng trở để đến với sự chọn lựa của đời mình, văn chương và sự tri kỷ đôi lứa.
Nói về những năm tháng bị lên án mạnh mẽ trong một tỉnh nhỏ của
người phụ nữ viết văn, tôi lại liên tưởng tới Nguyễn Ngọc Tư của năm 2006. Sự
so sánh nào cũng khập khiễng.
Dạ Ngân và Nguyễn Ngọc Tư ở hai thế hệ khác nhau, hai hoàn cảnh
khác nhau và dư luận phản ứng về những vấn đề cũng khác nhau. Nhưng họ đều là
những người phụ nữ miền Tây viết văn bằng bản năng và trải nghiệm của chính
mình.
Nguyễn Ngọc Tư khi bị rắc rối bởi sức nặng của những con chữ
vẫn còn điểm tựa là gia đình và bạn bè văn chương, những người yêu mến chị tạo
nên sức mạnh thông qua kênh Internet một cách nhanh chóng và không kém phần hiệu
quả.
Còn hai chục năm trước, khi Dạ Ngân bị “ném đá” vì đã viết
“Con chó và vụ ly hôn”, chắc chị cũng phải kiêu hãnh lắm mới tồn tại được. Những
năm đầu của thập niên tám mươi ấy, “Con chó và vụ ly hôn” gây ồn ào cho người đọc
ngang bằng với dư luận ồn ào về cuộc tình của chị, nghẹt thở chứ chẳng chơi.
Dạ Ngân hay nói về bản lĩnh và số phận, chị kết luận, tính
cách chị là tính cách động, mọi thứ đều động và chị rút ra kết luận, mình phải
lập nghiệp xa quê.
Người viết văn tỉnh lẻ có một cái hạnh phúc là được yên tĩnh,
nếu họ đủ bản lĩnh thì họ sẽ là một con cá lớn trên dòng sông của mình. Nhưng
đôi khi người ta sẽ hoảng, sẽ thấy ngợp và không biết mình ở đâu và mình là ai
nữa.
Chị ra Hà Nội, 41 tuổi mới bắt đầu đi học đại học, bắt đầu một
chặng trần ai khác.
Tôi cứ hình dung Dạ Ngân chính là nhân vật Tiệp trong tiểu
thuyết “Gia đình bé mọn” của chị. Tiệp là đại diện cho khao khát sống bản năng
và thành thật của con người trước những biến động xã hội và cả những lề thói
đôi khi hủ lậu và khắc nghiệt, biến con người hành xử với nhau một cách bạo
tàn, giả dối.
Tất nhiên, cuốn tiểu thuyết ấy không phải là một cuốn tự truyện
và hình dung của tôi chỉ là mong ước của một người đọc. Dạ Ngân nói, chị không
viết tự truyện mà đã tiểu thuyết hoá một mặt cắt của đời sống mà chính mình và
nhiều người thân là nguyên mẫu.
Nói như nhà văn Trần Thiện Đạo, “Gia đình bé mọn” là lời tự
thú chân thật. Người phụ nữ nhỏ bé ba mươi tám cân, sống trong một vùng đất nhỏ,
vùng vẫy khỏi những ràng buộc để đi đến đích hành trình mà mình tìm kiếm.
Dạ Ngân nói, chị đặc biệt thích cuốn “Người tình” của
Marguerite Duras, nhưng Marguerite Duras là một đẳng cấp nhà văn của một nền
văn minh lớn.
Chị là người phụ nữ đi từng nấc một trong cuộc sống, bươn chải
và tìm kiếm cho mình một cuộc sống vừa đủ để tồn tại.
Chiến tranh, thất học, mặt bằng tri thức chung quá thấp, mình
tài thì cũng tài vừa chứ lấy đâu ra ánh sáng của Paris? Cuộc sống Hà Nội dữ dằn,
luôn thách thức tính cách động đậy và trung thực đến mức chát chúa của chị.
Bốn năm học Trường Viết văn Nguyễn Du rồi những năm đầu làm
việc ở một tờ báo luôn bị xem là “trung tâm của nhạy cảm và phức tạp”, chị phải
gò mình để sống và viết cho báo khác bằng những bút danh khác để có tiền vào
Nam ra Bắc, ngoài mươi truyện ngắn mà tự chị thấy chúng khó vượt “Con chó và vụ
ly hôn”.
Mãi đến năm 2002 đến nay, Dạ Ngân bảo chị mới thu xếp ổn thỏa
hơn với môi trường thủ đô nên viết được nhiều hơn.. “Miệt vườn xa lắm”, “Gia
đình bé mọn”, hàng trăm tản văn và hàng ngàn kỳ thư Tư vấn gia đình với cái tên
Dạ Hương đã dần thoát ra khỏi cái khuôn của Báo Nông nghiệp Việt Nam, cái chính
vẫn là sự gánh vác thầm lặng nhưng hết sức gian nan của mảng văn xuôi Tuần báo
Văn nghệ.
Chị khiến độc giả tìm thấy lại chị sau mấy tập truyện viết ở
Cần Thơ, bền bỉ, chân thực, cuối cùng chị đã bật lên bằng ánh sáng mới của tình
yêu và những va đập tất yếu của đất thủ đô.
Tất cả những điều đó làm nên một Dạ Ngân khác, neo đậu lại
với bạn đọc, bởi sự chân thực chứ không phải vì những kỹ thuật tiểu thuyết hay
những ý tưởng đao to búa lớn nào.
Tôi đọc chị, nghe chị nói về công việc viết văn bằng lời lẽ
khiêm nhường, bỗng nhận ra người đàn bà này rất biết mình biết người, vì vậy mà
chị được tiếng là dễ sẻ chia với thành công của người khác.
Dạ Ngân nói, chị sắp chia tay Báo Văn nghệ, nơi chị đang làm
Trưởng ban Văn xuôi. Chị về hưu, để viết văn.
Vậy là chị đã ở Hà Nội tròn 15 năm, đủ để viết một cuốn tiểu
thuyết chắc sẽ có tên là “Sống ở Hà Nội”, chị cười, bảo chắc nó cũng sẽ ngổn
ngang như Hà Nội vậy. Biết bao chi tiết của một thời.
Và cái cảm giác của người làm biên tập, là người gác đền
trong một ngôi đền đã không còn thiêng như mình mong ước nữa. Mà lỗi lại không
phải ở mình, mà ở những khâu nào đó khiến sự bộc trực, thẳng thắn của một người
phụ nữ Nam Bộ cứ bị tà đi, như là mình đang đi lạc vậy.
Cũng hay, chị lại ngậm ngùi AQ, nhà văn mà không có cái gì để
bức xúc thì lấy động lực đâu để viết văn đây? Chị muốn rời bỏ công việc công chức,
để viết 3 cuốn tiểu thuyết mà chị đang ấp ủ.
Khi tôi viết những dòng này thì Dạ Ngân đã “bỏ trốn” khỏi Hà
Nội. Chị đã đặt phòng tại một khu nghỉ dưỡng, trốn ông chồng hiếu động gấp trăm
lần mình, trốn bếp núc, trốn những cuộc điện thoại và trốn cả những buổi họp
hành, để một mình với một cuốn sổ và vài cây bút.
Chị đang viết cuốn tiểu thuyết về hậu chiến. Chị sẽ “mất
tích” trong hai chục ngày và một đứa con tinh thần nữa chắc sẽ được sinh thành
như cái cách mà chị đã sinh thành “Gia đình bé mọn”…
Rồi sang đầu năm 2008, chị cùng chồng sẽ “thiên di” vào Sài
Gòn. Chị AQ: “Ở xa thì Hà Nội sẽ rõ hơn, chắc sẽ dễ viết về nó hơn”.
Chị bảo: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”, miền Nam có lợi
cho sức khỏe người già, nhà văn Nguyễn Quang Thân U70 rồi, và di chuyển để về gần
với các con, xa nhau như thế đủ rồi.
Không đi không được, vì đó là số phận, bởi chị trót mang trên
mình dấu chấm thiên di…
18/10/2019
Dương Bình Nguyên
Nguồn: ANTGCT 2007
Theo https://vanhocsaigon.com/
"Mộng dưới hoa" và sự tài hoa của Đinh Hùng - Phạm Đình Chương
"Mộng dưới hoa" và sự tài hoa
của Đinh Hùng - Phạm Đình
Chương
Khi ở tuổi thanh xuân, tôi đoán chắc rằng, những thanh niên
nam nữ trạc tuổi tôi đều ít ra một vài lần đã lẩm nhẩm mấy câu thơ trong bài
thơ Mộng dưới hoa của thi sĩ Đinh Hùng và khi bài thơ này được
nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc lại càng thuộc lòng, không chỉ lẩm nhẩm như đọc
“rap” mà là hát, hát một cách tình tứ khi yêu nhau, bên cạnh nhau và cả khi đã
xa cách.
Không chỉ thế, mãi đến bây giờ hơn nửa đời người tôi vẫn thường
lẩm nhẩm những câu thơ này và cất tiếng hát bất chợt những câu hát này mỗi khi
hoài niệm, ngập tràn cảm xúc về hình bóng của “ai đó” đã đi qua đời mình, đi một
cách lặng lẽ, hay thật sự ồn ào gây ra những vết thương sâu, để nhớ mãi.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Ấu yếm nhìn tôi không nói năng…
Đời sống trải ra dưới chân đi không phải chỉ có con đường gai
góc. Đời sống cùng một lúc cũng mở cho người những cánh cửa mơ mộng khác hơn. Ở
đó giấc mộng đẹp đầu tiên khi người niên thiếu bao giờ cũng là một đối tượng hiện
thân cho tình yêu. Người con gái ấy với đầy đủ quyền năng sẽ đưa người ta đi
trên cây chổi thép, tới những bến bờ hư ảo nhất hiện tại.
Gọi tình tình yêu ấy là tình đầu đời và người yêu sẽ cùng
chung một giấc mộng. Đường bay của cây chổi thép sẽ không có ga nào gọi là ga
cuối cùng. Đời sống trong một giấc mộng là đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi.
Có nghĩa, trí tưởng tượng còn là một vùng thênh thang mây trắng
và cái “chưa gặp” ấy được hiểu như một định mệnh còn chờ để ban phân phát cho một
người nào.
Cái tuyệt vời nhất nói theo nghĩa của hạnh phúc bao giờ cũng
là cái “chưa” hơn là cái “đã có”. Chưa có nên vẫn nghĩ và những cánh cửa như thế
cứ mở hoài với những đôi mắt trong tim, muôn nơi và muôn thuở.
Hồi còn niên thiếu, một cậu học sinh lớp đệ tam nhiều mơ mộng
và nhiều nghi ngờ, tôi yêu thơ Đinh Hùng như chính những mơ mộng và những nghi
ngờ đó.
Tôi đã thuộc vanh vách bài thơ Mộng dưới hoa, chép không biết
bao nhiêu lần vào giấy vở để tặng học trò con gái, những tà áo “tiểu thư” đó
làm cuống quýt mắt tôi như những sợi chỉ mộng đã rối ngây thơ trong lòng. Nhưng
tôi quả thật cũng chưa hiểu được cái đẹp tuyệt vời và sâu kín nhất của bài thơ
mà bắt đầu là câu:
“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”
Sao lại “vẫn” mà không phải “đã”? Bình thường nếu ở một người
khác chứ không phải Đinh Hùng câu này chắc chắn phải dùng chữ ”đã” thay vì chữ
“vẫn”. Chưa gặp em tôi (đã) nghĩ rằng, có nghĩa là chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng
có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, như hoa, hay đẹp như bất cứ hình dung từ nào
khác.
Điều này còn nằm trong dự đoán, mà dự đoán có thể đúng mà
cũng có thể sai. Bởi vì nàng thiếu nữ khi chưa gặp, tôi đã nghĩ đẹp như trăng
nhưng khi tôi gặp rồi thì nàng thiếu nữ có thể sẽ đẹp một cách khác. Đó là điều
hoàn toàn dành cho sự bất ngờ.
Ở đây, Đinh Hùng đã dùng chữ “vẫn”, tức là tôi đã xác định rõ
ràng rồi dù chưa gặp, người thiếu nữ ấy cũng vẫn đẹp như trăng. Chữ “vẫn” quá
tuyệt vời và điều này càng chứng tỏ rằng không phải chỉ là một thi sĩ làm thơ
hay, mà còn là một thi sĩ tài hoa.
Dĩ nhiên không phải căn cứ vào một bài Mộng dưới hoa do Phạm
Đình Chương phổ nhạc mà thôi. Thơ của Đinh Hùng nhiều lắm, đó là Đường vào tình
sử hành trang của những người niên thiếu đi vào tình yêu lần đầu.
Sống với tình yêu thứ nhất là sống với người trong mộng, cõi
mộng đầy tràn ánh trăng của độ mười sáu, mười bảy. Và Phạm Đình Chương cũng
không chỉ phổ nhạc duy nhất một bài Mộng dưới hoa, những Nửa hồn thương đau, Dạ
tâm khúc, Buồn đêm mưa, Người đi qua đời tôi. Đó cũng toàn là thơ phổ nhạc.
Nhưng với Mộng dưới hoa Đinh Hùng và Phạm Đình Chương như hiểu
nhau hơn ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu
liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình
Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, che những nốt nhạc ấy lại, nó là một bài
thơ trọn vẹn của một thi sĩ.
Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi
sĩ lẫn nhạc sĩ.
Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Tóc xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…
Đó là bốn câu đầu của bài thơ (và nhạc). Đó cũng là sự nghi
ngờ, lạnh bạc của một giấc mộng. Em đã hiện đến, vẫn đẹp như tôi nghĩ. Tóc xanh
là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng. Không sai vào đâu được nỗi
ngỡ ngàng đó của một khoảnh khắc thời gian dừng lại với hai người gặp nhau
trong giấc mộng. Hò hẹn bao giờ qua những cái nhìn âu yếm ấy?
Câu hỏi hoàn toàn không được trả lời vì đó là câu hỏi của một
hạnh phúc tràn đầy như những sợi máu vừa căng lên làm nóng hổi trái tim ta.
Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em dựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh rong vàng bên suối…
Yêu nhau là nương tựa vào nhau những khi đổ nát, tan vỡ. Tôi
vẫn nghĩ như thế nhưng tình đầu không bao giờ là một hạnh phúc đến với ta rồi ở
mãi. Thế nên tôi vẫn chưa, hay không còn dịp nào để nghe những bước chân mệt mỏi
của em ghé sát vào tôi và chúng ta đưa nhau vào tận rừng xanh vớt cánh rong
vàng bên suối. Khi người yêu đã xa cách nghìn trùng tôi mới bàng hoàng với bốn
câu (thơ hay nhạc) đó?
“Cánh rong vàng” đã tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh.
Có cặp tình nhân nào vớt được “cánh rong vàng” bên suối ấy chưa? Chưa, nó hoàn
toàn là một giấc mộng.
Bước khẽ cho lòng nói nhỏ
Bao nhiêu mộng ước phù du
Ta xây thành mộng nghìn thu
Núi biếc sông dài ghi nhớ
Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề
Mây hồng giăng tám ngả sơn khê
Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng
Và mộng em cười như giấc mê.
Tôi đã đánh mất tình yêu đầu tiên từ lúc nào. Thế nên khoảng
thời gian yêu nhau hãy còn bàng hoàng lắm, và cơn mộng của Đinh Hùng – Phạm
Đình Chương chụp xuống thành một bản trường ca, hát hoài qua những năm tháng,
ngày tháng lênh đênh. Làm gì còn được một câu “Bước khẽ cho lòng nói nhỏ” để
nói với nhau?
Chính điều đó đã làm cho tôi hiểu hơn lúc nào, bao giờ tình
yêu cũng chỉ là một bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng, và mộng em cười như giấc
mê.
Quả thật, sống bây giờ là sống cho những cơn mộng đã xế mất
ngang đầu, hụt hẫng bể dâu và có lẽ, cũng đã tan tành để mãi mãi đau xót, hối
tiếc lại khoảng ngày nào, “chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng”.
Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng rất sớm trong làng văn, làng báo
Hà Nội, ông là em rể của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Đinh Hùng nổi tiếng về
thơ nhưng tác phẩm đầu tay của ông lại là tập văn xuôi Đám ma tôi được NXB Tân
Việt in năm 1943 (ông sinh ngày 3-7-1920).
Trước đó Đinh Hùng đã có thơ đăng trên các báo: Hà Nội tân
văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi bài thơ
Kì nữ ra đời và sau đó được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng
Linh đã đưa tên tuổi Đinh Hùng lên đỉnh cao và khẳng định ông là một thi sĩ tài
hoa với thi ngôn và thi tứ đầy ma lực. Điều này thể hiện rõ nhất trong thi phẩm
Mê hồn ca (1954).
Tháng 8-1954, khi vào Nam, Đinh Hùng cộng tác với nhật báo Tự
do của ông Phạm Việt Tuyền, cùng thời với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…
Khi nhật báo Tự do đình bản, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn, phụ
trách ban thi ca Tao Đàn, một chương trình ngâm thơ nổi tiếng lúc bấy giờ và từng
tạo nên những giọng đọc thơ nức tiếng như: Hồ Điệp, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Hồng
Vân, Hoàng Oanh…
Trong thời kỳ làm báo ở miền Nam, thi sĩ Đinh Hùng còn ký nhiều
bút danh khác như Thần Đăng khi làm thơ trào phúng, Hoài Điệp Thứ Lang khi viết
tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết dã sử như Cô gái gò Ôn khâu, Đao phủ thành
Đại La. Năm 1961 Đinh Hùng cho ra đời tập thơ Đường vào tình sử đoạt giải “Văn
chương và thi ca” năm 1962.
Năm 1967 Đinh Hùngcho ra mắt tuần báo Tao Đàn thi nhân nhưng
báo chỉ ra được 2 số thì ông mất vì bệnh ung thư gan lúc đang nằm điều trị tại
Bệnh viện Bình Dân (5h sáng ngày 24-8-1967) khi chỉ mới 48 tuổi.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sinh năm 1929) tại Bạch Mai, Hà Nội,
cũng là một nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm, không chỉ là một nhạc sĩ mà ông
còn là ca sĩ với tên Hoài Bắc, chủ trương thành lập ra ban hợp ca Thăng Long
(1951) nổi tiếng ở Hà Nội với các thành viên đều là người trong gia đình gồm:
Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị
Quang Thái), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh).
Trước đó, những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng với
các anh em trong gia đình như vừa nêu đã gia nhập Ban Văn nghệ quân đội ở Liên
khu IV và đi ca hát phục vụ chiến trường.
Thời kỳ này Phạm Đình Chương đã sáng tác những bản nhạc có
giai điệu hùng tráng, tươi trẻ đầy hào khí như: Ra đi khi trời vừa sáng, Thanh
niên tiến lên, Bài ca tuổi trẻ, Mười thương, Sáng rừng, Hò leo núi, Hội trùng
dương…
Năm 1953 nhạc sĩ Phạm Đình Chương kết hôn với ca sĩ Khánh Ngọc
rồi cùng gia đình vào Nam năm 1954. Sau khi vào Nam, gia đình nhạc sĩ Phạm Đình
Chương đều tiếp tục làm nghệ thuật, Ban hợp ca Thăng Long biểu diễn ở các phòng
trà, vũ trường.
Nhạc của Phạm Đình Chương cũng chuyển hướng sang phong cách
trữ tình, lãng mạn, sâu lắng và đầy tâm trạng như: Xuân tha hương, Buồn đêm
mưa, Màu kỷ niệm, Xóm đêm, Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội… Và một ca khúc không thể
không nhắc đến mỗi dịp xuân về của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là Ly rượu mừng.Khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, nhạc sĩ Phạm
Đình Chương đã có những ca khúc đau xót, da diết như: Nửa hồn thương đau (phổ
thơ Thanh Tâm Tuyền), Người đi qua đời tôi (phổ thơ Trần Dạ Từ)…
Riêng với việc phổ thơ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được đánh
giá là một trong số rất ít nhạc sĩ phổ thơ tài hoa đã chuyển hóa thơ thành đôi
cánh bay cao, giúp thơ hay hơn, nhiều màu sắc hơn, nâng hồn vía thơ bay bổng
hơn để được nhiều người nhớ và thuộc hơn qua nhạc. Tài hoa phổ thơ của Phạm
Đình Chương xếp ngang hàng với nhạc sĩ Phạm Duy.
Quả vậy, một số bài thơ khác của các nhà thơ được ông phổ nhạc
đã khẳng định điều này như: Lệ đá xanh (phổ thơ Thanh Tâm Tuyền), Đôi mắt người
Sơn Tây (phổ thơ Quang Dũng), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (phổ thơ Du Tử Lê)… Và bài
Mộng dưới hoa (phổ thơ Đinh Hùng) là một ví dụ.
Sau năm 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại Mỹ, ông mất
ngày 22-8-1991.
18/10/2019
Từ Kế Tường
Nguồn: ANTG
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng
Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...






