Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận

Hồn buồn trường cửu
trong thơ Huy Cận

Với tôi, Huy Cận (1919-2005) trước sau vẫn là nhà thơ số một trong các nhà thơ mới (1932-1945). Sự xuất hiện của ông trên thi đàn Thơ mới có thể ví như mạch sóng ngầm, trầm buồn xiết chảy mạnh mẽ giữa sôi sục của cơn hồng thủy Thơ mới đang cuồn cuộn dâng trào, hòng cuốn bay đi bức tường thành thơ nghìn năm cổ kính Đông phương mà dường như chưa có hồi kết. Cái hồn buồn trong thơ Huy Cận là cái hồn buồn của chàng trai 19 tuổi đầy sức sống mãnh liệt. Chính cái hồn buồn trẻ trung đầy sức sống ấy đã làm nên sự trường cửu trong thơ ca của ông.
Nhà thơ Cù Huy Cận sinh ngày 31.5.1919 trong một gia đình nhà nho nghèo dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Tuổi thơ ông gắn liền với bờ ao, mảnh ruộng nghèo khó trên quê hương-nơi mà đại thi hào Nguyễn Du rồi Nguyễn Công Trứ đã từng cất lên những vần thơ trác việt giữa đất trời sông núi. Lớn lên, ông vào Huế học trung học, đậu tú tài, sau đó ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Canh nông. Ông sống ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu, sau chuyển về 24 Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ).
Ông tham gia cách mạng từ năm 1942, là thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Ông cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, từng giữ các chức vụ: Bộ trưởng kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông, Bộ trưởng đặc trách văn hóa tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng… Tháng 8-1945, ông là một trong 3 thành viên của phái đoàn Chính phủ lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) đi vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Sau này ông về làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban chấp hành UNESCO, Viện sĩ Viện Hàn lâm thế giới về thơ, Chủ tịch Đại hội Văn hóa thế giới năm 1968… Ông mất ngày 19.2.2005, tại Hà Nội.
Huy Cận có thơ đăng báo từ năm 1936. Ông cho in tập thơ đầu “Lửa thiêng” năm 1940 và lập tức trở thành tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ. Tập “Lửa thiêng” bao trùm một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong thơ ông bao la, hiu quạnh, đẹp và buồn. Nỗi buồn của phận người, của cuộc đời, buồn về quê hương đất nước. Các tập thơ sau này của ông tuy có cố gắng hòa vào mạch sống âm thầm trong vũ trụ và cõi đời, nhưng vẫn phảng phất một nỗi buồn man mác.
Tập “Lửa thiêng” chỉ gồm 50 bài thơ, nhưng lại ghi một dấu ấn sâu đậm, trở thành bước ngoặt quan trọng cho con đường đi của thơ ca dân tộc giữa cao trào Thơ mới lúc ấy. Vào những năm 30 của thế kỷ trước, khi mà loại thơ quy phạm viết theo lối Đường luật cổ xưa cũ kỹ đã quá chật chội, bức bối, không còn đủ khả năng phô diễn những tâm trạng, cảm xúc mới trong cõi thẳm sâu của tâm hồn, thì cũng là lúc nhiều nhà thơ đương thời mạnh dạn viết nên những bài thơ mang âm hưởng mới của thời đại, với những cách tân mạnh mẽ về cả nội dung và hình thức thơ. Nhiều tranh luận giữa mới và cũ diễn ra sôi nổi, thậm chí rất quyết liệt. Đúng lúc đó, một tập thơ mang tính cách tân triệt để xuất hiện, đó chính là tập “Mấy vần thơ” của Thế Lữ.
Với “Mấy vần thơ”, người đọc lần đầu tiên được biết đến một phong vị thơ hoàn toàn khác lạ, một trải nghiệm mới với một cảm xúc mới, tâm hồn mới, cách nhìn mới. Bởi thế, ngay lập tức, “Mấy vần thơ” được tôn vinh như là sự khởi xướng, một sự bắt đầu của thời đại mới trong thi ca. Nó chấm dứt mọi tranh cãi giữa cũ và mới, mở ra một thế giới khác lạ đầy sôi động và háo hức, để rồi sau đó hàng loạt tập thơ gây tiếng vang lớn trên thi đàn liên tiếp ra đời: “Điêu tàn” (năm 1937) của Chế Lan Viên; “Thơ thơ” (năm 1938) của Xuân Diệu; “Tiếng thu” (năm 1939) của Lưu Trọng Lư; “Thơ say” (năm 1940) của Vũ Hoàng Chương… Cũng chính vào lúc cao trào Thơ mới đang dâng lên chót vót với đỉnh cao Xuân Diệu là đại diện, thì hình như trong sâu thẳm đâu đó, người đọc vẫn cảm thấy còn cái gì gờn gợn, chưa trọn vẹn. Cái sự gờn gợn, chưa trọn vẹn ấy là gì, người ta chưa thể minh định rạch ròi chính xác, nhưng cảm nhận thấy cái mới ấy đã đi quá xa chăng? Xa đến mức mới quá, Tây quá… Và đó cũng là lúc “Lửa thiêng” ra đời.
Sự ra đời của “Lửa thiêng” giống một mặt hồ rộng lớn tĩnh lặng, cổ kính Đông phương, như muốn kéo chậm lại dòng chảy Thơ mới đang gầm gào cuộn xiết giữa muôn hình vạn trạng thác ghềnh, với những ồn ào náo động đậm chất Tây phương xa lạ, muôn vẻ sắc màu. Hình như trong thẳm sâu tâm hồn của thi hào Huy Cận, sự rộng lớn, khác lạ, mới mẻ của phương Tây cũng không đủ để ông bày tỏ những xúc cảm nhiều trắc ẩn, chân thực, thăm thẳm của cõi lòng ông. Có phải vì lẽ đó mà sau những bài thơ đậm chất Tây phương, ông lặng lẽ trở về với nỗi buồn vạn cổ Đông phương. Cái hồn thơ ấy thẳm vời về sâu xa ký ức ngàn năm dân tộc. Ông cô đơn một mình giữa mênh mông Thơ mới, cô đơn trong chính cõi lòng, trong chính sự ồn ào náo động Thơ mới. Phải chăng chính nỗi niềm ấy đã biến chàng trai đang tràn trề sức của tuổi hai mươi lại mang trong mình một tâm hồn thơ vạn cổ, nhưng đầy cuốn hút, trẻ trung.
Cảm hứng trong thơ Huy Cận khác hẳn với vẻ ồn ào nồng cháy trong thơ Xuân Diệu. Ông không dấn mình lạc sâu vào thế giới Tây phương, mà âm thầm bộc bạch một cách trung thực nhất cõi lòng mình, cái cõi lòng không biết từ bao giờ đã bao trùm một nỗi buồn xa xăm u tịch, cổ kính mà thâm trầm sâu sắc. Những vần thơ của ông cất lên như tự một cõi xa xăm nào đó của cố nhân: “Một hôm trận gió tình yêu lại/ Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (“Học sinh”). Nhà thơ chợt giật thót mình trước cơn cuồng phong mê sảng của Thơ mới, nên bần thần, ngơ ngác trông vời ký ức đẹp đẽ đang trôi qua đi mất. Bởi vậy, khi tĩnh tâm trở lại thì: “Lòng êm như chiếc thuyền trên bến/ Nghe rét thu về hạ bớt mui” (“Mưa”). Chao ôi! Nỗi buồn ấy sao mà mênh mông diệu vợi hắt hiu đến thế. Nỗi buồn ấy cũng chính là tâm trạng của thi sĩ sau những ồn ào náo động, lặng lẽ trở về với chiều sâu tĩnh lặng thâm trầm của tri âm cổ kính ngàn xưa.
Cảm nhận vẻ đẹp u hoài, có thể ví như những bức tranh thủy mặc Đông phương trong thơ Huy Cận, để ta biết một hồn thơ thâm trầm lặng lẽ giữa vũ trụ bao la nhưng hoang vắng đơn côi. Trong tập “Lửa thiêng”, những bài thơ trác việt nhất là những bài mang màu sắc thâm u huyền bí Đông phương… Với Huy Cận, “cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”. Bởi thế, ví như cái buồn trong “Tràng giang” của ông cứ tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau như những đợt sóng xô dạt vào bất tận. Bản thân cái tên “Tràng giang” đã gợn lên một nỗi buồn xa xăm thầm kín mà âm vang mênh mông. Ngay từ câu thơ đầu “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” đã cho một thông báo về nỗi buồn sâu, chảy dài bất tận. Từ nỗi buồn điệp điệp chuyển sang nỗi buồn hai ngả “Con thuyền xuôi mái nước song song” rồi bỗng vỡ òa ra “trăm ngả”, bởi tâm thế “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Từ nỗi buồn “điệp điệp” đến “song song” rồi òa ra “trăm ngả” đã trào dâng một nỗi buồn cùng tận, nỗi buồn ẩn chứa bao đau đớn, xót xa. Một nỗi buồn chơ vơ không nơi bấu víu, bị dồn đến bước đường cùng trong vô định thời gian “lạc mấy dòng”… thì còn đâu có chỗ cho sự hồ hởi, vui tươi náo động kiểu “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” như Xuân Diệu nữa.
Cái buồn của “Tràng giang” cứ lơ thơ tan loãng đìu hiu từ cồn cát nhỏ lan sang tận nơi chợ chiều phía làng xa, rồi phát triển mở rộng đến: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Lớp lớp nỗi buồn triền miên trên con đường vô định “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng” để trở về với “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Cái buồn sao mà vắng lặng, hoang vu đến thế, cái buồn của nỗi day dứt khôn nguôi về tình người, tình đời giữa sa mạc cô đơn, dường như vắng bóng mọi sinh linh trên mặt đất. Nó chặn đứng mọi khát vọng mong manh của con người trên con đường vô định…
Có lẽ trong tất cả các nhà thơ mới, Huy Cận là người mang trong mình niềm trắc ẩn thầm kín sâu xa nhất. “Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn” (“Buồn đêm mưa”). Cái sự nghe nỗi buồn này không phải nghe bên ngoài, nghe bằng tai mà nghe bằng tâm cảm thẳm sâu của thi sĩ. Chỉ là giọt nước rơi trên mái nhà mà “Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la”. Chính bản thân Huy Cận tự nhận: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”. Nhưng cái sầu, cái buồn của Huy Cận lại mang vẻ đẹp thâm trầm của Đông phương, của dân tộc. Đọc thơ ông, tự sâu thẳm lòng ta dào lên niềm xúc động cảm thương sâu sắc. Đi suốt tập “Lửa thiêng”, ta bắt gặp triền miên nỗi buồn mênh mang sâu thẳm. Nỗi buồn Huy Cận thường là bột phát, vô cớ mà tự nhiên như chính con người ông. Nỗi buồn được coi là “ảo não bậc nhất” ấy, đậm sâu mà vẫn thanh thoát lạ thường. Nó không gay gắt, bực bội kiểu “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất/ Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật” (“Vội vàng”-Xuân Diệu) hay “Người ta khổ vì cố chen ngõ chật/ Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào/ Rồi bị thương, người ta giữ gươm dao/ Không muốn chữa, không chịu lành thú độc” (“Dại khờ”-Xuân Diệu).
Cái buồn của Huy Cận là cái buồn đẹp, cái buồn mang khuynh hướng lãng mạn, của lý tưởng thẩm mỹ trong chính con người cá nhân nhà thơ. Cái buồn về thân phận con người giữa vũ trụ bao la. Nó chính là cái đẹp, là sự chiến thắng của thơ. Nỗi buồn ấy là cảm thức về con người thiên nhiên, vũ trụ, luôn khao khát vươn lên đi tìm ánh sáng của sự sống dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Lần theo “Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi” mà nghe “Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ” (“Buồn đêm mưa”) để nhận ra tiếng tiền nhân cổ xưa vang vọng trong thơ ông. “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây” (“Vạn lý tình”), “Buồn gieo theo gió veo hồ”, “Phất phơ buồn tự thuở xưa thổi về” (“Chiều xưa”). Hồn thơ thi sĩ lặng lẽ trôi về miền xa xăm, mà ngẩn ngơ níu giữ: “Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về/ Sắc trời trôi nhạt dưới khe/ Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng” (“Thu rừng”). Cái nỗi buồn ấy thăm thẳm chùng xuống đến tận đáy: “Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng?” (“Nhớ hờ”)…
Hồn buồn Huy Cận không ngẫu nhiên mà có. Chúng ta biết vào thời bấy giờ, xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn ngổn ngang muôn nỗi. Cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến dẫn đến tâm trạng u uất, buồn rầu, lạc lõng giữa thế gian của các nhà thơ. Bản thân Huy Cận cũng mệt mỏi, ngột ngạt giữa hiện thực của người dân bị mất nước, tràn ngập thói hư tật xấu, bức bối nên tự nó đã dẫn tâm hồn thi sĩ của ông trở về đắm mình trong tòa lâu đài thi ca cổ kính nơi tiền nhân. Cái buồn, sự trống rỗng, cô đơn trong thơ ông là cái buồn mang đậm truyền thống thẩm mỹ thơ ca dân tộc. Nếu Xuân Diệu luôn mộng mơ, cứ bám riết vào đất mà nồng nàn say đắm thì Huy Cận vừa sâu sắc thâm trầm, vừa cao xa thăm thẳm…
Tiếng thơ của ông cất lên như tiếng vọng từ ngàn năm trước. Vẻ đẹp của tiếng thơ ông nghe như khúc độc huyền cầm vút lên giữa đêm trăng thu tĩnh lặng bên hồ Ngọc Bích. Một ai đó nhận xét: Chính bằng nghệ thuật kỳ ảo, vừa thông thái vừa giản dị, vừa vũ trụ vừa ngày thường, mà thơ ông đã đạt đến tính phổ biến của nhân loại…
Huy Cận – nhà thơ buồn nhất trong các nhà thơ mới và cũng là nhà thơ với những kiệt tác thơ còn sống mãi cùng thời gian.
8/11/2022
Trần Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

"Tình già" của Phan Khôi là Thơ mới

"Tình già" của
Phan Khôi là Thơ mới?

Việt Nam đã có thơ mới sánh cùng với thơ mới của các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Indonesia; khác nhau ở chỗ phong trào thơ mới dậy lên sớm hơn hoặc muộn hơn ba năm mà thôi. Còn các nước Thái Lan, Lào và Campuchia không có chuyện thơ mới bởi lẽ tình hình văn nghệ thiếu điều kiện phát triển.
Báo Phụ Nữ Tân Văn số 22 ra ngày 10.3.1932 đăng bài thơ Tình già của nhà nho tân tiến Phan Khôi (1887 – 1959). Khoảng hơn 8 tháng sau, tuần báo Phong Hóa đăng lại bài thơ dậy sóng ấy vào số báo Tết năm Quý Dậu, ngày 24.1.1933. Trước những chuyển biến của xã hội nước ta và nhất là tình hình văn nghệ tiến triển, bài Tình già được truyền tụng nhanh vì gây nên nhiều ấn tượng trong giới thanh niên trí thức thời bấy giờ.
I. Nguyên tác bài thơ và chú giải
TÌNH GIÀ
Hai mươi bốn năm xưa(1) một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ.
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là, không đặng.
Để đến nỗi, tình trước phục sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
– Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc,
Nếu chẳng quen hung(2) đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc(3) đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi(4)
Lời kết thể hiện sắc nét thần thái của đôi tình nhân, tình cũ nghĩa xưa làm sao quên “được”, nhưng mà lấy nhau thì không “đặng”. Đây là thơ hay, hay vì ý và âm điệu làm rung cảm lòng người. Hèn gì mà Xuân Diệu vượt rào thay chữ để viết thành câu thơ “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”(5).
Năm 1941,Vũ Ngọc Phan có vội lắm không khi sớm đưa ra nhận định: “Phan Khôi là người khởi xướng thơ mới trước nhất”(6). Xem chừng vượt đèn đỏ, cầm còi chạy trước ô tô! Phải xem mặt mới bắt được hình dung.
II. Vài nét về tiểu sử Phan Khôi
Phan Khôi sinh năm Đinh Hợi, 1887, lớn hơn Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu một tuổi. Ông mất năm 1960, thọ 73 tuổi trong cảnh ngộ khó khăn và ngặt nghèo. Có điều ai cũng cảm thương cho người tài danh với bút hiệu Chương Dân chết rồi mà mộ phần đã bị thất lạc nơi nào không hay biết.
Ông quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; đậu Tú tài khoa Bính Ngọ, 1906 tại trường thi Thừa Thiên, lúc 19 tuổi.
Trong quá trình làm báo, ông đã từng là Chủ bút báo Sông Hương từ cuối thập kỷ 30 đến đầu thập kỷ 40. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; năm 1954 làm việc ở Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội.
Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt. Ông nội đã từng giữ chứng Án sát dưới triều vua Đồng Khánh. Quan Án Phan Nhu sinh hạ Phó bảng Phan Trân là thân phụ của cụ Tú Phan Khôi. Mẹ ông là con gái của Tổng đốc Hoàng Diệu(7).
Đặc điểm của đời ông là sớm hưởng ứng tư tưởng canh tân, chuộng đổi mới theo chủ trương của phong trào Duy Tân. Năm 1908, Tú tài Phan Khôi trở thành bạn tù với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ra tù năm 1911, ông cắt tóc ngắn, mặc âu phục, không màng ra làm quan, tôi luyện văn chương quốc ngữ và lại chịu khó học chữ Pháp để rộng đường giao thiệp và sớm tiếp thu văn hóa Âu Tây.
Kể từ năm 1917 đến năm 1945, ông chính thức bước qua ngưỡng cửa làng văn, làng báo. Từ đó là bệ phóng cho nhà văn Phan Khôi nghiễm nhiên trở thành nhà nghiên cứu, phê bình văn và dịch thuật một cách đĩnh đạc. Thơ văn của ông mang đậm dấu ấn bản chất con người xứ Quảng lịch lãm trường đời. Ông chẳng mấy thích làm thi sĩ bởi lẽ ông chỉ làm thơ khi thật cảm hứng(8) và tư chất ông hơi khe khắt theo tinh thần “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, ông thẩm định và phê bình thơ với phong thái nghiêm cẩn, thâm sâu. Với Phan Khôi thi sĩ phải vượt xa, nhất thiết loại bỏ làm thơ theo lối thợ thơ. Đó là điểm khác biệt rạch ròi giữa ông Tú Khôi với nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu(9).
Ông phê bình văn học một cách khách quan, không khoan nhượng, không nể vì sửa lưng bất cứ ai viết sai lệch. Cả độc giả lẫn người đời đều quý trọng vì ông ngồi đúng chỗ với cương vị như “Ngự sử trên văn đàn”(10).
Cụ Tú Khôi sống và viết có lập trường chính kiến rõ rệt. Ông đã từng viết:
Cũng đành nhắm mắt không ân hận,
Nằm dưới mồ nghe khúc thái bình.
(Thăm Bộ đội)
Suốt một đời làm văn, làm báo, phê bình và nghiên cứu văn học, ông đã để lại bốn tác phẩm chính: Chương Dân thi thoại, Trở vỏ lửa ra(11), Việt ngữ nghiên cứu, Dịch Lỗ Tấn.
Nhận định về Phan Khôi, nhà nghiên cứu và phê bình Vũ Ngọc Phan phát hiện ra hai ưu điểm của ông qua bộ sách Nhà văn hiện đại, xuất bản năm 1942 như sau:
1. Văn ông có một giọng đặc biệt, dù trộn lẫn với văn ai cũng không thể lẫn được.
2. Phan Khôi mà đóng vai Ngự sử đoàn văn thì thật xứng đáng, vì không mấy người kiêm được điều kiện như ông.
III. Phong trào Thơ mới; thơ mới là gì?
Từ thơ cũ đến thơ mới thì tất yếu phải trải qua một quá trình phát triển. Sở dĩ ở phần sơ lược vể tiểu sử Phan Khôi ở phần II, chúng tôi đã lấy thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu để so sánh với nhà Nho tân tiến Phan Khôi. Học hành và khoa cử xưa đều có tiểu kỳ thi môn thi phụ. Nho sinh phải làm thơ, làm phú. Riêng về thơ thì gồm các thể loại như thơ cổ phong, thơ Đường luật, ca trù. So với Phan Khôi thì Nguyễn Khắc Hiếu rộng đường sáng tác các thể loại thi phú hơn. Hát nói, một loại hình của ca trù thì Tản Đà trội vượt hơn Phan Khôi vì thân phụ và thân mẫu của Nguyễn Khắc Hiếu đều là nghệ nhân và nghệ sĩ(12).
Ở tác phẩm Tuấn, Chàng trai nước Việt, chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, Nguyễn Vỹ nói về Phong trào thơ mới của nước ta:
“Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong là tiền phong của phong trào thơ mới. Mới từ tinh thần đến thể thức. Mới từ tư tưởng đến cách diễn tả tư tưởng. Tất cả những gì rườm rà, luộm thuộm, cổ kính, theo ảnh hưởng văn chương Trung Hoa đều bị gạt bỏ dần dần và được thay thế bằng lối viết rõ rệt, có quy củ, có văn phạm của văn chương Pháp. Điều đó không ai phủ nhận được”(13).
Kể từ khi bài thơ Tình già xuất hiện trên văn đàn thì khắp ba miền Nam, Bắc, Trung dấy lên cao “Phong trào Thơ mới”. Có thể nói bài thơ ấy được ví von như thêm một giọt nước làm tràn ly mà thôi. Phong trào thơ mới trở nên sôi nổi trong thời gian bộc phát từ năm 1932 – 1936.
Thơ mới là gì? Các thi gia mỗi người giải thích theo mỗi cách khác nhau. Có thanh niên tân học yêu thơ mới, tìm hỏi thi sĩ Lưu Trọng Lư về cách thức và bí quyết sáng tác thơ mới. Nhà thơ đa tình và mơ mộng của đất Quảng Bình đã trả trời một cách thản nhiên rằng: “Cứ làm bừa đi, rồi thành ra thơ gì cũng được. Đừng giống như thơ cũ, bỏ niêm luật thơ cũ, tức là thơ mới”(14).
Thơ mới là một danh từ khát quát nếu không muốn nói là mường tượng. Mơ hồ quá! Thơ cũ hay thơ cổ điển có khuôn mẫu ràng buộc theo từng thể loại cụ thể như Đường luật ngũ ngôn, thất ngôn; song thất lục bát, ca trù còn quen gọi là hát ả đào hoặc hát nói, hát cửa đình… là những thể tài phổ biến của ca trù mà hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huế đã phân định rạch ròi trong Việt Nam ca trù biên khảo(15).
Năm 1971, ông Nguyễn Thiên Thụ cho ra mắt bạn đọc Nghệ thuật hành văn, nguyên gốc là giáo trình giảng dạy về nghệ thuật viết văn được tu chỉnh lại được độc giả đồng tình đón nhận. Ông đã viết rõ về thơ mới như sau:
“Khi phong trào Âu hóa lan rộng đến nước ta, các thanh niên tân học muốn bắt chước thơ Pháp để tạo nên một sinh lực mới cho thi ca Việt Nam. Do đó, thơ mới ra đời.
Thơ mới tuy tự do, không hạn chế số câu, số chữ, không cần đối, niêm nhưng vẫn phải có vần có điệu”(16).
Sách ra mắt bạn đọc vào đầu tháng 2 năm ấy. Tiếc thay, vào ngày 4.2.1971, nhà văn Nguyễn Vỹ qua đời vì tai nạn xe hơi ở tỉnh Long An. Có một mối đồng cảm về các giải thích để trả lời câu hỏi “Thơ mới là gì?” của ba nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam tiếp nối nhau theo dòng chảy văn học nước nhà.
IV. Phan Khôi khẳng định bài Tình già không phải là thơ mới
Nối dòng, cả ba nhà nghiên cứu đều “đồng sàng đồng mộng”, tất cả đều thao thức về “hiện tượng thơ mới” ra đời và thơ mới là gì? Thể loại thơ ấy vì sao lại được mệnh danh là thơ mới. Nguyễn Vỹ đã tinh tế tìm gặp cho kỳ được bậc cha chú để hỏi cho ra chuyện, ra vấn đề khiến không những mình mà còn nhiều người đã ưu tư và trăn trở.
Sau nhiều lần hầu chuyện với cụ Tú Khôi, chủ bút báo Phụ Nữ Thời Đàm ở Hà Nội, Nguyễn Vỹ đã viết theo thể loại hồi ức (mémoir) để xếp đăng vào bộ sách dày ngót tới 978 trang khổ 14,5×20,5 phần thơ mới năm 1932 – 1934.
Một Phan Khôi với bút hiệu Tú Sơn; một Nguyễn Vỹ như đã gửi nguồn cơn tâm huyết qua nhân vật Tuấn khắc khoải vì vận nước đổi thay. Tuổi tác hai mẩu người có chí hướng cách biệt nhau vừa đúng một thế hệ. Tình cảm đồng châu xứ Quảng của hai nhà văn ở nơi đất khách Hà Nội vào những năm 1934 – 1935… lại trở nên ngày mỗi thân thiện và nồng thắm hơn khác nào như tình bác cháu, tình thầy trò trong nghề cầm bút. Suy cho cùng, duyên văn tự là cái duyên dun dủi tốt lành và chân thực.
Tình thân ấy đã triển nở, được Nguyễn Vỹ ghi lại như găm vào ký ức qua nhân vật Tuấn, chàng trai nước Việt bằng nhiều mẩu đối thoại hồn nhiên và trong sáng giữa hai thế hệ “bác – cháu”:
“Tuấn được gặp cụ hai ba lần ở Hà Nội, trong tòa báo Phụ Nữ Thời Đàm mà cụ làm chủ bút. Cụ có cho Tuấn xem bài thơ của cụ, gọi là “thơ mới”, toàn một giọng trào phúng. Một lần cụ bảo với Tuấn: “Người ta cứ đổ riệt cho tú Phan Khôi này là đề ra thơ mới. Thiệt là bá láp bá xăm. Tui có ưa làm thơ bao giờ đâu, thơ cũ không làm huống chi là thơ mới. Để trả lời những ánh nói bậy đó, tui tức mình làm bài thơ mới chơi, gọi là “thơ mới” mà chính là để ngạo thơ mới đó”(17).
Chất Quảng dân dã và tri thức mới hiển lộ rõ nét trong phong cách nói trào phúng của một cụ già ở độ tuổi tri thiên mệnh. Thật là sống sao nói vậy mà viết lại thành văn cũng vậy mà thôi. Nhân cách ấy nếu gọi cho đúng, riết cho chặt thì xứng là cốt chất chẳng thể nào lẫn lộn với ai được. Ngay cả cái bút hiệu “Tú Sơn” đã thể hiện một lối chơi chữ mang sắc màu thời đại: “Nửa ta nửa Tây”. Tú Sơn là biến trại của “tout seul” có nghĩa là “cô độc hoàn toàn”. Một ông Tú tài Hán học khác người đồng môn, đồng khoa đương thời vào năm 1908 mở đầu cho phong trào Duy Tân. Cụ Hà Ngại viết tác phẩm Khúc tiêu đồng, hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, đã nhận định về một Phan Khôi như sau ở trang 89 – 90: “Tú tài Phan Khôi ngấm ngầm cổ động học mới nhiều các vị cách mạng tiền bối không thể kể ra cho hết…”.
Câu chuyện còn dài nữa giữa Phan Khôi có bút hiệu Chương Dân với Nguyễn Vỹ ẩn chứa hình ảnh Tuấn, chàng trai nước Việt không chỉ đơn thuần ngừng lại đó. Mà còn tiếp diễn một “xen”(19) hay là một “điệp khúc” lý thú. Mời độc giả, thính giả nghe kể tiếp:
“Tuấn có hỏi cụ Tú Phan Khôi:
– Người ta bảo rằng bài “Tình già” của bác đăng trong Phụ Nữ Tân Văn là thơ mới đấy.
Cụ Tú cười oang oang:
– Mới cái mốc xì! Bài “Tình già”, tui làm theo điệu thơ cổ phong của Tàu, chớ mới cái gì!”(20)
Nguyễn Vỹ thật có tài biết “điểm huyệt” đúng vào chỗ ngứa của bậc trưởng thượng đáng hàng cha chú mình để cố làm sao khui cho ra ẩn số mà đã hơn năm bày năm qua giới thanh niên tàn học, giới tài tử văn nhân và kể cả quần chúng đã đinh ninh một dạ một lòng là Bài thơ Tình già của Phan Khôi là thơ mới.
Thơ cổ phong của Trung Quốc thịnh hành trước đời nhà Đường, trước khi thơ Đường đi vào quy chuẩn với số câu, số chữ, vần điệu, niêm luật một cách mực thước đúng khuôn khổ. Nói một cách khác cho dễ hiểu thì thơ cổ phong na ná gần như thơ tự do vậy. Thành thử, chính tác giả Phan Khôi chỉ chấp nhận thơ của mình dậy sóng một thời là “thơ mới”, đóng khung vào giữa hai dấu ngoặc kép. Thì ra bài thơ Tình già của Phan Khôi chào đời ngày 10.3.1932 không phải là thơ mới.
Sự tình xem ra có oái oăm không? Giữa tác giả, tác phẩm và dư luận về bài thơ dậy sóng Tình già đã không cùng đi chung một con đường nhất thống. Điều này khiến cho sách báo, văn học sử và kể cả giáo trình văn học ở các cấp học đã hữu tình hoặc vô tình dẫn đường cho người học đi sai đường, lệch lối. Tất cả dồn ứ lại thành cái sai lớn sớm phủ lên những mái đầu xanh trong quá khứ vào những năm cuối thập kỷ 30, 40, 50 của thế kỷ trước, thế kỷ thứ hai mươi.
Chú thích:
(1) 24 năm xưa: Lúc ấy là năm 1908, Phan Khôi 21 tuổi, cái tuổi tình yêu dậy sóng. Tình của ông Tú Khôi lãng mạn có vừa đâu!
(2) Hung: “hung” là nhiều. Người miền Trung nói “cho chi nhiều, hung dữ rứa”. Yêu hung: yêu nhiều.
(3) Liếc: trai gái liếc nhau, nhìn bên này, nhìn bên kia một cách thầm kín. Liếc bên phải, liếc bên trái.
(4) Có đuôi: con còn nhỏ, níu đi theo mẹ như cái đuôi. Mắt có đuôi nheo, nhìn nhau lại có khi liếc mắt để tỏ tình quyến luyến, yêu  thương. Yêu nhau thì được mà lấy nhau lại không đặng. Nhìn mà lòng thầm thương.
(5) Nhà văn Roland Dorgeles, ở Paris sang du lịch Việt Nam viết được tác phẩm “Sur la route mandarine” (Trên đường cái quan). Ở  trang đầu có viết 5 chữ tiếng Pháp: “Partir, cest mourir un peu”. Đi, là chết trong lòng một ít.
(6) Nhà văn hiện đại, tập I, Vũ Ngọc Phan, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989, tr 244.
(7) Khúc tiêu đồng, Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn, Hà Ngại, Nxb. Trẻ, TP HCM, 2014, tr 21.
(8) Trong Chương Dân thi thoại, Phan Khôi viết rõ: “Sự học của một bậc thi sĩ tất nhiên phải đủ các tri thức phổ thông như mọi kẻ  khác đã đành, mà lại phải có cái học chuyên môn về nghề làm thi nữa” .
(9) Tản Đà là nhà thơ, trên thi đàn cây bút của ông sắc sảo về các thể loại như ca trù, thơ cũ, thơ mới, một nhà thơ diễn tả đúng  nhất tâm hồn Việt Nam như lời nhận định của Vũ Ngọc Phan.
(10) Báo Phụ Nữ Tân Văn, số 62 ra ngày 24/7/1930, Phan Khôi viết bài “Cảnh cáo các nhà học phiệt” để công kích những người  có địa vị trong văn giới không kể chi đến dư luận. Năm 1931 trên báo này mở mục “Vai ngự sử trên đàn văn” để chỉ những sai lầm.
(11) “Trở vỏ lửa ra” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Phan Khôi. Vũ Ngọc Phan cho rằng Phan Khôi dùng ngòi bút nhà báo hơn là ngòi  bút của tiểu thuyết gia. Những câu, những chữ dùng là ngôn ngữ ở vùng Nam Trung bộ, làm giàu cho tiếng Việt.
(12) Việc so sánh này chỉ cốt ý làm rõ việc: thơ mới là biến thể của thơ cổ phong và hát nói. Theo Dương Quảng Hàm trong Việt  Nam Văn học sử yếu thì “lối thơ tám chữ của phong trào thơ mới thoát thai ở hát ả đào mà ra.
(13) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, Nguyễn Vỹ, Nxb. Văn học, TP HCM, 2006, tr 750. Nguyễn Vỹ  (1912 – 1971) là nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Đất Quảng Ngãi có đến 2 ông Nguyễn Vỹ: Nguyễn Vỹ nhà văn và Nguyễn Vỹ làm Thanh  tra học chánh trước 1975.
(14) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, sđd,tr.752
(15) Nhà văn hiện đại, tập II, Vũ Ngọc Phan, Nxb. Khoa học Xã hội, Tp HCM, 1989.
(16) Nghệ thuật hành văn, Nguyễn Thiên Thụ, Nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1971, tr 140.
(17) TUẤN, Chàng Trai Nước Việt, Chứng tích thời đại đầu thế kỷ XX, sđd, tr 742.
(18) Tout seul: người cô độc, Ông tú Khôi “cô độc” vì không giống ai về bản lĩnh sống và viết. Đại thi hào Tagore viết: “Personne ne  répond à ton appel/ Marche tout seul, marche tout seul.Nghĩa là: Nếu chẳng ai đáp lời bạn gọi/ Bước một mình, bạn hãy đi lên. Nhà Nho  tân tiến, nhà Nho chân chính có cách nói trào lộng sâu sắc, pha phách cái khôi hài (ironie) của Tây phương mà Platon đã chủ xướng.
(19) “Xen” là cảnh, hoạt cảnh. Biến trại từ tiếng Pháp.
(20) Xưa nay, người ta đã đăng đàn diễn thuyết về thơ mới tại Hà Nội, Sài Gòn và cả ở Cố đô Huế. Người nói Tây, người nói Đông.  Câu hỏi bay vút tận trời, sao cụ Phan Khôi không lên tiếng sớm.
15/8/2014
Lê Quang Thái
Nguồn: Tạp chí Sông Hương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Thạch Lam - Những câu chuyện vang bóng thời gian

Nhà văn Thạch Lam - Những
câu chuyện vang bóng thời gian

Cội rễ làm nên sức sống bất diệt của tác phẩm văn chương là tài năng, ân tình người cầm bút. Văn chương khơi nguồn từ trái tim sẽ đi đến những trái tim để rồi người ta nhớ mãi không quên.
Ba mươi hai tuổi đời, chưa đầy sáu năm cầm bút, Thạch Lam góp vào vườn hoa muôn sắc của nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX những truyện ngắn mang giọng điệu riêng, chan chứa ân tình, đằm thắm yêu thương in bóng trong tâm hồn biết bao thế hệ.
“Nhà mẹ Lê”, câu chuyện nhói lòng
Truyện Thạch Lam có sự hòa quyện của hai yếu tố: Hiện thực và lãng mạn. Với “Nhà mẹ Lê”, chất lãng mạn dường như mất hẳn, thay vào đó là bức tranh hiện thực cuộc đời đau nhói, xót xa. Bối cảnh của truyện là một “phố chợ tồi tàn, hai dãy nhà lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái chái nứa đã mục nát”.
Người dân phố chợ là những kẻ ngụ cư trôi dạt đến đây, bươn chải, kiếm sống qua ngày. Thương nhất là nhà mẹ Lê, một gia đình có người mẹ với mười một đứa con, đứa lớn nhất mới có mười bảy tuổi. Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay. Người đàn bà quê thấp bé nặng trĩu đôi vai gánh nặng mưu sinh nuôi đàn con dại.
Chật vật, khó khăn, đầu tắt mặt tối từ tinh sương làm thuê, làm mướn cũng không đủ nuôi con. Cái đói luôn rình rập người mẹ khổ và những đứa trẻ nghèo bất kì lúc nào. Tội nghiệp, xót xa cho những kiếp đói rách, bần hàn.
Khoảnh khắc ám ảnh nhất của câu chuyện là mùa rét năm ấy “giá lạnh và mưa gió lầy lội”. Thương đàn con ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt, tối tăm và cũng vì nhịn đói suốt buổi, người mẹ đông con ấy đã hai lần “liều mạng” vào nhà ông Bá xin chút gạo với hi vọng đàn con có chút gì lót dạ.
Ngán ngẩm thay, gạo nhà giàu khó xin, chó nhà giàu độc dữ. Không xin được gạo, mẹ Lê còn bị người ta thả chó Tây cắn. Mẹ đau, con đói và khép lại câu chuyện là mười một đứa trẻ mồ côi trong căn nhà lạnh lẽo, âm u. Ở đó, “con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát sẽ về”. Nhưng tất cả chỉ là vô vọng. Mẹ Lê chết để lại đàn con côi cút, bơ vơ, căn nhà vắng sẽ càng thêm lạnh lẽo.
Cái chết khép lại cuộc đời người mẹ khổ, thương con, thế nhưng tháng ngày phía trước của đàn trẻ nhỏ sẽ chông chênh nước mắt, biết tìm ai bấu víu, nuôi nấng, chở che. Trang văn Thạch Lam khép lại, người đọc vẫn chưa nguôi ám ảnh, thương cảm, nhói đau.
Bức tranh cuộc đời sao chua xót đắng cay. Câu chuyện đẫm nước mắt được nhà văn kể lại bằng tấm lòng đôn hậu và trái tim chan chứa yêu thương sẽ soi bóng thời gian. Đâu đó quanh ta vẫn thấp thoáng hình bóng “nhà mẹ Lê” trong cuộc sống thường ngày. Cần lắm những chia sẻ, yêu thương cho cuộc đời thêm nhiều gam màu hạnh phúc.
“Sợi tóc”, ranh giới mong manh
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà sinh thời, Thạch Lam lấy “Sợi tóc” đặt tên cho  tập truyện xuất bản năm 1942 của ông. Dõi theo những thiên truyện của cây bút biệt tài, người ta mến yêu “Hai đứa trẻ”; cảm phục “Gió lạnh đầu mùa”; say mê “Dưới bóng hoàng lan”; cảm kích với “Cô hàng xén”... Với tôi, mỗi truyện đều có dư vị riêng, nhưng ấn tượng vẫn là “Sợi tóc” mong manh níu giữ nhân phẩm con người. Ẩn sau câu chuyện giản dị là bề sâu triết lí nhân sinh, có giá trị muôn đời.
Diễn biến của truyện xoay quanh hai nhân vật: Thành sành sỏi, thạo đời, thạo các ngón ăn chơi; Bân người anh họ giàu, rất ngốc lại keo kiệt. Một hôm, Bân rủ Thành đi cùng mua đồng hồ, sau đó họ đi ăn nhà hàng, vào tiệm cô đầu vui chơi. Bân để quên chiếc áo gần chiếc giường chỗ Thành, bên trong chiếc ví dày nhiều tiền, có những tờ bạc mới nguyên, Thành nảy sinh ý định sẽ lấy cắp mấy tờ giấy bạc một trăm.
Anh ta suy tính, dự định đâu vào đấy. Nhưng trong khoảnh khắc mong manh, Thành trả lại chiếc áo cho Bân và ra về. Truyện chỉ có vậy, cái tài của Thạch Lam là đặt nhân vật của mình vào một tình huống lựa chọn, đấu tranh gay cấn, ằng co. Ăn cắp hay không ăn cắp; giữ bản tính lương thiện của con người hay đánh đổi, làm hoen mờ nhân phẩm trước sự cám dỗ của đồng tiền. Ranh giới tốt, xấu, thiện ác mỏng mảnh như sợi tóc.
May thay, Thành vẫn giữ được lòng thiện chỉ trong khoảnh khắc mong manh. Việc Thành đổi trả chiếc áo cho Bân, nói thêm một câu “Anh đếm lại tiền đi” đã giữ lại bản tính Người của anh ta. Tính thiện thắng thế trước sự cám dỗ của lòng tham. Hành động ấy khác xa với lão huyện Hinh đểu giả, tham lam dẫm lên “Đồng hào có ma” của con mẹ nuôi tội nghiệp mà ăn cướp một cách trắng trợn. Vậy là, đời người nhiều khi cần bước qua ranh giới, ngược lại, có khi cần dừng lại trước ranh giới định mệnh mới mong giữ được thiên lương, bảo tồn thiện tâm lành vững.
Sinh thời, Thạch Lam đau đáu về sứ mệnh lớn lao của văn chương: “Đối với tôi, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”.
Với truyện ngắn “Sợi tóc”, nhà văn sáng tạo nên “thứ khí giới thanh cao” làm trong sạch tâm hồn con người. Giữa bộn bền cuộc sống, trước muôn vàn những cám dỗ, hãy tỉnh táo giữ lại phẩm chất “Người trong mỗi con Người”. Vậy nên, câu chuyện nhỏ mà nhắn gửi một bài học lớn không chỉ cho tôi, cho bạn mà còn cho tất cả những người chân chính trong cõi nhân sinh.
“Hai đứa trẻ”, hiện thực và ước mơ.
Sáng tác của Thạch Lam có truyện nghiêng về phía lãng mạn với những xúc cảm mong manh, mơ hồ: Nắng trong vườn, Dưới bóng hoàng lan… Có truyện nghiêng nhiều về cái gốc hiện thực: Nhà mẹ Lê; Một đời người; Tối ba mươi… Giữa lằn ranh ấy, truyện Hai đứa trẻ đã dung hòa được cả hai yếu tố. Sức hấp dẫn của truyện được thể hiện bởi sự hòa quyện giữa hiện thực và lãng mạn trữ tình. Trong bóng tối cuộc đời đè xuống, ước mơ khao khát vẫn nhen lên cho dù nhỏ bé mong manh.
Không hiểu sao mỗi lần đọc truyện, tôi luôn ám ảnh với hai chi tiết: Mở đầu “Liên ngồi lặng yên bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần”; và khi câu chuyện khép lại “Nhưng Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”.
Vậy là, xuyên suốt cả câu chuyện là bóng tối bao trùm không gian phố huyện, ôm trọn những cảnh đời nghèo khổ, chìm nghỉm trong lay lắt đáng thương. Ngòi bút của Thạch Lam vẽ nên bức tranh đời buồn thiu về cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn quẩn quanh, chìm khuất trong bóng tối. Lần dở từng trang sách, bức tranh hiện thực ấy dần hiện lên ám ảnh, khôn nguôi.
Cảnh chợ tàn nơi phố huyện buồn đến nao lòng. Đọc mấy câu văn Thạch Lam tả cảnh chợ vãn, lòng buồn lại buồn hơn: “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. Vẻ vẹn ba câu văn, người ta thấu tỏ cái thưa vắng, xác xơ của cảnh chợ tàn.
Đâu còn cảnh nhộn nhịp kẻ bán người mua? Âm thanh ồn ào trở nên xa xỉ. Ẩn hiện sau lời văn là tiếng thở dài, tiếc nuối ngậm ngùi cho dù chỉ là một chút ồn ào khe khẽ. Cảnh chợ tàn mang đến cho người đọc những nghĩ suy về cuộc sống đói nghèo, túng thiếu nơi phố huyện ngày nào.
Cảnh chợ tàn buồn vắng, nghĩ về những kiếp người tàn chao ôi ám ảnh, xót xa. Ngòi bút nhà văn tựa như ống kính máy quay phim chộp lại những cảnh đời, những kiếp người tội nghiệp, đáng thương nhọc nhằn gánh nặng mưu sinh. Mấy đứa trẻ nghèo nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại.
Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng nước mà ế ấm chẳng mấy ai mua, lay lắt như ngọn đèn hoa kì giữa mênh mông bóng tối. Chị em Liên trông coi gian hàng tạp hóa nhỏ xíu, buôn bán cả ngày mà có ăn thua gì. Bà cụ Thi ngửa cổ uống cút rượu ti cạn sạch đi lần vào bóng tối, trông thật xót xa.
Chiều tàn chóng qua, màn đêm buông xuống, “đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối”, góp thêm vào bức tranh đời là bác Siêu với gánh phở xa xỉ, nhiều tiền nên ế ấm, không ai mua được. Vợ chồng bác xẩm với tiếng đàn bầu não nề cùng thằng nhỏ lê la ngoài manh chiếu không khỏi xót xa. Tất cả những mảnh đời, những kiếp người đều chung nhau một chữ nghèo, cuộc sống của họ mòn mỏi, quẩn quanh, buồn tẻ nơi phố huyện chứa đầy bóng tối.
Thực tại tối tăm, tương lai rất đỗi xa vời. Viết về những kiếp người tàn, Thạch Lam gửi gắm niềm thương và cả những niềm đau cho số phận người dân lao động nghèo khổ nơi phố huyện nghèo trước cách mạng. Ngòi bút hiện thực giúp nhà văn tái hiện bức tranh cuộc đời ám ảnh, xót đau. Vậy nên, truyện Thạch Lam lãng mạn, trữ tình mà vẫn trên cái gốc là hiện thực cuộc đời muôn nghìn cay đắng nhọc nhằn.
Đọc “Hai đứa trẻ”, hình như có một câu Thạch Lam thổ lộ ước mong của những kiếp người tàn giữa bóng tối cuộc đời: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”. Tấm lòng đôn hậu của người cầm bút đã tìm thấy đốm sáng quý báu tỏa ra từ tâm hồn người nghèo khổ. Ước mơ thay đổi cuộc sống cho dù ước mơ ấy mong manh, mơ hồ và chưa thật rõ nét.
Chỉ biết rằng, họ muốn vượt thoát khỏi cuộc sống buồn chán, lay lắt hàng ngày. Khát khao chút gì đó tươi mới, sôi động, rực rỡ hơn. Khoảnh khắc háo hức chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua của chị em Liên, có lẽ được coi là khoảnh khắc ước mơ. Nếu thiếu cảnh đợi tàu, chắc hẳn sức cuốn hút của văn phẩm sẽ nhạt đi không ít. Câu chuyện sẽ khép lại mà không có nhiều điều để nói, để bàn.
Thế nên truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam dài hơn sáu trang sách, cảnh đợi tàu chỉ vẻn vẹn khoảng một trang nhưng giả sử nếu thiếu đi giây phút đó câu chuyện sẽ vơi đi nhiều ý nghĩa. Đợi tàu là khoảnh khắc hệ trọng bậc nhất trong ngày buồn lê thê với người dân phố huyện, nhất là với chị em Liên và An.
Nhà văn đã rất kì công trong miêu tả sự xuất hiện của đoàn tàu. Khởi đầu là ánh sáng của đèn ghi, rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, rồi đoàn tàu rầm rộ đi tới, các toa đèn sáng trưng, tiếng ồn ào của hành khách… Tất cả chỉ trong một khoảnh khắc nhưng lại được nhà văn miêu tả trong sự chờ đợi háo hức, sự hân hoan vui mừng và cả sự hụt hẫng tiếc nuối của chị em Liên và An.
Con tàu là hình ảnh của quá khứ tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Đợi tàu để được nhìn, được mơ tưởng, để nuôi dưỡng kỉ niệm đẹp. Đợi tàu để dõi theo và cũng để mơ tưởng về một thế giới khác hẳn, cái thế giới tràn ngập ánh sáng, âm thanh, cái thế giới của ngày mai vui tươi, sôi động hơn.
Đối với chị em Liên, việc đợi tàu là cách để giải tỏa nỗi buồn. Viết về cảnh đợi tàu của chị em Liên, Thạch Lam bộc lộ miền đồng cảm xót thương đến vô hạn và quan trọng hơn, ông trân trọng nâng niu ước mơ khát vọng đổi đời của những con người sống trong bóng tối vẫn luôn khát khao hướng đến ánh sáng.
Cuộc sống cực khổ, tăm tối đến đâu nhưng khi người ta còn biết hi vọng, biết ước mơ thì vẫn còn rất đáng mến, đáng trọng xiết bao. Vậy nên, hãy nâng niu, trân trọng ước mơ cho dù nhỏ bé, mong manh xa vời của kiếp người tội nghiệp đáng thương. Trang văn khép lại còn mở ra bao suy tư trong tâm trí người đọc.
“Hai đứa trẻ” chắc hẳn là truyện ngắn in bóng đậm nét nhất phong cách văn chương Thạch Lam, truyện như một bài thơ trữ tình đầy xót thương. Ngòi bút tinh tế của nhà văn đã đi sâu khám phá diễn biến tâm lí nhân vật với những xúc cảm tinh tế, mong manh.
Đằm sâu hiện thực mà lại bay bổng lãng mạn. Hiện thực đè xuống những phận người, ước mơ lãng mạn lại nâng cánh họ bay lên để hi vọng khát khao. Song khép lại hiện thực vẫn bủa vây, bóng tối vẫn trùm lấy mọi cảnh đời nghèo khổ, lắt lay. Mỗi trang viết đều nặng trĩu ân tình của người cầm bút tinh tế, đôn hậu, đằm thắm yêu thương.
Thước đo giá trị cuộc đời đâu phải ở chỗ dài hay ngắn, ba mươi hai tuổi đời, Thạch Lam mất khi tài năng văn chương đang vươn tới độ chín. Tiếc nuối cho văn đàn dân tộc. Song, với tài năng truyện ngắn biệt tài, văn phẩm của ông vang mãi thời gian.
Đọc truyện Thạch Lam, người ta cảm thương, xót xa cho mẹ Lê chết đau, chết khổ vì con; quý trọng Thành biết dừng lại đúng lúc để không đánh mất lương tri; nâng niu ước vọng đổi đời, khát khao tìm đến cuộc sống tươi mới của người dân nghèo trong “Hai đứa trẻ”.
Những câu truyện xúc động, ám ảnh kết tinh tài năng, ân tình người nghệ sĩ. Giữa bộn bề cuộc sống hôm nay, những truyện ngắn mang dư vị riêng của nhà văn gắn bó nặng sâu với mảnh đất Cẩm Giàng – Hải Dương vẫn nuôi dưỡng bồi đắp tâm hồn, hướng người ta đến những điều tốt đẹp.
11/11/2022
Nguyễn Văn Luyện
Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhà văn Lê Lựu: Người theo đuổi một nguyên tắc là "Thật"

Nhà văn Lê Lựu: Người theo
đuổi một nguyên tắc là "Thật"

Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12.12.1938 tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Những tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn Người cầm súng (1970), các tiểu thuyết Mở rừng (1976) Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994). Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học  nghệ thuật đợt 1 (năm 2001). Nhà văn qua đời vào chiều 9.11.2022 tại nhà riêng, sau một thời gian lâm bệnh nặng.
Tôi biết nhà văn Lê Lựu qua hai tập truyện ngắn Người cầm súng và Phía mặt trời khi đang dạy văn ở một trường cấp III gần quê ông. Học trò nông thôn mà ham đọc, rất quý. Có mấy em hỏi: Thầy đưa chúng em sang nhà bác Lê Lựu được không? Nghe tôi kể (theo tưởng tượng hơn là do thực tế tiếp xúc) rằng Lê Lựu là một chú bộ đội đang chiến đấu ở chiến trường B… rồi nói tiếp: Chú ấy viết thế, là sự thực cả đấy… Mắt học trò long lanh, mắt tôi dân dấn nước.
1. Sau này biết và quen nhau, tôi kể cho tác giả Ranh giới và Thời xa vắng nghe chuyện thầy trò tôi, Lê Lựu hồ hởi sôi nổi hẳn lên, nói và kể liên miên lan man. Nhà thơ Vũ Cao bảo: Lạ nhỉ, sao hôm ấy Lê Lựu lại nói lắm thế không biết! Mà nói hay nữa ấy chứ!
Tôi còn nhớ hôm ấy nhà văn Lê Lựu đập đập tay vào đầu gối tôi, bảo: Nhất định tôi với Nguyên An có thể có chuyện lâu lâu rồi.
Được nghe thế, từ Lê Lựu, vào những năm 1978 – 1989, chắc cánh viết trẻ ai cũng thích. Riêng tôi hơi hoang mang. Sự hoang mang ấy về sau thành chuyện thật.
Số là, khoảng cuối năm 1979, tôi đọc kĩ tiểu thuyết Ranh giới của Lê Lựu rồi viết một bài ngắn in trên Tuần báo Văn nghệ, có câu đại ý:
“Lê Lựu giỏi viết truyện người lính xuất thân nông dân, nay viết Ranh giới, là chuyện thanh niên học sinh vùng đô thị miền Nam, thế là anh đã tự đặt cho mình một ranh giới xem ra khó vượt qua vượt lên được”.
Tưởng viết thế là phải, ai dè tác giả Ranh giới không vui, tôi đâm ra lúng túng. Biết chuyện, nhà thơ Vũ Cao bảo:
– Làm phê bình văn học thì đừng sợ bị kẹt. Cứ viết cho đúng ý nghĩ và cảm nhận của mình, việc gì phải uốn éo chiều lụy. Nhà văn đích thực người ta không chấp nhặt đâu, tôi ở với cánh lính viết văn làm báo đã lâu, tôi biết mà.
Đấy là ông nói với tôi, còn với Lê Lựu, thì có người kể lại là ông bảo: “Này, ông viết cả vạn trang, có vài trăm trang người ta đọc kĩ, gợi ra đôi ý chưa khen cũng chẳng chê, có gì đâu mà bồn chồn quá làm gì…” rồi vỗ vỗ vai tác giả Ranh giới, lại cười.
Thế là xong, anh em vui vẻ cả.
2. Cuốn Thời xa vắng của Lê Lựu ra mắt không chỉ một lần, mà nếu nói là mấy trăm lần cũng có thể là nghe được. Vì sao? Vì mấy năm tiếp theo, hễ gặp nhau, giới cầm bút vẫn cứ hỏi và trò chuyện về tác phẩm này; vì có khá nhiều ông/ bà bạn tôi – hơi giống các em các cháu học trò tôi thủa nào – lại bảo: Thôi thì, ông không đưa chúng tôi đến làm quen, làm bạn với tác giả Thời xa vắng được, thì ông nói/ kể về tác phẩm ấy cho bọn tôi nghe đi; nhớ kể và cho biết ý kiến của riêng ông nữa đấy nhé!
Không kịp xin phép Lê Lựu, tôi cứ kể và bình về tiểu thuyết Thời xa vắng. Rồi thì cũng có bạn tôi tìm gặp được Lê Lựu về khoe với tôi, chị chép miệng: Sao cái ông này hồ hởi chân thành mà đời lại truân chuyên thế không biết?! Cảm rồi à? Một bạn hỏi vậy, chúng tôi được nghe chị bạn băn khoăn về sự khổ của anh Sài nói nhẹ nhàng: Là cái ông Lê Lựu ấy, chứ anh Sài kia thì cảm cũng là chuyện gió mây thôi!
Lê Lựu nghe tôi thuật lại chuyện này thì đờ đẫn đến cả phút rồi đứng dậy, quên cả chào, ra về. Lần sau gặp lại, ông gọi tôi ra nói nhỏ, như hỏi: Đám các cô, các bà thương thằng Sài hay thương tôi hả ông? Anh có muốn gặp một ai không? Lê Lựu: Muốn… Nhưng thôi ông ạ. Cứ thế lại quý nhau mãi, phải không?
3. Lê Lựu là nhà văn lớn hay “vừa vừa” mà bật sáng?
Câu hỏi này xin để ta bàn thêm.
Tôi chỉ biết: Trong cả trăm tác giả thường được nhắc tên khi ta bàn đến lịch sử văn chương hiện đại Việt Nam, Lê Lựu thuộc về số ít. Ông được người đọc thương cảm mà đọc rồi bình hơn là khâm phục hay tò mò mà bình.
Đầu năm 1994, Hội Nhà văn Việt Nam có kế hoạch làm tập sách gọi là Kỷ yếu nhà văn Việt Nam…, sau thống nhất lại, đặt tên là Nhà văn Việt Nam hiện đại. Tôi đề nghị: Ngoài phần Trích yếu lý lịch công tác rồi Danh mục tác phẩm chính với Các giải thưởng… mỗi nhà văn hội viên trong sách nên tự viết chừng 100 chữ trình bày vắn tắt quan niệm văn chương của mình. Được đồng ý, tôi tìm gặp Lê Lựu. Ông chăm chú nghe tôi, đoạn hỏi lại: Đấy là ý cậu, cũng hay, nhưng ý Hữu Thỉnh thế nào? Tôi đùa: Ông Hữu Thỉnh bảo là nếu ông Lê Lựu không viết 100 chữ này, thì sách không ra được. Lê Lựu thầm thì: Chả có nhẽ, cậu lại đùa chứ gì? Thì không đùa được sao? Nhà văn Lê Lựu buông hai từ: Được rồi!
Tôi về, tưởng thế là xong, ai dè mấy hôm sau ông bảo: Tôi kể lan man, toàn sự thật cả, Nguyên An viết hộ tôi nhé.
Tôi không viết, mà theo lời Lê Lựu kể, thì nói/ đọc lại để ông viết, có bút tích của ông mà trình cho ban biên soạn thì vẫn hơn. Nhà văn Ma Văn Kháng và nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình đọc 100 chữ của Lê Lựu thì gật gù: Ờ nhỉ, ờ nhỉ… rồi đồng thuận ngay.
Sách này xuất bản vào tháng 4 năm 1997.
Tháng 10 năm 2020, sách tái bản – bổ sung lần thứ năm. Ở trang 506 của Lê Lựu, thì chỉ bổ sung phần Tác phẩm chính đã xuất bản và phần Giải thưởng văn học, còn phần Suy nghĩ về nghề văn có khoảng 100 chữ ấy, chỉ giữ lại đoạn Lê Lựu đã viết từ năm 1997 như sau:
“Tôi là người ít học, ít đọc, vì lười nghĩ ngợi. Toàn bộ những trang viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là Thật. Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là người chép truyện, “có gì viết nấy”.
Tôi – người viết những dòng này về Lê Lựu – và những bạn văn bạn đọc yêu quý ông đều có thể hiểu là tại sao ông lại chỉ đồng ý giữ lại bốn câu ngắn gọn, rõ ý này.
Là văn gia có vị trí như một cột mốc trên tiến trình đổi mới văn học những năm cuối thế kỉ XX ở nước ta, văn và đời của Lê Lựu (cũng như Nguyễn Huy Thiệp…), hẳn sẽ còn là đề tài nghiên cứu đối với các nhà viết sử văn chương – văn hóa nước nhà.
9/11/2022
Nguyên An
Nguồn: Báo Thể Thao và Văn Hóa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Điển cố trong thơ Xuân Diệu trước năm 1945

Điển cố trong thơ
Xuân Diệu trước năm 1945

Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định “mới nhất trong các nhà Thơ Mới”. Thơ Xuân Diệu là một sự lạ hóa về mặt ngôn từ với những cách tân độc đáo mới lạ bởi những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực của lối thơ Pháp. Tuy vậy, những quán tính của thơ cũ vẫn còn trong lối viết của ông. Điển tích điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật được ông vận dụng sáng tạo và có chủ đích.
1. Nói đến thơ ca là nói đến những đặc trưng của tính hình tượng, đa nghĩa và hàm súc… Điều đó cho phép điển cố được dẫn dụng như một phương thức chủ đạo. Thơ Mới được xem là một trong những nhịp cầu của hai bến bờ thơ ca truyền thống và hiện đại. Bước sang quỹ đạo của thơ ca hiện đại, Thơ Mới không hề đoạn tuyệt với thơ cũ, những ảnh hưởng của âm hưởng thơ Đường, thi pháp văn học trung đại, đặc biệt nghệ thuật dụng điển vẫn song hành bên cạnh những bút pháp mới trong các sáng tác.
Xuân Diệu được biết đến là nhà thơ chịu những ảnh hưởng sâu sắc của lối viết phương Tây. Tuy nhiên, những đặc trưng của thơ ca trung đại, trong đó có điển cố vẫn được ông dẫn dụng trong các sáng tác của mình. Điển cố trong thơ ông không phải là một đồ cổ cũ kĩ lạc hậu trong đối tượng thẩm mỹ hay là sự vụng về, sùng cổ trong bút pháp. Ngược lại, bằng nghệ thuật sử dụng điển cố tài tình, Xuân Diệu đã góp phần chắp cánh cho Thơ mới tích cực hòa nhập với quỹ đạo tiếp nhận của công chúng đương thời.
Nửa đầu thế kỉ XX, khi nền Hán học suy vi, các nhà Thơ Mới nói chung, Xuân Diệu nói riêng ít nhiều chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thơ Pháp. Tuy là một trí thức Tây học nhưng Xuân Diệu vẫn có những ảnh hưởng từ người cha của mình. Chữ Hán đã được ông học tập từ rất sớm. Nhà thơ yêu thích và thuộc nhiều bài thơ Đường, nhiều tác phẩm kinh điển của văn học trung đại nước ta. Đó là cơ sở để ông nắm vững về điển cố và dẫn dụng chúng một cách chủ động, linh hoạt vào trong các sáng tác của mình.
Như đã biết, thơ ca cổ điển phương Đông chuộng trầm tĩnh, chú trọng sự tương giao, tương hợp, nặng về biểu ý, biểu tình… Đó chính là cội nguồn của tư duy Thơ mới. Cho nên không hề mâu thuẫn khi trong các bài thơ của Thơ Mới, trong đó có tác phẩm của Xuân Diệu vừa chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng lại vừa yêu chuộng việc sử dụng từ Hán Việt, thi liệu, dẫn dụng các điển cố là những biểu tượng của thơ ca truyền thống. Mượn phương tiện của phương Tây, truyền tải hồn vía của phương Đông là đặc trưng của Thơ mới nói chung và của thơ Xuân Diệu nói riêng.
Trình giữa làng Thơ Mới với một cái tôi đa phong cách, thơ Xuân Diệu trước năm 1945 vừa mang tính hiện đại lại vừa mang hơi hướng cổ điển. Trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió, một số bài thơ như Vội vàng, Vô biên, Huyền diệu, Đây mùa thu tới,… chịu ảnh hưởng rõ nét, có nhiều cách tân trong lối viết được học hỏi từ thơ Pháp bởi chúng thiên về thế giới trữ tình, tràn đầy cảm xúc với những thức cảm thời gian… Một số bài thơ khác như Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ, Nhị hồ, Mơ xưa… lại có hơi hướng cổ điển, mang tính chất hoài cổ, trang nhã, sâu sắc thâm trầm. Việc vận dụng những điển tích, điển cố vào nhóm bài này là hoàn toàn có chủ ý sáng tác. Dĩ nhiên, điển cố mang đến cho những bài thơ này nhiều giá trị thẩm mĩ độc đáo, quan trọng.
2. Được biết đến là “ông hoàng thơ tình” với những mộng Đường thi, Tống thi và cung sự nuối tiếc một thời quá khứ vàng son là cơ sở để Xuân Diệu tìm về những con người tài sắc của một thời. Họ là những minh quân, tôi hiền, giai nhân tuyệt sắc, tức những hình mẫu lí tưởng trong quan niệm về con người của chủ nghĩa lãng mạn. Những điển nhân danh là nhân vật lịch sử như Lộng Ngọc, Tiêu Lang, Bao Tự, Ly Cơ, Đường Minh Hoàng, Dương Quý Phi… không còn đơn thuần là những câu chuyện lịch sử về các giai thoại… mà hàm ẩn trong đó nhiều giá trị văn hóa, thẩm mỹ. Cái hay của việc vận dụng những điển cố này là truyền tải một tư tưởng thẩm mỹ về khát khao tìm thấy con người lý tưởng ngay cả trong tiềm thức:
… Và nàng Lộng Ngọc lấy Tiêu Lang,
Cưỡi hạc một đêm bay lên trời.
Vua Trần hậu chúa ngó trăng vàng,
Khúc Hậu đình hoa đương lên khơi.
[….] Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng,
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.
(Nhị hồ)
Trước sự bất hòa với thực tại của chủ nghĩa lãng mạn, xuất phát từ cảm hứng hoài vãng, trong Mơ xưa, Xuân Diệu mượn chuyện Chiêu Dương, Hậu Đình, chuyện Hán Cao Tổ… để tìm đến lý tưởng, những điều phi thường vượt trên hiện thực tầm thường, tù túng:
Những Chiêu Dương, những Hậu Đình tráng lệ
Đẹp vì chưng xây với oán cung phi.
Cung nhà Tần trùng điệp mái lâm ly,
Hán Cao Tổ đốt chín ngày mới hết;
Tần cung nữ ba mươi trăm, chẳng biết
Gót sen vàng liễu yếu chạy về đâu?
Không chỉ những trang giai nhân tuyệt sắc mà những người nữ vô danh như “kỹ nữ”, một đề tài quen thuộc của thơ trung đại, cũng chính là cảm thức “đồng cảm tương liên” để nhà thơ tiếc nuối quá khứ, nghiền ngẫm về cái tôi bản thể giữa cuộc đời. Lời kỹ nữ, bài thơ mượn lại điển thi ca trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, là tiếng lòng của một phút thoáng qua giữa mối tình đầy tri kỉ và sâu đậm – “kỹ nữ” và du khách”
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước
(Lời kỹ nữ)
Cùng với điển nhân danh, các điển địa danh được dẫn dụng cũng làm sống lại không khí của một thời vang bóng. Hệ thống điển địa danh trong thơ Xuân Diệu trước 1945 có số lượng khá lớn, chủ yếu có nguồn gốc văn hóa Hán học, có tác dụng to lớn trong việc phục dựng không gian quá khứ là không gian đẹp đẽ, mỹ lệ, trang trọng, đối lập với không gian chật hẹp, tầm thường trong hiện tại. Ví như, trong Nguyệt cầm, một bến “Tầm Dương” mơ về với dư âm tiếng đàn vang vọng đã làm cho thiên nhiên âm nhạc và con người tương tư, hòa lẫn trong nhau. Nếu tiếng đàn của Bạch Cư Dị hiện lên với những cung bậc tâm trạng của người kĩ nữ bị ruồng bỏ, của người nghe đàn bị đày đọa thì tiếng đàn của Xuân Diệu như là gam màu chủ quan của cái tôi trực cảm can thiệp:
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước lạnh trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…
3. Những điển tích nhân danh, địa danh dẫn ra trên đây là minh chứng cho phong cách mới lạ độc đáo của Xuân Diệu: kế thừa mạch nguồn thơ ca phương Đông, tiếp thu tinh hoa thơ phương Tây để vươn tới những giá trị mới mẻ, độc đáo. Dùng điển đã trở thành phương thức sáng tác đầy dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Nghệ thuật dụng điển đã chứng minh Xuân Diệu khước từ những khuôn sáo gò bó của thơ ca trung đại, nhanh chóng hòa vào quỹ đạo của thơ ca hiện đại. Với ngòi bút vừa phóng khoáng, bay bổng, lãng mạn lại vừa tài hoa, uyên bác, truyền tải cả hơi hướng Đông – Tây, Xuân Diệu đã mang tới cho phong trào Thơ Mới tiếng nói của thơ ca dân tộc giản dị mà sâu sắc. Và điều độc đáo ở chỗ, chính nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ Mới” lại là người chủ động vận dụng “cái cũ” nhất của thơ ca truyền thống là điển cố vào trong sáng tác của mình một cách hiệu quả. Đây là một trong những đặc điểm độc đáo trong phong cách thơ Xuân Diệu trước 1945 mà lâu nay chúng ta ít để ý.
13/11/2022
Nguyễn Công Trí
Nguồn: Báo Giáo Dục và Thời Đại
Theo https://vanhocsaigon.com/

Diện mạo văn học Việt Nam từ 1945-1975: Nhìn từ thi pháp thể loại

Diện mạo văn học Việt Nam từ
1945-1975: Nhìn từ thi pháp thể loại

Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm ký sự, bút ký, tuỳ bút, truyện ký, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chỉ có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, nay bỗng thấy thiếu vắng trên văn đàn.
1. Sau 1975, một quá trình văn học đã được khép lại. So với văn học trước và sau đó, văn học 1945-1975 có diện mạo riêng, với những đặc điểm và quy luật vận động riêng. Bài viết này chỉ thử phác hoạ lại diện mạo của giai đoạn văn học ấy từ góc độ thi pháp.
Từ góc độ thi pháp, có thể hình dung diện mạo của văn học 1945-1975 qua hệ thống thể loại của nó. Bởi vì thể loại văn học vừa là hiện tượng lịch sử, vừa là nhân tố loại hình.
Văn học Việt Nam 1945-1975 rất đa dạng và phong phú về thể loại. Ngay từ thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Qua sáng tác của những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Thôi Hữu, Hữu Loan…, thơ cách mạng đã tạo ra được một nội dung và hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tình của những năm ba mươi. Diện mạo của nền văn xuôi kiểu mới cũng được hình thành qua những trang bút ký, ký sự, truyện ngắn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân, Hồ Phương. Nhưng phải sau hoà bình lập lại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn học mới phát triển rực rỡ. Có được sự phát triển rực rỡ ấy là nhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút. Giai đoạn từ năm 1958 đến 1964 được gọi là thời kì hồi sinh của hàng loạt nhà thơ “tiền chiến” như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… Văn xuôi phát triển mạnh mẽ với nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thế Phương, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Khâm, Hữu Mai, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thường… Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống Mĩ được phát động. Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu riêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ… Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Lê Khâm (Phan Tứ), nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng (ngoài Bắc) và Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức (trong Nam).
Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí, tuỳ bút, truyện kí, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chỉ có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, nay bỗng thấy thiếu vắng trên văn đàn.
2. Tuy nhiên, diện mạo của một giai đoạn văn học không phải là sự cộng gộp giản đơn các thể loại của tác phẩm. Bởi vì toàn bộ sáng tác của một giai đoạn văn học bao giờ cũng tạo thành một chỉnh thể. Khái niệm chỉnh thể ở đây được sử dụng nhằm chỉ một hệ thống nghệ thuật mà các yếu tố hợp thành luôn luôn tồn tại trong một quan hệ tương quan, tương thông vừa phụ thuộc, vừa chế định lẫn nhau giống như một cơ thể sống. Cho nên, muốn nhận ra diện mạo của một giai đoạn văn học, người ta không thể dừng lại ở việc liệt kê, tính đếm số lượng các thể loại lớn nhỏ, mà phải khảo sát mối quan hệ cộng sinh tạo thành bản hoà tấu của cả một hệ thống thể loại.
Ở những thời đại khác nhau, các thể loại văn học có những kiểu quan hệ cộng sinh hết sức khác nhau. Chẳng hạn, trong văn học cổ – trung đại, mỗi tác phẩm thường được sáng tác theo một thể loại, có một chức năng đời sống, chức năng nghệ thuật và một cấu trúc hình thức cố định. Cho nên, hệ thống văn học trung đại là một chỉnh thể thống nhất của những thể loại song song cùng tồn tại, thể loại này tồn tại bển cạnh thể loại kia. Bởi thế, tiếp xúc với văn học trung đại, ấn tượng nổi bật của người nghiên cứu là ấn tượng về sự phong phú, đa dạng, chứ không phải là ấn tượng về sự phức tạp của hệ thống thể loại. Dĩ nhiên, trong văn học trung đại, không phải tất cả các thể loại đều có quyền tồn tại bình đẳng với nhau trên một mặt bằng nghệ thuật. Tương ứng với xã hội đẳng cấp, thể loại văn học cũng phân chia thứ bậc trên – dưới, thấp – cao. Nằm ở vị trí trung tâm của hệ thống văn học trung đại là những thể loại văn học chức năng, những chính kinh, liệt truyện, ngôn chí, thuật hoài… Văn thơ châm biếm, trào phúng và những thể loại phản ánh đời sống bằng hư cấu nghệ thuật đều là những thể loại hạ đẳng, nằm ở khu vực ngoại vi của hệ thống văn học ấy.
Bước sang thời kì hiện đại, chỗ dựa sáng tác của nhà văn là cá tính sáng tạo, kinh nghiệm cá nhân, chứ không phải là những phạm trù quy phạm, kinh nghiệm cộng đồng. Cho nên, các công thức, luật lệ của hệ thống thể loại văn học trung đại bị phá vỡ. Các thể loại văn học hư cấu chuyển vào vị trí trung tâm của hệ thống văn học hiện đại. Giờ đây, mỗi tác phẩm có thể dung nạp nhiều hạt nhân cấu trúc của toàn bộ hệ thống thể loại trung đại. Cho nên, tiếp xúc với văn học hiện đại, ấn tượng nổi bật của người nghiên cứu không phải chỉ là ấn tượng về sự đa dạng, mà chủ yếu là ấn tượng về sự phức tạp của hệ thống thể loại. Nhìn lại hệ thống thể loại của văn học Việt Nam 1930 – 1945, ta sẽ nhận ra điều đó. Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, thấy hoá ra cái hài vừa là cái xấu, cái đáng cười, đáng chế giễu, lại vừa là cái ác, là sự tàn nhẫn của cuộc đời. Cho nên, đằng sau cái hài là cái bi, và vì thế, bi kịch và hài kịch dường như không còn ranh giới phân chia. Có cơ sở để chứng minh, cấu trúc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất gần gũi với cấu trúc kịch. Sự kiện, biến cố không còn là nền tảng tự sự trong sáng tác của Nam Cao. Thuật lại, kể lại các sự kiện, biến cố không phải là quan điểm tự sự của nhà văn này. Có thể xem tác phẩm tự sự của Nam Cao là cuộc đối thoại mở rộng với các ý thức xã hội – nghệ thuật đương thời về con người và đời sống. Lời trần thuật của Nam Cao vì thế đầy chất giễu nhại. Cấu trúc trần thuật của Nam Cao là sự kết hợp của nhiều mạch văn: mạch kể, mạch tả, mạch phân tích, giải thích và cả mạch trữ tình ngoại đề, triết lí nhân sinh.
Dĩ nhiên, dù phức tạp bao nhiêu, ta vẫn có thể nhận ra kiểu quan hệ của các thể loại tác phẩm trong hệ thống văn học 1930-1945. Quan hệ giữa các thể loại giờ đây không còn là quan hệ song song cùng tồn tại theo trật tự đẳng cấp, thứ bậc, mà là quan hệ thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập, thường xuyên phủ định và chuyển hoá lẫn nhau. Ta hiểu vì sao, văn học 1930 – 1945 vận động mau lẹ và tạo được nhiều cách tân nghệ thuật về phương diện thể loại đến thế. Chẳng hạn, thơ và văn xuôi là hai mặt đối lập của nghệ thuật ngôn từ. Vào đầu những năm ba mươi, văn xuôi thâm nhập vào thơ, phá phách lãnh địa của nó. Nhưng cũng nhờ thế, “thơ mới” đã chuẩn bị cơ sở và mở đường cho sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật. Vào gĩưa những năm ba mươi, các cây bút của nhóm Tự lực văn đoàn đã tạo ra một loại văn xuôi nghệ thuật ở dạng cân bằng giữa văn xuôi và thơ. Liền sau đó, khi trường phái “tả chân” chiếm ưu thế trên văn đàn công khai, văn xuôi lập tức phát triển theo hướng đối lập với thơ.
Sau năm 1945, hệ thống thể loại của văn học Việt Nam từng bước khắc phục các phương diện mâu thuẫn, đối lập để tạo ra sự thống nhất tuyệt đối. Đó là sự thống nhất dựa trên cơ sở nhất thể hoá tất cả các hạt nhân cấu trúc của thể loại văn học. Chẳng hạn, các loại hình nội dung là nền tảng cấu trúc của thể loại. Trước năm 1945, mỗi thể loại có thể chứa đựng ở bên trong rất nhiều nội dung thể loại. Sau năm 1945, tất cả các thể loại văn học đều tập trung thể hiện một loại hình nội dung cơ bản, ấy là trạng thái sử thi của thế giới. Thể hiện trạng thái sử thi của thế giới là nội dung cơ bản của mọi tác phẩm tự sự và trữ tình, kịch và kí được sáng tác trước năm 1975.
Không phải văn học 1945 – 1975 không đặt ra những vấn đề đời tư và thế sự. Nhưng những câu chuyện thế sự và đời tư tồn tại trong hệ thống thể loại của văn học 1945 – 1975 như những mô típ phụ trợ, góp phần soi sáng trạng thái sử thi của thế giới. Cho nên, nghiên cứu văn học 1945 – 1975, ta rất dễ dàng nhận ra các mô típ chủ đề giống nhau ở những thể loại văn học rất xa nhau.
Trong mối quan hệ với nội dung, thể loại văn học là một cấu trúc chức năng. Hệ thống văn học 1930-1945 đã tạo nên sự đa dạng hoá chức năng của từng thể loại. Quan hệ cộng sinh của các thể loại văn học ở giai đoạn 1945 – 1975 lại được thiết lập trên cơ sở nhất thể hoá chức năng xã hội – nghệ thuật. Về phương diện xã hội, tất cả các thể loại đều được sáng tạo, đổi mới để phục vụ những nhiệm vụ chính trị của thời đại. Cho nên, thơ trữ tình giờ đây chủ yếu là tiếng nói trữ tình chính trị. Các tác phẩm truyện, kịch, kí cũng theo sát những vấn đề chính trị – xã hội được đặt ra ở từng giai đoạn lịch sử. Về phương diện nghệ thuật, tất cả các thể loại văn học giai đoạn 1945 – 1975 đều tập trung thể hiện kinh nghiệm cộng đồng. Cho nên, đây là giai đoạn văn học diễn ra những thay đổi sâu sắc tư thế chứng nhân của tác giả kí, tư thế trần thuật của nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm tự sự và tư thế trữ tình của cái tôi trữ tình trong thơ.
Mỗi thể loại văn học sở dĩ có loại hình nội dung, có chức năng nghệ thuật riêng, bởi vì bản thân nó là hình thức quan niệm về thế giới, thể hiện một góc độ chiếm lĩnh, một thái độ định giá của con người đối với đời sống hiện thực và bản thân mình. Cho nên, hoàn toàn có cơ sở để nói tới thế giới quan thể loại và cảm hứng thể loại. Loại hình cảm hứng cũng là hạt nhân cấu trúc của thể loại văn học. Thông thường, bi kịch có cảm hứng của bi kịch, hài kịch có cảm hứng của hài kịch và tiểu thuyết cũng có cảm hứng riêng với tư cách là một thể loại. Toàn bộ hệ thống thể loại văn học Việt Nam 1945 – 1975 rất thống nhất với nhau trong khuynh hướng cảm hứng. Từ truyện cho tới thơ, từ kịch cho tới kí tất cả đều rưng rưng một cảm hứng trước cái đẹp và cái cao cả hào hùng. Ta hiểu vì sao, những tác phẩm hay nhất viết về đề tài chiến tranh trong thời kì đánh Mĩ thường nói rất ít tới cái dữ dội, ác liệt của bom đạn. Chiến tranh, bom đạn chỉ được miêu tả như một cái nền để nhà văn dẫn độc giả vào một thế giới khác: thế giới của tình người, của đức vị tha, lòng dũng cảm và nghĩa tình chung thuỷ. Nói cách khác, đó là thế giới của cái cao cả, cái đẹp vượt lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn chiến tranh. Cho nên, tiếp xúc với bất kì một thể loại nào của giai đoạn văn học này ta đều chứng kiến sự chiến thắng huy hoàng của chất thơ đối với chất văn xuôi và ưu thế tuyệt đối của giọng trữ tình rưng rưng, hào sảng đối với tư duy phân tích và giải thích.
Có thển nhận xét khái quát thế này: khuynh hướng nhất thể hoá các hạt nhân giữ chức năng cấu trúc loại thể đã tạo ra cho hệ thống thể loại của văn học 1945 – 1975 một hình thức quan hệ cộng sinh đặc biệt. Đó là kiểu quan hệ của một thể thống nhất nguyên khối, nguyên phiến, trong suốt.
3. Do đặc điểm lịch sử xã hội, do quy luật vận động nội tại được biểu hiện qua kiểu quan hệ cộng sinh của hệ thống thể loại, mỗi thời đại văn học thường có những thể loại cái giữ vai trò chủ đạo tạo nên diện mạo và những thành tựu cơ bản của nó. Chẳng hạn, có thể chia chín thế kỉ văn học Hy Lạp (IX – I tr CN) thành ba giai đoạn tương ứng với sự xuất hiện của ba thể loại thống soái: sử thi ở giai đoạn đầu, thơ trữ tình phát triển cực thịnh ở giai đoạn thứ hai và cuối cùng là sự bùng nổ của bi kịch. Tiếp xúc với các nền văn học của nhiều dân tộc, ta cũng thấy tình hình diễn ra tương tự như vậy. Nói tới văn học Nga thế kỉ XIX, người ta nghĩ ngay tới tiểu thuyết, trong khi đó, kịch dường như là toàn bộ văn học Pháp ở thế kỉ XVII. Một nhà nghiên cứu người Nga nhận xét như thế này: ở những nước thành thị kém phát triển, sự sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp, nhất là ở những dân tộc du mục, kịch không có cơ may phát triển. Nhận xét ấy xem ra phù hợp với nền văn học Việt Nam. Có thể kể tên nhiều tác giả, tác phẩm kịch xuất sắc thuộc giai đoạn văn học 1945 – 1975. Nhưng những thành tựu của kịch không phải là toàn bộ thành tựu của văn học Việt Nam ở giai đoạn này. Cũng như thế, nửa thế kỉ vừa qua, văn học đã để lại một khối lượng khổng lồ những tác phẩm thuộc các thể kí. Nhưng vai trò của các thể kí đối với nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam rõ ràng không nặng đồng cân giống như vai trò của phóng sự đối với nền văn học hiện thực phê phán trước kia.
Vậy đâu là thể loại cái của văn học Việt Nam 1945 – 1975? Không cần phân tích thì người ta vẫn có thể nhận ra, khuynh hướng sử thi hoá loại hình nội dung văn học đã mở đường cho sự phát triển của thể truyện. Truyện chẳng những là hình thức thể loại cơ bản của văn xuôi, mà còn thâm nhập cả vào thơ, vào kí để tạo thành các hình thức thể loại như truyện kí, truyện thơ. Suốt một thời gian dài, nhiều bài thơ trữ tình có cốt truyện đơn giản, ví như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Quê hương của Giang Nam, Núi đôi của Vũ Cao từng được yêu thích đặc biệt. Mặt khác, nếu như trước năm 1945, nhóm Xuân Thu Nhu Tập đã đẩy “thơ mới” vào ngõ cụt, thì suốt năm mươi năm sau Cách mạng, khunh hướng cảm hứng hướng tới cái đẹp và cái cao cả lại tạo ra mảnh đất mầu mỡ để trường ca và thơ trữ tình phát triển vô cùng rực rỡ. Giọng điệu trữ tình rưng rưng, hào sảng không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ, mà còn là gọng điệu chủ đạo của văn xuôi, khiến cho khiến cho các tác phẩm văn xuôi thời ấy đầy ắp chất thơ và câu văn xuôi của hầu hết các nhà văn luôn luôn ngân vang âm hưởng trữ tình. Nhưng cũng chính vì thế mà phóng sự vắng bóng và tiểu thuyết không thể trở thành thể loại cái của hệ thống văn học 1945 – 1975. Từ đầu những năm sáu mươi, trong đời sống văn học xuất hiện một số bộ tiểu thuyết nhiều tập, như Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng trời của Hữu Mai. Khoan hãy bàn tới giá trị tư tưởng và nghệ thuật của những tác phẩm dài hơi ấy. Điều tôi muốn nói ở đây chỉ là: nếu xuất phát từ những yêu cầu nghiêm ngặt của thể loại ở cả hai phương diện, loại hình nội dung và cấu trúc hình tượng, thì ở tất cả những cuốn tiểu thuyết vừa trên, chất truyện vẫn lấn át chất tiểu thuyết. Cho nên, truyện và thơ trữ tình là hai thể loại cơ bản, giữ vai trò thống soái tạo nên sự kết tinh nghệ thuật và diện mạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
Dĩ nhiên, hệ thống thể loại của một giai đoạn văn học không bao giờ mang tính chất khép kín, cứng nhắc. Bởi vì, việc sáng tác văn học vừa chịu sự tác động của những quy luật khách quan, vừa là hành vi đầy ý thức của người cầm bút với tư cách là chủ thể sáng tạo luôn luôn có nhu cầu đổi mới. Cho nên, ở giai đoạn phát triển cuối cùng, khi chất sử thi nhạt dần, trong nhiều tác phẩm văn học trước năm 1975, bắt đầu xuất hiện những nhân tố chuẩn bị cho sự ra đời của một hệ thống thể loại ở quá trình văn học tiếp theo. Nhưng nói tới diện mạo của văn học 1945 – 1975, ta có thể hình dung, hệ thống thể loại của nó giống như một dàn nhạc, trong đó, bằng hai nhóm nhạc cụ cơ bản là truyện và thơ trữ tình, với sự phụ trợ của kí, kịch, tất cả các bè bối đều hoà điệu với nhau để tấu lên bản hợp xướng hùng tráng, tràn đầy niềm vui và tinh thần lạc quan trong sáng của thời đại.
15/11/2022
Lã Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Những kết hợp sáng tạo, độc đáo tạo nên sức hấp dẫn trong thơ Quang Dũng

Những kết hợp sáng tạo, độc đáo tạo nên
sức hấp dẫn trong thơ Quang Dũng

 PGS-TS Đinh Trí Dũng, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh hiện đang sinh sống tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn học quy mô và giá trị như: Văn Hồ Chí Minh (Nxb Nghệ An, 2000, viết chung); Những vấn đề lý thuyết – lịch sử Văn học và Ngôn ngữ (Nxb Giáo dục, 2001, viết chung); Những vấn đề văn học và Ngôn ngữ (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004); Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Nxb KHXH, 2005); Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) – (Chủ biên, Nxb Đại học Vinh, 2012); Giáo trình Truyện ngắn Việt Nam hiện đại (đồng tác giả, Nxb Đại học Vinh, 2018)… và được trao Giải B VHNT Hồ Xuân Hương năm 2005, 2015.
Đánh giá Quang Dũng “đóng vai trò như người kết nối giữa hai thế hệ nhà thơ, người đã khắc họa xuất sắc dấu ấn tâm hồn của một thời kỳ lịch sử oanh liệt, góp phần mở ra một thời kỳ mới của thơ Việt Nam hiện đại” trong bài viết “Những kết hợp sáng tạo, độc đáo tạo nên sức hấp dẫn trong thơ Quang Dũng” của PGS – TS Đinh Trí Dũng sẽ mang đến nhiều điều hấp dẫn, lí thú đối với bạn đọc.
Quang Dũng làm thơ không nhiều, ông cũng không thật quan tâm đến việc công bố thơ ca với công chúng. Trong suốt cuộc đời, ông chỉ để lại tổng cộng khoảng hơn 60 bài[1]. Không phải tất cả thơ của Quang Dũng đều hay, nhưng phải nói ông có những bài thơ vào loại hay nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây… Ông đã sớm khẳng định cho mình một hướng đi riêng trong thơ ca chống Pháp. Có nhiều cách lý giải sự thành công, tính độc đáo của thơ Quang Dũng: phong vị quê hương, hồn dân tộc đậm đà, “chất trữ tình lãng mạn”, người xây nên “tượng đài người lính cách mạng”, ngôn ngữ thơ hồn hậu, giản dị mà tài hoa… Chúng tôi đi sâu, làm rõ thêm sự đóng góp của Quang Dũng trên hai mặt: tiếp thu chọn lọc, cải biến những thủ pháp, chất liệu quen thuộc của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945, nỗ lực đưa hiện thực đời sống vào thơ kháng chiến chống Pháp một cách sáng tạo. Hiện thực trong thơ đã được thăng hoa trong cái nhìn lãng mạn và lãng mạn nhờ hiện thực mà có thêm những màu sắc mới sinh động. Thơ Quang Dũng là sự kết hợp tuyệt đẹp nhiều bình diện, nhiều yếu tố khác biệt, tạo nên sự hấp dẫn riêng của một phong cách thơ.
1. Tiếp thu chọn lọc, cải biến những thủ pháp, chất liệu quen thuộc của Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945
Khi bàn về thơ Quang Dũng, giới nghiên cứu thường nhấn mạnh Quang Dũng trước hết là một hồn thơ lãng mạn. Đỗ Lai Thúy khẳng định: “Quang Dũng là một kẻ lãng mạn, lãng mạn đến chót mùa”[6]. Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng Quang Dũng “quá thừa chất lãng mạn và lòng chân thật” [4, tr.115]. Trần Lê Văn nói thêm: “Cái lãng mạn ấy, trong phần tốt đẹp của nó – đã gặp, dễ hòa nhập với lãng mạn cách mạng” [7, tr. 32]. Khi nói về Tây Tiến, bài thơ hay nhất trong đời thơ Quang Dũng, các nhà nghiên cứu như Hà Minh Đức, Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Đăng Điệp, Phan Huy Dũng[2]… đều cho rằng chính cảm hứng lãng mạn bay bổng trong bài thơ đã góp phần tạo nên “tượng đài thi ca về người lính cách mạng”.
Chủ nghĩa lãng mạn (romantism) như một phương pháp sáng tác gắn với  một hệ thống nguyên tắc tư tưởng sáng tạo – thẫm mỹ trong văn học Việt Nam, thể hiện ở những hiện tượng văn học sôi động như tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, phong trào Thơ mới…đã khép lại cùng với cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ đây nền văn học chống Pháp nói chung, thơ nói riêng đi theo một xu hướng mới được định danh là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong đó hàm chứa yếu tố lãng mạn cách mạng. Cho đến nay, cũng chưa nhiều những nghiên cứu nghiêm túc về mối quan hệ giữa thi pháp thơ của chủ nghĩa lãng mạn trước 1945 với thi pháp thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa mang tính lãng mạn cách mạng sau 1945, mà xét trên chủ thể sáng tác, không thể không tính đến khi cả một thế hệ các nhà Thơ mới như Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… đã hăm hở đi trên con đường nghệ thuật cách mạng nhưng không thể nào đoạn tuyệt hẳn với hành trang quá khứ của mình. Trong tiến trình vận động của lịch sử văn học, cũng cần nhìn nhận lại vai trò của chủ nghĩa lãng mạn đối với thơ Việt sau 1945. Về phương diện này, cần lưu ý thêm ý kiến của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn khi khẳng định: “ Nổi lên trên bề mặt thơ sau 1945 vẫn là sáng tác của các nhà Thơ mới : Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành, tất cả mang lại cho Thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai” [5]; hay ý kiến của Trần Ngọc Hiếu khi cho rằng: “Nghiên cứu về chủ nghĩa lãng mạn, với tư cách là một hiện tượng lớn của văn học thế giới, một trào lưu quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại, còn bỏ lại nhiều khoảng trống, thậm chí, còn quẩn quanh trong những diễn ngôn chứa đựng nhiều định kiến…” [3, tr. 210].
Đặt Quang Dũng trong bối cảnh đó sẽ hiểu hơn sự tiếp thu của ông đối với di sản của chủ nghĩa lãng mạn và nhiều thủ pháp của Thơ mới như là một tất yếu, để từ đó tạo ra một tiếng thơ lãng mạn cách mạng mang phong cách Quang Dũng. Quang Dũng trước năm 1945 đã từng làm thơ lãng mạn (Chiêu Quân, Cố Quận, Giang hồ…). Quang Dũng cho biết ông cũng là người “thích thơ Thế Lữ”, đọc văn Thạch Lam và “say Thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó”. Với nhiều nhà thơ thế hệ chống Pháp như Quang Dũng, văn học lãng mạn, Thơ mới đã là một phần của cuộc đời họ, ngấm vào máu thịt, dẫu có lúc họ tuyên bố chối bỏ, quay lưng lại với nó để  “lột xác” đi theo kháng chiến. Cuộc kháng chiến hào hùng của một dân tộc từng sống hàng ngàn năm dưới ách phong kiến, hàng trăm năm dưới ách thực dân đang “rũ bùn đứng dậy” cũng dễ tạo ra cảm hứng lãng mạn bay bổng trong một bộ phận thơ ca ngay sau ngày độc lập và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt của Tố Hữu, Ngày về của Chính Hữu, Sáng mát trong như sáng năm xưa của Nguyễn Đình Thi…). Hơn nữa tính cách Quang Dũng, cái “tạng” của con người ông cũng khiến ông dễ lưu luyến với thơ lãng mạn. Nguyễn Đăng Mạnh từng gọi Quang Dũng là “người thơ” đó sao. Quang Dũng tiếp thu ảnh hưởng của Thơ mới lãng mạn trên nhiều phương diện, trước hết là cái tôi trữ tình giàu cảm xúc, nỗi buồn sâu thẳm tự bên trong, ở chất nhạc, chất họa trong thơ, ở sự tự do của hình thức biểu hiện, ở một số thủ pháp quen thuộc mà ông sử dụng… Thơ lãng mạn là thơ của cái tôi “bão hòa cảm xúc”: Tôi là con nai bị chiều buông lưới…, Tôi là con chim đến từ núi lạ… (Xuân Diệu), Tôi là người bộ hành phiêu lãng… (Thế Lữ), Tôi là thi sĩ của thương yêu… (Nguyễn Bính)…Cái tôi trong thơ Quang Dũng cũng thường bộc lộ một cách trực tiếp, có khi xuất hiện dày đặc ngay trong một bài thơ (Quán bên đường, Áo trắng, Đôi mắt người Sơn Tây):
– Tôi gặp nàng đi buổi sớm mai…
– Tôi gặp nàng như gặp nhớ thương…
– Tôi để nàng qua chẳng nói gì…
– Tôi khách qua đường, trưa nắng gắt…
– Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan…
Đây là hiện tượng hiếm gặp trong thơ kháng chiến chống Pháp, khi các nhà thơ thường tự nguyện lùi cái tôi cá nhân xuống bình diện thứ hai, để nhường chỗ cho cái ta quần chúng (anh vệ quốc, anh đội viên, bà mẹ chiến sĩ, em gái Bắc Giang, em liên lạc…) hiện diện như trong thơ Tố Hữu, Hồng Nguyên, Thôi Hữu, Minh Huệ, Hoàng Trung Thông…
Tình cảm, cảm xúc là nhân tố trực tiếp tạo dựng tứ thơ, kết nối hình ảnh, biểu tượng, ngôn từ trong thơ Quang Dũng. Rất nhiều “buồn”, “nhớ”, “thương”, “chờ”, “đợi” được thể hiện trong những cảm xúc dâng trào: Người thấy tâm tư trĩu trĩu buồn…, Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…, Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói…, Nhớ trăng Hoàn Kiến tưởng em chờ…, Em đã bao ngày em nhớ thương… Cũng giống như nhiều bài Thơ mới, những nỗi niềm đượm buồn ấy thường được tác giả đẩy lùi về quá khứ, do đó càng trở nên khắc khoải, da diết. Hiện thực trong thơ, được nhìn qua lăng kính trữ tình, qua sương khói của thời gian nhiều khi trở nên mờ ảo, là hiện thực của tâm trạng. Tâm trạng buồn này cũng đã quen thuộc trong Thơ mới, với những vần thơ sầu mộng của Lưu Trọng Lư, những vần thơ hoài niệm của Thế Lữ, những mối tình xa xót của Xuân Diệu, Nguyễn Bính… Ở phương diện này, Hoài Thanh, Xuân Diệu đã sớm nhận ra, lên tiếng phê phán Quang Dũng khá nặng nề lúc bấy giờ, lý giải nó như là biểu hiện của “cái tôi lẻ loi, nhỏ bé của con người tư sản, tiểu tư sản cũ”[3]. Tuy nhiên, cùng với thời gian, nỗi buồn trong Thơ Quang Dũng đã được nhìn nhận lại. Chính nỗi buồn thanh cao, thi vị này là một phần không thể thiếu của tiếng lòng Quang Dũng, nó như chất men say trong thơ ông. Nhìn rộng ra, đâu chỉ có Quang Dũng, mạch thơ buồn rất nhân tính này trong thơ chống Pháp có trong thơ Nguyễn Đình Thi (Người tử sĩ, Đường núi, Không nói), Thâm Tâm (Chiều mưa đường số 5), Hữu Loan (Màu tím hoa sim)…. đã trở thành một phần không thể thiếu làm nên giá trị của thơ ca chống Pháp, tất nhiên nó chỉ là phần nằm ở ngoại biên. Không thể đòi hỏi người lính cách mạng lúc nào cũng phải lạc quan, phải lên gân. Không thể trách con người khi trên bước đường gian khổ, một thoáng cô đơn, một nỗi niềm “tha hương”, “lữ thứ” nào đó lại hiện về:
 Người thấy tâm tư trĩu trĩu buồn
 Trưa về hiu quạnh gợi cô đơn
(Trưa hè)
Kỳ Sơn mây kéo nặng
Hoa trẩu rụng đầy đường
Sấm đầu mùa đã động
Sao động lòng tha hương?
(Chiều núi mưa rào)
Có những câu thơ Quang Dũng thiên về tả cảnh, nhưng cảnh thực mà cũng là “tâm cảnh”. Khổ thơ không có một từ “buồn” nào, nhưng lại thể hiện một nỗi buồn xa xăm, sâu thẳm:
 Nắng nửa sông xa mờ khí núi
Cánh hồng nhạt nhạt mây phiêu lưu
Lá múa rì rào trên bãi vắng
Mái nhà ai đó nắng xiêu xiêu?
(Thu)
Khổ thơ gợi nhớ những câu thơ Xuân Diệu:
Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả càng hoang nắng trở chiều…
(Thơ duyên)
Đối lập là một thủ pháp quen thuộc trong thơ lãng mạn. Thủ pháp này theo nhà nghiên cứu E.G.Milyugina (Nga) xuất phát từ khát vọng về tự do như một “giá trị nguyên khởi, vĩnh hằng và tuyệt đối” không được thỏa mãn, đã dẫn các nhà thơ lãng mạn nhìn thấy “những sự đối lập, mâu thuẫn, đối kháng, xung đột đủ loại trong chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ sau” [3, tr. 31]. Tây Tiến của Quang Dũng là sự thể hiện tài tình của thủ pháp đối lập: đối lập giữa cái ghê rợn, hoang dã và nét hùng vĩ của thiên nhiên, đối lập giữa cuộc sống thiếu thốn, khổ cực, hy sinh và vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của người lính cách mạng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Ở bài thơ Mây đầu ô, sự đối lập được thể hiện sống động giữa hình ảnh tự do, phóng khoáng của “mây đầu ô” và cái bé nhỏ, chật chội của “góc phố phường”:
Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi! Chật làm sao
Góc phố phường
Mây ở đầu ô
Hẹn những chân trời lạ
Qua một ngọn cột đèn.
Như vậy, có thể nói Quang Dũng đưa cái buồn vào thơ, nhưng đây không phải là cái buồn ủy mỵ, tàn tạ, bất lực trong Thơ mới…..Ông đã cải biến lại nỗi buồn, tạo cho nỗi buồn một màu sắc thanh cao, bi tráng. Quang Dũng sớm nói đến sự hy sinh, mất mát, nhưng sự hy sinh được ông biểu hiện thật cao cả:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Chưa có nhà thơ nào viết về sự hy sinh của người lính vừa đau đớn vừa hào hùng như thế. Ba câu trên là sự đau xót tột đỉnh. Hiện thực đúng ra là “chiếu thay áo bào” đã được đảo ngược lại thành “áo bào thay chiếu”, tạo ra nét oai hùng mang dáng dấp những tráng sĩ “da ngựa bọc thây” thủa nào[4]. Còn câu cuối đã diễn tả tài tình phút chia ly, “sông Mã gầm lên khúc độc hành”, dòng sông cất lên điệu nhạc dữ dội, bi tráng tiễn đưa hồn các anh. Nếu nỗi buồn trong Thơ mới luôn đi liền với sự bơ vơ, đơn độc, lạc loài thì nỗi buồn trong thơ Quang Dũng luôn tìm thấy cho mình điểm tựa. Điểm tựa ấy là quê hương thân thuộc với dâu mía, ngô khoai, đất đá ong, giếng mát, tiếng sáo diều, là đôi mắt “dìu dịu buồn” của người em gái Sơn Tây… Điểm tựa ấy là những con người chân chất, bình dị nhưng rất đẹp đã đi vào thơ ông như anh chiến sĩ, cô dân quân, cô dân công, cô hàng xén, em gái bán quán nước bên đường…Nhà thơ hòa mình vào dòng chảy ấy, nhận ra vẻ đẹp đích thực của cuộc đời trong những con người bình thường, chân chất đang góp sức mình cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến.
2. Nỗ lực đưa hiện thực đời sống vào thơ kháng chiến một cách thành công
Quang Dũng là một hồn thơ đậm màu sắc lãng mạn, nhưng cũng như một số nhà thơ thế hệ chống Pháp (Tố Hữu, Chính Hữu, Hồng Nguyên…), ông cũng là người góp phần đưa hiện thực đời sống và chất tự sự vào thơ. Tuy nhiên, hiện thực kháng chiến tràn vào thơ ca chống Pháp không phải lúc nào cũng thành công, nhất là trong những năm đầu khi một số cây bút chưa bắt kịp với thời cuộc.  Nhưng con đường cách tân này đã tạo ra những thi phẩm tồn tại được với thời gian: Đồng chí (Chính Hữu), Nhớ (Hồng Nguyên), Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ), Thăm lúa (Trần Hữu Thung)…Nhiều câu thơ thể hiện sinh động hiện thực một thời đã đi vào trí nhớ của nhiều thế hệ:
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
(Đồng chí, Chính Hữu)
Nghỉ lại lưng đèo
Nằm trên dốc nắng
Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa
(Nhớ, Hồng Nguyên)
Cũng với xu hướng đó, Quang Dũng đã nổ lực đưa hiện thực đời sống kháng chiến vào thơ, Nhiều bài thơ, đoạn thơ của ông như những thước phim  lướt nhanh, quay vội trên đường hành quân, nhưng để lại những hình ảnh sống động, ám ảnh người đọc:
Có làng trung đoàn ta đi qua
Máu đông in dấu giày đinh giặc
Nền tro, gạch sém, ngách buồng ai
Chiếc tả đầu giường đang cháy dở
(Những làng đi qua)
Bối cảnh của chiến tranh, những mất mát, hy sinh, vất vả của người lính, của nhân dân đã đi vào thơ một cách tự nhiên: những ngõ gạch bị đập bỏ, những ngôi làng bị tàn phá, những người em mất nhà, mất cửa, những người lính hy sinh “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, một em gái “mê sảng sốt hồng đôi má” trong một quán nước nghèo bên đường… Nhưng hiện thực không chỉ có đau thương, mà còn có thắng lợi, có niềm vui. Một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ đang được tiến hành và ngày càng tiến bước vững chắc. Quang Dũng đã phác họa được cái không khí, âm hưởng của thời đại qua những chi tiết rất đời thường:
– Những làng trung đoàn ta đi qua
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp
Nùn rơm – khói thuốc – bạch đầu quân…
– Những làng trung đoàn ta đóng lại
Khẩu hiệu trên tường đá ong mới
Thông tin đứng vẽ giặc Tây hàng
Trống ếch khua rền khắp ngõ ngang…      
(Những làng đi qua)
Quang Dũng đã đưa vào thơ kháng chiến những chất liệu, những từ ngữ thô ráp thường thấy trong ký sự như “tường gạch”, “đèn chai”, “khẩu hiệu”, “chiến xa”, “chiến hào”, “bao đạn ướt”, “trạm tiền tiêu”, “đạn bom”, “giày đinh giặc”, “tự vệ”, “du kích”, “chiến dịch”… Những câu thơ, hình ảnh thơ tự nhiên, thô mộc nhưng lại rất ám gợi:
– Tự vệ xách đèn chai lối xóm
Khuya về chân khỏa vội cầu ao
Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào
(Những làng đi qua)
– Lối qua Hồng Phú xưa
Sát đường tàu hoen rỉ
Tà vẹt rào vườn rau
Cỏ dại xương rồng
Mọc lên rậm rạp
(Hồng Phú Châu Giang)
Chất liệu hiện thực tràn vào thơ chống Pháp là một xu thế tất yếu, sau này cũng là hiện tượng phổ biến trong thơ chống Mỹ, nhưng để thơ hóa chất liệu thì lại cần có những tài năng. Không phải lúc nào Quang Dũng cũng thành công, nhưng khi ông đưa chất liệu này vào trong trường lãng mạn quen thuộc của mình, thể hiện chúng bằng một ngôn ngữ tài hoa, giàu nhạc tính thì bỗng nhiên những câu thơ như được thổi hồn cốt, lay động lòng người:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
(Tây Tiến)
Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ơi lại nối điêu tàn!
Đất đá ong khô nhiều suối lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan?
(Mắt người Sơn Tây)
Nổ lực đưa hiện thực vào thơ khiến cho Quang Dũng đã bước cùng đường, đi theo xu hướng chung của thơ ca kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ, nhưng ông vẫn tạo ra cách xử lý chất liệu độc đáo của riêng mình.
3. Sự hấp dẫn của những kết hợp đa màu sắc
Khó tìm được một định nghĩa đầy đủ, chuẩn xác thế nào là thơ hay, bởi các định nghĩa thường xuất phát từ những góc nhìn khác nhau, với những đối tượng khác nhau. “Mỗi bài thơ hay là một định nghĩa về thơ hay” (Anh Ngọc)[5]. Một bài thơ với người này có thể hay, nhưng lại không tạo ra cảm xúc gì đặc biệt với những người khác (bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm của Tòng Văn Hân được giải thưởng Báo Văn nghệ vừa qua là một ví dụ). Qua các bài thơ Quang Dũng, có thể khái quát về một kiểu thơ hay: Đó là sự thăng hoa của cảm xúc, là sự kết hợp hài hòa giữa lãng mạn và hiện thực, giữa cổ điển và hiện đại, giữa thơ và nhạc, họa, là sự giản dị mà tài hoa trong ngôn ngữ. Các bài thơ hay nhất của Quang Dũng như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Đêm Bạch Hạc…là những bài như thế.
Thực ra, cũng phải nói rằng, ảnh hưởng của bút pháp lãng mạn hay cố gắng đưa hiện thực đời sống vào thơ trong thơ kháng chiến chống Pháp thời kỳ đầu không phải chỉ có ở riêng Quang Dũng. Nhưng một số trường hợp, chất liệu lãng mạn đã biến người chiến sĩ cách mạng thành những tráng sĩ xa lạ, biến chiến trường thành những “biên thùy” trong thơ cổ (Biết gửi đưa ai – Khuyết danh, báo Vệ Quốc, Ngày về – Chính Hữu…). Ngược lại đưa hiện thực đời sống vào thơ cũng đã làm nhiều bài bị văn xuôi hóa, vè hóa (Bà cụ mù lòa, Làng Còng của Xuân Diệu, Giữ bí mật, Tòng quân của Huy Cận, Mắt anh đã thấy cả rồi của Chế Lan Viên…). Đặt trong bối cảnh ấy, mới thấy hết những đóng góp của Quang Dũng. Tây Tiến (ra đời năm 1948) như một tượng đài nghệ thuật về người lính cách mạng. Bài thơ chủ yếu sử dụng bút pháp lãng mạn, những chi tiết hiện thực cũng được lãng mạn hóa, kỳ vĩ hóa theo bút pháp phóng đại. Vẻ ngoài xanh xao, sốt rét rừng, tóc rụng của người lính Tây Tiến đi vào thơ trở thành: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Những cái chết bất ngờ không gây cảm giác sợ hãi mà được thể hiện như một sự tạm nghỉ, dừng chân trên con đường chiến chinh: Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời. Sự trắc trở, hiểm nguy của núi rừng đi liền với cái hùng vĩ, nên thơ: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Thủ pháp đối lập phát huy hiệu quả tối đa: thiên nhiên vừa hiểm trở, hoang sơ vừa dữ dội, hùng vĩ, người lính vừa gian lao, vất vả, nhọc nhằn vừa lãng mạn, tài hoa, đa tình. Quang Dũng đã xây nên tượng đài người lính bằng những xúc động chân thành, xót xa, cảm phục ở mức cao độ, và những cảm xúc ấy lại được biểu hiện bằng những hình ảnh ấn tượng, bằng nhịp thơ khi dồn dập, trúc trắc, khi chùng xuống lâng lâng, bằng cách sử dụng thủ pháp đối ý, đối thanh, bằng ngôn ngữ thơ tài hoa, độc đáo. Bài thơ cũng là một minh chứng của “thi trung hữu họa”, “thi trung hữu nhạc”… Mắt người Sơn Tây thì đúng như nhận xét của nhà thơ Vũ Quần Phương: “hơi thơ lãng mạn mà tình cảm rất đời, chạm vào trái tim con người thời tao loạn. Thương cảm, xót xa, phiêu bạt mà không bi lụy. Nét hy vọng thanh mảnh trong suốt chảy len lỏi qua nỗi đau nặng chắc tạo một cảm xúc chiến chinh rất Việt Nam mà cũng điệp trùng biên tái thời nảo thời nao” [6, tr. 7].
Cũng như nhiều nhà thơ khác, thơ Quang Dũng cũng có những hạn chế. Thơ ông không đồng đều về chất lượng, có bài chất lãng mạn không thể thăng hoa, chỉ gợi một cái gì mòn sáo (Không đề, Dòng đời…), có bài chất hiện thực đi vào thơ còn thô mộc, vụng về (Quán bên đường, Nhớ, Gửi Sơn Tây….). Nhưng với Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Đêm Bạch Hạc và một số bài thơ, đoạn thơ, câu thơ còn đọng lại ở người đọc, Quang Dũng đã xác lập cho mình một đỉnh cao trong thơ Việt. Ông đóng vai trò như người kết nối giữa hai thế hệ nhà thơ, người đã khắc họa xuất sắc dấu ấn tâm hồn của một thời kỳ lịch sử oanh liệt, góp phần mở ra một thời kỳ mới của thơ Việt Nam hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
[1] Hà Minh Đức (Chủ biên), Tác phẩm văn học, bình luận và phân tích, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
[2] Mã Giang Lân, Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.
[3] Hoàng Tố Mai (chủ biên), Di sản văn học lãng mạn và những cách đọc khác, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017.
[4] Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại chân dung và phong cách, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2000.
[5] Vương Trí Nhàn, Nhà thơ số một của Thơ mới, https://vuongtrinhan.blogspot.com/.
[6] Vũ Quần Phương, “Thay lời giới thiệu”, Quang Dũng, Mắt người Sơn Tây (thơ văn tinh tuyển), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012.
[7] Đỗ Lai Thúy, Quang Dũng, mây trắng xứ Đoài,  http://tapchisonghuong.com.vn/.
[8] Trần Lê Văn (sưu tầm, biên soạn), Tuyển tập Quang Dũng, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999.
Chú thích:
[1] Tập Mắt người Sơn Tây (thơ văn tinh tuyển Quang Dũng), Nxb Hội Nhà văn, HN, 2012, phần thơ có tất cả 61 bài.
[2] Hà Minh Đức (chủ biên), Tác phẩm văn học bình giảng và phân tích, Nxb Văn học, 2001, tr. 74; Nguyễn Thành Thi, Văn học thế giới mở, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2010, tr.303; Nguyễn Đăng Điệp, Tác phẩm văn học trong nhà trường những vấn đề trao đổi (Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr. 176; Phan Huy Dũng, Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 160.
[3] Hoài Thanh toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999, tr. 244.
[4] Nhà thơ Vân Long cho biết (theo lời kể của nữ y tá mặt trận Tây Tiến), đoàn quân Tây Tiến trên đường hành quân chiến đấu hy sinh nhiều, “bà con ở Vụ Bản đem tặng hàng trăm chiếc chiếu để thay quan tài” (Những tư liệu liên quan đến bài thơ Tây Tiến – Báo Giáo dục và Thời đại, số 59, 23/7/1996).
[5] https://www.bienphong.com.vn/.
16/11/2022
Đinh Tiến Dũng
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Từ hạt ngọc tâm hồn đến tâm tình tuổi thơ Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng trẻ em không còn yêu thích văn học, văn học thiếu nhi Việt N...