Anh em nhà Nguyễn Tường Tam
(Nhất Linh): Ánh sáng và bóng tối
Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tôi còn là cậu học sinh
trường trung học. Tôi không nhớ từ đâu một lần có trong tay cuốn truyện Nắng
Thu của Nhất Linh. Giữa cái tuổi đang mộng mơ, được đọc một cuốn truyện tả
về mối tình lãng mạn giữa một anh sinh viên trường thuốc với một cô gái quê dịu
dàng xinh đẹp bị câm… xúc động vô cùng. Hình ảnh chàng Phong và cô Trâm với cái
tên tác giả Nhất Linh cứ bám riết lấy tôi đến tận bây giờ. Mãi sau này đọc những
truyện của Nhất Linh và tìm hiểu mới biết rằng đây là nhà văn trụ cột của Tự lực
văn đoàn từ khi tôi còn trong cát bụi. TLVĐ, với tôi còn là một kỷ niệm thời học trò mãi mãi
không quên.
Năm ấy tôi được cử đi thi học sinh giỏi văn khối
10 (hệ 10 năm) toàn tỉnh.
Kết quả chấm thi thật bất ngờ: là hai bài được điểm
9 trên 10.
Ban giám khảo bàn nhau phải tìm ra một trong hai bài có điều
gì đó tốt hơn, thưởng thêm nửa điểm để phân loại. Đầu tiên có ý kiến so chữ viết,
nhưng cả hai bài chữ viết đẹp ngang nhau. Lần thứ hai xét về ngữ pháp, nhưng chẳng
ai bị lỗi chính tả, lại vẫn hoà! Cuối cùng có ý kiến, tìm bài nào có kiến thức
phong phú, ngoài chương trình sách giáo khoa mà nhà trường đã dạy để chọn làm
thủ khoa.
Năm ấy tôi bình giảng bài thơ Cô gái sông Hương của
Tố Hữu. Cũng như mọi học trò lúc bấy giờ, tôi đã say sưa bình về tấm lòng nhân
hậu của Tố Hữu trước cảnh đời lầm lạc, khổ đau của cô gái sông Hương từng dấn
thân vào vũng bùn ô uế. Cô đắng cay làm thú vui cho những kẻ có quyền có tiền…Nhưng
Tố Hữu, nhà thơ cách mạng có đôi mắt nhìn bao dung, chẳng những không khinh rẻ
mà còn cho rằng đời cô kỹ nữ sau này sẽ thơm như hoa lài, trong như nước suối….Cái
mà ban giám khảo thích bài văn của tôi, là bởi giữa giọng điệu của một lối văn
khuôn phép, thì lại có hình ảnh cô Tuyết trong tiểu thuyết Đời
mưa giócủa Nhất Linh và Khái Hưng, để chứng minh so sánh. Cũng bởi
những dòng viết ấy, ban giám khảo có cảm tình, khen bài văn ý tứ dồi
dào, kiến thức tỏ ra rộng rãi hơn…
Điểm 9,5 in đậm trên bài viết đã cho tôi giải nhất,
rồi trở thành trưởng đoàn học sinh tỉnh Hải Dương đi thi văn miền Bắc, từ năm đầu
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ .
Ngót nửa thế kỷ, hôm nay nhớ lại vẫn bâng khuâng…
Thật là thú vị khi những năm gần đây được bạn bè khích lệ,
tôi dành thời gian tìm hiểu và nghiên cứu về nhóm văn chương TLVĐ.
Tôi đã về quê hương thị trấn Cẩm Giàng, nơi có Trại văn
chương, có ngôi nhà của gia đình Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam sinh sống qua
bao thế hệ. Ở đấy còn mộ phần cụ Nguyễn Tường Nhu, là thân phụ các nhà văn . Ở
đấy còn nhiều kỷ vật, của một gia đình gốc quan lại nhưng cuộc đời thanh bạch,
sống gần gũi dân quê, trải nhiều gian nan, cả những tháng ngày nghèo túng.. Tôi
đã đi, về nơi đây dễ đến chục lần, đã trở thành quen thuộc với nhiều người dân
chân thật và mến khách.
Một lần từ toa xe lửa bước xuống ga Cẩm Giàng, trời bỗng
nhiên đổ mưa to. Tôi đang dò dẫm đi về phía trụ sở uỷ ban nhân dân thị trấn,
thì một bác bán hàng ở giữa phố cứ nhìn tôi tươi cười mời vào nghỉ tạm.
Tôi ngần ngại thì bác vồn vã nói như người quen đã lâu:
- Bác cứ vào đây ngồi đỡ mưa đã. Có phải bác về Uỷ ban thị trấn
không? Cháu nhận ra bác rồi. Bác đã về đây nhiều lần, còn nói chuyện về Tự lực
văn đoàn, văn chương Thạch Lam, đúng không? Nhờ bác mà dân quê cháu mới hiểu
thêm thị trấn này từ ngày xưa đã có những dòng họ nổi tiếng văn
chương như thế. Thì ra bà con thị trấn Cẩm Giàng đã nghe tôi nói chuyện, bình
văn và đã nhớ đến tôi, chứ mình làm sao có thể biết được. Vợ chồng người bán
hàng còn nhiệt tình pha cho tôi tách cà phê uống cho ấm bụng.
Quả thật, tôi đã có dịp chuyện trò cùng nhiều nhân chứng của
một thời đầy biến động lịch sử ở nơi đây; về làng Trữ La viếng thăm mộ cụ Nguyễn
Tường Nhu, trang trại gia đình các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch
Lam… trong đó còn chiếc ao bốn xung quanh xanh mát những cây ăn quả, và từng
trò chuyện với người chủ mới đang trông nom khu vườn của người xưa.


Nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam từng biết rằng những
năm Ba mươi thế kỷ XX, ở nước ta xuất hiện một nhóm văn học Tự Lực
văn đoàn (TLVĐ). Văn chương của họ đó thể hiện tư tưởng tiến bộ trong đấu
tranh chống phong kiến, thực dân, phổ biến quan niệm nhân quyền, dân quyền,
quan điểm tiến bộ về cá nhân, về gia đình, xã hội.
Thành viên chính của TLVĐ gồm có tám người được
gọi là “bát tú”- tám ngôi sao: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng,
Thế Lữ, Tú Mỡ, Trần Tiêu và Xuân Diệu. Và trong số ấy, có ba anh em ruột họ
Nguyễn Tường với các bút danh: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, được
sinh ra và lớn lên từ thị trấn Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Hơn bảy chục năm qua đã có biết bao công trình nghiên cứu về
cuộc đời và văn chương của họ. Viết cuốn sách này, tôi xem mình chỉ là người
vác rìu qua cửa nhà Lỗ Ban. Nhưng ai dám bảo rằng tôi không có niềm vui, lòng
kính trọng gia đình Nguyễn Tường đã sinh ra con người những nhân vật mà tôi tâm
phục, khẩu phục qua cuộc đời và sự học tập phấn đấu đầy gian khổ của
họ?
Cuốn sách không có ý nhận định đánh giá về văn chương TLVĐ mà
chỉ là chắp nối lại những quãng thời gian của những con người từng bị bụi thời
gian che phủ. Đất Cẩm Giàng là nơi sinh thành, dung dưỡng và ghi nhiều ký ức tuổi
thơ của những thế hệ họ Nguyễn Tường. Cuộc đời họ, qua nhiều biến cố thăng trầm,
có ánh hào quang và bóng tối. Đầy nước mắt và nụ cười. Nhưng văn chương của họ
thì vẩn toả sáng mãi.
Tôi thành thật cám ơn những ai đã nhiệt tình cổ vũ, khích lệ
tôi, đặc biệt các lãnh đạo địa phương và bà con ở thị trấn Cẩm giàng
đã đóng góp nhiều ý kiến… Cám ơn các ông: Hà Huy Chương, Trần Quang
Thông, Nguyễn Phúc Lai… những người đã khích lệ và có những việc làm
thiết thực giúp đỡ để cuốn sách ra đời.
Cẩm Giàng - Sông Gấm
Lai lịch vùng đất
Mảnh đất này có cách đây gần bốn trăm năm,
trong thư tịch cổ gọi là Cẩm Giang (sông Gấm), rồi sau vì tránh tên huý của chúa
Trịnh Giang mà đổi, gọi chệch thành Cẩm Giàng. Phía bắc thị trấn là ngã ba
sông, mềm mại như dải lụa. Đây là chỗ giao thoa hai vùng văn hoá quan họ Kinh
Bắc và vùng văn hoá hào hiệp, khoa cử xứ Đông. Từ trước cách mạng tháng Tám năm
1945 đất này thuộc xã Kim Quan, tổng Kim Quan, huyện Cẩm Giàng.
Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) lỵ sở huyện Cẩm Giàng từ thôn
Trữ La chuyển về khu đất phía đông bắc thôn Kim Quan cùng xã. Thế là Kim
Quan thành danh giá, thành thủ phủ Cẩm Giàng, có huyện đường đông
vui sầm uất. Vì thế, chẳng bao lâu ở cái đất đồng bằng, có ngã ba sông, hình
thành phố lẻ, chợ nhỏ, thu hút dân các vùng về đây lập nghiệp. Từ khi có cầu Cẩm
Giàng, ga xe lửa thì đất lỵ sở ngày càng có giá, việc đi lại buôn bán càng tấp
nập. Khoảng năm 1925 xảy ra mâu thuẫn về đất cát, quyền lợi của nhân
dân và hương lý sở tại, và để giải quyết mâu thuẫn đó, ở đây đã lập ra khu vực
hành chính riêng, tách làng thành phố(tức phố thuộc làng). Cách
mạng tháng Tám thành công, nhưng phải đến tháng 4 năm 1946 xã Kim Giang mới được
thành lập. Khu phố có huyện lỵ đóng nằm trên địa bàn xã Kim Giang. Hơn chục năm
sau, ngày 19 tháng 9 năm 1958 Uỷ ban hành chính liên khu 3 quyết định thành lập
thị trấn Cẩm Giàng trên cơ sở phố huyện cũ. Vậy là thị trấn Cẩm Giàng trở thành
một trong 19 đơn vị cơ sở hành chính của huyện Cẩm Giàng- một huyện nổi tiếng về
hiếu học và khoa bảng.
Thị trấn Cẩm Giàng có chiều dài gần một nghìn mét, nằm dọc
tuyến đường sắt Hà Nội- Hải Phòng. Dấu hiệu nhận ra cái phố huyện bé nhỏ này là
cây cầu sắt dài 35 mét, bắc trên sông Cẩm Giàng từ năm 1901.
Không chỉ là vựa lúa, là trung tâm kinh tế của huyện,
miền đất ấy còn là nơi giao thông thuận lợi, trên bến dưới thuyền, có mối
giao thương với các huyện Bình Giang, Mỹ Hào( Hưng Yên), Lang Tài, Gia Bình (
Kinh Bắc). Ga Cẩm Giàng là cái gạch nối giữa Hải Phòng và Hà Nội. Đường bộ,
đường sắt, đường thuỷ đi các tỉnh bạn dễ dàng, bán buôn trao đổi với các
vùng tiện lợi, nên dân tứ chiếng về đây lập cư, coi là đất lành cò
đậu. Từ đời này qua đời khác, họ sinh sôi nẩy nở, làm ăn buôn bán rồi thành người
Cẩm Giàng, chứ chẳng mấy ai quê gốc, trừ rất ít người từ xó lân cận dịch chuyển
về. Đất chật, nhưng thị trấn hội đủ yếu tố thiên nhiên, con người và không
gian văn hoá, nó tiêu biểu cho cả một vựng quê có truyền thống khoa bảng từ đời
xưa.
Sử
sách nước ta còn ghi, năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông có ông Lê Văn Thịnh, người
Kinh Bắc đã khai khoa cho sĩ tử nước nhà. Lại đến năm 1086, ông Mạc Hiển
Tích, quê Nam Sách là người mở khoa cho cỏc nho sĩ xứ Đông. Phải gần 100 năm
sau (năm 1185), ông Bùi Quốc Khái, quê Ngọc Liên là người mở đầu
cho khoa cử trên đất Cẩm Giàng . Ông Khái học tài, nhưng không chịu
đi thi. Khi 44 tuổi mới ra ứng thí, đỗ hội nguyên, làm quan đến chức Đô ngự sử
dưới thời vua Lý Cao Tông. Khi triều đình đổ nát, gian thần lộng hành, ông
treo ấn từ quan, xuất gia đầu Phật, thọ 93 tuổi. Dân chúng thờ ông ở chùa Thiên
Niên gần hồ Tây, và đặt bài vị thờ ở đình làng Trinh Sài – Hà Nội.
Khoa thi 1246- Thiên ứng Chính Bình 15, triều Trần có lệ lấy
Tam khôi, thì ông Phạm Văn Tuấn , xã Cẩm Vũ đỗ Bảng nhãn. Đây là vị tam
khôi đầu tiên ở Xứ Đông xưa. Cẩm Giàng có nhiều người cùng đỗ
trong một khoa thi. Đó là khoa năm 1484 triều vua Lê Thánh Tông có tới
5 người đỗ Hoàng giáp và Tiến sĩ. Ngoài ra chưa kể cú khoa thi tới ba,
bốn người cùng đỗ. Xã Cẩm Sơn có 11 vị tiến sĩ, hoặc xã Ngọc Liên có 8 tiến
sĩ đều là niềm tự hào của quê hương.
Theo Văn chỉ Cẩm Giàng, thì từ khoa năm 1185, khi có vị tiến
sĩ đầu tiên, cho đến khoa 1754, trải dài 569 năm, qua 44 khoa thi dưới các triều
đại, có 59 vị đại khoa , chiếm 1, 97% tiến sĩ cả nước. Khoa thi
1754, niên hiệu Cảnh Hưng 15 - Lê Hiển Tông , ông Nguyễn Điệu Huyễn, xã Ngọc
Liên là người đỗ tiến sĩ cuối cùng trên đất Cẩm Giàng.
Từ năm 1655 ở đây có Văn chỉ,
ghi tên các nhà khoa bảng trong huyện. Năm 1920, trường Kiêm bị là
trường học đầu tiên duy nhất thành lập, cho học sinh cả huyện đến học tập.
Có phải phong thổ Cẩm Giàng đã
tạo ra gần sáu chục đại khoa thời trước, trong đó thôn Kim Quan (sau này tách
ra thành một phần thuộc đất thị trấn) có 6 tiến sĩ, để đời sau đã
sinh ra tài năng văn học trong một gia đình có ba anh em ruột là các nhà văn Nhất
Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam? Cả ba người đều là người sáng lập, trụ cột của
TLVĐ, một tổ chức văn chương nổi tiếng trên văn đàn nước nhà từ những năm ba
mươi thế kỷ trước.
Phố huyện Cẩm Giàng.
Sau khi hoàn thành công cuộc
xâm lược nước ta, thực dân Pháp bỏ cấp phủ. Tri phủ đóng ở huyện nào
thì trực tiếp cai trị huyện ấy.
Cẩm Giang ngày xưa, bây giờ gọi
Cẩm Giàng, có một phố huyện nhỏ, lại nghèo cách tỉnh lỵ Hải Dương chừng hơn chục
cây số theo đường chim bay, còn về Hà Nội lại tròn bốn mươi cây số. Ở đây có đường
đá về tỉnh lỵ Hải Dương, đường về thị trấn Sặt, đường liên tỉnh sang tận Lang
Tài, Bắc Ninh lân cận. Vì thế phố huyện tuy nhỏ hẹp nhưng cũng là nơi thông
thoáng với ngoài. Đó là chưa kể đầu phố còn có dòng sông, một thời thuyền mắm
muối từ xứ Nghệ, Hà Tĩnh lần ra tận đây trao đổi hàng hoá rồi ra đi.. Phố huyện
thời ấy lèo tèo mấy căn nhà gạch, còn lại mấy chục căn nhà tranh tre nứa lá nằm
sát con đường sắt Hà Nội - Hải Dương. Bốn chung quanh là cánh đồng quê, và xa
tít là những luỹ tre xanh ngắt bao bọc lấy làng xóm ngàn đời lam lũ nắng mưa.
Ga Cẩm Giàng là món quà vô giá
đối với cái phố huyện nửa cổ nửa kim này. Tuy chỉ là chiếc ga xép, lại bị ép chặt
bởi đoạn đường sắt chạy qua, không thể phình ra được…nhưng phố huyện tự hãnh diện
vượt lên trước các làng xã xung quanh. Không chỉ tự hào là đất huyện lỵ, là nơi
giao lưu buôn bán khu vực, còn là chỗ tụ tập tinh hoa của vùng. Những tin tức,
chuyện lạ gần xa khắp nước được ùa vào cái phố nhỏ này thường qua mồm khách đi
tàu. Chuyện chính trị, quốc gia, quốc tế theo con tàu mỗi ngày lên xuống Hải
Phòng, Hà Nội rồi gửi lại chỉ cần một ít lâu dần cũng thành nhiều. Thành ra có
người bảo con gái phố huyện khôn ngoan và thạo giỏi hơn, đẹp hơn con
gái làng khác. Vậy mà ga Cẩm Giàng chỉ lèo tèo vài chiếc quán dựng tạm bợ, hai
bên trồng rào găng. Đến mùa, găng chín đỏ hấp dẫn bọn trẻ con nhà nghèo, nhưng
chẳng mấy đứa dám ăn, bởi nó có mùi vị hắc đáng sợ. Đêm đêm, những
khi có chuyến tàu ngược xuôi, thì hình như có một bàn tay vô hình đánh thức, phố
ga choàng tỉnh dậy rộn rã ào ạt lên chốc lát. Tiếng bánh xe sắt nghiến
đường ray xa dần, thì đêm đen lại lọt thỏm vào cảnh vắng vẻ, buồn thiu.
Tiếng là huyện lỵ giữa một vùng
đồng bằng, nhưng bấy giờ nó chỉ sang hơn làng quê khác nhờ cái chợ và mấy hiệu
bán hàng của Hoa kiều, ông hai Phóng, tư Vầy, bà năm Tầu. Cuối phố có lối rẽ xuống
bến đò sông Sen, hai bên xanh biếc những dặng tre. Người đi qua lối này đều ngó
vào cổng huyện màu xám, có hai người lính lệ đứng gác như hai con tốt đỏ trong
bộ quân tam cúc, nhưng vẫn phảng phất của chút uy quyền của một chính phủ bù
nhìn cho Pháp. Những ngày nắng còn đỡ, chỉ cần mưa một ngày đêm, cả phố huyện
sũng nước và nhầy nhụa bùn như thể ruộng bừa chuẩn bị cấy. Và cái phổ ga càng ảm
đạm, buồn thiu, thấp thoáng vài con người lầm lũi, tan vào các con đường nhỏ, rồi
mất hút trong các luỹ tre xanh.
Bài thơ của Nguyễn Duy Huệ, ông giáo về hưu, từng sống những
năm trên đất này, tuy mới chấm phá nhưng vẫn gợi lên nét sinh hoạt
khá sinh động nơi phố huyện Cẩm Giàng:
Bạn cũ giờ này sống nơi đâu?
Có còn nhớ buổi tắm chân cầu
Vườn chùa hái ổi ai trèo nữa
Lỗ đáo sân ga bỏ đã lâu.
Nhà thương ông ký ngồi xem truyện
Ngõ cụt thằng tây huýt sáo mồm
Im bặt sân trường ông đốc nói
Buồn thiu mẹ ốm đã mươi hôm...
Chuồn chuồn bay thấp cơn mưa tới
Cá nổi ao nghè lá rụng thêm
Hành khất quẩn quanh quầy thuốc bắc
Cụ già dắt cháu bước qua thềm.
Cổng chợ cò cưa ông xẩm hát
Cửa quan cậu ấm đứng tồng ngồng
Trong nhà cụ chánh lau khăn áo
Tới dự phiên chầu buổi nghị đông
Chính cái phố huyện bé nhỏ, buồn thiu ấy là nơi chôn rau cắt
rốn của một dòng họ mà sau này sinh ra những nhà văn nổi tiếng trên văn đàn nước
nhà: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, từng làm trụ cột Tự Lực văn
đoàn những năm 1930 –1945 ở nước ta.
Nhưng cũng ít người biết những
nhà văn ấy nguồn gốc họ Nguyễn Tường.
Khúc Hà Linh
Nguồn: Phongdiep.net



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét