Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Quách Tấn và chùa chiền

Quách Tấn và chùa chiền
Quách Tấn không những làm thơ mà còn viết văn nữa. Những tác phẩm văn xuôi của ông phần lớn đều có một phong thái đặc biệt. Viết về lịch sử ông có những nhận xét rất đặc thù như khi bình luận về Nhà Tây Sơn có sự bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, ông đã có những nhận xét rất tinh tế: Ngoài các yếu tố thông thường ông đã đưa ra yếu tố tính khí của mỗi người để đi đến một kết luận rất hợp lý. Đó là giận nhau rất dễ mà hòa nhau cũng rất mau.
Viết về thi thoại ông đã có những nhận xét tinh tế để nói lên những điều đáng nghi ngờ mà trước đây có nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận thức sai lầm đã trót ghi vào văn học nên không một ai dám nêu lên để thảo luận và đính chính.
Riêng về các tác phẩm có tính cách địa phương chí thì ngoài tấm lòng của nhà thơ đối với non sông, nhất là đối với quê hương, ông đã có những nét duyên dáng riêng, văn phong riêng khi nói đến phong cảnh thiên nhiên. Tác phẩm viết về địa phương chí của ông gồm có ba cuốn: Nước Non Bình Định, Xứ Trầm Hương, Bước Lãng Du. Trong phạm vi hạng hẹp của bài này tôi chỉ nói đến cái nhìn đặc biệt của nhà thơ đối với chùa chiền trong ba tác phẩm đã xuất bản.
Trước tiên là cuốn Nước Non Bình Định. Chùa trong Nước Non Bình Định có mặt hầu hết trong khắp làng xã. Những nét đặc biệt trong  ngòi bút nói về chùa của Quách Tấn  là lồng ngôi chùa trong cảnh trí thiên hiên trong một sự tích hoặc có thật hoặc huyền thoại. Các yếu tố này đã gây cho người đọc có cảm tưởng như đứng trước một cảnh trí vừa như huyền mơ vừa như có thật. Những ngôi chùa như chùa Nhạn Sơn, chùa Thập Tháp, chùa Linh Phong, chùa Hang đều để lại trong lòng người đọc những nét ghi đậm đà sau khi đọc xong.
Cảnh chùa Nhạn Sơn được diễn tả: “Chùa ẩn hiện dưới bóng xoài xanh, dựa lưng vào núi Long Cốt, trông như một bình hoa để trước một bức Tam Sơn màu đỏ gạch. Trước mặt chùa có một ao sen rộng hơn 50 mẫu, hình trăng lưỡi liềm, tên là Tân Nguyệt Trì. Mùa xuân, mùa hạ thì trước chùa hiện một vành trăng non, sắc hồng thay sắc vàng, hương sen thay hương quế. Mùa thu, mùa đông thì trăng non lai láng sắc bạc, khi thì óng ánh dưới bóng trời xanh, khi thì lờ mờ trong màn mưa xám.
Nếu chúng ta để lòng tưởng lại lúc nước Chiêm Thành đương thạnh thì chúng ta sẽ trông thấy một bức tranh đẹp phảng phất những cảnh của Cao Miên, Thái Lan hiện thời.
Dưới vòm trời xanh, nắng vàng rực rỡ, hay sưong lam lờ mờ, ba ngọn tháp màu đà non chung quanh có người đá, voi đá, nghê đá…sắc xám, đứng sừng sững trên dãy núi ba ngọn, nửa trên màu gạch chín, nửa dưới màu xoài xanh…Dưới chân núi, mặt Tây mặt Nam, đồng xanh trải lụa gợn sóng…Trước mặt hồ Tân Nguyệt khi thì hồng, khi thì bạc…nằm cong cong như chiếc nỏ mà núi Long Cốt là lảy nỏ.. Ở phía Bắc, thành Đồ Bàn nguy nga và lộng lẫy như như người Chiêm nữ mới điểm trang mà Long Cốt là vầng trán khảm ba hạt kim cương tháp… Quang cảnh vô cùng ngoạn mục!
Tháp nay không còn nữa, thành Đồ Bàn không còn nữa, hồ Tân Nguyệt cũng không còn nữa nhưng linh hồn của cảnh trí vẫn còn mãi với văn chương trong cuốn Nước Non Bình Định. Đồng thời, chùa Nhạn Sơn cũng còn được nhà thơ Quách Tấn làm cho sống mãi với câu chuyện hai tượng đá to lớn trong chùa: “Hai tượng đứng đối diện nhau. Mỗi tượng cao đến 3 mét Tây và lớn có đến hai ôm người lớn. Mình khoát áo đại bào, đầu đội mão vũ đằng, tay cầm vũ khí (một tượng cầm giản, một tượng cầm kiếm), mặt mày dữ tợn, người yếu bóng vía không dám đứng cận kề”. Câu chuyện lẫn lộn giữa hai viên tướng Huỳnh Tấn Công, Lý Xuân Điền đời nhà Trần được người Chiêm tác tượng thờ với hai tượng đá của người Chiêm. Dù có dù không khách tham quan cũng được thưởng thức một câu chuyện mà tác giả vừa kể vừa phân tích, phê phán và nhất là câu chuyện đã đưa du khách đến một vùng tâm linh nửa tin nửa ngờ.
Mặt tiền chùa Thập tháp
Kế đến là chùa Thập Tháp. Chùa xây trên mặt nổng gò rộng hình mai rùa. Trên gò xưa kia có mười ngọn tháp được ngài Bích Hoán Hòa thượng thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) phá mười ngọn tháp lấy gạch xây chùa nên có tên là Thập Tháp Di Đà Tự. Sau được vị thuyền sư Nguyên Thiều khai sơn cho phái Lâm Tế. Các kèo, trính, quyết trong chùa đều bằng gỗ sao và đều chạm chữ Phạn, còn cột thì bằng gỗ ké to đến trên một ôm. Chùa lại có được ba tạng kinh cổ cùng hai pho tượng Hộ pháp và 36 tượng La hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi. Chùa Thập Tháp chẳng những được người dân Bình Định sùng bái mà còn được các đệ tử nhà Phật trên toàn quốc coi như chùa gốc của phái Lâm Tế. Từ chùa Thập Tháp chúng ta biết được tường tận tiểu sử ngài Nguyên Thiều và sự diễn tiến phái tu thuyền Lâm Tế cùng với sự tích “vỏ lúa” nơi chùa.
Kế đến là chùa Linh Phong. Chùa có tên thiệt là Linh Phong Thiền Tự, tục gọi chùa Ông Núi. Cảnh trí thật tuyệt mỹ: “Chùa nằm trong rừng cây cổ thụ, tịch mịch thâm u, nhiều cây sống lâu đời, hình thù cổ quái. Nhiều cây cao vút bóng mây. lại nhiều cây nằm ngửa nghiêng trong sắc cỏ. Quanh chùa đá mọc ngổn ngang, hoặc đứng sừng sững giữa trời hoặc chen chúc cùng cây cối. Nơi chồng chất thành hòn giả sơn, nơi lại dựng đứng như vách, nơi lại nằm rải rác như một bầy voi nằm đấu vòi.
Chùa cất trên đầu núi, nhưng sau lưng vẫn có núi cao. Nước khe trên núi cao chảy xuống, đến chùa thì chia làm hai nhánh lớn chảy bọc quanh thềm. Hai nhánh lớn lại chia thành nhiều nhánh nhỏ chảy vào sân sau, chảy vào bếp…quanh co róc rách, rồi nhập lại nơi sân trước để chảy xuống hồ sen trước chùa”.
Đó là cảnh chùa, còn cảnh chung quanh thì như sau: “Xa tít tận chân trời, đồng lúa bát ngát bao trùm hai mặt Tây và Nam. Lúa non trải sắc xanh mươn mướt, lúa chín trải màu vàng hươm; thoảng ngọn gió đưa, lúa vờn sóng lụa và hết đây lại đó đàn có điểm những điểm trắng rung rinh. Lẫn trong màu sắc của đồng ruộng mênh mông, từng chòm từng khoảnh nổi lên màu lục đậm của cây, màu xam xám hoặc đo đỏ của chợ quán, nhà cửa, chùa đền.. ẩn hiện dưới bóng mây làn khói.
Nhìn về phía Đông thì biển xanh lênh láng. Phía Đông Nam thì đầm Thi Nại long lanh, và rừng dương liễu chạy từ Cách Thử đến Gò Bồi, quãng dày quãng thưa, chập chờn trên bãi cát nửa vàng nửa trắng. Xa xa thành phố Qui Nhơn thấp thoáng trong sương sóng, nửa tỏ nửa mờ. khi ẩn khi hiện. Và gió biển thổi vào rừng dương liễu dưới bãi, thổi vào rừng cổ thụ trên non, tiếng nghe rào rào lẫn lộn cùng tiếng sóng vỗ nơi gành xa bãi vắng”.
Chùa Linh Phong (chùa Ông Núi)
Cảnh trí của chùa thật là thần tiên còn câu chuyện của chùa thì lại thật là huyền bí. Từ cuộc đời Ông Núi đến công cứu độ chúng sinh và được  các chúa Nguyễn ban sắc tứ đến chuyện nhà thơ, nhà tuồng đặc sắc Đào Tấn lên chùa tị nạn, đề thơ đã gây cho người đọc vô cùng thích thú.
Cảnh chùa Linh Phong có lẽ được xem là một cảnh đẹp nhất ở Bình Định, Chùa vừa có cảnh lại vừa có tình. Nhà thơ Quách Tấn khi viết về chùa này đã hòa đồng lòng mình vào cảnh trí thiên nhiên.
Cảnh trí của chùa còn được mô tả thơ mộng hơn trong cảnh trí Chùa Hang. Chùa không có chùa mà chỉ có hang đá được nhà sư đến tu trì mà thành danh. Ở Việt Nam, hang núi có sư đến tu trì và trở thành chùa danh tiếng như động Hương Tích, động Phật tích, động chùa Trầm ở Bắc Việt,  thạch động Hà Tiên ở Nam Việt v.v… Sự tích nhà sư khai sơn mơ hồ nhưng phong cảnh thì được miêu tả rất thi vị:
“Chùa ở lưng chừng núi, mặt hướng về Đông.
Núi tên là Lý Thạch
Dưới chân núi, đồng bằng bao la và đất trồng mít, xoài, dừa…khoảnh này tiếp khoảnh kia, sắc xanh mịt mịt.
Từ chân núi lên chùa, đá xây thành cấp, nửa nhân tạo, nửa thiên nhiên, quanh co khúc khuỷu. Lên khỏi các bậc cấp thì đến sân: một khoảnh đất nhơ không được vuông vức cũng không mấy bằng phẳng.
Bước vào sân, chúng ta thấy ngay dưới bóng cây xanh, một tảng đá cực kỳ to lớn từ trong sườn núi nhô ra như một mái hiên bằng bê tông cốt sắt. Tảng đá này dày có đến vài thước tây, rộng đến năm bảy thước và dài có hơn mười thước. Mặt phía trên cong cong như mai rùa. Mặt dưới bằng phẳng như mặt ván ngựa và cách đất trên hai thước rưỡi.
Dưới táng đá “mái hiên”, một hang đá bùng bênh ăn sâu vào lòng núi.
Hang chạy dài từ Đông lên Tây. Nền hang thấp hơn mức đất ở ngoài khong bao nhiêu. Bề ngang của hang độ chừng bốn năm thước. Bề sâu có đến vài chục thước.
Bàn thờ Phật trần thiết ở giữa hang, đèn hương đêm ngày, thâm u tịch mịch.
Trước bàn Phật có một hang nhỏ ăn sâu xuống đất, sâu thăm thẳm và tối om om. Truyền rằng hang này thông thương với biển. Có người lấy một quả dừa khô, khắc chữ, quăng xuống hang, rồi ra biển xem thì thấy quả dừa trôi ở mé nước.
Lách ra phía sau bàn Phật và đi thẳng vào trong, thì tối tăm lạnh lẽo, phải có đèn mới thấy đường đi. Trong này không có gì lạ. Chỉ có đá mọc lỏm chỏm, vách đá hô hê. Và ở cuối hang có một lỗ trống vừa một người qua, ăn thông lên núi.
Như thế là trong hang có hai con đường, một đường lên núi, một đường xuống biển. Cũng có thể gọi là kỳ. Nhưng muốn vui mắt đăng sơn thì phải ra ngoài hang, trèo lên tảng đá “mái hiên”, nhìn quanh bốn mặt. Phía sau là núi, đá chồng chất, cây xanh tươi. Hoa nở rừng sâu, phảng phất mùi hương trộn gió. Phía trước mặt, ruộng vườn bát ngát và trải trùm tận phương xa để nối liền với mặt biển khơi nửa nỏi nửa chìm trong khói sóng. Cảnh khá ngoạn mục.
Nhưng muốn hưởng trọn phong vị, tưởng nên viếng cảnh buổi chiều. Khói nhằnt trong tuông ra pha lẫn từ khói đá từ rừng sâu đưa lại, lờ mờ, phảng phất, vừa có đó lại vụt không và như quyến lấy, như buông lung những tiếng chim kêu, hồi chuông vọng…Và cảnh vật luôn theo cảnh chiều thay sắc thái…Thanh âm, hương vị, thực thực hư hư…man mác lửng lơ…khiến cảnh chùa đượm vẻ thanh u huyền diệu”.
Chùa có tên là Thạch Cốc Tự. Sau này còn có tên Thiên Sanh Thạch Tự. Tuy nhiên tên phổ biến là Chùa Hang.
Chùa ở quê hương nhà thơ có cảnh trí thiên nhiên đẹp và sự tích các tổ khai sơn được nhà thơ ghi lại rất tâm đắc. Du khách dù không đặt chân đến song khi đọc xong lòng vẫn thấy thỏa thuê như vừa chiêm ngưỡng cảnh chùa trước mắt.
Tại Xứ Trầm Hương thì sự diễn tả các cảnh chùa tương đối có phần khác. Sự tích các tổ khai sơn được ghi chú nhiều hơn là quang cảnh chung quanh chùa. Các tổ khai sơn đều là người Việt, khác với  tỉnh  Bình Định hầu hết là người Trung Hoa.
Chùa Linh Sơn, Vạn Ninh, nơi ngài Quảng Đức ẩn tu
Như ở Vạn Ninh có chùa Linh Sơn Tự, cảnh trí thật nên thơ: trước chùa là đồng lúa bát ngát, có hồ sen sâu rộng, có sông Hiền Lương quanh co. Và xa xa núi cao chập chờn. Trong vườn chùa có hai cây cổ thụ: một cây xoài, một cây kén.
Cây xoài ở trước chùa, cạnh ngõ bước vô. Thuộc giống xoài mủ, sống trên trăm năm. Thân cao vút và nhánh mọc tua tủa như những cánh tay gân guốc giơ lên trời. Sắc lá xanh láng, màu da cây lại trăng trắng mông mốc. Đứng xa trông như một cây lọng trương nửa chừng. Vừa kỳ vừa cổ!. Cây kén đứng phía sau chùa. Thân cao vút và tuổi chắc là từ 300 năm trở lên. Chính ngài Đại Bửu ngồi tu nơi gốc cây này và có một con hổ đến sanh nở bên cạnh một cách tự nhiên. (Xứ Trầm Hương).
Ngoài ra chùa còn có một sự tích ly kỳ về việc chuông chùa đã mất đi trong thời hai họ Nguyễn tranh hùng và nhờ người dân đi mò ốc tại sông Hiền Lương phát giác.Nhưng đó chỉ là chiếc tiểu hồng chung, còn chiếc đại hồng chung thì vắng bóng song những đêm trời trong gió lặng tiếng chuông thường nghe văng vẳng nơi hồ sen trước chùa. Những câu chuyện huyền thoại này khiến cho du khách càng thêm yêu mến cảnh chùa và càng tin tưởng vào sự thiêng liêng vốn có sẵn nơi ngôi chùa xưa cổ kính này. Đây là ngôi chùa xưa nhất trong huyện Vạn Ninh.
Về huyện Ninh Hòa thì ngoài tổ đình Thiên Bửu Tự còn có Phổ Hòa Tự và Thanh Lương Tự cùng lập vào thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786).Chùa Thanh Lương Tự còn để lại câu chuyện quả đại hồng chung. Sang đến đời nhà Nguyễn thì có hai chùa nổi danh vì có được hai vị tổ khai sơn là hai đại sư:
Đó là ngài Hòa thượng Liễu Đức, pháp hiệu Huệ Giáo mà người đương thời thường gọi là Hòa thượng Đò vì ngài là người đã ra công bắc cầu cho dân trong vùng qua sông hằng ngày. Tác giả đã giải thích:
“Không biết lấy gì đền ơn cho xứng đáng, người địa phương ghi công đức trên bia miệng bằng mấy chũ bình dân: Hoà thượng Đò.
Nghe nôm na mà ý nghĩa thật sâu sắc.
Bắc cầu để giúp người đời qua khỏi dòng nước khó qua là tượng trưng cho việc lấy Phật pháp để đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ.
Hòa thượng Đò là vì Hòa thượng đã hiển thân làm chiếc thuyền từ để tế độ chúng sinh. Thật là một lời nói thuần đạo vị (Xứ Trầm Hương).
Cầu tượng trưng cho công tế độ của Hòa thượng còn biểu thị cho lòng từ bi thì có câu chuyện đào giếng của Hòa thượng. Nguyên vùng Bình Tây là một vùng gần biển, gần ruộng muối nên nước giếng thường có vị mặn. Hòa thượng ra công đào giếng trên sườn non để ca vùng đến múc uống. Nước rất ngọt và nhiều. Dân trong vùng gọi là Giếng Thảo. Tác giả giải thích: Tiếng “Thảo” đối với người bình dân có ý nghĩa tương đương với chữ “từ bi” đối với giới Phật học. Vì tìm nước ngọt để thay nước mặn là một cách làm cho người hết khổ và đem vui lại cho người. (Xứ Trầm Hương)
Nói thêm về đạo hạnh của Hòa thượng còn có câu chuyện ngài đã cảm hóa được đôi cọp mun hung dữ trong vùng và cũng chính đôi cọp mun đã cõng ngài ra khỏi dàn lửa đỏ khi ngài định tự thiêu lúc duyên chưa mãn. Chùa được liệt vào danh lam, người được dân chúng tôn thờ và đều tin rằng ngài đã tu thành chánh quả.
Huyện Ninh Hòa còn có một cổ tự tên là Thiên Sơn tự nằm dưới chân núi Hòn Độc thuộc xã Ninh Hưng. Chùa có phong cảnh đặc biệt. Trước tiên là gần chùa có hang ông Khổng Lồ nơi hang luôn luôn có nước. Nước tuy cạn song không bao giờ khô cạn cung cấp đủ cho dân cư chung quanh chùa. Người địa phương gọi là giếng Khổng Lồ.
Thứ đến là trước chùa có một trảng mây rộng đến năm sáu chục mẫu ta mọc trong sình lầy. Nhân dân gọi  trảng là Lỗ Mây và chùa cũng được mang  tên là chùa Lỗ Mây. Cuộc đời của vị Hòa thượng khai sơn  có nhiều  kỳ tích: ăn uống rất đơn sơ, khi thì một nắm cơm khô, khi thì một nắm gạo rang, đôi khi chỉ cần một nắm lá cây, bất cứ loại lá cây gì cũng được và thường đi vân du cả tháng trời  hoặc đôi ba tháng mới về chùa một lần, có khi về chỉ ngồi ngoài cửa tam quan chùa rồi lại ra đi. Cả gia đình gồm mẹ và hai chị đều tu tại chùa. Khi bà mẹ mất Hòa thượng ra ngồi bên mã đúng 12 tháng trong, không kể ngày, đêm, mưa, nắng. Dù có người chê rằng đó không phải là một cách tu hành song Hòa thượng vẫn an nhiên ngồi thiền định. Mãn tang mẹ, ngài đi vào núi ngót mấy năm không về. Hai người chị đi tìm và gặp thi thể của ngài tại núi Chí Tôn cách chùa đến bảy ngày đường, đang ngồi kiết già trên một tảng đá cao, người khô cứng như một gốc cây khô.
Ở Ninh Hòa còn có ngôi chùa cổ tên Bảo Long Tự ở thôn Thuận Mỹ xã Ninh Quang. Thi nhân họ Quách kể:
“Chùa lập vào khoảng Đồng Khánh Thành Thái (1886-1907).
Trong chùa có 11 pho tượng bằng đồng đen rất cổ. Pho tượng Phật tổ cao lớn bằng hình người. Đường nét tinh xảo.
Truyền rằng tượng Phất xưa kia của chùa làng Phụng Cang (xã Ninh Hưng hiện tại). Một năm lụt lớn cuốn cả chùa cả tượng đi mất, không biết dâu mà tìm.
Ở trong vùng có con suối sâu và rộng tục gọi là Suối Bàu Sấu. Suối ở giữa Thuận Mỹ và Phụng Cang.
Sau khi chùa Phụng Cang bị lụt cuốn trôi, nơi suối Bàu Sấu thường xảy ra nhiều hiện tượng kỳ dị:
Những đêm rằm, mồng một, người chung quanh vùng thường nghe tiếng chuông tiếng mõ từ đáy bàu vọng lên. Và thỉnh thoảng, vào lúc chạng vang. những buổi chiều tạnh mát, trên mặt nước nổi lên một chiếc chiếu hoa có 4 ông già râu bạc phếu ngồi nói chuyện, tiếng nói nghe văng vẳng tận ngoài xa.
Đồng bào kinh sợ không dám lui tới nơi bàu.
Bốn mươi năm sau, làng Thuận Mỹ vớt được tượng Phật nơi bàu, bèn lập chùa thờ phụng. Trong chùa có một quả đại hồng chung cũng rất cổ. Quả chuông này cũng như các tượng Phật, là “của Trời cho”.
Truyền rằng sau khi chùa Bửu Long cất xong, người trong làng thường nghe tiếng chuông nơi suối Bàu Sấu. Làng thuê người lặn xuống xem, thì thấy quả hồng chung treo lơ lửng trên một rễ cây từ bờ suối đâm ra. Làng bèn cưa rể cây , lấy chuông đem về chùa.”
Ngoài ra còn câu chuyện “bà Xã Mập” nắm đuôi trâu lặn xuống Bàu Sấu nhìn thấy thủy cung và hội kiến long vương.
Những chuyện xưa đã làm tăng giá trị, làm tăng sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với ngôi chùa. Quách Tấn đã để lại trong lòng người đọc sự tôn kính vĩnh viễn những ngôi chùa mà hiện nay có thể không còn nữa song vẫn còn vang bóng trong nhân gian.
Quách Tấn viết về chùa chiền chẳng những thi nhân tả cảnh đẹp của chùa, công đức của vị sư khai phá mà thi nhân còn thổi vào cảnh chùa , vị trụ trì một hồn thơ, một câu chuyện nhân gian dù có dù không chứng minh được song lại làm cho tâm hồn những người khách đến viếng chùa được thơ mộng, được êm đềm hơn khi chưa đến. Và có lẽ khi được nhắc đến chùa thì ít ra trong lòng du khách chợt hiện ra cảnh quan, câu chuyện đã được thi nhân mô tả. Có thể bây giờ cảnh quan các ngôi chùa đã thay đổi, vườn sen trước sân chùa đã cạn khô, đã thành sân trồng cây, trồng lúa; cây cổ thụ đã không còn tỏa bóng mát rừng cây bên dưới chân đồi không còn nữa v.v.. nhưng trong tâm hồn khách du quan vẫn còn phảng phất hình ảnh thuở xưa, câu chuyện ngày nọ. Cảnh trí thiên nhiên tuy đã mất song nét thơ mộng của cảnh trí thiên nhiên vẫn làm xao xuyến khi nhìn quan cảnh khô héo mà bàn tay con người đã vùi dập theo thời gian.
Theo nhà thơ Quách Tấn thì chùa trở thành danh lam nên cần có 3 yếu tố quan trọng. Đó là Chùa phải có một thời gian xây dựng từ lâu. Phải có một công trình xây dựng, một công đức do vị sư khai sơn lập thành. Và chùa cần có một khung cảnh thiên nhiên, một kỷ vật có nhiều ý nghĩa, một quan cảnh u trầm tịch mịch hợp với vị đạo, vị thiền.
Tại Nha Trang có chùa Kim Sơn ở thôn Ngọc Hội, xây dựng đã từ lâu, cảnh trí rất thích hợp cho du khách vọng cảnh. Nhà thơ đã tả:
“Chùa hướng về đông Nam, lấy hòn đảo Bồng Nguyên, tục gọi là Hòn Miễu, ở Cửa Bé làm tiền án.
Bốn mặt núi non trùng điệp. Biển Nha Trang phía Đông trông như một vũng nước nhỏ ánh màu ngân.
Từ chân đồi  đến chân núi, mênh mong bát ngát, nào làng xóm, nào ruộng nương vườn tượt, khi ẩn khi hiện dưới bóng dừa xanh. Hòn Trại Thuỷ cách Kim Sơn chừng vài cây số, xiêng xiêng về hướng Đông Nam, trông như một hòn cù laổnh ngập trong thuỷ triều. Và thành phố Nha Trang” đồng hoá” cùng lá cây và dính liền với làng quê đồng ruộng: Những cao ốc biệt thự  phố xá chỉ còn là những vệt trắng, vệt xám, vệt đỏ,thấp thoáng trong sắc xanh của cây của núi của trời.
Trừ trời ra, tất cả, cả núi non, đều nằm dưới mắt. Nhìn đàn cò trắng bay cao, đám khói bay cao, cũng phải cuối mặt xuống. Du khách ngông cuồng, nhiều người tưởng mình “đã cao hơn thiên hạ” rồi vậy”.
Tuy nhiên chùa thiếu đi bóng cây tỏa mát (trước kia có song bị giặc Pháp tàn phá) và danh tích của vị sư khai sơn. Câu chuyện truyền lại chỉ là việc chùa được vàng và bà Nghè tu bổ. Tuy vậy song vì cảnh quan mà tương lai sau này chùa Kim Sơn  thật sự sẽ là một danh lam thắng cảnh  quyến rũ khách du quan của Xứ Trầm Hương.
Ngoài ra còn có một ngôi chùa ở thôn Xuân Phong, ban sơ gọi là Liên Hoa Tự. Cảnh trí vô cùng ngoạn mục. Nhà thơ họ Quách đã mô tả:
“Mặt hướng vè Đông Nam.
Phía trước có mương nước đanh lộn và một bàu sâu có nhiều cá, gọi là Bàu Cá Vượt.
Phía Tây tức phía sau lưng, có hòn núi như hình chim phụng xòe cánh, tục gọi là Hòn Én.
Phía Tây Bắc, tức phía tả, hòn Đá Lố, như con sư Tử ngó vào chùa.
Phía Nam hòn Đá Lố có một hồ sen rộng đến mấy mẫu, hoa mùa hạ nở hồng cả mặt nước, còn ba mùa kia thì nước xanh lục lìa.”
Bây giờ tuy cảnh chùa đã thay đổi song vết xưa vẫn còn. Cho nên người có tình khi qua lại vẫn bồi hồi xúc động khi nhìn thấy nơi “nền cũ của ngôi chùa, cỏ lấp rêu mờ, chỉ còn một ngọn cổ tháp đứng đìu hiu trơ trọi”. Nhân nhắc đến chùa cũ thi nhân cũng nhắc đến chùa Hội Phước tục gọi là chùa Cát nằm trong thành phố Nha Trang. Cảnh quang chùa không đẹp song chùa lại có cả một lịch trình xây dựng, một sự tích đáng để người đời nhắc nhở. Bây giờ thì chùa đã được trùng tu khang trang song khách thập phương vẫn nhớ đến vị khai sơn là ngài Phật Ấn pháp hiệu Quảng Hiền Lão thuộc phái Lâm Tế và các vị sư kế thừa là Đại Thông và Tri Quang Đại lão Hòa thượng và đến 6,7 vị sư nữa. Chùa nổi danh không phải vì cảnh trí  mà vì lịch sử của chùa.
Gác Chuông Chùa Hải Đức
Tiếp đến là chùa Hải Đức. Chùa này có hai vị trí. Ban đầu ở gần chùa Hội Phước trong thành phố Nha Trang nằm trên đường Hai Chùa. Sau dời lên hòn Trại Thủy. Tổ khai cơ là Viên Giác Thiền sư (lập chùa ở đường Hai Chùa) người lập chùa trên núi là Đại sư Bích Không. Chùa ở vị trí rất hữu tình, gần thành phố và có tầm nhìn bao quát cảnh chung quanh thành phố. Tuy nhiên  nét đặc sắc của chùa không phải chỉ ở cảnh thiên nhiên mà còn ở cách kiến trúc  và nhất là ở nơi “tác phẩm văn chương nơi tự tích của Đại sư khắc chạm trên vách trên cột mà mưa nắng vẫn còn nguyên”:
“Có thể nói một cách mạnh dạn rằng đó là những tuyệt phẩm của thiền môn Khánh Hòa.”.
Chùa Hải Đức chẳng những được liệt vào danh lam mà còn có thắng cảnh:
“Một con đường mới trỗ, chạy ngang qua lưng đồi Trại Thủy, từ Tây xuống Đông, nối liền chùa Hải Đức và chùa Long Sơn, làm cho cảnh chùa thêm linh động nhờ bóng tu sĩ bóng du khách thấp thoáng trong đá trong cây. Và cây bồ đề trước sân chùa, những cây mít cây xoài, cây khế ở quanh chùa, ở triền đồi mỗi ngày mỗi cao cội sum cành, giúp cho cảnh chùa thêm thâm u tĩnh mịch.
Đứng nơi chùa nhìn ra bốn mặt, vọng cảnh thật bao la. Núi đồi sông biển ngoài xa; nhà cửa vườn tược dưới thấp; đồng ruộng mênh mông, phố phường chen chúc, ở trước mặt. Muôn nghìn màu sắc, càng thêm ưa.”
Ở Diên Khánh có ba ngôi chùa có di tích ngoạn mục và sự tích ly kỳ. Trước tiên là chùa Vạn Thiện ở thôn An Ninh xã Diên An. Ngoài câu chuyện kỳ tích về ngài Thiện Không tên Keo có phận sự chăn trâu cho chùa. Mỗi chiều trâu về chuồng trên lưng đều có một bó củi. Ông Keo đã dùng tay không khuấy chảo dầu sôi và khi thành chánh quả đã hóa thân trên dàn hỏa, những câu chuyện linh thiêng về chiếc móng tay của ngài Hòa thượng để lại với chuyện đôi trâu cò làm tăng thêm kỳ tích của chùa. Cảnh xưa nay chỉ còn lại:
“Ba ngọn cổ tháp và hai cây cổ thọ là cây dầu và cây song giá.
Những cổ vật này trước kia nằm trong phạm vi chùa. Hiện chỉ cây dầu và ngọn tháp ngài Linh Phù nằm trong vườn chùa. Còn tháp ngài Bửu Hạnh và tổ khai sơn nằm ở bên ngoài. Cây song giá đứng che tháp tổ. Xa trông như một cây tầm thường, nhưng lại gần xem thật là kỳ cổ: thân cây vốn hai, nhưng tháng ngày đã nhập thành một và lòng cây đã rỗng thành bộng có thể chứa được hai người đàn ông vóc to.Nhánh lưa thưa và gầy guộc rắn rỏi trông như bằng đá hay bằng gang. Cây và tháp đứng bên nhau, tạo thành một bức cổ họa kỳ mỹ. Nhưng vì ở trong đám cây cỏ tùm lum, nên khách du quan không mấy ai để ý.”
Kế tiếp là chùa Hoa Tiên. Chùa trước vốn thờ Đức Quan Thánh sau đổi thành chùa. Câu chuyện đền đổi thành chùa rất lý thú song cảnh quang của chùa còn lưu lại sự tích cây cốc cổ thụ và những bức tượng Chàm trong vườn chùa. Sự tích tượng Chàm này như sau:
Tượng này là một phiến đá xanh hình khối chữ nhật. Cao chừng năm, sáu tấc, dày chừng một tấc, một tấc rưỡi, rộng chừng một tấc rưỡi hai tấc. Không biết là một tác phẩm điêu khắc bị bỏ dở, hay là hình tướng một vị quái thần của Bà La Môn. Tượng chỉ khắc có nửa thân phía dưới:Mặt có đủ mắt mũi miệng, hai tay chấp nơi ngực, đầu đội chiếc mũ nhọn như ngọn tháp Cao Miên. Còn phía sau lưng và khúc mình thì để nguyên dạng đá.
Người trong ấp đã tìm được khi đào giếng xây chùa. Trông thấy nét mặt đàn bà, đồng bào cho là tượng bà Thiên Y A Na bèn đem vào chùa thờ phụng. Và nhân việc đào giếng được tượng, ấp lấy tên là Phật Tỉnh vì tin rằng bà Thiên Y cũng là một vị Bồ Tát như đức Quán Thế Âm. Còn hai tượng nữa thì ở dưới gốc cây cốc lồi lên. Hai tượng này xưa lắm. Nét chạm khắc đã mòn hết, lại bị hư hỏng nhiều chỗ. Một tượng cao chừng 6 tấc, một tượng cao chừng 5 tấc. Tượng mới lồi lên chừng bốn năm mươi năm nay.
Cho là vật linh thiên, vị trụ trì đem vào chùa thờ. Nhưng nửa đêm tự nhiên rớt xuống đất. Một tượng bị gãy đầu. Vị trụ trì sợ, bèn đem ra thờ dưới gốc cây cốc, nơi tượng đã lồi lên. Ngoài ra còn một điểm được lưu ý là chùa được đi vào cửa hậu. Câu chuyện các bức tượng Chàm của chùa Hoa Tiên khiến chúng ta nhớ đến  sự tích hai pho tượng nơi chùa Ông Đá ở Bình Định.
Khánh Hoà còn có rất nhiều ngôi chùa có nhiều sự tích kỳ lạ, có nhiều câu chuyện đáng lưu tâm như chùa Linh Quang, Thiên Quang ở Diên Khánh với câu chuyện ngài Nhơn Nguỵện ngót ba năm nhập thất chỉ ăn có rau muống sống và ớt lúc đúng ngọ và được mệnh danh là Hoà thượng Rau. Chùa Thiên Quang được nổi danh nhờ vị sư tổ khai sơn là ngài Trừng Thông em ngài Nhơn Nguyện có pháp hiệu là Nhơn Duệ. Cả hai đều thiết hoả đàn trà tì. Phong cảnh của Linh Quang và Thiên Quang rất ngoạn mục.
Tuy nhiên có một ngôi chùa tuy mới được xây dựng (1956) song nhờ ở cảnh quang mà chùa được lưu ý. Khác với các ngôi chùa  trên đất xứ Trầm Hương, ngôi chùa Hải Giác được nhà thơ Quách Tấn lưu tâm không phải vì các huyền thoại mà vì là một bức tranh sơn thủy hữu tình.
“Chùa dựng trên một ngọn đồi tục gọi là Núi Ông Sư. Mặt ngó vào Nam.
Đồi trước đây hoang vu, gai gốc rậm rạp. Nhưng xưa kia dường như đã có chùa hoặc am, nên đồi mới mang tên là Núi Ông Sư. Thêm nữa trên đồi có hai cây me già cỗi, tuổi ước trên vài trăm, đứng song song một cách cân đối. Không phải mọc tự nhiên, mà chắc là hai cây me trồng trước sân để lấy bóng mát. Rồi chùa am mất, cây còn lại với nắng mưa.
Thượng tọa khai sơn đã dùng hai cây me cổ thọ, để nhắm phương hướng cho ngôi chùa. Hiện hai cây đứng trước chùa Giác Hải như hai trụ ba biểu.
Kiến trúc của chùa không có gì lạ. Nhưng phong cảnh thật là mỹ quan.
Ngọn đồi hình mai rùa.
Phía tây hòn Phổ Đà Sơn tức là núi Bồ Đà, giống con voi nằm ngó ra Bắc, chung quanh gò đống ngổn ngang.
Dưới chân đồi, cũng phía Tây, con đường quốc lộ số 1 chạy từ Nam ra Bắc, vượt qua đèo Giốc Thị, như một con rắn mãng xà đương đi, khúc cong khúc thẳng.
Phía Nam, phía Bắc, nhà cửa ruộng nương của thôn Xuân Tự ẩn hiện dưới bóng dừa xanh xoài xanh.
Và phía Đông, vịnh Vân Phong trông như hồ bán nguyệt, mây nước thương mang, nửa mờ nửa tỏ.
Đứng nơi sân chùa trông ra, cảnh Vân Phong trông vô cùng ngoạn mục.
Bán đảo Bàn Sơn ở phía Bắc, bán đảo Phước Hà ở phía Nam như hai cánh tay ôm lấy vịnh và hòn Đại Dự tức Hòn Lớn đứng làm bình phong. Biển xanh màu chàm, non xanh màu lá, trời xanh màu dương. Và hòn Đại Dự trông giống người đàn bà nằm trở đầu vào Nam, ngửa mặt lên trời, chân trái co, chân phải duỗi; trán cằm ngực bụng có đủ và đường cong nét thẳng rõ ràng, nhịp nhàng như một pho tượng bằng đá xanh. Vì phía Tây có hòn Phổ Đà Sơn và vịnh Vân Phong lại thuộc về Nam Hải nên người cửa Phật bảo đó là tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Cảnh là hình ảnh của tâm. Những người không có Phật tâm mà có thánh tâm hoặc thị tâm thì nhất định thấy khác.
Nhưng không ai không công nhận là bức tranh sơn thủy hữu tình.”
Tóm lại, những cảnh chùa nơi quê hương Bình Định và Khánh Hòa của nhà thơ Quách Tấn luôn luôn mang màu sắc thi vị và thiêng liêng. Trong chùa có tâm, trong tâm có cảnh và trong cảnh có tình. Đó là tình yêu thiên nhiên của nhà thơ vậy.
Trần Thị Phong Hương
Theo http://giaodiemonline.com/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...