Quách Tấn không những làm thơ mà còn viết văn nữa. Những tác
phẩm văn xuôi của ông phần lớn đều có một phong thái đặc biệt. Viết về lịch sử
ông có những nhận xét rất đặc thù như khi bình luận về Nhà Tây Sơn có
sự bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, ông đã có những nhận xét rất
tinh tế: Ngoài các yếu tố thông thường ông đã đưa ra yếu tố tính khí của mỗi
người để đi đến một kết luận rất hợp lý. Đó là giận nhau rất dễ mà hòa nhau
cũng rất mau.
Viết về thi thoại ông đã có những nhận xét tinh tế để nói lên
những điều đáng nghi ngờ mà trước đây có nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận thức
sai lầm đã trót ghi vào văn học nên không một ai dám nêu lên để thảo luận và
đính chính.
Riêng về các tác phẩm có tính cách địa phương chí thì ngoài tấm
lòng của nhà thơ đối với non sông, nhất là đối với quê hương, ông đã có những
nét duyên dáng riêng, văn phong riêng khi nói đến phong cảnh thiên nhiên. Tác
phẩm viết về địa phương chí của ông gồm có ba cuốn: Nước Non Bình Định, Xứ
Trầm Hương, Bước Lãng Du. Trong phạm vi hạng hẹp của bài này tôi chỉ nói đến
cái nhìn đặc biệt của nhà thơ đối với chùa chiền trong ba tác phẩm đã xuất bản.
Trước tiên là cuốn Nước Non Bình Định. Chùa trong Nước
Non Bình Định có mặt hầu hết trong khắp làng xã. Những nét đặc biệt trong
ngòi bút nói về chùa của Quách Tấn là lồng ngôi chùa trong cảnh trí thiên
hiên trong một sự tích hoặc có thật hoặc huyền thoại. Các yếu tố này đã gây cho
người đọc có cảm tưởng như đứng trước một cảnh trí vừa như huyền mơ vừa như có
thật. Những ngôi chùa như chùa Nhạn Sơn, chùa Thập Tháp, chùa Linh Phong, chùa
Hang đều để lại trong lòng người đọc những nét ghi đậm đà sau khi đọc xong.
Cảnh chùa Nhạn Sơn được diễn tả: “Chùa ẩn hiện
dưới bóng xoài xanh, dựa lưng vào núi Long Cốt, trông như một bình hoa để trước
một bức Tam Sơn màu đỏ gạch. Trước mặt chùa có một ao sen rộng hơn 50 mẫu, hình
trăng lưỡi liềm, tên là Tân Nguyệt Trì. Mùa xuân, mùa hạ thì trước chùa
hiện một vành trăng non, sắc hồng thay sắc vàng, hương sen thay hương quế. Mùa
thu, mùa đông thì trăng non lai láng sắc bạc, khi thì óng ánh dưới bóng trời
xanh, khi thì lờ mờ trong màn mưa xám.
Nếu chúng ta để lòng tưởng lại lúc nước Chiêm Thành đương thạnh
thì chúng ta sẽ trông thấy một bức tranh đẹp phảng phất những cảnh của Cao
Miên, Thái Lan hiện thời.
Dưới vòm trời xanh, nắng vàng rực rỡ, hay sưong lam lờ mờ, ba
ngọn tháp màu đà non chung quanh có người đá, voi đá, nghê đá…sắc xám, đứng sừng
sững trên dãy núi ba ngọn, nửa trên màu gạch chín, nửa dưới màu xoài xanh…Dưới
chân núi, mặt Tây mặt Nam, đồng xanh trải lụa gợn sóng…Trước mặt hồ Tân Nguyệt
khi thì hồng, khi thì bạc…nằm cong cong như chiếc nỏ mà núi Long Cốt là lảy nỏ..
Ở phía Bắc, thành Đồ Bàn nguy nga và lộng lẫy như như người Chiêm nữ mới điểm
trang mà Long Cốt là vầng trán khảm ba hạt kim cương tháp… Quang cảnh vô cùng
ngoạn mục!
Tháp nay không còn nữa, thành Đồ Bàn không còn nữa, hồ Tân
Nguyệt cũng không còn nữa nhưng linh hồn của cảnh trí vẫn còn mãi với văn
chương trong cuốn Nước Non Bình Định. Đồng thời, chùa Nhạn Sơn cũng còn được
nhà thơ Quách Tấn làm cho sống mãi với câu chuyện hai tượng đá to lớn
trong chùa: “Hai tượng đứng đối diện nhau. Mỗi tượng cao đến 3 mét Tây và lớn
có đến hai ôm người lớn. Mình khoát áo đại bào, đầu đội mão vũ đằng, tay cầm vũ
khí (một tượng cầm giản, một tượng cầm kiếm), mặt mày dữ tợn, người yếu bóng
vía không dám đứng cận kề”. Câu chuyện lẫn lộn giữa hai viên tướng Huỳnh
Tấn Công, Lý Xuân Điền đời nhà Trần được người Chiêm tác tượng thờ với hai tượng
đá của người Chiêm. Dù có dù không khách tham quan cũng được thưởng thức một
câu chuyện mà tác giả vừa kể vừa phân tích, phê phán và nhất là câu chuyện đã
đưa du khách đến một vùng tâm linh nửa tin nửa ngờ.
Mặt tiền chùa Thập tháp
Kế đến là chùa Thập Tháp. Chùa xây trên mặt nổng gò rộng
hình mai rùa. Trên gò xưa kia có mười ngọn tháp được ngài Bích Hoán Hòa thượng
thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) phá mười ngọn tháp lấy gạch xây chùa nên
có tên là Thập Tháp Di Đà Tự. Sau được vị thuyền sư Nguyên Thiều khai sơn cho
phái Lâm Tế. Các kèo, trính, quyết trong chùa đều bằng gỗ sao và đều chạm chữ
Phạn, còn cột thì bằng gỗ ké to đến trên một ôm. Chùa lại có được ba tạng kinh
cổ cùng hai pho tượng Hộ pháp và 36 tượng La hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi.
Chùa Thập Tháp chẳng những được người dân Bình Định sùng bái mà còn được các đệ
tử nhà Phật trên toàn quốc coi như chùa gốc của phái Lâm Tế. Từ chùa Thập Tháp
chúng ta biết được tường tận tiểu sử ngài Nguyên Thiều và sự diễn tiến phái tu
thuyền Lâm Tế cùng với sự tích “vỏ lúa” nơi chùa.
Kế đến là chùa Linh Phong. Chùa có tên thiệt là Linh Phong
Thiền Tự, tục gọi chùa Ông Núi. Cảnh trí thật tuyệt mỹ: “Chùa nằm trong rừng
cây cổ thụ, tịch mịch thâm u, nhiều cây sống lâu đời, hình thù cổ quái. Nhiều
cây cao vút bóng mây. lại nhiều cây nằm ngửa nghiêng trong sắc cỏ. Quanh chùa
đá mọc ngổn ngang, hoặc đứng sừng sững giữa trời hoặc chen chúc cùng cây cối.
Nơi chồng chất thành hòn giả sơn, nơi lại dựng đứng như vách, nơi lại nằm rải
rác như một bầy voi nằm đấu vòi.
Chùa cất trên đầu núi, nhưng sau lưng vẫn có núi cao. Nước
khe trên núi cao chảy xuống, đến chùa thì chia làm hai nhánh lớn chảy bọc quanh
thềm. Hai nhánh lớn lại chia thành nhiều nhánh nhỏ chảy vào sân sau, chảy vào bếp…quanh
co róc rách, rồi nhập lại nơi sân trước để chảy xuống hồ sen trước chùa”.
Đó là cảnh chùa, còn cảnh chung quanh thì như sau: “Xa tít tận
chân trời, đồng lúa bát ngát bao trùm hai mặt Tây và Nam. Lúa non trải sắc xanh
mươn mướt, lúa chín trải màu vàng hươm; thoảng ngọn gió đưa, lúa vờn sóng lụa
và hết đây lại đó đàn có điểm những điểm trắng rung rinh. Lẫn trong màu sắc của
đồng ruộng mênh mông, từng chòm từng khoảnh nổi lên màu lục đậm của cây, màu
xam xám hoặc đo đỏ của chợ quán, nhà cửa, chùa đền.. ẩn hiện dưới bóng mây làn
khói.
Nhìn về phía Đông thì biển xanh lênh láng. Phía Đông Nam thì
đầm Thi Nại long lanh, và rừng dương liễu chạy từ Cách Thử đến Gò Bồi, quãng
dày quãng thưa, chập chờn trên bãi cát nửa vàng nửa trắng. Xa xa thành phố
Qui Nhơn thấp thoáng trong sương sóng, nửa tỏ nửa mờ. khi ẩn khi hiện. Và gió
biển thổi vào rừng dương liễu dưới bãi, thổi vào rừng cổ thụ trên non, tiếng
nghe rào rào lẫn lộn cùng tiếng sóng vỗ nơi gành xa bãi vắng”.
Chùa Linh Phong (chùa Ông Núi)
Cảnh trí của chùa thật là thần tiên còn câu chuyện của
chùa thì lại thật là huyền bí. Từ cuộc đời Ông Núi đến công cứu độ chúng
sinh và được các chúa Nguyễn ban sắc tứ đến chuyện nhà thơ, nhà tuồng đặc
sắc Đào Tấn lên chùa tị nạn, đề thơ đã gây cho người đọc vô cùng thích thú.
Cảnh chùa Linh Phong có lẽ được xem là một cảnh đẹp nhất ở
Bình Định, Chùa vừa có cảnh lại vừa có tình. Nhà thơ Quách Tấn khi viết về chùa
này đã hòa đồng lòng mình vào cảnh trí thiên nhiên.
Cảnh trí của chùa còn được mô tả thơ mộng hơn trong cảnh trí Chùa
Hang. Chùa không có chùa mà chỉ có hang đá được nhà sư đến tu trì mà thành
danh. Ở Việt Nam, hang núi có sư đến tu trì và trở thành chùa danh tiếng như động
Hương Tích, động Phật tích, động chùa Trầm ở Bắc Việt, thạch động Hà Tiên
ở Nam Việt v.v… Sự tích nhà sư khai sơn mơ hồ nhưng phong cảnh thì được miêu tả
rất thi vị:
“Chùa ở lưng chừng núi, mặt hướng về Đông.
Núi tên là Lý Thạch
Dưới chân núi, đồng bằng bao la và đất trồng mít, xoài, dừa…khoảnh
này tiếp khoảnh kia, sắc xanh mịt mịt.
Từ chân núi lên chùa, đá xây thành cấp, nửa nhân tạo, nửa
thiên nhiên, quanh co khúc khuỷu. Lên khỏi các bậc cấp thì đến sân: một khoảnh
đất nhơ không được vuông vức cũng không mấy bằng phẳng.
Bước vào sân, chúng ta thấy ngay dưới bóng cây xanh, một tảng
đá cực kỳ to lớn từ trong sườn núi nhô ra như một mái hiên bằng bê tông cốt sắt.
Tảng đá này dày có đến vài thước tây, rộng đến năm bảy thước và dài có hơn mười
thước. Mặt phía trên cong cong như mai rùa. Mặt dưới bằng phẳng như mặt ván ngựa
và cách đất trên hai thước rưỡi.
Dưới táng đá “mái hiên”, một hang đá bùng bênh ăn sâu vào
lòng núi.
Hang chạy dài từ Đông lên Tây. Nền hang thấp hơn mức đất ở
ngoài khong bao nhiêu. Bề ngang của hang độ chừng bốn năm thước. Bề sâu có đến
vài chục thước.
Bàn thờ Phật trần thiết ở giữa hang, đèn hương đêm ngày, thâm
u tịch mịch.
Trước bàn Phật có một hang nhỏ ăn sâu xuống đất, sâu thăm thẳm
và tối om om. Truyền rằng hang này thông thương với biển. Có người lấy một quả
dừa khô, khắc chữ, quăng xuống hang, rồi ra biển xem thì thấy quả dừa trôi ở mé
nước.
Lách ra phía sau bàn Phật và đi thẳng vào trong, thì tối tăm
lạnh lẽo, phải có đèn mới thấy đường đi. Trong này không có gì lạ. Chỉ có đá mọc
lỏm chỏm, vách đá hô hê. Và ở cuối hang có một lỗ trống vừa một người qua, ăn
thông lên núi.
Như thế là trong hang có hai con đường, một đường lên núi, một
đường xuống biển. Cũng có thể gọi là kỳ. Nhưng muốn vui mắt đăng sơn thì phải
ra ngoài hang, trèo lên tảng đá “mái hiên”, nhìn quanh bốn mặt. Phía sau là
núi, đá chồng chất, cây xanh tươi. Hoa nở rừng sâu, phảng phất mùi hương trộn
gió. Phía trước mặt, ruộng vườn bát ngát và trải trùm tận phương xa để nối liền
với mặt biển khơi nửa nỏi nửa chìm trong khói sóng. Cảnh khá ngoạn mục.
Nhưng muốn hưởng trọn phong vị, tưởng nên viếng cảnh buổi chiều.
Khói nhằnt trong tuông ra pha lẫn từ khói đá từ rừng sâu đưa lại, lờ mờ, phảng
phất, vừa có đó lại vụt không và như quyến lấy, như buông lung những tiếng chim
kêu, hồi chuông vọng…Và cảnh vật luôn theo cảnh chiều thay sắc thái…Thanh âm,
hương vị, thực thực hư hư…man mác lửng lơ…khiến cảnh chùa đượm vẻ thanh u huyền
diệu”.
Chùa có tên là Thạch Cốc Tự. Sau này còn có tên Thiên Sanh Thạch
Tự. Tuy nhiên tên phổ biến là Chùa Hang.
Chùa ở quê hương nhà thơ có cảnh trí thiên nhiên đẹp và sự
tích các tổ khai sơn được nhà thơ ghi lại rất tâm đắc. Du khách dù
không đặt chân đến song khi đọc xong lòng vẫn thấy thỏa thuê như vừa chiêm ngưỡng
cảnh chùa trước mắt.
Tại Xứ Trầm Hương thì sự diễn tả các cảnh chùa
tương đối có phần khác. Sự tích các tổ khai sơn được ghi chú nhiều hơn là quang
cảnh chung quanh chùa. Các tổ khai sơn đều là người Việt, khác với tỉnh
Bình Định hầu hết là người Trung Hoa.
Chùa Linh Sơn, Vạn Ninh, nơi ngài Quảng Đức ẩn tu
Như ở Vạn Ninh có chùa Linh Sơn Tự, cảnh trí thật nên
thơ: trước chùa là đồng lúa bát ngát, có hồ sen sâu rộng, có sông Hiền Lương
quanh co. Và xa xa núi cao chập chờn. Trong vườn chùa có hai cây cổ thụ: một
cây xoài, một cây kén.
Cây xoài ở trước chùa, cạnh ngõ bước vô. Thuộc giống xoài mủ,
sống trên trăm năm. Thân cao vút và nhánh mọc tua tủa như những cánh tay gân guốc
giơ lên trời. Sắc lá xanh láng, màu da cây lại trăng trắng mông mốc. Đứng xa
trông như một cây lọng trương nửa chừng. Vừa kỳ vừa cổ!. Cây kén đứng phía sau
chùa. Thân cao vút và tuổi chắc là từ 300 năm trở lên. Chính ngài Đại Bửu ngồi
tu nơi gốc cây này và có một con hổ đến sanh nở bên cạnh một cách tự nhiên. (Xứ
Trầm Hương).
Ngoài ra chùa còn có một sự tích ly kỳ về việc chuông chùa đã
mất đi trong thời hai họ Nguyễn tranh hùng và nhờ người dân đi mò ốc tại sông
Hiền Lương phát giác.Nhưng đó chỉ là chiếc tiểu hồng chung, còn chiếc đại hồng
chung thì vắng bóng song những đêm trời trong gió lặng tiếng chuông thường nghe
văng vẳng nơi hồ sen trước chùa. Những câu chuyện huyền thoại này khiến cho du
khách càng thêm yêu mến cảnh chùa và càng tin tưởng vào sự thiêng liêng vốn có
sẵn nơi ngôi chùa xưa cổ kính này. Đây là ngôi chùa xưa nhất trong huyện Vạn
Ninh.
Về huyện Ninh Hòa thì ngoài tổ đình Thiên Bửu Tự còn có Phổ
Hòa Tự và Thanh Lương Tự cùng lập vào thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786).Chùa Thanh
Lương Tự còn để lại câu chuyện quả đại hồng chung. Sang đến đời nhà Nguyễn thì
có hai chùa nổi danh vì có được hai vị tổ khai sơn là hai đại sư:
Đó là ngài Hòa thượng Liễu Đức, pháp hiệu Huệ Giáo mà người
đương thời thường gọi là Hòa thượng Đò vì ngài là người đã ra công bắc cầu cho
dân trong vùng qua sông hằng ngày. Tác giả đã giải thích:
“Không biết lấy gì đền ơn cho xứng đáng, người địa phương ghi
công đức trên bia miệng bằng mấy chũ bình dân: Hoà thượng Đò.
Nghe nôm na mà ý nghĩa thật sâu sắc.
Bắc cầu để giúp người đời qua khỏi dòng nước khó qua là tượng
trưng cho việc lấy Phật pháp để đưa chúng sinh ra khỏi biển khổ.
Hòa thượng Đò là vì Hòa thượng đã hiển thân làm chiếc thuyền
từ để tế độ chúng sinh. Thật là một lời nói thuần đạo vị (Xứ Trầm Hương).
Cầu tượng trưng cho công tế độ của Hòa thượng còn biểu thị cho
lòng từ bi thì có câu chuyện đào giếng của Hòa thượng. Nguyên vùng Bình Tây là
một vùng gần biển, gần ruộng muối nên nước giếng thường có vị mặn. Hòa thượng
ra công đào giếng trên sườn non để ca vùng đến múc uống. Nước rất ngọt
và nhiều. Dân trong vùng gọi là Giếng Thảo. Tác giả giải thích: Tiếng
“Thảo” đối với người bình dân có ý nghĩa tương đương với chữ “từ bi” đối với giới
Phật học. Vì tìm nước ngọt để thay nước mặn là một cách làm cho người hết khổ
và đem vui lại cho người. (Xứ Trầm Hương)
Nói thêm về đạo hạnh của Hòa thượng còn có câu chuyện ngài đã
cảm hóa được đôi cọp mun hung dữ trong vùng và cũng chính đôi cọp mun đã cõng
ngài ra khỏi dàn lửa đỏ khi ngài định tự thiêu lúc duyên chưa mãn. Chùa được liệt
vào danh lam, người được dân chúng tôn thờ và đều tin rằng ngài đã tu thành
chánh quả.
Huyện Ninh Hòa còn có một cổ tự tên là Thiên Sơn tự nằm
dưới chân núi Hòn Độc thuộc xã Ninh Hưng. Chùa có phong cảnh đặc biệt. Trước
tiên là gần chùa có hang ông Khổng Lồ nơi hang luôn luôn có nước. Nước tuy cạn
song không bao giờ khô cạn cung cấp đủ cho dân cư chung quanh chùa. Người địa
phương gọi là giếng Khổng Lồ.
Thứ đến là trước chùa có một trảng mây rộng đến năm sáu chục
mẫu ta mọc trong sình lầy. Nhân dân gọi trảng là Lỗ Mây và chùa cũng được
mang tên là chùa Lỗ Mây. Cuộc đời của vị Hòa thượng khai sơn có nhiều
kỳ tích: ăn uống rất đơn sơ, khi thì một nắm cơm khô, khi thì một nắm gạo rang,
đôi khi chỉ cần một nắm lá cây, bất cứ loại lá cây gì cũng được và thường đi
vân du cả tháng trời hoặc đôi ba tháng mới về chùa một lần, có khi về chỉ
ngồi ngoài cửa tam quan chùa rồi lại ra đi. Cả gia đình gồm mẹ và hai chị đều
tu tại chùa. Khi bà mẹ mất Hòa thượng ra ngồi bên mã đúng 12 tháng trong, không
kể ngày, đêm, mưa, nắng. Dù có người chê rằng đó không phải là một cách tu hành
song Hòa thượng vẫn an nhiên ngồi thiền định. Mãn tang mẹ, ngài đi vào núi ngót
mấy năm không về. Hai người chị đi tìm và gặp thi thể của ngài tại núi Chí Tôn
cách chùa đến bảy ngày đường, đang ngồi kiết già trên một tảng đá cao, người
khô cứng như một gốc cây khô.
Ở Ninh Hòa còn có ngôi chùa cổ tên Bảo Long Tự ở
thôn Thuận Mỹ xã Ninh Quang. Thi nhân họ Quách kể:
“Chùa lập vào khoảng Đồng Khánh Thành Thái (1886-1907).
Trong chùa có 11 pho tượng bằng đồng đen rất cổ. Pho tượng Phật
tổ cao lớn bằng hình người. Đường nét tinh xảo.
Truyền rằng tượng Phất xưa kia của chùa làng Phụng Cang (xã
Ninh Hưng hiện tại). Một năm lụt lớn cuốn cả chùa cả tượng đi mất, không biết
dâu mà tìm.
Ở trong vùng có con suối sâu và rộng tục gọi là Suối Bàu Sấu.
Suối ở giữa Thuận Mỹ và Phụng Cang.
Những đêm rằm, mồng một, người chung quanh vùng thường nghe
tiếng chuông tiếng mõ từ đáy bàu vọng lên. Và thỉnh thoảng, vào lúc chạng vang.
những buổi chiều tạnh mát, trên mặt nước nổi lên một chiếc chiếu hoa có 4 ông
già râu bạc phếu ngồi nói chuyện, tiếng nói nghe văng vẳng tận ngoài xa.
Đồng bào kinh sợ không dám lui tới nơi bàu.
Bốn mươi năm sau, làng Thuận Mỹ vớt được tượng Phật nơi bàu,
bèn lập chùa thờ phụng. Trong chùa có một quả đại hồng chung cũng rất cổ. Quả
chuông này cũng như các tượng Phật, là “của Trời cho”.
Truyền rằng sau khi chùa Bửu Long cất xong, người trong làng
thường nghe tiếng chuông nơi suối Bàu Sấu. Làng thuê người lặn xuống xem, thì
thấy quả hồng chung treo lơ lửng trên một rễ cây từ bờ suối đâm ra. Làng bèn
cưa rể cây , lấy chuông đem về chùa.”
Ngoài ra còn câu chuyện “bà Xã Mập” nắm đuôi trâu lặn xuống
Bàu Sấu nhìn thấy thủy cung và hội kiến long vương.
Những chuyện xưa đã làm tăng giá trị, làm tăng sự ngưỡng mộ của
nhân dân đối với ngôi chùa. Quách Tấn đã để lại trong lòng người đọc sự tôn
kính vĩnh viễn những ngôi chùa mà hiện nay có thể không còn nữa song vẫn còn
vang bóng trong nhân gian.
Quách Tấn viết về chùa chiền chẳng những thi nhân tả cảnh đẹp
của chùa, công đức của vị sư khai phá mà thi nhân còn thổi vào cảnh chùa , vị
trụ trì một hồn thơ, một câu chuyện nhân gian dù có dù không chứng minh được
song lại làm cho tâm hồn những người khách đến viếng chùa được thơ mộng, được
êm đềm hơn khi chưa đến. Và có lẽ khi được nhắc đến chùa thì ít ra trong lòng
du khách chợt hiện ra cảnh quan, câu chuyện đã được thi nhân mô tả. Có thể bây
giờ cảnh quan các ngôi chùa đã thay đổi, vườn sen trước sân chùa đã cạn khô, đã
thành sân trồng cây, trồng lúa; cây cổ thụ đã không còn tỏa bóng mát rừng cây
bên dưới chân đồi không còn nữa v.v.. nhưng trong tâm hồn khách du quan vẫn còn
phảng phất hình ảnh thuở xưa, câu chuyện ngày nọ. Cảnh trí thiên nhiên tuy đã mất
song nét thơ mộng của cảnh trí thiên nhiên vẫn làm xao xuyến khi nhìn quan cảnh
khô héo mà bàn tay con người đã vùi dập theo thời gian.
Theo nhà thơ Quách Tấn thì chùa trở thành danh lam nên cần có
3 yếu tố quan trọng. Đó là Chùa phải có một thời gian xây dựng từ lâu. Phải có
một công trình xây dựng, một công đức do vị sư khai sơn lập thành. Và chùa cần
có một khung cảnh thiên nhiên, một kỷ vật có nhiều ý nghĩa, một quan cảnh u trầm
tịch mịch hợp với vị đạo, vị thiền.
Tại Nha Trang có chùa Kim Sơn ở thôn Ngọc Hội, xây
dựng đã từ lâu, cảnh trí rất thích hợp cho du khách vọng cảnh. Nhà thơ đã tả:
“Chùa hướng về đông Nam, lấy hòn đảo Bồng Nguyên, tục gọi là
Hòn Miễu, ở Cửa Bé làm tiền án.
Bốn mặt núi non trùng điệp. Biển Nha Trang phía Đông trông
như một vũng nước nhỏ ánh màu ngân.
Từ chân đồi đến chân núi, mênh mong bát ngát, nào làng
xóm, nào ruộng nương vườn tượt, khi ẩn khi hiện dưới bóng dừa xanh. Hòn Trại
Thuỷ cách Kim Sơn chừng vài cây số, xiêng xiêng về hướng Đông Nam, trông như một
hòn cù laổnh ngập trong thuỷ triều. Và thành phố Nha Trang” đồng hoá” cùng
lá cây và dính liền với làng quê đồng ruộng: Những cao ốc biệt thự phố xá
chỉ còn là những vệt trắng, vệt xám, vệt đỏ,thấp thoáng trong sắc xanh của cây
của núi của trời.
Trừ trời ra, tất cả, cả núi non, đều nằm dưới mắt. Nhìn đàn
cò trắng bay cao, đám khói bay cao, cũng phải cuối mặt xuống. Du khách ngông cuồng,
nhiều người tưởng mình “đã cao hơn thiên hạ” rồi vậy”.
Tuy nhiên chùa thiếu đi bóng cây tỏa mát (trước kia có song
bị giặc Pháp tàn phá) và danh tích của vị sư khai sơn. Câu chuyện truyền lại chỉ
là việc chùa được vàng và bà Nghè tu bổ. Tuy vậy song vì cảnh quan mà tương lai
sau này chùa Kim Sơn thật sự sẽ là một danh lam thắng cảnh quyến rũ khách du quan của Xứ Trầm Hương.
Ngoài ra còn có một ngôi chùa ở thôn Xuân Phong, ban sơ gọi
là Liên Hoa Tự. Cảnh trí vô cùng ngoạn mục. Nhà thơ họ Quách đã mô tả:
“Mặt hướng vè Đông Nam.
Phía trước có mương nước đanh lộn và một bàu sâu có nhiều
cá, gọi là Bàu Cá Vượt.
Phía Tây tức phía sau lưng, có hòn núi như hình chim phụng xòe cánh, tục gọi là Hòn Én.
Phía Tây Bắc, tức phía tả, hòn Đá Lố, như con sư Tử ngó vào
chùa.
Phía Nam hòn Đá Lố có một hồ sen rộng đến mấy mẫu, hoa mùa hạ
nở hồng cả mặt nước, còn ba mùa kia thì nước xanh lục lìa.”
Bây giờ tuy cảnh chùa đã thay đổi song vết xưa vẫn còn. Cho
nên người có tình khi qua lại vẫn bồi hồi xúc động khi nhìn thấy nơi “nền cũ của
ngôi chùa, cỏ lấp rêu mờ, chỉ còn một ngọn cổ tháp đứng đìu hiu trơ trọi”. Nhân
nhắc đến chùa cũ thi nhân cũng nhắc đến chùa Hội Phước tục gọi là chùa Cát nằm
trong thành phố Nha Trang. Cảnh quang chùa không đẹp song chùa lại có cả một lịch
trình xây dựng, một sự tích đáng để người đời nhắc nhở. Bây giờ thì chùa đã được
trùng tu khang trang song khách thập phương vẫn nhớ đến vị khai sơn là ngài Phật
Ấn pháp hiệu Quảng Hiền Lão thuộc phái Lâm Tế và các vị sư kế thừa là Đại Thông
và Tri Quang Đại lão Hòa thượng và đến 6,7 vị sư nữa. Chùa nổi danh không phải
vì cảnh trí mà vì lịch sử của chùa.
Gác Chuông Chùa Hải Đức
Tiếp đến là chùa Hải Đức. Chùa này có hai vị trí. Ban đầu
ở gần chùa Hội Phước trong thành phố Nha Trang nằm trên đường Hai Chùa. Sau dời
lên hòn Trại Thủy. Tổ khai cơ là Viên Giác Thiền sư (lập chùa ở đường Hai Chùa)
người lập chùa trên núi là Đại sư Bích Không. Chùa ở vị trí rất hữu tình, gần
thành phố và có tầm nhìn bao quát cảnh chung quanh thành phố. Tuy nhiên
nét đặc sắc của chùa không phải chỉ ở cảnh thiên nhiên mà còn ở cách kiến
trúc và nhất là ở nơi “tác phẩm văn chương nơi tự tích của Đại sư khắc chạm
trên vách trên cột mà mưa nắng vẫn còn nguyên”:
“Có thể nói một cách mạnh dạn rằng đó là những tuyệt phẩm của
thiền môn Khánh Hòa.”.
Chùa Hải Đức chẳng những được liệt vào danh lam mà còn có thắng
cảnh:
“Một con đường mới trỗ, chạy ngang qua lưng đồi Trại Thủy, từ
Tây xuống Đông, nối liền chùa Hải Đức và chùa Long Sơn, làm cho cảnh chùa thêm
linh động nhờ bóng tu sĩ bóng du khách thấp thoáng trong đá trong cây. Và cây bồ
đề trước sân chùa, những cây mít cây xoài, cây khế ở quanh chùa, ở triền đồi mỗi
ngày mỗi cao cội sum cành, giúp cho cảnh chùa thêm thâm u tĩnh mịch.
Đứng nơi chùa nhìn ra bốn mặt, vọng cảnh thật bao la. Núi đồi
sông biển ngoài xa; nhà cửa vườn tược dưới thấp; đồng ruộng mênh mông, phố phường
chen chúc, ở trước mặt. Muôn nghìn màu sắc, càng thêm ưa.”
Ở Diên Khánh có ba ngôi chùa có di tích ngoạn mục và sự tích
ly kỳ. Trước tiên là chùa Vạn Thiện ở thôn An Ninh xã Diên An. Ngoài
câu chuyện kỳ tích về ngài Thiện Không tên Keo có phận sự chăn trâu cho chùa. Mỗi
chiều trâu về chuồng trên lưng đều có một bó củi. Ông Keo đã dùng tay không khuấy
chảo dầu sôi và khi thành chánh quả đã hóa thân trên dàn hỏa, những câu chuyện
linh thiêng về chiếc móng tay của ngài Hòa thượng để lại với chuyện đôi
trâu cò làm tăng thêm kỳ tích của chùa. Cảnh xưa nay chỉ còn lại:
Những cổ vật này trước kia nằm trong phạm vi chùa. Hiện chỉ
cây dầu và ngọn tháp ngài Linh Phù nằm trong vườn chùa. Còn tháp ngài Bửu Hạnh
và tổ khai sơn nằm ở bên ngoài. Cây song giá đứng che tháp tổ. Xa trông như một
cây tầm thường, nhưng lại gần xem thật là kỳ cổ: thân cây vốn hai, nhưng tháng
ngày đã nhập thành một và lòng cây đã rỗng thành bộng có thể chứa được hai người
đàn ông vóc to.Nhánh lưa thưa và gầy guộc rắn rỏi trông như bằng đá hay bằng
gang. Cây và tháp đứng bên nhau, tạo thành một bức cổ họa kỳ mỹ. Nhưng vì ở
trong đám cây cỏ tùm lum, nên khách du quan không mấy ai để ý.”
Kế tiếp là chùa Hoa Tiên. Chùa trước vốn thờ Đức Quan
Thánh sau đổi thành chùa. Câu chuyện đền đổi thành chùa rất lý thú song cảnh
quang của chùa còn lưu lại sự tích cây cốc cổ thụ và những bức tượng Chàm
trong vườn chùa. Sự tích tượng Chàm này như sau:
Tượng này là một phiến đá xanh hình khối chữ nhật. Cao chừng
năm, sáu tấc, dày chừng một tấc, một tấc rưỡi, rộng chừng một tấc rưỡi hai tấc.
Không biết là một tác phẩm điêu khắc bị bỏ dở, hay là hình tướng một vị quái thần
của Bà La Môn. Tượng chỉ khắc có nửa thân phía dưới:Mặt có đủ mắt mũi miệng,
hai tay chấp nơi ngực, đầu đội chiếc mũ nhọn như ngọn tháp Cao Miên. Còn phía
sau lưng và khúc mình thì để nguyên dạng đá.
Người trong ấp đã tìm được khi đào giếng xây chùa. Trông thấy
nét mặt đàn bà, đồng bào cho là tượng bà Thiên Y A Na bèn đem vào chùa thờ phụng.
Và nhân việc đào giếng được tượng, ấp lấy tên là Phật Tỉnh vì tin rằng bà Thiên
Y cũng là một vị Bồ Tát như đức Quán Thế Âm. Còn hai tượng nữa
thì ở dưới gốc cây cốc lồi lên. Hai tượng này xưa lắm. Nét chạm khắc đã mòn hết,
lại bị hư hỏng nhiều chỗ. Một tượng cao chừng 6 tấc, một tượng cao chừng 5 tấc.
Tượng mới lồi lên chừng bốn năm mươi năm nay.
Cho là vật linh thiên, vị trụ trì đem vào chùa thờ. Nhưng nửa
đêm tự nhiên rớt xuống đất. Một tượng bị gãy đầu. Vị trụ trì sợ, bèn đem ra thờ
dưới gốc cây cốc, nơi tượng đã lồi lên. Ngoài ra còn một điểm được lưu ý là
chùa được đi vào cửa hậu. Câu chuyện các bức tượng Chàm của chùa Hoa Tiên khiến
chúng ta nhớ đến sự tích hai pho tượng nơi chùa Ông Đá ở Bình Định.
Khánh Hoà còn có rất nhiều ngôi chùa có nhiều sự tích kỳ lạ,
có nhiều câu chuyện đáng lưu tâm như chùa Linh Quang, Thiên Quang ở Diên Khánh
với câu chuyện ngài Nhơn Nguỵện ngót ba năm nhập thất chỉ ăn có rau muống sống
và ớt lúc đúng ngọ và được mệnh danh là Hoà thượng Rau. Chùa Thiên Quang được nổi
danh nhờ vị sư tổ khai sơn là ngài Trừng Thông em ngài Nhơn Nguyện có pháp hiệu
là Nhơn Duệ. Cả hai đều thiết hoả đàn trà tì. Phong cảnh của Linh Quang và
Thiên Quang rất ngoạn mục.
Tuy nhiên có một ngôi chùa tuy mới được xây dựng (1956) song
nhờ ở cảnh quang mà chùa được lưu ý. Khác với các ngôi chùa trên đất xứ
Trầm Hương, ngôi chùa Hải Giác được nhà thơ Quách Tấn lưu tâm không phải vì các
huyền thoại mà vì là một bức tranh sơn thủy hữu tình.
Đồi trước đây hoang vu, gai gốc rậm rạp. Nhưng xưa kia dường
như đã có chùa hoặc am, nên đồi mới mang tên là Núi Ông Sư. Thêm nữa trên đồi
có hai cây me già cỗi, tuổi ước trên vài trăm, đứng song song một cách cân đối.
Không phải mọc tự nhiên, mà chắc là hai cây me trồng trước sân để lấy bóng mát.
Rồi chùa am mất, cây còn lại với nắng mưa.
Thượng tọa khai sơn đã dùng hai cây me cổ thọ, để nhắm phương
hướng cho ngôi chùa. Hiện hai cây đứng trước chùa Giác Hải như hai trụ ba
biểu.
Kiến trúc của chùa không có gì lạ. Nhưng phong cảnh thật là mỹ
quan.
Ngọn đồi hình mai rùa.
Phía tây hòn Phổ Đà Sơn tức là núi Bồ Đà, giống con voi nằm
ngó ra Bắc, chung quanh gò đống ngổn ngang.
Dưới chân đồi, cũng phía Tây, con đường quốc lộ số 1 chạy từ
Nam ra Bắc, vượt qua đèo Giốc Thị, như một con rắn mãng xà đương đi, khúc cong
khúc thẳng.
Phía Nam, phía Bắc, nhà cửa ruộng nương của thôn Xuân Tự ẩn
hiện dưới bóng dừa xanh xoài xanh.
Và phía Đông, vịnh Vân Phong trông như hồ bán nguyệt, mây nước
thương mang, nửa mờ nửa tỏ.
Đứng nơi sân chùa trông ra, cảnh Vân Phong trông vô cùng ngoạn
mục.
Bán đảo Bàn Sơn ở phía Bắc, bán đảo Phước Hà ở phía Nam như
hai cánh tay ôm lấy vịnh và hòn Đại Dự tức Hòn Lớn đứng làm bình phong. Biển xanh
màu chàm, non xanh màu lá, trời xanh màu dương. Và hòn Đại Dự trông giống người
đàn bà nằm trở đầu vào Nam, ngửa mặt lên trời, chân trái co, chân phải duỗi;
trán cằm ngực bụng có đủ và đường cong nét thẳng rõ ràng, nhịp nhàng như một
pho tượng bằng đá xanh. Vì phía Tây có hòn Phổ Đà Sơn và vịnh Vân Phong lại thuộc
về Nam Hải nên người cửa Phật bảo đó là tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Cảnh là hình ảnh của tâm. Những người không có Phật tâm mà có
thánh tâm hoặc thị tâm thì nhất định thấy khác.
Nhưng không ai không công nhận là bức tranh sơn thủy hữu
tình.”
Tóm lại, những cảnh chùa nơi quê hương Bình Định và Khánh Hòa của nhà thơ Quách Tấn luôn luôn mang màu sắc thi vị và thiêng liêng. Trong
chùa có tâm, trong tâm có cảnh và trong cảnh có tình. Đó là tình yêu thiên nhiên của nhà thơ vậy.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét