Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Những cơn mưa trên mây

Những cơn mưa trên mây 
Phần 1: Mùi ổi dại
Bạch vân thiên tải không du du
Nhật mộ dương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Nghìn năm mây bạc ngẩn ngơ vương
Quê cũ chiều tà xa mất hướng
Trên sông khói sóng gợi sầu thương)
Nguyên bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu dài 8 câu (bát cú) tôi chỉ cần giữ lại ba câu cho cuộc đời luân lạc. Những Hán Dương thụ, Anh Vũ châu ngay cả Hoàng Hạc Lâu tôi không cần vì nó ở tận đẩu tận đâu bên Tàu. Với ba câu mà tôi đã chọn, bạn có thể bỏ vào hành trang và đi đến bất cứ nơi nào cũng  tìm thấy “ bạch vân thiên tải” đang ngẩn ngơ bay trên trời xanh giữa một hoàng hôn đang xuống nơi xứ lạ và ta đứng một mình bên một dòng sông, có thể là dòng “trường giang mọi rợ” của Phạm Công Thiện, hay một dòng trường giang vô tận xứ nào đó… Hoặc giả không cần một dòng sông nào hết, lữ khách cũng có thể cảm nhận khói sóng trong lòng mình đang dào dạt nỗi sầu thương. Lữ khách ngẩn ngơ nhìn bốn bề cố tìm ra cái hướng cố quận của mình.
Nhật mộ dương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Quá khứ là những gì đã qua đi. Những gì còn đọng lại của quá khứ, ta gọi đó là kỷ niệm. Có những kỷ niệm mang hài nhung đi những bước êm đềm vào tiềm thức của ta và ở lại trong tàng thức rồi ngủ vùi như một đứa trẻ thơ. Đứa trẻ thơ này có thể bất chợt thức giấc ở một lúc nào đó, và nó có thể cất lên tiếng khóc hoặc tiếng cười làm lòng ta bùi ngùi tê dại. Kỷ niệm không nhất thiết là một sự việc hay một con người. Lắm khi, đó chỉ là một hình ảnh, một bài nhạc, thậm chí là một mùi hương. Và chỉ cần một chút mùi của quá khứ lại có thể chuyên chở vô vàn những hình ảnh, âm thanh và cảm xúc chung quanh nó…
Mùi hương này là mùi nhớ.
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.
(Nguyễn Du)
Trong cuộc đời, tôi tin rằng mỗi người ai cũng có ít ra là một hay vài cái mùi để mà nhớ. Riêng tôi, tôi có rất nhiều mùi để nhớ. Mùi đất sau cơn mưa, mùi lúa chín, mùi một thành phố lạ… Tôi cho rằng, mỗi một thành phố đều có mùi riêng của nó. Vào cái thời tôi còn lái xe giang hồ lang thang trên nước Mỹ, cứ mỗi lần vào exit một thành phố mới, là tôi nhận ra một cái mùi… rất lạ. Mùi này, không phải ngửi được bằng mũi mà nó nghe được bằng cái toàn thức của tôi. Nếu trong tương lai, có dịp trở lại thành phố đó, tôi cũng lại nhận ra cái mùi này tức khắc. Còn nhiều thứ mùi khác, có thể đeo đẳng theo ta suốt cả cuộc đời. Chẳng hạn như mùi trầu của bà ngoại, mùi dầu Nhị Thiên Đường của má.
Có hai loại trái cây, mà ăn thì không lấy gì làm ngon lắm. Nhưng cái mùi của chúng, lại là những ám ảnh trong thời thơ ấu của tôi. Đó là mùi trái thị. Trái thị rớt bị bà già. Ai cũng biết trái thị ăn không ngon. Nhưng trái nó rất đẹp màu vàng tươi bóng lộng. Cứ giữ trong tay và vò bóp cho nó mềm đi, càng mềm nó càng thơm. Trái thứ nhì là trái ổi, mà phải là ổi dại bên đường, còn gọi là ổi sẻ. Mùi ổi trong vườn không thể nào thơm được bằng mùi ổi dại. Dì ba tôi có một vườn ổi xá lị. Trái rất to, cơm rất dày, ruột lại bé tí, hột cũng mềm ăn được luôn. Ổi xá lị thì ngon hết nói nhưng mùi của nó thì không có gì đặc sắc. Ổi xá lị lại không thể ăn khi quá chín.
Khi cha mẹ tôi quyết định rời bỏ dãy phố mười căn ở Gia Định- Sài Gòn về quê, lúc đó tôi đâu mới bốn, năm tuổi. Đây là tuổi trong giấy tờ, tuổi thật tôi lớn hơn hai tuổi. Vì khi mẹ tôi sinh tôi, cha tôi không thể làm khai sinh cho tôi lúc đó, mà phải hai năm sau mới làm được. Chuyện này tôi sẽ kể sau ở một bài khác. Dãy phố mười căn, nơi tôi có những kỷ niệm thật hoang đường. Như là con ma nữ nằm võng ru con trên vòm cây sao cao ngất ở trước ngõ vào dãy phố. Con chó trắng đốm đen hiểu được tiếng người… Những chuyện này tôi cũng sẽ kể trong những bài khác. Khi gia đình tôi dọn về quê ở làng Tân Thủy, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre, ( còn gọi là tỉnh Kiến Hòa hay Trúc Giang ) tôi được cha tôi cho vào trường tiểu học Xã Diệu, ở cách nhà tôi khoảng một cây số. Có một trường tiểu học khác gần nhà tôi hơn, nếu đi ngược về hướng bờ biển Bãi Ngao, ở đó có một xóm đạo của người Bắc di cư hồi 54, họ dựng một nhà thờ đồng thời vừa làm trường học cho trẻ con trong xóm đạo.
Cha tôi cũng đã dắt tôi đến trường này xem tôi có thích không. Nhưng tôi đã chọn trường Xã Diệu. Phải nói, ở nhà quê, tôi học được rất nhiều trò chơi với những người bạn mới. Những người bạn chất phác, hiền lành như củ khoai, cái kẹo. Những trò chơi này, trẻ con ở thành phố Sài Gòn không thể nào biết được. Nó cực kỳ lý thú. Có đầy đủ những tính chất mạo hiểm, sáng tạo và độc đáo. Chẳng hạn như dùng những cục khí đá đặc, bện vào gốc một bó rơm, đắp bùn dẻo chung quanh cái gốc, rồi nhét cái gốc vào một cái lon (có thể là một lon sữa đã hết). Xong đốt phần rơm còn ló ra ngoài, đến lúc phần rơm cháy hết sẽ gây ra một tiếng nổ “ bùm” và chiếc lon nảy tưng văng lên. Những chiếc ná ở nhà quê cũng đặc biệt. Những chiếc ná của trẻ con Sài gòn thường bằng gỗ cưa ra, hoặc bằng một chạc cây, thường là cây ổi hoặc là một loại cây có thân dẻo. Nhiều lắm là bằng sắt uốn. Ở quê tôi, loại ná bằng chạc cây ổi là hạng bét, phải ná bằng rễ cây bần. Ná rễ bần cũng có nhiều hạng. Có những rễ bần đã được chui trong tro than, lại ngâm xuống sình một thời gian rồi mới lấy ra làm ná. Lại có những chiếc ná đã được lên nước bóng lộng, nhưng tuyệt chiêu hơn hết là ná bằng sừng trâu. Tôi đã từng được lũ bạn nhà quê tặng một cái ná rễ bần, và một cái ná sừng trâu. Đó là những bảo vật thời thơ ấu của tôi. Và bi để bắn với những chiếc ná này phải là đất sét vo lại thật tròn, lấy nước vuốt bên ngoài cho thật bóng lọng rồi phơi nắng cho khô.
Thời đó, trẻ con đi học một ngày hai buổi. Buổi sáng đến lớp vào lúc 7 giờ học đến 9 giờ kém mười lăm được ra chơi mười lăm phút, rồi trở lại học đến 11 giờ thì được về nhà ăn cơm và ngủ trưa, đến 2 giờ thì trở lại lớp học, 4 giờ thì tan trường.
Mỗi ngày tôi đi học với một con bé tên là Hồng Nga. Nó bằng tuổi tôi nhưng phải gọi tôi bằng chú vì nó là con của anh Ba Tải. Anh Ba Tải trạc bằng tuổi ba tôi, nhưng lại là con của dì ba. Dì ba là chị ruột của mẹ tôi, mẹ tôi thứ chín. Ngoài ra tôi còn có thằng bạn gần nhà cũng cùng đi học với tôi. Nó tên là Sáu Bụng. Thật ra, nguyên hỗn danh của nó là Sáu Bụng Bự, nhưng lâu ngày, gọi gọn đi thành ra là Sáu Bụng. Nó có chiếc bụng rất to, mà theo truyền thuyết thì trong đó toàn là sán lãi. Thằng này ở dơ có hạng. Còn nữa, tôi có một con chó mực. Mỗi ngày nó đều theo tôi đến trường, đợi tôi vô lớp xong nó quay về nhà chờ đến lúc tới giờ lại đi đón tôi ở trường và đưa tôi về nhà… Thường trên đường đi học, tôi và thằng Sáu Bụng hay la cà ở những lùm bụi ven đường. Hoặc chui vào những ống cống ngập nước mưa để đùa giỡn. Những ống cống ở nhà quê có đường kính rất to, có thể cao hơn một người lớn. Mỗi bận trời mưa, nước mưa ngập đầy trong cống, nước rất sạch và là nơi cho bọn nhỏ học trò chúng tôi đùa chơi thỏa thích. Cứ mưa xuống, là bọn trẻ con chúng tôi vui mừng hết nói. Tắm mưa, đùa giỡn với nhau trong mưa, ngụp lặn dưới cống để chơi mưa… không còn gì thích bằng. Muốn được đùa chơi tự do như vậy, tôi phải dụ khị con Hồng Nga đi học trước hoặc là đi về trước để cho tôi thong dong mà chơi với bạn.
Có một hôm trời nắng gắt, dù là đã 4 giờ chiều, giờ tan học. Tôi, con Hồng Nga, thằng Sáu Bụng, con Mực của tôi cùng tung tăng kẻ trước người sau trên đường về nhà. Khi đi gần đến chỗ ống cống nơi có nhiều lùm bụi nhất, tôi bỗng nhiên ngửi được một mùi thơm ngào ngạt, mùi ổi chín. Tôi hỏi:
“Tụi bây có nghe mùi gì không?”
Con Hồng Nga chun chun cái mũi, thằng Sáu Bụng thì hít lấy hít để. Rồi cả hai đứa cùng nói một lượt:
“Ừ! Có mùi ổi chín!”
Tôi nói:
“Mình đi kiếm nó đi.”
Con Hồng Nga nói:
“Chiều rồi mình phải về, chú Tám ơi.”
Tôi không quan tâm tới điều Hồng Nga nói, tôi nhìn thằng Sáu Bụng. Nó gật đầu. Thằng Sáu Bụng thoăn thoắt đi trước, tôi bám sát lấy nó. Con Mực vừa ủng ẳng vừa ve vẩy đuôi chạy theo tôi. Tôi quay lại nói nhanh với Hồng Nga:
“Mày về trước đi. Kiếm được ổi tao phần cho mày ba trái.”
Con Hồng Nga nhăn nhó, ngần ngừ, nhưng rồi cuối cùng cũng quay lưng bỏ đi.
Thằng Sáu Bụng lách vào chỗ những lùm cây, hai tay nó vẹt những cành lá hai bên, mắt nó láo liên tìm kiếm. Tới chỗ có đầy những dây nhãn lồng, với những trái chín có màu vàng đỏ. Những trái sống thì có màu xanh. Chung quanh, mỗi trái đều có một cái “lồng” như lưới màu trắng bao bọc. Lúc đó tôi chưa biết đấy là cây nhãn lồng. Thằng Sáu Bụng bứt một trái màu vàng đỏ, tháo bỏ lớp bọc bên ngoài, nó bóp nhẹ nghe một tiếng “bụp” nhỏ. Cái trái vỡ ra, bên trong là những hột như hột é. Mỗi hột có một chấm đen ở giữa được bọc chung quanh một lớp cơm màu trắng đục. Nó đưa lên mồm hút lấy những hột đó nhóp nhép nhai. Tôi hỏi:
“Trái gì vậy ? Ăn được hả ?”
Thằng Sáu Bụng nói:
“Trái nhãn lồng. Ăn được chứ sao không.”
Nó bứt một trái chín đưa tôi. Tôi cũng bắt chước làm y như nó. Bỏ cái lớp bọc bên ngoài, rồi bóp vỡ trái nhãn ra. Tôi hút những cái hạt của trái nhãn lồng. Cũng có mùi hơi thơm thơm… khó tả. Nhưng vị thì nhạt phèo. Tôi nghe mùi ổi dại càng nồng nàn hơn. Tôi nói:
“Mình đi kiếm ổi đi.”
Thằng Sáu Bụng gật đầu, dấn bước. Nó lại tiếp tục vạch vạch tìm tìm. Bỗng nhiên nó la lớn:
“Đây rồi!”
Tôi phóng tới bên cạnh nó. Một cây ổi thấp lè tè, nhưng tán lá chung quanh khá rộng. Những  trái ổi xanh, vàng, đỏ, chi chít trên cây. Trái nhỏ nhất thì bằng đầu ngón tay cái của tôi. Trái to nhất thì bằng cườm tay của tôi lúc đó.
Con Mực sủa gâu gâu. Tôi và thằng Sáu Bụng thi nhau hái những trái ổi chín. Tôi lấy một trái to nhất chùi chùi vào áo, rồi đưa lên mồm cắn. Nó cũng ngọt nhưng hột thì quá nhiều. Lớp cơm mỏng không tới nửa xen ti mét, còn lại toàn hột là hột. Nhưng hột thì với một màu đỏ hồng rất đẹp. Dù không thấy ngon gì lắm, nhưng tôi ăn hết trái này đến trái khác, còn hái bỏ đầy hai túi quần short. Nó không ngon nhưng mùi quá thơm và vị thì rất lạ. Hơn nữa lại là ổi do mình tự hái trên cây xuống và ăn liền tại chỗ. Đó là kỷ niệm ăn ổi dại lần đầu của tôi. Từ đó về sau, cứ mỗi lần nghe mùi ổi dại bên đường là tôi phải tìm ra được nó mới thôi. Tìm ra được cây ổi dại bên đường là một khám phá, là một niềm vui của tuổi thơ. Những trái ổi thu hoạch được, là một chiến tích… nhưng cũng là thương tích. Vì hôm đó về nhà, tôi bị cha tôi phạt quỳ gần một tiếng đồng hồ, ê cả hai đầu gối. Lại nữa, vì ăn quá nhiều ổi nên buổi chiều tôi bỏ cơm. Và bao nhiêu ổi ăn vô, thì đi ra còn nguyên như vậy, chỉ toàn hột ổi là hột ổi.
Cuộc đời là thế, có những thứ mùi hương thì rất thơm nhưng thực chất thì chẳng ngon lành gì mà lắm khi còn làm ta bị… thiệt hại. Nhưng nói gì thì nói, mùi ổi dại vẫn là một mùi rất quyến rũ với tôi. Cách đây hơn năm, một hôm nhà tôi đi chợ về. Tôi vừa mở cửa cho nàng đã nghe mùi ổi bay ra từ trong mấy chiếc túi xách. Tôi hỏi nàng:
“Có mùi gì giống mùi ổi chín?”
Nàng cười: “Ừ. Hôm nay có quà cho anh đây. Ổi sẻ ngày xưa.”
Tôi đã từng kể chuyện về thú tìm ổi dại cho nàng nghe. Nàng đưa mấy trái ổi vào mũi tôi: “Đi chưa tới chợ đã nghe mùi thơm. Có đúng là ổi sẻ không anh?”
Tôi cầm hai trái lên lòng bàn tay, xoay nhẹ.
“Đúng là trái ổi sẻ. Nhưng không thơm bằng ổi dại ngày xưa. Ổi sẻ chỉ để ngửi chứ không nên ăn.”
Nhưng ngay cả bây giờ, anh trở về chốn cũ, gặp lại đúng cây ổi ngày xưa trĩu đầy trái chín thì cái mùi của nó cũng không còn như mấy chục năm về trước. Phải không em?
PHẦN 2: GIÓ BỤI MỊT MỜ
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề
Thùy tạo nhân
Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt
Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Cửu trùng ánh kiếm khởi dương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân
Thanh bình tam bách niên thiên hạ
Tống thử nhung y thuộc võ thần
Ông Đặng Trần Côn hiển lộng Chinh Phụ Ngâm Khúc trong thể cổ phong bao nhiêu thì bà Đoàn Thị Điểm cũng đã tài hoa tót vời đem Chinh Phụ Ngâm Khúc vào thể song thất lục bát bấy nhiêu:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín lần gươm báu trao tay
Nữa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao Quan vũ từ đây
Tôi đã từng viết: Thơ Đường và Chinh Phụ Ngâm chỉ nên đọc một mình trong phòng vào lúc trời mưa. Như vậy sẽ thấy thơ Đường hay Chinh Phụ Ngâm Khúc thấm thía và tuyệt vời hơn. Lúc viết điều trên, tôi chỉ viết ra vậy như một cảm nhận nhưng đã không nghĩ được duyên do hà cớ là tại sao. Nhưng hôm nay khi viết những câu Chinh Phụ Ngâm cổ phong của Đặng Trần Côn, rồi lại viết những câu dịch theo thể song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, tôi hoát nhiên ngộ ra nguyên cớ của sự vụ thơ Đường lại có can hệ với thể thơ song thất lục bát của Việt Nam và trời mưa. Nhịp điệu của thơ Đường luôn gợi lên trong chúng ta một phong vị cổ kính và như ẩn chứa một thế giới nào xa thẳm. Song thất lục bát của Việt Nam mượn hai câu trên bảy chữ là mượn cái phong vị cổ kính xa thẳm của thơ Đường. Nhưng ở hai câu bảy chữ thì chữ cuối của câu trên lại hợp vận với chữ thứ năm của câu dưới tạo ra một tiết tấu thơ rất lạ, rồi ngắt nhịp bằng một câu sáu, lại mở ra bằng câu tám của ca dao lục bát Việt Nam. Ngoài ra, vần của hai câu bảy chữ có thể biến đổi phóng túng lạ thường, có khi chữ cuối của câu thứ nhất vận với chữ thứ ba của câu thứ hai. Vừa là mở ra vừa đóng lại, vì thế cho nên theo tôi, thể thơ song thất lục bát của Việt Nam cực kỳ đặc biệt. Nó vừa cổ kính xa thẳm lại vừa nhịp nhàng mở đóng như mời gọi người ta vào thế giới xa thẳm đó. Lại vừa hứa hẹn trong thế giới tuy xa thẳm cổ kính kia cũng sẽ có những điều rất thú vị tân kỳ.
Song thất lục bát là thể thơ không được phổ biến lắm, nhất là đối với người đời nay. Người ta chỉ thường viết hay nhắc tới thể thơ lục bát. Tôi thích đọc Chinh Phụ Ngâm hơn cả truyện Kiều.
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Khi trời đất đã nổi cơn gió bụi, thế sự đã đảo điên tao loạn rồi thì cứ gì là hồng nhan mới phải gian truân. Thời tao loạn, thì sanh linh đồ thán, trăm họ lầm than là cái họa chung phủ trùm lên chúng sinh muôn loài. Loài hữu tình hay loài vô tình cũng là chúng sinh trong cõi vô biên.
Cha tôi ở thế hệ rớt sót lại của nhà nho. Tôi gọi đây là thời kỳ nho mạt. Những nhà nho lỡ vận. Những người học chữ nho nhưng không còn cơ hội để thực hiện giấc mơ đã nửa đường gãy gánh. Cái giấc mơ vinh quy bái tổ, tàng lọng về làng hay võng anh đi trước võng nàng theo sau. Cái thời buổi của nho học tiếp giáp với tân học hay Tây học. Triều đình Việt Nam đã rệu rã thì còn gì mà thi với cử, giặc Pháp đã chiếm nhiều phần của đất nước Việt Nam. Văn hóa cũng đã thay đổi. Chữ Nho đã dần dà được thay thế bằng tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latin. Trước thế hệ cha tôi, phải nói là từ thời cụ Tú Xương, cái dấu hiệu tàn phai của chữ Nho đã bắt đầu đậm nét. Hãy nghe cụ Tú Trần Tế Xương giễu cợt:
Nào có ra gì cái chữ Nho!
Ông nghè, ông Cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm ông Phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò!
Hoặc mỉa mai:
Mợ bảo vần Tây chẳng khó gì! (1)
Cho tiền đi học để chờ thi
Thôi thôi lạy mợ “xanh căng” lạy (2)
Mả tổ tôi không táng bút chì!
Cha tôi học chữ Nho từ nhỏ cho tới năm mười chín tuổi với ý định ra Huế đi thi. Nhưng rồi ông nhận ra rằng chữ Nho đã thực sự hết thời, triều đình gần như không còn là một thực thể. Tôi còn nhớ, ông đã giảng cho tôi nghe ông học chữ Nho tới “biện”. Học tới “biện” có nghĩa là học trò chỉ ngồi nghe sách và cùng với thầy bàn luận về những điều trong sách đã nói. Dĩ nhiên sách ở đây là Tứ thư Ngũ kinh, Luận ngữ, hay Xuân thu Chiến quốc gì đó. Khi nhận ra chữ Nho đã hết thời, ông quyết định tự học chữ “Quốc ngữ” là chữ mà chúng ta đang sử dụng thời nay. Và đồng thời ông cũng đã tự học chữ Pháp. Ý chí và sự kiên quyết nhẫn nại của ông luôn luôn là niềm hãnh diện cho tôi và nhắc nhở tôi phải gắng noi theo ông.
Ông cũng đã từng đi theo Việt Minh cùng thời với Nguyễn Thị Định và Đồng Văn Cống, từng là Thanh Niên Xung Phong vác gậy tầm vông chống Pháp. Đang lúc bị Pháp truy nã thì ông nhận ra nhiều dấu hiệu để biết rằng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đang dần dà biến thể để trở thành Việt Nam Cộng Sản. Ông rời bỏ Việt Minh. Vì thế, ông cùng lúc bị cả Pháp lẫn Việt Minh truy lùng. Chính trong thời gian đó, mẹ tôi đang mang thai tôi và sắp đến ngày sinh…
THẰNG ĐẺ NGƯỢC
Những việc tôi sắp kể ra đây là chắp nối từ những mẩu chuyện do cha má và hai chị tôi qua ngày tháng ghép lại mà thành. Cứ mỗi khi tôi bướng bỉnh hay cứng đầu lì lợm thì má hoặc hai chị tôi lại than phiền:
“Đúng là cái thằng đẻ ngược, khó dạy hết biết!”
Tuy nhiên theo truyền thuyết thì một thằng đẻ ngược như tôi cũng hữu dụng. Nếu có một ai đó ăn cá mắc xương, cứ nhờ tôi, tức là thằng đẻ ngược dùng những ngón tay vuốt vuốt dọc xuống chỗ cuống họng thì sẽ hết mắc xương. Chẳng biết truyền thuyết này có xác thực hay không vì cho đến ngày hôm nay tôi chưa có dịp thử nghiệm lần nào. Nhưng hầu hết người Việt Nam thuộc thế hệ từ hai chị tôi cho tới lớn hơn đều tin như vậy.
Câu chuyện tôi chào đời cũng được má tôi và hai chị dăm ba lần kể lại như sau: Vào một đêm nọ, trong lúc chèo xuồng đưa gia đình đi trốn thì má tôi đau bụng, có vẻ như đã đến lúc lâm bồn. Vì tính theo ngày tháng thì đây là thời gian mà tôi sẽ chào đời. Trên xuồng có bác Ba tôi, tên là bác Đẩu, là anh kế của cha. Bác có mang theo một con gà trống, loại gà đá. Đang trèo xuồng đi trốn Tây và trốn Việt Minh, trong lúc má tôi đang đau bụng đẻ mà con gà trống cứ chốc chốc lại gáy lên ò ó o. Cha tôi và mọi người đều lo sợ bị những nút chặn tuần tra của Tây hoặc Việt Minh để ý. Cha tôi nói với bác:
“Anh Ba làm sao thì làm, nhưng đừng để Tây hay Việt Minh tụi nó nghe tiếng gà gáy mà ùa ra hốt cả nhà!”
Bác Ba Đẩu lè nhè:
“Gà gáy thì mắc gì mà sợ. Hổng lẽ chú muốn tôi bóp cổ con gà?”
Càng lúc má tôi càng quằn quại rên rỉ. Cha tôi thì vỗ về má tôi, hai chị và anh Bảy tôi ngồi co gối thu lu ngủ gà ngủ gật. Còn bác Ba vuốt ve dỗ ngọt con gà trống cho nó đừng gáy. Má tôi càng lúc càng rên la lớn hơn, cuối cùng cha tôi phải tấp vào một cái cồn nhỏ (cù lao) có tên là Cồn Hố. Cha tôi để mọi người ở đó và nhờ bác Ba Đẩu trông chừng. Cha tôi nói:
“Anh Ba coi chừng giùm mấy đứa nhỏ với má nó. Tôi vô bãi Ngao tìm bà mụ.”
Thế là một mình cha tôi chèo xuồng ngược về bãi Ngao, lỏn vô chợ để tìm một bà mụ đón về lo cho má tôi.
Cuối cùng, ông đã đón được bà mụ tên Út Chấm, ông còn mua mang theo được 7-8 lít rượu đế để bà mụ rửa tay. Vừa tấp ghe vào cồn và cùng bà mụ lên bờ, ông vừa hối hai chị tôi và bác Ba Đẩu nhóm lửa nấu nước. Ông đưa bà mụ đến bên má tôi và khệ nệ mang theo những chai rượu đế. Tôi ra đời nhờ sự tận tụy của bà mụ tên Út Chấm đó. Điều đáng nói là tôi cứ loi choi hai chân ra trước chứ không chịu chui ra bằng đầu như hầu hết những đứa trẻ khác. Bà mụ Út Chấm tán thán:
“Con trai. Thằng nhỏ này lớn lên lì lắm đây. Đẻ giữa rừng mà lại ra ngược thì hết chỗ nói.”
Rồi bà nói với cha tôi:
“Ông Tư ơi! Thiếu đủ thứ hết mà nó ra ngược. Còn hai cánh tay của nó mới khó.”
Cha tôi năn nỉ bà:
“Bà Út ráng giùm. Tội nghiệp thằng nhỏ.”
Bà Út Chấm nói:
“Thì tôi ráng hết sức chớ.”
Rồi bà mụ Út Chấm cũng đã lôi được tôi ra. Nhưng vì sinh ra trong tình huống như vậy nên người tôi hơi bị lệch, một vai cao một vai thấp. Và sau này lúc đi học hay bị mấy đứa bạn cùng lớp trêu chọc nên tôi thường đánh nhau với chúng.
Từ sự việc khi đi học cứ bị bọn bạn cùng lớp trêu chọc nên phải đánh nhau, mỗi lần đánh nhau là tôi thua vì yếu sức hơn bọn chúng, nhưng không vì thế mà tôi sợ, tôi mày mò tìm cách học võ. Sự vụ tôi “tầm sư học võ” hết thầy này đến thầy khác tôi sẽ kể ở một bài khác.
Câu chuyện tôi được sinh ra như thế nào và trong hoàn cảnh ra sao trở thành một thứ “cổ tích hiện thực” vì nó được chắp vá nuôi nấng từ những mẩu chuyện nhỏ giữa cha má và anh chị khi nói về tôi từ cái thuở còn bé tí, qua năm tháng đến hôm nay. Cái cổ tích hiện thực đó cứ chập chờn trong đầu tôi khi mờ khi tỏ, hình ảnh má tôi nằm sinh tôi ở giữa rừng, chung quanh là cha tôi, hai chị và anh Bảy tôi. Đặc biệt là hình ảnh bác ba Đẩu đang cầm chai rượu đế đưa lên miệng tu cứ làm tôi thấy nôn nao trong lòng.
Có lẽ vì má tôi sinh tôi vất vả và đau đớn như vậy nên bà thương tôi nhất nhà, hơn cả thằng em út của tôi sau này. Má tôi rất hiền. Tôi chưa từng nghe bà cãi lại cha tôi một lần nào cả. Má tôi để dành tiền trong chiếc gối nằm ngủ hàng ngày. Tiền bà xếp ngay ngắn rồi gói trong chiếc khăn tay, bọc ngoài một lớp giấy dầu. Mỗi khi đi đâu, nếu có mang theo ít tiền trong túi, má cũng gói ghém kỹ lưỡng và cài miệng túi lại bằng một cây kim tây. Tôi là đứa con hay được má cho tiền. Mỗi lần tôi vòi vĩnh, má lại mắng:
“Sao không lại mà xin cha mày?”
Bà không ăn con cá lớn, những ngày cuối đời bà ăn chay trường và thường niệm bạch y thần chú. Bà không biết đọc, bạch y thần chú là do tôi đọc cho bà thuộc lòng. Hồi tôi còn nhỏ má tôi đi đâu thường dắt tôi theo. Thỉnh thoảng bà ăn trầu. Cái mùi trầu và mùi dầu Nhị Thiên Đường bà hay xài là cái mùi thân thương suốt thời thơ ấu của tôi.
Lúc má tôi bệnh nặng, tôi đang ở xa nhà. Một buổi sáng trong phòng trọ ở Pleiku, trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, tôi nhìn thấy má tôi ngồi ở cửa sổ nhìn tôi cười buồn. Tôi biết ngay rằng má đã mất liền vội vàng về Sài Gòn. Tôi vừa bước vào nhà, chị Tư tôi đã hỏi:
“Ủa, cha vừa mới đánh điện tín lúc nãy mà em đã về tới rồi. Má mới mất tối qua.”
Tôi không nói gì hết, lẳng lặng bỏ ra sau nhà ngồi lên chiếc võng má tôi hay nằm. Tôi đã ngồi yên như vậy để nghe cái mùi của má tôi còn vương vấn trên chiếc võng và quanh quất đâu đó.
Chú thích:
(1) Vần Tây: chữ quốc ngữ.
(2) Xanh căng: 50 (tiếng Pháp).
Ngày 24 tháng 2 năm 2017
Trần Nghi Hoàng
Theo http://vietpostmagazine.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...