Hai Nhạc sĩ Văn Phụng & Hùng Lân
NHẠC SĨ VĂN PHỤNG
(1930 – 1999)
Văn Phụng là một nhạc sĩ nổi tiếng của dòng
nhạc tình miền Nam trước 1975. Một số nhạc phẩm của ông được xếp vào thể loại
tiền chiến. Văn Phụng còn được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âmhay nhất
Sài Gòn trước 1975.
Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn
Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nộitrong một gia đình tám anh em mà ông là thứ hai.
Học dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà
Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm
trong một cuộc tuyển lựa tại Hà Nội với nhạc phẩm La Prière d’Une
Vierge.
Thời đi học Văn Phụng là một học sinh xuất
sắc, ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở Albert Sarraut. Năm
16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú Tài, Văn Phụng theo học ngành Y, vì ý muốn của
cha ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học để theo âm nhạc.
Năm 1946 trong một lần chạy loạn về Nam
Định, Văn Phụng trú tại tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn và ông gặp linh mục Mai
Xuân Đình. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý. Và Văn Phụng
cũng trở thành người theo đạo Thiên Chúa từ ngày đó.
Năm 1948 , Văn Phụng quay về Hà Nội, gia
nhập Ban Quân nhạc Đệ tam tiểu đoàn danh dự. Chính ở đây, Văn Phụng đã quen với
những người mà về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như
Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Vũ Thành… Thời gian đó, ông được nhạc trưởng
người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn vể hòa âm.
Cũng năm 1948 là năm Văn Phụng sáng tác ca
khúc đầu tay Ô mê ly trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè.
Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã
được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú
ý. Về sau Ô mê ly còn nổi tiếng cùng tiếng hát của ban hợp ca
Thăng Long. Hiện nay ca sĩ Ánh Tuyết cũng thường trình diễn nhạc phẩm này.
Khoảng năm 54 – 55 Văn Phụngvào miền Namvà trở
thành Nhạc Trưởng của Đài Phát thanh Quân đội và phụ trách chương trình ca nhạc
trên Đài Phát thanh Sài Gòn.
Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc với Ô
mê ly vào năm 1948 và kết thúc với Chán nản vào năm 1972,
Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc
sắc như Trăng sơn cước, Yêu, Tôi đi giữa hoàng
hôn, Suối tóc, Mưa,Tiếng dương cầm, Giấc
mộng viễn du, Tình, Bức họa đồng quê…
Tuy được xem như là một trong số các nhạc sĩ
theo trường phái cổ điển Tây Phương, Văn Phụng cũng viết những bản nhạc giá trị
với âm hưởng dân tộc như Trăng sáng vườn chè (thơ Nguyễn Bính), Các anh đi (thơ Hoàng Trung Thông), Đêm
buồn (phổ ca dao), Nhớ
bến Đà Giang… Ông cònhòa âm cho nhiều cuốn băng nổi tiếng và được xem như
một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc nhất của Sài Gòn khi đó.
Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến đảo
ở Malaysia. Sau 5, 6 tháng ở đây gia đình ông đến tiểu bang Virginia, cư ngụ
tại Fairfax. Văn Phụng qua đời vào ngày 17/12/1999 do tác hại của bệnh tiểu
đường.
(Trích nguồn Wikipedia)
Ô MÊ LY
- tạp ghi của thụyvi
Còn về dòng nhạc miền quê, tôi mê nhất Hương
xưa thật êm ả của Cung Tiến. Đặc biệt, khi nghe bản Ô mê ly rộn
rã của Văn Phụng thì chắc chắn mọi buồn phiền, hệ lụy cuộc đời sẽ trôi đi
tuồn tuột.
Theo Wikipedia, nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là
Nguyễn Văn Phụng sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình tám anh em mà ông
là thứ hai. Học đàn dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm
là bà Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương
cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà hát lớn Hà Nội với nhạc phẩm La
Prière d’Une Vierge.
Năm 1948 cũng là năm Văn Phụng sáng tác ca
khúc đầu tay Ô mê ly trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè.
Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã
được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú
ý.
Ngày trước, trong những giọng ca nữ, không ai
hát bài này hay hơn Thái Thanh. Giọng bà đủ cao để diễn tả đầy đủ hình ảnh
trong một không gian bao la – Này là cánh đồng rộng rãi với gió lướt, mây
trắng, mưa rơi, nắng lên – Bà đủ tình cảm mang tiếng hát thôn nữ từ đám lúa
xanh nõn nà như xuân sắc bay vút lên…. Bài hát này được thu thanh với ban nhạc
Thăng Long đã lâu, lúc đó bà còn trẻ nên giọng của bà nhả ra thật nũng nịu.
Vào năm 1993 giữa một Sài Gòn sôi động, có một
nữ ca sĩ khiến Văn Cao chảy nước mắt khi ông nghe cô trình bày những ca
khúc của ông thật hay. Ông cảm động đến hãnh diện khi nói “Đầu đời
nhạc Văn Cao có Kim Tiêu. Cuối đời nhạc Văn Cao có Ánh Tuyết …” Báo chí sau đó
đồng loạt viết về Ánh Tuyết như một hiện tượng trong làng âm nhạc Việt Nam, đặc
biệt với những ca khúc của Văn Cao.
Ánh Tuyết không phải chỉ chinh phục người nghe
với những ca khúc của Văn Cao. Năm 2000 Ánh Tuyết hát Ô mê ly.
Giọng hát rõ lời, véo von luyến láy thật tươi trẻ những điệp khúc chạy rào rào
thật nhanh thật tuyệt vời của cô một lần nữa lại chinh phục khán thính giả, kể
cả những người nghe khó tính nhất.
Ô mê ly, mê ly ! / Ô mê ly, mê ly đời ta ! / Ô
mê ly đời sống với cây đàn / Tình tính tang dạo phím rồi ca vang
Chiều êm êm nhìn phía xa mây vàng / Giục lòng
ta dạo khúc ca với đàn / Một chiều mưa ta hát vang “Mưa rơi !” / Rồi cùng ta
mưa đáp : “Cho tươi đời !”
Một ngày nắng ta hát vang : “Nắng tươi !” / Đàn
cầm tay say sưa hát là nguồn vui / Gió sớm đã về, cùng tiếng hát tiếng cười /
Thấp thoáng bóng người ngoài đám lúa cất lời / Thấy tiếng hát cười là gió sớm
đến mời: “Người ơi, đàn đi !”
Ô mê ly, mê ly ! / Ô mê ly, mê ly đời ta ! /
Đứng giữa cánh đồng nhìn ánh nắng phớt hồng / Có tiếng hát chòng từ đám lúa
lướt về / Thoáng thấy tiếng nàng và thoáng có tiếng cười, đàn ta hòa vang
Ô mê ly, tơ duyên ! / Ô mê ly, khúc ca triền
miên ! / Ô mê ly đời sống bao duyên tình / Trời về trưa ngồi dưới hàng cây xanh
Nhìn bao la đồng lúa xa xa mờ / Đàn hòa vang
tựa sóng xô đến bờ / Đường về thôn em bé vui câu ca / Giục hồn thơ tha thiết
yêu quê nhà / Đàn cùng ta reo khúc ca chơi vơi / Nhạc còn vang nhịp nhàng đưa
ngàn nơi. (*)
thụyvi
(*) Lời bài hát Ô mê ly của nhạc sĩ Văn Phụng.
Nghe nhạc phẩm : Ô mê ly
(Sáng tác: Văn Phụng – Biểu diễn: Ánh Tuyết)
NHẠC SĨ HÙNG LÂN
(1922 – 1986)
Hùng Lân tên thật là Hoàng Văn Cường, nhưng do
nhầm lẫn, giấy khai sinh ghi là Hoàng Văn Hường, sau lại đổi là Hoàng
Văn Hương. Ông sinh ngày 23/6/1922tại phố Phủ Doãn, Hoàn Kiếm, Hà Nội,
trong một gia đình đạo Thiên Chúa. Ông là người con thứ 4 trong gia đình có 11
anh chị em. Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Nhạ, người tỉnh Hà Nam. Thân phụ ông
vốn là người họ Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thiện, người làng Hương Điền
(?), tỉnh Sa Đéc. Vốn ông nội của ông là Nguyễn Minh Châu từ Sa Đéc ra Hà
Nội làm việc, mang theo ông Thiện. Sau khi ông Châu trở về Sa Đéc thì gửi lại
ông Thiện cho một người bạn ở Sơn tây là Hoàng Xuân Khoát. Về sau, ông Thiện
được ông Khoát nhận làm con và cho đổi sang họ Hoàng. Từ đó, ông Thiện và các
con sau này đều mang họ Hoàng.
Thời niên thiếu
Xuất thân trong gia đình Công giáo, vì vậy từ
nhỏ ông đã chịu phép rửa tội và mang tên thánh Pherô. Năm 1928, ông theo học
tại trường tiểu học Gendreau. Ngay từ năm 8 tuổi, ông đã bắt đầu học nhạc với
linh mục người Pháp tên P. Depautis (còn gọi là Cố Hương) và được tuyển
vào ban hợp xướng nhà thờ Hà Nội. Năm 1931, ông theo học bậc trung học tại
trường dòng Lasan Puginier. Năm 1934, ông học nhạc dưới sự hướng dẫn của linh
mục J. Bouis tại tiểu chủng việnThánh Phêrô Hoàng Nguyên ở Hà Đông(nay
thuộc Hà Nội), rồi sau đó là Đại chủng viện Xuân Bích (Saint Sulpice) ở Hà Nội.
Bắt đầu sự nghiệp âm nhạc
Ngay từ khi còn học nhạc ở Đại chủng viện Xuân
Bích, ông và nhóm sinh viên Đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội đã nghĩ đến việc
sáng tác những bài Thánh ca Việt Nam theo thể loại mới. Từ đó, vào tháng 7 năm
1945, Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập, do ông làm Đoàn trưởng. Trong suốt thời
gian 30 năm, Nhạc đoàn đã có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, trong đó
Hùng Lân cũng có phần không nhỏ. Thời gian này, ông bắt đầu dùng bút danh ‘Nam
Hoa, Lâm Thanh để sáng tác nhạc. Năm 1943, ông sáng tác nhạc phẩm
“Rạng đông, được giải thưởng của Hội Khuyến Học Hà Nội. Năm 1944, ông sáng tác
bài hát “Việt Nam minh châu trời Đông”, được giải nhất kỳ thi Âm nhạc Toàn quốc
trong năm đó.
Liên tiếp trong hai năm 1945 – 1946, thân mẫu
rồi đến thân phụ của Hùng Lân qua đời. Ông phải bỏ học để có điều kiện lo lắng
cho gia đình vì các em còn nhỏ. Năm 1945, ông nhận dạy học ở trường Kẻ Giảng
(nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), cách Phủ Lý chừng 5, 6 cây số. Trong
nhà thờ Kẻ Sở của vùng này, bấy giờ có một cây harmonium rất
tốt và ông thường dùng để sáng tác nhiều bài hát và về sau trở nên nổi tiếng.
Cũng trong thời gian này, bút hiệu Hùng Lân ra đời, được ghép từ hai tên của
người em thứ năm và thứ tám của ông. Sau đó, ông nhận làm giáo sư dạy âm nhạc
tại trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội.
Năm 1946, nhân cảm hứng về lời kêu gọi tập thể
dục, ông đã viết một bài hát hưởng ứng với tên gọi “Khỏe vì Nước”. Bài hát
nhanh chóng được phổ biến và trở thành bài hát chính cho phong trào thể dục thể
thao.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ở Hà
Nội, ông cũng theo kháng chiến một thời gian. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình,
ông đành rời chiến khu trở về Hà Nội tiếp tục dạy học. Năm 1948, ông dạy âm
nhạc ở trường Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1949, ông cho xuất bản sách dạy âm nhạc
khai tâm và sơ đẳng gồm 2 tập, mang tên “Cây Đàn Sống” được Nhà xuất bản Thế
Giới Hà Nội ấn hành.Sau đó, vào các năm 1952, 1952, ông tiếp tục cho ra đời các
bộ sách “Giáo khoa Âm nhạc” cho lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ. Có thể nói
ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ
thông.
Hoạt động âm nhạc tại miền Nam
Sau 1954 , Hùng Lân vào Nam làm giáo sư
âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn và cũng là trưởng ban Phát
thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn. Từ năm 1957, ông là
giáo sư dạy môn Ký xướng âm của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ Sài Gòn. Cùng
thời gian đó, ông ghi tên học và tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn Chương Pháp tại ĐH
Văn Khoa vào năm 1963.
Cùng năm đó, ông về làm việc tại Trung tâm Học
liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Năm 1965, ông được bổ nhiệm chức Chủ sự Phòng Phát
thanh Học đường, Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Năm 1967-1968, ông
được cử đi tu nghiệp một khóa ngắn hạn tại Mỹ về ngành giáo dục truyền
thông tại Đại học Syracuse, New York. Sau khi trở về Việt Nam, ông đã xây
dựng chương trình “Đố vui để học” do Trung tâm Học liệu phát hình lần đầu vào
năm 1969.
Từ năm 1971 cho đến năm 1975, ông về Trường Sư
phạm thuộc ĐH Đà Lạt dạy môn Sư phạm Âm nhạc.
Sau 1975, ông trở về tư gia tại đường Nguyễn
Văn Thủ, Q1. Ông tiếp tục việc dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia cho
đến tận khi qua đời ngày 17/9/1986.
HÈ VỀ !
- tạp ghi của thụyvi
Mùa hè, nghe những ca khúc về hè, chúng ta sụt
sùi nhớ chuyện ngày xưa – xưa lơ xưa lắt…Trời ạ ! cái bài hát hơn 40 năm trước
đang hiển hiện trong đầu. Nhịp hát rộn rã vang vang đâu đây… “Trời hồng hồng,
sáng trong trong. Ngàn phượng ru nắng ngoài song (*) …” Đó là một ca khúc
nổi tiếng trong giới sinh viên học sinh của nhạc sĩ Hùng Lân – có thời học sinh
THKT được thầy Lương Văn Liêng tập hát trong tốp ca hoặc hợp ca trước những
ngày lễ bế giảng nghỉ hè ngày xưa.
Ngày xưa, ngày xưa… Cái thời xa xưa hơn 40 năm
sao mà cứ nhớ… Năm đó, lớp đệ lục A (1964 – 1965) có vài bạn được chọn trong
ban tốp ca. Đầu đàn hát hay nhất trong lớp là An Ngọc Quang. An đặc biệt được
thầy Liêng chọn vào hát solo cho điệp khúc và chúng tôi được vào 1 trong 3 tốp
ca hát bè (là kỹ thuật hát lạ lẫm cho học trò trường tỉnh nhỏ, hiu hắt, ven
biên giới lúc đó).
Theo Hồi ký Phạm Duy, nhạc sĩ Hùng Lân được
biết như sau :
“… Khi Tân nhạc Việt Nam đang thành hình và
phát triển, có một người hoạt động rất mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực nhạc đạo
và nhạc đời, đó là Hùng Lân. Là người Công giáo, xuất thân từ nhạc đoàn Lê Bảo
Tịnh, ông là một trong những người tạo dựng nhạc Thánh ca.
Trong lĩnh vực nhạc đời, Hùng Lân là người có
công lớn trong việc tạo dựng một nền nhạc vui khỏe. Nhạc vui tươi đã có người
khởi đầu là Nguyễn Xuân Khoát, nay Hùng Lân là người tiếp tục, cùng với Hoàng
Quý, Lưu Hữu Phước v.v…
Nhạc phẩm của Hùng Lân có thể tạm chia ra ba
loại :
- loại tình cảm cá nhân như Sầu lữ thứ, Hận
Trương Chi… Bài thứ hai không đặc sắc lắm vì đáng lẽ phải tả tình (anh Trương
Chi hay cô Mỵ Nương) thì Hùng Lân chỉ tả cảnh…
- loại tình cảm thiên nhiên như Vườn xuân, Trăng lên, Một mùa xuân huyền ảo…
Tác giả là nhà mô phạm nên ca khúc có thêm
- loại kêu gọi thanh niên như Rạng đông, Tiếng
gọi lên đường, Hè về, Khỏe vì nước, Mùa hợp tấu, Việt Nam minh châu trời Ðông…
Về sau, những bài này được in ra trong hai nhạc tập mang tên ÐỜI TRAI và HỌC
SINH, dành riêng cho thanh, thiếu niên và nhi đồng, khi ông làm việc cho Trung
tâm Học liệu của Bộ Quốc gia Giáo dục. Ðây là loại ca thành công nhất của Hùng
Lân. …
Vì không đủ phương tiện để thu thập các tài
liệu tham khảo. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được của gia đình và đồng
nghiệp, nhạc sĩ Hùng Lân đã biên soạn hơn 900 tác phẩm. Bao gồm các sáng tác ca
khúc, công trình nghiên cứu âm nhạc và biên soạn sách giáo khoa.”
Thời gian tập hát với thầy Liêng thật vui, có
nhiều kỷ niệm lụn vụn thật dễ thương… Bây giờ nhớ lại, ngoài lối giảng bài lôi
cuốn – một dáng dấp cao gầy – một khuôn mặt cương nghị – thầy còn có một
phong thái thật lịch lãm, điệu nghệ khi vung tay đánh nhịp cho ban họp ca của
trường. Nếu giờ thầy còn sống, chắc chắn thầy vẫn là một cụ ông đẹp lão.
- Trời hồng hồng, sáng trong trong
Ngàn phượng ru nắng ngoài song (*)
Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên
Đàn nhịp nhàng, hát vang vang
Nhạc hòa thơ đón hè sang
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
- Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng
Đàn chim cánh đo trời
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ
- Xa xa lớp lúa dồn cao
Sóng vàng leo dốc chân đồi
Thanh thanh hương sen nồng ướp gió
Trắng khi chiều rơi
Nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về, hè về
Tiếng ca nhịp phách lên khơi
Đầu ghềnh suối mát
Reo vui dào dạt ngợp trời gió mát
Ven mây phiêu bạt, hồn say ý chơi vơi
Ngày xanh thắm nét cười
Lòng tha thiết yêu đời
- Đây suối trăng rừng thơ
Đây gió nhung thuyền mơ
Đây phím ngọc đường tơ
Đây tứ nhạc ngàn xưa
Hè về nắng thông reo
(Hè về – Hùng Lân)
Mặc dù, Kiến Tường không có cây phượng nào,
nhưng hàng điệp già, cũng như những bài hát cũ là một trong những hình ảnh, kỷ
niệm như rêu bám hoài trong trí nhớ.
thụyvi
(*) Có người phát âm trật song thành sông.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét