Lời nói đầu
Vào khoảng năm 1934, ở bãi Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa phía Bắc
Trung Kỳ, nhà nước có khám phá được một kho vàng chìm đắm dưới đáy bể.
Khi tài sản nghiệp lớn ấy lên mặt đất, người ta thấy có mấy
trăm thỏi vừa vàng vừa bạc, hình chữ nhật dài độ non gang, trên thỏi nào cũng
có khắc chữ (Đức). Lại thấy rất nhiều tiền Cảnh Hưng và các thứ tiền Tầu, từ đời
Vạn Lịch (Minh Thần Tôn) cho đến đời Càn Long (Thanh Cao Tôn).
Thiên hạ nhao nhao bàn tán về gốc tích kho vàng ấy nhưng
không ai biết rõ nguồn rễ nó từ đâu. Có kẻ bảo đó là vàng của hai anh em vua
Thái Đức nhà Tây Sơn lấy ở các kho trong thành Thăng Long rồi cho tải đi, trong
khi kéo quân ở Bắc Hà về Nam. Vẫn biết rằng Nguyễn Nhạc lúc ở Thăng long về, có
sai người lấy hết cả kho tàng nhà Lê đem đi; nhưng đoàn quân của Nhạc và Huệ
lúc ấy có mấy vạn hùng binh, có voi ngựa xe pháo, tất họ phải chuyển về bằng đường
bộ, bên mình họ cho chắc chắn; có lẽ nào lại dùng thuyền đi đường bể để đến nổi
bị đắm ở Sầm Sơn?
Xét trong lịch sử, khối vàng bạc kia ắt phải thuộc về đời
Lê-mạt. Nếu trong thời Lê quí, sản nghiệp đó không phải của hai anh em Tây Sơn
thì chỉ còn là của Hữu quân Đô Đốc Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh bị Nguyễn Nhạc theo
lời gièm pha của rể là Võ Văn Nhậm, bỏ một mình ở lại Bắc Hà, nên ngày hôm sau
sợ búa cho cả của cải lên thuyền, chạy theo về Nghệ. Chỉnh là người có mưu trí,
không bao giờ đem vàng bạc ở bên người phần sợ thuyền nặng khó đi nhanh, phần sợ
bị cướp hại đến tính mạng. Thế tất Chỉnh phải giao tài sản cho con trông coi hộ,
mình thì cưỡi thuyền nhẹ theo Nhạc về cho mau.
Cứ xem như thế, kho vàng kia tất là của Nguyễn Hữu Chỉnh. Dựa
vào lời phỏng đoán có nhiều phần đúng sự thực ấy, tôi viết bộ truyện ly kỳ này,
một là để tưởng nhớ lại một thời oanh liệt đã qua, hai là để hiến các bạn một
thể truyện lịch sử mới.
Câu chuyện này hoàn toàn là một truyện dã sử, nhưng nó có
liên lạc rất mật thiết với chính sử nước nhà. Có lắm đoạn, tôi phải chép gần
đúng văn của ông Trần Trọng Kim, nhà làm sử cương trực và uyên bác đã soạn ra bộ
"Việt Nam Sử lược".
Những vật liệu tôi góp nhặt để xây đắp câu chuyện "kho
vàng" này, nó không đúng hẳn với các việc chép trong chính sử đâu: song
le, dùng nó đúng hay không đúng tôi cũng không quản ngại; tôi chỉ muốn dựa vào
lịch sử để tạo ra một tiểu thuyết, có phải muốn dùng tiểu thuyết ấy để làm sống
một thời lịch sử đâu?
Các bạn đọc truyện này, hãy nên lượng cho tôi chỗ đó. Cái cốt
truyện hay, giải bằng một thể văn không tẻ, đó là sở nguyện của tôi. Nếu bạn
cho là tôi đã đạt được mục đích ấy, tôi tự lấy làm sung sướng lắm rồi. Một nhà
văn còn đâu dám tự phụ mình cũng là một sử gia uyên bác?
Ngày mùng hai tháng tư năm Bính Dần.
PHẦN 1
Bãi Sầm Sơn làm một hòn ngọc châu đặt trong địa giới một tỉnh
đã làm trường thí nghiệm cho muôn ngàn cuộc hưng vong ghi chép trong lịch sử.
Một con đường đá trắng, một bãi cát mênh mông, hai dẫy phi
lao đêm ngày vi vút dưới ngọn gió biển ào ào, một tấm thảm kim cương lóng lánh
chiếu ánh nắng buổi tà dương... với ai đã biết Sầm Sơn, cảnh rực rỡ tươi vui của
bờ bể kia tất đã để lại cho một kỷ niệm sâu xa, mà ngọn sóng quên của thời gian
khó lòng chìm lấp đi được.
Nhưng...
Nếu ngày nay chốn mỹ nhân ra nghỉ mát nó êm dịu đẹp đẽ, trước
đây một vài thế kỷ, nó đã là một chốn điêu linh thảm khốc, nó đã thấy trong mờ
sương bóng tối xiết bao tấn bi kịch hãi hùng. Bãi Sầm Sơn, chốn nghỉ chân của
phường giặc Tàu Ô độc ác, tụ họp của lũ mẹ mìn ranh mãnh, bãi Sầm Sơn, cũng như
Đồ Sơn đã làm mồ cho Bà Đề, chứa trong làn nước thẳm không thiếu gì liệt nữ vô
danh, không thiếu gì thuyền buôn bị bão hay bị cướp.
Trong muôn nghìn dẫy thuyền buôn bị đắm đó, một thuyền có chứa
một kho vàng.
Kho vàng ấy hiện đã được tải ra ngoài mặt nước.
Câu chuyện kho vàng, giờ đây tôi muốn ngả nó lên mặt giấy, hiến
cho các anh em chị em một món quà dĩ vãng thiêng liêng. Mà cũng mới biết rõ
chuyện kho vàng, tôi đã bị lao tâm, tổn lực, đã có len lỏi trong một lớp sóng
người cũng như tôi, chạy theo vết bạc, cố tiến đi, đi mãi, đi tìm dấu vết của Đồng
tiền Vạn Lịch chữ vàng.
Vì đồng tiền đó tức là chìa khoá mở cửa cho tôi thấy đường lối
vào đời triệu phú.
Vì đồng tiền đó là đạo bùa giúp cho khách hữu duyên làm chủ một
gia sản vô giá bị lấp chìm trong đáy nước Sầm Sơn.
Cái ngày tôi đi tìm đồng tiền Vạn Lịch, riêng đối với tôi nó
nhuộm nhiều vẻ lạ kỳ, huyền bí. Nó chứa chan, không đếm xiết được những kỷ niệm
êm đềm mà rùng rợn, không tài nào quên được vẻ đẹp lộng lẫy của hoàn cảnh, tựa
như đóa hoa tươi đua sắc trên cụm lá um tùm xanh biếc, và nhất là vẻ bí mật của
những khuôn mặt tôi thấy này hôm đó, những khuôn mặt kín đáo, hoài nghi, trái
ngược hẳn với cái vui vẻ nồng nàn của một nơi phồn hoa tấp nập.
Độ ấy vào khoảng mùa hè năm 1933.
Tôi nhân được nghỉ ba tháng hè, vội thu xếp ra Sầm Sơn hứng
gió bể và dưỡng sức. Vừa chân ướt chân ráo bước lên mặt cát vùng hải ngoại, tôi
đã bị ngay một phen kham khổ, bực mình. Các khách sạn đều chật ních những công
tử, vương tôn, tôi phải dằn lòng trú ngụ trong lều tranh của một gia đình chài
lưới. Nhưng cũng nhờ sự rủi ro vô lý ấy mà, giữa quãng đêm trường tịch mịch,
trong một bầu trời sôi nổi những mưa cùng gió, dưới mái lều của ông già đánh
cá, tôi được quen một người bạn trẻ phi thường; một người bạn mà hình ảnh sau
này tôi khắc mãi tận đáy gầm ký ức.
Anh chàng đó có một khổ mặt rắn rỏi lạ thường, hai con mắt
sáng như đèn, một cái trán bướng bỉnh gồ ra, với một cái cằm vuông quả quyết. Một
sống mũi thẳng dọc dừa trên hai làn môi mỏng, đỏ thắm, làm khuôn cho một cái mồm
rộng, mỗi khi cười gần sát tới mang tai. Một làn tóc dài và đen nháy càng làm
tăng màu da trắng mịn; hắn thoạt trông thì ra vẻ thư sinh yếu ớt, mà trông lâu
mới biết có hàm súc rất nhiều khí khái quật cường.
Cũng vì sự tình cờ đó, tôi được biết khuôn khổ đồng tiền Vạn
Lịch. Nó là một đồng tiền vàng dầy cũng có khía như đồng bạc hoa xòe ngày nay,
nhưng giữa có lỗ vuông và bề to bằng miệng một cái chén tống. Trên dưới đều có
dùi lỗ con để buộc tua và làm dây đỏ quàng cổ. Ai đã trông thấy một chiếc ngân
tiền hay kim tiền của vua thủa xưa ban cho các quan, người ấy sẽ rõ đồng tiền Vạn
Lịch nó như thế nào. Nó chỉ khác những đồng kim tiền của ta ở chỗ vành rìa nó
to hơn và trên mặt nó một bên thì chạm rồng, một bên thì có bốn chữ rõ rệt:
"Vạn Lịch thông bảo".
Anh chàng lạ mặt đến bờ bể sau tôi độ hai ba tiếng đồng hồ.
Cũng bị cảnh thiếu chỗ ở như tôi, chàng phải đi một quãng xa tìm vào làng chài,
xin trọ cùng tôi trong một túp lều xiêu vẹo.
Tối hôm ấy, gió bỗng nổi lên, quay cuồng trong vũ trụ, làm
cho nước kêu sóng réo ầm ầm. Rồi mưa trút xuống ào ào, đập chan chát vào cụm lá
cành cây, nghe buồn rầu thảm đạm.
Quen lối "sách đèn, đao kiếm", tôi mở va ly lấy ra
một bộ khay đèn. Xin mô mảnh chiếu rách, tôi tìm một chỗ ấm cúng nhất trong lều,
điềm tỉnh ngả bàn thờ Phù Dung nằm hút. Chàng thiếu niên lạ mặt, thấy hay hay,
cũng cởi áo lại nằm trước mặt tôi, bắt chuyện. Tôi nghiêng dọc tẩu mời chàng đến
năm sáu lượt, chàng đều khiêm tốn chối từ. Mãi sau cùng, khi đêm đã quá khuya,
khi hoàn cảnh bao bọc chúng tôi đã đã nhuộm một màu quá thê lương, buồn tẻ, bấy
giờ chàng mới chịu bắt môi vào đầu dọc, lim dim nằm hút. Mừng được người bạn mới,
tôi cố ép chàng hút mãi, chàng quen mùi, cứ điếu anh điếu chú, kéo hoài. Kéo đến
nỗi say không trở được mình, phải nằm yên trầm tỉnh để mặc ả Phù Dung xoa vuốt
một cách huyền ảo, tê mê, hết cả các tia gân, thớ thịt. Rồi cả một đêm hôm đó
chàng không sao ngủ được. Thì ra chàng nếm mùi thuốc phiện lần đầu!
Khi mới nằm xuống khai đèn, thiếu niên có móc túi lấy ra một
cái hộp gỗ vuông con, đặt ngay trước mặt. Chàng mở hộp đem ra ánh sáng đèn dầu
lạc một đồng tiền vàng xinh xắn, ngắm đi ngắm lại lâu lắm, rồi đặt trên mặt hộp,
nằm nhìn. Tôi thấy lạ, cứ chú ý ngắm những bộ điệu của chàng và đồng tiền vàng
nằm tròn xoe trong khay khảm.
Thấy tôi ra vẻ tò mò, nhìn đồng tiền không chớp, người trẻ tuổi
ấy bỗng nhích mép cười mà tôi cho là mỉa mai hay kiêu hãnh, rồi bỗng nghiêm nghị,
hờ hững, nhặt lấy đồng tiền bỏ vào hộp, lại cầm cái hộp cho vào túi áo. Tôi tuy
lấy làm lạ vì những cử chỉ ấy, nhưng không được phép hỏi mà cũng không dám hỏi,
đành ngậm miệng làm thinh, tìm những đầu đề bâng quơ nói chuyện với ông bạn kỳ
dị kia cho đêm suông ở một chỗ xa lạ vắng buồn không đến nỗi tẻ trơ vì im lặng.
Cái đêm suông đó, may sao, lại là một đêm mưa rầm gió bấc,
thành ra trong căn nhà tranh thấp hẹp của ông già chài lưới, cả đêm chúng tôi
được nghe tiếng rít của ngọn gió lùa vào khe đá, được nghe hơi thở mạnh mẽ của
làn nước tung lên hạ xuống và giọng rền rĩ âm thầm của mấy dẫy phi lao xào xạc
suốt canh trường. Nếu không có ả Phù Dung làm bạn với hai chúng tôi, có nhẽ tôi
buồn đến chết. Mà cũng bởi mãnh lực thiêng liêng của chất nhựa nâu nâu và dẻo
quạnh, cũng bởi hoàn cảnh bao bọc chúng tôi như rủ rê kẻ yếu linh hồn mở phanh
tâm sự mình ra cho nên, may thực là may, tôi không mất chút công nào, bỗng được
lim dim đôi mắt, thưởng thức một câu chuyện vô song, tuyệt diệu, một chuyện ái
tình não ruột, lâm ly.
Rồi cũng bởi kết cục dị kỳ của chuyện lạ lùng tôi được biết,
nên tôi mới lao tâm, tổn lực, cố len lỏi trong một lớp sóng người hoài nghi,
nghiêm nghị, cố tiến đi, đi mãi, đi tìm dấu vết của kho vàng chìm lấp trong làn
nước bãi Sầm Sơn. Kho vàng ấy, số tôi không được hưởng: nhà nước, một năm sau
khi tôi bó tay chịu thua thiên mệnh, đã khai lên tải vào công khố mất rồi!
Không được hạnh phúc trở nên một nhà triệu phú, tôi đã được
hân hạnh biết nguồn gốc của sản nghiệp to lớn đó, một sản nghiệp cách đây độ
150 năm, đã vì ái tình mà bị chìm đắm vào lòng bể thẳm.
Sản nghiệp đó, ngày nay, lại vì ái tình mà hoá ra vô chủ.
Ái tình có cần đâu đến những kho vàng?...
PHẦN 2
Độ ấy vào khoảng mùa thu năm Bính Ngọ (1786).
Mùa thu ngoài xứ Bắc nó thường nhuộm vẻ tiêu sơ ảm đạm da trời
một mầu vàng xạm, những tầu ba tiêu xơ xác vẽ lên nền u ám của buổi chiều tà
hình ảnh sự buồn rầu.
Trong một hoàn cảnh lạnh lẽo, đìu hiu, giữa vẻ im lặng nặng nề
mà bóng tịch dương phủ lên sự vật, một đoàn kỵ mã làm náo loạn hẳn giấc ngủ
thiu thiu của chốn đế đô nghiêm cấm, vừa mới tạm được êm tĩnh sau bao cơn binh
lửa điêu tàn. Vó chiến mã gót tinh binh, làm cho mù trời, bụi cuốn; tiếng nhạc
xen với tiếng trống khải khoàn ầm ỹ, át hẳn tiếng sênh tiền dập dềnh theo điệu
trúc tơ.
Đến trước cửa Nam, loa nổi hiệu gọi trong thành mở ải. Hai tấm
cửa lim bấy giờ từ từ quay trên bánh gỗ, đón mời đoàn binh mã vào thành. Vượt
qua cầu vòng, năm ngàn quân Tây Sơn, hùng hổ, tiến vào kinh đô đất Bắc.
Đi đầu, một võ quan mặc nhung phục, cầm loa đồng hô lệnh cho
ba quân đi đứng, và báo trước cho dân gian trong thành được biết có quan Tiết
chế, Bình Bắc Thượng tướng quân, ra Bắc Hà dẹp loạn giúp bản triều. Tiếp theo
sau, dàn hai bên đường, một ngàn quân sĩ, nón sơn áo nẹp, sắp hàng tư đều răm rắp,
hăng hái mãnh liệt tiến lên, bước theo nhịp trống khải hoàn vang động một góc
trời. Năm trăm quân đi đầu đều cầm mỗi đứa một lá cờ ngũ hành có giải bay phấp
phới; năm dẫy tinh kỳ xan xát lấp không trung xếp thành năm hàng tề chỉnh, mỗi
hàng một sắc đặc biệt, lấy bốn màu trắng xanh đen đỏ chỉ bốn phương Đông Tây
Nam Bắc, còn mầu vàng thì dùng làm hiệu Trung ương.
Theo hàng kỵ sĩ là một tốp quân tám đứa, mặc áo đỏ nẹp xanh,
trịnh trọng khiêng trên vai một cái giá vuông, có đòn sơn son thếp vàng, trông
tựa hồ một cái kiệu nhỏ không mui; trên giá cắm một cái cột gỗ lớn, bề rộng độ
một gang, sơn đỏ chói, cao đến hơn hai trượng, ngất nga ngất ngưởng thẳng vút
lên trời. Lưng chừng cột trụ đặt một tấm gỗ tròn sơn vàng, bốn bên có dây chão
vững bền buộc chặt chẽ với bốn góc giá. Trên đầu cột lại trạm một cái mũi nhọn
trông như đầu một lưỡi sang, nhưng tròn. Quãng giữa đầu cột và tấm gỗ tròn, một
cán cờ nằm hơi chênh chếch, chuôi cán có dây buộc vào ván gỗ, đầu cán thì cắm một
lá cờ vuông bằng vóc vàng, viền lụa hồng, ngù kim tuyến, giải nhiễu lam, trên
thêu sáu chữ vàng chói lọi: "Bình Bắc Thượng tướng quân Nguyễn". Đó
là lá cờ súy.
Đi sau cờ súy là một đội quân năm trăm tên, lưng đeo gươm,
vai vác mộc, tay cầm giáo trường sáng loáng chĩa lên trời. Rồi đến một cặp voi
nặng nề mà rực rỡ, đủng đỉnh vừa vẫy đuôi vừa tiến theo lệnh hai viên quản tượng
cầm búa cưỡi trên đầu. Đôi vật chiến ấy cùng trang sức giống nhau: con nào cũng
phủ bành vóc đỏ viền xanh, có tua dải phất phơ rủ xuống, lại có khấu tiền khấu
hậu nạm vàng bạc và thủy tinh lóng lánh. Trên bành, một cỗ lầu son bọc lụa vàng
đặt ngang lưng voi như một cái kiệu hoa thấp, và vững chãi. Cỗ lầu ấy giống một
cái ghế rộng rãi, chỗ ngồi có gối thêu, chỗ dựa lưng, dựa tay có gấm phủ, trông
rất gọn gàng hoa mỹ. Chính giữa lầu, mé sau, một cái tàn hồng nhô lên để che chẳn
cho tướng ngồi trên mình voi; hai bên chiếc tàn, hai lá cờ đuôi nheo ngắn cán
chĩa ra ngoài, tuôn bay theo chiều gió thổi. Trên lầu son ngồi hai viên tướng:
một viên trông đã già nhưng còn quắc thước, mặc bào xanh giáp bạc gác ngang vai
một thanh Yển Nguyệt long đao; một viên, trái lại, trông trẻ như măng non, đẹp
như con gái, mình vận bào trắng, vai mang giáp mây đội mũ đâu mâu chỏm bạc, cầm
ngang một thanh bảo kiếm "Lư hoàng". Viên tướng trẻ đó rất tuấn tú
khôi ngô, nước da trắng nuột, hình hài nhỏ nhắn, đều đặn, bàn tay mềm mại như
tay đàn bà; gia dĩ cặp mắt phượng đen nháy lại say sưa gợn ra những tia sáng nồng
nàn, làn môi tươi đỏ như son lại toả ra những nụ cười đắm đuối khiến ai thoạt
nhìn qua vị thiếu niên anh kiệt đó, cũng phải bảo chàng là một giai nhân cải
trang đi tòng chinh, hay một nữ tướng giả trai chen vào đám quân sĩ để theo chồng.
Thực vậy, tướng trẻ tuổi đó quả là khuê môn nhi nữ, nhưng
nàng mặc nhung phục nam tử chẳng phải để đi theo chồng; nàng chỉ nhân dịp có
binh tướng ra Bắc Hà thì cũng xông pha cho biết đó, biết đây, nàng len lỏi
trong mũi tên hòn đạn mà vẫn được che chở chiều chuộng như một vị công chúa. Bởi
lẽ không là công chúa, nàng cũng là Quận chúa . Ông chú ngoại nàng là Tiết Chế
Thượng tướng quân Nguyễn Huệ, mà cha nàng là Tả Đô Đốc Võ Văn Nhậm, rể vua Thái
Đức nhà Tây Sơn.
Nàng tức là Võ Anh Trinh quận chúa. Còn viên tướng già đi cạnh
nàng là tiên phong lão hổ Trần Quang Riệu người đã có công theo Bình Bắc Thượng
tướng quân dẹp tan lũ Đinh Tích Nhưỡng, Bùi Thế Dận và Trịnh Tự Quyền, hạ được
thành Sơn Nam, để kéo đến Thăng Long.
Tiếp theo cặp voi của Quang Riệu và quận chúa Anh Trinh, một
đoàn giáp sĩ, hai mươi tên, đi hộ vệ cho quận chúa. Bọn giáp sĩ cùng mang gươm
trần và hèo trượng, trông rất oai nghiêm tề chỉnh, sắp thành năm hàng, chia ra
hai toán đi dàn hai bên đường.
Bây giờ mới đến lượt đội quân âm nhạc. Đi trước, tăng thêm vẻ
long trọng của cuộc hành trình, hai tên quân cầm trống tiểu cổ, cứ mỗi bước lại
điểm một tiếng "tong tong", xen lẫn vào tiếng nạo bạt mà một tên quân
vừa đánh vừa nhẩy múa như một anh kép hát. Cũng nhảy múa như tên quân cầm nạo bạt,
một lũ tám tên lính, áo xanh thắt lưng đỏ, dịp dàng vừa tiến vừa gõ sênh tiền,
hoà với tiếng trúc tơ mà phường bát âm nhã nhạc phía sau làm vang lừng tứ phía.
Thôi thì nào kèn, nào nhị, nào đàn, một khúc hùng hồn giục lòng hăng hái của ba
quân, phấn khởi tinh thần của quần chúng, khiến ai ai cũng thấy mình cường
tráng, vui cười dõng dạc bước đều nhau, sắp thành hàng ngũ rất uy nghi nghiêm
chỉnh.
Càng làm cho binh tướng tự cường, tự khởi, mà thỉnh thoảng điểm
vào điệu trúc tơ êm ái một nét mạnh mẽ oai hùng, là những tiếng mã la inh ỏi, hợp
với tiếng trống cái ầm ầm, tiếng khánh ngọc sang sảng của hậu đội gióng lên từng
quãng một.
Nối gót phường đàn sáo, dàn một lớp hơn trăm binh vác cờ
thêu, tàn, quạt, cùng mọi thứ binh khí trong thập bát ban. Gươm trần tuốt sáng
ngời, giáo mác dựng tua tủa, tàn tán biển quạt đỏ ối trời; những phướn, những
giải, những tua, những ngù, đủ mọi sắc rực rỡ, đủ mọi mầu choáng mắt, tất cả
các khí giới bóng lộn, các tinh kỳ phất phơ, bao nhiêu những khí cụ có trộn lộn
vẻ huê mỹ với năm ngàn bộ áo hung hung đỏ của quân sĩ, với làn da trời tẻ xám,
để tạo thành một cảnh vật nửa oai vệ, nửa buồn rầu mà dịp trống dịp kèn càng
làm cho thêm tôn nghiêm, dữ dội.
Gióng dây cương lỏng lẻo, song song thúc ngựa đi sau lớp cờ
quạt, tàn biển, một đoàn tùy tướng, đủ các tuổi, ăn mặc xuýt xoát giống nhau,
thong thả mở lối cho một đội quân "Hổ oai" đi trước hộ vệ quan chủ
soái. Đoàn tùy tướng có mười người, cùng đội mũ đâu mâu chỏm bạc, ngù đỏ, cùng
mặc giáp đồng, thắt đai gấm, đi võ hài, cùng mang mỗi người một chiếc nõ quàng
vai, một túi tên ngang lưng, cùng giơ gươm trường chỉa thẳng lên trời rất là trịnh
trọng. Họ chỉ khác nhau ở chỗ ngựa không cùng sắc, bào không cùng mầu, tuổi
không cùng trẻ nhưng ai nấy đều ngồi ngay thẳng trên mình chiến mã, đều có vẻ
nghiêm nghị, đường đường, trông càng lẫm liệt.
Đoàn kiện nhi hộ vệ đi sau họ là một lũ mãnh hổ cứng cáp, rắn
rỏi, nét mặt gân guốc, con mắt sáng ngời, cùng mặc áo trần ngực, đội mũ
"xì mẩu", lưng đeo mã tấu, tay cầm thước khảm, sắp thành mười hàng
tư, hiên ngang tự đắc tiến đều răm rắp vào thành, như muốn tỏ mình là hạng người
có giá trị đang thị oai cùng lũ binh non yếu, nhát gan và vô dụng của họ Trịnh
xứ Bắc Hà.
Bây giờ mới đến lượt Trung quân đại tướng. Trên mình hai con
bảo câu sắc tía, cùng sóng ngang nhau, đạo mạo, một bên là Tả quân Đô đốc Võ
Văn Nhậm, phò mã rể vua Tây Sơn, một bên là Hữu quân Đố đốc Nguyễn Hữu Chỉnh. Tả
quân mặc áo vóc đại hồng, thắt đai gấm tía, đeo gươm "Thanh xương",
đi giầy mũi phượng; Hữu quân, áo bào mầu nguyệt bạch, nịt lưng bằng nhiễu Hồng
đô sắc lam, mang võ hài bằng nhung thêu chỉ bạc cắp ngang một thanh siêu đao
"Cổ đỉnh". Cả đôi cùng theo lối nhung phục, mặc quần chẽn ống, bó sát
vào cổ chân, lại cùng quấn một vành khăn đầu rìu bằng nhiễu Phú xuân mầu quan lục.
Hai quan Đô đốc cùng đeo sau lưng mỗi người hai lá cờ đuôi
nheo bằng gấm, giải vàng, viền tía, trên để dấu hiệu của mình. Cờ hiệu của Võ
Văn Nhậm một lá thêu bốn chữ nhung đen "Tả quân Đô đốc", một lá thêu
ba chữ kim tuyến "Phò mã Võ"; còn của Nguyễn Hữu Chỉnh thì cũng tương
tự như thế, một lá thêu chữ Lam "Hữu quân Đô đốc", một lá lóng lánh
chữ vàng "Tướng quân Nguyễn Hữu."
Đi kèm sau hai Đô đốc, lại một đội "Hổ oai" bốn
mươi tên nữa, dàn trước đầu voi quan chủ súy.
Cao chót vót trên bành, một ông "Quận công" trang sức
toàn bằng vóc hiếm, gấm quí, mà khấu tiền, khấu hậu, cho đến cả đôi ngà cùng
yên cương, cũng đều chói lọi những vàng bạc châu ngọc lóng lánh, ngồi trong lầu
sơn son chất nặng những gối thêu rồng phượng, dưới một đôi tán vóc hồng, viền
lam, với một đôi cờ hiệu vàng lượn bay trong gầm trời bát ngát, là một trang
anh hùng trông vẻ hiên ngang, xuất chúng, gác bên đùi hai trái dùi tật lê sáng
loáng, cử chỉ oai nghiêm chững chạc, nét mặt đẹp một vẻ cứng cỏi, cường dũng,
rõ ràng một vị thiên thần. Vị thiên thần ấy, trang anh hùng ấy, tức là chủ soái
đội quân ngày hôm đó tiến vào kinh đô đất Bắc: Bình bắc Thượng tướng quân Nguyễn
Huệ, sung chức Tiết chế, vâng lệnh anh là vua Thái Đức nhà Tây Sơn, ra Bắc Hà dẹp
họ Trịnh giúp Lê Triều.
Ông Nguyễn Huệ mình cao một trượng, lưng rộng vai to, mắt
sáng lóng lánh hào quang, mày dài và rậm, trán rộng và cao, tiếng nói sang sảng
như chuông gióng. Trong người lực lượng chùm giời đất, khí dũng át ba quân, lẫm
liệt, đường hoàng; vẻ bề ngoài đã khiến kẻ nhát trông cũng phải phục tòng và
kính sợ. Ông mặc bộ áo chiến bào màu lục, hoa gấm, dùng một giải lụa xanh thắt
chẽn ngang lưng. Chân ông mang một đôi võ hài bằng nhung, đế gai, có thêu kim
tuyến; hai ống quần lụa trắng bó nịt lấy cổ chân rất chặt chẽ gọn gàng. Trên tất
cả bộ y phục sặc sỡ ấy, lộ ra một khuân mặt tròn đầy đặn, có nhiều cương quyết
mà phúc hậu, nước da trắng hồng càng rõ rệt dưới vành mũ trụ "Hoa
khôi" chỏm vàng ngù tía. Trên đôi môi đỏ như son, hai làn râu mép nhỏ phăn
điểm một nét tình tứ lẳng lơ, cho dung mạo khách anh hùng không đến nỗi quá tôn
nghiêm, dữ dội.
Trên đầu voi quan Tiết Chế, có một lão quản tượng khiến voi
đi từng bước nhịp nhàng thong thả, không bao giờ để chủ súy bị hơi một chút ngả
nghiêng. Sau chỗ thượng tướng ngồi, một tùy tướng cưỡi trên đít voi để giữ chặt
lấy lầu soan cho đừng sộc lệch, và nhân tiện để bảo hộ thân thể quan Tiết Chế,
ngõ hầu tránh những quân gian mưu hành thích mé sau lưng. Viên tùy tướng ấy vai
đeo khiên, vai đeo nõ, lưng đeo túi tên giắt dao găm, tay lại cầm một thanh
"Á phương bảo kiếm" chém sắt như bùn.
Đi kèm hai bên voi "Quận công" là một toán bốn tên
quân, hai tên cầm tàn, hai tên cầm lọng, che cho quan Tiết Chế. Rồi, sau lưng
ngài, lại một đội thứ ba bốn mươi tên giáp sĩ đi sau hộ vệ, cộng với hai đội
kia, tất cả là một trăm hai kiện sĩ được liệt vào hàng thị vệ "Hổ
oai".
Hết hàng giáp sĩ này mới đến một dẫy bộ tướng, độ hơn hai chục,
ăn mặc cũng giống hàng tùy tướng đi phía trên lũ lượt, xếp thành đội một, thúc
ngựa từ từ nối gót theo chủ súy. Sau đoàn bộ tướng, hai mươi bốn tên quân
khiêng một cái kiệu bát cống rất lớn, nhưng trong chẳng có ai ngồi. Y chừng đó
là để dành cho quan thượng tướng khi ngài không muốn ngự voi, hoặc để vọng tưởng
đến Thái Đức hoàng đế, cho rằng vua Tây Sơn cũng có mặt trong ba quân. Nói là cỗ
kiệu khiêng đi là ngôi của Nguyễn Nhạc, bởi lẽ hai bên kiệu có bốn tên lính cầm
lọng vàng che phủ, và mé sau, một đoàn văn quan, áo mũ tề chỉnh, cầm hốt theo hầu.
Đến đây là hết đoàn Trung quân. Bây giờ mới đến hậu tập. Đi
trước, một đôi voi, trang sức tương tự như đôi voi đi tiên phong. Rồi sau lưng
cặp chiến tượng hậu quân, ta được thấy một sự rất lạ. Ấy là một hàng bốn khẩu
súng đại bác bằng đồng, đặt trên bốn cỗ xe mà mười sáu tên lính kính cẩn đẩy
đi, giữa hai tố quân tám đứa cầm cớ, bốn đứa đi trước, bốn đứa đi sau. Đọc những
chữ hiệu trên mặt cờ, mới biết bốn khẩu súng cổ lỗ ấy cũng có phẩm tước rất cao
như mấy con chiến tượng. Hai cỗ tước Bình định Công, hai cỗ tước Phú xuân Hầu.
Đi dưới hộ vệ cho bốn vị công hầu đó, một toán hai mươi giáp sĩ cầm giáo trường
cùng mã tấu; rồi đến bọn trống cái, mã la cùng khánh, kiểng, theo đuôi.
Một viên quản, tay cầm roi, tay phất lá cờ đào nhỏ, đốc thúc
lũ quân đẩy Bình định Công và Phú xuân Hầu cho đi đều hàng ngũ. Bốn tên lính cầm
lọng tiá che cho bốn cái trống cái, mã la, khánh và kiểng mà bốn tên quân khác,
ăn mặc sặc sỡ như phường hát, quấn khăn đầu rìu thắt lưng đỏ, vừa nhảy lên vừa
múa, mỗi khi chúng điểm một tiếng "tùng bôông", hay "bu
lu"... Cứ mỗi tiếng thùng thùng là tiếp một tiếng mã la định tai nhức óc,
rồi một tiếng cồng inh ỏi lại xen vào một tiếng kiểng sang sảng vang lừng.
Đi với đoàn hậu quân thực là một cái nợ phải váng đầu váng
óc. Thế mà hơn ba ngàn quân nữa vẫn tự nhiên tiến theo dịp trống, hình như
không lấy sự vang động làm quan tâm mà trái lại, còn vì sự vang động ấy mà phấn
khởi.
Ba ngàn quân đó chia ra làm mười đội, mỗi đội có một viên Chưởng
quản đứng đầu. Mỗi hàng binh có bốn người, cả đoàn hậu tập, theo vết tiền và
trung quân, tiến vào Thăng long tựa như một con trường xà vươn khúc, dài dằng dặc
kể không biết mấy dặm đường.
Sau cùng khóa chặt lớp binh cơ là một tướng quân còn trẻ, trạc
hai mươi tuổi, sức vóc vạm vỡ, mặt trắng môi son, mày dài mắt sắc, rõ ràng có vẻ
khí khái anh hùng. Thiếu niên võ tướng ấy cũng là một kẻ xuất chúng, có công to
trong khi diệt Trịnh phù Lê; chàng là con quan Hữu quân Đô đốc Chỉnh, cả hai
thành Bình Định và Phú Xuân không ai không biết tiếng là một võ sĩ đại tài:
Nguyễn Anh Tề công tử.
Cả đoàn quân Tây Sơn theo quan Tiết Chế vào thành Thăng Long,
đóng đồn ở phía Nam thành ấy (nay thuộc về địa phận Hàng Lọng). Bấy giờ là ngày
mùng 2 tháng bảy năm 46 đời Cảnh Hưng tức là năm Bính Ngọ (1786).
PHẦN 3
Lần đầu tiên đem quân thủy đi tiên phong vào cửa Đại Anh để lên
sông Vị Hà, Hữu quân Đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh cũng muốn ra tay anh dũng cho Tiết
chế Nguyễn Huệ phục tài mình. Phải, vì Huệ như có lòng nghi kỵ đối với Chỉnh,
phần ghét Chỉnh là người gian trá, xảo quyệt, phần sợ Chỉnh không thật lòng
giúp cơ nghiệp nhà Tây Sơn. Bởi thế, muốn tỏ lòng tận tụy, trung thành, Chỉnh cần
phải đánh dẹp một phen cho lẫy lừng để mua chuộc lòng Huệ.
Lẫy lừng từ thuở còn học trò, Chỉnh đã là một nhân vật phi
thường, xuất chúng. Mười sáu tuổi đổ hương cống. Chỉnh làm cho tất cả nhà nho
huyện Châu Lộc, tỉnh Nghệ An (quê hương của Chỉnh) phục Chỉnh như một vị thần đồng,
nhất là vì phú Quách Lịnh Công của Chỉnh lại là một tác phẩm rất tài tình, tuyệt
diệu.
Chỉnh bình sinh vốn tính hào hoa, phong nhã, đã lắm cơ trí lại
nhiều can đảm, mà giỏi khoa biện bác vô cùng. Không những chỉ nức tiếng là một
văn tài siêu việt, chàng còn tỏ mình sau này, là một võ tướng vô song.
Tục truyền khi Chỉnh hiệp mới lọt lòng mẹ cứ nằm ngửa khóc
luôn sáu tháng không dứt; sau có một người thần nữ đến ru võng hát rằng:
Rau răm một cụm ba đồng,
Anh đi xứ Quảng xứ Ðông chưa về.
Bao giờ rau mọc xanh rì,
Anh ra đất Bắc gởi yếm đào về cho em.
Anh đi xứ Quảng xứ Ðông chưa về.
Bao giờ rau mọc xanh rì,
Anh ra đất Bắc gởi yếm đào về cho em.
Nghe Thần nữ hát, từ đó, Chỉnh không khóc nữa. Bốn câu ấy sau
đúng với sự Chỉnh theo Hoàng Ngũ Phúc đánh giặc ở Xứ Ðông và xứ Quảng, mãi tới
khi được vời ra phò vua Lê ở Bắc Hà mới lừng lẫy thanh danh.
Năm Chỉnh lên chín, ngày tết, đến mừng thầy học, đốt một
tràng pháo. Thầy lấy pháo làm đầu đề, bảo Chỉnh vịnh một bài thơ, Chỉnh ứng khẩu
đọc rằng:
Xác không vốn những cậy tay người,
Khôn khéo làm sao cũng một đời;
Kêu lắm lại càng tan xác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
Khôn khéo làm sao cũng một đời;
Kêu lắm lại càng tan xác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
Thầy khen khay, đoán biết Chỉnh tất sẽ làm quan to nhưng bạc
hạnh, không ra gì.
Về sau, khi Chỉnh bị mất chủ là Huy Quận Công, long đong trôi
giạt vào Quảng. Chỉnh buồn rầu làm mấy bài thơ tự thán, có một bài rằng:
Tóc chen hai thứ, chứ dành chi!
Thân hỡi là thân, thi hỡi thi!
Chửa trả, chửa đền, ân đệ tự,
Thêm ngừng, thêm tủi chí nam nhi;
Kẻ yêu, nên ít bề cao hạ,
Người ghét càng nhiều tiếng thị phi;
Tay bé khôn bưng vừa miệng thế,
Giãi lòng ngay thảo cậy thiên tri.
Thân hỡi là thân, thi hỡi thi!
Chửa trả, chửa đền, ân đệ tự,
Thêm ngừng, thêm tủi chí nam nhi;
Kẻ yêu, nên ít bề cao hạ,
Người ghét càng nhiều tiếng thị phi;
Tay bé khôn bưng vừa miệng thế,
Giãi lòng ngay thảo cậy thiên tri.
Xem khẩu khí, ai cũng biết Chỉnh có nhiều dục vọng.
Buổi thiếu thời, theo tướng nhà Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đi
đánh giặc bể và Quận He, Chỉnh đã được thiên hạ khen là một Thủy sư đại tướng.
Giặc bể sợ oai Chỉnh thường gọi chàng là "con chim dữ". Không đứa nào
dám mon men vào thủy trại, mỗi khi nghe có Chỉnh ở trong.
Mãi tới khi Hoàng Ngũ Phúc lâm chung, Chỉnh phiêu giạt ít lâu
rồi đi theo Huy Quận Công Hoàng Đình Bảo. Tháng chín năm Nhâm Dần (1782), Tĩnh
đông vương Trịnh Sâm tạ thế có để di mệnh lập con thứ là Trịnh Cán làm chúa và
Quận Huy làm phụ chính đại thần. Nguyên sinh thời, Tĩnh đông vương say đắm nàng
Đặng Thị Huệ, nên vì nàng, bỏ con trưởng là Khải để lập con Đặng Thị làm Thế tử.
Trong phủ Liêu từ đó chia ra làm hai bè đảng, một đảng phò Trịnh Cán, một đảng
phò Trịnh Khải. Kịp đến khi Cán lên ngôi, thiên hạ không mấy người chịu phục,
thành ra biến loạn, bởi lẽ Cán đã ít tuổi còn lắm bệnh tật, không giữ được uy
tín và quyền hành.
Trưởng tử là Trịnh Khải, lúc bấy giờ nhân dịp rối loạn, bèn
mưu với bọn kiêu binh, xưa nay vẫn đắc thế, để tranh ngôi Chúa. Có tên biện lại
thuộc đội Tiệp Bảo là Nguyễn trang, người Nghệ, đứng lên thủ xướng việc phế lập,
vào phủ Liêu đánh ba hồi trống hiệu, rồi kiêu binh tứ phía kéo đến vây phủ
Chúa, giết chết Trịnh Cán, Đặng thị Huệ và nhân tình thì là Huy Quận Công Hoàng
Đình Bảo.
Trịnh Khải nhờ đó, được lên ngôi chúa, tước phong làm Đoan
Nam Vương.
Hoàng Đình Bảo chết rồi, Nguyễn Hữu Chỉnh hoá ra bơ vơ vất vưởng,
không chỗ nương tựa. Chỉnh bèn về quê, vào thăm quan trấn thủ Nghệ An là Võ Tá
Giao, xui Giao đứng lên tự lập ở đất Thuận Hoá. Giao rút rát không dám. Hữu Chỉnh
chán ngán bỏ Giao vào với vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc.
Nguyên xưa kia theo Hoàng Ngũ Phúc, vào Quảng Nam đánh giặc,
Chỉnh vốn đi lại quen thân với Nhạc, hoá nên vì thế, vua Tây Sơn đãi Chỉnh vào
bực thượng tân.
Vương đệ là Nguyễn Huệ thấy Chỉnh được trọng đãi, lại xem
cách cử chỉ của Chỉnh, rõ là xảo quyệt, trí trá, nên, ngay tự lúc đầu đã có ý
ghen ghét. Nhân Hữu Chỉnh đi đánh quân Chiêm Thành và quân Bồ Man lại được đại
thắng trở về. Huệ đối với Chỉnh càng thêm hằn học khủng khỉnh như có vẻ e ngại
tài chiến thắng và mưu lược của Chỉnh sẽ có ngày làm lu mờ danh thượng tướng của
mình.
Trong một tiệc rượu, một hôm, Chỉnh hiến mưu tâu vua Tây Sơn
cho đem quân ra đất Thuận Hoá rồi đi thẳng ra Bắc Hà. Vua Tây Sơn biết đất Thuận
Hoá không có quân phòng bị mà quan trấn thủ đất ấy là Phạm Ngô Cầu vốn là người
nhu nhược, đã biển lận lại vô mưu, nên giáng chỉ sai em là Huệ làm Tiết chế
cùng rể là Võ Văn Nhậm và Chỉnh làm tả hữu quân đô đốc, đem bộ quân, thủy quân
ra đánh Bắc Hà.
Quân Tây Sơn đi đến đâu, sức mạnh như thác chảy, nhuệ khí và
thanh thế lừng lẫy đến đấy. Vừa đến Thuận Hoá, thượng tướng Nguyễn Huệ đã bắt sống
được quan trấn thủ Phạm Ngô Cầu cho giải về Qui Nhơn xử tử. Thấy khí thế ba
quân đuơng độ hăng hái cường thịnh, Hữu đô đốc Chỉnh bèn khuyên Tiết chế Huệ
xông thẳng ra Bắc Hà. Trong một buổi họp cả dưới trướng hổ để nghe thượng tướng
truyền lệnh sửa sang đồn Ðồng Hới và định giữ địa thế cũ ở bờ sông La Hà, Chỉnh
hùng hồn đứng dậy:
- Bẩm quan Tiết chế, cứ như ngu ý thì bây giờ đang lúc thắng,
ta chớ nên nề hà gì nữa, cứ kéo tuột quân ra đến Thăng Long. Phàm ở đời, nhứt
là trong phép dùng binh thì một là thời, hai là thế, ba là cơ. Có ba điều ấy
đánh đâu được đó. Hiện tình, ở xứ Bắc, tướng thì lười, quân thì kiêu, triều
đình không cương luật. Nếu Thượng công nhân uy thanh của mình mà đem binh ra
đánh, thì quyết là không phải trở về không. Sao Thượng công bỏ cái thời cái thế
và cái cơ hội ấy?
Nguyễn Huệ sẽ cau đôi lông mày dài và rậm, đăm đăm nhìn vào mặt
Chỉnh, nửa ra vẻ nghiêm nghị, nửa ra chiều giễu cợt:
- Ở Bắc Hà lắm anh hùng tuấn kiệt, ông chớ nên coi thường!
- Ồ! Thượng công nói đùa sao vậy? Nhân tài đất Bắc, chỉ riêng
có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đã bỏ đi, theo hầu dưới trướng Thượng Công, thì
còn ai đâu nữa! Xin Thượng công đừng ngại.
Nói xong câu ấy, Hữu Chỉnh đắc ý cười ha hả, trong khi Nguyễn
Huệ sẽ nghiêng đầu, nhếch mép, khoan thai vuốt râu mép, gật gù:
- Ấy! Chính người khác thì không ai đáng sợ; chỉ đáng ngại
duy có một mình ông đó thôi!
Nguyễn Hữu Chỉnh đang vui cười tự đắc, bỗng xám xanh mặt lại,
ngảnh nhìn Nguyễn Huệ bằng một đôi mắt hối hận, buồn rầu. Huệ trông vẻ kinh khủng
của Chỉnh cũng thương tình, bèn chữa lời, dịu giọng:
- Tôi nói đùa ông đó mà! Không phải sợ đất Bắc lắm người giỏi
mà không dám đánh, chỉ tại nhà Lê làm vua đã lâu rồi, lòng dân đã chiếm được;
nay nhất đán mình diệt đi thì ai phục mình?
Hữu Chỉ bấy giờ mới hơi yên dạ:
- Nhà Lê làm vua mà bị hiếp dưới quyền chúa Trịnh, đó là một
sự cổ kim đại biến cả nước không ai phục. Nay Thượng công lấy đại nghĩa, phò Lê
diệt Trịnh, thì trong gầm trời này, ai không cảm phục Thượng công?
- Đành vậy, nhưng tôi chỉ phụng mệnh Hoàng huynh đi đến đất
Thuận Hoá mà thôi, ra đến Bắc Hà, can phạm tội kiểu mệnh thì làm thế nào?
- Thượng công rõ câu nệ quá! Phàm giả anh hùng ở đời, hễ
không bỏ được tiểu tiết thì toàn hỏng mất đại sự! Kiểu chiếu là tội nhỏ, đánh
Trịnh là công to. Vả chăng làm tướng ở ngoài, có điều không cần phải theo mệnh
vua, Thượng công nhẽ nào không biết?
Nghe Hữu quân Đô đốc nói có lý, Tiết chế Nguyễn Huệ cũng đành
trái mệnh vua, đem quân thẳng tới Bắc Hà. Ông bèn sai Hữu Chỉnh đem thủy binh
đi tiên phong vào cửa Đại An đánh lấy kho lương ở bên sông Vị Hoàng, còn mình
cùng Tả quân Võ Văn Nhậm và đại binh thì kéo đến sau, hẹn với Hữu quân đến sông
Vị sẽ đốt lửa lên làm hiệu.
Vì thế, ngày mùng sáu tháng sáu năm Bính Ngọ, từ cửa Luộc suốt
một vùng trở lên, theo ven sông Vị Hoàng, một trận huyết chiến đã xảy ra giữa
hai đại đội quân sĩ Tây Sơn và quân sĩ Trịnh.
Hữu quân Đô đốc Chỉnh đem binh tiên phong qua hai miền Nghệ
An, Thanh Hoá, không bị ai ngăn trở cả. Quan trấn thủ hai tỉnh đó là Bùi Thế Toại
và Tạ Danh Thùy không ông nào dám ra cự địch, đều mở cửa thành cho quân Chỉnh
kéo qua. Khi ra tới sông Vị Hoàng quan coi đồn ở đấy sợ thế quân Tây Sơn mà thất
đởm, vội vàng trốn chạy, bỏ cả lương thảo và kho tàng ở lại. Hữu Chỉnh thúc
quân vào cướp phá, chiếm được hơn trăm vạn hộc lương, còn bao nhiêu các quí vật
cùng vàng bạc châu báu thì sai đóng hòm giấu kín đi một chỗ. Xong đâu đấy mới đốt
lửa làm hiệu, cho đại quân của Nguyễn Huệ biết chỗ kéo đến hạ trại.
Tin Nghệ, Thanh thất thủ do ngựa lưu tinh liên tiếp đưa về
Liêu Phủ làm cho náo động Bắc thành. Trước kia khi thành Phú Xuân đã vỡ rồi,
báo tin về đến Thăng Long thì các quan đều bàn tán, cho rằng xứ ấy vốn không phải
đất nhà vua, có mất cũng không đáng ngại. Vì thế, Triều đình chỉ sai Thái đình
hầu Trịnh Tự Quyền đem hai mươi bảy cơ binh giữ đất Nghệ An, rồi không ai thèm
nghĩ đến sự phòng bị nữa. Quyền đủng đỉnh thu xếp hơn một tuần (10 ngày) mà vẫn
chưa xong công việc; lúc bắt đầu ra đi, vừa tiến quân được non 30 dặm đã nghe đồn
quân Tây Sơn ra đóng ở Vị Hoàng rồi. Quyền bèn đem quân xuống giữ mặt Kim Động.
Quan trấn thủ Sơn Nam là Bùi Thế Dận thì đem quân phòng ngữ mặt bộ, đóng ở xã
Phù Xa, huyện Đông An. Còn tất cả bao nhiêu quân thủy thì do Liễn trung hầu
Đinh Tích Nhưỡng cai quản, đóng ở cửa Luộc để ngăn ngừa mặt thủy.
Kể ra, binh xứ Bắc cũng nhiều, mà suốt một vùng dọc sông Vị đồn,
trại liên tiếp nhau đến mấy dặm đường, thanh thế cũng khá to; song le quân Trịnh
toàn là một đám hỗn độn ô hợp, rát như cầy, lười biếng và phản trắc, không thể
dùng được. Bởi thế, mặc dầu tài chinh chiến của lũ Liễn trung hầu Đinh Tích Nhưỡng
và Bùi Thế Dận, mấy toà đồn trại men bờ sông Vị, sau này, chỉ là một đống tro
tàn.
Chỉ một trận, Bình bắc Thượng tướng quân Nguyễn Huệ đã làm
cho quân tướng Bắc Hà phải kiếp đảm; chỉ một trận, em vua Tây Sơn đã hạ Sơn Nam
như trở bàn tay.
Tối hôm mùng sáu tháng sáu năm Bính Ngọ ấy, trong khi Liễn
trung hầu đương thong dong ngồi uống rượu trong trướng, trên một chiếc chiến
thuyền to nhất dàn ở mé trung ương thủy trại quân Trịnh bỗng nghe tiếng mã la ầm
ĩ, tiếng trống giục ầm ầm, chen với tiếng reo vang trời rậy đất.
Nhìn ra ngoài trại, giữa vùng tăm tối và sóng nước, một dẫy
chiến thuyền của bên địch đang thuận gió kéo tràn sang vun vút, trên thuyền
muôn ngàn quân mặc áo đỏ chói, cầm giáo mác sáng lòe, đốt đèn đuốc rực rỡ,
trông uy nghi, mãnh liệt vô cùng. Bấy giờ gió đông nam thổi mạnh, mặt nước cuồn
cuộn nhô lên hạ xuống làm cho lũ chiến thuyền Tây Sơn khi ẩn khi hiện, khi sáng
khi tối, lập lòe như ma chơi.
Trong thủy trại quân Trịnh, một hồi trống hiệu từ hành doanh
vẳng ra, làm kinh động cả một vùng cửa Luộc. Các chiến tướng vội vàng lo về
hàng ngũ, nhưng xưa nay từng là quân hỗn độn, hoá nên chậm mất đến nửa giờ mới
tạm gọi là tề chỉnh để nghinh chiến quân Tây Sơn.
Theo lịnh Liễn trung hầu, bao nhiêu thuyền trong trại đều kéo
ồ ra, dàn thành hàng chữ nhất. Bao nhiêu đèn đuốc thắp lên sáng rực mà nhìn ra
mé xa, cũng không được rõ ràng. Bóng tối trùng trùng điệp điệp đen dầy như mực.
Chỉ xa xa thấy tiến lại phía quân Trịnh một đội 20, 30 chiến thuyền đầy lính
tráng, tinh kỳ và khí giới, chỉ nghe thấy chiêng trống hò reo, huyên náo, mà
không biết địch quân nhiều ít dường nào.
Đinh Tích Nhưỡng bèn sai lấy súng bắn ra một lượt. Mấy loạt
thần công tiêp tiếp nhau xé không trung im lặng, đoành đoành bắn vào cõi tối mịt
mùng. Trời nước bao la náo loạn, sóng cồn dào giạt tứ tung.
Thế mà đội chiến thuyền Tây Sơn vẫn vùn vụt theo nước trôi tiến
mãi. Tiến mãi giữa làn tên đạn bời bời.
- Ồ! Một cái cháy! Ồ! Hai cái cháy rồi!
- Ố! Cả đoàn thuyền bên địch cùng phát hoả rồi!
- Thế mà sao chúng nó vẫn oai hùng tiến đến? Dũng cảm thật! Cả
gan thật!
Sóng to nước lớn, lớp chiến thuyền vùn vụt như bay. Cái nào
cũng cháy bừng đỏ rực. Cách quãng lại nghe thấy thuốc súng nổ toả ra một làn
khói lửa mù mịt lấp lóe như tia chớp loáng.
Một dịp thần công bên thuyền Trịnh lại thị oai lần nữa.
Nhưng, ôi thôi! Còn lần này thì thuốc đạn hết rồi! Mà sao thuyền Tây Sơn nó vẫn
tiến mau gấp lại? Trời ơi! Chúng nó đến nơi rồi!
Bao nhiêu quân Trịnh, bị đội hỏa thuyền đụng vào, áo quần đầu
râu đều xém cháy cả. Các chiến thuyền Trịnh cái nào không bi lửa đốt cháy, thì
mau chạy trốn, trốn vào quãng tối, giữa vùng gió cuốn nước gào. Cả thủy trại của
Liễn trung hầu, phút chốc, bị đánh tan như đàn quạ bị cơn bão táp. Bao nhiêu
quân sĩ đều bỏ thuyền bè, lẩn lên bờ ẩn núp, trốn cho xa, không còn dám quay đầu.
Vì, trong quãng tối mịt vùng, giữa lớp sóng cồn dào giạt, lần
này mới thực đại đội quân thuyền Tây Sơn kéo đến, vây các thuyền Liễn trung hầu
như vây cá vào lưới, rồi súng thần công mới nổ tung ra tàn phá thuyền Trịnh cho
tan tành.
Đoàn chiến thuyền trước kia chịu súng đạn của Liễn trung hầu
chỉ toàn là một đoàn hoả thuyền chứa thuốc súng và người gỗ cầm khí giới và đuốc
để thị lập cho uy nghi.
Ðinh Tích Nhưỡng mới nhận ra rằng mình đã mắc mưu, mà trận cửa
Luộc ngày nay, thực chẳng khác gì trận Xích Bích ngày xưa, khi Tào Tháo bị thất
bại về tay Chu Công Cẩn.
Nguyên nhân hai vụ bại trận, kim và cổ, có chăng, chỉ tại gió
đông nam?
Một trận hoả công ấy đã khiến Liễn trung hầu phải bỏ thuyền
mà chạy, trong khi các thủy quân thủy tướng bị đánh thất điên bát đảo, trôi giạt
mỗi người một xó, hoặc bị chìm đắm hàng đàn hàng lũ xuống đáy trường giang...
Đinh Tích Nhưỡng cố sống cố chết tháo lấy một đường huyết lộ
để lánh nạn, mong ở thế ỷ giốc của đám quân mặt bộ đến cứu mình trong lúc nguy
nan. Nhưng, hỡi ôi! Vừa đổ bộ, Nhưỡng đã thấy quân Thái đình hầu Trịnh Tự Quyền
và quân Sơn Nam trấn thủ Bùi Thế Dận bị phá tan tành, rời rạc, ôm đầu lủi thủi
trốn đi. Cho đến Quyền và Dận, cũng người thúc ngựa, kẻ cưỡi voi, đương tìm đường
thoát nạn.
Thì ra toán quân Phù Xa và Kim Đổng cũng bị quân Tây Sơn đánh
úp tự bao giờ!
Thượng tướng quân Nguyễn Huệ, nhờ sức mãnh liệt của tướng sĩ,
hạ ngay được thành Sơn Nam như trở bàn tay. Đoàn Tây Sơn thắng trận, vui vẻ tiến
vào thành, nhưng đã được lệnh của bề trên, không ai cướp bóc và phiền nhiễu dân
gian cả.
Đi tiên phong vào trước Hữu quân Đô đốc Chỉnh vội cho lục lọi
các kho tàng. Bao nhiêu châu báu bạc vàng, Chỉnh sai con trai là công tử Anh Tề
thu nhận lấy bỏ vào hòm kín, tải đi. Lúc đại quân vào được trong thành, thì đã
thấy kho tàng trống rỗng mất hơn một nửa, mà các quí vật chẳng còn sót lại tí
gì. Nguyễn Hữu Chỉnh cho phao lên rằng quan trấn thủ Sơn Nam đã đem vận tải
vàng bạc tự lâu rồi, hoá nên kho tàng vì thế không còn sót lại một bảo vật nào
đáng giá cả. Quân Tây Sơn, không rõ biết mưu gian của Chỉnh vẫn tin rằng lời
nói phao kia đúng với sự thực, hoá không nghi ngờ gì cả.
Hạ được thành Sơn Nam rồi, Tiết chế Nguyễn Huệ một mặt truyền
hịch đi các nơi, nói cho thiên hạ biết rõ nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh",
một mặt thúc quân đi lấy thành Thăng Long.
Trong thành Thăng Long, Ðoàn nam Vương Trịnh Khải ngày đêm lo
lắng. Bởi, trong kinh thành, lúc bấy giờ, kiêu binh thì không dùng được mà nhân
tài có thể ra giúp nước thì không còn có người nào. Khải bèn cho lên Sơn Tây gọi
lão tướng Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ về giúp sức. Quận Thạc đem tám người
con trai về đóng bộ quân ở hồ Vạn Xuân còn thủy binh thì lên giữ mặt Tây Long để
phòng quân địch.
Nhưng, đã đắc thế, nhuệ khí của Tây Sơn mạnh lắm, quân Nguyễn
Huệ tiến lên phá tan tành thủy quân của Trịnh, Hoàng Phùng Cơ phải thúc voi bỏ
chạy, sau khi sáu người con của lão tướng vong thân giữa chốn chiến trường.
Chúa Trịnh, lâm bước nguy, cũng mặc nhung phục lên mình voi
tiến vào đánh quân địch. Song le, sức cô thế kém, đánh không thấy giặc núng
chút nào, chúa Trịnh phải chạy lên Sơn Tây lánh nạn.
Lòng Trời như không tựa nhà Trịnh nữa. Bởi lòng dân oán rủa họ
Trịnh tự lâu rồi. Chạy đến làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Trịnh Khải bị tên Nguyễn
Trang đánh lừa đem nộp cho Tây Sơn. Tủi thân mình là một bực Vương giả, một sớm
thất thế phải hoá ra cực khổ, lưu ly, chúa Trịnh, khi bị giải về đến giữa đình
làng Nhật Chiêu, bỗng nhân lúc quân canh nhãng ý, cầm gươm cắt họng từ trần.
Đến đấy kết liểu cuộc đời Trịnh Khải cũng như kết liễu, sau
hai trăm mười sáu năm oanh liệt, cơ đồ họ Trịnh đã gây nên.
Thượng tướng Nguyễn Huệ, thương tình, cho dùng vương lễ để tống
táng thi hài chúa Trịnh. Nhân dân Bắc Hà, ai cũng cảm phục đại lượng và công đức
của vị anh hùng.
Dẹp xong mầm biến loạn từ mấy trăm năm nay làm náo động Lê
triều, quan Tiết chế bèn cho dựng bản chiêu an, và ngày mùng 2 tháng bảy nắm
Bính Ngọ, kéo quân toàn thắng vui vẻ vào thành Thăng Long để lên đền Van Thọ
làm lễ yết kiến Lê Cảnh Hưng Hoàng đế.
Bởi thế, trong cảnh lặng lẽ đìu hiu của chốn đế đô nghiêm cấm,
người ta mới được ngắm vẻ uy nghi lộng lẫy của cuộc diễn quân ngày hôm đó, cuộc
hành trình của 58 cơ binh sĩ Tây Sơn, chỉnh tề đưa Chủ súy vào thành.
PHẦN 4
Từ khi quân Tây Sơn ra giữ hộ trật tự cho xứ Bắc Hà, nhân dân
thành Thăng Long được trải qua một buổi thái bình êm ái, một quãng đời sung sướng
mà non hai thế kỷ rồi, họ không được biết mùi.
Họ đã bị sống luôn luôn dưới quyền áp chế, nào của lũ tham
quan dựa vào quyền Chúa Trịnh, nào của lũ ưu binh cậy thế cướp bóc nhà giầu và
hãm hiếp đàn bà.
Đến lúc Tiết chế Nguyễn Huệ diệt tan nhà Trịnh nhất đán phế
được các chế độ khốc liệt của Trịnh phủ gây nên, thì thiên hạ chiếm lại được một
ít tự do, nhân dân khỏi bị đèn nén, lo ngại, khổ sở. Bởi thế nên trong thành
Thăng Long, cho suốt cả đến một vùng mấy mươi dậm mé ngoài thành, ai ai cũng đều
chúc tụng công đức của Nguyễn Thượng công, nhất là khi được biết quan Nguyên
soái đã ra lệnh cho ba quân không ai được phép quấy nhiễu các tư gia cả.
Sau một cơn biến loạn điêu tàn thê thảm, lại được thấy ngày
sáng suốt, được an cư lạc nghiệp không phải lo canh cánh bên lòng cái nạn cướp
bóc; nhân dân vui mừng hể hả, mở tiệc ăn mừng mỗi khi có hội hè. Rằm tháng bẩy ở
Thăng Long, năm ấy, rất náo nhiệt. Gia dĩ trong buổi quân Tây Sơn đóng ở trong
thành tạm nghỉ, người ta còn được mục kích nhiều cuộc vui lỗng lẫy chưa từng thấy
tự ngày xưa. Những cuộc vui đó bắt đầu từ ngày mồng bẩy tháng bảy từ cái phút
đường hoàng long trọng mà Tiết chế Bình bắc tướng quân vào yết kiến vua Cảnh
Hưng.
Khi quân sĩ Tây Sơn theo dịp trống khải hoàn, tiến vào thành
Thăng Long, các quan văn võ trong triều sợ bị tội bèn rủ nhau trốn cả. Trậm chí
xung quanh mình Cảnh Hưng hoàng đế chỉ có vài ba tên nội thị, không còn lấy ai
ra mà khai trào để tiếp rước Nguyên Soái Tây Sơn.
Hữu quân Đô đốc Chỉnh thấy tình thế như vậy, lén ngay vào tâu
vua Hiển Tôn giáng chỉ xuống phủ dụ và gọi các quan về. Được chiếu của vua họ mới
lục tục kéo nhau về chịu mệnh, đến ba bốn ngày mói đủ mặt tại triều.
Bởi vậy, ra từ hôm mồng hai, mãi đến hôm mồng bảy. Thượng tướng
Nguyễn Huệ mới vào yết kiến Cảnh Hưng Hoàng đế.
Ngày hôm mồng bảy, trên điện Kính Thiên, lần đầu tiên trong
ngót một trăm năm nay, người ta mới thấy khai đại trào. Từ năm giờ sáng, lúc
còn chưa đến bình minh, các quan đã áo đai mũ mãng tề chỉnh đứng hai bên điện
chờ đợi. Một vẻ im lặng tôn nghiêm phủ lên sự vật, mà không một lời nói, không
một tiếng cười làm náo loạn, dẫu rằng trong một khắc một giây. Càng làm tăng vẻ
uy nghi của sự tôn kính đế vương là những chiến tượng, chiến mã, trang sức cực
kỳ rực rỡ, những tàn vàng, lọng tía, cùng binh khí sáng loáng đầy tua tủa trên
các giá sơn son.
Đương lúc im phăng phắc, chìm đắm sự đợi chờ trong một gầm
không khí buồn tẻ, bỗng đâu, một hồi trống long phượng ầm ầm làm náo loạn cấm
điện, rồi tiếp theo ngay hồi trống, một hồi kiểng rung sang sảng gợn ra những
tiếng ngân nga. Trúc tơ nhã nhạc cũng nổi dậy vang lừng tứ phía, đờn, sếnh, nhị,
sáo, cùng nhịp nhàng tấu khúc "Triều Thiên".
Cá quan đều răm rắp, phủ phục xuống tung hô "Vạn tuế",
trong khi một hồi khánh ngọc leng keng báo hiệu đoàn nội giám đã vực vua ra ngự
ở long sàng. Một viên ngự lâm quan kéo bức rèm châu phủ trước bệ rồng, Cảnh
Hưng Hoàng đế hiện ra, ngồi nghiêng trên sập Chúa, dựa lưng vào gối cẩm la. Vua
mặc long bào vàng, đội mũ miện mười hai tua ngọc. Ngài se mình nên không ngồi dậy
được, hoá nên không ngự ngai vàng mà nằm trên sập rồng, chỗ xưa nay vẫn để dành
cho Chúa Trịnh. Hoàng thượng phần cảm tạ Thượng tướng Nguyễn Huệ đã cướp lại
quyền hành và tự do cho đế thất, phần rất mến tài vị anh hùng nhà Tây Sơn nên
dù đương mệt, cũng gắng gượng khai đại trào cho khỏi sai lời hẹn.
Ngài vừa ngự ra chưa được nửa giờ, các thân thần, tôn thất
cùng các vị công khanh mới làm lễ triều kiến vừa xong, trong khi các quan đương
lặng yên túc trực cúi đầu, trên kỳ đài trước Ngọ môn bẩy phát pháo lệnh nổ liên
thanh bẩy lượt, rồi loa đồng dõng dạc báo có quan Tiết chế, Bình bắc Thượng tướng
quân Nguyễn, vào yết kiến Thánh hoàng.
Văn võ bá quan đều đứng thẳng như tượng gỗ. Nhà vua cũng giơ
tay sửa lại áo long bào. Hai con voi chầu hai bên điện cũng quỳ xuống.
Một khắc mong đợi... Thời gian như đứng lại, không trôi.
Thốt nhiên, những binh lính thị lập ngoài cửa điện cúi rạp cả
một lượt. Rồi các quan, theo sau, đều răm rắp, nghiêng mình. Cảnh Hưng Hoàng đế,
cố gượng ngồi ngay lên chút đỉnh.
Từ trên đầu voi bước xuống, hiên ngang, lẫm liệt, một cái
bóng vậm vỡ, thẳng giữa hai lớp rào người trùng trùng, điệp điệp, đường đường
tiến lên bệ rồng. Trên mặt khách anh hùng, một vẻ nghiêm nghị, một nét cương
quyết, làm cho những kẻ liếc nhìn phải tự nhiên kính sợ.
Gần tới sập ngự, Nguyễn Huệ đứng lại, hai mắt đăm đăm nhìn Cảnh
Hưng Hoàng đế, lóng lánh hào quang. Rồi chàng tiến lại mé án son để trước ngai,
toan làm lễ.
Hoàng đế không để cho Nguyên soái nhà Tây Sơn phải khuất thân
quỳ lạy, vì Nguyên soái mặc nhung trang không tiện bề làm lễ, lại muốn tránh
cho Nguyên soái sự khó khăn trong khi xử trí, Ngài bèn giơ tay, tươi cười phủ dụ
khách anh hùng:
- Hiền khanh miễn lễ! Trẫm trong mình đau yếu tiếc rằng không
tiếp được hiền khanh cho đúng phép Hoàng gia! Hiền khanh vị trẫm, cũng nên lượng
tình cho nhé! Thái tử đâu! Con khá mau thỉnh tướng quân lại an vị trên giường
nào, bên cạnh trẫm!
Hoàng Tôn Duy Kỳ, vội vã lên điện cúi mời Nguyễn Huệ lại sập
rồng. Huệ khiêm tốn chối từ ba lượt, mãi sau cùng mới xá Vua năm xá, vén áo bào
nhũn nhặn ngồi ở một góc long sàng.
Trong lúc ấy Tả, Hữu quân Đô đốc cùng lũ Trần Quang Riệu đã
theo ngồi thứ tự đứng dưới thềm túc trực. Nguyễn Huệ vừa an vị xong, Thái tử
làm hiệu cho tấu nhã nhạc. Rồi trống long phượng cùng chuông khánh lại tưng bừng
nổi dậy, bách quan lại, một lần thứ nhì phủ phục để tung hô "Vạn tuế"
và chào mừng vị quí nhân đã giúp yên xã tắc lúc chênh vênh.
Lễ yết kiến xong xuôi, Hiển Tôn Hoàng đế cầm tay Chủ soái
quân Tây Sơn, ôn tồn trò chuyện, trong khi nội thị dâng trà.
- Trẫm từng nghe danh lừng lẫy của Hiền khanh, vẫn mong mỏi gặp
quí nhân mà mãi tới nay mới được phỉ lòng khát vọng. Thực là trẫm được vui vẽ
không biết dường nào! Hiền khanh! Khanh thực là một nhân vật hiếm có trong đời;
từ ngàn dặm không quản xa xôi đem binh tới để dẹp tan lũ loạn thần hộ trẫm, khiến
ngôi trẫm đã lung lay sắp đổ, một buổi mai, lại được vững vàng. Công đức ấy, trẫm
thâm khắc trong cốt tủy, mà khắp xứ Bắc Hà này, không họ nào không cảm phục Hiền
khanh!
- Bệ hạ quá ngợi khen ngoại thần này, thần rất lấy làm hổ thẹn.
Thần là một kẻ quê mùa, mọi rợ, một kẻ áo vải ở Tây Sơn, có làm nên công cán gì
mà Bệ hạ hậu đãi quá như vậy? Chẳng qua sự lăng bức Đế vương mà Chúa Trịnh đã
làm kia, nó là một cổ kim đại biến, đến Trời còn không dung thứ, nữa là người!
Thấy sự tối vô lễ ấy, thần rất lấy làm chướng mắt nên phải thuận lòng trời mà
xướng lên chủ nghĩa "Diệt Trịnh phù Lê". Nay may công cuộc đã yên rồi,
cũng là nhờ hồng phúc và uy đức của Bệ hạ đó.
- Hiền khanh thực quá khiêm tốn. Ơn sâu của Hiền khanh dẫu đến
đời sau, trẫm còn nhớ mãi, không quên. Trẫm hiện tình không biết lấy sự gì để
đáp nghĩa Hiền khanh, bởi lẽ không có một vật gì có thể bì với công đức của Hiền
khanh đuợc. Bạc vàng, tước lộc, đối với Hiền khanh thực chẳng có đặc sắc gì, Hiền
khanh cũng có thừa rồi. Song le, theo tục lệ đãi thượng tân, trẫm gọi là tặng
Khanh chút tước nhỏ mọn này, xin Khanh vui lòng nhận lấy, để khỏi phụ tình mến
yêu của trẫm.
Vua bèn sai quan Thái giám lấy bút vàng nghiên ngọc, rồi tự
tay ngài thảo sắc phong Nguyễn Huệ làm Đại Nguyên soái, Uy quốc công.
Huệ đứng dậy vái tạ, nhận lấy chiếu chỉ, đoạn ngỏ lời cảm ơn
vũ lộ:
- Thần đức bạc, phận mỏng, thực không đáng để Bệ hạ phải tiếp
đãi trọng thể thế này! Tâu Bệ hạ, thần vì đại nghĩa tôn phù Lê triều mà phải tới
đây, thực không có ý gì khác nữa. Bệ hạ có lòng rộng dung cho yết kiến Long
nhan, thế cũng đã là quá lắm. Thần có đâu dám kể công lao? Đây, những văn võ
quan cùng theo thần ra dẹp lũ tặc tử lăng loàn, họ cùng nối gót thần vào triều
bái Bệ hạ; đây, sổ quân sĩ và dân đinh của đất Bắc, thần nhân ngày hôm nay vào
lạy chào Bệ hạ để dâng lên Cửu trùng những sổ sách ấy; ngõ hầu tỏ rõ giữa thanh
thiên bạch nhật cái chí "tôn phù nhất thống " của thần. Một mai công
việc yên rồi, thần xin bái biệt Long nhan để trở về Thuận Hoá.
Huệ nói xong, vẫy Nguyễn Hữu Chỉnh đem giấy má lên điện, rồi
nâng các sổ quân sĩ và dân đinh quỳ xuống dâng lên cho Hiển Tôn Hoàng đế. Hiển
Tôn vội vàng sai Thái tử Duy Kỳ đỡ Huệ dậy, rồi vỗ vai Huệ, khóc mà nói rằng:
- Trẫm vẫn rõ biết lòng chính đính quãng đại của Hiền khanh
đã lâu rồi, trẫm may được gặp khanh, thực là đại hồng phúc cho nhà Lê ta đó!
Trong 16 năm nay, trẫm tuy mang tiếng làm vua, mà thực chỉ ngồi làm vì trên bệ
ngọc, không được dụ một tý gì vào việc đất nước của mình. Nay Hiền khanh tháo bỏ
gông cùm cho trẫm chiếm lại cơ đồ của Liệt thánh, trẫm có lòng nào dám nghi kỵ
Hiền khanh? Song le, nay trẫm tuổi đã già, cháu thì còn bé dại, nước nhà lại lắm
nạn mà Hiền khanh không muốn giúp trẫm, nói đến chuyện về, trẫm nghĩ lấy làm lo
lắm. Hiền khanh đã vì đại nghĩa tôn phù mà đến, Hiền khanh có thể ở ít lâu giúp
trẫm thêm chút nữa, cho an định giang sơn cho ngôi bảo tộ của Liệt Thánh để lại
cho trẫm ngày ngay không đến nỗi lung lay như thủa trước?
Giọng nói run run của Cảnh Hưng Hoàng đế như cảm được lòng sắt
đá của anh hùng. Nguyễn Huệ thấy nhà vua đem lòng thành thực đối đãi trung hậu
với mình cũng không lòng nào đối lại một cách quyết liệt. Bèn nói:
- Tâu Bệ hạ! Thần chỉ phụng mệnh Hoàng huynh ra đến địa giới
Thuận Hoá mà thôi. Nay vì muốn đại ý chí tôn phù mà ra tận Thăng Long, đáng lẽ
không ở lâu được. Song Bệ hạ đã rũ lòng quá thương thần mà muốn khiến thần ở lại,
thần cũng không dám trái thánh ý, xin hoãn thời kỳ vĩnh biệt đến sau này.
Một nụ cười hớn hở bỗng nở trên nét mặt dăn deo của vị lão
quân. Ngài cảm động cầm tay Nguyễn Huệ:
- Trẫm còn nó nhời này muốn nói, chẳng hay Hiền khanh có chịu
nghe chăng?
- Xin bệ hạ cứ truyền chỉ; hễ việc nào sức thần có thể đương
được, không khi nào thần dám từ nan.
- Trẫm không nhờ Hiền khanh việc gì cả! Chỉ có một vấn đề tâm
sự muốn cùng khanh giải quyết mà thôi. Hiền khanh! Nay trẫm đã đúng bảy tuần rồi,
chả còn sống được bao ngày nữa. Nhà trẫm kiệm bạc, không có bảo vật nào đáng
giá để kính tặng Hiền khanh, phải gọi là theo lễ cổ biếu khanh một tước danh nhỏ
mọn, tạm để tỏ bụng chân thành của trẫm đó mà thôi.
Trẫm nghe Hiền khanh nhận nhời nán lại ít lâu trẫm rất đẹp ý.
Nhưng sợ sau này, Hiền khanh lại trở về Nam, Thái tử thì còn non nớt, việc
chính sự hệ trọng không còn biết cậy vào ai. Có lẽ nào cơ đồ nhờ Hiền khanh lấy
giúp lại cho, mà một sớm để tan tành như thủa trước?
Ngoài Bắc thành này, nhân tài xuất chúng như Hiền khanh không
có mặt nào đương nổi việc định quốc. Phi Khanh ra, không còn ai giúp trẫm giữ
yên được mãi cơ đồ. Vậy trẫm muốn cùng Khanh được kết dây thân ái về mai hậu,
chả hay Khanh có thuận tình?
Hai mắt đen sắc của anh hùng bấy giờ như mờ ám trông vào
quãng không gian vô định. Hiển Tôn vẫn run run thủ thỉ nốt lời:
- Trẫm có sáu vị công chúa. Trong sáu ngôi, không ngôi nào
đáng nâng khăn sửa túi cho Hiền khanh, chỉ có công chúa Ngọc Hân là đáng mặt
làm nội trợ cho kẻ hào kiệt lỗi lạc như khanh đó. Ngọc Hân đủ mọi vẻ nết na thuần
thục, lại tài hoa nhan sắc hơn người. Gả nó cho khanh, trẫm thực có chết cũng
không hối hận gì nữa. Hiền khanh! Khanh nghĩ thế nào? Chẳng hay dưới gối Khanh
đã có ai hầu hạ chưa?
Nguyễn Huệ lim dim đôi mắt. Chàng nửa mừng, nửa ngại, nửa băn
khoan, không biết đáp thế nào. Chàng tự thấy cảm động vì lòng chân thành tử tế
của Hiển Tôn, cũng toan ừ phắt ngay một tiếng để chiều ý vị lão quân đã có lòng
yêu mến mình một cách sốt sắng. Song chàng lại sợ về nỗi bận rộn trong khi hành
binh, sợ mang tiếng là một kẻ không chí khí.
Hiển Tôn như rõ biết tâm lý chàng, vội rút trong tay áo một bức
chân dung, tươi cười đưa cho Huệ:
- Đây là tiểu tượng Ngọc Hân đó. Hiền khanh thử nhìn qua xem
cho biết mặt vị hôn thê.
Đức Vua nói xong vui cười hớn hở. Thượng tướng quân Nguyễn Huệ
hai tay nâng đỡ lấy ảnh công chúa, ngắm nhìn hồi lâu, tâm thần như say đắm...
Ôi! Giai nhân! Con người đâu có dung nhan kiều diễm thế này, hay bức ảnh vẻ tôn
lên để mê hoặc lòng người ngắm? Nếu quả Ngọc Hân công chúa đẹp một vẻ thần tiên
dường ấy, thì, dù cỏ cả công danh sự nghiệp, Huệ cũng cam đổi lấy để phi nguyền!
Dưới lớp khăn vành dây, một khuôn mặt trái soan làm tăng vẻ khuynh thành của
đôi mắt bồ câu tinh anh sắc sảo đẹp một vẻ đẹp phúc hậu, nhu mì, đôi mắt say
sưa mà thùy mị, mơ màng dưới đôi mày lá liễu xinh thậm là xinh; rồi đến một cái
trán sáng của thông minh hiện dưới làn tóc mượt đen rẽ thành một đường ngôi lịch
sự; rồi đến hai cái tai, ôi! xiết bao đều đặn, một cái mũi thẳng đuột và ngay
ngắn trên làm môi son không đầy không mỏng tỏa ra một nụ cười óng ả, thực có
duyên, nhưng không hề tí chút lẳng lơ nào...
Cái diện mạo ấy lại là của một hình hài yểu điệu, tha thướt,
giấu dưới làn áo cẩm bào dài rộng, dưới nếp xiêm lĩnh xuề xòa, chỉ để lộ ra hai
bàn tay nhỏ nhắn, mà dài: một tay mỹ nhân tài tử.
Xem qua bức chân dung phác họa ấy, cũng đủ biết Ngọc Hân là một
vì công chúa thiên kim. Gia dĩ từ thủa chưa đạp chân lên đất Bắc Hà, Huệ đã
nghe Hữu quân Đô đốc, nhiều phen, tán tụng về vẻ đẹp độc nhất vô song của thiếu
nữ mà giờ đây, một nhời của chàng sẽ cho chàng được phép làm chủ cả đời, mãi
mãi...
Giấu kín vẻ xúc động của con tâm, Huệ vẫy Hữu Chỉnh lên thềm,
trỏ Chỉnh tâu cùng Hiển Tôn Hoàng đế:
- Tâu Bệ hạ! Quan Hữu quân Đô đốc Chỉnh ngày xưa đã theo Huy
quận công ăn lộc của triều đình Bệ hạ, ngày nay ắt hẳn hết lòng giúp nhà vua giữ
vững sơn hà. Chỉnh cũng là người có tài không kém gì thần, thiết tưởng y sẽ là
một tay an bang định quốc cho Lê Triều ta đó.
Hiển Tôn nghe nói, tưởng Huệ có ý chối từ, nét mặt đương phớn
phở bỗng trở lại buồn rầu. Ngài nặng nề ngả đầu xuống gối:
- Trẫm có hỏi đâu Hiền khanh việc an bang, định quốc, chỉ cầu
khanh cho biết một nhời rằng khanh có vui lòng cùng Ngọc Hân gá nghĩa hay
không?
Hiểu rõ chuyện tâm sự của vua Lê, Hữu Chỉnh sẵn khoa lém lĩnh
tinh ranh, vội đỡ lời Nguyễn Huệ:
- Tâu Bệ hạ, Bệ hạ đã rũ lòng thương, lấy tình thành thực đối
với Thượng công của kẻ tiện thần này, chắc Thượng công của thần cũng không nỡ
nào lấy lòng giả dối tạ lại Bệ hạ. Vã chăng, Ngọc Hân công chúa là một vì kim
chi ngọc điệp, gồm đủ cả sắc lẫn tài, trên trần này thực chưa có giai nhân nào
sánh kịp. Nay đem gả cho một trang anh hùng như Nguyên soái, thì thực đẹp đôi
loan phụng, còn ai cân nhắc đúng hơn? Nguyên soái của hạ thần vừa đúng dịp, lại
chưa có tề gia nội tướng...
Chỉnh nói xong, quay lại nhìn Nguyễn Huệ:
- Bẩm Thượng công! Thánh hoàng đã giáng chỉ ban cho Thượng
công cái đặc ân ấy, tiểu tướng trộm phép khuyên Thượng công chớ khá nề hà. Xin
bề trên cứ nhận lời. Nếu sau này tài sắc công chúa không đủ hài lòng đẹp ý Thượng
công, bao nhiêu trách nhiệm Chỉnh này xin chịu cả!
Nguyễn Huệ trong lòng đã chứa chan tình cảm, nhưng mặt ngoài
còn làm ra bộ khiêm tốn, chửa vâng lời.
- Thần đức mỏng, phúc bạc, không biết có đáng sánh vai cùng
công chúa hay không! Bệ hạ đã rộng lượng cho thần được dụ vào hàng phò mã Đông
sàng, thần đâu dám không tuân theo Thánh ý. Nhưng xin cho thần đuợc phép một
vài giờ suy nghĩ, có thế nào, sáng mai, Hữu quân Đô đốc đây sẽ vào tâu Bệ hạ
rõ. Xin Thánh thượng rộng xét. Thôi! Hôm nay triều bái Bệ hạ đã lâu rồi, làm
cho Thánh thể đã vi hoà càng thêm mỏi mệt. Xin rước Thánh giá vào cung tĩnh dưỡng;
thần tạm xin lui về nơi quân lữ, bất nhật thần sẽ vào chầu...
Cảnh Hưng Hoàng đế cầm tay Huệ ngần ngừ không muốn rời ra.
Vua tôi lưu luyến mãi. Khi Nguyễn Huệ bái từ về phủ, vua cha rầu rầu nét mặt, ứa
lệ phán rằng:
- Hiền khanh những lúc thanh nhà chớ nên bỏ trẫm một mình, mà
cũng đừng nên phụ tình trẫm quí thương khanh nhé!
Nguyễn Huệ bước xuống thềm về phủ, mà Hiển Tôn còn chống nạnh
nhìn theo. Ngài sai bách quan tiễn vị anh hùng ra quá Ngọ môn, rồi truyền gióng
trống bãi chầu.
Ngày hôm sau, Nguyễn Hữu Chỉnh vào nội cung tâu vua rằng
Nguyên soái đang sắm sửa trang hoàng Súy phủ để đợi ngày làm hôn lễ. Lại xin
Vua quyết định ngày nào cho công chúa lên kiệu hoa xuất giá.
Bởi thế, ngày tốt lành là ngày mười một tháng bẩy, vừa mới
tan khói lủ, dân thành Thăng Long đã được xem một đám cưới rất linh đình, một cảnh
tượng rực rỡ đệ nhất trong lịch sử: cuộc nghinh hôn Ngọc Hân công chúa đẹp
duyên cùng đấng anh hùng danh tiếng nhất nước Nam: Nguyễn Huệ.
PHẦN 5
Từ ngày mùng hai tháng bẩy cho tới ngày 17 tháng tám, trong một
tháng rưỡi trời đội quân Tây Sơn ở lại Bắc Hà để giúp cho nhà Lê vững ngôi bảo
tộ, Quan Tiết chế lấy Trịnh phủ làm phủ Nguyên súy; còn các tướng sĩ theo ngài
ra diệt Trịnh, thì chia nhau, mỗi người chiếm một cơ sở, đóng binh.
Trong khoảng 45 ngày mà quân sĩ Tây Sơn đóng đại doanh ở đất
Bắc, thiên hạ được mục kích không biết bao nhiêu là cảnh long trọng rực rỡ, vui
cũng như buồn.
Thoạt đầu tiên, một cuộc diễn binh lộng lẫy, xong, đến đám ma
Chúa Trịnh cử theo vương lễ, đám cưới Ngọc Hân công chúa lấy Uy quốc công, rồi
sau này, đám tang Hoàng đế Cảnh Hưng cùng cuộc chào đón vua Thái Đức khi ngài
đem quân ra xứ Bắc. Năm cảnh trọng thể, hùng tráng, bi ai hay vui vẻ đó nối tiếp
nhau, cứ cách vài ngày lại có. Thành ra rằm tháng bẩy năm Bính Ngọ ấy, vì sẵn
có mấy cuộc tế lễ linh đình cùng cuộc tiếp rước uy nghi xẩy ra từ trước, cũng
hoá ra náo nhiệt vô cùng.
Trong khắp thành Thăng Long, không nhà nào không đèn hương tế
lễ, làm chay, đốt mã, kỷ niệm ngày xá tội vong nhân. Giữa sân chùa Pháp hoa, ở
phía Đông Nam, các vị hoà thượng thiết đàn tràng rất to và tụng niệm cho chúng
sinh được siêu sinh tịnh độ.
Mập mờ bóng đèn chen bóng tối, lúc bây giờ đã gần tới canh
hai. Thiên hạ nô nức đến vãn chùa nhân tiện xem các sư ông chạy đàn và phá ngục.
Ngày hôm ấy trong các chùa làm chay to lắm, nào vàng hồ, nào
áo giấy, nào cháo, nào bỏng, nào hương hoa lễ vật, nào đèn nến oản xôi, không
biết bao nhiêu thứ bầy la liệt khắp nhà Tam bảo, trên Phật điện, có khi đến cả
sân chùa. Thôi thì chỗ nào cũng xì xà xì xụp, chỗ nào cũng đốt mã cho vong
nhân.
Sau một cuộc chinh chiến điêu linh, không nhà nào không có
tang, không nhà nào không khóc con, khóc chồng, khóc anh, khóc em, khóc chú,
khóc cháu, khóc những kẻ khốn nạn mà, vì việc quân thứ, một sớm kia, đã vong mệnh
chốn sa trường. Các nhà sư giầu lòng bác ái đều cầu nguyện cho những hồn oan tử
sĩ, được siêu thăng tĩnh cảnh.
Bởi lẽ ấy, ngày rằm tháng bẩy năm Bính Ngọ, ngoài Bắc Hà rộn
rịp vô cùng. Chỗ nào cũng làm lễ cúng vong nhân, nhưng không đâu thiếp lập tuần
chay to hơn chùa Pháp Hoa ở về phía Đông Nam cả.
Trong chùa, đèn nến thắp sáng trưng như ban ngày, khói hương
toả xanh rờn cả một vùng không khí. Cảnh thập điện hiện ra trên mặt một cái nhà
mã làm rất công phu tỉ mỉ, xung quanh có bầy các hình nhân, ngựa voi tàn quạt,
bằng giấy cả. Một lát nữa, hoà thượng trong chùa sẽ cầm thiền trượng đi vòng
quanh cái nhà mã ấy, vừa tụng kinh Địa Tạng vừa phá ngục, cứu cho các vong hồn
được giải thoát ra ngoài. Khắp sân chùa cũng chật như nêm cối, rào mất cả đường
đi của mấy sư ông, sư bác, luống cuống ra vào như bận rộn lắm, tiếp chỗ này, sửa
chỗ kia, tất ta tất tưởi, nét mặt vui hơn là buồn.
Các binh tướng nhân cơ hội có tuần chay náo nhiệt rủ nhau từng
đàn, từng lũ đến các chùa xem tế lễ, và đi lùng con gái lương dân. Trước cửa
chùa Pháp Hoa, hai viên võ quan cầm tay nhau đi đi lại lại, tìm những chỗng
bóng tối đứng đàm luận sự gì bí mật, hình như bàn về những vấn đề quan trọng của
quốc gia. Hai viên võ quan ấy trông khôi ngô tuấn kiệt, tuổi độ vào khoảng hai
mươi. Cùng mặc đồ nhung phục miền Nam, nghĩa là theo cách ăn vận của quân Tây
Sơn, không giống lối nai nịt người Bắc. Lại gần, trông kỹ, ta sẽ thấy trong hai
thiếu niên võ tướng, một người mặt vuông, trán gồ, lông mày rậm, mắt sáng, môi
mỏng và mồm rộng, trông uy nghi lẫm liệt, rõ ràng ra vẻ con nòi. Không những thế,
người đó còn lưng to, vai rộng, cười nói sang sảng, đi đứng hùng dũng, bề ngoài
đủ mọi nét tỏ rằng chàng khí khái, ngang tàng. Người thứ nhì, nhìn bộ điệu và
hình dung lại khác hẳng người vừa mới tả. Anh chàng này hình dáng bé nhỏ, mảnh
dẻ, ăn nói thì nhủ nhỉ mà đi đứng lại có bề yểu điệu, nhu mì. Đến khi trông rõ
mặt, ai chả bảo là một thư sinh bạc nhược: Lông mày lá liễu kẽ vàng trên đôi mắt
bồ câu dài nhỏ, đen lay láy; một chiếc mũi dọc dừa xinh xắn trên đôi môi đỏ
chói như son; hai hàm răng trắng nuột như ngà, một khuôn mặt trái soan đều đặn
mà làn da trắng bóc, hơi điểm hồng hai bên gò má, càng làm cho tươi tắn, mỹ miều.
Hai trang anh tuấn thiếu niên kia, tựa như một đôi bạn chí
thân chí thiết; họ cầm tay nhau chán thì bá cổ vịn vào nhau đi bách bộ trước
chùa. Vừa đi vừa cười nói vui vẻ, to nhỏ cùng nhau những sự gì không rõ. Đến
khi trống điểm sang canh, cả đôi cùng dắt nhau theo một đường hẻm lần về dinh
quan Đô đốc.
Rồi đêm nào cũng thế, hai viên tiểu tướng lại dìu nhau đi trò
chuyện trước cửa chùa Pháp Hoa. Mãi đến tối ngày 18 tháng 8 giữa tiết Trung
Thu, thì mới không thấy bóng dáng hai chàng đó nữa.
Nhưng đêm hôm mười mấy, cũng vào khoảng trống canh hai, những
du khách tình cờ đi lại bên chùa Pháp Hoa, vẫn được mục kích họ bá cổ nhau, ngồi
bàn luận trên tảng đá.
Người mặt vuông to lớn bảo người mặt trái soan mảnh khảnh rằng:
- Nay đã quá tiết Trung thu, mà quân ta vẫn không thấy nhổ trại
trở về Thuận Hoá. Không biết bao giờ quan Nguyên soái mới truyền lệnh xuống? Phụ
thân tôi càng ở ngày nào, càng bị tân khách quấy nhiễu ngày ấy, thực là tốn
công tốn của mà chung qui chẳng có ích lợi gì!
Người mảnh dẻ khe khẽ gật đầu, không đáp. Mắt chàng mơ mộng
nhìn quãng tối vắng thăm thẳm, hình như đang mải mê nghĩ ngợi sự gì. Bỗng chàng
mở miệng, muốn nói, rồi lại ngập ngừng không nói nữa. Người to lớn không trông
thấy về vẻ ngần ngừ ấy. Mãi hồi lâu, vụt một cái người bé nhỏ đứng phắt dậy, vỗ
vai bạn:
- Anh ạ, em có một lời quan trọng, muốn nói anh rõ. Nhưng...
Khó xử quá! Em nghĩ đà nát óc, chẳng ra kế gì. Chỉ còn cách chúng ta phải tạm
biệt nhau là hơn cả, song le, biết bao giờ ta mới được trùng phùng?
- Có chuyện gì, em cứ nói. Dẫu phải chết vì nhau, anh cũng
không lấy làm ngại. Lời thề xưa dưới bóng trăng còn đó, có lẽ em quên mất rồi
sao?
- Không, quên thì chả khi nào quên được; chuyện này tuy đối với
ta không có gì nguy đến mạng, nhưng muốn cho toàn vẹn, ắt ta phải tìm ngay một
phương thoát thân cho gọn gàng! Mà làm thế nào cho bố mẹ chúng ta đừng vì thế uổng
mất thanh danh của nhà võ tướng!
- Em nói phải, nhưng mà... câu chuyện này nó quan trọng thế
nào? Anh nóng ruột quá, chỉ muốn nghe ngay cho rõ.
- Anh đừng vội. Chỗ này không phải là chỗ có thể giãi bầy tâm
sự được. Anh nên theo em ra đây, em sẽ kể anh hiểu.
Người bé nhỏ nói xong, dắt người to lớn đi qua mấy con đường
hẻm, ra tới một cánh đồng bát ngát vắng tanh. Hai người cùng ngồi xuống bên bờ
ruộng lúa.
***
Hữu quân Đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh, mặc dầu đã hết sức làm đẹp
lòng Uy quốc Công Nguyễn Huệ - nào chuyện Huệ ra diệt Trịnh, nào tận tụy săn
sóc đến đám cưới công chúa Ngọc Hân, - hình như khó thu được bụng ông chủ soái
Tây Sơn, mà vẫn bị Huệ ghét cay ghét đắng. Chỉ tại tính Chỉnh không đường đường
quân tử, chàng đã hay ô mị còn tham lam, giảo quyệt, khiến lòng cương trực Uy
quốc công khó nỗi bao dong. Thì vừa mới hôm nào còn ở Thuận Hoá, nửa bỡn, nửa
thật, Huệ đã làm cho Chỉnh phải kinh hồn.
- Ấy, ai thì không ngại, duy chỉ ngại có ông đó thôi!
Lại đến hôm Huệ lên chầu đức Hiển Tôn, Huệ tâu vua để một
mình Chỉnh ở lại Bắc Hà, giúp nhà Lê đương thiếu kẻ hiền thần định quốc. Huệ
trong lòng vẫn muốn trừ Chỉnh, nhưng vì công việc còn nhiều bề bộn nên phải dằn
lòng dùng đến tài Chỉnh ít lâu. Huệ không bao giờ không rõ Chỉnh là người lỗi lạc,
song không muốn cùng Chỉnh cộng sự là bởi sợ một mai, kẻ gian giảo kia sẽ có cơ
làm hại đến mình.
Ghét Hữu Chỉnh, không những chỉ một mình Nguyễn Huệ. Vốn sẵn
tài hùng biện, Chỉnh là một tay nói khoác và tự phụ ít ai bì. Cho nên chàng bị
vạ miệng, không cách nào tránh được. Hồi vừa vào Bình Định, được vua Thái Đức
yêu phong làm tướng, Chỉnh có ý kinh tài Phò mã con rể vua Tây Sơn, Võ Văn Nhậm,
bởi cớ ấy, không bằng lòng Chỉnh. Nhậm là người Quảng, xuất thân là một tay
cung, rồi dần dần lên đến hàng tướng, không có chữ nghĩa, đến khi được kén làm
Phò mã, Nhậm lên mặt khinh bỉ Chỉnh là một kẻ đầu hàng. Trái lại, Chỉnh tự ỷ
mình là một văn tài xuất thế, một thủy sư có tiếng vang lừng, một võ quan sinh
trưởng trong một danh gia vọng tộc, nên khinh Nhậm là người vô học đắc thời
lĩnh tước công khanh. Chỉnh, trước mặt Nhậm, nhiều khi mỉa mai ngâm mấy câu thơ
của Đặng Dung truyền lại:
"Trời lai đồ điếu thành công dị"...
Bởi mấy lẽ ấy, tuy cùng đồng triều, đồng sự, hai quan Đô đốc
ghét nhau như hai kẻ cựu thù. Hai nhà không bao giờ đi lại với nhau; dẫu có tết
nhất, giỗ cưới cũng không biếu tặng nhau một chút quà nhỏ mọn.
Kịp khi cả hai cùng ra đến bắc thành, sự hiềm khích đã chất
chứa trong hai tâm hồn, vì những lẽ rất ngẫu nhiên, càng ngày càng tăng mãi.
Tình cờ dun dủi cho Tả quân và Hữu quân cùng ở chung một phủ. Nhậm giữ chái bên
Đông. Chỉnh ở mé bên Tây. Tuy cùng ở một nhà, hai quan Đô đốc không bao giờ ghé
tạt vào thăm hỏi nhau, trừ khi cùng hội diện trong súy phủ.
Hữu quân Chỉnh thủa xưa vốn làm tướng thờ nhà Lê, ông đã theo
quan Hiệp đồng Hoàng ngũ Phúc và Huy quận công Hoàng Đình Bảo. Bởi vậy, lần này
ra tới Thăng Long, thân bằng cố hữu kéo lại chào mừng rất đông, tiếp đãi từ sớm
đến chiều mà không ngớt. Trước cửa dinh Đô đốc, không ngày nào không rập rìu những
xe cùng ngựa; người lui kẻ tới tấp nập như hội chợ; vương tôn quý khách ra vào
chẳng thiếu mặt nào.
Chỉnh trước đã ở lâu đất Bắc nên nói tiếng Thăng Long rất thạo,
chỉ hơi lơ lớ đá một vài tiếng Nghệ mà thôi. Quan khách đều ngỡ Chỉnh là người
bản xứ. Vả chẳng Hữu quân sẵn tài cao đàm hùng biện, tiếp đãi tân khách rất niềm
nở lịch sự, hoá nên càng ngày thiên hạ kéo tới càng đông. Có lẽ bao nhiêu quý
quan, bao nhiêu danh tướng, bao nhiêu đại gia, có ở trong thành Thăng Long
không ai không đến tiếp kiến Chỉnh để nghe giảng thuyết và lý luận.
Nhưng, phủ Đô đốc tuy nhiều khách khứa, mà bên chái đông, tuyệt
nhiên chẳng có bóng ma nào. Đến chơi một vị ư ? Vị ấy đi rẽ sang chái tây, nhìn
về phía đông một cách hững hờ lãnh đạm. Cái đó không lấy gì làm lạ. Tả quân Võ
Văn Nhậm nguyên là người Quảng ra đến Bắc Hà xa lạ không có ai đi lại quen
thân. Nhậm đã nói tiếng trọ trẹ khó nghe, lại không có học thức gì, tiếp khách
buồn như chấu cắn. Ngoài sự mời trà, mời thuốc, Nhậm chỉ biết bàn những chuyện
thông thường, hoặc giả một vài môn võ, còn ngoài ra, chả biết câu gì, chỉ ngồi
ngẩn mặt vuốt râu, há mồm nghe diễn giải những ý tưởng cao siêu thâm thúy.
Bởi thế, ngoài một vài võ tướng đến thăm Tả quân, không còn
ai vào dinh Đô đốc mà đi sang viện phía đông hết cả.
Hai cha con, Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Anh Tề cả ngày phải cặm
cụi tiếp rước tân khách; cha đi vắng vào chầu trong phủ súy thì con ở nhà phải
đưa đón thay cha. Bì chả với hai cha con Võ Văn Nhậm lúc nào cũng rỗi rãi an
nhàn; Quận chúa An Trinh thì luôn luôn cải trang đi du ngoạn khắp phố phường
trong khi Phò mã ở nhà đánh chén hay đánh giấc.
Thỉnh thoáng cuốn rèm nhìn ra cổng chính, Phò mã lại buồn rầu
tức bực thấy bên mái tây nô nức những người, khiến vẻ tẻ lạnh của toà dinh cơ
phía đông càng thêm rõ rệt. Tựa hồ trong phủ Đô đốc, chỉ mé bên kia có người ở;
còn bên này thì rêu phủ cỏ phong, chả ai đoái hoài trông đến, coi như một chỗ bỏ
hoang. Mình cũng đường đường một quan đô đốc, nào có kém gì kẻ kia, cớ sao lại
có sự chênh lệch quá thiên như vậy?
Nếu sự chênh lệch ấy chỉ thoảng qua một hai ngày, có lẽ Nhậm
cũng không để ý. Nhưng đằng đẵng hơn một tháng trời, mà ngày nào cũng phải gượng
gạo nhai nuốt sự bất công, Nhậm không thế nào chịu nổi. Mình đây ngang hàng với
nó, vì lẽ gì thiên hạ lại về hùa với nó mà rẻ rúng mình? Đầy một lòng hổ thẹn,
tức bực, ghen ghét, Nhậm càng nuôi một mối tử thù đối với Chỉnh.
Chỉnh xưa nay vốn là người khéo xử, thấy tình hình như vậy,
biết ngay thế nào Nhậm cũng bẽ mặt với quan lại xứ Bắc Hà; ông bèn sai con trai
cả là công tử Anh Tê cùng một đội gia nhân đứng ở Chính môn, hễ có khách thì
đón một nửa sang trái đông để vào thăm hỏi Nhậm. Lần đầu tiên, một vài người lầm
tưởng Hữu Đô đốc cho đón vào, đi sang mé đông vào tiếp Phò mã Nhậm. Nhưng thấy
Nhậm ăn nói rấm rẳn, đã không lịch sự lại có nhiều tự đắc, lần sau họ không để
bị mắc mưu. Mặc dầu Anh Tề mời mọc lôi kéo họ sang trái bên đông, họ cứ tìm
cách đi cả sang toà lầu Chỉnh ở. Người nào cũng thế, không ai bảo ai, mà đều
tránh mặt Nhậm, không muống phải chịu nỗi bực rọc ngồi nói chuyện với Tả quân.
Một là tiếng phương Nam lơ lớ khó nghe, hai là Tả quân, thấy khách Cảnh Hưng
không vào chơi nhà mình, thì đâm ra ghét khách; hễ có ông nào vô phúc lò dò mò
đến, là thế nào cũng bị Nhậm ban cho những câu lỗ mãng tục tằn. Gặp được người
nào, Nhậm trút cả trên mặt người ấy những nỗi căm tức bấy lâu vẫn lèn trong đáy
dạ. Rồi, ngày lại ngày, mối căm tức ấy bởi không tiêu đi được, hoá ngay thành mối
đại thù đối với cha con Nguyễn Hữu Quân.
Cha con Chỉnh tưởng đón rước hộ khách vào nhà Nhậm ắt làm cho
Nhậm vui lòng; ngờ đâu, trái lại, Nhậm đã không cảm ơn còn đâm ra oán giận. Nhậm
tưởng lầm Chỉnh có ý riễu cợt mình nên làm thế để mình hổ thẹn; lòng ghen tuông
đố kỵ của Nhậm càng thêm sôi nổi, khiến sau này, vì những câu chuyện nhỏ nhặt
không đâu ấy, vì sự hiểu lầm nhau ấy, biết bao tấn bi kịch xen vào gia đình họ
Võ và họ Nguyễn, phá tan hạnh phúc của cả đôi, rồi khiến cả đôi cùng bị giết một
cách thảm thương, khốc liệt.
Thế mới biết đối những kẻ đầy lòng tiểu nhân, hay ghen ghét,
hay thù vặt, sự nghiệp không bao giờ được vĩnh viễn vẹn toàn.
Mối hiềm khích mà ngẫu nhĩ, không chú ý, Nguyễn Hữu Chỉnh đã
gây cho Võ Văn Nhậm, mối thù ấy, dựa vào lắm việc nhỏ nhen, vô lý, càng ngày
càng bành trướng dần dần. Nó thong thả, âm ỷ chiếm tâm hồn Nhậm, nung nấu tâm hồn
ấy, rồi, một ngày kia, biến hẳn thành một ý nghĩ duy nhất trong óc Nhậm, ngày
đêm cắn rứt Nhậm, bắt Nhậm phải luôn luôn hoài bão nỗi căm hờn.
Mà, giữa lúc Tả quân Đô đốc tâm tâm niệm niệm xây đấp trong
tư tưởng những phương pháp báo thù cừu địch một cách hiểm độc sâu cay, giữa lúc
ấy ông Hoá công tinh nghịch đã mưu sẵn một trò đùa ác nghiệt, tựa hồ muốn dùng
trò đùa ấy để mai mỉa Chỉnh và Nhậm, dạy cho hai kẻ tiểu nhân một bài thí nghiệm
đau đớn, cho bõ ghét thói ghen hờn.
Thần Ái tình đã lướt qua, điểm một nét êm ái dịu dàng trên vẻ
tối đen của sự oán thù đê hạ. Đầy một lòng căm giận, Võ Văn Nhậm nào có hay đứa
con gái bấy lâu nay một niềm yêu dấu, đứa con vô nghi vô phúc ấy, nó đã cùng
con trai Nguyễn Hữu Chỉnh, thề sắt son sinh tử những bao giờ!...
PHẦN 6
Thành Quy Nhơn năm Giáp Thìn (1784).
Tiết Trung thu năm ấy, dân trong thành, được buổi trăng rằm rạng
tỏ, mua vui mở một cuộc rước đèn múa sư tử tưng bừng. Đám rước, đi đến đâu,
khua chiêng trống mã la inh ỏi; nhà nào có treo giải thì cho gọi đám sư tử vào
giỡn cầu trước cửa cho vui.
Về phía nam trong thành, trước cửa dinh quan Tiết chế, có hai
đám rước, vì cùng tranh đua nhau một giải thưởng đặc biệt, đâm ra gây lộn lẫn
nhau. Kết cuộc là một sự ẩu đả mịt mùng túi bụi, người la trẻ khóc vang lừng.
Giữa lớp sóng người tấp nập đi xem, bỗng đâu nhảy xổ ra một thiếu niên hùng
dũng, chen vào đám rước can những tay loạn đả ngông cuồng. Can mãi không được
chàng tức tiận, múa quyền thưởng cho mấy kẻ ngang ngạnh một bài thí nghiệm rõ rệt
về sự hay cấu xé lẫn nhau. Quyền chàng xông vào đến đâu, lũ người đương hăm hở
đấm đá đều dãn ra đến đấy; sau cùng, bao nhiêu tay hung hãn phải ngừng cả lại,
đứng nhìn người tuổi trẻ nhẩy múa; chúng càng ngắm kỹ, càng đâm ra kính phục
hãi hùng. Thì ra anh chàng vào can đó có một môn quyền tuyệt diệu; nào khi lui,
khi tới, nào lúc đá, lúc đấm, chàng hoành hành một cách rất ngoạn mục, biến hóa
điệu bộ không biết đâu mà lường. Tuy chàng hăng hái tiến thẳng vào đám đông,
như muốn đánh cho bọn vô lại một trận đòn dừ tử, kỳ thực chàng chẳng để ai đến
nỗi bị thương cả, chỉ cốt làm cho mấy tên đầu xỏ hoa mắt lên vì ngón võ chàng
diễn, ngõ hầu chúng dừng tay lại, không đánh nhau kịch liệt nữa. Thành thử chỉ
trong một thời khắc nhỏ, hai đám rước bỏ cuộc xung đột; những kẻ rước đèn và những
khách đi xem đều giãn lui ra hết, nhường chỗ cho thiếu niên tráng sĩ trổ tài.
Tráng sĩ thấy sự can thiệp của mình đã có hiệu quả, vừa muống
lủi vào đám đông để lẩn tránh ra về, thì thình lình như một tia chớp, một người
bé nhỏ, mảnh khảnh nhẩy vụt đến trước mặt chàng vừa vươn tay đánh, vừa la lớn:
- Ông đã phô tài, ta thử chơi nhau một keo!
Tráng sĩ hết sức ngạc nhiên, song cũng định thần né mình sang
một bên, lấy thế thủ, rồi chẳng nói chẳng rằng xông vào đánh người bé nhỏ. Hai
bên vờn nhau như rồng tuôn, phượng múa; người ngoài xem chỉ thấy chân tay vùn vụt
như gió đập, quần áo phấp phới như hoa bay, tịnh nhiên không biết ai thua, ai
được. Công chúng đứng đờ ra ngắm nghía, lại reo hò vỗ tay trợ lực cả đôi bên.
Hai người ganh sức nhau một lúc lâu, chẳng biết đến bao nhiêu hiệp; mãi sau
cùng, tráng sĩ thứ nhất mới dùng kế lùi ra ngoài, tránh cái đá song phi của bên
địch. Anh chàng bé nhỏ đá hụt, bị tráng sĩ nằm rạp xuống ngáng chân, làm cho
ngã xóng xoài trên mặt đất.
Thiên hạ vui mắt, cười la rầm rĩ, khua chuông gõ trống om
xòm. Khi tráng sĩ nhún mình trỗi dậy, thì không thấy bóng người bé nhỏ đâu nữa;
người ấy hổ thẹn, đã phi thân trốn đi tự lúc nào rồi. Tráng sĩ đành rẽ đám đông
lủi ra về, vừa đi vừa nói một mình, vừa tắc lưỡi:
- Thực là một tay đối thủ!
Tay đối thủ ấy, nào có phải ai xa lạ: chính là con quan phò
mã, rể vua Tây Sơn, Hổ oai tướng quân Võ Văn Nhậm đó! Mà người tráng sĩ xông
vào can đám rưóc tình cờ là con trưởng Phiêu Kỵ tướng quân Nguyễn Hữu Chỉnh:
Công tử Nguyễn Anh Tề. Công tử Nguyễn Anh Tề mới theo cha vào ở Qui Nhơn, thành
ra đấu võ với con Hổ oai tưóng quân mà chẳng biết tên biết mặt!
Mãi sau này, gặp gỡ nhau trong một trường hợp lạ lùng ngẫu
nhĩ, cậu Anh Tề mới được biết con quan Phò mã là một nàng quận chúa ngàn vàng.
Một buổi chiều, trời êm ả, ngồi hoạ đàn thổi sáo trước cửa dinh cùng vài người
bạn, công tử thấy đi vào phủ Phò mã một trang thiếu niên anh tuấn, sau lưng có
đến năm sáu tên thị nữ theo hầu. Ngạc nhiên hỏi bạn, Anh Tề mới rõ thiếu niên
anh tuấn kia, chính là một giai nhân giả dạng: Võ An Trinh quận chúa, con gái
Phò mã Võ Văn Nhậm, Cháu ngoại yêu của Thái Đức hoàng đế, cháu quan Tiết chế
Nguyễn Lữ cùng Long nhưỡng tướng quân Nguyễn Huệ, một trang anh thư tài sắc vẹn
toàn.
- Quận chúa vốn con nhà võ tướng, thân mẫu nàng, Thọ Huệ công
chúa, cũng là tay nữ kiệt trong nghề cung binh đao. Mười lăm tuổi đã sành khoa
phi ngựa, múa gươm; Võ Phò mã vì thế, đón một ông giáo sư Tầu có danh tiếng
sang dạy nàng những ngón quyền đặc biệt, và thập bát môn võ nghệ cho tinh tường.
Nàng bình sinh chỉ ưa ăn mặc giả trai, ưa thi quyền với nam nhi hào kiệt. Lại
thường sử một đôi kim giản, múa đôi roi ấy như tuyết rủ, hoa bay. Thực là một mỹ
nhân kỳ dị.
Nghe bạn kể rõ lai lịch của An Trinh quận chúa, công tử Anh Tề
mới nhớ rằng chàng đã cùng nàng, hôm rằm tháng tám, ganh đua hơn kém với nhau.
Từ đó, chàng càng để tâm đến quận chúa.
Dinh Phò mã cách dinh Phiêu Kỵ tướng quân chỉ có một con đường,
hoá nên những gịp Anh Tề được gặp An Trinh cũng không hiếm. Nhân đã từng biết
nhau trong khi thí võ cả đôi bên chả mấy chốc quen nhau, rồi mến nhau vì sắc vì
tài. Từ chỗ mến đến chỗ yêu mê khăng khít, nó chỉ xa nhau bằng một khoảng cỏn
con. Lạ gì những trai gái cùng loài tình chủng, ái tình chả tốn chút công nào
cũng có thể len lỏi rất mau chóng vào đôi con tâm còn non nớt, bắt hai trái tim
kia phải cùng nhau vỗ chung một nhịp nồng nàn. Yêu đương... yêu đương... quận
chúa, một tháng sau khi biết tình lang, đã cùng công tử cắn ngón tay, thề thốt.
Từ đấy, nguồn ân suối ái không ngày nào không âm thầm lai
láng, hai linh hồn trong sạch đã hoà vào nhau đúc nên một chữ "chung
tình". Rồi dẫu thời gian, dẫu hoạn nạn, dẫu đến dâu bể đổi thay, không
mãnh lực nào có thể tàn phá mối tơ duyên đã buộc kỹ đôi tráng sĩ anh thư và cạm
bẫy ái tình thần trăng sẵn. Sức âu yếm của hai thiếu niên bồng bột không sự gì
đèn nén nỗi; nó chỉ càng ngày càng tăng mạnh, nhất là khi cả đôi phải thương
yêu nhau giấu giếm, chưa được quyền công nhiên nên vợ nên chồng.
Nên vợ chồng, một vấn đề khó giải quyết cho công tử Anh Tề và
An Trinh quận chúa! Anh Tề không dám nói rõ lòng mình ước muốn cho phụ thân
chàng biết, cũng như An Trinh cứ bo bo giữ rất bí mật chút bầu tâm sự của nàng.
Cả hai, dẫu không hay đích xác rằng Phò mã cùng Phiêu kỵ tướng quân không ưa
nhau lắm, nhưng vẫn có trực giác rằng, nếu hở cơ, sẽ chịu nhiều điều trắc trở,
lo buồn. Vậy nên cùng kín miệng như bưng, chỉ cố tìm những dịp hẹn hò nhau ra
tình tự giữa nơi hoang vắng.
Những dịp hẹn hò không phải là hiếm, bởi lẽ An Trinh quận
chúa, nhờ cải trang, nhờ giỏi võ, thường được phép nhà trốn lầu khuê đi du ngoạn
luôn luôn. Vả chăng Phò mã Võ Văn Nhậm, lại lấy thế làm đắc sách, tưởng như con
gái mình sẽ ngang tàn bạo dạn hơn cả lũ nam nhi. Đi đến đâu, Nhậm cũng cho con
gái mặc giả trai theo với lũ gia nhân, tùy tướng: An Trinh quận chúa vì thế, được
theo cha ra mãi Bắc Hà.
Trong khoảng một tháng rưỡi mà quân Tây Sơn đóng ở Thăng
Long, chả mấy khi quận chúa và công tử không gặp nhau trong bóng tối chập chùng
trong sân chùa Pháp Hoa đầy cây cối um tùm xanh ngắt. Ngôi chùa thanh vắng ấy
đã làm chỗ hẹn hò của cặp uyên ương tình tự, nó đã hiểu thấu tâm sự của đôi
bên. Hai viên võ tướng thiếu niên thường đi vãn cảnh Phật, chính là Anh Tề cùng
An Trinh đó.
Tối ngày 17 tháng tám rạng ngày 18, An trinh kéo tình lang đi
qua nhiều khúc đường hẻm, tới một nơi hoang vu tịch mịch, rồi cả hai cùng đến
ngồi bên bờ ruộng lúa, tự tình.
Công tử - Em vừa nói có chuyện gì bí hiểm, xin mau mau kể lại
cho anh nghe, anh nóng ruột quá.
Quận chúa - Chuyện này không phải chuyện đùa đâu, anh đừng vội.
Số mệnh hai Anh Tề - An Trinh ở cả trong chút tâm sự này. Anh phải điềm tĩnh lắng
nghe, đừng làm nhộn lên nhỡ có kẻ lắng trộm được thì khốn. Anh có biết phụ thân
anh và thầy em không bằng lòng nhau đó hay không?
Công tử - Anh cũng mang máng thế.
Quận chúa - Ai ngờ đâu hai nhà thù nhau rất hiểm, mà hai quan
Đô đốc cùng nhau bất cộng sự từ lâu. Thầy em... hình như ghét phụ thân anh lắm
lắm...
Công tử - Sao vậy?
Quận chúa - Nào ai hiểu! Mãi hôm qua hỏi dò, hỏi gạn thầy em
mới rõ. Thầy em lại cấm không được hở cơ cho ai biết đến sự tình. Cách đây ba bốn
hôm, thầy em có lên thăm quan Nguyên soái, tâu kín rằng phụ thân anh là người
nham hiểm, xảo quyệt, nên kéo kín quân về, bỏ một mình ông ở đất Bắc. Quan
Nguyên soái nghe lời thầy em, đã ra mật hiệu cho tướng sĩ, nội đêm nay, lui
quân về Thuận Hoá, không bảo cho Hữu quân Đô đốc biết. Hiện bây giờ quân đã đi
rồi, thầy em cũng đã về rồi.
Công tử - Sao em chưa về?
Quận chúa (cười) - Em ở nán lại đợi anh... Anh ạ, em không về
được nữa: Nếu về... thì chả bao lâu... đôi Anh Tề - An Trinh sẽ minh dương chia
rẽ, em phải ngậm hờn mà chết, anh thì ở lại một mình...
Công tử - Em nói gì mà kỳ quặc vậy?
Quận chúa (đau đón) - Nào có gì mà kỳ quặc? Em đây đã có mang
rồi! Trở về, em sẽ khó lòng giấu kín được duyên nợ đôi Anh Tề - An Trinh, thầy
em chả giết em cũng sẽ bắt em tự ải. Vì thế, trong khi quân sĩ sửa soạn trở về tấp
nập, em đã thu dọn quần áo và những đồ châu bảo, rồi nhân lúc hở cơ, trốn biệt
một nơi. Thầy em, tìm em mãi chả thấy đâu, nhưng sợ trái lệnh bề trên, phải đem
binh tướng về ngay, không dám chậm trễ, bỏ mặc em ở lại. Thầy em tin rằng em có
thể theo kịp ba quân trở về Phú Xuân, rồi sẽ cùng thầy em về Qui Nhơn một thể.
Công tử (luống cuống) - Bây giờ thì làm thế nào?
Quận chúa - Làm thế nào! Cái đó là tùy lòng phụ thân anh. Nếu
phụ thân anh muốn về, thì nên thu xếp về ngay; mà muốn ở, thì cứ ở lại phù vua Mẫn
Đế, giữ non sông nhà Lê cho được vững vàng!
Công tử - Còn hai ta?
Quận chúa - Hai ta, đã có kế. Em đây định sẵn cã rồi! Ví dù
anh nghĩ đến ân tình, em sẽ theo anh về nhà, làm dâu họ Nguyễn. Anh sẽ giấu kỹ
em là Quận chúa, chỉ phao lên rằng em là một thiếu nữ lương dân. Rồi sau này,
em cứ việc đóng kín cửa ở trong phòng, cha mẹ em khó lòng mà nhận được! Khi nào
hai họ hết điều hiềm khích, bấy giờ ta sẽ lộ ra.
Nếu thân phụ anh không cho phép đôi Anh Tề - An Trinh thành
gia thất, mà liệt em vào hạng gái bất nghi, thì lúc đó, như anh quyết chẳng phụ
em, Anh Tề - An Trinh nên bỏ hẳn cuộc vinh hoa, tìm một nơi cây xanh bóng mát,
sống một cuộc đời thanh nhàn sung sướng cùng cỏ cây bầu bạn đêm ngày.
Ví bằng anh muốn theo đuổi công danh, không nghĩ đến nhời thề
thốt cũ, em sẽ chỉ còn một cách, một cách rất dễ, là đoạn tuyệt hẳn với cõi đời
đa lụy, đi tìm sự thoát tục bằng một lưỡi gươm.
Chẳng hay anh nghĩ thế nào, anh nên nói thẳng một lần, để em
biết mà quyết định đời em cho ổn thoả! Em tin rằng lòng em đã yêu anh chan chứa,
thì mối ái ân kia, không đời nào anh không trả lại cho em. Chúng ta, tuổi còn
thơ, chỉ sống bởi ái tình, một khi ái tình đã nhỡ, mà một kẻ trong hai ta chẳng
trọng nguyền ước cũ, thì người bị rẻ rúng có sống một mình để ngậm hờn nuốt tủi,
quãng đời kia cũng chỉ là một quãng đời thừa.
Công tử (cảm động) - An Trinh em ơi! Anh đã rõ lòng em cả. Em
đã bỏ vinh hoa phú quí, bỏ cả cha mẹ, thân danh, em đã không quản giá ngàn
vàng, một chiều kia, hiến cả sinh mệnh cho anh, anh nỡ nào trong buổi em cùng
khốn, bơ vơ, phụ tấm lòng em, không thẹn? Anh cũng như em cùng một giống hào
hoa khí khái, trót đã thề thốt cùng sinh cùng tử, dẫu tử sinh anh đâu dám ngại
vì tình?
Em cứ an tâm. Sự bạc đãi, hất hủi em, anh chẳng khi nào nghĩ
tới, nhưng việc đem về nhà cùng ở, quyết khó lòng ta được vẹn toàn. Vậy chỉ còn
cách ta đem nhau cùng trốn biết tích là hơn; song le em phải nán đợi một hai
ngày, để anh đủ thì giờ và mưu kế thoát thân cho vô sự. Bây giờ tuy em đã cải
trang thành võ sĩ, nhưng cũng nên vẽ mặt cho khác hẳn; rồi em theo anh về dinh,
anh sẽ giấu em trong phòng anh, không cho ai biết. Đợi khi phụ thân anh tính
xem nên về hay ở, bấy giờ ta sẽ thu hành trang đào tẩu phương xa. Chẳng hay như
thế em có vui lòng ưng thuận?
Quận chúa - Em hiện tình như quả trứng non nớt nằm lỏng lẻo
trên bàn tay anh, anh muốn nâng niu thì quả trứng đó được nguyên lành, mà bỏ xuống
đất thì nó vỡ ra lênh láng...
PHẦN 7
Ngày 13 tháng 8 năm Bính Ngọ.
Nhân dân thành Thăng Long, từ ngày Uy quốc công cho dùng
vương lễ để tống táng thi hài chúa Trịnh, được mục kích không biết bao cảnh
tưng bừng rực rỡ, liên tiếp nhau bầy ra trong khoảng hơn nửa tháng trời.
Mỗi khi anh mõ đi diễu phố này qua phố khác, vừa gỡ miếng sừng
cóc cóc vừa lên giọng khàn khàn báo cáo cho dân gian phải trang hoàng nhà cửa
và nghênh bái những đám rước tôn nghiêm long trọng sắp đi qua, thiên hạ lại
nhau nhau sắm sửa để chào đón những cảnh vui mắt, mới lạ, mà từ xưa, họ chưa từng
được thấy. Rồi, đến ngày đã dự định, họ tụm năm tụm bẩy ở các ngã tư ngã ba, họ
dắt nhau họp đông đúc trước cửa Ngọ môn, trước phủ Liêu hoặc trước đền Vạn Thọ,
họ leo lên cây, lên gác, lên tường, ở ven những phố phường mà họ cho rằng thế
nào đám rước cũng phải dàn qua.
Ngày 13 ấy, tấp nập rộn rịp hơn mọi ngày, nhân dân thành
Thăng Long kéo nhau đi xem hội. Họ bỏ cả nhà cả cửa, họ bồng bế xô đẩy nhau, họ
bàn, họ tán, họ làm náo động cả một vùng. Thôi thì nào già nào trẻ, nào con
gái, nào con trai, từ ngưòi giầu kẻ nghèo cho đến ni cô hoà thượng, tất cả bao
nhiêu sinh mệnh nương náu trong thành, tất cả bao nhiêu thôn phu an cư ngoài
thành, hôm ấy không ai rủ ai mà hình như đã hẹn sẵn với nhau từ trước, đều lũ
lượt ùa cả ra một lúc, dầy như nêm cối.
Lính tráng, từ sáng sớm, đã cầm roi quất vào những làn da dầy
dạn, những manh áo rách bươm, những chiếc nón xộc lệnh, những cái dù ngất nga
ngất ngưởng lấp trời. Một đội quân Ngự lâm, mỏi tay, mỏi mồm, mới bắt được kẻ
đi xem đứng theo lệ luật, không được lấp bờ đường, mà từng quãng, có cọc đóng
và dây thừng chăng sẵn để làm giới hạn.
Chính giữa đường từ cửa Nam đi thẳng suốt đến Ngọ môn đền Vạn
thọ, một hàng chiếu cạp điều phủ trên mặt đất; rồi, cứ năm mươi bước một, lại một
chiếc án thư bầy ngoài cạp chiếu, ven đường. Một chiếc tàn vóc hồng hoặc một
chiếc lộng vàng che ánh nắng cho án thư mà trên mặt, bầy một đỉnh trầm hương
nghi ngút, một đôi bình sứ cắm hoa, hoặc những đồ thất sự bằng đồng. Cách vài
trăm bước, có chỗ lại thiết lập những cái thể môn chót vót kết bằng lá tươi và
các thứ hoa đủ sắc, trên treo những bức nghi môn, bảo cái, lóng lánh chữ vàng.
Dưới cổng hoa, mỗi bên cột lại có bầy chiêng bầy khánh; cảnh tượng trông uy
nghi, trọng thể vô cùng.
Lúc ấy vào khoảng giờ Sửu. Từ bạch nhật, thiên hạ đã mỏi lòng
chờ đợi, các võ quan, binh sĩ, thị lập để giữ trật tự, cũng chán nản mệt mỏi,
bưng mồm ngáp vặt hoặc vuôn vai. Người đi xem đã náo nức muốn về, đinh ninh rằng
đám hội, chắc sai ngày, không có.
Bỗng đâu, một viên kỵ mã lướt qua đường như bóng nhoáng; thiếu
niên ngồi trên mình ngựa như không để ý đến nguyên vệ lỗng lẫy dàn ra trước mắt,
cứ xăm xăm ra roi chạy riết, làm cho vó ngựa xông pha trên dẫy chiếu cạp điều.
Người ấy mặc võ trang ngắn mà chẽn, trông y phục thì ra một tên tùy tướng,
không hiểu sao hắn ngang tàng như vậy, mà cũng không hiểu vì sao hắn có một con
tuấn mã chỉ nhìn sắc lông và kiểu chạy cũng rõ là một con vật quý vô ngần. Hỏi
ra mới biết bảo vật ấy là ngựa "Lưu tinh" mà người cưỡi nó là một tên
thám tử.
Tên thám tử đi đến đâu cũng lấy tay ra hiệu và hô lớn, mỗi lần
gặp bọn quan quân:
- Sắp đến! Sắp đến!
Như bị một mãnh lực gì tiêm vào gân cốt những mầm hùng dũng,
khẳng khái, sau khi nghe hiệu "sắp đến", các tên lính canh đều hết cả
buồn ngủ, ngáp vặt, tên nào cũng đứng ngay thẳng, coi bộ linh lợi hoạt động lắm;
rồi cuộc ra roi đập ô, đập nón, đập áo, đập vai, lại một lần lượn khắp mặt
khách đi xem, bắt họ phải đứng ngay ngắn, không được sát vào các dây chăng làm
giới hạn ở bên đường. Bây giờ thì dân chúng không tấp tểnh muốn về nữa, họ đều
hồi hộp, đều tỉnh táo, đều bấm nhau sẽ nhủ thầm:
- Sắp đến! Sắp đến!
Quả nhiên, độ ít lâu, một hồi trống kiểng ầm ầm báo hiệu trước
có ngựa xe đi tới. Tiếng nhã nhạc trúc tơ bắt đầu từ mé Ngọ môn đưa lại, lẫn với
tiếng sênh tiền nhịp nhàng êm ái như ru. Chẳng mấy chốc, một cuộc biểu diễn của
Hoàng gia bầy trước mắt khán quan không biết bao nhiêu sự rực rỡ uy nghi không
bút nào tả được. Cũng gần như đám rước hôm nọ của đội quân Tây Sơn đại thắng
đưa quan Tiết chế vào thành, đám rước hôm nay có quân lính đi một dẫy dài có
tàn, quạt, cờ, voi, ngựa, súng. Có chiêng, có trống, có đàn sáo, sênh tiền. Có
khí giới sáng loáng, có tinh kỳ rợp trời, có bào vàng giáp bạc, không một vẻ lộng
lẫy nào kém những cuộc điểm binh buổi trước, chỉ kém bề hùng tráng mà thôi.
Hôm nay còn có thêm cỗ loan xa vua ngự, bốn con ngựa
"Hoa tôn" trắng kéo, chung quanh có bốn lọng vàng cùng các quan thái
giám theo hầu. Lại có kiệu hoa của Phò mã Uy quốc công, và các mao vàng, việt bạc,
nghi vệ của thiên tử đi dàn trên thánh giá.
Đám rước to lớn ấy từ Ngọ môn ra đến cửa Nam, rồi thẳng đường
mãi tới Nam Giao thì đứng lại. Đến Nam Giao, vua Chiêu Thống (Nguyễn Huệ ra Bắc
Hà chưa được bao lâu thì Lê Hiền Tôn, tức là Cảnh Hưng, Hoàng đế mất. Cháu nội
Hiển Tôn là Duy Kỳ lên nối ngôi, tức là Lê Mẫn Đế, niên hiệu Chiêu Thống. Ông nầy
sau chết ở bên Tầu) cùng bách quan và tướng sĩ đứng dàn cả hai bên đường để đón
một vị quý nhân sắp ra thăm đất Bắc.
Vị quí nhân ấy nào có phải ai xa lạ: chính là Thái Đức đế
Nguyễn Nhạc, anh ruột Phò mã Uy quốc công. Nguyên trước kia, vua Tây Sơn không
có ý ra đánh Bắc Hà, chỉ sai em là Nguyễn Huệ, rể là Võ Văn Nhậm cùng tướng là
Nguyễn Hữu Chỉnh, ra lấy Thuận Hoá mà thôi. Khi Ngài tiếp được thư Huệ nói sắp
ra đánh họ Trịnh, Ngài vội vàng sai người ra Thuận Hoá ngăn Huệ. Nhưng sứ ra đến
nơi thì muộn quá rồi: quan Tiết chế đã cử đại binh ra đất Bắc từ lâu lắm. Kịp đến
khi vua Thái Đức được tin quân Tây Sơn đã diệt Trịnh, đại thắng vào thành Thăng
Long nhưng còn ở nán lại giúp nhà Lê, Ngài rất lo ngại. Thực tình Nhạc chỉ lo
Huệ ở lâu ngoài Bắc thì sinh biến, nên vội vàng đem 500 quân ra Thuận Hoá, lấy
thêm 2000 nữa ở đó, rồi, không quản ngày đêm, đi tuốt một mạch ra Bắc thành.
Quân Tây Sơn ra tới đèo Tam Điệp, bốn chuyến ngựa "lưu
tinh" liên tiếp nhau báo tin về chốn Triều đường. Vua Lê Mẫn Đế bèn sai
thiết lập các cổng hoa rải chiếu khắp đường và bầy hương án để tiếp rước vua
Thái Đức. Hơn nữa, chịu ơn sâu Nguyễn Huệ, lại nghĩ mình còn trẻ tuổi, mới lên
ngôi chưa được vững vàng trong một thời dường mối xã tắc đương đổ nát, vua
Chiêu Thống chịu nhún mình đưa tam quân ra tận Nam Giao đón Nhạc, mong rằng sự
khiêm tốn ấy sẽ cảm động vua Tây Sơn và chú dượng của mình là Huệ, ngõ hầu hai
người ấy, từ đây, sẽ giúp mình giữ vững được sơn hà.
Vua tôi nhà Lê đợi ngót một giờ, lúc ấy nẻo xe mới thấy bụi
cuốn mịt mùng trắng xoá. Rồi phút chốc một đoàn binh tiến lại nhanh vùn vụt, đi
đầu một tướng mũ kim khôi, giáp lấp lánh những vàng. Tướng đó sức vóc vạm vỡ, mặt
trông rắn chắc, mắt sáng như mắt diều hâu, mồm rộng, trán gồ, lông mày lưỡi
mác; dưới cầm và trên mép có ba chòm râu huê râm, rủ xuống, càng làm tăng vẻ
anh hùng. Chính là vua Thái Đức nhà Tây Sơn đó. Vua Thái Đức năm ấy đã gần sáu
mươi tuổi, nhưng trông ngài còn quắc thước, tưởng chừng mới độ năm mươi. Ngài mặc
võ phục giáp vàng, bào vàng, thắt lưng gấm, đi võ hài thêu rồng. Trên vai ngài
lỏng lẻo treo một cái cung sơn son; hai bên sườn ngài, một bên buộc một túi tên
bằng xích cẩm, một bên buông thõng một thanh gươm "Giốc chủy" mà võ nạm
ngọc đụng leng keng vào dây xích vàng buộc bàn đạp với yên thêu.
Đàng sau vua Tây Sơn, hai viên đại tướng theo hầu, cai quản
500 tên dũng sĩ cùng 2000 hùng binh chia ra làm 5 đội. Xem hai lá cờ hiệu phất
phới bay sau lưng hai tướng, vua quan nhà Lê mới nhận rõ một viên là Tư Mã Ngô
Văn Sở, còn viên kia là Nội hầu Phan Văn Lân.
Thái Đức Hoàng đế vừa tới, vua Chiêu Thống cùng các quan tiến
ra đón rước chào mừng. Nhạc cứ hiên ngang thúc ngựa đi thẳng, dẫn binh theo
sau, cũng không thèm xuống yên, không thèm quay đầu, cứ giả vờ như không biết
đó là vua tôi nhà Lê ra nghênh tiếp.
Vào đến cửa Nam, Nhạc không cho ngựa đi qua đường rải chiếu lại
giẽ cương sang lối tắt đi thẳng tuốt về phủ Liêu, tức là hành doanh của Uy quốc
công Nguyễn Huệ.
Trong lúc đó ngoài thành Nam giao, vua Lê vừa ngạc nhiên, vừa
bẽ mặt, buồn rầu lên loan xa cùng các quan lủi thủi trở về. Nhưng trở về thì
chiêng không đánh, kiểng không rung, đàn sáo bát âm không tấu. Một đoàn binh
mã, trước kia hùng tráng, giờ đây uể oải phản hồi.
Thấy anh cử chỉ một cách quá kiêu hãnh, lạ lùng, Nguyễn Huệ
cũng ngượng ngùng khó chịu. Không đợi cho vua Lê ra lệnh lui ngự binh vào nội.
Huệ đã cùng gia tướng và quân bản bộ, phi vào thành để theo kịp vua Thái Đức
cùng bọn Ngô Văn Sở, Phan Như Lân.
Huệ tiếp tất cả bọn ấy ở trong súy phủ, còn hai nghìn rưỡi
quân thì giao cho Tả Đô đốc Võ Văn Nhậm trông coi liệt cả vào hàng quân cũ.
Ngày hôm sau, trong sân triều, ngoảnh mặt lên điện Kính Thiên
và phủ phục tung hô vạn tuế, một tên sứ giả của vua Thái Đức vào bái kiến vua
Chiêu Thống đệ lên Hoàng đế nhà Lê một bức thư vắn tắt có vài dòng:
"Vua Tây Sơn là Thái Đức gởi cho vua nhà Lê là Chiêu Thống
được rõ:
"Chúng tôi ngày đêm vất vả ra Thăng Long để đón thằng em
Huệ trở về, cuộc hành trình mệt nhọc khó khăn khiến cho khi đến nơi không còn sức
lực và thì giờ yết kiến nhà vua, xin nhà vua lượng xét.
Chúng tôi còn ở lại Kinh đô đất Bác vài ngày, vậy ngày khác
xin cùng nhà vua tương hội.
Ngày khác, tức là hôm 17 tháng tám năm Bính Ngọ đó. Hôm ấy,
Nhạc cho mời vua Lê sang phủ đưòng, để vua Lê ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên
hữu, còn mình thì chính thọa trên sập rồng. Các quan võ thì chia ngôi thứ tự
túc trực đôi bên. Một hồi trống long phụng nổi lên, tiếp theo một hồi khánh ngọc.
Các quan cùng làm lễ triều kiến cả ba người.
- Chúng tôi còn nhỏ dại, vâng mệnh tổ phụ lên giữ đường mối
cho xã tắc nhà Lê, giữa buổi đường mối ấy đương bị nghiêng lệch. Xứ Bắc ngày
nay loạn lạc, bốn phương giặc nổi như ong, bởi tại chính sách nhà Trịnh mà nên
vậy. Cơ đồ Liệt Thánh để lại cho công tử hầu bị tan tành, suy bại, nếu không có
lệnh đệ thân ra giúp tổ phụ công tử. Nhờ thế mà quả nhân còn giữ được giang
sơn, công đức ấy kể sao cho xiết. Nay nhà vua lại chiếu cố ra chơi đất Bắc, cho
quả nhân được chiêm ngưỡng tôn nhan, thực lấy làm hân hạnh và cảm kích vô cùng.
Nhà quả nhân đạm bạc, không có gì quý báu để tặng nhà vua; vậy
gọi là lòng thành lễ mọn, xin biếu nhà vua mấy quận đất để khao quân, mong nhà
vua không chê là ít quá, vui lòng nhận lấy cho, quả nhân được đội ơn nhiều lắm.
Vua Chiêu Thống nghĩ tủi thân cố nén lòng để nước mắt khỏi
trào ra, vừa nói vừa run, chỉ sợ rằng vua Tây Sơn nếu không có lượng bao dung
thì sẽ hoàn toàn nhục nhã, mà không biết xử trí làm sao cho được.
Nguyễn Nhạc, ngoài mặc dẫu khinh bỉ Lê Mẫn Đế là một hậu sinh
còn non nớt, nhưng trong lòng cũng ái ngại thay cho vị vương giả đương bị cơn
thất thế đáng thương.
Nhạc bèn làm ra vẻ đàn anh rộng lượng nghiêm sắc mặt lại, cố
tỏa một nụ cười hiền hậu trên dung mạo dữ dội, liếc mắt nhìn Huệ như để hỏi ý
kiến, rồi đáp rằng:
- Nhà vua đã có lượng muốn khao thưởng tam quân, chúng tôi
xin cảm ta. Song le, nhà Trịnh bạo ngược lăng loàn khiến chúng tôi, phải thuận
ý trời mà tuyệt diệt, đó chỉ là vì đại nghĩa chớ không phải vị tư tình. Nếu xứ
Bắc Hà này là đất của Chúa, thì một thước chúng tôi không để lại; nhưng nay hiện
là đất của nhà vua, thì một phân chúng tôi cũng không dám lấy. Xin nhà vua cố
giữ lấy sơn hà cho vững, sửa sang nền chính trị cho dân gian được hưởng thái
bình. Hễ có sự gì khó khăn xảy ra, chúng tôi sẽ đem binh đến giúp, nhà vua nên
thận trọng giữ lấy quí thể và xã tắc, gắng sức làm việc để định an cõi đất, ngõ
hầu đời đời giao hiếu với nhau, ấy là cái phúc của hai nước đó!
Trà nước xong, vua Lê từ tạ ra về. Bách quan đưa loan giá trở
vào trong nội.
Bấy giờ trong Súy phủ, chỉ còn hai anh em vua Thái Đức ngự
trên long ỷ, cùng các quan Tây Sơn đứng hầu hai dẫy giữa sân. Nguyễn Nhạc sai
Đô đốc Hữu Quân đem một toán binh tiễn vua về đền Vạn Thọ, còn mình và em, và
các tướng thì bàn việc về Nam. Nhân lúc Hữu Chỉnh không có mặt ở Súy đường Phò
mã Võ Văn Nhậm bèn tiến lên đại điện mật tấu cùng Thái Đức:
- Tấu lạy Phụ vương, Hữu Đô đốc là một người rất phản trắc xảo
quyệt. Con e rằng dùng y sẽ có một ngày sinh biến; âu là Bệ hạ nên để y một
mình ở lại Bắc Hà. Y sẽ giúp vua Lê giữ yên ngôi bảo tộ, lại sẽ được ở đất nước
trước kia y vẫn ở, gần các cố hữu thân bằng. Nếu Phụ vương không muốn để y ở lại
Bắc thành thì chỉ còn cách là đem giết y đi, không nên để sống khỏi lo nhiều
tai hoạ sau xảy đến. Lúc ấy có hối cũng không kịp nữa, mà Hữu Chỉnh sẽ là con
cú dữ, được thời thì hoành hành đánh bạt hết các loài chim. Vả chăng, chính nó
đã vì lợi riêng xui quan Tiết chế đánh Bắc Hà, tội kiểu mệnh là ở nó cả, tâu Phụ
vương soi xét.
Nguyễn Nhạc xưa nay vẫn biết Chỉnh là một Ngụy Diên tái thế.
Nhưng một Nguỵ Diên thông minh, nhiều cơ trí, biện bác như nước chẩy, lại có
dũng cảm ít ai bì. Song le Nhạc yêu Chỉnh, coi Chỉnh như một con ngựa hay có
nhiều chứng tật cỏn con. Trước kia, thủa vừa khởi nghĩa đánh với quân nhà Nguyễn,
Nhạc bị một phen cùng khốn, mắc chẽn giữa đạo binh của quan Lưu thủ đất Long Hồ
là Tống Phúc Hợp đóng ở Bình Khánh và đạo quân của họ Trịnh dàn ở Quảng Nam. Liệu
thế chống không nổi, Nhạc phải xin hàng Hoàng Ngũ Phúc, chịu nộp đất và chịu sắc
phong tước Tây Sơn hiệu trưởng của Chúa Trịnh ban cho. Sắc ấy so Nguyễn Hữu Chỉnh
mang vào cho Nhạc, và nhân tiện giao cho Nhạc cờ và ấn kiếm của triều đình nhà
Lê.
Nhờ thế, không lo mặt Bắc, Nhạc mới có đủ lực chinh phục phía
Nam, dựng nên cơ nghiệp. Trong khi theo Hoàng ngũ Phúc vào Quảng Nam. Chỉnh
cũng đã có đi lại cùng Nhạc. Tài xu nịnh cùng khoa biện bác của Chỉnh khiến Chỉnh
chiếm được lòng tin cậy của Nhạc, nhất là vì sự được Hoàng Ngũ Phúc thuận cho
chúa Tây Sơn qui phục mà Nhạc cứ tưởng lầm là nhờ có Chỉnh mới xong. Từ buổi ấy,
Nhạc đã có bụng dung Chỉnh. Thấy sự hục hặc giữa Chỉnh và em cùng rể mình, Nhạc
rất lấy làm khó chịu. YÙ Nhạc không muốn bỏ Chỉnh cũng như không muốn giết Chỉnh.
Song le, mang Chỉnh về Nam ắt sau này khó tránh khỏi những sự xung đột trong
hàng tướng tá. Nhạc phân vân khó xử. Biết rõ tâm anh không nỡ lìa Chỉnh, Huệ
nhân dịp, cũng chêm vào một câu:
- Phò mã nói chí phải! Nguyễn Hữu Chỉnh thực là một cái mầm
hoạ lớn về sau! Vừa ra tới Thăng Long y đã lẻn ngay vào điện Kính Thiên ton hót
với Cảnh Hưng; y sẵn tính tinh ranh giảo quyệt, không trừ trước đi thì chỉ tổ
phải lo cho công việc tương lai. Vả chăng, để y ở Bắc Hà, cũng không thiệt hại
gì cho y cả, mà mình thì trút được khối nặng chất bên lòng. Chỉnh trong một
tháng rưỡi ở Thăng Long, không này nào trước cửa không ồn ào những khách, tất cả
các hàng quan lại, tướng sĩ, đều quen y chả thiếu mặt nào. Thiết tưởng đất Bắc
Hà này chính là đất nước của y, y ở đây thân bằng cố hữu đầy đàn, còn chẳng vui
hơn thui thủi một thân trơ trọi ở miền Nam ru? Hoàng huynh không nên lưỡng lự bịn
rịn như thường tình nhi nữ, phải có nghị lực mới phải!
Tiếng sang sảng như chuông gióng, tia mắt sáng như điện quang
của Huệ tựa hồ có một thứ mãnh liệt vô địch cảm hóa tâm linh Nhạc; sau khi ngần
ngừ một khắc, Nhạc cũng phải cho lời Huệ là chí lý, nên theo.
Bởi thế, mật lệnh bèn truyền xuống cho tất cả hàng quân hàng
tướng, định ngay tối này hôm đó thì phải sãn sàng hàng lý, phải đúng cơ ngũ để
nhổ trại phản hồi.
Chiều hôm ấy, Trần quang Diệu được chỉ vơ vét hết tiền của
lương thực chất trong kho tàng của vua Lê và Chúa Trịnh. Trong kho có bao nhiêu
lấy sạch, không còn để lại chút gì. Rồi đến cuối giờ Tuất, khi dân gian đã bắt
đầu đi ngủ, khi đèn đuốc đã gần tắt cả, người ngậm tăm, ngựa tháo nhạc, đoàn
quân Tây Sơn, như một dãy bóng ma ẩn hiện, im lặng lướt nhẹ nhàng trong quãng tối
tăm mù mịt, dần dần ra khỏi bắc thành.
Trước kia vào Thăng Long hùng hổ thế nào, bây giờ ra khỏi
Thăng Long lại trái hẳn; lúc ra đường hoàng mạnh mẽ, khi về lẫn lút êm đềm. Vào
thành ấy chính là Nguyễn Huệ, cử chỉ giữa thanh thiên bạch nhật; bỏ thành ấy
thì là Nguyễn Nhạc, người chỉ quen kiêu hãnh, nhưng hành sự có bề xảo trá, ươn
hèn.
Nội đêm hôm ấy, vua Thái Đức cùng em kéo quân về Thuận Hóa.
PHẦN 8
Rạng ngày 18 tháng tám năm Bính Ngọ, khi trời vừa mới bình
minh, ba chiếc thuyền buôn to lớn, từ bãi cát bờ sông, nhổ neo rời bỏ thành
Thăng Long, đi xuôi xuống biển.
Trong ba chiếc thuyền đó, thuyền đầu chở quan Hữu quân Đô đốc
Nguyễn Hữu Chỉnh cùng các gia môn tỳ tướng, thuyền thứ nhì chở đầy khoang quần
áo và đồ đạc quí giá, thuyền thứ ba chỉ chở có vào bốn hòm niêm phong khóa kín
mà sáu người võ sĩ theo kèm.
Quan Đô đốc được tin công tử cấp báo quân Tây Sơn đã rút lui
rồi, vội truyền lệnh cho thám tử đi dò xét thực hư của tin dữ dội ấy. Lúc đã rõ
biết Nguyên soái Uy quốc công bỏ mình ở lại, Đô đốc Chỉnh đâm ra lo sợ, luống
cuống, kíp thâu đêm cho dọn đồ đạc châu báu, thuê thuyền buôn dùng đường thủy
chạy theo quân sĩ Tây Sơn, Đô đốc muốn vượt bể cho nhanh, đi chiếc thuyền nhẹ
nhất, không hề đem bên mình một chút của cải nào sợ thêm bận bịu, chỉ dắt độ mười
lăm viên dũng tướng để hộ vệ trong lúc hành trình. Thuyền thứ hai, rộng hơn,
thì cho chứa các hành lý và những đồ quý vật, phó cho con thứ là Nguyễn Anh Du
và một tên người nhà tâm phúc trông coi. Phò nhị công tử Nguyễn Anh Du và tên
người nhà ấy, dùng hai mươi tên quân tráng kiện.
Hồi Đô đốc theo Uy quốc công Nguyễn Huệ ra Bắc Hà, diệt Trịnh,
có đem thủy binh vào cửa Đại an, cướp được kho lương trăm vạn hộc ở ven sông Vị.
Rồi khi hạ thành Sơn Nam, và kéo quân vào Thăng Long đều bị tướng nhà Tây Sơn
thu cả, trong lúc hỗn độn, Nguyễn Hữu Chỉnh có vơ vét được nhiều của cải, ước
ra đến mấy rương vàng. Giờ đây vội vàng thuê thuyền theo cho kịp chúa Tây Sơn,
Đô đốc không dám đem hết gia tài, phải để một phần đồ đạc và ngựa xe ở lại. Còn
bao nhiêu vàng bạc, ông sợ mang kèm bên mình thì e có nhiều điều hiểm trở, nhiều
nỗi gian nguy, lại sợ khi tiết lộ, bị mang tiếng là người không liêm trực. Chỉnh
bèn cho tải cả bốn năm hòm vàng bạc, tiền đồng và châu báu xuống chiếc thuyền vững
chãi nhứt, rồi bắt con trai là công tử Anh Tề phải giải thuyền kia đến tận bến
Nghệ An. Muốn cho khỏi sự nghi ngờ, trong thuyền Nguyễn Anh Tề chỉ có năm tên
quân ăn mặc giả lái buôn hộ vệ.
Trong năm tên ấy, một tên còn trẻ non, lại khôi ngô tuấn tú
khác thường. Tên ấy, chính là An Trinh quận chúa cải trang theo tình lang đó.
Được dịp phụ thân trao riêng cho một thuyền của cải, công tử
Anh Tề lòng mừng hồi hộp, vội vàng mật báo người yêu. Rạng sáng hôm sau, cặp
tài tử giai nhân đã nghiễm nhiên nhẩy nhót, ôm ấp nhau trong khoang, dưới tầm mắt
ngạc nhiên của bốn tên quân theo hầu.
Thuyền đi hơn một ngày ra tới biển đông. Độ ấy về tiết Trung
thu, nước dâng to lắm. Hai con thuyền đi trước, nhân chở hành khách và hàng hoá
không lấy gì làm nặng, và lại thuận theo chiều gió, tuồn tuột chạy nhanh, không
tài nào theo kịp, bỏ lại thuyền chuyên vàng lẽo đẽo theo sau.
Bể đông mùa thu dông tố luôn luôn không ngớt, hết trận này
sang trận nọ, khiến tầu bè kinh sợ không mấy khi dám đánh bạo ra khơi. Duy chỉ
có lũ hải tặc "Tầu Ô" giỏi nghề bơi lặn, kiếm ăn trên mặt nước đã
quen, lũ đó coi phong ba bão táp như không, cho thuyền lượn trên sóng bể như ngựa
phi trên cạn. Bọn khách bán người, buôn lậu, cướp của, giết lương dân đó không
mùa nào không lảng vảng trên vũng Bắc Kỳ để tìm mồi kiếm lợi. Cũng là vì sự chẳng
lành dun dủi, đảng Tầu Ô kia chạm trán cùng công tử Nguyễn Anh Tề.
Thuyền công tử đi được bốn ngày trời thì bị bơ vơ một mình
trên làn nước thẳm. Một trận bão cuồng khấu đã đưa con thuyền ra tận mãi ngoài
khơi. Công tử lo sợ, hoảng kinh, nhưng cũng chả biết thế nào chóng chọi với mệnh
trời, đành cho chiếc thuyền nhỏ bình bồng trôi vào nơi vô định.
Bỗng, đương cơn hoạn nạn, một đoàn hải tặc bơi xuồng ra vây
chặn hẳn đường. Vô phúc lũ bọn Tầu Ô gặp phải tay Anh Tề và An trinh quận chúa;
một trận đánh nhau kịch liệt khiến lũ giặc kia bị một phen táng đởm tiêu hồn.
Nhưng càng chết nhiều, càng thấy số chúng nó tăng bội mãi;
thì ra một đại thuyền làm sào huyệt cho bọn đó, cắm neo đậu ở phương xa. Quận
chúa, công tử cùng bốn tên gia binh phải gắng sức đến quá nửa ngày, mới trừ tiệt
được bốn chiếc xuồng con của hai mươi tên giặc bể.
Thấy thế núng, cả đại đoàn ùa lại; trên mũi thuyền sắp hàng một
lũ Tầu Ô đen chũi, đầu trọc, răng trắng nhởn, da bóng nhoáng và mặt mày dữ tợn
vô cùng. Công tử xét thế cô, bèn nghĩ ra một diệu kế. Chàng lấy bút viết vào mảnh
hao tiên một bức thơ chữ Hán, đại khái nói rằng thuyền chàng là thuyền của quân
Tây Sơn sai ra Bắc Hà thám thính, không có đem tiền bạc, chỉ tải nhiều binh khí
mà thôi. Chả may bị bạt phong, lưu lạc ra khơi, không biết đường về bờ bến. Nếu
thuyền khách có thể giúp chàng đưa chàng về bãi Sầm Sơn hay bờ Nghệ Tỉnh, chàng
sẽ xin ngay quan trên thưởng cho một vạn quan tiền. Bằng như muốn cùng chàng thử
sức hơn thua chàng sẽ liều sống mái một phen cho biết ai là hảo hán.
Bọn hải tặc dáng chừng đã trông rõ bản lĩnh cao siêu của Anh
Tề công tử, hoá nên đành vui lòng nhận việc đưa thuyền chàng về tới bãi Sầm
Sơn. Họ bèn vứt một sợi dây to sang buộc lấy mũi thuyền con, rồi mở lái giương
buồm, tuốt một mạch chạy về miền Hải ngạn. Vùn vụt ba ngày, hai chiếc thuyền tới
vùng Sầm Sơn đỗ lại. Bấy giờ công tử sai khiêng một rương tiền sang tạ lũ Tầu
Ô. Nhưng công tử cũng hơi sơ ý: quân giặc thấy hòm tiền tự trong khoang đưa lại,
đoán rằng chiếc thuyền con hẳn còn chứa lắm bạc vàng.
Bởi thế, không đợi cho công tử và quận chúa kịp đề phòng cẩn
thận, họ trói gô ngay bốn tên kiện nhi khiêng rương tiền vào thuyền họ, rồi sắp
binh kéo ùa sang cướp phá chiếc thuyền con. Công tử Anh Tề, lâm thế cô, mất cả
lũ gia binh, liệu sức mình cùng An Trinh quận chúa không thể giữ nổi gia tài
cho họ Nguyễn, bèn cầm tay quận chúa nhủ rằng:
- Lũ hải tặc nó đang reo hò, sắp sửa sang tới đây cướp của,
anh em mình khó bảo hộ được mấy rương vàng này cho thoát. Âu là em soạn lấy những
đồ chậu bảo giắt cả vào mình, rồi mình đục thuyền cho nước chẫy vào, dìm cả xuống
biển. Vứt cho nước thẳm còn hơn để về tay giặc, em nghĩ thế nào?
An Trinh quận chúa gật đầu; công tử bèn lật ván lên, lấy búa
bổ sàn thuyền, tan nát. Hai vợ chồng dắt nhau nhảy tùm xuống nước, lặn vào bờ,
nhô lên. Thuyền nặng nước to, chả mấy chốc mấy rương vàng đã chìm lĩm giữa khơi
để mặc lũ Tầu Ô sửng sốt, chửi rủa líu lô một lúc rồi kéo buồm đi mất.
Bốn tên gia binh bị chúng phanh gan, mổ ruột, đều thiệt mạng
trong một trường hợp buồn. Thế là sự bí mật của công tử Anh Tề và quận chúa An
Trinh, ngẫu nhiên, trừ hai người biết với nhau, người ngoài không ai rõ nữa.
Sở dĩ câu chuyện này lọt vào tai hậu thế, là bởi cặp uyên
ương kia đã chép nó vào gia sử, gởi về cho hai nhà được biết rõ nguồn gốc của sự
mất kho vàng.
***
Trong một làng nhỏ ven bờ bể, cách bãi Sầm Sơn chừng ba bốn dặm
đường, dưới một dẫy tre mọc um tùm xanh ngắt, một chiếc nhà lá ba giang sạch sẽ
làm chỗ cư trú cho một đôi thiến niên thanh nhã, đến chung đụng cùng dân chài
lưới, phút chốc đã ba bốn tháng trời. Chiếc nhà lá kia vừa dựng lên được đúng
trăm ngày, đôi thiếu niên kia hình như tự xa xôi đến ngụ, và trước khi lập
thành cơ sở, họ ở trọ nhà một ông già đánh cá trong vùng.
Hai vợ chồng người lạ mặt đó không hề nói đến lai lịch của
mình bao giờ cả, cũng không ai biết rõ tung tích họ ra sao. Tuy nhiên chẳng ai
muốn dò la cặn kẽ làm gì: cặp uyên ương đó được cả chồng lẫn vợ: họ vừa tử tế,
nhũn nhặn vừa có nhân từ độ lượng, biết thương kẻ khó và cứu mạng giúp đỡ người
nghèo.
Dân trong hạt, chả mấy chốc, đều kính yêu cả hai người thiếu
niên đó.
Người chồng ăn mặc xuềnh xoàng như một nhà hàn sĩ; người vợ
cũng quần nâu áo vải, cả ngày tảo tần thêu vá, không lộ ra vẻ gì đài các phong
lưu. Như thế mặc dầu, người ngoài thoạt thấy dung nhan và dáng điệu cặp thiếu
niên ấy, cũng biết ngay họ không thuộc về những gia đình tầm thường, mà họ tất
xuất thân ở chốn lầu vàng gác ngọc. Bởi lẽ, từ lời ăn tiếng nói, từ cách tiếp
đã các láng diềng, hoặc cách sinh nhai thường nhật, họ đều tỏ ra rằng họ đứng
vào một từng giai cấp cao hơn. Tuy họ tuyệt nhiên không khi nào tự xưng là quí
phái, nhưng thấy họ sống an nhàn sung sướng, chả bao giờ phải vay mượn ai một đồng
tiền nhỏ, nhưng thấy họ một đôi khi nắng ráo, phơi vài mảnh quần áo cực kỳ hoa
mỹ, sang trọng, thấy trên vách tường nhà họ có treo một đôi gươm rất quí, rất
dài, lại có nhiều binh khí khác vứt ngổn ngang dưới gầm giường, gầm tủ, thiên hạ
không khỏi không bàn ra tán vào nhiều lối, cho họ là một đôi dị nhân ra truyền
bá một sự gì quan hệ, hay ra nghiên cứu ở bờ biển một việc gì bí mật, phi thường.
Có kẻ đoán họ là dòng chúa Trịnh đi ẩn thân lánh nạn. Có kẻ bảo
họ là nòi vua Lê, thấy trong nước nhiều giặc giã, chán việc đời, đi ẩn dật cho
thảnh thơi.
Thiên hạ còn đoán nhiều, nhiều nữa, song không ai dám hỏi cặp
uyên ương kia con cái nhà ai, và ra ở bờ biển làm gì. Không dám hỏi mà cũng muốn
hỏi, vì ai ai cũng biết rằng hỏi đã vô lý, mà càng thêm thiệt hại cho làng nước,
nếu hai người khách lịch sự kia, vì phiền phức phải bỏ nơi trú ngụ mà đi. Vả
chăng, hai vợ chồng người lạ mặt, đã không quấy quả và làm hại ai cả, lại chỉ
nai lưng ra giúp đỡ cho khắp mặt dân chúng trong vùng. Từ khi họ đến ở được hơn
10 ngày, thì ông chồng mở ngay một ngôi trường học. Rồi từ đấy, hôm nào ông
cũng dạy trẻ con trong làng học tập, tuyệt nhiên không hề lấy của bố mẹ chúng một
đồng tiền học phí bao giờ. Đến tiền nhập môn, ông cũng không lấy, cho chí những
lễ vật đưa đến tết, ông cũng gạt đi không khi nào thu nhận cho ai. Hình như ông
đã có vốn sẵn để sinh nhai, không lấy của thiên hạ, dù là một đồng kẽm nhỏ. Nhà
cửa ông bà đồ lúc nào cũng sạch sẽ tươm tất, ông bà ăn uống thường cơm tám cá
tươi; ăn mặc cũng quần nâu áo vải như người; nhưng hình như trong cách sinh hoạt,
ông bà vẫn có một vẻ đặc biệt, tỏ rằng cả hai cùng là người quí phái, tự hạ
mình sống cái đời khổ sở của thường dân. Tuy bát đàn, đũa tre, mâm gỗ, mà bữa
cơm nào cũng long trọng, vợ cúi nâng qua tầm mắt dâng chồng. Tuy quần áo thanh
đạm sơ sài, mà luôn luôn thơm tho tề chỉnh, không bẩn ngầu những đất bùn, những
ghét, như đồ dùng của dân quê.
Bởi thế, trong làng, ngoài xóm, không ai không kính trọng ông
đồ. Đánh được con cá tươi nào, nhà chày vội vàng đem biếu ông là đồ nhắm. Rượu
ngon, mỗi khi có ai cất được, lại gánh vào nhà ông dâng cho ông xơi trước một
vài chai. Rồi tôm tươi, rồi cua bất, chả ngày nào mâm cơm ông không đầy chan chứa,
mặc dầu ông đã mỏi mồm cấm bà con không được biếu quà ông.
Kể sống như thế, ông bà đồ thực đã được an nhàn sung sướng.
Bà đồ, dẫu không có vốn riêng đi nữa, cũng không phải lo đến gạo củi cùng các đồ
ăn uống thường dùng. Bà, dưới bộ áo vải quê kệch, xuềnh xoàng, tuy không hề tô
phấn điểm son, mà vẫn trẻ non trẻ nõn, trắng nuột trắng nà, đẹp một vẻ đẹp lỗng
lẫy, thiêng liêng, không tài gì giấu kín được. Bà đã hết sức sống theo lối dân
quê chài lưới, nhưng bao giờ tư cách và bộ điệu của bà cũng là bà xa biệt lũ
thôn dân. Bà chỉ ngày đêm chăm nom săn sóc đến chồng, thờ chồng hết bổn phận của
một người hiền phụ. Chả thế mà ông đồ, không những yêu thương bà rất mực, còn
quí trọng bà như quí trọng một bảo vật hiếm hoi. Đối với bà, ông cũng chắp tay
lễ phép khi mời bà ăn uống, ông đáp lại bà bằng những "bẩm, thưa, vâng dạ"
ai nghe cũng phải lạ lùng. Về ban ngày, ai cũng chỉ biết rằng ông bà đồ xử với
nhau như khách. Nhưng nếu ai đã, lúc đêm khuya, len lỏi, vào đời tư đôi uyên
ương trẻ đẹp ấy, người ấy sẽ hiểu rằng ông bà đồ chỉ dùng vẻ ngoài lễ nghĩa để
che lấp vẻ nồng nàn khăng khít của sự ái ân đằm thắm mà bề trong, ông bà vẫn tặng
đãi nhau.
Tối đến, khi ông đã làm xong bổn phận dạy học trò (sự dạy học
của ông đây chỉ là một việc tiêu khiển cho qua ngày tháng), ông lại trở vào
phòng cùng bà ngâm nga, chúng vịnh, cùng bà đọc kinh ân ái bằng một giọng não
nuột, thâm trầm. Đêm nào cũng như đêm nào, nếu ông bà không cùng xem hoa đua nở,
thì vịn vai nhau đứng đợi trăng lên, nếu không, gặp buổi mưa rầm âm ỷ tuôn rơi,
một cuộc cờ hãm nước trà sen đã chìm đôi lứa vào một cảnh tiêu sầu cao thượng.
Chưa từng thấy vợ chồng ai say mê nhau đến thế; ông bà đồ tự hồ như sinh ra để
mến yêu nhau cho phỉ nguyện ba sinh. Thú văn hoa một đôi phen làm yếu ớt tính
tình, vợ chồng nhà hàn nho lại diễn một trò kỳ dị. Họ tìm buổi trời tối đen như
mực, ra giữa sân đấu kiếm múa quyền.
Cũng vì sự đấu quyền, một tai nạn lớn lạo đã phá tan hạnh
phúc của ông bà mất non hai tháng! Bà đồ quên rằng mình đang kỳ thai nghén,
cùng chồng thử sức hơn thua.
Nhân bà nhẩy múa quá mệt trong hồi lâu, cái thai nhỏ bà mang
bị trụy, thoát ra ngoài, làm bà phát sốt mất năm ngày mới khỏi. Trong khi bà ốm,
ông đồ chỉ dạy học mỗi ngày một buổi sáng, để buổi chiều săn sóc đến bà. Ông tỏ
cho họ biết ái tình ông đối với bà không có mãnh lực gì kiềm chế được. Nhất là
giữa cơn đau yếu, ông càng còn yêu bà hơn, cho bà vui lòng chóng lại sức lực
người.
Có nhẽ cũng vì thế nên chả mấy chốc bà đồ khỏi bệnh. Song thường
thường, bà tựa hồ như buồn rầu, hối hận, bà thương tiếc cái thai vô tội vì bà
mà không đưọc thành người, hoá nên nhiều khi bà không được vui vẻ sung sướng
như xưa nữa.
PHẦN 9
Thấm thoắt một năm trời đã lướt qua, kể từ lúc hai vợ chồng
ông đồ đến nhập tịch làng chài lưới. Một hôm mùa đông rét lạnh, gần tới vụ tết
Nguyên đán, ông đồ xách ô lên tỉnh có việc gì.
Hình như ông đi sắm đồ dùng để ăn tết cho thanh thú. Trước
ngày ấy độ ít lâu, nếu ai ngắm kỹ bà đồ, người đó sẽ nhận thấy một vẻ buồn rầu
đau đớn in trên nét mặt rõ rệt, dẫu bà cố ý tươi cười cho ông chồng đừng căn vặn
hỏi han.
Ông đồ vừa đi buổi sáng thì buổi chiều ở nhà ông xảy ra một
chuyện tối quan hệ, trong khoảnh khắc phá tan đạp đổ hết hạnh phúc mà, tốn biết
bao nhiêu tâm cơ huyết lực, ông đã gầy nên trong một năm trường.
Không hiểu bà đồ đưa mật thư đi khắp làng xóm tự bao giờ, mà
chiều hôm đó, hầu hết các hào mục đinh tráng đến tụ họp la liệt ở nhà bà, ngồi
ngổn ngang chật ních cả sân và nhà học.
Mấy ông hào trưởng khăn thâm ái dài ngồi vắt vẻo trên cổ chiếu
thượng, vừa vuốt bộ râu ba chòm đốm bạc vừa mở hầu bao lấy cối chầy ra giã trầu
một cách nhọc nhằn. Xung quanh bộ phản mà mấy cụ an toạ kê ở giữ nhà. Lúc nhúc
một đàn đinh tráng, kẻ ngồi xổm, người chóng nạnh, người đứng dựa cột, kẻ đi đi
lại lại trong sân. Thôi thì sực nức khói thuốc lào, đỏ ối quết trầu nhổ tứ tung
ở góc nhà xó sân, ngổn ngang bã trầu vứt rải rác trên mặt đất. Người phe phẩy
chiếc quạt nan, kẻ kéo tà áo lau ghèn mắt hay mồ hôi trán, người nhai trầu bỏm
ba bỏm bẻm; mấy ông cụ già thì vừa uống trà, vừa hơ miệng chén lên mắt để xông
hơi nước vào đôi đồng tử nhấp nhem.
Ai cũng như ai, họ đều ngạc nhiên, không biết bị gọi đến để mục
kích sự gì quái lạ, rồi họ bàn ra tán vào không ngớt, đánh cuộc với nhau rằng hẳn
ông bà đồ có sự vui vẻ nên mời làng đến đông đủ để tuyên bố cho làng biết, và
nhân thể sẽ mời làng đánh chén một bữa linh đình. Họ hỏi nhau việc đại hỉ đó là
việc gì, lại cố bắt bộ óc đần độn của họ nghĩ ngợi và làm việc để đoán cho đúng
ngày họ sẽ được no say phè phỡn.
Một vẽ ồn ào náo nhiệt làm vang động cả vùng thôn dã, tựa hồ
như nhà ông bà đồ là một cái chợ giữa hôm có buổi chợ phiên. Thôi thì rộn rịp,
tưng bừng; hơi mồ hôi trộn lộn với mùi quần áo lam lũ, tạo thành một bầu không
khí nặng nề khen khét, nồng nực và khó thở.
Thiên hạ đến tụ họp ở nhà bà đồ đã ngót nửa giờ mà chưa thấy
chủ nhân ngỏ ý ra làm sao cả. Họ có ý sốt ruột muốn ra về. Nhưng, chưa kịp về,
họ thấy một vị nữ lang mặc rất kỳ dị ở trong buồng đi ra; vị nữa lang ấy bước tới
hiên vái chào các hào mục. Nhân dân đều lấy làm lạ quá khi thấy thiêú phụ đó là
một mỹ nhân đẹp như tiên giáng thế; họ lại càng kinh khủng lúc nhận rõ vì tiên
nga nào phải ai đâu xa lạ, mà lại chính là bà đồ. Nhưng bà đồ hôm nay ăn mặc một
cách kỳ khôi khôn kể. Bà đội một cái hoa khôi bằng vàng nạm ngọc, mặc một bộ y
phục chẽn bằng gấm huyền thêu phượng, thắt lưng bằng vóc mầu lam, đi võ hài
trân châu giát kim tuyến. Bên sườn bà đeo một thanh bảo kiếm "long
phương" chuôi ngà vỏ bạc, tay bà cầm một hộp nhỏ bằng trắc khảm với một
gói nặng trĩu mà đặt nhẹ nhàng giữa phản, trước mặt mấy vị thân hào.
Trong khi dân chúng đương ngớ ngẫn không rõ việc quan trọng
gì, bà đồ ngoảnh mặt nhìn hết cả mọi người, rồi bằng một giọng nói hùng hồn,
dõng dạc, nhưng trọ trẹ tiếng đường trong:
- "Thưa làng, hôm nay tôi phiền làng tới đây, là bởi có
một câu chuyện khẩn yếu, tối hệ trọng, muốn ngỏ cùng chư vị. Từ khi hai vợ chồng
tôi tới đây xin nhập tịch, chưa bao giờ chúng tôi kể rõ lai lịch cho làng biết.
Vậy bây giờ chính là buổi tôi phải khai tông tích của phu
quân tôi và tôi, xin làng chịu phiền lắng nghe tôi phân giãi một hai lời.
"Phu quân tôi tên là Nguyễn Anh Tề, con trưởng quan Tây
Sơn Hữu Đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh, về sau này được triều Lê phong cho tước Đại Tư
đồ Bằng Trung công. Còn tôi... tôi là quận chúa Võ An Trinh, con gái quan Phò
mã Tả Đô đốc Võ Văn Nhậm, rể Thái Đức Hoàng đế.
"Hai vợ chồng tôi quá yêu nhau nên lấy nhau, không được
cha mẹ hai bên cho phép. Bởi lẽ ấy nên phải dắt nhau ra ẩn nấp ở vùng này. Tôi
những tưởng cùng Nguyễn lang thủ phận an bần, ăn ở với nhau cho đến buổi da mồi
tóc trắng. Nào ngờ trời xanh ác nghiệt, khiến vộ chồng tôi khó long trọng tình
tư mà không nghĩ đến thù nhà. Cha tôi vừa gây nên một mối oán ngàn thu cho dòng
họ Nguyễn. Tôi không thể nào trông thấy mặt phu quân tôi nữa, phải buộc lòng
mang mối ái tình cắt đoạn làm hai. Tôi sẽ chết.
"Song le, khi theo chồng, tôi có đem ít nhiều của cải.
Ngày nay tôi thác đi, chồng tôi cũng khó lòng sống để hưởng phong lưu phú quí một
mình. Tuy biết trước như vậy, tôi cũng không thể sống được nữa. Gia sản của vợ
chồng tôi thành ra vô chủ. Bởi vậy, tôi muốn đem chút của ấy phân phát cho dân
trong hạt gọi là một chút vi thành. Hạt này có hơn trăm nóc nhà, toàn sống khốn
khố về nghề chài lưới. Tôi muốn cho dân cư có chút đỉnh vốn để làm ăn, ngõ hầu
chóng được phú cường, thịnh vượng. Chỗ vàng ngọc và châu báu này giá đáng tám
ngàn lạng bạc, chư vị nên bán đi rồi chia rất đều cho lũ dân nghèo. Chư vị nên
tư túi lấy phần, tôi chết đi tất thế nào cũng phù hộ cho người ngay, mà trừ bỏ
những phường gian giảo. Chư vị không nên khuyên can tôi, vô ích! Trí tôi đã định
rồi thì khó lòng ai chuyển cho lay... Tôi chỉ xin chư vị một điều: là giữ kín
chuyện này cho tới lúc lang quân tôi mất hay bỏ hạt nầy đi biệt. Trước khi ấy,
đừng nên nhỏ to bép xép, cho bề ngoài họ dị nghị lắm điều.
Tôi lại xin làng ra ân cho một việc này: vợ chồng tôi chết đi
sẽ không có ai nối dõi; vậy trong khoảng 50 năm, tôi xin làng nhớ đến ngày hôm
nay làm giỗ cho hai vợ chồng tôi, thì hồn tôi sẽ được thoả mãn ở dưới chín suối
mà bao giờ tôi cũng nhớ ơn làng. Vợ chồng tôi còn trẻ, chả may xấu số phải lìa
rẽ nhau mà thác, vừa bất đắc chí, lại vừa bất đắc kỳ tử, tất thế nào cũng linh
thiêng, làm thần phù hộ vùng nầy. Xin liệt vị chớ coi rẻ những lời tôi nói!
Hào mục và dân làng nghe xong đều ngạc nhiên kinh sợ, không
ai hiểu vì sao bỗng dưng lại có câu chuyện quá dị kỳ. Họ được rõ hai vợ chồng
ông đồ là con các quan đại thần đi lánh nạn, thì càng tôn kính bà đồ; lại nghe
nói bà ban cho dân làng sở tại những mấy muôn vàng, thì vừa mừng vừa sợ, chỉ
nhìn nhau không biết nói thế nào cả.
Quận chúa không đợi cho hào mục trả lời có ưng thuận hay
không, nàng đã chỉ gói bạc vàng châu báu để ở giữa giường, rồi giơ hai tay trịnh
trọng giao cho ông Tiên-chỉ hộp gỗ trắc khảm:
- Tôi mời làng tới đây là để từ giã bà con và cám ơn làng đã
có lòng yêu mến hai vợ chồng chúng tôi, coi những người hàng thôn chớ không phải
người đến ngụ. Chúng tôi rất lấy làm cảm kích. Vậy gọi là xin có chút báo đền,
mong chư vị vui lòng nhận lấy.
"Tôi ra đi, không bao giờ còn gặp các ngài nữa, nói ra
đau đớn thế nào! Sau khi khuất mặt tôi rồi, chư vị sẽ vì tôi, giao cho phu quân
tôi hộp gỗ nhỏ này, kỷ niệm cuối cùng của cuộc tình duyên của vợ chồng tôi đó!
"Thôi xin chào các ngài ở lại!"
Nói dứt lời, An Trinh quận chúa vái chào mấy ông hào mục. Rồi,
trong khi dân chúng còn nhao nhao bàn tán, trong khi ông Tiên chỉ kinh hoàng chỉ
ngồi đờ ra chả biết khuyên giải hay ngăn trở thế nào, quận chúa đã như một cái
bóng, lẽ làng thoăn thoắt, phi thân nhảy vọt ra ngoài biến mất.
Từ lúc đó, không ai biết nàng sống hay chết; nàng không để lại
một tâm tích gì rõ rệt, tuyệt mù khuất hẳn bóng hồng. Thiên hạ chạy ùa ra bờ bể
đứng xem, chỉ thấy bọt sóng tuôn cao nước cồn cuồn cuộn; xác người bạc mệnh có
nhẽ, đã chìm sâu đáy biển, hoặc nữ anh hùng đã ro roi, quất ngựa, tếch lên
ngàn...
An Trinh chỉ để lại một mối ngậm ngùi thương tiếc, đè nén
lòng lũ thôn dân chất phác, hiện ra trên mí mắt họ trong những dòng lệ lóng
lánh, chảy từ từ xuống mấy trăm gò má đen sì...
Nguyễn Anh Tề về đến Sầm Sơn thì nhà cửa vắng teo, vắng ngắt,
hỏi gia đinh mới biết vợ chàng yêu đã hoá người thiên cổ mất rồi. Ông Tiên chỉ
cho cầm lại giả chàng hộp khảm nhỏ bằng gỗ trắc, chàng mở ra nhìn thấy vật kỷ
niệm, càng vật mình lăn khóc, tâm can như bị mối thương đau vò cho tan nát rối
nhầu. Trên án thư trong buồng, quận chúa để lại một bức thư vĩnh biệt; chàng vội
vàng bóc ngay ra, đọc một lượt rất nhanh.
Phu quân thân ái đích,
Thiếp không thể nào cùng sống với chàng được nữa, xin cúi lạy
chàng, khóc mà từ biệt, mong chàng nghĩ ân tình mấy trăng chăn gối tha tội cho
thiếp, thiếp đội ơn muôn thủa cũng không quên.
Ngày nay thiếp có ở lại trên đời cùng sống với lang quân, hai
vợ chồng ta sẽ chỉ vì quá yêu nhau mà hối hận, rồi cùng chết cả. Nếu chúng ta
không chết, trong hai người cũng sẽ có một người cắt bỏ mối tơ duyên. Âu là thiếp
làm người ấy trước, cho khỏi phụ lòng chàng âu yếm thiếp mai xưa. Bởi lẽ gì,
chàng cứ xem xong thì rõ.
Hiện bây giờ chàng chưa biết căn nguyên việc quyên sinh của
thiếp, chắc chàng trách thiếp bạc tình. Nhưng khi đã tỏ nguồn cơn, có lẽ chàng
lại thương thiếp là người xấu số.
Ngày cùng chàng ngẫu nhiên thành gia thất, thiếp có ngờ đâu rồi
ra chúng ta phải ép lòng vĩnh quyết nhau đây! Thiếp những muốn cùng chàng ngâm
câu bạch đầu cho tới buổi mắt mờ răng rụng, trông mong ở tình trong sạch của
đôi ta để cùng hưởng thú ái ân cho phỉ nguyện ba sinh. Có hay đâu, chàng ôi! Nửa
đường gẫy cánh uyên ương, khiến trên gối phượng loan chàng phải ngậm sầu nuốt tủi!
Chàng vẫn biết cha thiếp và phụ thân chàng không có tình đồng
sự, mà hai họ chúng ta có hiềm khích với nhau. Bởi quên nỗi oán thù gá nghĩa
cùng chàng, nên thiếp hằng ngày vẫn cầu khẩn Trời Phật vì đôi ta, làm cho mối
nghi kỵ kia phải rã rời tiêu tán. Nhưng nhời thiếp nào được Hoàng thiên soi
xét, hai họ nhà ta đã mỗi ngày thêm một mối oán hờn. thì vừa mới được mấy hôm
nay, phụ thân thiếp đã bắt được ông thân sinh chàng đem về Thăng Long đó! Tả
quân đã hành tội Hữu quân, dựng lên giữa đôi ta một bức tường thù oán không thứ
ái ân nào đạp đổ.
Vẫn biết chàng hết lòng yêu thiếp, nhưng thù cha, chàng há nỡ
quên sao? Thiếp dù ở lại, đôi ta cũng không còn mặt mũi nào trông thấy nhau nữa.
Mối thù kia đã xen vào phá tan hạnh phúc êm đềm mà chúng ta hết sức giữ gìn xây
đắp bấy lâu. Dẫu thiếp còn chung sống với chàng, mà vì tình, chàng vẫn yêu thiếp
như xưa thì chàng chỉ là một kẻ nam nhi hèn mạt, quá mê nhan sắc vợ quên cả đến
thù cha, chàng sẽ không đáng mặt trượng phu làm chồng thiếp nữa.
Còn thiếp, nếu thiếp không biết liêm sỉ, dùng các thủ đoạn
nhi nữ để mê hoặc lòng chàng, khiến chàng vong hẳn phụ thù, thì thiếp cũng là một
con tiện tỳ dâm dật, há phải người để chàng quí mến, yêu đương?
Vậy nên, không đợi chàng biết rõ tin tức đau đớn của gia
đình, thiếp tự xử trước đi là hơn.
Chàng đã thấu lòng cho thiếp, đã hiểu nỗi đau đớn và sự hy
sinh của thiếp, thì tội thiếp nặng trăm phần, có lẽ chàng cũng giảm nhẹ đi cho.
Thiếp thác đi, đem xuống dạ đài một mối hận ngàn thu không giải được. Xác thiếp
sẽ nằm dưới đáy bể, bên cạnh kho vàng mà hai ta làm chìm đắm trong khi bị nạn Tầu
Ô. Thiếp sẽ làm thần giữ kho vàng ấy đó!
Thủa bình sinh hai ta có dùng hai đồng tiền Vạn Lịch để làm kỷ
niệm cuộc tình duyên. Bao nhiêu châu báu trong nhà thiếp đã cho dân hạt này hết
cả. Chỉ giữ lại cho thiếp đồng tiền bằng bạc, cho chàng đồng tiền bằng vàng. Đồng
tiền vàng ấy, thiếp gởi ông Tiên chỉ giao lại cho chàng đó. Chàng nên giữ nó
trong người cẩn thận, gọi là còn chút tang vật của một cuộc chung tình ngắn ngủi,
nhưng nồng nàn.
Bức thư sau đây, thiếp xin chàng trao lại cho cha thiếp. Gặp
cha thiếp, chàng dù muốn báo thù thì cứ báo, đó là tự lòng chàng, thiếp đâu dám
cản ngăn.
Rồi xin chàng cố giữ gìn thân cho được mạnh khoẻ, quên hẳn
thiếp đi, đừng nghĩ đến kẻ bạc mệnh này làm gì cho mệt. Chàng phải gắng lập
công danh cho rạng rỡ gia tộc, rồi nối lại dây đàn để sau này có lấy mụn con
trai.
Trân trọng mấy lời, chúc chàng ở lại, thiếp cúi đầu lạy chàng
xin vĩnh quyết, chàng nên vì tình tha cho tội bất nghì này.
Võ An Trinh đốn thủ.
Nguyễn Anh Tề đọc xong bức thư còn tưởng như mình mơ mộng;
chàng giụi mắt đọc lại hai lần nữa; đọc bao nhiêu ruột càng như xé như bào. Một
hồi, chàng ngây ra như tượng, hai mắt đăm đăm nhìn vào quãng vắng xa xôi. Một
lúc rõ lâu bỗng chàng đứng dậy, cau mày, giậm chân xuống đất, vươn tay với
thanh kiếm treo trên tường xuống, tuốt vỏ ra. Kiếm tuốt ra được nửa chừng,
chàng lại chán nản tra nó vào vỏ, ngồi phịch xuống ghế, ôm đầu nức nở khóc như
một người con gái.
Chàng khóc không biết bao nhiêu thời khắc; khóc xong, lấy vạt
áo chùi nước mắt, vùng đứng dây, chạy vào buồng. Chàng thay đổi y phục, mặt một
bộ nhung trang ngắn, nai nịt gọn ghẽ, ngậm ngùi giắt hộp gỗ trắc vào lưng, đeo
kiếm và dao găm bên cạnh sường. Xong xuôi, chàng ra ngoài dặn dò tên gia đinh Lộc
giữ lấy nhà cửa, gọi tất cả đầy tớ phân phát cho chúng một ít tiền còn sót lại,
cho phép đứa nào muốn về thời về, đứa nào muốn đi tìm chủ khác thì tìm; rồi
chàng ứa lệ từ biệt chúng, quả quyết vùng đi ra đường, xăm xăm chạy về phía Bắc.
Bóng chàng một ngày một xa, chàng đi khuất vào ngàn cây nội cỏ,
rồi từ phút ấy, vùng Sầm Sơn không được biết tông tích chàng đâu nữa.
Câu chuyện ông đồ đến đây là hết. Bà đồ đã gieo mình xuống nước,
còn ông đồ bỏ làng đi biệt, chẳng trở về. Dân làng, nhận được của cải, đem về
phân phát cho nhau, và theo lời dặn của An Trinh, cứ ngày 26 tháng chạp, lại
thiết bài vị ông đồ bà đồ tại đình làng, rồi mổ lợn mổ trâu, làm lễ long trọng
cúng vong linh của hai người quí khách đó.
Quả nhiên, cả hai cùng rất thiêng liêng, phù hộ cho dân bãi
biển làm ăn thịnh vượng. Đáng lẽ cứ đúng lời trối trăng của An Trinh quận chúa,
thì sau 50 năm tế lễ, dân làng có thể bỏ tục làm giỗ cho quận chúa và công tử
Nguyễn Anh Tề. Nhưng, vẫn nhớ ơn của hai vợ chồng ông đồ đã giúp dân và phù hộ
dân một ngày một phát đạt thêm lên, các hào mục không bao giờ quên bổn phận đối
với người đã chết, và hơn nữa, muốn cho vong hồn ân nhân được anh linh mãi mãi,
họ bèn đem bài vị cả đôi thờ chung với thần vị Thánh Hoàng.
PHẦN 10
Hôm ấy vào mùa xuân năm Kỷ Dâu (1789). Mưa phùn rả rích đập tầu
lá ba tiêu xiêu vẹo.
Gió bể ào ào làm rầu rĩ mấy dãy thông cao vút, lại phã vào mặt
lữ khách những luồng gió vừa lạnh lẽo, vừa ướt át, nặng mùi muống bể, đầy mầm
sinh khí, khiến cho lữ khách, tuy bị rét ẩm thấu thịt, mà vẫn thấy nhẹ nhõm
trong lòng.
Lúc đó đã khuya. Trời tối đen mù mịt, con đường cát, ban ngày
trắng xoá, bây giờ chỉ còn hiện ra như một nét cong queo mờ mờ trên một nền đen
xẫm. Xa xa, dưới vòm mây vô định, mặt bể mênh mông trộn lộn với màu mưa vô ảnh;
đi trên đường chỉ thấy bao la bát ngát một không không gian vô tận, chỉ cảm thấy
bên trái là nước, trước mặt là núi, sau lưng là gió, trên đầu là mưa, tuyệt
nhiên không nhận rõ một hình một sắc nào nữa. Tuy vậy, một làn hơi nồng hắc
nhưng trong sạch khiến cho tinh thần và phế phủ khoan khoái, tai được nghe đổ dồn
ngay cạnh mình tiếng ồ ạt của làn sóng đập vô hồi vào bãi cát, vào bờ đá, tạo
thành một thứ âm nhạc buồn rầu và hùng hổ, xui ta bất giác ví âm điệu đó với
hơi thở mạnh mẽ của Tạo vật, luôn luôn nhọc mệt mà vẫn điềm nhiên gắng sức,
kiên nhẫn làm việc, làm ra những công trình vĩ đại nhưng vô dụng, mà mục đích
quá cao xa không ở tầm suy xét của loài người...
Thực vậy, làn nước vô hình kia đang vỗ lên vỗ xuống, nó đêm
này tiến rồi lại thoái, dâng rồi lại lui, nó đã làm tốn xiết bao sức mạnh của
Hoá công, nhưng không biết chủ đích của nó là để làm công cuộc gì hữu ích?
Trong lúc tối dầy như mực, trên con đường cát ngùng ngoằng
bao vành bãi bể Sầm Sơn, giữa cơn nỗ lực âm thầm của gió cả, sóng cồn, một lữ
khách vừa rảo bước đi, vừa ngẫm nghĩ vẩn vơ kết quả hữu dụng của làn nước đêm
ngày sôi nổi, của ngọn gió sớm tối quay cuồng. Chàng tự nghĩ: "Chả qua sự
nghiệp con người, rồi cũng chỉ như mục đích của sóng gió. Mãnh lực của tạo vật
còn có sức nào đương nổi, thế mà những lực lượng ấy cũng chỉ dùng vào một công
cuộc vô dụng. Huống chi là cái sức kém cỏi, nhỏ mọn của loài người! Có cả đời cạnh
tranh bôn tẩu, rồi kết cục của mấy mươi năm cố gắng chả qua cũng chui vào hư
không vô định mà thôi! Phú quý, vinh hoa, ái tình, danh nghĩa, đó toàn là những
hư ảnh, những hư tự cả. Suy cho cùng lẽ, ôm làm gì một quan niệm cho đau
thương, trong khi trời đất cũng còn không có quan niệm, nữa là mình!"
Vừa đi, vừa lẩm bẩm, lữ khách đương mải mê trong những vấn đề
triết lý cao siêu. Bỗng chàng giựt mình đúng lại. Chàng vừa chạm phải một gốc
cây mọc chìa ra quá ven đường. Lữ khách gật đầu, đi rẽ về tay trái.
Cách vài mươi bước, chàng dừng hẳn lại, dún mình nhẩy một cái
rõ cao, vọt qua cái hàng rào, vào một cái sân hầu rộng. Vào tới sân, lữ khách
như người rất thông thuộc đường lối trong cái nhà chàng hạ cố tới, chàng đi thẳng
vào một gian phòng, gõ cửa.
Trong nhà người vật đều ngủ say sưa cả, lúc ấy đã quá canh
hai. Một hồi lâu, có tiếng người ú ớ nói mơ, rồi có tiếng nhè nhè ngái ngủ, mãi
mãi mới thấy tự buồng trong phát một giọng gắt gỏng, cục cằn:
- Thằng chó nào, đến giờ này còn chui vào đây làm trò khỉ gì
mà đập phá ầm ầm như vậy?
Đáp lại lời thôi bỉ ấy là một câu vắn tắt nói bằng một giọng
dõng dạc, cứng cỏi, tựa như một mệnh lệnh oai nghiêm:
- Mở cửa mau, Lộc! Tao đây!
Nhận được tiếng truyền của lữ khách, tên Lộc hình như hết cả
ngái ngủ, vội vàng ra mở cửa. Tiếng giầy dép lẹp kẹp, rồi tiếng then cọt kẹt, một
khắc, lữ khác đã vào nhà. Trong nhà, như ngoài trời, không một tia ánh sáng làm
mất vẻ đen kịt của đêm trường u ám. Chỉ nghe tên Lộc như cuống quýt nói:
- Con xin công tử xá lỗi cho. Con không ngờ cậu về. Cậu hãy tạm
ngồi cho phép con xuống bếp thắp đèn lên và pha trà cậu uống.
- ƯØ, mau lên!
Đến lúc chiếc đèn lồng xé bóng tối, toả trong gian phòng một
ánh sáng vàng phờ phạc, lúc bấy giờ ta mới nhận rõ hình dung và diện mạo người
lữ khách bí mật kia. Chàng là một thiếu niên vạm vỡ, lẫm liệt, mình mặc áo võ
ngắn, đầu đội mũ da rái cá, lưng đeo bảo kiếm và cung tên. Nào phải ai đâu xa lạ,
người đó la công tử Nguyễn Anh Tề.
Nhưng ngày hôm nay, Anh Tề lộ ra một vẽ mặt buồn rầu, chán nản,
mất hết nét ngang tàng khí khái khi xưa. Đặt phịch lưng xuống kỷ, chàng vẩn vơ
nhìn ra quãng trời mây ảm đạm, thở dài. Dùng xong mấy chén trà nóng, chàng cũng
chả thèm vào phòng thay áo, cứ ngồi yên lặng hồi lâu. Một lúc, như giật mình nhớ
lại một ý nghĩ gì, chàng gọi Lộc, bảo ngồi sát lại gần chàng, sẽ hỏi:
- Lộc ơi! Từ khi cậu ra đi, trong nhà này còn bao nhiêu người
ở?
- Bẩm công tử, bao nhiêu gia đình đều tản mác về cả, chỉ còn
có một mình con. Cậu có dặn con phải cố công trông giữ nhà này cho đến lúc cậu
về; con không dám sai lời cậu chỉ bảo. Hiện nay trong nhà, ngoài con không có một
người nào nữa, cũng không có một súc vật nào. Thực là hiu quạnh, vắng vẻ, bẩm cậu.
- Lộc! Con thực là nghĩa bộc. Cậu có một câu chuyện này tối
quan hệ, muốn phó thác cho con. Cậu muốn trông cậy ở lòng trung trực của con để
giúp cậu làm cho trọn một sự rất cần, chả hay con có thể nhận lời với cậu, hết
lòng giúp cậu, như con đã giữ nhà cho cậu, không? Như thế nghĩa là con không phụ
lòng cậu thương mến con đó. Lộc ạ? Chẳng hay con nghĩ thế nào?
- Bẩm cậu , cậu bảo gì mà con chả làm theo lệnh cậu. Dẫu phải
tan xương nát thịt, con cũng chẳng từ nan. Con trước kia là một phạm nhân, tội
phải chết chém, nếu khôn gnhờ cậu che chở cho, đút lót các quan địa phương để gỡ
tội và chuộc cái sống cho con, thời con còn đâu đến ngày nay? Con xấu số đi thì
thôi, chứ trời còn để ngày nào, ngày ấy khắc xương khắc tủy ơn sâu của cậu.
- Chuyện đó là chuyện cũ, con nhắc lại làm gì? Chỉ biết nay cậu
phải nhờ con, con có nhận lời giúp cậu hay không, thì nói cho cậu rõ!
- Con đã bẩm hầu cậu: cậu bảo gì con cũng xin vui lòng nhận hết,
dẫu cho khó nhọc hay thiệt mạng đi nữa, con cũng xin làm cho đạt ý cậu thì
thôi. Vậy xin cậu bảo rõ cho con biết.
- Lộc ạ, nói đến lòng cậu như xé ra muôn mối. Lòng cậu đã tan
nát cả, nhưng càng nhắc lại, khối lòng kia vẫn còn đầy đoạn đau thương. Nhưng cậu
cứ phải nói để con hiểu rõ. Có hiểu, con mới làm được việc cậu dặn cho tới
đích. Con hãy lắng nghe cho kỹ Lộc nhé!
- Vâng!
- Con đã biết mợ con xưa kia là con quan Phò mã Tả quân Đô đốc
của vua Tây Sơn, tên là Võ Văn Nhậm. Mà cậu là con quan Hữu quân Đô đốc Nguyễn
Hữu Chỉnh. Cậu quen mợ con từ ngày ở Qui Nhơn, cách đây vài bốn năm rồi. Cậu có
phen thí võ với mợ con, thấy mợ con có bản lĩnh cao cường, cậu bỗng đem lòng
yêu dấu. Gia dĩ, sau được biết mợ con, con nhà quý phái, lại thấy mợ con có
nhan sắc lạc nhạn trầm ngư, cậu mê mợ con. Mợ con cũng có lòng yêu cậu nên hai
vợ chồng cậu, lén nhà, thề bồi gắn bó với nhau. Những tưởng như thế ắt sẽ được
thành một đôi uyên ương tốt lứa, có ngờ đâu ông Cao xanh ác nghiệt hay ghen
ghét với những kẻ được hưởng mùi hạnh phúc, rồi bày ra cảnh trớ trêu!
"Một mối thâm thù, mà căn nguyên không rõ ở từ đâu, đã dựng
đứng một bức tường oán hận giữa hai gia đình họ Võ và họ Nguyễn. Quan Tả quân
không bao giờ có lòng dung Hữu quân, cũng như Hữu quân nếu có dịp, thì khổng để
Tả quân yên ổn.
"Cậu chẳng may còn trẻ, không được rõ các lẽ ấy, hoá nên
khi thấy An Trinh quận chúa, mợ con, thì cậu thương yêu ngay. Cũng vì hai bên
có tư tình, khi phụ thân cậu và nhạc phụ cậu ra Bắc Hà đánh Trịnh, thì cả cậu cả
mợ con, cố sống cố chết theo ra cho kỳ được, ngõ hầu sum họp cùng nhau.
"Từ Bắc Hà trở đi, lại bao nhiêu tai nạn tự nhiên xảy đến.
Quan Tả quân gặp khi vua Thái Đức ra Thăng Long, bèn xúc xiểm nói xấu phụ thân
cậu, rồi xui vua cùng Uy quốc công Nguyễn Huệ nửa đêm lén rút quân về, để một
mình họ Nguyễn chơ vơ ở lại. Quân sĩ về cả, duy có một mình mợ con, lúc ấy ăn mặc
giả làm bộ tướng quan Tả quân, bỏ nhà lén báo tin cho cậu biết. Cậu vội vàng
lên bẩm cụ, cụ hoảng hốt cho xếp cả gia sản và đồ đạc xuống thuyền, đêm ngày
theo riết quân Tây Sơn, vào Nghệ An bằng đường thủy. Cậu và mợ con lúc ấy được
coi giữ chiếc thuyền thứ ba, là thuyền chứa nặng những rương tiền và vàng bạc
châu báu. Không may cậu bị bão, lại gặp giặc Tầu Ô, bốn tên gia đinh đều bị giặc
giết chết; cậu mợ lâm thế cô phải đục thuyền cho đắm, rồi nhảy xuống bể, lặn
vào bờ lánh nạn. Tiền và vàng bạc mất cả, lúc đắm thuyền, chỉ tẩu được một ít
châu ngọc và đồ tư trang mợ con bó thành một bó nhỏ, thắt vào lưng.
"Cậu và mợ con, sẵn có ba bốn tội nặng, không dám trở về
quê quán nữa. Đành ở ngụ cư tại đây, định lấy ái tình khăng khít để quên cả gia
đình, quên cả mọi sự phú quí công danh trên trần thế nữa. Cậu và mợ con định sống
một cuộc đời thanh đạm an nhàn.
"Nhưng, hỡi ôi! Trời cao xanh cay nghiệt nào có để cho
hai chúng ta được hưởng hạnh phúc cho tới buổi da mồi tóc bạc. Một việc quan trọng
xảy ra giữa cuộc chung tình của cậu và mợ con, khiến mợ con, vì quá yêu cậu, phải
hy sinh cả ái ân lẫn sinh mệnh! Việc ấy, tức là kết quả của một sự thâm thù
chia rẽ họ Võ và họ Nguyễn, nó làm cho cậu không dưng bồ côi cha, không dưng
goá mợ; nó tức là sự Tả quân hành tội Hữu quân ở Thăng Long thành đó! Cậu ở yên
phận trong vùng Sầm Sơn vắng vẻ này, xa hết cả mọi việc đời túi bụi, còn làm
sao biết cái tin đau đớn thảm khốc ấy? Thế mà, không hiểu vì đâu, mợ con biết
được rõ ràng đích xác; ba hôm sau khi hai cụ và cậu Hai nhà ta bị hại, hung tin
đến tai mợ con. Mợ con một mặt sai cậu lên tỉnh dò la sự thể, một mặt tụ dân
làng lại chia của cải trong nhà.
"Cậu ở Thanh Hoá về, thì mợ con đã là người thiên cổ. Ở
Thanh Hoá cậu cũng được tin mang máng rằng cụ nhà ta phò triều Lê mà đương bại
trận, nhưng có hay đâu ngài đã bị nhạc phụ cậu là Võ Văn Nhậm giết rồi!
"Mợ con chết đi, là có ý muốn để cậu đừng vì tình mà
quên cốt nhục. Mợ muốn cho cậu được tùy tâm hành thích phụ thân nàng. Lộc ơi! Mợ
con đã tỏ ra nàng là một phụ nhân hiếm có trên đời; cậu dù đối với cha nàng đeo
một mối tử thù, nhưng nàng đã xử sự như thế, thì cậu nỡ quyết liệt làm sao cho
được? May thay! Sự vật ngày nay lại hoàn toàn đổi hẳn, khiến cậu trả được thù
mà không phải giết Tả quân...
"Có lẽ trời xanh, sau khi đày đoạ cậu, đã hồi tâm thương
cậu, không muốn cậu phạm vào một tội lỗi mà ngàn thu cậu vẫn ghê sợ, e ngại,
không nỡ làm. Mợ con đã quá yêu cậu, tự hủy thân đi để giữ mối chung tình cho
trong sạch đầy đủ, cậu nỡ lòng nào không thưong vợ, hung ác cầm dao đâm vào cổ
họng cha nàng, nhúng tay vào vũng máu đã tạo ra nàng? Một kẻ phụ mình là anh
hùng, cũng không có gan ấy được. Chỉ có loài mãnh thú mới đang tâm tàn nhẫn mà
thôi! Nhất là khi cậu được giáp mặt Tả quân, thì đương lúc ông sắp bị đầu rơi
khỏi cổ dưới lưỡi gươm đao phủ!
"Song le không báo thù một cách bạo động, cậu đã làm cho
tâm hồn nhạc phụ cậu, trước khi lìa khỏi xác, bị đoạ đày trong một niềm hối hận
vô biên. Thế là đủ.
"Giờ đây, giũ sạch được một gánh nặng nề mà ân oán đã
gây nên, cậu còn phải lo trả sạch một chút nợ nam nhi trước khi liều mình tự tận.
Phải, vì thế nào cậu cũng phải chết, cậu sẽ chết! trên bàn cờ, mợ con đã nhẫn
tâm xoá cuộc, có lẽ đâu cậu còn gan ngồi đánh mãi một mình! Vả chăng, cậu là
người thứ tư còn sống sót sau một cuộc phong ba hủy hoại cả gia đình cậu, cậu
còn ham cầu hoạt làm gì?
"Nhưng, cậu còn chút bổn phẩn phải làm trọn vẹn trước
khi theo cha, theo em, theo vợ, vào cõi hư linh bát ngát. Cậu sẽ sống thêm ít
tuần nữa, sống để đuổi theo một mục đích tối thiêng liêng.
"Cậu con nhà dòng dõi trâm anh, lại còn trẻ không thể chết
tối tăm như mợ con được, phải có chút công danh sự nghiệp để lại cho mai hậu,
ngõ hầu thoả nguyện bình sinh, và đoạt ý chí của phụ thân cậu. Cậu hẳn phải sống.
Bao giờ nguyện vọng của cậu hoặc đạt được, bây giờ sẽ chết cũng không muộn gì.
"Cụ nhà ta sinh thời ăn lộc nhà Lê, vừa đây lại thụ tước
nhà Lê, mà đến chết cũng giữ vững được cơ đồ cho vua Chiêu Thống. Cơ đồ ấy nay
đã về tay kẻ khác, vua Lê đã trốn sang Tàu. Cậu sẽ là người nối lòng ước muốn của
ông cha, khôi phục lại xã tắc cho Lê triều đó! Cậu sẽ là một bầy tôi trung
thành tận tụy, giúp vua trong buổi long đong. Cậu sẽ xây vững ngôi bảo tộ cho nền
chính thống.
"Dù thắng, dù bại, cậu cũng sẽ cố làm. Cậu sẽ làm cho đến
buổi, sức yếu, lực tàn, cậu ngậm cười mà chết giữa chốn sa trường đẫm máu! Nếu
không được hạnh phúc lấy da ngựa bọc thây, cậu lại tìm về đây cùng mợ con lấy
đáy bể làm mồ. Cậu sẽ chết cạnh mợ con cho phỉ tình ân ái.
"Bây giờ cậu phải cùng con vĩnh quyết; ngày nay con
trông thấy cậu, ấy là trong buổi cuối cùng. Từ buổi này trở đi, thầy trò ta sẽ
không bao giờ gặp mặt nhau nữa. Trước khi tương biệt cậu cần dặn con mấy việc rất
cần. Con nên nghe kỹ mà ghi lấy trong lòng, để sau này làm cho đúng lời cậu bảo!
Bao nhiêu đồ đạc của cải trong nhà, cậu cho con cả. Sau khi cậu
đi rồi, con sẽ đem hai bức thư này, một bức về Nghệ An, một bức về Phú Xuân.
Con sẽ tìm về làng Châu Lộc, hỏi thăm cụ Nguyễn Hữu Bằng, tức là chú ruột cậu
đó. Trong hai bức thư, con giao cho cụ một bức, còn bức nữa con sẽ giao cho Thọ
Huê công chúa, tức là Võ Văn Nhậm phu nhân, ở Phú Xuân.
"Trong hai bức thư đó có kể rõ cuộc tình duyên giữa cậu
và mợ con, lại thuật rõ những lẽ đã làm cho cậu mợ phải nửa đường chia rẽ. Những
dấu vết và sự tích kho vàng cậu làm chìm nơi đáy bể, cậu đã biên chép rõ ràng.
Người đời sau ai có duyên thì cứ đến đúng chỗ mà khai lên, một gia sản lớn sẽ về
tay người đó!...
Con nên nghĩ đến ân nghĩa thầy trò, giúp cậu đem thư này cho
tới đích, đừng nên để thất lạc đi. Ơn ấy, dù dưới suối vàng, cậu cũng ghi tâm
mãi mãi...
"Thôi, con ở lại, cậu đi!...
Dứt lợi, như một cái bóng lẹ làng, Nguyễn Anh Tề đã nhảy vọt
ra ngoài, đi biến vào cõi tối mịt mùng thăm thẳm.
Ngoài trời, mưa vẫn tuôn gió vẫn phả, sóng cồn vẫn nổi lên
dào giạt, tung những làn bọt trắng xoá giữa vùng nước thẳm đen sì...
Tên gia đinh Lộc, tựa cửa đứng trông, tưởng tượng như cố chủ
đem thân vào cõi chết...
Vào khoảng hạ tuần tháng một năm Đinh Vị (1787). Trên con đường
thiên lý chạy từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, một đoàn lương dân đi lánh nạn tất tưởi
tiến bước, không quản đêm ngày.
Đoàn đó tất cả độ năm chục người, nhưng chỉ có ba người cưỡi
ngựa, còn bao nhiêu thì đi bộ cả. Họ cũng ăn mặc quần áo vải, song khách bàng
quan ngắm nhìn cách họ cử chỉ với nhau, thì tưởng chừng ba người cưỡi ngựa kia
là chủ mà lũ đi bộ tức là bọn gia nhân vậy. Đi đầu là một người đàn ông trạc
năm mươi tuổi, đầu quấn một vành khăn nhiễu tam giang, mình mặc áo the kép, đội
nón dứa, đi văn hài, vẻ mặt ngại ngùng lo lắng. Trên yên ngựa, trước mặt ông
ta, một đứa trẻ con độ bốn tuổi, mặt mũi sáng sủa lanh lợi, ngồi dựa lưng vào
lòng ông, mồm nhí nhoẻn cười, tựa hồ lấy sự hành trình làm thú vị lắm. Một tay
mắc cầm roi, tay nữa lại cầm cương, người đàn ông đó phải lấy một giải lụa dài
buộc đứa trẻ con chắc chắn vào mình, cho nó đừng bị ngã trong khi gió ngựa gập
nghềnh lên xuống.
Theo sau người đàn ông, đi song song hai con ngựa bé nhỏ,
trên ngồi hai người đàn bà. Một người đã ngoài bốn mươi, ăn mặc diểm dắn, người
thứ nhì là một thiếu phụ trạc hai mươi tuổi, mà bộ quần áo đen bằng sồi càng
làm tăng vẻ đẹp thuỳ mị và nước da trắng nuột như ngà non.
Lục tục nối gót ba người kỵ mã, ấy một bọn hơn bốn mươi người,
trai nhiều, gái ít, coi bộ đã mỏi mệt cả, nhọc nhằn lê bước, cố theo cho kịp chủ
đoàn.
Họ đi một quãng độ bốn dặm đường thì, may thay một quán trọ rộng
rãi đã hiện ra dưới bóng một cây đa um tùm xanh ngắt. Độ ấy về mùa đông, gió bấc
phả, rét cắt da cắt thịt; mặt mũi và tay chân lũ bộ hành đều thâm tím lại rất
đáng thương.
Dừng ngựa cách quán làng độ đam trượng, người đàn ông có đứa
trẻ con trong bọc quay đầu lại nói nhỏ với người đàn bà đứng tuổi:
- Xin lệnh bà cho phép xuống đây nghỉ một chốc rồi lại đi,
nay đã gần Đồng Khê cũng chả còn bao lâu nữa thì đến Cao Bằng.
Người đàn bà sửa lại tà áo bông và mái tóc hơi lòa xoà dưới
vành khăn vuông mỏ quạ, nhìn người đàn ông, một cách buồn rầu:
- Tiên sinh cứ tùy tiện, liệu định thế nào cho phải thì làm,
không cần hỏi đến tôi nữa! Nay ruột tôi rối như mớ bòng bong, còn hơi sức đâu
nghĩ tới những việc vặt.
Người đàn ông được gọi là tiên sinh, không phải là một lương
dân đi lánh nạn, chính là một vi quan đương triều vâng lệnh vua Chiêu Thống đưa
hoàng gia lên tạm trú ở Cao Bằng, ông Lê Quýnh. Đứa bé con ông đùm trong bọc tức
là Hoàng tử mà hai người đàn bà cưỡi ngựa kia, người già là Thái Hậu, người trẻ
là Hoàng Phi. Trong bọn người đi bộ có ba mươi người tôn thất, còn bao nhiêu đều
là nữ tỳ cùng thị vệ theo hầu.
Giữa lúc họ hàng nhà vua, nhọc nhằn, kham khổ, dìu dắt nhau tất
tưởi trên đường lánh nạn, thì vua Lê, cùng vài vị trung thần và Bằng trung Công
đại tư mã Nguyễn Hữu Chỉnh đương đóng đồn chống cự với quân Tây Sơn tại Mục
Sơn, về vùng Yên Thế.
Nguyên từ ngày vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cùng Uy quốc Công
Nguyễn Huệ bỏ xứ Bắc trở về Nam, sau khi đã phù Lê diệt Trịnh, thành Thăng
Long, tạm yên ổn được vài tháng. Vì trải qua nhiều nạn binh đao, khiến giường mối
nhà Lê, chưa được vững vàng, lại rối bét khó lòng gỡ nổi. Nhân dân hưởng thái
bình được non hai tháng, lại nhao nhao sợ hải, kẻ chạy trốn, người ở lại, không
còn ra thể thống gì cả.
Đáng lẽ sau khi Nguyễn Huệ đã diệt họ Trịnh để trả quyền bính
đất Bắc lại trở về tay vua, Lê Mẫn đế phải lấy cái dịp hiếm có và cái cơ hội
may mắn ấy để lập lại nền cai trị. Tiếc thay! Vua quan lúc đó chỉ là một loạt bồ
nhìn vô dụng: Chiêu Thống thì trẻ người non dạ, không có tài quyết đoán, mà
đình thần thì toàn là lũ giá áo túi cơm, không biết kinh luân chiến lược, còn
rát như thỏ.
Thái Đức Hoàng đế vừa đi khỏi chưa đầy hai tháng, chốn Bắc Hà
lại hoá ra trường binh lửa điêu tàn. Bây giờ có hai tên dòng dõi nhà Trịnh, một
tên Bồng, một tên Lệ, không biết tụ họp ở đâu được dăm ngàn quân mã, đem binh về
Thăng Long đánh nhau để tranh cướp quyền hành. Các quan nghe có giặc tới nơi, lại
như lúc còn đời Cảnh Hưng Hoàng đế, chưa đánh đã vung cẳng chạy trốn cả, bỏ một
mình vua cùng dăm tên nội thị ở lại chốn triều đường.
Ngoài thành, chả bao lâu, Trịnh Bồng phá tan quân Trịnh Lệ, rồi
vào đền Van Thọ yết kiến vua. Chiêu Thống bèn giáng chỉ cho gọi các quan trở về;
thầy giặc đã yên, họ lại ló đầu ra cả. Rồi giữa đình Kính Thiên, họ cãi nhau
như mỏ quạ, kẻ bàn ra, người bàn vào, kẻ muốn gây lại nghiệp Chúa, người quả
quyết chỉ tôn phù nhà Lê. Bấy giờ có Dương Trọng Tế, vốn chân khoa bảng đương
làm quan trong triều, về hùa với Trịnh Bồng, hết sức giúp cho Bồng được cầm quyền
chính.
Vua Chiêu Thống lúng túng, không biết nghe bên nào là phải,
nhung vì tình thế bó buộc, lại nể lời khẩn cầu của Dương Trọng Tế cũng dằn lòng
phong Trịnh Bồng là An Đô Vương, sai dựng Liêu phủ mới cho y ở.
Bồng nhờ ơn Trọng Tế có công thủ xướng cho Tế dự vào giữ quyền
chính trong phủ. An đô vương khi đã đắc lực rồi, vội lên mặt ngay, toan bề hiếp
vua như các ông cha thủa trước. Lại được tay quân sư họ Dương hết sức siểm nịnh,
bàn với Trịnh Bồng phế vua đi để tự lập, rồi sai người Nguyễn Mâu Nễ đem quân
vây thành bắt Chiêu Thống để giết đi. Đời sau chép việc ấy, pho "Nam Sử diễn
chúng ta" phê rằng:
Trách thay Trọng Tế họ Dương,
Cũng trong khoa bảng cũng phường đai cân.
Sao không biết nghĩa quân thần,
Bày mưu phế lập, sắp quân vây thành.
Non sông còn mặt triều đình,
Bạc đen xem thấy nhân tình mà ghê!
Cũng trong khoa bảng cũng phường đai cân.
Sao không biết nghĩa quân thần,
Bày mưu phế lập, sắp quân vây thành.
Non sông còn mặt triều đình,
Bạc đen xem thấy nhân tình mà ghê!
Khi Mẫu Nễ đem quân đến vây bắt vua, may sao có lão tướng Hoàng
Phùng Cơ, tức quận Thạc, ở trong thành phò Lê Mẫn Đế. Quận Thạc sợ mang tiếng xấu,
sai thủ hạ trèo lên thành mắng đuổi lũ nghịch tặc, khiến chúng phải hổ thẹn kéo
lui; xong đâu đấy mới vào tâu vua rõ và xin vua quyết định về việc ấy.
Chiêu Thống nghe tâu vừa giận vừa sợ, lại thấy cơ nghiệp lung
lay sắp đổ, nghĩ ngay đến Nguyễn Hữu Chỉnh là người trung nghĩa, cho kẻ tâm
phúc đem mật chỉ vào Nghệ An mời Chỉnh ra giữ vững Sơn Hà. Hữu Chỉnh, sau khi
xuống thuyền chạy tất tưởi theo vua Thái Đức, bị nạn phong ba trôi tạt vào bờ.
Đổ bộ đi đến Nghệ An, thì vừa gặp đại binh của Tây Sơn nghỉ chân ở đó. Vua Thái
Đức rỏ lòng Chỉnh trung trực, lại thấy y cố ý theo nhà Tây Sơn cho đến cùng,
bèn thương tình không nỡ lìa bỏ y như trước, cho phép ở lại giữ đất Nghệ An cùng
quan trấn thủ Nguyễn Tuệ. Chỉnh bèn đóng đồn trại ở đó cùng con thứ là Nguyễn
Anh Du, đêm ngày hết lòng mong tin tức của trưởng tử là Nguyễn Anh Tề, nhưng
càng mong càng phải đành yên trí rằng Anh Tề đã bị bão chết rồi, không nghĩ đến
chàng nữa...
Ở Nghệ An, Chỉnh chiêu mộ dũng sĩ, mãi mã tụ binh, rèn luyện
khí giới, sáng chiều tập trận. Chẳng bao lâu, binh bản bộ có hơn một vạn, có đi
đánh chốn nào cũng dư lực, không còn e ngại điều gì. Khi nhận được mật chiếu của
vua, Chỉnh bèn thảo một bài hịch truyền đi trước, và cho bắt quân, tức khắc được
đến hơn muôn, rồi chia ra làm đội tứ thành, đội tứ đột. Chỉnh thân xuất quân mã
ra Thăng Long đi đến Hoa Lâm, gặp quan trấn thủ cũ là Bùi Đình Toại, đánh cho
Toại một trận ráo riết khiến Toại phải thua liểng xiểng bỏ chạy. Qua Thanh Hoá,
lại phá tan lũ tướng sĩ trong trấn ấy, chém chết quan trấn tướng là Trung Nghĩa
Hầu. Chả mấy ngày đại đội binh mã đã kéo đến Dản Khâu (về hạt Ninh Bình). An Đô
vương sai Dương Trọng Tế đem binh chống lại. Chỉnh dàn quân đánh Trọng Tế phải
trốn về Bắc Ninh. Trịnh Bồng thế yếu sức cô, cũng phải chạy sang Gia Lâm nấp
trong nhà Trọng Tế, rồi thu vét của cải, nửa đêm trốn tuột vào rừng.
Chỉnh đuổi xong Trịnh Bồng, hiên ngang lẫm liệt kéo quân vào
thành Thăng Long; Vua Chiêu Thống thân ngự ra bến Tây Long duyệt binh, phong
cho Nguyễn Hữu Chỉnh làm đại tư đồ, thụ tước Bằng trung công; con là Nguyễn Anh
Du cũng được phong làm Thành Đình hầu. Chỉnh bèn lấy phủ Chúa làm dinh cơ, đóng
quân lại Bắc thành để gìn giữ nhà Lê khỏi bị những cơn tai biến.
Từ đó, Trịnh Bồng cũng một vài phen toán dấy binh khôi phục lại
oai quyền đã mất, nhưng hắn đánh trận nào thì trận ấy bị thua xơ xác, không còn
manh giáp trên vai. Bao nhiêu công trình của hắn thành ra vô dụng cả. Buồn bã,
chán nản, hắn bỏ hẳn việc cạnh tranh khó nhọc, cạo đầu vào núi đi tu. Họ Trịnh,
đến đời Trịnh Bồng, là dứt hẳn.
Chỉnh từ thủa xưa, vốn đã có danh tiếng ở Bắc Hà; nay lại được
vua yêu, cho hưởng quyền cao tước cả, tiếng tăm lại càng lừng lẫy thêm lên mà
tân khách lại càng đến đông hơn buổi trước. Chỉnh thấy mình được phú quí, cho
là thời vận đã đến, có ý ỷ mình tài hoa lỗi lạc, rồi ngạo nghễ tự đắc, coi
thiên hạ bằng nửa con mắt, làm lắm điều càn dỡ, đến vua Lê cũng phải lấy làm
phiền, đem bụng ghét, mà nhân dân đều có ý ngờ.
Chỉnh thấy mình đường đường ngôi cao tước cả, lấy làm sung
sương lắm cho dán trước cửa một hai câu đối, để cho thiên hạ biết mà thần phục
và kinh sợ mình. Đối rằng:
Mở khép càn khôn, có ra tay mới biết;
Ra vào tướng tướng, thử liếc mắt mà coi.
Ra vào tướng tướng, thử liếc mắt mà coi.
Chỉnh có ý muốn nói mình đã đạt được chí anh hùng, vì đã ra
tay giẹp tan dư đảng Trịnh, nhất đán ngồi hàng tướng tướng làm gương cho thiên
hạ trông vào.
Câu hát của thần nữ xưa kia mãi đến bây giờ mới nghiệm. Thế lực
và những sự hành vi trái phép của Chỉnh đồn mãi đến tai Nguyễn Huệ trong Nam.
Huệ lúc ấy được phong làm Bắc bình vương, nghe nói Chỉnh đắc thời có ý phản lại
nhà Tây Sơn bèn cho người đem ra cho Chỉnh một bài thơ tứ tuyệt:
Ai ra ngoài Bắc nhắn Chim Bằng (* )
Lông cánh bao nhiêu dám vẫy vùng?
Lộng lộng lưới trời sao thoát đặng.
Rồi xem ta bắt bỏ vô lồng!
Lông cánh bao nhiêu dám vẫy vùng?
Lộng lộng lưới trời sao thoát đặng.
Rồi xem ta bắt bỏ vô lồng!
(*) Chỉnh xưa kia được gọi là "Chim dữ", sau này lại
thụ tước "Bằng quận công", vì thế nên Nguyễn Huệ gọi Chỉnh là
"Chim Bằng".
Huệ một mặt nhắn trước cho Chỉnh biết, một mặt sai Phò mã Võ
Văn Nhậm làm Tiết chế, đem một vạn tinh binh ra Bắc Hà bắt Chỉnh.
Quân thủy bộ do Võ Văn Nhậm đốc xuất không kỳ ngày đêm kéo tuột
ra phương Bắc; khi qua Thanh Hoa, đến thành Phố Sơn, gặp binh mã của quan Trấn
thủ là Nguyễn Duật, Duật không dám chống cự, lui quân xuống giữ mặt Trinh
Giang, để mặc cho Võ Văn Nhậm thẳng ruỗi ra đến hạt Ninh Bình.
Nguyễn Hữu Chỉnh nghe rục rịch có quân Tây Sơn ra Bắc, bèn
cho con là Thành đình hầu Nguyễn Anh Du coi tiền đội đi trước, dàn quân trên Bắc
ngạn sông Thanh Quyết để ngăn quân Tây Sơn tiến lên. Chỉnh thì tự đốc hai vạn
tinh binh giữ mặt bộ. Võ Văn Nhậm sai quân thủy, vốn có tài lặn lội, nửa đêm
bơi ngầm dưới nước, lấy thừng chão buộc vào mũi thuyền của quân Nguyễn Anh Du.
Rồi nhân lúc trời tối đen như mực, quân Tây Sơn nổi hiệu, ra cầm đầu dây kéo
mãi, bao nhiêu thuyền Bắc Ngạn đều trôi về Nam Ngạn cả. Lúc bấy giờ chúng mới nổi
hiệu súng bắn về phương Bắc; quân bộ của Nguyễn Hữu Chỉnh vội vàng bắn lại, ai
ngờ lại bắn phải quân thủy của Nguyễn Anh Du, vì quân Tây Sơn, sau khi kéo thuyền
về mé Nam, bỏ lên bờ lẩn tránh cả.
Thủy binh của Anh Du bị bắn, cũng nhằm phía có tia lửa bắn lại,
bắn mãi đến gần sáng, chết mất quá nửa bây giờ mới nhận ra rằng quân cha bắn lẫn
quân con.
Anh Du sợ hãi bỏ thuyền lên bộ tìm kế thoát thân; các thủy
binh cũng hoảng hốt nhảy xuống sông bỏ chạy, thành ra không mất chút công đánh
phá nào, quân Tây Sơn chiếm cả được các thuyền bè. Về phần quân bộ của Hữu Chỉnh
đóng ở Bắc ngạn, thì một số đông bị đạn chủa thủy quân bắn chết, còn bao nhiêu
đều chạy tản lạc, Chỉnh hãm cũng không nổi, phải đành thua trận, lui tàn binh về
đóng ở Châu Cầu.
Quân xứ Bắc từ buổi nào đến giờ vẫn toàn là một lũ ô hợp và
lười biếng, đã rút rát còn khoác lác, chỉ dùng làm quân để đi trong đám rước
thì đẹp, nhưng không thể đem ra chiến trường. Một vạn dũng sĩ ở Nghệ An đưa ra,
quá nửa đã chết hoặc bị thương khi đánh nhau cùng họ Trịnh, còn bao nhiêu trộn
lộn với quân xứ Bắc cùng tập tính quen sự lười biếng đi rồi.
Khi Nguyễn Hữu Chỉnh lui về Châu Cầu, Võ Văn Nhậm thúc quân
ráo riết đuổi theo, hai đội binh Nam, Bắc lại xung đột một lần hăng hái nữa.
Song le, quân Nghệ đánh không hết sức mà quân Bắc thì e sợ quân Tây Sơn đã từ
lâu rồi, vì lần nào cũng bị quân Tây Sơn đánh cho đại bại. Cái sợ ấy in sâu
trong trí họ, hoá nên chưa lo đánh đã lo lùi. Trận Châu Cầu lại phải để cho Võ
Văn Nhậm thắng thế.
Hữu Chỉnh thua luôn hai trận, núng thế quá, phải bỏ thành
Thăng Long cho quân địch, phò xa giá vua Chiêu Thống sang Kinh Bắc. Họ hàng nhà
vua thì do ông Lê Quýnh đưa lên tị nạn ở Cao Bằng.
Vua tôi Hữu Chỉnh, sang đến Kinh Bắc, quan Trấn thủ tỉnh ấy
là Nguyễn Cảnh Thước làm phản đóng cửa thành không cho vua vào. Vua và Chỉnh phải
thúc ngựa chạy lên Yên Thế; Khi đi đến bờ sông Nguyệt Đức, trong khi chưa có
thuyền chở sang đò, Chiêu Thống và mấy kẻ theo hầu lại bị đầy tớ Nguyễn Cảnh
Thước đón đường cướp bắt. Túng thế, Lê hoàng phải cởi cả áo ngự bào mặc đồ thường
phục, mới thoát được nạn, cùng cha con Hữu Chỉnh chạy lên Mục Sơn, đóng đồn tạm
ở đó.
Võ Văn Nhậm đuổi được quân Chỉnh, kéo đại binh vào Thăng
Long, lấy phủ Bằng trung công làm hành doanh, rồi tụ bọn tướng đi theo mình là
Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân cùng Nguyễn Văn Hoà để bàn định kế hoạch bắt Chỉnh.
Hoa tình nguyện đem quân bản bộ lên Yên Thế để cướp trại, Nhậm cho đi.
Trời độ ấy về mùa đông rét mướt, về ban đêm thường mây ám lấy
cả trăng sao, Nguyễn Văn Hoà bèn cho quân đi rất nhẹ nhàng, người ngậm tăm, ngựa
tháo nhạc, kéo thẳng lên Yên Thế.
Nguyễn Hữu Chỉnh và Chiêu Thống đương ngồi trong trại đàm luận
bỗng nghe tiếng hò reo ầm ỹ, rồi thấy lửa cháy rực trời và ẩn hiện lấp ló trong
ánh sáng không biết bao nhiêu quân mã kéo đến rầm rộ. Mấy tên nội giám trung trực
phò vua lên ngựa chạy trốn trong khi Nguyễn Hữu Chỉnh nai nịt gọn ghẽ, vác siêu
đao "Cổ Đỉnh" xông ra, tả xung hữu đột, phá quân Tây Sơn để tháo lấy
một huyết lộ. Chỉnh đánh mãi mà rào người vẫn không núng, lại nghe bốn bề những
tên quân Bắc Hà kêu khóc sầu thảm, lại càng sờn lòng. Quân Tây Sơn thì vây bọc
như thành, reo hò hăng hái, càng ngày khí thế càng mạnh, khó lòng phá vỡ được.
Con thứ Chỉnh là Thành đinh Hầu Nguyễn Anh Du thấy cha đánh
không đổ bên địch, cũng hăng máu nóng mặt, vác hoạ kích xông xả vào đám hùng
binh trăm vạn, đi đến đâu rẽ ra đến đấy, nhưng cắt được vòng này lại thấy có
vòng khác, mà những vòng bị đứt thì đứt xong lại thấy nối liền ngay. Anh Du múa
ngọn Phương thiên bạch quang bao bọc người chàng khi ẩn khi hiện, khiến cho
quân Tây Sơn trông thấy cũng phải phục tài. Tuy nhiên, phục thì phục, mà vây
thì cứ vây; Du đâm bên Đông, thích bên Tây, nào đỡ, nào né, nào múa, nào giết,
xông pha trong vòng gươm giáo tên đạn trong hai giờ đằng đẵng, mà rút cục đã
không cứu được cha còn bị hãm nhốt trong vòng vây.
Du thu hết khí lực đánh phá một hồi lâu nữa, nhưng áo bào trắng
lúc ấy mồ hôi thấm ướt đẫm, máu hoen ố đỏ ngầu, mắt thì hao lên, tay chân cũng
bủn rủn, lượng mình khó bề thoát khỏi. Đương khi bối rối, chợt nghe có tiếng
gió vùn vụt, chưa kịp nghiêng mình tránh ám khí, Du đã bị một chiếc dùi đồng nhọn
hoắc xuyên vỡ hộ tâm kính, cắm sâu vào ngực, Du kêu lên một tiếng đau đớn, giơ
tay rút mũi tên đồng, lảo đảo một khắc, rồi ngã gục xuống chân ngựa.
Quân Tây Sơn xông lại đăm chém chàng ra trăm mảnh.
Hữu Chỉnh đang cố sống cố chết múa đao gỡ lấy một đường để chạy,
đương hăng hái chém được vài chục thủ cấp, sắp giải được trùng vây, bỗng nghe
tiếng Du kêu, quay đầu trông lại, thấy một cảnh tượng đau đớn như bào gan xé phổi,
bất giác mồ hôi ướt áo, tứ chi bải hoải, không lẹ làng như trước nữa, bị Nguyễn
Văn Hoà xông đến lừa lúc chân tay bối rối, thúc ngựa vào kéo dây lưng vật ngã
xuống, hô quân trói lại.
Hoà bắt được Chỉnh rồi bèn gióng chiêng bãi chiến thu quân về
Thăng Long, bỏ vua Chiêu Thống chạy thoát, cùng vài tên tỳ tướng đi hộ vệ, sang
núi Bảo Lộc.
Hoà giải Chỉnh về quỳ trước mặt Võ Văn Nhậm, Nhậm trừng mắt
ngắm Chỉnh rồi vuốt râu cười ha hả nói mỉa rằng:
- Chim Bằng lâu nay vẫn mạnh khoẻ đấy chứ? Làm sao mày làm phản?
Chỉnh thản nhiên nhìn Nhậm, không đáp.
Nhậm cau mày, nhưng lại tươi tỉnh ngay, hất hàm hỏi Chỉnh:
- Thế nào? Cố nhân không muốn nói ư? Một lời nói của cố nhân
có lẽ làm cho Nhậm đây không nỡ nhẫn tâm dùng lưỡi gươm cắt đứt mối ân tình; Nhậm
chỉ sợ rằng lưỡi đao tàn ác này lại không e nể cố nhân thì lúc xuống tay cố
nhân có muốn nói năng, lời nói ấy Nhậm tiếc rằng có khi chậm!
Ba lần Võ Văn Nhậm nhắc đi nhắc lại lời chế giễu của mình, ba
lần Nguyễn Hữu Chỉnh cứ đứng lặng yên, chờ chết.
Sau cùng, thấy kẻ thù không nhúc nhích, Nhậm bước xuống thềm:
- À! Ra cố nhân không muốn giãi tâm sự bằng lời; thế thì có lẽ
ngài muốn trối trăng bằng bút. Quân đâu, văn phòng tứ bảo, mau!
Lính thị vệ đem nghiên bút lại. Trên mặt tờ giấy trắng, Chỉnh,
tuy bị trói ghì cánh khuỷu, cũng cố cầm bút vạch thành bốn chữ rõ to:
"Thế nhi dĩ hĩ!"
Rồi vứt bút xuống sân, đứng thẳng người nhìn Nhậm. Bấy giờ Nhậm
tuy không hiểu chữ nghĩa là gì, song cũng mang máng biết rằng Chỉnh cử chỉ như
thế tức là khinh miệt mình; lửa giận bên trong bốc lên ngùn ngụt; Nhậm quay
lưng đi thẳng lên đại điện, truyền quân đao phủ hành tội ngay Hữu Chỉnh dưới thềm,
xả Chỉnh ra muôn nghìn mảnh rồi đem bêu đầu ở cửa thành; còn xác thịt, thì vứt
ra đồng cho chó và chim rỉa.
Võ Văn Nhậm giết xong người cừu địch, nét mặt hớn hở vui mừng.
Việc tư thù đã thỏa, Nhậm mới nghĩ đến quân sự. Thì ra từ khi vua Chiêu Thống
chạy giặc, triều đình không có chủ, các quan lộn xộn ra vào, không còn thể thống
gì nữa. Nhậm cho tìm vua, tìm đâu cũng không thấy, túng thế phải tôn hoàng thân
là Sùng Nhượng công Lê Duy Cận lên ngôi, coi tạm việc nước, gọi là Giám quốc.
Các quan đều không phục, chẳng ai thuận theo; Sùng Nhượng Công ở trong điện
Kính Thiên chỉ có dăm người hoàng thân cùng mấy quan võ tướng theo sớm tối hầu
hạ. Đình thần không ai đến chầu, cũng không ai tâu hỏi việc gì cả.
Ngày ngày quan Giám quốc lại đi bộ từ đền Vạn Thọ sang phủ Bằng
trung công, tức là hành doanh Võ Văn Nhậm rồi đứng chầu chực ở đó hàng giờ, đợi
lời chỉ giáo. Nhậm lấy thế làm phiền phức, nhưng cũng không biết xử trí thế
nào.
Dân trong kinh thành thấy việc chướng mắt, ngược đời ấy, ai
cũng chê cười, gọi Sùng Nhượng công là "Thầy đề lại Giám quốc".
Võ Văn Nhậm ỷ mình có tài bắt được Hữu Chỉnh, có công đệ nhất
trong sự cứu giúp nhà Lê. Nhậm được Sùng Nhượng công sớm chiều sang hầu, ngoài
mặt giả vờ tỏ vẻ khó xử, nhưng trong lấy làm thú vị sung sướng lắm, bởi lẽ tự hào
mình là người có quyền thế to lớn nhất ở xứ Bắc Hà. Sự sung sướng ấy lộ hẳn ra
nét mặt: Nhậm không những chỉ dương dương tự đắc còn có vẻ kiêu ngạo trong khi
đối đãi với các quan nhà Lê với cả những người ngang hàng với mình như Phan Văn
Lân và Ngô Văn Sở, lúc đó sung chức Tham tán quân vụ.
Khi Bắc bình vương Nguyễn Huệ sai Nhậm ra Thăng Long bắt Chỉnh,
Vương đã có ý ghét Nhậm là người tiểu nhân, không dùng được trong đại sự, lại sợ
giao nhiều binh quyền cho Nhậm thì y sẽ kiêu căng cậy công cậy tài, rồi mưu những
việc phản trắc ngay. Vì lẽ đó, vương sai đi kèm bên mình Nhậm tụi Sở, Lân để dò
ý tứ và chia bớt thế lực của Nhậm.
Ngô Văn Sở thấy chủ tướng đối với mình có ý khinh bỉ, nghĩ lấy
làm giận; nhân thấy Nhậm đối với Nguyễn Hữu Chỉnh, là bạn đồng liêu cũ, không
có chút ân tình nào, càng đem lòng ghét Nhậm, liệt Nhậm vào hạng Trịnh Tùng, tiện
tiểu nhân, tàn nhẫn, không thể gây nên sự nghiệp vững bền được. Sở bèn viết thư
cho Bắc bình vương, ngỏ ý Nhậm tự phụ mình có công to, muốn làm phản.
Được tin, Bắc bình vương, lập tức truyền lịnh kéo mấy ngàn
quân kỵ, đêm ngày đi gấp đường nửa đêm ra đến thành Thăng Long. Đại đội hùng
binh vừa tới nơi, Vương truyền lịnh kéo thẳng đến hành doanh Võ Văn Nhậm, trói
gô Nhậm lại giải ra chợ trảm quyết.
Nhậm vừa lấy làm lạ, vừa kinh sợ, không hiểu vì lẽ gì chú vợ
mình lại xử tệ với mình. Y lạy phục xuống thềm, khóc lóc kể lể nỗi oan ức và
xin Nguyễn Huệ khoan dung cho. Bắc bình vương chỉ lắc đầu, cười gằn, không nói
gì cả sai lính đưa ra cho Nhậm một mảnh giấy nhỏ trên có đề mười hai chữ rõ rệt:
"Bất tu đa ngôn; nhữ tài quá ngã, phi sở ngã dụng".
(Chớ khá nhiều lời; tài mày hơn tao, tao không dùng được).
Nhậm mượn đọc xong không còn biết nói thế nào chỉ kêu trời
kêu đất, oán thán phận mình. Nhậm biết rằng Huệ đã truyền lệnh, có xin van cũng
vô ích. Tài Huệ có lẽ nào kém Nhậm, nhưng Huệ nói thế, chỉ là để có cớ giết Nhậm
mà thôi. Một người hữu ý, một kẻ vô tình, ai tránh cho khỏi tai vạ mà tha nhân
đã lập tâm gieo trên đầu mình một chách quá tự nhiên vô lý? Nhậm suy đi nghĩ lại,
cam tâm chịu chết, chả trách chú vợ vô tình, mà trách mình quá dại dột, nai
lưng đánh dẹp để gây cơ đồ cho nhà vợ, khiến giờ đây, chưa kịp ngáp, đã hoá ra
một thằng xú quỷ không đầu. Càng nghĩ càng xót xa, Nhậm sụt sùi khóc rũ xuống.
Bao nhiêu những kỷ niệm về cuộc đời dĩ vãng, trong phút chốc, hiện ra, từng
quãng một trong tâm hồn. Bao nhiêu hình ảnh của những kẻ thân yêu, nó bày cả trong
trí nhớ, giữa chỗ sáng nhất. Nhậm thấy vợ ủ ê rầu rĩ khi nghe tin mình đã thác,
thấy con gái yêu quí của mình nhởn nhơ như một cái bóng oan hồn. Nhớ đến An
Trinh, lòng Nhậm như bào như xé; Nhậm tự hỏi không biết con mình lưu lạc phương
nào mà mất tích, còn hay đã chết từ lâu.
Đương lúc mê mẩn băn khoăn, Nhậm lững thững theo lũ đao phủ,
tới chợ khi nào không rõ. Tới nơi, trời còn tối mịt; mười tên quân và viên Giám
trảm coi giữ phạm nhân, lột áo y ra, chỉ để cho một manh quần che thân phía dưới.
Họ trói ghì mồi của họ vào một cái cột tre cao đóng rõ chặt xuống đất, lột mũ y
ra, xoắn tóc y lại rồi buộc gọn gàng mớ tóc ấy vào phía trên cột, khiến cổ tù
nhân không bị vướng, để lưỡi dao giáng xuống được lẹ làng.
Xong đâu đấy, cả bọn cùng ngồi nghỉ. Viên Giám trảm cho hai
tên lính đứng ở cửa chợ để ngăn cấm những kẻ bán hàng không được vào, rồi chờ
trời sáng rõ và có lệnh bài của súy phủ mới khai đao.
Võ Văn Nhậm lúc bấy giờ sống cũng như chết, tâm hồn rối loạn,
không còn suy nghĩ được kế gì thoát thân. Vừa đau đớn, vừa căm tức, vừa hối hận,
Nhậm bị không biết bao nhiêu tư tưởng kỷ niệm cùng hình ảnh chạy lộn xộn trong
trí nhớ, cắn rứt khối óc hèn nhát của y, làm cho y nghiến răng mắm lợi, trợn mắt,
nguyền rủa nhà Tây Sơn, rồi phút sau, lại gục đầu xuống than thở.
Bốn bề lúc ấy đều im phăng phắc. Bỗng đâu, tiếng cãi cọ ồn ào
ngoài cửa chợ làm cho viên Giám trảm giật mình. Viên ấy vội vã bước ra ngoài;
dưới ánh sáng ngọn đèn lồng, anh ta thấy một người thiếu niên vạm vỡ, ăn mặc võ
phục trắng, quấn khăn trắng, đương trợn đôi mắt sáng quắc, vừa tinh anh vừa dữ
dội, túm lấy cả hai tên lính, mỗi tên một tay, lắc đi lắc lại, làm cho chúng sợ
hãi kêu la. Nhác thấy Giám trảm quan thiếu niên dừng lại. Cả hai tên quân, vừa
bị khách lạ mặt rung cho một lúc mềm cả gân cốt, đều tức tối xoa cổ phân bua
cùng bề trên:
- Bẩm, có quan lớn làm chứng, tên này tự nhiên vô cớ ở đâu đến,
nhất định đòi vào, nó bèn túm lấy cổ chúng con mà lay lấy lay để, xuýt nữa gẫy
xương và nghẹn thở. Xin quan lớn bắt lấy nó mà trị tội.
Thiếu niên nghe nói chỉ chống tay vào hông đứng cười. Hai tên
quân lại càng căm tức. Sẵn có chủ ở đó, chúng cậy chó gần chuồng, định xông vào
trói thiếu niên. Nhưng, gạt chúng ra hai bên, Giám trảm quan tiến lên mấy bước:
- Ấy chớ! Chúng bây hãy lui ra không được vô lễ, quí khách
đây tức là cố chủ của ta. Bay có mắt cũng như mù thôi! Cút!
Mắng lũ quân canh rồi, viên giám trảm phủ phục xuống lạy hai
lạy, quì dưới đất. Thiếu niên rất ngạc nhiên, song nhanh trí, chàng vội vàng
vái đáp lễ, đỡ viên quan đứng dậy. Mãi bấy giờ, dưới ánh đèn phờ phạc, chàng mới
nhận ra người vừa khiêm tốn lạy chàng.
- Ơ kìa! Thế mà tôi cứ tưởng là ai! Chẳng hoá ra Nguyễn Hải
đó à! May quá, thực là một dịp bất ngờ. Ai hay đâu thầy trò ta lại có ngày còn
gặp nhau đây!
- Từ ngày loạn lạc xa nhau, con vẫn nhớ công tử quá. Nhất là
công tử đối với con lại có chút ơn riêng con chưa báo được tí nào! Công tử bỏ
đi đâu, làm cho cụ lớn nhà ta tìm mãi? Mà tới khi cụ và cậu hai không may thất
lộc cậu cũng không thấy trở về. Có đi tìm cậu đến ngót tháng trời, song từ Bắc
vào Nam, không biết tin tức cậu ở đâu hết cả. Biết đâu ngày nay lại được phúc
thấy nhau đây! Sau buổi cụ con và cậu hai mất rồi, con long đong mãi, bơ vơ
không biết về đâu, mãi tới ngày khốn cực quá, con phải theo hầu Ngô Tư mã. Hôm
nay ngài sai con đi hành hình Phò mã Võ Tiết chế. Thực là một dịp ngẫu nhiên:
có ngờ đâu tự tay con lại được báo thù cho cụ! Nhưng đêm hôm đen tối, cậu lặn lội
ra đây hẳn có việc gì?
- Thì còn có việc gì! Cậu đến đây để mắt được trong thấy đầu
Tiết chế rơi xuống đất! Cậu đến đây để nhúng tay vào máu cừu nhân! Cậu đến đây
để xin Hải cho cậu làm đao phủ đó! Cậu đến đây để làm cho tiêu tán một mối đau
đớn mà, nếu không, vạn cổ cũng không tiêu; đau đớn vì nghĩ đến cha cậu, em cậu,
một đời anh hùng lừng lẫy, phút chốc hoá làm xú quỷ, nghĩ đến vợ cậu, tài sắc
trọn vẹn, yêu chồng rất mực, mà không may không được sống an toàn hưởng cho hết
tuổi thanh xuân... Cậu đến đây là vì thế đó!
Thiếu niên nói xong câu ấy thì mắt lóng lánh chiếu ra những
tia sáng sắc như gươm giáo. Tay chàng nắm lại tựa hồ muốn đấm ai cho hả giận, mặt
chàng lộ ra vẻ gân guốc, cương quyết, tàn nhẫn, vì những đường dăn mà đôi mày
cau lại cùng hai hàm răng nghiến chặt vào nhau vẽ ra trên khổ mặt lẫm liệt ấy.
Viên Giám trảm trông cố chủ lộ ra vẻ bất bình căm tức, bỗng dịu
dàng cầm tay thiếu niên nói nhõ khuyên rằng:
- Hà tất cậu phải giết Phò mã làm chi cho mang tiếng là người
không độ lượng; vả chăng giết một người nhát hèn như Võ Phò mã thì chỉ thêm bẩn
lưỡi gươm thôi! Nay Trời chí công minh đã thay cậu mà trả thù hộ cậu, cậu chỉ
nên đến viếng kẻ cừu địch cho kẻ kia phải đau lòng và hối hận, còn sự giết y
thì cậu chớ nên làm!
Vài lời nói thành thực của Nguyễn Hải hình như khiến thiếu
niên đương mê quá tỉnh, chàng gật đầu lia lịa trong khi nét mặt đổi ra hoà nhã,
hiền từ. Chàng cùng Nguyễn Hải đi vào trong chợ.
Ở xa, thấy Võ Văn Nhậm bị lột trần trói ghì vào cột, ủ rũ đứng
đợi sự chết, không hiểu vì sao, thiếu niên bỗng cảm động thương tình. Chàng bèn
nhờ Giám trảm quan đem hai chiếc đèn lồng lại treo trước mặt tội nhân, rồi
chàng từ từ tiến lại phía người khốn nạn sắp bị tử hình ấy, sụp xuống lạy y hai
lạy.
Ngạc nhiên, Võ Văn Nhậm ngước mắt nhìn ngưòi thiếu niên áo trắng
đoái tưởng đến y trong khi bao nhiêu gia binh gia tướng đều bỏ y trơ trọi một
mình, lúc ngắm xong, Nhậm bỗng đờ mặt há hốc mồm không nói được nữa, mãi hồi
lâu mới khóc lóc kêu to:
- Anh Tề công tử! Thật là tội ta đáng chết! Trời đã thay công
tử hại ta đó mà! Ta đối đãi táng tận lương tâm với phụ thân ngươi, bạn đồng
liêu của ta; nay chú vợ ta, ngươi nghe chưa, chú vợ ta lại tàn nhẫn với ta! Đó
là luật quả báo, đó là lẽ luân hồi, ta không còn oán ai được nữa! Oan oan tương
báo, ta đã gieo nên oan nghiệt, ta phải làm bung xung cho nghiệt chướng của ta.
Cớ sao ngươi không nghĩ thù cha mà lạy ta như vậy?
Nguyễn Anh Tề không đáp. Chàng chỉ rút trong mình một bức thư
nhầu nát, giơ lên ánh đèn đọc cho Nhậm nghe, xong rồi trao cho Nhậm. Bức thư đại
khái như sau này:
Bất hiếu nữ là An Trinh kính trình phụ thân là Võ đại nhân rộng
xét:
Con vô phúc đã không tuân lệnh cha, dám tự tiện cùng Anh Tề
công tử thề nguyền vàng đá với nhau, đôi bên kết duyên Tần Tấn. Con những tưởng
có thể cùng người yêu đẹp đôi cầm sắc, có ngờ đâu hai nhà Nguyễn Võ đã gây nên
một mối thâm thù! Song le, trót ăn ở với tình lang con từ trước, con đã có mang
ba tháng khi theo ra đất Bắc Hà. Lúc trở về, sợ không giấu giếm che đậy được nữa,
lại sợ cha giận dữ không nghĩ thương tình mà giết đi, nên con phải trốn cửa
nhà, đi theo chồng về Thanh Hoá. Chúng con định lánh bõ cõi đời túi bụi, yên phận
ở với nhau cho đến bạc đầu, rồi đợi khi nào mối hiềm khích của hai nhà đã tiêu
tan, bấy giờ sẽ về xin cha mẹ thứ tha cho tội lỗi. Nhưng Trời xanh cay nghiệt
đã ghen với hạnh phục của chúng con riêng hưởng, xui nên cha không quên thù cũ
mà đang tay giết chết Bằng Trung công. Phụ thân chồng con bị thác bởi tay cha,
thì con còn sống làm sao gần chồng con được nữa! Vậy nên con phải chết. Con chết
để chồng con khỏi mang tiếng là người bất hiếu. Nếu con còn sống ắt chồng cũng
không dung mà càng thêm đeo xú danh của một phụ nhân dâm dật.
Trước khi tự hủy mình cho toàn vẹn đại nghĩa con xin gởi lời
về kính bái cha mẹ, xin cha mẹ nghĩ tình máu mủ mà tha cho tiện nữ này. Tội con
thật đáng chết, cho nên con đã tự xử lấy thân, không để hổ thẹn đến nòi võ tướng.
Vài lời tuyệt mệnh, xin kính trình cha rõ, mong rằng vì sự
con chết, cha sẽ thương lấy chồng con, ngõ hầu sự cừu oán đến đây là dứt, đừng
giây giướng đến đời sau.
Bất hiếu nữ Võ An Trinh đốn thủ.
Nghe đọc đến câu cuối cùng, Võ Văn Nhậm bỗng kêu lên một tiếng,
ngất đi. Anh Tề cũng thấy trên gò mà đầm đìa những giột lệ nóng như sôi, không
thế nào cầm hãm được. Chàng càng nghĩ càng thương phận vợ, thương bao nhiêu, bấy
nhiêu mối căm hờn đối với Nhậm cũng hình như giảm bớt đi nhiều.
Chàng bèn lấy nước lã phun vào mặt bố vợ, lay gọi Nhậm hồi tỉnh.
Mở mắt ra, Nhậm chỉ nhìn Anh Tề không đáp, nước mắt nước mũi chảy xuống ròng
ròng. Hồi lâu, vừa thổn thức vừa nấc lên, Nhậm rền rĩ nói:
- Ngày nay cha đã biết sự cha làm là lỗi, nhưng hối cũng muộn
quá rồi! Nếu cha không có dã tâm hãm hại phụ thân con, có khi nào cha lại bị sa
vào vòng tử tội! Chả qua là oan nghiệt! Nếu biết sớm hai con yêu vụng nhau dường
ấy, có nỡ nào cha làm cho hai con phải vì cha lìa rẽ nhau ra! Sự hiềm thù vô lý
kia, không có căn nguyên gì, mà đã gây ra xiết bao kết quả chua cay thảm khốc.
Cha giết phụ thân con, để đến nỗi con gái yêu của cha phải ngậm hờn mà chết, rồi
đến lượt cha phải trả nợ mất đầu. Con được mục kích sự đau đớn thống thiết của
cha, thiết tưởng con cũng nên thương hại cha mà tha thứ cho cha thì phải! Con
có tha lỗi cho cha, hồn cha mới được nhẹ nhàng trong sạch, nếu không nó sẽ bị
đoạ đày trong xó lầm lỗi mịt mờ. Hương hồn phụ thân con nếu biết có giờ này, ắt
cũng chả oán hờn cha!...
Con ôi! Cha hối đã nhiều, cha đau đớn cũng đã nhiều, con có
thấu cho cha không hở? Chỉ vì cha, mới nên nỗi nước này. Vì cha không giết Nguyễn
Quân, thì hai chúng ta ắt đã gây nên nghiệp lớn, có đâu phải luồn lụy dưới quyền
mấy thằng Tây Sơn đểu giả, dã man? Chả qua cha quá tin người, không nghĩ sâu
xa, nên mới tan nát cả hai gia đình đến thế. Ôi! Đau đớn! Ôi! Chua xót; đau đớn
chua xót kể làm sao hết; mà kể lỗi xưa là mới đáng. Cha chết ngày ngay, nào có
được êm ái, mau chóng hay lẫm liệt như phụ thân con đã thác; cha chết một cách
khốn khổ, nhục nhã, trong khi xác thịt bị đau, linh hồn bị nát tan tành. Thế có
đủ chuộc tội không con? Con có tha cho cha không con? Con có cho phép cha xưng
"cha" với con không con? Con ơi, con trả lời đi, cha chỉ còn sống được
nửa giờ nữa là hết đời cha vậy..."
Võ Văn Nhậm vừa nói vừa khóc một hơi dài khiến cho Anh Tề, cầm
không đậu mối thương tâm, cũng khóc lên nức nở. Bao nhiêu sự oán thù căm giận
phút chốc bỗng tiêu tan đi như làn khói toả, để nhường chỗ lại cho lòng khoan
dung vĩ đại, cũng như cho tình thương tiếc chân thành.
Anh Tề hình như văng vẳng nghe trên không có tiếng phụ thân
chàng nói xuống: "Con tha cho kẻ thù nhân đã biết hối quá!"; lại nghe
như có tiếng vợ chàng thỏ thẻ từ cõi vô hình: "Tha cho cha thiếp, chàng
ôi!"...
Chàng bèn lia lịa gật đầu, rồi mồm thì nói:
- Con tha tội cho cha! Con tha tội cho cha! Trong khi thân phủ
phục xuống đất Anh Tề lạy Võ Văn Nhậm hai lạy; lạy xong, chàng vùng té chạy mất,
không dám ngoảnh đầu trông lại, cũng không dám ở lâu chứng giám cuộc chém đầu
khốc liệt thảm thương, cuộc trảm quyết mà, vừa một vài giờ trước đây, chàng những
muốn tự tay mình xử hộ cho tên đao phủ.
PHẦN 12
Trong một ngôi chùa cổ ở gần động Tam Thanh xứ Lạn, từ dăm
sáu tháng nay, người ta thấy đến tu hành một vị ni cô còn trẻ và có nhan sắc,
đêm ngày chăm chỉ tụng kinh gõ mõ và đèn nhang ở chốn Phật đài.
Vị ni cô đó ăn mặc rất nhã đạm, tựa hồ cố ý làm cho mình già
xấu đi, để thiên hạ đừng để ý đến mình, ngõ hầu được yên ổn trong cõi đời thanh
tịnh. Quả nhiên, muốn sao được vậy: quầng mắt, vì quá thức đêm, khóc lóc hay tư
tự, chả bao lâu đã tím bầm; nước da, trước kia trắng đỏ hồng hào, bây giờ cũng
xanh bủng, tái mét. Nét mặt ni cô dần dần hốc hác, hình dung nàng dần dần tiều
tụy; mà có lẽ bầu tâm sự nàng đeo nặng trong lòng, càng vì sự kham khổ của xác
thịt, càng tăng phần chua xót thảm thương.
Ni cô đau đớn bao nhiêu, bấy nhiêu, nàng định vùi lấp những tục
lụy trần duyên trong sự nâu sồng khổ hạnh. Đêm nào, sau khi thành kính tụng niệm
trên tam bảo, nàng cũng chong đèn ngồi khóc lóc thở than. Như thế không biết
bao ngày, chút lửa lòng của nàng vẫn không lấy giọt lệ tưới cho tắt được. Nàng
hẳn bị một mối thất vọng gì sâu xa cắn rứt, hoặc bị nỗi thất tình gì nhục nhã
giày vò.
Ôm khối hận trường, nàng quyết sống một cuộc đời đạm bạc, hoạ
may mùi muối dưa sẽ, như nước cam lồ, có mãnh lực hàn dần những vết tử thương.
Bởi thế, từ một thiếu phụ yếu ớt nhu mì, nàng hoá thành một đạo nhân can đảm.
Ni cô sống một mình, với một hoàn cảnh tôn nghiêm cùng một gầm
dĩ vãng. Những việc vặt trong chùa, cho đến sự đèn hương tụng niệm, nhất nhất
nàng làm lấy cả, chỉ dùng một tiểu con để nằm ngủ cho có bạn mà thôi. Đứa con
gái nhỏ ấy, nàng nân niu yêu quí chả khác gì con nàng vậy.
Chùa xây ở một chỗ hẻo lánh, gần núi mà xa thành thị, hoá nên
những khách đến vãn chùa chả có một ai. Họa chăng có một vài kẻ nhàn du đi xem
phong cảnh, thì họ toàn vào động Tam Thanh xem tượng nàng Tô Thị, hoặc tìm những
nơi sơn thủy hữu tình. Không người nào đoái hoài đến ngôi chùa cũ cỏn con, dựng
khuất ở bên sườn núi trọc, giữa một chốn tiêu điều, tẻ lạnh, mà gót chân người
ít để vết lại từ xưa.
Chùa ấy là một cổ am bỏ hoang vắng đã lâu ngày; vị đạo nhân
trụ trì trong am, kể có năm sáu năm nay, đã tự thiêu đi theo Phật tổ về cõi hư
linh, huyền ảo. Khi ni cô đi qua Tam Thanh, định tâm tầm sư học đạo, nàng bỗng
thấy nơi hoang vu tĩnh mạc, bèn dừng chân vào ngụ trong chùa. Chùa không có chủ,
ni cô một mình sửa sang quét tước lại, mất đến nửa tháng trời mới giũ sạch được
những vết bụi bậm, rêu cỏ, mà thời gian phủ trên một cảnh điêu tàn. Nhà cửa, Phật
điện, một sớm được sạch sẽ quang đãng, ni cô tự nghĩ mình có công dọn dẹp, bèn
dùng ngôi chùa làm chỗ tu hành.
Rồi từ đó, nàng ở đấy, mua kinh về tụng niệm, không tìm thầy,
cũng không đi đâu nữa.
Nàng đến ở chùa được non hai tháng thì một hôm vào khoảng
trung tuần quí xuân, một thiếu niên tráng sĩ, không biết từ đâu đi đến, ghé vào
chùa vãn cảnh, như chàng đã tò mò xem xét khắp mặt các sa môn ở vùng xứ Lạng.
Khi nhận rõ mặt ni cô, tráng sĩ bỗng tỏ ý mừng rỡ cuống quýt rồi quì rạp xuống
lạy nàng, kể lể, những chuyện gì không rõ. Ni cô mời tráng sĩ đứng dậy, nhủ
chàng vào phương trượng, phân ngôi chủ khách ngồi đàm đạo hồi lâu, trong khi tiểu
tỳ dâng trà hồng mai đựng trong một bộ chén sành.
Một vài giờ sau, trước khi mặt trời lặn, thiếu niên từ tạ ra
đi. Từ buổi ấy, không ai thấy chàng trở lại ngôi chùa cổ nữa. Mãi đến hạ tuần
tháng một năm Quí Sửu, nghĩa là cách đấy non năm năm người ta mới gặp tráng sĩ
trở về. Lần này, chàng ở lại chùa non nửa ngày, mà trong non nửa ngày ấy, chàng
cùng ni cô vật vã khóc lóc một cách rất thảm thương bi thiết.
Xong buổi khóc lóc ấy, tráng sĩ lại ra đi, rồi từ đó, chàng
đi mất tích.
Tráng sĩ không phải người đâu xa lạ, chính là công tử Anh Tề.
Còn ni cô, nàng là một người trong quí tộc của hoàng gia: nàng tức là Hoàng phi
vợ vua Lê Chiêu Thống đó.
Từ ngày thua trận Mục Sơn, sau khi cha con Nguyễn Hữu Chỉnh bị
giết, vua Lê chạy trốn sang Bảo Lộc, rồi nay Hải Dương, mai Sơn Nam, đêm ngày
cùng mấy kẻ bề tôi trung nghĩa lo bề khôi phục. Khốn nỗi thế lực một ngày một
kém, các triều thần đều lả tả mỗi người trốn tránh một nơi, không còn ai đủ cơ
trí và hùng tài giúp nhà vua gây lại cơ đồ cũ nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt
rồi, Chiêu Thống không biết nương tựa vào ai. May thay lúc đó có kẻ thổ hào là
Dương Đình Tuân đem thổ binh ra hộ giá, bắt dân phu phải canh giữ đồn trại ở bờ
sông Nguyệt Đức, Võ Văn Nhậm ra bắt vua không được, bèn dùng kế phản gián, làm
cho Chiêu Thống ngờ vực Đình Tuân, bỏ Tuân chạy ra huyện Chí Linh. Liễu trung hầu
Đinh Tích Nhượng lúc ấy đã theo hàng Tây Sơn, bèn đem quân ra Chí Linh đuổi bắt
vua, may sao có hai tráng sĩ trung thần là Trần Đĩnh và Hoàng Xuân Tú hộ vệ
dùng lương binh chống cự với Đinh Tích Nhượng, đánh Nhượng thua chạy. Nhượng
thua rồi, vua đi sang huyện Thủy Đường, tới nơi mới được tin rằng quan cựu thần
là Hoàng Nhật Tuyển đánh được quân Tây Sơn ở cửa Lục. Đồng thời lại có ông Đinh
Nhã Hành đem quân đến hội, vua cũng được yên lòng.
Bỗng có tin Nguyễn Huệ ra Bắc Hà, sắp đem quân đến đuổi, vua
Chiêu Thống định trốn về Thanh Hoá đem thủy quân đóng ở Quần Anh cùng lũ Hoàng
Nhật Tuyển và Đinh Nhã Hành. Không may nửa đêm bị gió bão nổi lên, thổi bạt
thuyền rồng vua vào Thanh Hoá, và trôi thuyền Hoàng Nhật Tuyển ra cửa Cần Hải.
Tuyển thấy quân tình rắc rối, lại lâm thế cô quẫn, đành phải
ra hàng Nguyễn Huệ, bị Huệ bắt đem giết đi.
Vua Lê từ bạt vào Thanh, lại cùng vài người bề tôi trung
nghĩa trốn ra Bắc, ẩn nấp ở mấy trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, lo sự gây dựng lại cơ đồ.
Khốn thay, một mình không đương nổi đại sự, vả cũng không có người hào kiệt nào
ra sức giúp đỡ, nên mấy phen mưu mô định khởi nghĩa đều bị thất bại cả. Túng thế,
sau cùng, vua phải đem Hoàng gia lên nương náu ở Lạng Giang.
Trong khi ấy ở Thăng Long, Bắc bình vương Nguyễn Huệ, giết
xong Võ Văn Nhậm, cho gọi tất cả các quan văn võ nhà Lê vào yết kiến, đặt quan
trấn thủ và quan lục bộ, giữ Sùng nhượng công Duy Cẩn làm Giám quốc để coi việc
tế lễ cho tiên triều. Trước khi về Nam, Huệ lại sai bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất
Bắc.
Vua Chiêu Thống ở lâu Lạng Giang, nóng lòng sốt ruột, bèn cho
Hoàng thái hậu đem Hoàng Phi và Hoàng tử sang Long Châu kêu van với quan Tàu,
xin binh cứu viện. Vợ con vua Lê vào cầu khẩn quan Tổng đốc Lưỡng Quảng: là Tôn
Sĩ Nghị. Nghị thương tình bèn dâng biểu tâu vua Càn Long đại lược nói rằng:
"Nhà Lê xưa nay vốn là công thần nước Tàu, đời đời cống
hiến Triều đình; nay Tự quân bị giặc xâm chiếm mất đất, phái mẹ và vợ sang cầu
cứu, xét cũng nên giúp, trước cứu được vua Lê, chiếm lại được miền Nam, lợi cả
đôi đường, nhất cử lưỡng tiện. Khi vua Lê chiếm lại được ngôi, ta sẽ đóng quân
để giữ đất nước, thế là nước An Nam sẽ về tay người Tàu vậy."
Chuẩn lời tâu Tôn Sĩ Nghị, vua Càn Long giáng chiếu sai khởi
quân Lưỡng Quảng và quân hai tỉnh Vân Nam, Quí Châu giao cho Nghị cai quản để
sang đánh An Nam. Nghị chia binh làm ba đạo, một đạo sang Tuyên Quang, một đạo
sang Cao Bằng, một đạo sang Lạng Giang, cả ba cùng thẳng tiến đến Thăng Long. Đạo
Tuyên Quang do tổng binh Vân Nam điều khiển; Đạo Cao Bằng do Sầm Nghi Đống tri
phủ Điền Châu đốc xuất, đạo Lạng Sơn tự Sĩ Nghị cùng đề đốc là Hứa Thế Hanh chỉ
huy.
Quân nhà Thanh rầm rộ kéo đến Thăng Long; bọn tướng Tây Sơn
thấy uy thế ba đạo mạnh quá sợ sức không địch nổi, bèn rút cả hai mặt thủy bộ về
đóng giữ ở đèo Tam Điệp, rồi sai người về Phú Xuân cáo cấp với vua Quang Trung.
Tôn Sĩ Nghĩ không gặp ai cản trở, cứ thẳng đường đến Kinh Bắc.
Vua Chiêu Thống ra chào mừng rồi cùng quân Tàu cùng về Thăng Long. Nghị lập
hành doanh ở giữa bãi, về mé Nam sông Nhị Hà, sai bắc cầu phao ngang sông để tiện
đường đi lại và chia quân ra đóng giữ hết các mặt.
Qua ngày hôm sau, Tôn Sĩ Nghị mời vua Chiêu Thống ngự sang trại
quân rồi lại đại lễ tuyên đọc tờ sắc chỉ của vua Càn Long phong cho vua Lê làm
An Nam Quốc vương. Tuy được thụ phong, Chiêu Thống vẫn phải để niên hiệu Càn
Long trên các văn thư, lại phải mỗi buổi chầu xong sang đồn Sĩ Nghị để hầu quan
tổng đốc xem "Ngài" có bàn gì về các việc cơ mật quân quốc chăng. Mỗi
lần sang chầu vua đi ngựa từ đền Vạn Thọ ra tới bãi Cơ Xá, chỉ có mười tên Ngự
Lâm quân theo hầu. Vua chịu nhẫn nhục bao nhiêu, thì bấy nhiêu Nghị càng ngạo
nghễ tự đắc, xử với vua rất tàn tệ khinh bạc, lắm khi không cho vua vào yết kiến,
chỉ sai người ra đứng dưới gác chuông truyền lệnh.
- Hôm nay không có việc gì, thỉnh Quốc vương hãy về cung yên
nghỉ, hôm khác sẽ lại hầu!
Bàn dân thiên hạ ai trông thấy cũng ngậm ngùi tức tối, nhao
nhao bàn tán về sự yếu hèn của Chiêu Thống, về vẻ láo xược của quan Tàu.
Bởi thế, lòng dân xứ Bắc Hà đã chán nản càng thêm chán nản
hơn nữa.
May sao, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ, khi được bọn Ngô Văn Sở
báo về, lập tức hội cả các tướng sĩ dưới trướng để bàn định đem quân ra đánh tướng
nhà Thanh. Treo lời khẩn cầu của bách quan, Ngài trước tiên lên ngôi chính tôn,
để yên bụng quần chúng đã, rồi nhiên hậu mới tế cờ khởi binh ra lấy Bắc Hà.
Ngày 25 tháng một, năm Mậu thân (1788) trên đàn lập ở sườn
núi Bàn Sơn, ngài làm đại lễ tế trời đất rồi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu
là Quang Trung. Xong, ngài tự thống lĩnh thủy bộ đại binh để đi đánh giặc. Ngài
kén được mười vạn hùng binh và một trăm voi, truyền tụ cả võ trường trong thành
Nghệ An, để nghe lệnh vua nhủ bảo phải gắng công gắng sức đánh giặc Thanh giúp
nước. Đoạn đại binh giong ruỗi lên đường, đến ngày 29 tháng chạp thì ra tới đèo
Tam Điệp.
Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm ra lạy mừng và tạ tội, kể chuyện
quân Tàu sức mạnh, đương không nổi nên phải lui binh. Vua Quang Trung cười nói:
- Chúng nó sang phen này, chỉ là mua cái chết đó thôi! Ta đây
đã sẵn mẹo mực trong tay chỉ trong khoảng mười ngày là dẹp tan lũ ong kiến đó.
Nhưng chỉ sợ nước nó lớn gấp mười ta, thua phen này tất nó xấu hổ, thế nào nó
cũng mưu sự báo phục, dân ta sẽ bị chinh chiến đoạ đày mà khổ ải vô chừng. Vậy,
đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm dùng bút thiệp giúp cho bãi việc
binh đao. Đợi mười năm nữa, khi ta đã dưỡng sức hùng cường rồi, thì không cần
phải sợ quân Ngô kia nữa!
Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ được nghĩ ngơi ăn tết
Nguyên Đán trước, để tới ngày trừ tịch thì cất quân đi, định đến khai hạ sẽ vào
Thăng Long làm lễ ăn mừng. Xong, ngài sai nổi trống tụ cả ba quân đến dưới tướng
đài nghe lệnh.
Sở và Lân thì đem tiền đội đi tiên phong, có Hán hổ hầu đi đốc
chiến, Đại Đô đốc Lộc và Đô đốc Tuyết thì chỉ huy đội hữu quân cùng thủy quân
vượt qua bể vào sông Lục Đầu: Tuyết đến cửa sông sẽ kinh lược mặt Hải Dương, tiếp
ứng mé Đông; Lộc sẽ sang vùng Lạng giang Yên Thế chẹn lối quân Tàu thua chạy về.
Đại Đô đốc Bảo cùng đề đốc Mưu cai quản tả quân và tượng mã đi đường núi ra chắn
phía Tây: Mưu phải thẳng ra huyện Chương Đức, tiện đường kéo đến huyện Thanh
Trì, đánh quận Điền Châu; Bảo thì thống xuất voi ngựa theo đường Sơn Lãng, rồi
cũng đến Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.
Thế là năm mặt quân đều dàn xếp xong cả; lần này sẽ vây bọc
quân Tàu như vây bọc trong lưới sắt, khó lòng có tên Ngô nào trốn thoát trở về.
Đến đứng ngày 30 tết năm Mậu thân ba quân hùng hổ khua chiêng gióng trống, mở cờ
dựng giáo, kéo ùa ra các đường trọng yếu xứ Bắc Hà.
Đầu tiên, tới sông Giản Thủy, gặp nghĩa quân nhà Lê, nghĩa
quân chưa đánh đã tan vỡ, chạy cả. Vua Quang Trung thân đốc tướng sĩ đuổi theo
đến huyện Phú Xuyên, bắt sống được cả toán quân Tàu đóng đồn ở đấy, không một
tên nào chạy thoát. Bởi thế, quân Tây Sơn hoành hành dữ dội ở gần Thăng Long mà
bọn Tôn Sĩ Nghĩ đều mải mê chè rượu, tết nhất, không biết gì hết cả, bởi lẽ
không có tên quân Tàu nào trốn khỏi lưới để chạy về báo tin nguy cấp cho chủ
soái hay. Thậm chí đến những tóp quân nhà Thanh đóng ở làng Hà Hồi và làng Ngọc
Hồi, gần Phú Xuyên, chúng cũng không biết tí gì hết cả.
Nửa đêm ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây
Sơn đến vây kín đồn giặc ở Hà Hội, bắc loa lên gọi, hàng muôn người hưởng ứng dạ
vang trời, làm náo loạn hẳn vẻ tĩnh mịch của ban đêm. Quân canh đồn bấy giờ mới
giật mình biết có biến, nhưng tưởng có đông người lắm nên sợ hãi vội vã xin
hàng vua Quang Trung thu được quân lương và khí giới không sót một chút gì còn
lại.
Sáng mờ mờ hôm mồng 6, quân ngài lại tiến đến đồn Ngọc Hồi,
giặc Tàu trông thấy tinh kỳ bắn súng như mưa. Ngài bèn nghĩ ngay một kế, sai lấy
những mảnh ván, ghép ba làm một, dùng rơm cỏ giấy nước quấn ở ngoài, rồi truyền
cho những binh kiêu dũng, lưng giắt sẵn dao găm nhọn sắc, cứ hai mươi người
khiêng một tấm khiên lạ lùng ấy, mở lối cho hai mươi người nữa cầm khí giới đi ẩn
ở mé sau khiên, Vua thì cưỡi voi đi hậu tập đốc chiến. Quân ngài vào đến gần đồn,
bỏ khiên rút dao, xông vào chém xả, bọn có binh khí cũng kéo ùa cả vào đánh túi
bụi. Thế lực mạnh như nước chảy, gió cuốn, quân tưóng nhà Thanh không địch nổi,
xôn xao chạy tán loạn, mất cả đội ngũ cứ xéo lẫn lên nhau chết như rơm rạ. Quân
Tây Sơn lợi thắng kéo tràn lên, tiến đánh mãi, lấy được cả mấy đồn, tàn sát
quân Tàu thây chết ngổn ngang khắp đồng, máu chảy từng vũng như ao lớn.
Trong khi ấy, quân các đạo Hải Dương, Yên Thế, Chương Đức,
Thanh Trì cũng đều toàn thắng, đánh trống khải hoàn kéo cả đến Thăng Long. Giữa
cuộc huyết chiến túi bụi, đề đốc nhà Thanh là Hứa Thế Hanh, tiên phong là
Trương Sĩ Long, tả dực là Thượng Duy Thăng đều tử trận; còn tri phủ Điền châu
là Sầm Nghi Đống đóng ở Đống đa, bị quân An Nam vây nguy cấp quá, cũng thắt cổ
tự tận.
Sau trận khốc liệt này, quân Tàu chết gần hết, bao nhiêu thi
hài đều xếp lại một chỗ, chôn cả vào một hố trên mặt đấp thành gò cao, đỉnh gò
có dựng một ngôi đền thờ những tử sĩ và Sầm Nghi Đống. Đền ấy đến nay vẫn còn,
ai có dịp đi qua Thái Hà ấp, gần Hà nội, người ấy chắc đã từng để ý đến đền
Trung Liệt, ngất ngưởng đứng trên một cồn đất để kỷ niệm lại ngàn thu cái tài
thao lược vô song của vua Quang Trung.
Khi các đồn trại đã bị phá cả rồi, Tôn Sĩ Nghị mới được tin
báo, hoảng hốt, sợ hãi, đang đêm không kịp mặc áo giáp, thắng yên ngựa, chỉ tất
tưởi đem được mấy tên lính kỵ chạy qua sông Bắc. Quân trong doanh không có chủ
đều xôn xao toán loạn, tìm đường chạy trốn, xô nhau ùa cả lên cầu phao, cầu đổ,
đều sa cả xuống sông chết đuối, thây chất đầy sông Nhị Hà.
Trong lúc hỗn độn, vua Chiêu Thống cùng mẹ, vợ con và mấy người
cận thần dắt díu nhau chạy sang Tàu theo Tôn Sĩ Nghị. Không may giữa đường
tránh nạn, lại bị lạc mất Hoàng Phi, chỉ có vua, Thái Hậu và Hoàng Tử trốn
thoát.
Vua Quang Trung vào được thành Thăng Long rồi còn cho quân đi
đuổi quân nhà Thanh; hai đạo Quí Châu và Vân Nam thấy thế đuối, cũng bỏ Sơn Tây
chạy về, quân An Nam đuổi rát mãi đến Nam Quan mới chịu thôi. Nghe miền Lạng
Sơn đều khủng khiếp, bồng bế nhau trốn chạy; thành ra từ cửa ải sang mặt Bắc đến
hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe tiếng một người nào!
Bà Hoàng phi đương thất thểu theo chồng lẫn trong đám bách
tính khóc như di, chẳng may bị quân Tây Sơn đuổi kíp quá, sức yếu chạy không kịp,
lạc mất quân vương, đành khóc lóc trốn sang Kinh Bắc. Bà náu ở Kinh Bắc ít lâu,
nghe tin vua trốn sang Tàu, bèn lên Lạng Sơn tạm nương thân trong một ngôi
chùa, tu hành cho vẹn tiết nghĩa với vua, chờ ngày Chiêu Thống trở về, khôi phục
lại được giang san đã mất.
Nhưng bà chờ mãi, chờ mãi... Những giờ lạnh lẽo im lặng trôi
chỉ đem lại cho bà một nỗi buồn thấm thía, nỗi buồn của một ngọc điệp kim chi
thất thế, nỗi buồn của một từ mẫu lìa con, nỗi buồn của một cô phụ xa chồng!...
Xa chồng mà thực cũng như mất chồng; mùi muối dưa chay tịnh của thiền môn, đạo
bác ái cao siêu của Phật tổ có chăng chỉ tẩy sạch được trong tâm hồn ly phụ cái
mối u hoài trường hận nó giày vò nàng đêm ngày, dằng dặc mãi... không thôi?
Ni cô cố quên... Nhưng nào hay, công tử Nguyễn Anh Tề lại làm
nhóm lại trong dạ khô héo của nàng một nguồn hy vọng đầm ấm mà, một sớm mai, sự
tàn ác của những trường hợp éo le đã làm cho tắt hẳn, tắt vùi như tro nguội!...
PHẦN 13
Hoàng Phi trốn sang Kinh Bắc từ khoảng thượng tuần tháng
giêng năm Kỷ Dậu, mãi đến hạ tuần tháng ba, nàng mới gặp Nguyễn Anh Tề.
Trong khoản đó, công tử về Thanh Hoá và đi khắp các sa môn ở
hai trấn Lạng Sơn, Kinh Bắc, mãi sau cùng chàng mới gặp lệnh bà.
Bao nhiêu cố thần nhà Lê, tức tối về nỗi thay quyền chính, rủ
nhau họp thành bè đảng, toan sự khôi phục; họ cố lùng kiếm cho ra Hoàng phi,
song bà hết sức lẩn tránh không muốn ra mặt. Chỉ một mình Anh Tề là có duyên được
thấy bà trong một buổi ngẫu nhĩ; trước kia khi theo cha ra Thăng Long, trong
lúc dự đám cưới công chúa Ngọc Hân lấy Uy quốc công Nguyễn Huệ, công tử có nhận
được mặt Hoàng Phi, thuở ấy còn là vợ Hoàng tôn Duy Kỳ. Vẻ đẹp phúc hậu và hiền
thục của Hoàng phi, nhất là cái mồm nàng cười rất có duyên, đã để một kỷ niệm
xâu xa trong tâm hồn công tử, bởi lẽ nét khuynh thành của vợ Hoàng tôn, từng
chút một, giống như tạc nhan sắc của Anh Trinh, An Trinh người thiếu phụ chàng
thờ trong linh đài như thờ một nữ thần tuyệt đẳng.
Lầy này, gặp Hoàng phi dẫu bà gầy đi, yếu đi, xanh xao tiều tụy
đi. Anh Tề cũng nhận được ngay tức khắc: những kỷ niệm giấu trong đáy óc chàng
đã giúp chàng có mộ thứ trực giác vững vàng, tìm được Hoàng phi trong một ni cô
nâu sồng điềm đạm.
Phủ phục trước mặt người đàn bà thứ hai mà chàng sùng kình,
nhưng sùng kính một cách tối cao thượng thiêng liêng - Anh Tề vừa khóc vừa đập
đầu xuống đất:
- Tâu lệnh bà, kẻ hạ thần tìm Lệnh bà đã mấy tháng trời này;
mãi bây giờ mới được chiêm ngưỡng tôn nhan trong am sâu thanh vắng này! Hạ thần
vốn dòng dõi cựu thần nhà Lê, sống chết vẫn thờ nhà Lê, dẫu bị gan óc lầy đất
cũng không hối hận. Thần là con trưởng Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh; Cha thần
thủa bình sinh chịu ơn nặng của tiên triều, của Hoàng thượng, nhưng không may
giữa đời bị hại, chưa báo đáp non sông nhà Lê được một chút nào. Thần sinh sau
đẻ muộn, song cũng cố noi theo ý chí tổ tiên, đêm ngày lo sự khôi phục cho xã tắc.
Vả chẳng, quân Tây Sơn giết mất cha và em thần, thù ấy bất cộng đới thiên, lẽ
nào thần nỡ khoanh tay ngồi mà không báo?
"Nay thân bốn bể không nhà, tang hồ một túi, thực không
còn có sự gì bó buộc nữa. Mục đích của thần là đi tìm Lệnh bà, ngỏ cho Lệnh bà
biết việc cơ mật để Lệnh bà an lòng chờ đợi, rồi thần sẽ ra đi, đi tìm Thánh
thượng, giúp Ngài lấy lại sơn hà!"
Hoàng phi nghe nói nửa mừng nửa sợ, không hiểu Nguyễn Anh Tề
có thực bụng trung nghĩa hay chỉ là một tay thám tử của tân triều. Cố hết sức
trấn tĩnh tâm thần, nàng mời khách vào phương trượng. Trong khi đàm luận, Hoàng
phi trông cử chỉ và dung mạo của Anh Tề, biết chàng không phải là người gian giảo
phản trắc, cũng cứ thực tình giải tỏ cho chàng biết những nỗi đoạn trường cơ cực,
bấy lâu nay đè nén trên mái đầu còn non nớt của nàng.
Thế rồi, từ giã Hoàng phi, Nguyễn Anh Tề phấn khởi ra đi, sau
khi thề với nàng sẽ lấy thân thế và sinh mệnh giúp nhà Lê khôi phục.
Trong chốn am sâu thẻ lạnh, Hoàng phi ra sức đợi chờ. Năm lại
nối năm, những ngày buồn vắng hờ hững lướt qua không đem lại cho nàng một tin tức
gì vui vẻ. Vua Chiêu Thống còn hay đã mất, nàng mịt mù chẳng biết tăm hơi. Bạn
với nỗi u ẩn trong lòng, với cảnh tiêu điều ám đạm, nàng chỉ còn biết vùi sự
đau đớn âm thầm trong làn khói xanh nghi ngút, trong sự thanh khiết nâu sồng,
trong mấy pho kinh Địa tạng mà, ngày đêm chăm chỉ, nàng vừa gõ mõ vừa dốc lòng
tụng niệm rì rầm.
Bao nhiêu kỷ niệm rực rỡ của thời xưa, bao nhiêu nông nỗi khó
khăn vừa mới trải, dần dần, như bị thôi miên bởi giọng ê a ru ngủ, trôi vào gầm
tối vắng ơ hờ. Quên sự phú quí quên đời ngọt bùi, quên mùi lượt là đài các,
Hoàng phi có đủ gan quên hẳn, quên cả, chẳng thèm tiếc nhớ đoái hoài. Nhưng
mà... nhưng mà... tình mẫu tử, nghĩa phu thê, cái đau đớn của một thiếu phụ xa
con xa chồng, nó lắm lúc, giữa bể lòng phẳng lặng, rào rạt lên như làn sóng cuộn,
rồi nhô cao, nhô mãi, phi bọt tứ tung trắng xoá, gây thành một trận phong ba.
Trận phong ba ấy, nếu linh hồn Hoàng phi chỉ hơi bị sự gì xúc cảm, là một lần lại
bồng bột lên, làm náo loạn hẳn tâm nàng. Thương con, nhớ chồng, những tình cảm
thiêng liêng của một cô phụ thất thế lỡ duyên, nước Cam lồ, dẫu đầm ấm đến đâu,
cũng khó nỗi rửa tiêu đi được.
Bởi thế, dù lắm lúc Hoàng phi cố hết sức trấn tĩnh tâm thần để
tụng kinh niệm Phật, nàng vẫn thấy nhoi nhói trong linh hồn, như bào xé, như cắn
rứt, những nỗi niềm cay đắng gây ra bởi cuộc phân ly. Sự chờ đợi của nàng, tưởng
đâu nó sẽ có kết quả mỹ miều mãn nguyện; có ai hay nó cũng mất đi với đống tro
tàn của tấm hy vọng hão huyền như mộng tưởng, nó bỗng hoá ra vô dụng, như đã vô
dụng, những ngày áo não đợi chờ...
Thế rồi... thế rồi, một buổi sáng mùa đông năm Quí Sửu
(1793), một câu chuyện của Nguyễn Anh Tề kể lại, nó đã khoảnh khắc diệt hết những
nguyện ước đầm ấm ấp ủ khối lòng lạnh lẽo của Hoàng phi, nó đã làm tiêu tán hết
bao nhiêu nỗi thương đau, bao nhiêu nguồn nhục nhã, bao nhiêu cơn sầu thảm, từ
trước đến nay, nàng vẫn kiên tâm hoài bão. Giờ đây, nàng chỉ còn biết cúi đầu
trước số mệnh, sống nốt quãng đời thừa, sống nhẫn nại, sống âm thầm, sống hiu
quạnh như một ni cô đắc đạo. Xác nàng tuy còn chứa một đôi chút sinh khí khiến
nàng góp mặt với trần ai, nhưng hồn nàng đã chết rồi, tâm nàng đã héo rồi, nàng
có sống cũng như thác vậy.
Không còn một hy vọng gì hồi lại được ngọn lửa trong lòng
nàng đã vùi tắt ngấm; không còn một khoái lạc gì trên đời xúc động được xác thịt
nàng đã cằn, con tâm nàng đã cỗi; không còn một thị dục gì nhóm lại những tia
sáng trong mắt nàng ngày nay như say sưa đắm đuối trong bầu mộng tưởng; không
còn một công cuộc gì làm nở lại nụ cười xinh đẹp trên đôi môi nàng xưa kia thắm
đỏ, mà giờ đây nhợt nhạt, tím bầm...
Chỉ bởi vì... Sáng hôm đó, đương buổi trước Phật đài, Hoàng
phi rù rì khấn khứa, nàng thình lình thấy một bóng người từ từ tiến đến, bóng một
người đàn ông vạm vỡ, đeo một lưỡi gươm trường vắt vẻo bên hông. Người đó là
Nguyễn Anh Tề.
Thấm thoát năm năm cách biệt, chàng nhìn nàng thấy nàng hình
dung tiều tụy; mà nàng trông chàng cũng thấy chàng già xấu xí đi nhiều. Nét mặt
trước kia khôi ngô rắn rỏi, đôi mắt buổi thiếu thời sáng ngời và linh lợi, chỉ
trong một quãng biệt ly ngắn ngủi, đã bị cuộc phong trần làm cho cằn cỗi ám mờ.
Đôi mắt mất hẳn tinh anh cũng như nét mặt kém vẻ khôi ngô trắng trẻo: những nét
nhăn, - kỷ niệm bao cuộc đau thương thấm thía, - hoành hành trên làn da đen xạm
như đồng.
Sau khi vào nhà phương trượng, mới thoạt đặt lưng ngồi xuống,
chưa kịp nhấp giọng bằng vài giọt nước hồng mai, Anh Tề đã lệ rỏ đầm đìa, nức nở
trước khi kể chuyện, khiến Hoàng phi chợt thấy vẻ thương tâm của tráng sĩ, đã
đoán ngay lời chàng sắp nói, tất chỉ là những tin dữ dội, thảm buồn. Nàng cũng
oà lên khóc.
Hồi lâu, thấy khối lòng hơi khuây khoả nhẹ nhàng, chừng như
đã trút được ít nhiều đau khổ trong nguồn nước mắt trào ra, Anh Tề mới lấy vạt
áo lau mặt, nhìn Hoàng phi một cách âu sầu:
- Lệnh bà đừng than khóc làm chi nữa cho mình vàng thêm mỏi mệt!
Hạ thần đã định tâm gắng hết sức bình sinh giữ lòng bình tĩnh, ngõ hầu an ủi Lệnh
bà. Nhưng thần ngày nay khí thế đã kiệt rồi, hy vọng đã tuyệt rồi, thần chịu ngậm
miệng nhai nuốt quá nhiều đau đớn, hoá nên không kiên gan được nữa, không cầm
được giọt lệ nữa! Lệnh bà chắc đã đoán rõ những chuyện thần sắp thuật ra toàn
là những tin xé ruột, toàn là những trang của một pho lệ sử thảm thương. Phải,
thần chịu nỗi cay đắng đem lại cho Lệnh bà một mối hận ngàn thu không sự gì giải
được. Thần là kẻ thông tin của Thảm khốc, người sứ giả của Đoạn trường. Thần là
một con xú quỉ, nhưng cũng là một vị phúc tinh. Thần đến đây để báo cho Lệnh bà
những đại tang mà oan nghiệt gieo lên đầu chầu, mà cũng đến đây để làm cho mối
thương tâm của chầu bớt đi một phần thiết tha sâu sắc.
Tâu Lệnh bà Thánh thượng ngày nay đã là người thiên cổ, Ngài
xuống suối vàng tìm Thái tử đã hơn một tháng nay rồi! Chỉ còn một mình Thái hậu
ở lại bên Tàu, để ngày đêm thương khóc cháu và con, như Lệnh bà khóc chồng và
con vậy..."
Anh Tề nói đến đây, chưa dứt câu, Hoàng phi đã kêu rú lên, vật
mình xuống đất, khóc ngất đi một lúc. Anh Tề và con nữ tỳ hết sức lay gọi, phun
nước vào mặt, bấy giờ nàng mới tỉnh, những tĩnh rồi càng rên rỉ khóc than. Anh
Tề thấy cảnh động lòng cũng phải sụt sùi thổn thức. Song chàng vội trấn tĩnh, uống
cạn mấy chén nước hồng mai, rồi nói:
- Bây giờ Lệnh bà có quá sầu muộn, sự cũng đã rồi, chỉ tổ làm
cho ngọc thể đã yếu còn suy nhược dần dần đi mãi. Lệnh bà mới chỉ nghe nói đức
vua đã băng hà, Thái tử đã thất lộc, nhưng Lệnh bà chưa biết rõ những cớ sự, những
nông nỗi, đã xảy ra trước cái chết của hai ngài.
Lệnh bà cũng nên lắng tai nghe thần kể rõ nguồn cơn; như thế,
dù không theo Hoàng gia sang đến nước người chầu cũng tựa hồ được gần cạnh
Hoàng thượng và Đông cung trong khoảng cách xa nhau vậy.
Lệnh bà chắc hẳn còn nhớ hôm thần qua đây tìm chầu lần thứ nhất.
Chiều hôm ấy, sau khi ra khỏi Tam thanh này, thần cứ thẳng đường, đi không nghỉ,
đến cửa Nam quan. Rồi, nhân một buổi tối trời, thần nai nịt chỉnh tề, vượt qua ải
đi sang Long Châu.
Sang đến nơi, nghe nói Thánh thượng cùng quan Tổng đốc Lưỡng
Quảng Tôn Sĩ Nghị đã về Nam Ninh, thần cũng theo sang ở đó. Chưa được bao lâu,
Tôn Sĩ Nghị phải gọi về triều, Phúc Khang An đến thay làm Tổng đốc Lưỡng Quảng.
Nguyên vua Càn Long nghe tin Nghị đại bại trốn về, bèn thịnh nộ giáng chỉ bắt
Nghị về kinh đô trị tội. Phúc Khang An là người Mãn Châu, thuộc về dinh Hoàng Kỳ,
vốn được vua nhà Thanh tin dùng, nên cho ra thay Sĩ Nghĩ. An ra đến Quảng Tây,
nghe tiếng quân An Nam mạnh thế lắm, trong bụng đã sợ, có ý muốn hoà, cho khỏi
bị thất thố như quan Tổng đốc cũ. Đương khi băn khoăn, may làm sao vua tôi nhà
Tây Sơn tinh ý, từ trước đã sai Ngô Thời Nhiệm thảo quốc thư đưa sang Tàu tạ tội,
xin giảng hoà và đem giao trả những quân bắt được trong khi giao chiến. Bên này
thì Phúc Khang An cũng muốn tránh việc binh lửa, sai đưa quân thư sang An Nam
nói việc lợi hại và khuyên Quang Trung dâng biểu tạ tội cho yên hẳn sự can qua.
Nhận được thư vua Tây Sơn phái ngay người đem vàng bạc sang đút lót cho Khang
An và sai cháu là Quang Hiển cùng quan là Vũ Huy Tấn tải đồ cống phẩm sang Yên
Kinh vào chầu kiến vua Càn Long để xin thụ phong.
Phúc Khang An, được ăn lễ, mượn tay trong là Hoà Thân giúp đỡ.
Hoà Thân cũng là người Mãn, trước kia cùng coi việc phiêu viễn với Khang An
trong dinh Hoàng Kỳ, rất có thế lực. Nguyễn Quang Hiển sang Yên Kinh, trước hết
vào hầu Hoà Thân, dâng vàng bạc châu báu và trình thư của Nguyễn Huệ cầu khẩn
giúp đỡ. Bởi thế, mặt ngoài nhờ Khang An đạt biểu nói hộ, mặt trong thì có Hoà
Thân dùng lời tâu khéo, điều gì cũng hợp ý vua, nên Càn Long sai sứ sang phong
cho Huệ làm An Nam quốc vương, lại giáng chỉ đòi Quốc vương vào chầu.
Cách đó mấy tháng sau, thiên hạ thấy một đoàn xa mã vào Yên
Kinh: Bốn quan văn võ Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, và Võ Huy Tấn
phò vua An Nam vào chầu Thanh Hoàng đế. Ngoài những phẩm vật đem cống tiến như
sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu vân vân, còn có thêm một đôi tượng đực.
Trong khi hành trình, vua tôi An Nam nhiều phen nghỉ trong quán dịch, những cung
trạm ở dọc đường phải phục dịch cung đốn rất là vất vả. Khi tới địa phận Quảng
Tây, quan Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khan An và quan Tuần Phủ Quảng Tây là Tôn
Vĩnh Thanh phải thân đưa Quốc vương vào chầu.
Ròng rã mấy tháng trời, đoàn xa mã tới Yên Kinh; Vua Càn Long
cho vời An Nam quốc vương và các quan theo hầu vào Nhiệt Hà, lại cho Quốc vương
lên tận bệ rồng làm lễ "bão tất" (ôm gối), như tình cha con vậy.
Xong, Thanh hoàng đế ban cho Quốc vương được vào điện ăn yến với các thân
vương. Đến lúc giã từ về nước, vua Tàu lại sai thợ khéo vẽ một bức tranh truyền
thần Quốc vương rồi ban cho, ân lễ thực là tối hậu.
Quốc vương An Nam từ đấy được vua nhà Thanh yêu mến, hoá
không ai nghĩ đến việc chinh phạt nhà Tây Sơn nữa. Mãi sau này, cách đó non nửa
năm, các quan theo hầu Hoàng thượng ta và thần mới được rõ có đoàn cống tiến An
Nam sang Tàu, nhưng Quang Trung không sang, sai người Phạm Công trị dung mạo giống
mình, trá hình làm Quốc vương sang chầu Thanh Hoàng đế.
Những sự đó xảy ra mấy tháng sau khi Phúc Khang An đem Hoàng
thượng và các quan ta về Quế Lâm. Nó lại hết sức giấu giếm những việc phong
vương cho Nguyễn Huệ, hoá nên vua tôi vẫn mịt mờ, không biết một tí gì. - Bấy
giờ đi theo Hoàng thượng có Hoàng thúc Lê Công Duy Án, cùng các quan văn võ như
bọn Đinh Nhạ Hành, Định Lịnh Dận, Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh, Phan Khải Đức,
Bế Nguyễn Cung, Bế Nguyễn Doãn; cả chín người nối gót Thánh thượng và ra mắt
Khang an khi hắn vừa tới nhậm chức. Thằng ác bá ấy trong lòng không muốn giúp
nhà Lê nữa, nên ngoài mặt tuy làm ra vẻ hiền hoà mà trong lòng đã bày đặt sẵn
mưu kế quỉ quyệt để chia rẽ Chúa thượng ra một nơi, lũ quan tòng vong ra một nẻo.
Hắn bèn dùng ngay Định Nhạ Hành làm Thủ bị Toàn châu, phong Phan Khải Đức làm
Đô tư Liễu châu, còn thì tùy tiện an trí mỗi người một chỗ, để có Hoàng thúc,
các quan Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh theo chúa thượng vào Quế Lâm mà thôi.
Tháng tư năm Kỷ Dậu (1789), vua tôi vào thành Quế Lâm, Phúc Khang An bèn giả vờ
an ủi Chúa thượng, nói thác rằng:
- Hiện nay tiết trời đã sang hạ, khí hậu không tốt vì nắng nực
lắm, sang đánh phương Nam không tiện e quân sĩ bị nhiều nhiệt chứng mà chết. Đợi
đến mùa mát mẻ, ta sẽ khởi quân. Vậy nhà vua nên bảo bọn thuộc tướng sửa soạn
luyện tập trước đi, hễ tới dịp thì phát binh ngay, nhân lúc xuất kỳ bất ý mà tiến
sang như nước lũ, hoạ may có cơ toàn thắng được. Song le, nhà vua nên cạo đầu
và theo lối ăn mặc nhà Thanh, lúc về nước sẽ không ai nhận được mặt; trong việc
hành binh phải hư hư thực thực, biến trá cho bên địch khó lường. Lúc nào lấy lại
được giang sơn bấy giờ nhà vua sẽ để tóc ăn mặc lối Nam, tưởng cũng không lấy
gì làm muộn vậy!
Thánh thượng không biết Khang An chủ tâm lừa dối, cũng vui
lòng giống giả các quan bắt chước Ngài, cạo đầu gióc tóc ăn mặc y phục Mãn
Thanh. Nào ngờ Khang An lại nhân thế mà phản trá, nó làm ngay một tờ biểu dâng
vua Càn Long, đại khái nói rằng:
- Vua An Nam không có ý viện binh nữa, hiện đã cạo đầu đổi
áo, yên tâm ở lại nước Tàu, không về nữa. Vậy xin bãi hẳn việc đánh phương Nam,
cho dân sự khỏi nạn binh lửa.
Trong triều có tay trong của bọn nó là Hoà Thân tán thành nói
vào, khiến vua nhà Thanh xuống chỉ thôi hẳn sự dùng binh. Nhân đó, cách mấy
tháng sau, Nguyễn Huệ lại sai Phạm Công Trị trá hình làm Quốc vương làm lễ ôm gối
Càn Long. Càn Long nghe lời Khang An và Hoà Thân, phong vương tước cho Huệ. Thế
rồi việc viện binh của Hoàng thượng ta xin, nó bèn bỏ lảng đi. Không những thế,
vua nhà Thanh còn tưởng Chúa thượng cùng các quan muốn ở lại bên Tàu nên giáng
chỉ cho đòi vua tôi cùng về Yên Kinh để an trí cả một chỗ. Tháng Hai năm Canh
Tuất (1790), Thánh thượng và các quan tòng vong lên cả kinh thành nhà Thanh.
Lúc bấy giờ có mấy ông cựu thần triều ta nghe nói vua ở Yên
Kinh, bèn theo sang hầu Ngài. Trong bọn đó, có các ông Lê Quýnh, Trịnh Hiến, Phạm
Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý
Thích, Nguyễn Đình Miên, Đàm Thận Xưởng, Lê Văn Trương, Lê Tùng, Lê Thức và ít
người nữa.
Phúc Khang An thấy bọn quan mới sang này không ăn mặc theo lối
áo Tàu, bèn bắt cả về Quảng Tây rồi ép phải gióc tóc đổi áo như mọi người. Ông
Lê Quýnh, không chịu đưọoc sự áp chế vô lý ấy, bảo Khang An rằng:
- Ông cho gọi chúng tôi đến, đã chẳng bàn được điều gì có
ích, lại còn dỗ dành chúng tôi cắt tóc thay y phục, thế là nghĩa gì? Tôi nói thật
cho ông biết: Đầu chúng tôi có thể chặt được, chứ tóc không gióc được; da chúng
tôi có thể lột được, chứa áo thì không đổi được!
Phúc Khang An giận lắm lắm, nhưng cũng không biết làm thế
nào, bèn đem giải cả về Yên Kinh. Đi đến Sơn Đông, may sao gặp Càn Long đi du
ngoạn, thấy lũ quan ta bị trói, cho đòi vào hỏi rằng:
- Vua nhà ngươi đã chịu cạo đầu thay áo theo kiểu nhà Thanh,
sao các ngươi còn bướng bỉnh chưa chịu?
Ông Lê Quýnh tâu rằng:
- Chúng tôi muôn dặm tòng vong, xin cứ cho theo tục lệ vào ra
mắt Quốc vương, rồi sau sẽ xin lĩnh mệnh.
Vua Càn Long nghe lời nói khẳng khái, lại trông nét mặt rắn rỏi
của ông Lê, phải khen ông là bầy tôi trung nghĩa, sai thả cả các quan ra rồi
cho đưa vào Yên Kinh yết kiến Thánh thượng. Thánh thượng bấy giờ cũng Thái hậu
và Hoàng tử được vua nhà Thanh an trí ở ngõ Hồ Đồng toà Quốc sử giám cửa Tây Định,
ngoài cửa toà có đề biển: "Tây An Nam dinh". Còn các quan thì cùng
cho ở ngõ Hồ Đồng Dương phố, cửa Đông Trực, ngoài cửa có đề chữ: "Đông An
Nam Dinh".
Bọn ông Lê Quýnh đến ra mắt vua, thấy Ngài đã cạo đầu đổi áo,
cũng đều gióc tóc thay y phục cả. Chỉ có ông Lê là nhất định chết thì chết chớ
không chịu, bởi thế nên chiếu tội vi mệnh, bị bắt giam mãi mãi.
Thánh thượng đến Yên Kinh được mấy hôm thì có Nhương hoàng Kỳ
Đô Thống là Kim Giản, phụng chỉ Càn Long, ra phong cho Ngài chức Tả Lĩnh và đưa
cho mũ áo Tam phẩm. Các quan tòng vong thì mỗi người được một thạch gạo và ba
lượng bạc.
Thánh thượng tức uất người lên, song phải nuốt thầm nước mắt
chịu thụ phong và nhận áo mão. Kim Giản đi xong, Ngài ôm đầu ngồi khóc, rỏ ra
huyết lệ, Ngài giận nỗi bị quân Tàu đánh lừa, bèn cho gọi các quan đến, rồi
cùng mấy ông Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Quí Thích, Nguyễn Đinh Miên, Lê
Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức uống máu ăn thề nguyện sống chết thế nào cũng
dâng biểu xin binh cứu viện. Nếu không cho nữa, thì ít ra cũng cắt cho đất hai
tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, để phụng thờ tôn tự, mà không nữa, thì xin cho về
nước, để vào Gia Định với chúa Nguyễn mưu đồ việc khôi phục cho nhà Lê.
Làm biểu vừa xong, đến nói lót trước với Kim Giản. Nhưng
không có lễ vật gì dâng biếu, nên tuy nói hết nước dãi mà nó vẫn không nghe.
Thánh thượng cùng các quan, không biết làm thế nào, đều phủ phục xuống đất mà
kêu khóc. Kim Giản thấy thế, bất đắc dĩ phải mời cả vào an ủi mà rằng:
- Nhà vua hãy cứ an tâm, cứ về quán dịch nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng
quí thể đã; đợi để thương lượng thế nào, sau này tôi sẽ cho biết.
Nó dỗ dành như thế, nhưng ngày hôm sau, nó bàn mưu với Hoà
Thân phân trí vua tôi mỗi người đi một chỗ để khỏi bị nghe những lời kêu chúng
ta oán thán khó chịu. Đến tháng tư năm Tân Hợi (1791), ông Hoàng Ích Hiểu phải
đày sang Tây Vực, ông Lê Hân đi Phụng Thiên, Ông Nguyễn Quốc Đỗng sang Cát Lâm,
các ông Nguyễn Viết Triệu, Lê quí Thích, Nguyễn Đinh Miên, Đàm Thận Xưởng, Lê
Văn Trương thì bị giải sang bến Trương Gia tỉnh Trực Lệ.
Thế là chung quan mình Chúa thượng không còn ai cả, chỉ có
hai ông Phạm Đình Thiện cùng Đinh Nha Hành bỏ chức Thủ bị Hoàng Châu theo lên,
và vài người hầu cận nữa mà thôi.
Thánh thượng lúc bấy giờ ruột đau như xé, đêm ngày Ngài lo lắng
chua xót, khóc lóc kêu vang, ngồi đứng bất an, hình hài chốc lát tiều tụy hẳn
đi, trông thương hại quá. Sáng hôm sau, Ngài cưỡi ngựa sang dinh Kim Giản, kêu
oan cho lũ bề tôi bị đi đày, gặp ngay Kim Giản vào chầu vua Càn Long ở vườn
Viên Minh. Ngài bèn nối gót đi vào cửa vườn, bị lũ lính giữ vườn ngăn cản lại. Lúc
đó có tên nội thần là Nguyễn Văn Quyên theo hầu Chúa thượng; Quyên thấy lũ quân
canh láo xược, bèn nổi giận đùng đùng, xông lại mắng chửi:
-Lũ chó Ngô kia! Sao chúng mầy dám vô lễ, làm nhục đến vua
tao!
Vừa mắng vừa cầm gạch đá ném vào chúng nó. Bọn lính bị chửi
cùng xì xồ chửi lại, rồi chúng kéo ùa cả ra xúm lại đánh cho Quyên một trận nhừ
tử. Về đến nhà, Quyên bị bệnh mà mất.
Từ đó trở đi, Chúa thượng thấy mình bị lừa đảo, đến nỗi hoá
ra lực cô thế yếu, trong lòng rầu rĩ buồn bã, song không dám nói đến chuyện xin
viện binh nữa, vì biết có nói ra cũng chỉ tổ phí lời. Ngài đành kiên nhẫn sống
cùng Thái hậu và Hoàng tử một quãng đời tẻ lạnh. Không hy vọng cũng không khoái
lạc; đêm đêm ngài chong đèn ngồi khóc, khóc chán lại đem thơ ra ngâm, giọng
ngâm nghe buồnr rầu thảm thiết, có thể cảm động được quỷ thần. Nghe vua than
oán bi ai, những kẻ như thần theo hầu Ngài, cũng thấy gan ruột như bào như xé,
nhưng còn biế làm thế nào trước sức mạnh vô cùng của số mệnh tàn ác bất lương,
và trước cách đối phó giảo quyệt sâu độc của lũ quan Tàu nham hiểm!
Vì Chúa thượng ưu tư quá, càng ngày sức lực Ngài càng đâm ra
suy kiệt. Đã thế, phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí, Hoá công cay nghiệt còn
đem đến cho Ngài những nỗi đau đớn, thâm thúy bằng hai sự mất nước, lìa ngôi! Đó
là sự Hoàng tử thất lộc. Tháng năm năm Nhâm Tý (1792), có dịch lên đậu ở Yên
Kinh, Hoàng tử không may nhuốm bịnh. Chữa chạy mãi đều vô công hiệu: được non một
tháng trời, Đông cung lìa bỏ cõi đời. Thánh thượng không còn biết mùi gì là
ngon ngọt nữa, thú gì là vui vẻ nữa. Ngài chỉ hết than lại khóc, hết khóc lại
ngâm, làm cho Thái hậu cũng vật mình kêu khổ. Chả bao lâu sau, khi Đông cung
khuất bóng, vua vì quá lao tâm mà thọ bệnh, mỗi ngày một nặng, nằm lì bì liệt
giường chiếu, đến ngày 16 tháng mười năm Quí Sửu (1793), Ngài gọi các người
theo hầu trong buổi lưu ly, ứa nước mắt cầm tay cả lũ chúng tôi, hổn hển ngỏ lời
cảm tạ và từ biệt, rồi băng hà, không trối trăng lại điều gì cả!
Vua thăng hà mà không có một ngự y nào bên cạnh giường bệnh,
không có một người cung phi nào săn sóc trông nom, không có một vị đại quan nào
đứng túc trực, không có một hồi chiêng hồi khánh nào báo hiệu Ngài về Trời! Thực
là một cảnh tối cảm động thương tâm, thương tâm nhất là thấy vua một nước to,
chỉ lỡ sa cơ thất thế mà chết khổ như một kẻ thường dân vậy.
Tự cổ chi lai, trong lịch sử chưa bao giờ có ghi chép một việc
bi ai dường ấy. Cũng đã có nhiều vị đế vương chết dưới mũi tên hòn đạn, bị hành
thích hoặc bất đắc kỳ tử, nhưng chưa ai từng thấy một vị Hoàng đế chết ưu sầu
thống thiết thế bao giờ!
Hạ thần cùng mấy kẻ tòng vong đều phục xuống khóc. Còn Thái hậu
thì người đau đớn quá, đau đớn đến nổi ngồi thở ra, lặng đi hàng giờ, không
nói.
Bọn chúng tôi xúm nhau lại tắm rửa cho Chúa thượng bằng nước
ngũ vị hương, xong lấy áo Long Cổn và mũ miện Hoàng đế cho ngài, rồi khâm liệm
ngay, kẻo sợ quan Tàu kiếm chuyện.
Yên đâu đấy, chúng tôi mới sai người báo tin cho Kim Giản, để
Giản vào tâu vua nhà Thanh. Càn Long truyền chỉ dùng lễ tước công tống táng cho
Chúa thượng. Chúng tôi tìm được một ngôi đất tốt ở ngoài cửa Đông Trực, bèn xin
cho táng thi hài Thánh thượng ở đó.
Việc ma chay chu tất, chúng tôi bèn thương lượng với nhau, kẻ
ở lại hầu Thái hậu, người trốn về cố quốc thăm nhà. Trong mấy vị triều thần
sang tòng vong, có nhiều vị tuyệt thực hay vẫn cảnh theo vua về chín suối. Dăm
ba người lại vì cơ cực mà chết trước, chỉ lác đác còn một đôi ông, thì mỗi ông
bị đày đi ở một chốn xa xăm.
Thưa Lệnh bà, đó là pho bi sử của Chúa thượng nhà ta đó. Trời
đã đến lúc không trợ nhà Lê ta nữa, thì có quay cuồng cũng vô ích mà thôi. Hạ
thần trước kia, cũng rắp tâm hy sinh cả thân thế và số mệnh cho sự khôi phục,
nhưng một phen sang đến Tàu, thần biết rằng ý chí của thần chỉ là một mộng tưởng.
Bởi lẽ, chịu ức hiếp dưới quyền lũ quan Tàu tàn ác, Thánh thượng còn khi nào được
thấy ngày trở lại nước Nam ta? Nữa là còn mong ở sự giúp binh cứu viện!
Thần nay là một kẻ chí khí đã cạn, gia đình đã nát, hy vọng
đã tuyệt, không còn liên lạc gì với cõi phù thế nữa. Nhưng sở dĩ thần sống sót
đến ngày nay, là vì riêng muốn báo ơn Thánh thượng đến kỳ cùng, muốn được gặp Lệnh
bà một lần nữa để báo cho Lệnh bà biết những nông nỗi mà Hoàng gia đã phải trải
qua bên khách địa.
Nay mục đích thần đã đạt, thần xin cúi lạy Lệnh bà gìn giữ
mình vàng, chớ nên ưu sầu quá độ. Mệnh số đã như vậy, biết làm thế nào? Còn về
phận thần, thần xin từ giã Lệnh bà; được giáp mặt Lệnh bà lần này tức là lần
trót vậy.
Tâu Lệnh bà, nỗi đau đớn của thần, nếu nó không giống sự mất
ngôi mất nước, nó cũng là cho thần từ năm sáu năm nay, ăn không biết ngon, mặc
không biết đẹp, sống thác không quản, cực nhục không từ, nó đã làm cho thần
không biết mùi sinh hoạt là gì nữa, không biết thú sinh tồn là gì nữa! Bây giờ
đây, giũ nhẹ được trong lòng những ân oán trước kia chất nặng, thần chỉ còn biết
êm vui trong sự theo vua xuống chốn tuyền đài.
Thôi, xin lạy Lệnh bà!"
Câu chuyện nói tới đây, công tử Nguyễn Anh Tề vùng đứng dậy,
đi ngay, để một mình Hoàng phi ngồi gục mặt xuống bàn, chả biết nàng mê hay tỉnh.
Ra đến ngoài hiên, Anh Tề mới nhận thấy mặt trời gần xế bóng...
Lịch sử chép rằng cách đấy sáu năm, tháng một năm Kỷ Mùi đời
vua Gia Khánh. Thái hậu theo vua và Hoàng tử về trời. Lại có chín năm, năm Nhâm
Tuất (1802) khi Thế Tổ Cao hoàng nhà Nguyễn đã nhất thống được thiên hạ, quan
nhà Lê, nhân dịp có sứ ta sang Tàu cầu phong cho Thế tổ, dâng biểu xin đem di
hài Thái Hậu, Cố quân và Hoàng tử về nước. Vua Gia Khánh chuẩn lời cầu khẩn đó,
tha cho tất cả các quan tòng vong khi trước được về xứ sở phương Nam.
Khi cải táng phần mộ Cố quân, người ta thấy da thịt đã tiêu
tán cả chỉ còn quả tim trơ lại, không nát, vẫn tươi đỏ như thường. Ai trông thấy
hoặc nghe biết sự đó cũng động lòng thương xót, ái ngại cho tình cảnh một ông
vua vong quốc phải đày đoạ đến như thế, để lại muôn đời một tấm gương thảm kịch
đáng thương. Ai cũng phải oán trách lũ quan Tàu quá tàn nhẫn, có những thói dã
man áp chế khiến cái khổ của Chiêu Thống phải kết lại thành khối, đến mấy đời
sau cũng chưa siêu thoát đi được.
Đem di hài Cố quân và Hoàng gia về đến biên giới thì gặp
Hoàng phi mặc sô gai ra Nam quan đón rước linh cữu hộ tống về Thăng Long. Về đến
Thăng Long trong khi hoàn linh cửu Cố quân lại đó, bà Hoàng phi Nguyễn Thị Kim
cũng tuyệt thực mà chết, để lại một tấm gương trinh liệt mà đã cách mấy trăm
năm rồi, cũng chửa ám mờ.
Ngày 24 tháng một năm Nhâm Tuất, các quan cơ thần nhà Lê rước
ma Cố quân, Thái hậu, Hoàng phi và Hoàng tử về Thanh hoá, đem táng ở lăng Bàn
Thạch, thuộc về đất phủ Thọ Xuân. Di hài nội thần Nguyễn Văn Quyên và mấy ông
quan tử tiết cũng đều phụ táng ở đó.
Sự nghiệp nhà Lê, từ ngày Thái tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, cho đến
lúc Chiêu Thống bị vong quốc theo Tôn Sĩ Nghị sang Tàu, trước sau gồm tất cả được
360 năm, mở đầu bằng một kỷ nguyên rực rỡ oanh liệt, để kết cục băng một sự nhục
nhã bi thảm, biểu hiệu cho sự hưng suy vinh nhục ở đời.
Trong lúc đưa ma Cố quân ở Tàu về, các quan cựu thần nhà Lê
có khóc viếng linh cữu bằng một bài thơ bát cú. Thơ rằng:
Nằm gai nếm mật mấy năm thừa!
Nấm cổ ước đưa về đất xưa,
Bể Bắc, chín lần rồng lẩn sớm,
Non Nam một đỉnh hạc về trưa,
Tưởng đâu năm nọ như ngày nọ,
Nghĩ đến bao giờ khóc bấy giờ!
Thua, được, cuộc cờ thôi để đó,
Gội ơn cây cỏ vẫn còn thưa.
Nấm cổ ước đưa về đất xưa,
Bể Bắc, chín lần rồng lẩn sớm,
Non Nam một đỉnh hạc về trưa,
Tưởng đâu năm nọ như ngày nọ,
Nghĩ đến bao giờ khóc bấy giờ!
Thua, được, cuộc cờ thôi để đó,
Gội ơn cây cỏ vẫn còn thưa.
PHẦN 14
Bây giờ Nguyễn Anh Tề mới giở đến "Đồng tiền Vạn Lịch".
Đồng tiền ấy tự đâu mà có, tự đâu đến ghi trong đời chàng một kỷ niệm não nùng?
Nguyên sau khi nhờ Bình an vương Trịnh Tùng lấy lại được
thành Thăng Long, đuổi con cháu Mạc Đăng Dung lên mạn Cao Bằng, vua Thế tôn nhà
Lê có phái hai ông quan sang sứ Tàu dâng những cống phẩm và xin phong. Hai ông
quan đó là Công bộ tả thị lang Phùng Khắc Khoan sung chức chánh sứ, và Thái thường
tự khanh Nguyễn Nhân Thiềm, nhận chức phó sứ.
Tháng 5 năm Đinh Dậu (1597), hai ông Phùng và Nguyễn đem lễ vật
sang Yên Kinh. Vua Thần Tôn nhà Minh, trước có nhận được biểu của con cháu nhà
Mạc kêu rằng họ Trịnh nổi lên tranh ngôi chớ không phải dòng dõi nhà Lê nên hai
lần đã phái quan Thanh tra đến cửa Nam Quan để xét việc hư thực.
Vua Lê Thế Tôn, bởi lẽ ấy, phải thân đến cửa quan để hội kiến
cùng quan Tàu. Hội xong trở về, Ngài mới sai sứ sang cầu phong.
Sứ giả tới Yên Kinh, vua nhà Minh có ý bênh họ Mạc, chỉ phong
cho Thế tôn là An Nam Đô Thống sứ mà thôi. Sau khi nhận các đồ cống hiến, Minh
Thần tôn ban cho Chánh sứ một chiếc kim tiền, Phó sứ một đồng ngân tiền. Niên
hiệu của Thần Tôn là Vạn Lịch; trên hai đồng tiền ấy, vì thế, có khắc bốn chữ
"Vạn Lịch thông bảo".
Chánh sứ là ông Phùng Khắc Khoan, thấy vua Minh chỉ ban cho
vua nước mình một chức nhỏ mọn, bèn dâng sớ tâu rằng: "Đô thống sứ là tước
cũ của họ Mạc; nay vua nước Nam là dòng dõi chính thống, con cháu nhà Lê, phong
cho chức bé ấy không được xứng đáng: xin cho chức khác to hơn."
Vạn Lịch trả lời rằng: "Vẫn biết họ Lê không thể ví như
họ Mạc, nhung lúc đầu mới phong, hãy tạm giữ chức ấy, rồi sau sẽ ban cho tước
Vương, tưởng cũng chẵng muộn gì!"
Ông Phùng Khắc Khoan không biết nói làm sao, đành chịu lui ra
trong lòng tức giận lắm. Về đến quán dịch, ông tháo đồng kim tiền vua nhà Minh
vừa tặng cho, mà ông đeo ở cổ, ném vật ấy xuống đất, nói rằng:
- Quân Tàu này đã đối với vua ta khinh bạc đến thế, ta còn giữ
của này làm gì cho thêm nhục mỗi khi trông thấy nó bên mình!
Ông Nguyễn Nhân Thiểm thấy vẻ thịnh nộ trên mặt ông Phùng từ
từ cúi xuống nhặt lấy đồng tiền, trao lại cho bạn:
- Vẫn biết vua nhà Minh xử với nước ta hơi tệ, song nó là vua
nước lớn, mình là tôi nước bé, biết làm sao được? Không thuận cũng không xong,
có thế nào chỉ thêm giặc giã hại dân thiết đất! Ở đây nhà xa cảnh lạ, xung quan
tai vắch mạch rừng, ta hãy nên nhẫn nhục. Kẻo có đứa nào biết, đem chuyện mình
tức giận, ném tiền vua ban, lên mách với Minh đế, hai ta sẽ khó lòng trốn thoát
trở về. Ông dù cho đeo chiếc kim tiền là nhục, thì ông cho quách tôi, tôi sẽ để
cả hai đồng vàng bạc vào chung một hộp, ngõ hầu giữ kỷ niệm về mai hậu, cuộc
hai ta sang sứ bên Tàu!
Đương lúc hăng hái, bực mình, ông Phùng gắt, nói:
- Thì đấy! Tôi cho ông đó! Xin thêm tước cho vua không được,
mình còn ham lĩnh thưởng làm gì! Cả chức Đô thống của chúng nó, tôi còn chả coi
vào đâu, nữa là một đồng tiền vàng một lạng! Nhưng ông có lấy thì nên giữ mà
chơi; về đến nước mình đừng có đeo mà càng thêm tức!
Thế là ông Nguyễn Nhân Thiềm làm chủ cả hai đồng tiền Vạn Lịch,
hai đồng tiền ấy, sau này, ông cho bỏ nó vào hai hộp gỗ con bằng trắc khảm, giữ
làm bảo vật trong nhà, bảo vật ấy trao đi truyền lại đến mười đời; đến đời thứ
mười, nó vào tay Nguyễn Anh Tề công tử.
Trong hai đồng, giờ đây, chỉ còn lại đồng vàng rực rỡ, đồng bạc
kia đã theo An Trinh xuống nằm tận đáy bể rồi! Càng ngắm kỷ vật bao nhiêu, công
tử càng thấy gan ruột như bào xơ, xé rách. Chàng đau đớn.
Chàng hồi tưởng lại quãng đời vừa mới trải, sự nhục vinh suy
thịnh để cho chàng môt dư vị đắng cay. Chàng biết rõ công danh phú quí chỉ toàn
như đám phù vân, một áng phù vân lỏng lẻo dưới sức mạnh của ngọn gió chiều lôi
cuốn. Ngọn gió tức là số mệnh, mà áng phù vân kia là sự nghiệp ở đời.
- Giầu, sang, quyền thế, còn ai được bằng vua; thế mà, một sớm
thất thế sa cơ, vua cũng khổ hơn thằng hành khất quen mùi đói rét. Thằng hành
khất cõ lẽ chỉ bị những bản năng không thỏa nguyện giầy vò xác thịt; song nằm
xuống là nó ngủ, ngủ ngon, ngủ kỹ, linh hồn không từng bị cắn rứt bao giờ. Chớ
như vua Chiêu Thống: nào bị nhục nhã, bị cay đắng, bị đè nén, bị những thương
tâm vô hình nó luôn luôn cào gan xé phổi, luôn luôn rứt thịt, kéo gân! Nỗi oán
hận của vua, nó càng khiến vua chịu đau đớn hơn mọi kẻ trong bàn dân thiên hạ,
bởi lẽ, đã từng quen mùi chung đỉnh, Chiêu Thống không thể một mai đem tấm thân
quí phái dãi dầu với ánh phong sương. Một cái khổ thâm thúy sâu xa bao giò cũng
làm cứu cánh cho những nỗi sướng vui cực điểm.
Hoàng phi, cũng như vua, phải chịu nhai nuốt những nỗi đắng
cay, sau khi nhà tan nước mất.
Nói tóm lại, cái vinh hoa, oanh liệt cũng đó, mà cái nhục
nhã, cơ hàn cũng đó ; cuộc thăng trầm đã chọn ai làm thí nghiệm, thì lúc cờ tàn
mới rõ ai được ai thua. Mà, trên bàn cờ của thời gian, xưa nay đã bao người được?
Phần nhiều, chỉ thấy người thua. Thua? Này Lê Chiêu Thống, này Hoàng phi, này Bằng
Trung công Nguyễn Hữu Chỉnh, này Phò mã Võ Văn Nhậm, này quận chúa Võ an Trinh,
này nữa, này nữa... công tử Nguyễn Anh Tề!
Thua, thưa hết, thua cả: bạc, vàng, danh giá, có chăng chỉ là
những ảo ảnh hư huyền?... Bao nhiêu tiền của mình gom góp nhặt nhạnh, bao nhiêu
sự nhiệp mình xây đấp công trình, rồi nó cũng đổ, cũng tan, không còn để lại một
vết gì nữa cả.
Để vết lại, hoạ chăng chỉ có Ái tình ! Phải, chỉ có Ái tình!
Chiêu Thống mất ngôi, mất nước, nhưng nào đâu có mất tấm lòng ái mộ của Hoàng
phi? Hoàng phi mất chồng, mất con, mất nhà, mất của, nhưng khối ái ân trong tâm
nàng không một lúc nào phai lạt, chỉ phai lạt đôi má hồng dày dạn bụi phong trần...
Ta đây, ta đây, Nguyễn Anh Tề, ta cũng mất cả, không còn gì nữa!
Mất cha, mất mẹ, mất sự nghiệp tang bồng, mất cả kho vàng đáy bể. Song le, trước
khi đi, vợ ta còn để lại cho ta kỷ niệm của một cuộc ái ân đằm thắm, nàng còn
cho ta rõ dưới suối vàng nàng vẫn yêu ta, thế là đủ! Ta vẫn bo bo giữ đước Ái
tình! Ái tình của ta, nó chẳng bao giờ tiêu tan! Kỷ niệm của nó, ta hãy còn
đây, còn đây, trong đồng tiền Vạn Lịch.
Đồng tiền Vạn Lịch
Thích bốn chữ vàng.
Công anh dan díu với nàng bấy lâu...
Thích bốn chữ vàng.
Công anh dan díu với nàng bấy lâu...
Một đồng tiền vàng, một đồng tiền bạc, một hùng, một thư. Cặp
thư hùng rồi sẽ phải hợp nhau làm một! Cặp thư hùng sẽ làm chủ giữ kho vàng...
Ôi! Kho vàng! Nói cho cùng, kho vàng nào có làm gì? Nào có
ích gì? Cha ta hết sức vơ vét bóc lột, hết sức ty cóp giữ gìn, mới gây dựng được
một kho vàng, nhưng của ấy, rồi ngài cũng không được hưởng mà phải chết chia
làm trăm mảnh! Vua Chiêu Thống, đầy một nhà châu bảo, rồi cũng đều bị mất về
tay Nguyễn Nhạc, chung qui lại chết trong cảnh nghèo hèn! Chúa Trịnh Khải, hưởng
lại của tổ tiên một gia sản vô biên, rút cục, cũng bỏ mệnh trong một trường hợp
buồn rầu thê thảm.
Xem cuộc thế đảo điên như vậy, ta có cần gì phải bận mình làm
nô lệ cái giầu sang?
Ta chỉ muốn dùng khí thiêng mà khối của kia chung đúc để dựa
linh hồn ta trong lúc chết, ngõ hầu ta thành một vị thần tuyệt đẳng ở vùng này.
Ta sẽ cùng vợ ta cai quản bãi bể Sầm Sơn cho đến ngày, theo
nghiệp duyên, đôi ta lại sẽ tái sinh để nối nguyền ước cũ. Kho vàng lúc ấy sẽ
hoá ra vô chủ, nó sẽ về tay người có số được trời ban cho hưởng hoạnh tài!
Tuy nhiên ta mất công gây dựng, mất cong vận tải mất công
trông giữ cái kho này, ta cũng phải có một chút quyền đặt ra một vài điều kiện,
luật lệ, bắt "người có số" ấy phải tuân theo, trước khi thay ta làm
chủ khối bạc vàng của cha ta để lại.
Vậy trên có Hoàng thiên, dưới có Hậu Thổ, bốn mặt có Thổ địa,
Long mạch tôn thần, Hà bá thủy quan, lại có anh hồn vợ ta chứng giám, ta xin
trước giờ tuyệt mệnh, phân vua cùng chư vị mà nguyền rằng:
Ai là ngưòi sau ta có phúc phận được hưởng kho vàng này, người
đó phải có đủ hai đồng tiền Vạn Lịch thư hùng của ta. Người đó sẽ đứng ở chỗ
ngày nay ta đứng cầm đồng tiền vàng ép lại đồng tiền bạc, nhìn ra bể mà ngâm
bài thơ này:
Vợ chết, tâm những héo,
Cha về, còn đoạn trường!
Ái tình toan trả nghĩa,
Chưa rứt nợ quân vương,
Một sớm quân vương thác,
Ham chi sống bẽ bàng!
Bể sâu tìm liệt phụ,
Làm chủ giữ kho vàng...
Cha về, còn đoạn trường!
Ái tình toan trả nghĩa,
Chưa rứt nợ quân vương,
Một sớm quân vương thác,
Ham chi sống bẽ bàng!
Bể sâu tìm liệt phụ,
Làm chủ giữ kho vàng...
Như thế, lời ước ta sẽ thoả, hai đồng thư hùng giáp nhau sẽ
khiến hai vợ chồng ta nối lại dây ái tình không may đứt quãng, kho vàng sẽ vì
ta nổi lên bãi cát, mặc cho ai có duyên vận tải đem về...
Nhược bằng không ai có phúc làm chủ đồng vàng này, chư thần
cai quản nó sau ta, sẽ được phép muốn đem tặng cho ai tùy ý!
Ta đây, ta không mong chiếm của phù vân làm chi cho mệt; ta
chỉ muốn làm sống lại một sự ngàn thu bất hủ, cho sự ấy vì ta càng bồng bột: ta
sẽ tái sinh để giữ trọn nghĩa Chung tình!
An Trinh em ôi! Em có thấu lòng anh không nhỉ? Em đi trước, để
lại cho anh một cuộc đời tẻ lạnh, một chuỗi ngày sống thừa vô lý, những ngày ảm
đạm chứa biết bao là dư vị chua cay thấm thía, biết bao là oán hận nặng nề! Tuy
nhiên, anh cũng vẫn cam tâm chịu sự hình phạt cực nhục mà Hoá công đã tàn nhẫn
gieo xuống đầu anh, để bù lại tội lỗi lớn lao anh đã phạm, tội đã phạm đến một
mỹ nhân tối trong sạch, tối cao quí, tối khẳng khái, tội đã làm hại một đời son
trẻ của em.
Không một phút nào, trong đời sống sót của anh, anh không phục
em là một nữ hào kiệt quang minh chính đại, rộng lượng cũng như lỗi lạc nghĩa
khí mà lại nhu mì. Được hạnh phúc cùng em gá nghĩa uyên ương, anh dẫu thịt nát
xương ta ngàn thu cũng chả bao giờ hối hận.
Bởi thế, sau khi em bỏ anh ở lại cõi đời mờ mịt, anh vẫn cố sống
trong ánh hào quang mà gương tiết nghĩa của em toả ra chói lọi; anh gắng sức
gây một sự nghiệp vang lừng rực rỡ để khỏi thẹn với người yêu, để dưới suối
vàng, em không cười chê anh là một kẻ yếu hèn vô dụng. Em Trinh ôi! Có hay đâu
Trời xanh không muốn tựa nhà Lê nữa, khiến công cuộc của anh một sớm, đã tan
tành!
Thực không phải anh dám phụ lòng trông cậy của giang sơn, cố
chủ; thực không phải anh không đáng sánh vai trí dũng để em kính em yêu; chỉ tại
số vận đảo điên của một dòng dõi gặp buỗi sa cơ thất thế. Nhà Lê đến nay là tuyệt
hẳn, cũng như tuyệt hẳn các mầm hi vọng và hạnh phúc của đời anh. Hy vọng anh
hoài bão là gây dựng lại ngôi bảo tộ tiền triều cho chắc chắn vững vàng; còn hạnh
phúc anh yêu mê say đắm, nó tức là em đó. Nhưng bây giờ hy vọng đã thành ra ảo
mộng, mà tình nhân cũng hoá ra người thiên cổ mất rồi! Anh có sống cũng không
còn mục đích gì phấn khởi tấm lòng khô héo nữa.
Vậy nên anh phải chết. Chết để tìm em nơi chín suối, để thăm
cha, hầu Chúa dưới tuyền đài. Chết để rứt hẳn mối lụy mà tình ái đã gây nên,
nhưng có lẽ, cũng để sẽ được tái sinh, cùng em nối lại cho toàn vẹn cho mỹ mãn,
cho thỏa nguyện, quãng đời tình mà kiếp này không may, nửa đường bị bỏ dở. Ví
em còn đủ lòng thương anh, còn khao khát chắp lại mối duyên cũ ấy, anh xin nguyền
sẽ đối với em hết lòng thủy chung tận tụy, dẫu hồn tan, bóng khuất cũng chưa
thôi!
Anh vẫn biết tự hủy mình không phải là một sự vẻ vang cho
khách anh hùng; nhưng đứng trong một cảnh như cảnh của anh, ai là kẻ có gan sống
thêm nữa một chuỗi tháng năm vô vị? Vô vị đến nỗi ăn không biết phân biết mùi
ngon, mùi đắng, mặc không quản áo rách áo lành, giầu sang chẳng thiết, công
danh chẳng màng, tâm hồn lạnh lẽo như băng, gan dạ héo khô như lá rụng. Sống nhẫn
nhục để vì em đeo đuổi một việc gì có ích, dẫu lưu ly tân khổ, anh đâu có dám từ
nan. Nhưng sống buồn rầu mà chẳng có lợi cho em cũng không lợi cho nhà, cho nước,
anh thiệt nghĩ sống bao nhiêu càng vô dụng bấy nhiêu. Chẳng thà thác sớm giờ
nào càng được cùng em giờ ấy gặp gỡ hoan hỉ, cùng lâng lâng bay nhẹ trong cõi
man mác cao xa, thoát khỏi hẳn vòng phàm tục!
Chết có lẽ anh sẽ sung sướng, thoả lòng hơn sống, anh còn ân
hận tiếc rẻ gì mà không tự tử theo em? Trước kia vì muốn giữ tình đôi ta được
trong sáng thiêng liêng, em tự buộc mình nhảy xuống chỗ chìm vàng; ngày nay bởi
muốn gần xác em, cùng em làm thần cai quản bãi biển này, anh cũng sẽ bắt chước
em chết đúng chỗ xưa kia em chết.
Em là phận nữ nhi khuê khổn, có thể vong tính mệnh một cách lịch
sự, êm ái hơn anh; anh đây, trót đã mang danh tiếng tài trai, anh phải tự hi
sinh một cách dữ dội, oanh liệt hơn, cho khỏi phụ giống nòi võ tướng. Anh không
thể trầm mình, thác như em được. Làm như thế, thiên hạ sẽ cười anh là kẻ yếu
linh hồn. Mà em, trước mọi người, em sẽ chê anh, là một đứa ươn hèn bạc nhược.
Bởi thế, anh sẽ cho em hiểu người sánh vai em không phải là kẻ
tham sanh úy tử, anh sẽ cho em thấy chồng em là một nhân tài sống anh hùng chừng
nào, chết oanh liệt phi thường chừng ấy. Chồng em sẽ thiêng liêng, linh ứng, sẽ
làm một vị thượng thần cai quản hải tần này!
Trong hai giờ đồng hồ ngồi một mình trên bãi cát nhìn ra bờ bể.
Nguyễn Anh Tề vừa nhắc lên nhắc xuống trên bàn tay đồng tiền Vạn Lịch, vừa ngắm
làn sóng bạch đầu cuồn cuộn đập rào rạt vào chân chàng, lại vừa lẩm bẩm nói một
mình như trò chuyện tỉ tê cùng một người bạn ngồi kề bên cạnh. Có lắm khi hăng
hái, chàng hoa tay múa chân, nói to, vỗ ngực; nhưng tiếng chàng bị tiếng gió tiếng
sóng át đi mất hẳn. Những khách đi đường, nếu có ai tạt qua trông thấy, chỉ tưởng
chàng là một du tử ngồi thừa lương ngâm vịnh trên bãi phù sa.
Lúc ấy vào khoảng cuối giờ Dậu, nghĩa là gần tối. Mặt trời tà
dương, đỏ như một khối lửa hồng chói lọi, ánh xuống gợn thủy ba nhấp nhô hoá
thành những tia hào quang rực rỡ đủ trăm màu. Gió chiều đưa lên một mùi thơm nồng
hắc, một mùi thơm chứa đầy sinh khí, khiến cho người thở vào thấy tia gân thớ
thịt dần dần mạnh mẽ thêm lên. Thế mà Anh Tề dường như không biết thưởng thức vẻ
đẹp của cảnh thiên nhiên bày trước mắt chàng, cũng như không biết hưởng thú hô
hấp làn dưỡng khí chứa đầy trên mặt bể.
Chàng nói một mình chê chán rồi đứng lên đi dạo khắp một
vòng. Thấy một chiếc bè vô chủ giạt vào bờ, chàng nhảy phắt lên trên rồi đẩy nó
ra ngoài ba lớp sóng. Thuận chiều gió, chiếc bè đi nhanh như chớp, chả bao lâu
đã cách bờ chừng tám trăm thước.
Khi ấy, ai tình cờ đứng trên bờ, sẽ được mục kích một cảnh
kinh thần khốc quỉ, một cảnh thương tâm thảm thiết mà cũng hùng tráng phi thường.
Người đó sẽ thấy trên chiếc bè lênh đênh theo dịp thăng trầm của ngọn sóng tung
rơi, một võ sĩ lực lưỡng cầm một lưỡi gươm sáng kêu lên một tiếng vang lừng, dữ
dội, chàng lấy gươm rạch một đường dài trên bụng, mở phanh da thịt, đoạn, mặc
những tia máu phun ra lênh láng, chàng nghiến răng trợn mắt thò tay lên ngực,
móc tim ra.
Quả nhiên, chàng làm xong việc. Nhưng, con tim vừa thoát khỏi
lồng xương ngực, nằm hồi hộp và đầm đìa những máu tươi đỏ xẫm trên bàn tay
tráng sĩ, chàng vừa được trông thấy nó thì đã ngã lộn nhào xuống biển, làm chiếc
bè cũng tròng trành úp ngược, rồi trôi đi, trôi mãi, trôi lênh đênh trên vùng
nước thẳm, cho tới ngày như quả tim tráng sĩ, sẽ tan tành mục nát giữa một gầm
trời, nước, gió, mây...
Nếu lúc đó, ta đứng gần kẻ quyên sinh, ta ắt thấy trước khi
chàng ngã xuống, đôi môi chàng nhích ra, vẽ thành một nụ cười gan góc kiêu ngạo,
trong khi, bằng một giọng say sưa âu yếm, chàng thu hết sinh lực để gọi một lần
cuối cùng, một chữ tên chàng sùng kính yêu đương:
- An Trinh em ! An Trinh...
Một vùng nước xanh rờn bỗng hoá ra vẩn đỏ. Những loài tôm cá
bâu vào quanh bè đớp lấy giọt máu tươi. Xác Anh Tề nghiêng ngả rơi xuống từng
sâu đáy biển...
Tia sáng cuối cùng của bóng tà dương vụt tắt. Da trời quang
đãng phủ một lần mây án đen ngòm. Ngọn cuồng phong thay luồng gió chiều hôm, bỗng
bùng lên làm sôi nổi nước trào cuồn cuộn.
Một vẻ lạnh lùng dữ dội như xuất hiện giữa gầm trời bể, tựa hồ
trời đất phải xót xa, quỷ thần phải kêu khóc, tiếc đời vị anh hùng chết thảm
thiết bi ai.
Công tử Anh Tề tự tận đúng vào ngày 26 tháng chạp năm Quý Sửu
(1793). Giờ đếm giờ, cách đó đúng sáu năm về trước, cũng vào cuối giờ Dậu hôm
26 tết, quận chúa An Trinh đã từ giã hào mục và nhân dân hạt Sầm Sơn để đi ra
bãi bể trầm mình. Có lẽ vì hương hồn quận chúa tối thiêng liêng, nên giun giủi
cho chồng nàng chọn đúng ngày ấy để theo nàng về cõi chết.
Dân vùng hải ngoại, từ 5 năm về trước, ngày 26 tháng chạp năm
Mậu Thân (1788), một năm sau khi An Trinh mất tích, đã đúng theo lời dặn làm
đàn tràng tế lễ, thờ nàng cùng Nguyễn Anh Tề. Trong một khoảng một ngàn tám
trăm ngày, chồng quận chúa đã nghiễm nhiên làm một vị thần sống. Chàng vẫn sống
mà dân hạ Sầm Sơn cứ tưởng như chàng đã thác, không ai biết tin chàng sinh hoạt
ở đâu, chỉ trừ một mình tên gia đinh Lộc, nhưng sau khi nó tìm vào Phú Xuân và
Nghệ An để đưa hai bức thư của chủ đến năm Chiêu Thống băng hà, công tử Anh Tề
mới chính thức làm thần vùng hải ngoại.
Một trăm bốn mươi năm đã lướt trên cuộc sinh tồn từ ngày công
tử mất; tới nay nếu không có kho vàng làm chứng thực, không còn ai được biết
chuyện ngày xưa có đích xác hay không. Vì ngoài khoảng sáu bảy tám mươi năm,
dân hạt Sầm Sơn không nghĩ đến sự thờ phụng hai vị thần kia đã phù hộ cả vùng.
Và sau này, khi các ông kỳ mục tiền bối đã từ trần, những kẻ hậu sinh không rõ
chuyện chả có ai tin ở sự linh ứng của quận chúa An Trinh, nên không sùng bái
hai vợ chồng nàng nữa. Gia dĩ lâu ngày rồi, nàng cũng hình như đã thoát hồn
ngoài cuộc thế, rủ chồng đi ngao du ở một cõi huyền bí xa xăm nào, nên ít khi về
báo mộng cho dân làng nữa. Không những thế, có quên làm giỗ tế nàng cũng chẳng
thấy có quả báo gì ác hại, dân làng càng dễ muốn quên.
Đến hồi gần đây, bãi Sầm Sơn được chọn là một nơi nghỉ mát
cho các tiểu thư công tử cùng gia đình quý phái thượng lưu, thì lớp sóng người
phồn thịnh tấp nập ra dưỡng nhàn dưỡng sức dưới bóng phi lao, trên bờ cát trắng,
đã hình như làm át hẳn mất mảnh hương hồn phưởng phất của đôi uyên ương thủa
trước, làm cho họ phải bạt đi vào cõi vẩn vơ nào. Lẽ thường cứ dương thịnh ắt
âm suy vậy.
Ngoài sự đó, thời gian cũng xoá nhòa hẳn những kỷ niệm ngày
xưa để lại, không ai tìm thấy trong những lớp biệt thự tường vàng mái đỏ, chỗ
nào căn nhà tranh của Nguyễn Anh Tề. Cuộc tang thương đã biến cải hẳn mặt bãi Sầm
Sơn, mà lòng người hay thay đổi như cuộc tang thương, cũng không để dành một ý
nghĩ nào cho dĩ vãng. Trong các đền thờ Thành Hoàng ở các làng vùng hải ngoại,
trong đền độc cước chân nhân, trên hòn Trống mái, không còn ai thấy một vết
tích gì để lại, tỏ rằng Anh Tề cùng An Trinh quận chúa đã sống giữa đám dân
chài lưới, một quãng đời kỳ dị, đã vong thân giữa hạt dân chài lưới trong một
trường hợp thê thảm lạ lùng.
Bởi những lẽ đó, nên chả ai nghĩ đến sự khám phá mỏ vàng chìm
lấp đáy vùng bể thẳm. Mà cũng không ai biết đến hai đồng tiền Vạn Lịch và bài
thơ Nguyễn Anh Tề. Cuộc đời tình và cái chết bi đát của chàng không được người
đời truyền tụng. Nó lâu dần chui vào gầm bí mật của thời dĩ vãng xa xăm.
Sự bí mật sẽ hoàn toàn bí mật nếu hai lá thư kia chàng để lại
cũng bị tiêu đi mất tích. May thay, một lá trong hai lá vẫn còn. Lá đó ghi chép
rất rành mạch cuộc ân ái của chàng và quận chúa An Trinh và kể rõ sự hy sinh
cao thượng của quận chúa. Nhưng chỉ có thế là hết. Một sự tối may mắn hơn nữa,
là trước khi lìa bỏ cỏi đời theo vợ, Nguyễn Anh Tề có viết một chương tuyệt mệnh
rất dài. Chương tuyệt bút ấy nối lời hai bức thư kia để biên lại những công cuộc
chàng đã làm sau khi An Trinh tự tử. Nào báo thù không phải giết bố vợ, nào gặp
Hoàng phi ở Tam Thanh, nào theo Lê Chiêu Thống sang Tàu. Chàng lại dặn trước rằng
chàng sẽ tự mổ bụng chết theo vợ, và chỉ rõ cho người nhà biết nếu ai muốn làm
chủ kho vàng, thì phải theo đúng lời nguyền của chàng, tức là mồm đọc bài thơ, khi
hai tay ép hai đồng tiền Vạn Lịch vào làm một ngõ hầu thư hùng được hoà hợp
cùng nhau. Nếu làm đúng như lời nguyền ấy, kho vàng sẽ theo sóng nổi lên bãi
cát, cho mình vận tải đem về.
Chương tuyệt mệnh đó, một ngày trước buổi chàng tự sát, chàng
tìm một ngưòi phúc hậu, cho nó hết cả tiền bạc quần áo, trao thư cho nó, dặn đi
dặn lại kỹ càng, nhờ đem tờ di chúc ấy về huyện Chân Lộc, đưa tay cho ông Nguyễn
Hữu Bằng.
Những thư từ giấy má của Anh Tề, nhờ trời nay còn giữ được cả
trong nhà họ Nguyễn. Ông cụ Nguyễn Hữu Bằng lại đem ghi chép vào gia phả; người
đời sau nhân vì thế, tìm ra dấu vết kho vàng.
Biết được dấu vết là bởi cố công gắng sức tìm tòi, còn sự chiếm
được gia sản vĩ đại kia, biết rằng ai có phúc phận bắt được đôi chìa khóa? Đôi
chìa khoá ấy, nó là đồng tiền Vạn Lịch, một đồng bạc, một đồng vàng...
Đồng tiền Vạn Lịch,
Thích bốn chữ vàng:
Công anh dan díu với nàng bấy lâu,
Bây giờ nàng lấy chồng đâư?
Để anh giúp đỡ trăm cau ngàn vàng.
Trăm cau để thiết họ hàng.
Ngàng vàng anh đốt giải oan lời thề...
Thích bốn chữ vàng:
Công anh dan díu với nàng bấy lâu,
Bây giờ nàng lấy chồng đâư?
Để anh giúp đỡ trăm cau ngàn vàng.
Trăm cau để thiết họ hàng.
Ngàng vàng anh đốt giải oan lời thề...
PHẦN 15
Người bạn mới quen biết của tôi vừa ngâm xong bài thơ đồng tiền
Vạn Lịch, thì bỗng ngồi nhỏm dậy, gãi đầu lia liạ, gãi vai, rồi phì cười cúi
sát xuống tôi, nhủ sẽ rằng:
- Tôi được ông cho hút thuốc phiện lần đầu, không hiểu nên
hút nhiều ít thế nào, thành ra say khướt. Quái lạ! Sao tôi ngứa quá thế này? Có
phải say nha phiến thì tịt mũi, nóng ran lên rồi ngứa ngáy, phải không ông?
Tôi đương mải mê nghe câu chuyện lý thú chàng vừa kể lại, muốn
rõ nốt quãng sau, vội vàng trả lời để đem bạn vào đầu đề, sợ chàng nhãng ý nói
sang chuyện khác:
- Phải, hút say thì đâm ngứa, nhưng không hề gì. Một lúc nó
khỏi ngay. Nhưng mà này, mấy câu phong dao vừa đọc đây, có phải chăng nó thuộc
về câu chuyện vừa mới kể nghĩa là chuyện đó người ta đặt ra câu phong dao ấy để
làm gì?
Bạn tôi cười thiên ha hả không đáp lại. Chàng còn lên giọng
êm ái du dương ngâm lại rất thong thả mấy câu hát chàng ngâm lúc nãy, mãi sau
cùng mới vỗ vai tôi, vui vẻ nói rằng:
- Không phải đâu, ông đừng lầm! không phải đâu. Mấy câu hát của
tôi, chúng nó có một điển tích khác, không dính dáng gì đến câu chuyện đồng tiền
thư hùng cả. Song le, mấy câu phong dao cũ đó, nó đúng vào cảnh ngộ của tôi bây
giờ, nên tôi dùng nó để đạt cảm giác và ý tưởng của tôi đó tôi. Điển tích câu
phong dao, tôi cũng biết, nhưng đó lại là chuyện khác, ông về lục tìm trong mấy
pho sách cổ như "Truyền kỳ mạn lục", "Truyện lạ nước Nam",
thì sẽ thấy.
Bây giờ tôi không kể làm chi cho dài dòng vô ích, tôi chỉ nói
nốt ông nghe kết quả chuyện kho vàng của tôi nó kỳ dị thế nào.
Thắm thoát từ thủa Cao Hoàng nhà Nguyễn đánh được Tây Sơn để
nhất thống thiên hạ, đến bây giờ trong gia tộc họ Nguyễn ở vùng Chân lộc, nay gọi
là Nghi Lộc, tám đời đà nối tiếp nhau sinh hoạt về nghề cày ruộng, không ai muốn
chen chân vào vòng sĩ hoạn làm gì. Những cảnh bị giết, bị thất thế mất oai quyền,
mà tôn tổ ngày xưa đã chịu trải qua một cách đau đớn, những cảnh ấy khiến dân
trong họ lấy ông Cống Chỉnh là gương tầy kiếp, không ai hề nghĩ đến việc bôn tẩu
kiếm công danh. Tôi vẫn còn nhớ, thủa bé, được nghe ông và cha tôi dùng mấy câu
thơ Đường để tỏ ý chí mình không chịu góp mặt cùng thiên hạ:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu!
Lần đi, lần một bạc đầu,
Ai ơi đeo ấn công hầu làm chi?...
Hối giao phu tế mịch phong hầu!
Lần đi, lần một bạc đầu,
Ai ơi đeo ấn công hầu làm chi?...
Phải, trong họ Nguyễn chúng tôi, từ đời cụ Nguyễn Hữu Bằng,
không ai muốn ra làm quan nữa. Họ toàn an phận trồng cây, trồng lúa, sống một
cuộc đời thanh bạch, nhưng nhà hạ, chẳng khi nào có chút gợn phong ba. Tuy
nhiên, tất cả trẻ em trong họ đều phải học hành cho giỏi cả. Không một người
nào chịu tiếng dốt bao giờ. Còn đến khoa võ bị côn quyền, thì lại cấm hẳn,
không được học. Tổ tiên tôi cho nghề võ là vô ích, giỏi võ lắm, càng đâm ra dữ
tợn ngang ngạnh và càng dễ gieo những mầm đại hoạ vào thân thể và gia tộc.
Bởi lẽ ấy, từ cụ Bằng cho đến đời cha tôi, trong khoảng một
trăm ba mươi năm, con cháu nhà Nguyễn hữu không ai luyện tập nữa. Họ đều chú trọng
về văn chương, nhưng không đi thi, cũng chả làm quan. Thực là một giòng họ ương
dở vô cùng. Mãi đến đời tôi, vì theo học chữ Tây, tôi mới bỏ hẳn những sự cấm
đoán vô lý ấy. Sáng chiều nào tôi cũng ra cũng luyện gân và xách tạ, lại thuê
thầy dạy đủ quyền cước và thập bát ban võ nghệ tàu và ta. Hơn nữa, tôi học cả
võ tây, võ Hồng Mao và rất để ý đến môn kiếm thuật.
Ông cha tôi lấy làm giận lắm: tôi phải mỏi mồm cắt nghĩa rõ
cho các cụ biết ngày nay sự thế đổi thay, không thể bo bo giữ mãi được những tục
lệ và chế độ hủ bại của thời xưa nũa. Ông cha tôi thấy tôi không những chỉ
chuyên riêng có món võ mà thôi, còn gắng học cả chữ nho và chữ tây, nên dần dần
hai cụ cũng lờ đi, không mắng chửi. Chữ tây tôi học từ năm mười sáu tuổi, nên
mãi đến năm hai mươi bốn, tức là năm ngoái, tôi mới đỗ được bằng tú tài văn
chương.
Đỗ xong, tôi xin phép nhà được ra nghỉ mát Sầm Sơn, cách đây
mười tháng về trước. Tôi thường thích chiều chiều, một mình đi thơ thẩn trên
bãi cát, ở một chổ vắng vẻ, để trầm ngâm nghĩ ngợi, không bị những thiếu niên
thiếu nữ đi tắm đến phá rối sự yên lặng của tôi. Một buổi kia, đương mải mê ngắm
mấy con dã tràng chạy tung tăng trên măt cát, tôi thình lình bỗng thấy ngoài
khơi nổi lên một ngọn sóng to, to lắm, cao đến năm sáu thước hơn các làn sóng
thường. Tôi những tưởng đó là một con thủy vật nào làm cho mặt biển nhô lên như
vậy. Đã lấy làm ngạc nhiên, tôi càng thêm kinh hãi, vì thấy ngọn sóng kia ồ ạt
vỗ, rồi lừ lừ tiến lại mé tôi. Nó như lăm le muốn chụp lên đầu tôi để lôi cuốn
tôi ra tận chỗ sâu hoắm ngoài xa tít. Chỗ tôi đứng còn xa bể độ tám chín thước
tây, nên tôi không ngại lắm, cứ đứng yên chờ xem công cuộc xảy ra thế nào.
Quả nhiên, ngọn sóng khổng lồ kia lượn rất nhanh chóng vào bờ,
rồi đổ ụp xuống, làm cho bọt bắn tứ tung. Như một cái lưỡi dài, nó liếm bãi cát
dưới chân tôi, chỉ cách gót giầy tôi có một gang nhỏ xíu. Quần tôi cũng bị tia
bọt bắn vào ướt át; tôi tự nghĩ không hiểu làm sao đương lúc trời bể phẳng lặng
mà tự nhiên bỗng nhô lên một ngọn sóng lạ kỳ này.
Tôi chưa ra khỏi lúc bồi hồi, nước bể đã rút xuống lúc nào
không rõ. Cúi xuống nhìn bãi cát, tôi bỗng phải rú lên vì mừng vì lạ: một vật
tròn bằng vàng, nằm lóng lánh trên mặt cát, bên cạnh những mảnh rơm rác, những
đám bọt, trắng một màu trắng pha xám, pha nâu.
Tôi quỳ xuống nhặt vật ấy lên, trông kỹ thì ra một đồng tiền
vàng. Một đồng tiền Vạn Lịch. Bấy giờ bao nhiêu ý tưởng tự đâu lại nhẩy lộn xộn
trong óc tôi, mắt tôi hoa lên, tay tôi run lẩy bẩy, trống ngực tôi vỗ thình
thình. Tôi nhớ lại câu chuyện trong gia phả họ nhà tôi, mà từ bé tôi thường vẫn
đọc đi, đọc lại.
Đó là thần kho vàng chọn tôi là người có duyên để trao lại sản
nghiệp bị chìm từ thủa trước, có lẽ đồng tiền này sẽ giúp tôi trở nên môt tay
triệu phú vẻ vang? Bởi nó là chìa khoá để mở cửa vào cõi chứa kim ngân châu ngọc.
Nhưng mà, ồ lạ! Sao thần nhân đã ra ơn cho tôi có một đồng vàng? Còn đồng bạc?
đồng bạc ấy ở đâu, tôi làm sao tìm được nó?
Đương cuống quýt hồi hộp, tôi đâm ra thất vọng, khi nghĩ đến
sự thiếu mất nửa chìa khóa kia, nửa chìa khoá mà, họp lại với chìa này, sẽ giúp
tôi nhất đán có một mãnh lực làm bá chủ được đời nay: Kim tiền! Nghĩ đi, nghĩ lại,
tôi băn khoăn khó chịu, không biết tự đây nên xử trí ra sao.
Đêm hôm ấy, về nhà trọ, tôi chong đèn ngồi cả đêm, ngắm lại đồng
tiền vàng. Mỏi mệt quá, tôi thiếp đi, nằm gục đầu xuống bàn ngủ quên mà không
rõ.
Trong khi lơ mơ say tỉnh, hình như có một giọng nói nhẹ
nhàng, rất nhỏ, theo luồng gió thổi, phều phào bay vào tai tôi:
- Đồng tiền hùng về tay ngươi, đồng thư về tay người khác.
Ngươi phải cố tìm ra người đó, một cuộc ái ân từ thủa trước vẫn một niềm chờ đợi
đón ngươi. Thôi, cố đi!
Ba tiếng "Thôi, cố đi!" tựa hồ quát rất to, tôi giật
mình choàng dậy. Rõ ràng một giấc chiêm bao! Lạ này! Cớ làm sao hai ba sự liên
tiếp nhau xảy ra để quyết định lòng tôi hành động ngõ hầu chiếm lấy kho của?
Tôi hẳn có dính dáng gì với sản nghiệp đó, chẳng sai!
Hay kiếp trước tôi là Nguyễn Anh Tề? Có lẽ, có lẽ lắm. Bởi kiếp
này, vì một sự tối ngẫu nhĩ, tối tự nhiên, ông tôi đặt tên tôi cũng là Tề. Nguyễn
Hữu Tề! Thế thì lạ thật! Có lẽ người được đồng bạc kia là Hậu thân của Võ An
Trinh quận chúa, mà người ấy đương đợi tôi để cùng tôi nối lại quãng đời tình?
Lòng tôi bối rối như tơ nát. Tôi cũng không hiểu tôi lúc đó tỉnh
hay mê. Một cảm giác khó chịu mà dễ chịu xúc động thần kinh tôi, người tôi như
phát sốt. Ngày hôm sau, tôi đáp tầu về Nghệ An. Về Nghi Lộc, về làng tôi.
Tôi giữ kín chuyện bắt được tiền, không nói cho ai biết cả. Rồi,
một mình, tôi tự nhốt trong phòng sách, khoá kín cửa lại, đem các giấy má và
gia phả trong nhà ra lục, ra khảo cứu, trong ngót ba ngày. Sau cùng, tôi tìm được
đủ hai lá thơ cũ của ông Tổ tám đời của tôi là Nguyễn Anh Tề, và nhận được cả
đoạn gia phả chép lại đời của ông nữa.
Tôi cẩn thận bỏ các thư từ đó vào một chiếc phong bì, đem bì
nhét vào ngăn kín nhất trong va li, rồi lộn lại Sầm Sơn tìm đồng tiền bạc. Ghé
qua tỉnh Nghệ, tôi đặt một chiếc hộp gỗ nhỏ bằng trắc khảm, bỏ đồng tiền Vạn Lịch
quí báu của tôi vào đó. Sắm sửa đâu đấy, tôi đáp tàu và ô tô một mạch ra Sầm
Sơn.
Cả một vụ hè năm ngoái, ông ạ, không ngày nào, giờ nào, tôi
không đi tìm kiếm người đã có duyên như tôi, bắt được đồng tiền bạc. Trong ba
tháng tôi đi xuôi chạy ngược, lùng hết các làng, các xóm, vào hết các quán trọ,
các ô ten, mà tuyệt nhiên không được một chút tin tức gì cả. Người có đồng bạc,
cũng như đồng bạc, chẳng thấy ở đâu. Công tôi đã như công dã tràng xe cát vậy.
Thất vọng, tôi lại về quê, nằm queo nghĩ ngợi, nhưng nghĩ ngợi
bao nhiêu càng sốt ruột bấy nhiêu. Quá vụ hè, ngoài bãi biển không còn ma nào cả.
Có ra đấy cũng vô ích, tôi bèn đánh liều đi du lịch khắp trong nước, hoạ may có
tìm ra được vết người, mà theo như lời mộng triệu, cùng tôi có tiền duyên ràng
buộc! Đã gọi là có duyên, mà có duyên thì "thiên lý năng tương ngộ",
chả biết sao mãi tới nay người ấy, trước mắt tôi, vẫn như một nhân vật vô hình?
Suốt một năm trời, tôi tìm y đã mỏi mắt, nản lòng, mà y nhất quyết không lộ mặt
cho tôi được thấy!
Tuy vậy, tôi vẫn kiên tâm trông đợi. Bởi tôi tin rằng thần
nhân không bao giờ vô cố dối tôi. Mà đồng tiền này nó tức là của tín thần kho
vàng đã ban cho tôi đó!
Vậy thì, mặc dầu khó khăn, mặc dầu lâu chóng, ta cứ tìm, tìm
mãi, tìm đến khi nào có kết quả thì thôi! Kiếp này chưa tìm ra, nguyện kiếp
khác cũng vẫn tìm, tìm nữa!
Ông bạn ạ, tôi gặp ông, ắt là cùng ông có chút duyên tri ngộ;
ông đã là người độc nhất và là người trước tiên nghe biết rõ chuyện kín của
tôi, ông cũng nên giúp tôi một tay trong sự đi kiếm đồng tiền bạc! Nhưng mà tôi
phải có một lời tâm sự dặn ông trước khi ông nhúng tay vào cuộc: là dù ông có
vui lòng nhận lời hay không muốn nhận cộng tác với tôi chăng nữa ông cũng nên
giữ bí mật hộ tôi, đừng tiết lộ chuyện của tôi cho ai rõ hết. Kẻo, một khi biết
chuyện, những kẻ thâm hiểm độc ác sẽ mưu mô tìm quỉ kế đánh bẫy mình để chiếm lấy
chìa khoá mở cửa kho vàng, lúc ấy tính mệnh mình sẽ theo sản nghiệp kia mà bị
đoạt.
Tôi trông dung mạo ông, biết ông không phải là người gian giảo
phản trắc, bởi thế nên vui lòng giãi bày tâm sự cùng ông. Ông nên vì cách xử xự
thành thực của tôi mà cũng thành thực giúp tôi, ông nhé!
***
Câu chuyện nguồn gốc "kho vàng Sầm Sơn" đến đây là
hết. Đêm hôm ấy, chàng thiếu niên có khổ mặt rắn rỏi và hai con mắt inh sáng,
mà tình cờ vừa cho tôi được quen biết, kể cặn kẽ cho tôi nghe sáng suốt nỗi tâm
sự từ lâu chàng hoài bão tận đáy lòng. Đến lúc chúng tôi cùng nằm im, định chợp
ngủ một chút để dưỡng thần thì tiếng gà rồn rã báo hiệu vừng đông đã bắt đầu giọi
sáng. Chúng tôi đều choàng dậy, không ngủ nữa, xếp hành lý lại cẩn thận, rồi rửa
mặt, mặc quần áo, rủ nhau ra hàng quán ăn điểm tâm.
Bắt đầu từ phút cùng ăn chung ngủ chạ ấy, tôi và thiếu niên mới
gặp kết chung một mối tình nghĩa tri giao bền chặt, một mối tình mà thời gian
cùng hoàn cảnh, sau này, khó làm cho đứt khúc, rối nhầu. Mặc dầu buổi sơ thân,
chúng tôi đã thấy quí mến nhau vô kể. Thiếu niên thực đã không lầm lẫn khi chọn
tôi làm bạn để giãi bày bí mật; tôi cũng không tự thẹn đã được biết sự bí mật của
chàng.
Một quãng đời quay cuồng điên đảo chúng tôi cùng sống sau buổi
ăn điềm tâm hôm ấy, càng làm cho tôi càng kính trọng thương mến nhau, nhất là
vì chàng thấy tôi đối với chàng tận tụy cùng như tôi thấy chàng đối với tôi một
lòng chung thủy không phai.
Chúng tôi đã họp sức họp trí nhau, đi kiếm đồng tiền bằng bạc
và người chủ đồng tiền ấy. Trong khi tìm kiếm, chúng tôi đã hao tâm tổn lực, đã
cố len lỏi trong muôn vàn lớp sóng người hoài nghi, nghiêm nghị, cố tiến đi, đi
mãi, đi tìm cho ra nốt nửa mảnh chìa khóa mở cửa cho chúng tôi vào đời cự phú
vinh quang. Bao nhiêu cuộc khó khăn ngăn cản chúng tôi, mà chúng tôi cũng vẫn
điềm nhiên thẳng bước. Bao nhiêu sự hiểm nguy rình chúng tôi trong xó tối,
chúng tôi vẫn tránh được như thường.
Rút cuộc chúng tôi thắng thế, tìm được đồng tiền bằng bạc.
Nhưng... nhưng, một phản lực mà chúng tôi không tài nào át chế
được, đã gieo nặng xuống đầu chúng tôi một cách tối bất ngờ! Phản lực ấy là số
mệnh!
Số mệnh đã mỉa mai bảo chúng tôi đừng hão huyền mong chiếm đoạt
một sản nghiệp mà mình không phải là chủ; số mệnh đã chỉ rõ cho chúng tôi biết
hai đồng tiền Vạn Lịch không phải chìa khóa mở cửa vào kho châu báu, mà chỉ
dùng được để rút then cửa của một cõi đẹp đẽ quí giá hơn: Cõi ái tình!
Thực vậy, hai ba năm vật lộn lăn lóc chẳng cho bạn tôi cái cơ
nghiệp chàng ao ước, nhưng chỉ biếu chàng một món quà tuyệt mỹ tối bất ngờ: một
giai nhân mê chàng cũng như chàng yêu nàng đến tan hồn lạc trí.
Cập uyên ương mà định mệnh xô đẩy vào lòng nhau, sau một cuộc
xung đột nhau kịch liệt, bỗng nhận rõ chỉ có ái ân là đáng quí ở đời. Mối ái ân
đó mãn nguyện rồi, kho vàng đáy biển lại hoá ra vô vị.
Thành thử, trong một khoảng một trăm năm mươi năm, hai lần sản
nghiệp lớn ấy mất chủ, chỉ bởi lẽ như tôi đã nói:
"Ái tình có cần đâu đến những kho vàng!"
Tôi, ngẫu nhiên, đứng ngoài làm khách bàng quan, không được hạnh
phúc hưởng một phần giầu có - bạn tôi có thề rằng được vàng bạc sẽ cho tôi một
phần ba của cải - những lại được một lạc thú tối cao quí là hơn cả mọi người,
tôi biết rõ chuyện kho vàng.
Làm thính giả trong một đêm, tôi chép ngay được lịch sử của
kho vàng đó. Sau này, trong bao nhiêu trường hợp khe khắt xảy ra vì sự xâu xé
nhau để chiếm lấy tài lợi, tôi không mất gì, được ngay một bài thí nghiệm rất
sâu xa thâm thúy về nghĩa cuộc sinh tồn.
Bài thí nghiệm sâu xa ấy, trong quyển "Đồng tiền Vạn Lịch"
tiếp theo đây, sẽ đem lại cho các bạn yêu chuyện này nhiều cảm giác lạ lùng
nhưng thú vị, sẽ làm cho các bạn phải bồn chồn hồi hộp, sống trong một hoàn cảnh
tưng bừng náo nhiệt, bí mật gay go; khiến cho, cùng với người lặn lội đi tìm kiếm
kho vàng, các bạn sẽ tưởng tượng như mình cũng là khách phiêu linh, rồi lo sợ
khi thấy các nhân vật mắc nạn rất nguy, rồi mừng rỡ khi thấy họ thoát khỏi lưới
mà bay nhảy vào một cõi cao siêu rực rỡ...
Đái Đức Tuấn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét