Nguyên lý cấu trúc nhịp thơ
Trần
Thiện Khanh
Nhịp điệu và thi tứ gắn bó
chặt chẽ với nhau. Thơ muốn trở thành khúc nhạc lòng, nhạc hồn không thể không
có tiết tấu, nhịp điệu uyển chuyển. Nhạc lòng chuyển hoá thành nhạc thơ. Nhạc
thơ đa dạng, khi trầm bổng, du dương, lúc thanh thoát, nhẹ nhàng… ứng với điệu
hồn thi sĩ. Nhạc thơ biểu hiện cụ thể ở nhịp điệu. Thi nhân phổ nhạc cho thơ,
tiếng thơ vang ngân trong không gian, tạo thành các “bước sóng” gõ cửa tâm hồn
độc giả. Thơ giàu nhạc điệu, khi và chỉ khi tâm hồn nhà thơ tràn đầy xúc
cảm. Mọi sự thay đổi ngôn từ đều làm biến đổi nhịp điệu và nội dung tư
tưởng thể hiện. Xuân Diệu nói: thơ hay thì lời thơ chín đỏ trong cảm
xúc. Do chỗ nhà thơ thổi hồn mình vào ngôn từ, cho nên chất nhạc thấm đẫm
từng câu chữ bước nhịp. Mỗi bước nhịp, khuôn nhịp có thể ví với những giai âm
độc đáo trong “bản giao hưởng tâm hồn” của thi sĩ. Chẳng hạn, Trịnh Công Sơn
thường “hát thơ”. Ở từng nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, nhạc và thơ hoà quyện
trong điệu hồn riêng biệt. Ta có cảm tưởng “người hát thơ”này sáng tác lời và
nhạc cùng một lúc, chứ không phải ông viết lời ca sau khi có nhạc hoặc phổ nhạc
cho lời thơ có sẵn. Hình như Trịnh Công Sơn viết thơ bằng cảm hứng âm nhạc, hay
“âm nhạc được thơ nâng cánh”. Ông đã thành nhà thơ tài hoa trước khi hiện diện
trong trang phục của nhạc sĩ buộc chiếc thuyền thơ nhiều âm sắc neo đậu vào tâm
hồn nhiều thế hệ. Thơ Trịnh Công Sơn vì thế thanh thoát, mềm mại:
-Mây trên đầu và nắng trên
vai
Đôi chân ta đi sông còn ở
lại
Con tim yêu thương vô tình
chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng
con người.
-Một hôm bước qua thành
phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
Đời ta có khi tựa lá
cỏ,ngồi hát ca rất tự do….
Lòng tôi có đôi lần khép
cửa,
Rồi bên vết thương tôi quỳ.
Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia .
Ca từ Trịnh Công Sơn minh
chứng cho sức sống của thơ vần điệu.Thơ giàu nhạc điệu không hề sáo mòn về ngôn
từ. Trái lại, nó có khả năng nâng ngôn ngữ đời thường thành
ngôn từ nghệ thuật. Nhiều người nhầm tưởng cách tân thơ chỉ đơn giản ở chỗ:
người viết kéo thơ về gần với đời thường hoặc văn xuôi hoá lời thơ. Thực ra mọi
lời thơ thiếu vắng nhịp điệu, tiết tấu đều tuột khỏi tâm trí người đọc. Thơ đọc
lên phải nghe lọt tai. Nhạc thơ ru ta theo điệu hồn của nghệ sĩ ngôn từ. Người
yêu thơ thường dị ứng với kiểu thơ ngang ngang, trúc trắc về tình ý, nhạc âm.
Khi những bài thơ thiếu tính nhạc rơi vào quên lãng, ta mới hiểu thêm
rằng,mọi sự ngừng ngắt trong tổ chức lời thơ chỉ đơn thuần thuộc về kĩ thuật,
kĩ xảo làm thơ đều bị nàng thơ từ chối .
Một số lí thuyết gia và
thi sĩ tuyên bố: thơ đã được giải phóng khỏi nhạc nhịp và vần điệu.
Nhưng trên thực tế họ đã làm nghèo đi khả năng biểu hiện của thơ. Trong tiềm
thức của không ít người, thơ hoặc tính thơ luôn
thuộc về loại hình ngôn ngữ có tiết tấu, nhịp điệu. Tư duy thơ khác tư duy văn
xuôi . Văn xuôi chỉ có tiết tấu nhịp điệu khi nó đã “bị thơ ca gặm nhấm”(Claude
Montel). Tiết tấu, vần nhịp trong văn - nếu có – thường bị gián
đoạn. Còn trong thơ, nhịp nhạc, vần điệu vận động
khá đều đặn theo một chu kì, quy luật nào đó. Một đằng thuộc thủ pháp nghệ
thuật có thì làm giàu thêm sức biểu hiện và kiến tạo, không cũng chẳng sao. Còn
đằng kia thuộc về bản thể, về sự sống. Thơ tìm tòi tiết tấu, hướng tới sự gián
đoạn trong chuỗi ngữ lưu liên tục, nó gây ấn tượng bằng việc lệch
chuẩn nhịp điệu. Thơ phá huỷ tính chất tuyến tính của thời gian. Thơ hướng về
ấn tượng ban đầu, nên tìm tới các hình thức chuyển nghĩa. Văn xuôi
nhằm vào kết thúc khái quát, nên tìm mọi cách thức tạo nghĩa. Thơ
liên tục tạo ra các kí hiệu biểu đạt, còn văn xuôi liên tục
xác lập hệ qui chiếu. Sự biểu đạt ý tứ bằng hình thức tiết tấu,
nhịp điệu, do vậy, khiến cho lời thơ không cần phải kéo dài như câu văn xuôi, lời
thơ dứt khoát. Người xưa nói “ý tại ngôn ngoại”, có lẽ còn muốn nhấn
mạnh rằng: ý tứ nằm ở tiết tấu, vần nhịp. Chính tiết tấu, nhịp điệu
góp phần tạo ra những liên tưởng cảm nhận phong phú. Sự thu hẹp “vương quốc
thơ”, sự mở rộng ranh giới văn xuôi hoặc sự chuyển dịch của hai hệ thống đó vào
nhau khiến nhiều người nhầm tưởng vần, nhịp không còn quan trọng đối với thơ
nữa. Thơ dù biến đổi đến đâu vẫn giữ cho mình những yếu tố nòng cốt, đảm bảo
cho sức sống bất tử của thể loại, khiến nó tồn tại với tư cách phát ngôn thơ
chứ không phải văn xuôi đơn thuần. Phản bội vần nhịp, tiết tấu – theo nghĩa
chặt chẽ của từ này, đồng nghĩa với “phản thơ”. Đổi mới thơ trước hết biểu hiện
ở đổi mới vần, nhịp, tiết tấu… Chẳng hạn, cuộc cách mạng trong thơ Việt Nam
giai đoạn 1930-1945, không hề diễn ra trong trạng thái loại bỏ vần, nhịp, tiết
tấu. Ngược lại, cách gieo vần,ngắt nhịp, tổ chức tiết tấu câu thơ không ngừng
được làm phong phú thêm với sức mạnh và năng lượng mới. Charles Hartman khẳng
định : “Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ và phép
làm thơ là chuyển nó thành ý nghĩa”.
Người ta ít thuộc văn xuôi
hơn, và rất khó thuộc, bởi chúng không có tính nhạc, không có vần, nhịp uyển
chuyển. Còn “thơ nhạc” thì hiển nhiên vương vấn tâm trí con người. Đọc
văn, ta có cảm giác phải kéo dài hơi thở. Đọc thơ, ta có cảm nhận hơi thở hài
hoà theo các bước thơ. Tất cả điều trên cần được ghi chú thêm rằng: độ
dài ngắn của phát ngôn không bao giờ trở thành tiêu chí phân biệt lời
thơ và lời văn. Nhiều câu văn ngắn, nhưng không thể xếp đồng hạng với lời
thơ. Nhiều câu thơ dài, ta đặt vào đâu vẫn không mất tính thơ. Cũng như vậy,
nếu đem câu văn xuôi ngắt ra thành nhiều đoạn ngắn, thì không bao giờ thành thơ
cả. Tính thơ thuộc về tính nhạc của ngôn từ
nghệ thuật. Ngôn ngữ sử dụng trong đời thường có thể có tính thơ, tính nhạc,
nếu được người nói bắt vần và chú trọng đến tiết tấu, nhịp điệu. Những nhà thơ
lạm dụng ngôn ngữ đời thường đến sống sít thường tạo ra lời nói không thơ chút
nào. Và chúng ta quen gọi trường hợp đó bằng các từ ngữ đại loại như: chướng
tai, trúc trắc… Thơ văn xuôi khác với bất kì hình thức giả tạo nào khác ở
tính nhạc của nó.
Nhịp điệu trở thành ngôn
ngữ đặc biệt của thơ, nó biểu hiện được bao ý tình mà từ ngữ không thể nói hết
được. Nhịp điệu - một khi được cảm xúc hoá, cá tính hoá sẽ mài
sắc cảm nhận, cảm giác của người đọc. Đọc bài thơ giàu tính nhạc, người đọc như
được sống trong cảm giác mới mà trước đó chưa từng biết. Nhà thơ P.Êluya nói :
“Thơ ca trước tiên là ngôn ngữ cất thành tiếng hát…ngôn ngữ
hát lên, ở nó tràn đầy hi vọng, ngay cả khi nó hát những điều thất vọng”. Lê
Đình Diên viết: “thơ là biểu hiện của nhạc, thanh bổ trợ cho thơ… nhạc
có thơ sau đó có thanh”. Miên Trinh bảo: “ nhạc thuộc dòng dõi của thơ, thơ
có họ hàng với nhạc… nhà thơ tự thổ lộ cái chí của mình bằng cách tự ca
hát”. Aragông khẳng định dứt khoát : Người ta có thể lấy đi cuộc sống của
tôi, nhưng không thể dập tắt ở tôi tiếng hát .
Nếu xem tài năng nhà thơ
biểu hiện ở chỗ: tạo ra cuộc chơi và dẫn người đọc tham gia vào cuộc chơi đó
thì nhạc,nhịp thuộc về yếu tố có sức mạnh “mê hoặc” độc giả.
Nhịp và giọng điệu gắn bó chặt với nhau. Nhịp thơ tạo ra giọng điệu. Nhịp chẵn
ở lục bát tạo ra giọng mềm mại, tha thiết. Nhịp thơ thất ngôn tạo ra giọng điệu
trang trọng…Nhà thơ tài hoa thường phổ nhạc cho thơ, tới mức như ta có thể hát
ngay bài thơ đó theo một giai điệu nhất định. Phổ nhạc tức là mượn hình
thức nhạc để biểu đạt chất thơ của cuộc sống .Tính chất chu kì và nguyên tắc
láy đi láy lại của nhịp thơ khiến nó gần hơn với môtíp âm nhạc. Nhịp thơ chỉ
tác động mạnh mẽ vào tình cảm người đọc khi giữa các khuôn nhịp có những âm
thanh không đều nhau, không giống nhau. Nhịp thơ chuyển hoá thành các giai
điệu. Bố cục nhịp điệu tương đồng về khả năng biểu đạt ý tình với bố cục âm
nhạc.
Mỗi bài thơ tương ứng với
một thế giới nghệ thuật. Một thi phẩm có nhiều dòng thơ. Dòng thơ, xét về hình
thể, rất giống với xương cốt của bài thơ. Theo Denida Levertop : “ việc
chia thơ ra thành dòng chính là một sự bắt đầu cần thiết cho toàn bộ đời sống
của nó”. Chia thơ ra thành dòng không đơn giản là tách ý, chuyển ý mà thuộc
cách tổ chức tứ thơ, vần nhịp. Cách phân dòng thơ, tổ chức câu thơ thuộc về
phương diện hình thức. Nhờ sự phân chia thành từng dòng thơ mà toàn bộ tư
tưởng, tâm trạng… của nhân vật được thể hiện đầy đủ. Maiakovski cho rằng: “Sự
ngắt đoạn và nhịp điệu của bài thơ hệ trọng hơn sự chấm câu”. Một dòng thơ
ngắn có thể tương ứng với một khuôn nhịp. Nhưng thường thì một câu thơ, dòng
thơ có nhiều nhịp. Nhịp thơ không nhất thiết phải đều đặn, cố định. Nhịp thơ
đổi thay theo nhu cầu biểu hiện ý tình; theo nhiệm vụ tái
hiện sự vận động của sự vật, hiện tượng; theo ngữ điệu
phát ngôn ở từng nhân vật. Mỗi dòng thơ, câu thơ được tổ chức
theo qui luật câu hát. Ngâm thơ cũng luyến láy, ngừng nghỉ, kéo dài và
lướt nhẹ một số âm tiết nào đó.
Tổ chức nhịp điệu trong một
bài thơ như thế nào phụ thuộc vào tư duy thơ ở từng tác giả. Tổ chức nhịp thơ
thuộc về hệ thống biểu hiện nghệ thuật. Cả vần lẫn nhịp đều biểu đạt tư tưởng,
cảm xúc…Bỏ qua nhịp điệu, độc giả không thể “gọi tên sự vật” một cách đầy đủ.
Người ta có thể chủ trương thơ không vần, nhưng nhịp thơ thì không bao giờ mất
đi trong thi phẩm. Nhịp thơ trước hết được lĩnh hội bằng trực giác. Song, không
vì thế mà mất đi sự tinh tế, bí ẩn của thơ. Những cấu trúc nhịp sáng tạo luôn
hấp dẫn, mời gọi độc giả cắt nghĩa. Giá trị của bài thơ không chỉ xét ở
nội dung tư tưởng, mà chủ yếu ở điều: khiến cho bài thơ trở thành một tác phẩm
nghệ thuật. Nhịp thơ tham gia vào quá trình đó bằng cách
tạo ra những giá trị thẩm mỹ đặc sắc ở từng khuôn nhịp cụ thể. Phát hiện ra ý
nghĩa của nhịp thơ giúp độc giả tiếp cận với chiều sâu và vẻ đẹp toàn vẹn của
đối tượng miêu tả. Thích một bài thơ, trước hết, hứng thú với cái âm vang của
ngôn từ, nhịp điệu.Có giai điệu thơ buồn thương u hoài,có giai điệu sôi nổi,rạo
rực. Giai âm khoan thai đan lồng với gấp gáp. Nhịp thơ đặc
trưng bằng sự phân bố của các âm thanh thuộc hai nhóm thanh điệu cao thấp,
tương tự với đường nét trong tác phẩm hội hoạ và giai
điệu trong nhạc phẩm. Trong âm nhạc, tiết tấu biểu
hiện ở dáng đi (bộ điệu) câu nhạc. Khái niệm “tiết tấu” trong âm nhạc và khái
niệm “bước thơ” trong thơ khá gần nhau.
Trước khi bàn sâu về nguyên
lí cấu trúc nhịp thơ, thiết tưởng nên qui ước nội hàm ý nghĩa của một số thuật
ngữ.
Khái niệm bước
thơ, quãng nhịp hay bước nhịp trong bài này diễn
đạt: độ dài của sự ngừng ngắt trong câu thơ. Mỗi bước thơ cói độ
dài nhất định và tương đối trọn vẹn về nghĩa. Chúng có thể độc lập về
ngữ pháp. Mỗi bước thơ có một tiêu điểm ngữ nghĩa, thể hiện ở sự nhấn giọng.
Trường độ bước nhịp hài hoà với tiết tấu thơ. Độ dài của các bước thơ không đều
nhau. Sự không đều nhau này tạo thành âm vang ngôn từ.
Thuật ngữ khuôn
nhịp, hay cấu trúc nhịp điệu giúp ta nhận diện: sự lặp lại
đều đặn theo chu kì của những bước nhịp, các âm thanh mạnh yếu. Các các khuôn
âm luật ấy góp phần tạo ra tính nhạc cho bài thơ. Mỗi khuôn nhịp có
trường độ bước nhịp nhất định.ở mỗi bước nhịp, số âm tiết hợp thành tiết tấu
câu thơ luôn được hạn định.
Nhịp thơ là
khái niệm chỉ một đơn vị ngôn ngữ nào đó được khu biệt về qui tắc
tổ chức âm thanh, từ loại, ngữ pháp so với các đơn vị ngôn ngữ khác .Có nhịp
dòng thơ và nhịp tiết tấu trong dòng thơ. Nhịp thơ trùng với khung đoạn ngừng
nghỉ của lời nói nghệ thuật. Nhịp thơ thay đổi tạo nên cảm giác lời thơ vận
động. Nhịp thơ là nhân tố năng động tạo dựng hệ thống lời thơ ở cả phương diện
ngữ nghĩa và âm thanh, chứ không phải yếu tố tĩnh tại.
Nhịp điệu nằm bên trong bản
thân kiến trúc ngôn từ và qui định kiểu kiến trúc ấy; một mặt nó thoả ước tuân
theo qui luật khách quan của thể loại, mặt khác nhịp thơ vận động theo qui luật
trái tim, hơi thở con người. Hình thái nhịp điệu hiện thực hoá cấu trúc ý
thơ,tứ thơ. Đường nét vận động của nhịp điệu,ngữ điệu thể hiện rõ tính nhạc của
ngôn từ. Phổ nhạc cho thơ cần thiết như phổ thơ cho
nhạc. Không phải ngẫu nhiên bước sang thế kỉ XX, nhiều nghệ sĩ đã cố gắng
kết hợp hiệu quả hơn nữa âm nhạc với thơ ca. Họ cố gắng để cho giai điệu,tiết
tấu “gần gũi đến mức tối đa với ngữ điệu tự nhiên của ngôn ngữ”(Vũ Khánh).
Nhịp thơ chịu sự chi phối
của nhiều yếu tố, trước hết bị chế ước bởi thi pháp thể loại. Ví
dụ, thơ Đường luật ngắt nhịp theo “hình thế đối lập nhau”: chẵn trước lẻ sau:
4/3 hay 2/2/3 .Thơ thất ngôn Đường luật thường kết thúc ở nhịp lẻ. Theo luật âm
dương đắp đổi,nhịp thơ của thơ người Tàu biểu hiện tính “cương”,tiết tấu mạnh
mẽ,sang trọng. Thơ lục bát của người Việt ưa nhịp chẵn, nhịp đôi. ở thơ song
thất lục bát, tần số nhịp chẵn cũng rất lớn. Nhịp thơ của thơ người Việt
biểu hiện tính “nhu”, tiết tấu mềm mại, gọn gàng. Thơ ngũ ngôn của người Việt,
ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau( 3/2), ngũ ngôn Trung Quốc có cách ngắt nhịp khác:
chẵn trước lẻ sau(2/3). Như vậy, luật thơ Việt khác với thi luật Tàu. Hẹp hơn, cấu
trúc nhịp thơ mang tính dân tộc. Điều đó rõ hơn ở chỗ: cùng một thể
thơ ( thất ngôn, ngũ ngôn…) nhưng cách thức tổ chức nhịp điệu của thi
nhân Việt và Trung Quốc không giống nhau. Sự khác biệt này, thiết nghĩ, do hệ
tư tưởng và quan niệm triết mĩ của chủ thể sáng tạo qui định. Vì nhịp điệu của
thơ không tách rời hệ hình tư duy và điệu thức xúc cảm. Nhịp thơ luôn phù hợp
với ngữ nghĩa và ngữ điệu .
Ranh giới của từng nhịp do
sự luân phiên của các nhóm thanh điệu cao bổng – thấp trầm, mạnh – yếu
quy định. Trong thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt đời Đường cuối tiếng thứ tư
bao giờ cũng tạo thành một nhịp, vì nhịp thơ ngắt ở đây có tác dụng cân chỉnh
cao độ và trường độ trong cấu trúc âm thanh của câu. Thơ luật trắc vần bằng và
thơ luật bằng vần bằng khác nhau về hệ thống thanh điệu. Do đó vẻ đẹp âm nhạc ở
từng bài không giống nhau. Hiện tượng một câu thơ có thể tách thành
bốn nhịp trở lên, rất ít xảy ra trong thơ thất Đường luật. Bởi vì, hệ
thống thanh điệu được phân bố tương đối đều theo qui luật thể loại, các âm tiết
hiệp vần với nhau cũng thường đứng ở những vị trí cố định (vần chân). Thơ thất
ngôn Đường luật có khuôn âm luật chặt chẽ.
Sự tăng giảm cao độ, trường
độ của âm tiết đôi khi có tác dụng phân hoá các bước nhịp. Mỗi điểm nhấn trong
dòng thơ thường thực hiện chức năng khu biệt nhịp thơ này với nhịp thơ kia,
điểm nhấn đó có thể thuộc về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa . Ví dụ:
Trăm lần triết lí nông
sâu,
Để ta về lại với câu thật
thà.
Mây tìm về phía trời xa,
Ta bơi ngược gió nhận ra
đường làng .”
Theo tôi, điểm nhấn
của câu thơ đầu rơi vào từ “triết lí”. Từ “triết lí” mở ra một bài học nhân
sinh và bài học lao động nghệ thuật sâu sắc. Đó là tiêu điểm ngữ nghĩa,
đồng thời là âm tiết có cao độ, trường độ đặc biệt hơn cả so với các âm tiết
khác trong dòng thơ. Hai chữ “triết lí”giữ vai trò tạo ra bước nhịp mới. Đối
với câu thứ hai, sức nặng tư tưởng và điểm dừng trong hành trình kiếm tìm chân
lí của nhân vật trữ tình thuộc về cụm từ “câu thật thà”. Chính cụm từ này
đảm nhiệm chức năng phân chia nhạc nhịp .
Dừng lại ở thể thơ
lục bát. Một câu hỏi nảy sinh: Tại sao thơ lục bát thường ngắt nhịp chẵn,
nhịp đôi giữ vai trò cơ sở ? Điều này, có nguyên nhân phức tạp, bước đầu chúng
tôi nhận thấy:
Thứ nhất, do
cấu trúc nhịp thơ ở từng dòng thơ chịu sự qui định của qui luật phân bố thanh
điệu. Trong tư duy của người thơ, các tiếng chẵn bao giờ cũng được coi trọng
hơn tiếng lẻ (nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh). Khi ngâm ngợi một câu
thơ nào đó, người ta thường ngừng lại nhiều lần và chủ yếu ở những tiếng chẵn.
Đến những tiếng chẵn, người ngâm thơ kéo dài hơi, đọc lâu hơn bằng cách đệm vào
sau nó các ngữ khí từ .
Thứ hai, do
chức năng tự sự của thể loại. Tự sự ở thơ thường rành mạch, rõ ràng. Tự sự ở
thơ vừa phải đảm bảo yêu cầu vần điệu nhịp nhàng vừa phải ngắn gọn, hàm súc.
Vậy nhà thơ phải tạo ra được những từ có tiếng nói riêng, có âm vang riêng.
Do từ đơn tiết thường kém tính nhạc, một từ không thể tạo ra tính
nhạc, nên nhịp chẵn thường được ưa dùng hơn .
Thứ ba –
cách hiệp vần. Thơ lục bát gieo vần chân và vần lưng . Tiếng thứ 6 của câu lục
hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát lại hiệp vận
với tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theo. Như thế, chỉ xét riêng câu bát, đến
tiếng thứ 6 thường ngắt nhịp. Cứ thế, nhịp chẵn xuất hiện khá ổn định trong cơ
cấu ngữ điệu thơ .
Thứ tư :
do quan niệm triết mĩ. Theo nhiều nhà nghiên cứu: triết học phương
Đông, nói chung hướng tới sự hài hoà, sự quân bình và thống nhất. Đặc trưng
tính cách của người Việt Nam là nhẹ nhàng, ưa chừng mực thích ổn định và thường
hướng nội… Có lẽ vì thế, mà các thể thơ của ta thường có khuôn nhịp chẵn, và số
lượng thanh bằng xuất hiện đậm đặc. Còn triết học phương Tây ngả về duy
lí hơn trực giác, hướng tới giải thích, phân tích… nên các thể thơ của họ
thường có xuất hiện nhịp lẻ nhiều hơn .
Thứ năm: Trong
kho từ vựng của ta, chiếm một số lượng lớn và có vai trò quan trọng của các từ
ghép, từ láy. Láy và ghép là hai phương thức tạo từ, tạo sắc thái ý
nghĩa và các khuôn âm chủ yếu của tiếng Việt. Trong
một chuỗi ngữ lưu, nhịp điệu thường được đánh dấu bằng điểm nhấn ngữ âm và
có thể ngữ nghĩa. Hơn nữa, xét về nguồn gốc của từ, ta thấy
rõ ràng: từ thuộc gốc Hán nhập vào vốn từ vựng của người Việt với số lượng
không nhỏ và chủ yếu là từsong tiết (hai âm tiết), từ thuần Việt
chủ yếu là từ đơn. Hiển nhiên, nhịp chẵn trong thơ được qui
định bởi đặc điểm ngôn ngữ của dân tộc .
Trong thơ lục bát
cũng có nhiều dòng ngắt nhịp lẻ, chủ yếu do tác giả sử dụng biện pháp tiểu đối
. Chúng ta thử xét hiệu quả nghệ thuật của nhịp thơ lẻ trong câu thơ lục
bát sau:
“ Người lên ngựa/ kẻ chia
bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu
quan san”
(Truyện Kiều)
Câu thơ đầu vỡ ra làm hai
mảnh tương ứng với hai nhịp thơ. Hai nhịp ấy được tạo ra nhờ biện pháp tiểu
đối. Cấu trúc câu thơ đối xứng. Mỗi hành động và tâm trạng của nhân vật
gói gọn trong một nhịp. Nhịp thứ nhất diễn tả hành động vội vã, thái độ dứt khoát
của người lên ngựa. Nhịp thứ hai ứng với tâm trạng luyến tiếc của người tiễn
đưa. Kiều vừa buông áo, bóng Thúc Sinh vèo qua trên lưng ngựa. Nhịp đôi của câu
thơ trở thành biểu trưng của hai vùng trời. Vùng trời của người ở lại
thoắt nhuộm màu ảm đạm. Vùng trời của kẻ đi cứ mở ra mênh mông vô tận. Tóm lại lượng
nghĩa bổ sung của nhịp thơ khá lớn so với ý
nghĩa từ vựng của từ .
Cách thức gieo
vần chi phối tới sự cấu trúc nhịp thơ. Thí dụ: “Tôi lại về quê
mẹ nuôi xưa. Một buổi trưa/ nắng dài bãi cát”. Vần
“ ưa” trong tiếng “ trưa” trùng hợp với vần của tiếng “ xưa” trong câu thơ
trước đó , câu thơ gieo vần lưng. Nhờ đặc điểm này, câu thơ thứ hai được
ngắt thành hai nhịp. Đọc bài ca dao sau đây, chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai
trò của việc gieo vần đối với nhịp điệu:
- Chiều nay có kẻ
thất tình
Tựa mai/mai ngả/
tựa đình/ đình xiêu.
-Yêu nhau trầu vỏ cũng say
Ghét nhau/cau đậu đầy khay/
chẳng màng .
Không thể phủ nhận rằng: âm
tiết hiệp vần đồng thời giữ vai trò phân nhịp điệu. Nếu như hiệp vần làm cho
hai câu thơ gắn bó, hài hoà về âm thanh, thống nhất trong một dòng cảm xúc,
phát triển nội dung thông tin sâu rộng hơn thì chức năng phân nhịp của âm tiết
thể hiện thái độ dứt khoát hoặc khẳng định chắc chắn điều đã xảy ra nhằm gây ấn
tượng đối với người nghe, người đọc.
Đối với thể song thất
lục bát, trong câu thất ngôn luôn gieo vần lưng ở chữ
thứ ba hoặc chữ thứ 5. Do đó, nhịp thơ thường ngắt ở tiếng lẻ trước.
Thơ thất ngôn Đường luật không có vần lưng,người thơ gieo vần
chân và theo lối độc vận .Do vậy, nhịp thường ngừng
ở tiếng chẵn . Các bước thơ liên kết với nhau, một phần nhờ
hiện tượng gieo vần .
Một số bài thơ được kết cấu
theo kiểu đối thoại, mỗi nhịp thơ ứng với một lượt lời. Các
tiếng gọi, tiếng kêu, lời hỏi, lời đáp tạo thành nhịp thơ độc lập, ví như “ Cá
rô canh cải nấu gừng. Không ăn thì chớ,/ xin đừng mỉa mai”; “Người
thương/ ơi hỡi/ người thương. Đi đâu mà để buồng hương lạnh
lùng”…Nhịp thơ gắn với cảm xúc, ngữ điệu và biểu hiện thành chỗ ngừng tiết tấu,
ngừng dòng.
– Đằng nớ vợ chưa?
– Đằng nớ?
– Tớ còn chờ độc lập
!
Cả lũ cười vang bên
ruộng bắp
Nhìn o thôn nữ cuối
nương dâu…”
Thể loại qui định cách thức
tổ chức ngôn từ. Chất liệu ngôn từ chi phối sự luân phiên thực tế của các
âm thanh mạnh yếu. Nói rộng ra, cấu trúc nhịp thơ quan hệ chặt chẽ với
cách sử dụng các đơn vị từ loại, tới cấu trúc thời gian, cấu trúc
đối tượng kể tả và sự thay đổi điểm nhìn nghệ thuật. Cấu trúc – danh động
từ có chức năng phân tách nhịp. Sự phân bố danh từ hay sự luân phiên
đều đặn của chúng chi phối tới cấu trúc nhịp thơ.
Nguyệt lạc/ ô đề/ sương mãn
thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu
miên
Cô Tô thành ngoại Hàn
San tự
Dạ bán chung thanh đáo
khách thuyền
Ba sự việc trăng xế
– quạ kêu- sương đầy trời đồng hiện.Dãy thông tin này được hình thành,
do thi nhân huy động đồng thời ba giác quan. Cấu trúc ba nhịp của câu thơ tương
ứng với ba sự vật.Từ “nguyệt lạc”có ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh,
ngắt thành một nhịp. Từ “ô đề” biểu đạt rõ ràng và đầy đủ hiện
tượng âm thanh, tạo thành nhịp thứ hai. Cụm từ “sương mãn thiên” vẽ ra
không khí lạnh vắng, tách thành nhịp thứ ba. Từ hiện tượng đó, sơ bộ ta có thể
rút ra kết luận sau: Nhịp thơ không đơn giản chỉ là khuôn âm luật. Nhịp thơ tồn
tại như một “sự kiện nghệ thuật phức tạp”. Tuỳ từng bài, khuôn nhịp có
thể “đi chệch khởi sơ đồ âm luật” vốn rất ổn định đối với một thể thơ.
Cấu trúc nhịp thơ do thủ
pháp kết cấu câu thơ chi phối (đối ngẫu,so sánh… chẳng hạn). Khi nhà
thơ sử dụng biện pháp đối ngẫu thì ít nhất có hai câu đối xứng nhau về
cấu trúc nhịp điệu. Nhịp điệu của câu trước qui định sự xuất hiện các bước nhịp
ở câu liền kề. Lúc này, các đơn vị nhịp, đảm nhận chức năng khác. Chúng được
xắp xếp song hành sao cho biểu đạt được quan hệ nào đó trong cuộc sống. Các
quan hệ này bổ sung hoặc đối lập với nhau về nghĩa.
Thử xét ví dụ sau: câu thơ
“Bỏ nhà/ lũ trẻ/ lơ xơ chạy” trong bài thơ “ Chạy giặc”
(Nguyễn Đình Chiểu) xuất hiện ba nhịp. Theo luật đối, câu thứ tư phải đối với
câu thơ này.Nghĩa là trong tính nghiêm ngặt của thể loại,câu thứ tư sẽ tồn tại
ba bước nhịp như câu thơ đứng trước: “Mất ổ/ đàn chim /dáo dác bay”. Như
thế khuôn nhịp giữ vai trò qui định cấu trúc câu thơ và hình ảnh thơ.
Từ phụ và tiếng
đệm khi tham gia lời thơ đều trở thành chỗ ngừng ngắt hơi thơ.
Đại phong khởi hề,vân
phi dương
Uy gia hải nội hề, quy
cố hương
– Đại phong ca- (Lưu Bang)
Hệ thống từ phụ,từ
đệm trong thơ,trong ngâm thơ có thể ví như “các bè đệm phụ hoạ
cho giọng ca” trong âm nhạc. Vì các từ ngữ đó cũng tạo ra tính chất đặc biệt
cho giọng thơ, nhịp thơ vậy.Hiện tượng sử dụng từ phụ, từ đệm, sử dụng các ngữ
khí từ có thể quan sát được trong ca từ thể loại thơ ca trù ở ta.
Cũng cần lưu ý nhịp thơ
không nhất thiết phải phân bố đều và lặp lại có tính chu kỳ theo tính chất hình
tuyến của các đơn vị ngôn ngữ trong dòng thơ. Mỗi nhịp thơ đều có nghĩa. Song
không phải nhịp nào cũng thuộc loại nghĩa bổ sung. Bởi vì trong thao tác lựa
chọn, kết hợp để tạo hình dáng câu thơ, về mặt nào đó đã hình thành một khuôn
nhịp cố định mang nghĩa cơ sở. Xét trong mối quan hệ giữa tác giả và thể loại,
nhịp thơ vừa có tính quy phạm vừa bất qui tắc. Nhịp điệu hình thành khi ngôn
ngữ thơ vận động trong cấu trúc đặc thù của nó. Nhà thơ nắm bắt nhịp điệu sống
của đối tượng và diễn tả chúng dưới dạng nhịp thơ. Nhịp điệu tham gia cấu trúc
thi phẩm. Hội hoạ, kiến trúc, âm nhạc… đều có nhạc tính, có nhịp điệu. Nguyên
lí cấu trúc nhịp điệu của các loại hình nghệ thuật này khác với thơ ca. Có sự
sống, có vận động, phát triển, có ý tình… tất sẽ có nhịp điệu.
Thử đọc bài: “Tụng
giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải:
Đoạt sóc Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan .
Thái bình nghi nỗ lực,
Vạn cổ thử giang san .
Bài thơ có bốn câu, giọng
thơ cất lên hào hùng, đanh thép .Nhịp thơ 2/3 ngắn gọn, dứt khoát, diễn tả khí
thế tiến công chắc mạnh chớp nhoáng, cũng như tinh thần quyết chiến quyết thắng
của quân và dân nhà Trần. Trong hai câu đầu nhịp thứ nhất bao giờ cũng nêu một
sự kiện, một chiến thắng; nhịp thứ hai thuyết minh sự kiện, thuyết phục chúng
ta bằng địa danh cụ thể. Nhịp đầu thể hiện sức mạnh, nhịp sau khẳng định không
gian địa lí mà sức mạnh ấy bộc lộ. Hai tiếng “thái bình” trong câu thơ
thứ ba không chỉ là thành quả cuộc kháng chiến, đó còn là mục đích phấn
đấu và nhiệm vụ giữ gìn của mọi thế hệ. Tóm lại Tụng giá hoàn
kinh sư có nhịp điệu ổn định(2/3).Nhịp điệu này tương ứng với sức mạnh
bất khả chiến bại của quân ta, phù hợp với niềm tin sắt đá vào nền thái bình
muôn thuở của tác giả.
Văn tâm điêu long (Lưu
Hiệp)nói: “văn lấy khí làm chủ”, nghĩa là trong văn lấy tiết tấu, nhạc điệu làm
chính. Nhịp thơ giống như nhịp thở sinh học
của con người. Nhịp thơ thuộc về bản thể nghệ thuật. Nhịp thở thay
đổi khi con người chuyển từ vận động sang nghỉ ngơi hoặc ngược lại.
Tần số và nhịp thở có quan hệ chặt với hệ thần kinh và nhịp tim. Sự biến thiên
của nhịp thở, nhịp tim phản ánh cơ chế giao cảm,điều hoà của tim.Nhịp thơ cũng
đổi thay theo cường độ cảm xúc và dự độ biểu lộ tứ thơ. Nhịp thở của người bình
thường khác với trường hợp bệnh lí, biểu hiện rõ ở khoảng cách giữa các lần hít
vào thở ra. Nhịp điệu của thể loại khác với nhịp điệu ở từng thi phẩm, một đằng
ổn định,một đằng biến điệu theo trường cảm xúc và cá tính sáng tạo. Khoảng cách
giữa các nhịp thơ tạo ra độ dư ngữ nghĩa nhất định. Nhịp thơ kéo dài, chậm rãi
thường biểu hiện tâm hồn thư thái. Nhịp thơ gấp gáp, vội vàng hoặc biểu hiện
khí thế hào sảng, hoặc có liên hệ với thái độ lo âu, hốt hoảng. Nhịp thơ ba chữ
tươi vui trong trẻo. Nhịp thơ sáu tám thiết tha, xúc cảm kéo dài miên man, phù
hợp với việc diễn tả cảm xúc thương nhớ xa xăm. Xét hai câu thơ sau
đây:
“Bác Dương thôi đã thôi
rồi
Nước mây man mác ngậm
ngùi lòng ta”
-Khóc Dương Khuê-
Câu thơ đầu có nhịp điệu
2-1- 3.Cấu trúc nhịp lẻ, rời rạc như vậy thích hợp với việc diễn tả sự ra đi
đột ngột của con người. Hai tiếng “Bác Dương” tạo thành một nhịp,
tựa như một lời thốt lên bàng hoàng, đau đớn của nhà thơ. Đây là tiếng gọi bạn
trong niềm xúc động thành kính. Từ “thôi” đứng một mình tạo thành
nhịp thứ hai. Đấy là tiếng nấc nghẹn khi chủ thể trữ tình gọi bạn. Nhịp thứ
nhất gọi về hình ảnh bạn, đến nhịp hai hình ảnh ấy vụt đi, cảm thức cô đơn bắt
đầu hiện hữu. Nhịp thứ ba bắt đầu bằng từ “đã ”nhấn mạnh thêm sự xa
cách về thời gian của Nguyễn Khuyến với bạn. Dẫu tha thiết muốn gặp nhưng nhà
thơ không thể thay đổi được thực tế bạn mất. Câu thứ hai ngắt nhịp cân đối, vừa
biểu đạt trạng thái tâm hồn con người, vừa gợi ra sự trống vắng của
thiên nhiên đất trời. Nhịp thứ nhất hình tượng hoá không gian bên ngoài, nhịp
thứ hai cụ thể hoá không gian nội tâm…
Câu thơ dài ngắn, nhịp thơ
nhanh – chập phụ thuộc vào “hơi thở”, điệu hồn của người sáng tạo. Thơ là
tình cảm, khí chất của con người. Tình cảm tự tìm cho mình hình thức phù
hợp, “khí” lấy nhịp thơ làm sự vận động. Nhịp thơ ra đời cùng một lúc với ngữ
điệu, giọng điệu. Giọng điệu, ngữ điệu thế nào thì nhịp thơ thế ấy. Không phải
ngẫu nhiên khi giọng điệu chậm rãi, buồn bã thì nhịp thơ rời rạc; khi giọng
điệu hào hùng thì nhịp thơ gọn chắc.
Mọi cấu trúc nhịp thơ
đều có sự thống nhất nội tại. Nhịp thơ và bản thân cấu trúc đối tượng kết thành
thực thể duy nhất, không thể tách rời nhau .Thay đổi nhịp thơ đồng nghĩa thay
đổi cấu trúc đối tượng, thay đổi hơi thơ .Nhịp thơ giống như một loại “bút vẽ”
đối tượng thẩm mỹ. Bút vẽ ấy chỉ dựng khung, và người đọc thông qua trường liên
tưởng, tưởng tượng của mình lấp đầy chỗ trống ấy .
Ví dụ khác:
Câu thơ/ nghĩ đắn đo /
không viết
Viết đưa ai /,ai biết/ mà
đưa
Sự biến đổi của nhịp
thơ (2/3/2->3/2/2) diễn tả được rất tinh tế sắc thái tâm trạng của nhân vật
trữ tình. Hai từ “câu thơ” cất lên bộc lộ tâm trạng xao xuyến của tác giả khi
nhớ tới kỉ niệm bàn soạn câu văn với bạn. Từ “đắn đo” xuất hiện lúc này thật
hợp tình, hợp cảnh. Từ “ai” trong nhịp thứ nhất hàm ý hỏi. Thi nhân
khát khao có người bầu bạn, thấu hiểu tâm hồn mình. Bề ngoài từ “ai” mang
theo một chút hy vọng mong manh, nhưng dấu phẩy liền sau chứng tỏ tác giả
đã gác bút trước thực tế “ai biết mà đưa”. Như thế, có một tâm trạng hiện hữu
sau nhịp thứ hai- tâm trạng thất vọng, ngậm ngùi. Câu thơ thứ hai vọng
lại tiếng thở dài tê buốt. Nói “văn lấy khí làm chủ” là vậy.
Ở thơ cổ điển, số âm
tiết trong mỗi dòng đều nhau, vì thế nhịp thơ ổn định. Thơ mới phá vỡ nguyên
tắc tạo nhịp của thơ cổ điển, khước từ quan niệm phân đôi thế giới của người
xưa,hơn nữa sử dụng nhiều kiểu câu, nên nhịp thơ linh hoạt, biến hoá da dạng.
Từ những câu thơ vô nhân xưng (thơ trung đại) đến câu thơ nhấn mạnh chủ ngữ
(thơ hiện đại) có thể xem như bước chuyển lớn về phân bố nhịp điệu. Khi nhà thơ
ý thức về cá tính, đề cao tính chất cá nhân trong cảm thụ, miêu tả thế giới thì
lập tức xuất hiện dòng thơ mang nhịp lẻ
Hiện tượng đảo ngữ, “viết
sai ngữ pháp” đều ảnh hưởng đến cơ cấu nhịp điệu. Nhịp thơ chịu sự qui định của
hệ thống kiểu câu. Sự đa dạng của kiểu câu qui định chỗ ngắt giọng,
tạo ra sự phong phú về chất nhạc bên trong của câu thơ. Ví dụ câu thơ biền ngẫu
sẽ tạo ra kiểu nhịp điệu riêng (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bình Ngô
đại cáo…).Thơ điệu nói, điệu ngâm khác nhau trong việc qui định cao độ cho
các thanh, tức tạo ra cấu trúc câu có điểm nhấn giọng xác định và theo đó
qui định luôn nhịp thơ. Thơ điệu ngâm khuôn nhịp thường kéo dài. Thơ điệu nói
khuôn nhịp co dãn tự do. Đối với câu ghép, mỗi vế tương đương với một đơn vị
nhịp. Đối với câu thơ vắt dòng thì sự ngừng nhịp thường xảy ra với tần số lớn:
“ Hôm nay /
tôi đã chết trong người/
Xưa/ hẹn nghìn
năm/ yêu mến tôi .
(Xuân Diệu)
Nhịp thơ tạo ra lượng
ý nghĩa bổ sung khá lớn so với nghĩa từ vựng. Nhịp thơ thể hiện kĩ thuật tổ
chức các đơn vị ngôn ngữ của nhà thơ. Nhịp thơ tạo ra sức vang vọng về âm điệu
và ngữ nghĩa. Tính có nhịp điệu chính là một tiêu chí để phân biệt lời thơ
với ngôn ngữ văn xuôi, cho thấy sự gần gũi giữa nó với âm nhạc. Sự đa
dạng của nhịp thơ giống như sự đa dạng của giai điệu. Các thanh điệu cao
thấp,các âm luyến láy được biểu hiện qua các bước đi của giai điệu, nhịp điệu.
Ngâm thơ,hát thơ, “trình diễn thơ” về bản chất: khai thác tính trầm bổng của
tiết tấu thơ. Bất kì một nhịp thơ nào, trên phương diện hình thức, cũng gợi cho
ta cảm giác về tính không liên tục của chuỗi ngôn ngữ. Nhưng về mặt nội dung,
nhịp thơ bao giờ cũng có tính thống nhất bên trong.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét