Trèo lên cây
bưởi hái hoa
Bước xuống vườn
cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở
ra xanh biếc
Em có chồng anh
tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ
trầu cay
Sao anh không
hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có
chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
Bài ca dao
này đã được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh hình
tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không
muốn nhắc lại làm gì. Tôi chỉ xin lưu ý đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ
như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người
con gái.
Bài ca dao
được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của
người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Những
lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai
đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có gì khó hiểu cả: người con
trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một
nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quíu trèo
lên, trèo xuống để làm gì vậy? Thật ra, có gì lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao
khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quíu như thế:
“Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên
vai...”. Sự loăng quăng líu quíu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm
trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không còn tự chủ
được mình nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh
chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.
Ngắm nụ hoa
tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: “Em có chồng rồi, anh tiếc lắm
thay.” Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan
hệ gì giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm
tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần ‘iếc’ trong chữ
‘biếc’ cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại.
Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó hình tượng hoá
một sự mất mát, một cái gì vuột khỏi tầm tay.
Người con gái
chắc cũng yêu bạn mình. Chị đã từng chờ đợi. Hoài công vì sự nhút nhát của anh.
Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: “ba đồng... một mớ....”. Sở dĩ
đay nghiến là vì còn yêu, còn thương. Nhưng dẫu sao thì cũng đã lỡ: chị đã có
chồng. Người con gái ý thức rất rõ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại:
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng...
Vần hai câu thơ rơi vào âm ‘ông’ sang sảng, ngân vang. Mạnh,
rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối
chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đã trầm xuống, thổn thức:
....Như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra.
‘Câu’, ‘đâu’, ‘gỡ’, ‘thuở’: những chữ kết thúc bằng nguyên âm
‘u’ và ‘ơ’, nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng
khóc.
Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.
Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao
chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu
chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó...
Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:
Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt
đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao
này được làm theo thể lục bát. Bình thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm
trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là
thơ lục bát, nhưng thay vì mở đầu bằng một câu lục thì nó lại mở đầu bằng một
câu bát phá thể. Hệ quả là gì? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra.
Dài và thiết tha vô hạn: tấm lòng của anh thanh niên mở ra bao la với những
nguyên âm ‘o’ và nguyên âm ‘a’ rộng rãi và khép lại ở nguyên âm ‘i’ thầm thì
trong chữ ‘mình’, một chữ được dùng để gọi người yêu, lặp lại đến hai lần ở câu
thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đã có một nghịch lý: ý câu thơ là
tố cáo một sự dối trá (‘Mình nói dối ta...’) mà giọng thơ thì lại rất mực ngọt
ngào và ấm áp: anh thanh niên biết mình bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa,
sung sướng để chịu bị lừa.
Hay nhất trong bài ca dao vẫn là chữ ‘mình’. ‘Mình’ là cách
xưng hô đầy âu yếm để gọi người mình yêu. Chữ ‘mình’ ấy lại lặp đến lại năm lần,
mang hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, ‘mình’ là em, chỉ người con
gái, ngôi thứ hai số ít: ‘con mình’ là con của em, là ‘your child’. Đến lần thứ
năm, cũng là ‘mình’, nhưng ‘mình’ ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số
nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: ‘con mình’ ở câu cuối là
‘our child’. Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của
mình.
Bài thơ mở đầu bằng chữ ‘mình’, kết thức cũng bằng chữ
‘mình’. Từ chữ ‘mình’ đầu bài đến chữ ‘mình’ cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ
mà thực ra là cả một quá trình chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai
và người con gái, là lịch sử của một mối tình vừa ngang trái lại vừa cảm động.
Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người tình ngay cả khi
bị chị đánh lừa.
Cuối cùng, vì lặp đi lặp lại nhiều lần từ ‘mình’, chứa đựng
nhiều âm ‘m’ vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy
giọng tâm tình. Như một lời thủ thỉ, thầm thì. Hiếm có bài ca dao nào của Việt
Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.
Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.
Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những
lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười
chơi, vậy thôi. Trong ý nghĩa ấy, bài ca dao được nhìn nhận như một cái gì khá
tục và khá nhảm.
Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay.
Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?
Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ
nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục
là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết
bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đã hay.
Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ
bạo để bạo, chỉ mới vì mới mà còn là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần
hiện thực hơn. Chúng ta hãy nhớ lại xã hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng
như là Thúy Kiều và Kim Trọng, cũng là “người quốc sắc, kẻ thiên tài”, là “trai
anh hùng, gái thuyền quyên” cả. Trong xã hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn,
đại đa số các cặp tình nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi
làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của
họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có gì lạ khi họ tự ví:
Em như cục cứt ...
Anh như con chó ...
Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của hình tượng ở đây lại là những
cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo
trong văn chương bác học. Nó vứt bỏ những son phấn những mũ mão đai hia để làm
hiện hình những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.
Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp tình nhân tự biết
thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra gì. Em không ra gì. Mà anh
thì cũng chẳng ra gì. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ
trong truyện ‘Chí Phèo’, Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả
mọi cặp tình nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất
hạnh khác, khi yêu nhau, thì cũng yêu nhau như tất cả những con người bình thường
hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện tình yêu có thể khác nhau nhưng những
rung cảm những những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong lòng thì
chắc chắn là không có gì khác nhau cả.
Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm ‘k’ (‘cục cứt’)
mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm
‘ch’ (‘chó chạy’) mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế,
không phải chỉ tả mối tình giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví mình với những
gì hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ
câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của mình, mặc dù họ hoàn
toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần
nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt
được em, vẫn ở từ xa mà nhìn em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một
khoảng cách vời vợi. Không cùng.
Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có
vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ý nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số
phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh
trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét