Thăng Long - Hà Nội trong sáng tác
của một số nhà văn dòng văn học
yêu nước đô thị miền Nam
(1954 – 1975)
Từ lâu, Thăng Long - Hà
Nội đã trở thành niềm tự hào to lớn, nỗi xúc cảm trào dâng trong tình cảm, tâm
hồn của những người con đất Việt khi hướng về Thủ đô nghìn năm văn hiến.
Còn nhớ những vần thơ viết năm 1946 tại
chiến khu Đ chứa chan nỗi nhớ cháy lòng của “thi tướng rừng xanh” Huỳnh Văn
Nghệ (1914 – 1977), cũng là nỗi lòng chung của bao người con miền Nam hướng về
đất Bắc:
Ai
đi về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
(Nhớ Bắc)
Thật vậy, kể từ khi Lý Thái Tổ chọn Thăng
Long định đô năm 1010, Thăng Long – Hà Nội đã đi vào sáng tác của rất nhiều nhà
văn và là nơi để họ kí thác tâm tư, tình cảm như Du Tây Hồ bát vịnh (Chơi
Hồ Tây vịnh tám cảnh) của Nguyễn Mộng Tuân (? - ?); Tây Hồ
xuân oán (Nỗi oán xuân bên Tây Hồ), Tràng An xuân mộ (Chiều
xuân ở Tràng An) của Thái Thuận (1441 - ?), cả hai đều sống ở thế kỉ XV; Vịnh
Văn Miếu thi (Thơ vịnh Văn Miếu), Vịnh Văn Miếu bi thi (Thơ
vịnh bia ở Văn Miếu), Khán Sơn tự thi (Thơ vịnh chùa Khán Sơn)
của Trịnh Căn (1633-1709); Phong cảnh Tây Hồ, Tụng
Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng (? – 1808); Thăng Long thành
hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan (? - ?); Du Tây Hồ bát tuyệt (Tám
bài tứ tuyệt chơi Hồ Tây) của Cao Bá Quát (1809 – 1854)… Mãi đến thời hiện đại,
cả quãng thời gian dài hai mươi mốt năm chia cắt đất nước, Hà Nội luôn là nguồn
cảm hứng của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Tha thiết nhất vẫn là các nhà văn dòng
văn học yêu nước đô thị miền Nam (1954 – 1975) sinh ra, lớn lên, hay có nhiều
kỉ niệm gắn bó với miền Bắc như Trần Tuấn Khải, Vũ Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Giản
Chi, Lữ Phương, Thái Bạch, Đông Tùng, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Nguyên, Thế
Nguyên... Với họ, Hà Nội bao giờ cũng gợi lên những hoài niệm đẹp đẽ về một
vùng đất có thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp, có truyền thống lịch sử - văn hóa đầy
tự hào.
Kể cũng khá lâu, từ khi xa Hà Nội vào Nam
theo sự phân công của tổ chức, Vũ Bằng trong Tháng Giêng mơ về trăng
rét ngọt (in trong tập kí Thương nhớ mười hai- 1972)(1) nhiều
lần đã nói lên nỗi nhớ xốn xang về thiên nhiên mùa xuân Hà Nội, “có mưa riêu
riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng
lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như mộng… Người
yêu cảnh, vào những lúc trời đất mang mang như vậy, khoác một cái áo lông, ngậm
một ống điếu, mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như
nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó
– có lẽ là sự sống!”. Nhà văn còn gợi ý rằng: “Anh có thể đạp cỏ trên Hồ
Gươm, đợi đến xẩm tối ra ngồi ở Thủy Tạ nhìn các cô gái đẹp như tiên mặc áo
nhung, áo len trăm màu ngàn sắc, in bóng xuống đáy nước lung linh; anh có thể
vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống, “mở quả mứt” phong bao cho các chị em,
rồi uống với mấy em một ly rượu “lấy may”; anhcó thể đi vào một ngôi chùa khói
nhang nghi ngút, đưa mắt nhìn xem có cô nào thực xinh thì quì ngay xuống bên
cạnh cầu Trời khấn Phật cho cô càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng
xứng ý như… anh vậy ”. Và còn nhiều, rất nhiều cái đẹp khác nữa khiến
“lòng người sầu xứ” dù đang hít thở cái “sinh khí tươi trẻ” của
miền Nam vẫn không cảm thấy khuây khỏa được, “mà trái lại lại làm cho y rầu
rĩ hơn, nhớ thương hơn những tháng giêng Bắc Việt đã qua rồi ”.
Nhớ cái Tết Hà Nội, Vũ Bằng không ngớt say
sưa về những sọt thủy tiên. Bởi vì theo tác giả, “hễ cứ bao giờ nói đến
chuyện thủy tiên thì lòng mẹ tôi cũng nao lên một niềm tưởng nhớ xa xôi. Ấy là
mẹ tôi nhớ đến thày tôi vậy. Bây giờ ngồi nghĩ lại quãng thời gian đó xa lắm
rồi; nhưng tôi vẫn không thể quên được những ngày gần Tết, hồi tôi
còn nhỏ, không năm nào mẹ tôi không mua ở Hàng Buồm về mấy sọt thủy tiên”.
Và hồi ức ông luôn hiện lên hình ảnh: “Thày tôi mê gọt lắm, mất ăn mất ngủ
vì thủy tiên, sinh ra ốm, ra đau vì thủy tiên”. Nhất là khi, “không một
lúc nào hai cuộc thi thủy tiên ở đền Bạch Mã và Ngọc Sơn không ám ảnh đầu óc
thày tôi”(2).
Mỗi mùa mỗi nét đẹp riêng như vậy đã gắn
liền với kí ức sâu đậm trong lòng người xa xứ về Hà Nội, vùng đất tiêu biểu cho
miền Bắc yêu thương.
Đến đây, có lẽ cần phải nói thêm rằng, Hà
Nội – như tên gọi của nó – là thành phố “bên trong những con sông”. Vì thế,
những kí ức về Hà Nội xa xưa bao giờ cũng pha lẫn với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị
của những làng quê đồng bằng, tạo nên những đặc trưng mà không phải thành phố
nào trên thế giới cũng có được.
Kín đáo nói lên nguyện vọng thống nhất đất
nước của nhân dân hai miền Nam – Bắc, nỗi nhớ Thăng Long – Hà Nội, nhớ miền Bắc
thân yêu xuất hiện trong khá nhiều sáng tác của các nhà văn đô thị miền Nam sau
1954. Quê Bình Định nhưng gắn bó lâu dài với miền Nam, Lê Vĩnh Hòa trong truyện
ngắn Bên rặng tre già(3) đã miêu tả thật xúc động
nỗi lòng của anh Dần từ miền Bắc vào Nam sinh sống. Cứ mỗi khi chiều xuống,
những buổi chiều lặng lẽ trên sông vắng, lòng người dân chài như anh lúc nào
cũng dâng lên nỗi nhớ da diết mảnh đất quê hương. May thay, hình ảnh “Đọt
tre ẻo lả, tiếng kẽo kẹt êm đềm” gặp được trên bước đường xa quê đã xoa dịu
phần nào trong anh nỗi nhớ da diết mảnh đất quê hương. Càng trân quý hơn, nỗi
nhớ ấy đã tìm thấy sự đồng cảm ở anh Năm Theo mỗi khi người nông dân đất Đồng
Nai này nhớ lại: “mười mấy năm về trước mình cũng đã ngồi y như vậy nơi đất
lạ quê người”. Và một lời mời thốt ra từ mối quan hệ giống nòi nghe sao mà
mát ruột mát lòng: “Anh Hai! Anh Hai à! Chưa đi chài ghé lên bờ uống nước,
nói chuyện chơi cho đỡ buồn, ở đâu cũng bà con hết mà, đừng ngại…”. Rõ ràng
trong tình cảm, tâm hồn con người Việt Nam, tình yêu thiên nhiên, xóm làng, quê
hương lớn dần lên thành tình yêu đất nước, dân tộc gắn liền với nhận thức “Bắc
Nam là một”. Đúng như Viễn Phương đã viết:
Kể
từ sóng gợn Cửa Tùng
Quê tôi mơ cảnh tương phùng Bắc Nam
Những chiều bạc sóng Trường Giang
Lắng nghe tiếng hát buồn ngân cuối ghềnh:
Hò ơ… Phải chi ta hóa được con thuyền
Ra sông Bến Hải để nối liền Bắc Nam…
(Tiếng hát quê hương
tôi) (4)
2. Thức nhận về một
không gian lịch sử - văn hóa truyền thống đầy tự hào
Dù sống và viết trong một giai đoạn cực kì
khó khăn, nguy hiểm bởi sách lược đàn áp, khủng bố của chính quyền Sài Gòn
trước năm 1975, các nhà văn dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam bằng mọi cách
có thể đều cố gắng đem đến cho người đọc sự nhận thức, lí giải về những vấn đề
gắn liền với lịch sử - văn hóa dân tộc nói chung, với không gian lịch sử - văn
hóa truyền thống đầy tự hào của Thăng Long – Hà Nội nói riêng.
Xác của một dân tộc là
lãnh thổ, dân số, là cơ cấu nhà nước, tức là tất cả cái phần thực thể hũu hình
để được gọi là một quốc gia. Hồn của một dân tộc chính là lịch sử và văn hóa.
Lịch sử là chuỗi ký ức
tập thể, nhờ đó một dân tộc ý thức được nguồn gốc của mình và sự trường tồn,
lớn mạnh của mình trong thời gian.…
Nhờ văn hóa, dân tộc mới
ý thức chính nó như là một thực tại duy nhứt không thay thế được trên trái đất
này.
(Văn hóa, võ khí bảo
vệ dân tộc) (5)
Thật vậy, lịch sử và văn
hóa luôn là linh hồn, là cách khẳng định thuyết phục sự tồn vong của một dân
tộc, nhất là khi dân tộc ấy đang đứng trước làn sóng xâm lăng về văn hóa của kẻ
thù xâm lược. Trong một bài thơ được rất nhiều độc giả yêu thích - Một
thế kỉ mấy vần thơ (6), Truy Phong đã không quên nhắc đến dấu mốc
của một thế kỉ anh dũng và đau thương mà dân tộc ta vừa mới trải qua:
Một
ngàn chín trăm năm sáu (1956)
Một ngàn tám trăm sáu hai (1862)
Trăm năm một giấc mộng dài hãi kinh!
Rồi nhớ lại những ngày:
Thành
Đà Nẵng tan hoang vì đại bác
Xác anh hùng Đình Lý hóa tro bay!
Giữ Gia Định, Duy Ninh liều mạng thác
Ôm quốc kì tuẫn tiết giữa trùng vây!
Phan Thanh Giản nuốt hờn pha thuốc độc
Bởi xâm lăng bắt nhượng nước non này!
Và kinh thành Thăng Long khi ấy:
Thất Kinh thành, Hoàng Diệu ngã trên thây!...
Nhà thơ khẳng định mạnh mẽ:
Hà
Nội kinh thành trang chiến sử
Sài Gòn đô thị rạng anh tài.…
Việt Nam nước của tôi:
Già như trẻ
Gái như trai
Chết thì chịu chết
Không ngừng bày tỏ tình
cảm yêu mến, tự hào của người dân phương Nam với vùng văn hóa Thăng Long – Hà
Nội, ở một số truyện ngắn “ít nhiều mang tính tự truyện, cũng chứa đựng một
mảnh tâm sự riêng, một chút kỉ niệm riêng sâu sắc, ngọt ngào” (Trần Hữu Tá) (7),
Võ Hồng đưa người đọc trở về không gian Hà Nội thời Pháp - Nhật chiếm đóng
trước năm 1945 với những ngôi trường, con phố, nhà trọ, những bạn bè cùng lứa,
cả những mối tình dang dở khó quên của thời học sinh trung học. Đó là hình ảnh
của nhân vật “tôi” cùng bạn Hoàng Gia Lý trong Hoài cố nhân (8) quen
nhau từ thuở cùng học bậc tiểu học ở trường tỉnh tận Sông Cầu (Phú Yên). Vậy mà
bẵng đi mấy năm, dù thật bất ngờ, cả hai lại có dịp ngồi trên “Hai chiếc xe
cao su đưa chúng tôi về nhà trọ ở phố Sinh Từ. Lý bàn ngay đến việc học. Anh
quyết định xin vào học lớp Seconde (tương đương lớp 11 thời nay – Chú
thích của tác giả) trường Thăng Long”. Việc học hành đan cài với
câu chuyện tình ngang trái của hai người yêu nhau: Lý và Xuân. Rồi “Chiến
tranh mỗi ngày mỗi tràn lấn sang Việt Nam, đã đến giai đoạn phi đội Mĩ chiếu cố
đến các căn cứ quân sự Nhật ở Việt Nam, thả bom trúng đích hơn và thường xuyên
hơn. Sài Gòn bị ném bom. Hà Nội bị ném bom”. Thế là, mỗi người mỗi ngả. Kẻ
còn, người mất. Theo thời gian, tất cả giờ chỉ là kỉ niệm. Cũng như nhiều
người, nhân vật “Tôi đâu có nhiều thì giờ để năng nhớ đến Lý. Chỉ thỉnh
thoảng khi nào mở sách ra là lòng lại bồi hồi nhớ đến người bạn xưa”. Câu
chuyện phảng phất nỗi buồn nhưng làm cho người đọc càng thêm tin yêu vào cuộc
sống và con người. Phải chăng đó là lí do để Võ Hồng nhớ đến một thời gắn bó
với Hà Nội xưa? Cũng là cách để nhà văn thể hiện tình cảm đối với Hà Nội trong
hoàn cảnh Nam – Bắc chia cắt lúc bấy giờ?
Với Nguyễn Văn Xuân, “nhà Quảng học” (theo cách gọi của Dương Trung Quốc), thì
“chắc chắn Hà Nội đã từng là nơi nuôi dưỡng khát vọng văn chương của ông lúc
còn rất trẻ. Đó là lúc mà chàng trai 17 tuổi từ xứ Quảng gửi bài báo đầu tiên
ra cho tờ báo “Dân” ở Hà Nội; rồi năm sau là truyện ngắn đầu tay của ông “Bóng
tối và Ánh sáng” được tờ Tạp chí “Thế Giới” cũng ở Hà Nội tặng giải nhất” (9).
Tuy sự nghiệp văn chương đều dành trọn cho xứ Quảng quê hương, nhưng không vì
thế mà cái nhìn của Nguyễn Văn Xuân không vượt ra khỏi biên giới “Quảng Nam
quốc”. Trong công trình khảo luận Khi những lưu dân trở lại, nghiên
cứu “Văn nghệ miền Bắc di chuyển vào Nam và tại sao văn học miền Nam căn bản là
nói và trình diễn”, ở chương V: “Một thời mới”, ông đã có những liên hệ đến văn
hóa nói chung, và cho rằng:
Có lẽ bất kì quốc gia
lớn lao nào hễ có kinh đô ở miền Bắc (mà phần lớn quốc gia kinh đô nằm ở miền
Bắc) thì văn hóa tập trung ở đó rồi mới chuyển lần về phương Nam. Danh ngôn
phương Tây có câu “Ánh sáng đến từ phương Bắc”. Nhưng khi ánh sáng của phương
Bắc bớt tỏa rạng và phương Nam đủ sức vùng vẫy thì nó tự thường phát sinh
nền văn nghệ lớn mạnh, ảnh hưởng lại phương Bắc (10).
Những ý kiến trên không
phải không có cơ sở khi đối sánh với sự phát triển của văn hóa nước ta, trong
đó có phần rất quan trọng là văn hóa Thăng Long – Hà Nội trong nhiều thế kỉ đã
qua.
Đi tìm những liên hệ với Thăng Long – Hà Nội trong sáng tác của các nhà văn
dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam (1954 - 1975) quả thật không dễ dàng khi
bản thân họ thường xuyên phải sống trong sự theo dõi, truy bức của chính quyền
Sài Gòn suốt hai mươi mốt năm dài chia cắt đất nước. Mặc dù vậy, trong những
tháng năm của cao trào chống Mĩ cứu nước trên cả hai miền Nam – Bắc, hơn lúc
nào hết ba tiếng: Huế - Sài Gòn - Hà Nội đã sớm trở thành tiếng gọi thiêng
liêng của những người con yêu nước. Trần Quang Long trong tập thơ Thưa
mẹ, trái tim đã xúc động bày tỏ:
Huế
ơi, Huế đẹp không riêng Huế
Hà Nội, Sài Gòn tiếng hát chung
(Huế ơi) (11)
Trong thơ Ngô Kha, hào
khí Thăng Long vẫn ngùn ngụt trào dâng cùng những lời kêu gọi:
Có
nghe chăng máu chảy từng giờ
Sao hôm nay
Chẳng trỗi dậy lời ca
Đốt lửa lên cho hồng hào phố xá
Người đã nói Việt Nam ta lớn mãi
Sao vẫn ngồi trong ngục tối cùm gông
Ta nghe từng đoàn người ngựa Thăng Long
Đang phá vỡ trùng vây đập tan quân cướp nước
(Cho những người nằm
xuống) (12)
Rõ ràng, không gian
thiên nhiên, không gian lịch sử - văn hóa Thăng Long– Hà Nội tươi đẹp, giàu truyền
thống mãi mãi là phần tâm hồn, tình cảm, là máu thịt không thể tách rời của mọi
người dân đất Việt khi hướng về miền Bắc thân yêu. Thăng Long – Hà Nội chính là
trái tim của Tổ quốc Việt Nam, của sự sống dân tộc Việt Nam. Trong những thời
kì chiến tranh chống xâm lược đã qua, Thăng Long – Hà Nội luôn là ngọn cờ cổ
vũ, thôi thúc dân tộc ta tiến lên. Trong từng thời kì hòa bình xây dựng đất
nước, Thăng Long – Hà Nội mãi là niềm tự hào về những thành quả đạt được, góp
phần làm nên diện mạo của Thủ đô nghìn năm văn hiến hôm nay. Hướng đến đại lễ
kỉ niệm “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, bài viết này chỉ là đóng góp bước đầu
trong việc khảo sát, nghiên cứu những sáng tác viết về Thăng Long – Hà Nội của
một số nhà văn dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam (1954 – 1975).
CHÚ THÍCH:
(1) Vũ Bằng (1972), “Tháng Giêng mơ về
trăng non rét ngọt”, in trong Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 150-159.
(2) Vũ Bằng (1970), “Ăn Tết thủy tiên”, Vũ
Bằng - Truyện ngắn chọn lọc, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,
2003, tr. 427-448.
(3) Lê Vĩnh Hòa (1957), “Bên rặng tre
già”, Lê Vĩnh Hòa - Tuyển tập, NXB Tổng hợp Hậu Giang – NXB Văn
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1986, tr. 115-120.
(4) Viễn Phương (1956), “Tiếng hát quê
hương tôi”, in trong Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB Thành
phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 735-736.
(5) Lý Chánh Trung (1970), “Văn hóa, võ
khí bảo vệ dân tộc”, in trong Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 912-923.
(6) Truy Phong (1956), “Một thế kỷ mấy vần
thơ”, in trong Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB Thành phố Hồ
Chí Minh, 2000, tr. 708-712.
(7) Trần Hữu Tá (2003), “Lời giới thiệu”,
in trong Tuyển tập Võ Hồng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh –
Trung tâm Nghiên cứu quốc học, 2003, tr. 7.
(8) Võ Hồng, “Hoài cố nhân”, Tuyển
tập Võ Hồng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh – Trung tâm Nghiên cứu quốc
học, 2003, tr. 9-45.
(9) Dương Trung Quốc, “Lời bạt - Nhà Quảng
học”, in trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, NXB Đà Nẵng, 2002, tr.
1001-1008.
(10) Nguyễn Văn Xuân (1967), “Khi những
lưu dân trở lại”, in trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, NXB Đà Nẵng,
2002, tr. 534-658.
(11) Trần Quang Long (1975), “Huế ơi”, in
trong Viết trên đường tranh đấu, NXB Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.
62-66.
(12) Ngô Kha (1972), “Cho những người nằm
xuống”, in trong Viết trên đường tranh đấu, NXB Thuận Hóa, Huế,
2005, tr. 117-124.
Phạm Thanh Hùng






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét