Mắt buồn miệt biển
Bây giờ, hệ thống và phương án thông tin liên lạc giữa tàu cá
và đất liền đã quá hiện đại. Chỉ cần nhấc máy ICOM, bờ và biển, vợ và chồng có
thể nghe tiếng của nhau bất cứ lúc nào… Thế nhưng vẫn còn đó nỗi âu lo của người
vợ, người mẹ khi chồng con ra khơi vào “mùa biển nóng”. Họ vẫn phải từng chiều
dõi mắt về phía biển để mong chờ…
Ánh mắt - cõi lòng
Tôi còn nhớ, trước đây trong một lần về với miền quê biển ở
xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, Quảng Nam để viết về những hòn vọng phu “hồn
treo cột buồm”, chợt bần thần nhận ra đôi mắt người đàn bà miệt biển đượm vẻ buồn,
đẹp một cách mơ màng, khó hiểu. Nhà văn Vĩnh Quyền đã xác nhận với tôi rằng cảm
nhận ấy là hoàn toàn đúng và ông cũng đã từng “sốc” khi lần đầu phát hiện ra điều
ấy ở miền biển Sa Kỳ, Quảng Ngãi.
Rồi ông lý giải theo cách của nhà văn: Rằng từ bao đời nay,
người miền biển quê mình ra khơi chỉ biết ngắm trăng đoán sao, rồi nương theo
con nước để tìm hướng đi, điều khiển con tàu. Nhìn màu nước mà đoán dò luồng
cá, tăm mực. Nhìn ánh chớp bể, màu ráng trời để biết quê nhà có dông tố hay
không. Đêm đêm họ nằm nghe con sóng vỗ mạn tàu mà nhớ vợ, thương con…
Ngược lại, người đàn bà chỉ biết hướng bao nỗi lo âu, mong chờ
chồng con qua đôi mắt vời vợi nhìn về biển mỗi chiều. Họ chỉ “nối mạng” giữa bờ
và biển với nhau bằng sợi nhớ sợi thương. Bao nỗi niềm âu lo, mong chờ ấy mang
nặng tình cảm, qua bao đời đã thành đôi mắt đẹp cho người đàn bà miền biển là vậy.
Câu chuyện đó mới gần 10 năm mà giờ đã trở thành cổ tích. Bây giờ, hệ thống và
phương án thông tin liên lạc giữa tàu cá và đất liền đã quá hiện đại, qua nhiều
kênh trực tiếp và gián tiếp.
Bờ và biển, vợ và chồng có thể nghe tiếng của nhau bất cứ lúc
nào chỉ cần nhấc máy ICOM, điện thoại di động. Quy chế phối kết hợp, hỗ trợ
thông tin theo tổ đội tàu đánh bắt xa bờ cũng dự phòng trường hợp bất khả
kháng, tàu bị tai nạn, chìm, hỏng hóc hoặc bị cướp phương tiện liên lạc thì bạn
tàu và đất liền cũng xác định được toạ độ của họ để ứng cứu kịp thời.
Đặc biệt, những năm gần đây, khi tàu hành chính và các loại
tàu khác của Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải vùng biển Việt Nam, gây hấn,
đuổi bắt và thậm chí trấn cướp tài sản của tàu ngư dân VN, thì phương án phối hợp
thông tin lại càng được phát huy tối đa. Chính vì vậy, nhiều tàu cá ngư dân miền
Trung đã được cứu giúp kịp thời khi gặp hoạn nạn. Riêng với ngư dân xa khơi,
đánh bắt xa bờ ở Đà Nẵng, mạng lưới thông tin liên lạc gần như được phủ kín.
Thế nhưng, bây giờ, ngay chính cách phối hợp thông tin, đặc
biệt là việc ngư dân báo cáo tình hình trên biển, hiện tượng đánh bắt cá trộm
hoặc hoạt động của các tàu Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam về cho lực lượng
chức năng trên bờ, lập tức họ bị trả đũa ngay trên biển.
Tự lực ra khơi
Thuyền trưởng tàu cá ĐNa 90406 Nguyễn Văn Dũng (phường Thanh
Khê Tây) vừa cùng đoàn gồm các tàu bạn ở quận Thanh Khê, Đà Nẵng về đất liền từ
“vùng biển nóng” đã cho biết việc bị trả đũa vì thông tin. Ông Dũng nói: “Chúng
tôi thông tin cho bộ đội biên phòng về sự xuất hiện các tàu Trung Quốc trên
vùng biển của mình, nhưng dường như họ nghe lén được. Vì vậy, khi tàu
chúng tôi vừa ra khỏi hải phận liền bị chúng truy đuổi, buộc quay vào bờ giống
như hình thức trả thù”.
Ông Dũng và những ngư phủ này đều biết rằng, dẫu có nhận tin
báo thì lực lượng biên phòng cũng khó ra khơi ngay để giải vây hay đuổi họ được.
Vì vậy, dẫu được trang bị hệ thống thông tin hiện đại đến mấy, họ vẫn còn đơn độc
trên biển. Cách đối phó trước mắt vẫn dựa vào kinh nghiệm đi biển từ bao đời
cha ông để lại. Họ tắt máy, dò biển mà lầm lũi làm ăn.
Nói về vấn đề này, GĐ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TP.Đà Nẵng - ông Trần Đình Quỳnh, cũng chỉ biết lắc đầu chia sẻ: “Ngư dân VN
nói chung và Đà Nẵng đều phải tự lực về mọi mặt, họ dựa vào kinh nghiệm mà đi
khai thác theo các nghề truyền thống khác nhau. Chính quyền và ngành NNPTNT
cũng rất trăn trở, tốn nhiều hội nghị, hội thảo để bàn luận, song cho đến thời
điểm này vẫn chưa thể giúp được ngư dân nhiều”. Ông Quỳnh cho biết, Đà Nẵng là
một trong những “quê hương” của nghề vươn khơi, đánh bắt xa bờ. Đặc biệt là nghề
câu mực. Có thời điểm số tàu xa khơi lên cả 300 tàu. Khai thác hải sản chiếm đến
65% tỉ trọng của ngành nông nghiệp địa phương.
Tuy nhiên, hiện nay sản lượng của ngành nghề này đang tụt giảm
rất nhanh, theo từng năm. Số tàu câu mực giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngoài một
số phương tiện hỗ trợ đánh bắt là hiện đại như hệ thống thông tin, máy định vị,
rađa tầm ngư… thì ngư dân vẫn ra khơi bằng con tàu gỗ, được đóng theo kiểu mẫu
truyền thống. Không chỉ lạc hậu về phương tiện, phương thức tổ chức khai thác,
đánh bắt ngoài khơi, mà các dịch vụ hậu cần và thu mua hải sản trên bờ cũng quá
cổ hủ.
Phần lớn các tàu không đủ vốn để mua lương thực, thực phẩm
cho các chuyến đi biển, mà đều lấy hàng hoá, xăng dầu, gas, đá lạnh… ký nợ từ
các “nậu” (đại lý dịch vụ). Vì vậy, ngư dân không chỉ bị ép tính giá đắt đỏ,
tính lãi suất như đi vay nặng lãi mà còn bị ràng buộc phải bán hải sản ép giá
thấp và bấp bênh cho chính các nậu cá này.
Khó cho “bài toán xa bờ”
Tầm nhìn trong “Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm
2020” của Chính phủ đã xem xét việc khai thác, đánh bắt hải sản là hướng đi chủ
đạo, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, thay đổi bộ mặt
nông thôn ven biển theo hướng CNH-HĐH, tăng cường tiềm lực an ninh quốc phòng…
Thế nhưng, hiện nay với Đà Nẵng, bài toán xa bờ, vươn khơi
khai thác hải sản vẫn khó trăm bề. GĐ Sở NNPTNT Trần Đình Quỳnh thừa nhận,
chính quyền và các ngành chuyên môn đã có nhiều đầu tư nghiên cứu để “cứu vớt”
nghề khai thác khơi truyền thống của ngư dân Đà Nẵng. Song đã bao nhiêu năm rồi
vẫn chưa hiệu quả”. Ông Quỳnh thừa nhận những thất bại cơ bản của dự án “cải
hoán, đóng mới tàu công suất cao, đánh bắt xa bờ”. Tuy vậy, vẫn có cái được từ
dự án ấy là số lượng khá lớn tàu có công suất 90CV-500CV đã được ra đời. Chỉ
đáng buồn là bị chuyển đổi dần sang các chủ khác ngoài địa phương.
Hiện ngành NNPTNT TP. Đà Nẵng đã “đặt hàng” Viện Nghiên cứu
phát triển KT-XH Đà Nẵng, tìm lời giải cho bài toán vươn khơi. Hướng nghiên cứu
chính vẫn là tìm giải pháp nâng cao năng suất, sản lượng đánh bắt hải sản. Lựa
chọn các ngành nghề có thể phát huy thế mạnh, đầu tư nâng cao năng lực khai
thác.
Dự kiến cuối năm 2011, đề án nghiên cứu này sẽ hoàn tất. Tuy
vậy, nghề khai thác hải sản nói riêng và ngành nông nghiệp của Đà Nẵng nói
chung chỉ chiếm tỉ trọng quá nhỏ – xấp xỉ 3,4% GDP của địa phương. Con số này dự
kiến chỉ còn 1,5% vào năm 2015. Xem ra, những con số chỉ tiêu này chưa thể là động
lực để vực dậy ngành khai thác hải sản xa bờ ở Đà Nẵng. Dẫu vậy, hiện nay Đà Nẵng
vẫn là một trong những địa phương tập trung nhiều Cty mua bán, chế biến hải sản
nhất miền Trung.
Ngoài hệ thống cảng cá hiện đại, cụm công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang, khu hậu cần nghề cá sẽ được tiếp tục đầu tư mạnh vào thời gian tới
từ nhiều nguồn vốn trung ương và địa phương. Đây cũng chính là hướng đầu tư của
nhiều tỉnh, thành ven biển miền Trung. Dường như các địa phương đã chọn cách
làm dễ nhất: Đầu tư trên bờ, ven biển. Còn với ngư dân, những người vươn khơi - đối tượng chính của nghề khai thác hải sản - vẫn còn phải tự lực làm nghề.
Họ là những người mang sứ mệnh thiêng liêng tham gia giữ gìn
chủ quyền lãnh hải của tổ quốc. Không đơn thuần là những ngư dân tay chài tay
lưới, họ là biểu tượng của lòng yêu nước, đầy ắp khát vọng chinh phục đại
dương, nhưng vẫn còn quá đơn độc giữa biển. Vì vậy, những người vợ, người mẹ miền
biển vẫn chưa thể yên lòng khi chồng con ra khơi. Nỗi khắc khoải lo âu như dậy
sóng từ những cõi lòng đó, giờ cũng dồn lên những đôi mắt mong chờ…
Thanh Hải
Theo http://tapchibien.vn/





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét