Thơ Đinh Hùng và nhạc phẩm
Có một bài thơ của thi sĩ Đinh Hùng nhắc đến Schubert, nhạc
sĩ lừng danh người Áo (1797-1828). Bài thơ Đinh Hùng nói về dạ hội trá hình,
nơi các người tuổi trẻ tụ họp để vui chơi ca hát, ăn mặc sặc sỡ, mang mặt nạ
trá hình để tạo sự ngạc nhiên cho nhau. Một kiểu gặp gỡ vừa thơ mộng vừa tình tứ
vừa hài hước; một dịp để trai gái tạo cơ duyên và giải trí, thường tổ chức vào
những ngày cuối tuần. Vậy tên nhạc sĩ Schubert được nhắc đến trong thơ nói về dạ
hội thì nhạc Schubert ắt phải là nhạc dành cho cuộc vui và lãng mạn thơ mộng.
Bài thơ với những câu đẹp như sau: Đèn quanh thủy tạ, hội đêm hè. Em đến phương
nào? Đây ngựa xe Đây nước hoa chìm, giăng ẩn hiện.
Thơ phòng khánh tiết, nhạc Schubert.
Mời các cô em trang điểm vào
Má hồng gợn chút mới thanh tao
Thuyền thơ anh đợi nghiêng tình tứ
Nghìn chiếc hôn bay, thoảng phấn đào.
Khiêu vũ đêm nay, mộng trá hình
Trong vườn Quên Lãng, áo ai xanh?….
Chỉ mấy câu thơ ấy thôi, ta cũng đã thấy bày ra một cuộc vui
đầy màu sắc thời trang, với trá hình mang mặt nạ những con thú, với hương phấn,
ngựa xe, đèn hoa, trăng nước, ăn uống và khiêu vũ suốt đêm… Nhạc
Schubert trình tấu ở nơi đây chắc là thích hợp? Coi lại vài chi tiết về tiểu sử
sự nghiệp của nhạc sĩ Schubert thì ta được biết cuộc đời ông nhiều bất hạnh
(thuộc gia đình không mấy khá giả, đường tình không hạnh phúc, vướng bệnh ngặt
nghèo, rất tài ba mà không gặp vận, mất sớm lúc mới 31 tuổi, tác phẩm chỉ
được đón nhận tốt vào những năm gần cuối đời và chỉ lừng lẫy từ hơn 65 năm sau
cái chết của ông). Nhưng về chất nhạc, ta cũng được biết nhạc sĩ này là một
trong những nhà soạn nhạc tiền phong của dòng nhạc lãng mạn thơ mộng của nước
Áo ở vào thế kỷ 18, thường phổ nhạc các bài thơ tình. Ví dụ như nhận định sau
đây của nhà soạn nhạc Ernst Krenek (viết năm 1947): “Schubert was a lucky
inventor of pleasing tunes… lacking the dramatic power…”. Hoặc như nhận định của
nhà soạn nhạc Robert Schumann (viết năm 1835): “Schubert’s practice here was a
forerunner of the common Romantic technique of relaxing…” (trong “Wikipedia,
the free encyclopedia”). Vì tính chất vui tươi của dạ hội, vậy tên nhạc sĩ
Schubert được nói đến trong bài thơ này của Đinh Hùng không trái khoáy mà rất
thích hợp.
Nhạc sĩ người Áo Franz
Schubert (1797-1828)
Như thế, nhạc Schubert là nhạc thơ mộng, lãng mạn,
tươi vui hơn bi thương. Vậy tại sao bản nhạc Dạ Khúc lời Việt của nhạc sĩ
Phạm Duy (tức “Serenade of Franz Schubert”) nghe thật là thê thiết, với những lời
như:
“Chiều buồn nhẹ xuống đời
Người tình tìm đến người
Thấy run run
trong chiều phai
Vẻ sầu của đóa cười
Tình bền của lứa đôi
Thoáng hương trong
chiều rơi…
Đời sẽ thấy chúng ta sống không cầu
Cho tình cứ úa phai mau
Cho
người cứ mãi phụ nhau…
Cuộc tình vĩnh viễn xa vời
Chỉ còn thương nhớ mà thôi
Những người biết rõ lời nhạc của Schubert qua
nguyên tác bằng tiếng Đức, đã nhận định lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy như sau:
“Lời dịch của ông tuy hy sinh sự chính xác của ngôn từ, nhưng giàu tính thẩm mỹ
của cảm nhận âm nhạc” (trong “Wikipedia, the free enclyclopedia”). Tính thẩm
mỹ của cảm nhận âm nhạc, nhận định như vậy theo thiển nghĩ có vẻ mơ hồ, không
thấy nêu rõ vì sao tiếng nhạc thơ mộng vui tươi chuyển thành tiếng nhạc chẳng
những buồn (vì lãng mạn thơ mộng cũng đôi khi buồn man mác) mà còn thê thảm,
nghe rất đau thương. Theo thiển nghĩ, sở dĩ bản nhạc “Serenade” của Franz
Schubert trở thành bi đát với lời Việt của Phạm Duy là do nhạc sĩ Phạm Duy xúc
động vì một cuốn phim hư cấu khá thê thảm cuộc đời của nhạc sĩ Schubert. Nhà
làm phim thêm thắt nhiều chi tiết bi thương, hòa nhịp với từng bản nhạc của
Schubert, mà có khi cuộc đời thật và bản nhạc không thực sự có liên hệ. Đó là
cuốn phim Pháp, tựa đề “Khúc Nhạc Dang Dở” (Symphonie inachevée, phim sản xuất
năm 1933, có trình chiếu ở Sài Gòn khoảng giữa thập niên 1950). Khúc nhạc dang
dở cũng là nhan đề một bản nhạc của Schubert, nhưng do bản nhạc ông để lại chưa
xong, nên người đời sau đặt tựa đề như vậy. Người ta cũng không rõ nguyên nhân
ông bỏ dở không hoàn thành bản nhạc, có thể do bệnh tật, có thể do không còn hứng
làm cho xong. Nhưng tựa đề ấy được nhà làm phim đồng hóa với mối tình dang dở,
mối tình không toại nguyện ấy trở thành nguyên nhân của bản nhạc nửa chừng. Mà
thật ra cuộc tình không xong với cô học trò âm nhạc, một công nương quý tộc,
không mấy sâu đậm đối với nhạc sĩ Schubert. Cũng có một bản nhạc của ông cho mối
tình chỉ hơi chút buồn này, nhưng không phải bản nhạc lừng danh “La Symphonie
inachevée – The unfinished Symphony”, mà là bản “Fantasie in F minor”: “It has
been said that he held a hopeless passion for his pupil, the Countess Karoline
Eszterhazy, but the only work he delicated to her was his Fantasie in F minor
for piano duet” (trong “Wikipedia, the free encyclopedia”).
Tài tử Hans Jaray, vai nhạc-sĩ Schubert
trong cuốn
phim Pháp: “Symphonie Inachevée”-1933
Nhạc sĩ Phạm Duy xúc động vì trong phim có
những đoạn thấy thương cảm nhạc sĩ Schubert, như có lần ông được mời vào cung
điện hòa tấu cho buổi khiêu vũ ở lâu đài quý tộc. Nghèo đến nổi không sắm nổi bộ
đồ đại lễ dành cho nhạc trưởng dàn nhạc giao hưởng, ông phải đến tiệm cầm đồ để
mướn. Nhạc sĩ không hay biết, và không ai nhắc khéo giùm, cái miếng thẻ thuộc
tiệm cầm đồ vẫn còn dính trên bộ đại lễ suốt buổi trình diễn trước mắt các quan
khách, công nương, công chúa. Hoặc ở đoạn cha của công nương Karoline
Eszterhazy, vì không muốn nhạc sĩ có mặt tại lâu đài lúc tổ chức một sự việc trọng
đại, đã giao cho Schubert công tác phải đi xa vài hôm, rồi tiến hành hôn lễ cho
công nương với một công tử. Nhạc sĩ hay tin trở về, chỉ còn biết thẫn thờ nơi
băng đá trống trước lâu đài, em gái công nương đến an ủi đôi lời chia buồn (có
lẽ vì vậy mà nhạc sĩ Phạm Duy mới viết thành những lời trong bản Dạ Khúc
“Serenade”: Cho người cứ mãi phụ nhau). Cũng theo trong phim: Với mối
thất tình này, nhạc sĩ Schubert đi tìm sự cứu rỗi giúp giải thoát linh hồn nơi
các thánh đường, và sau đó sáng tác nên bản nhạc bất hủ “Ave Maria”. Nhưng thực
sự, quy chiếu với các giai đoạn sáng tác của Schubert, bản Ave Maria do nhạc sĩ
phổ từ bài thơ nhan đề “The Lady of The Lake” của Sir Walter Scott, vì vậy chắc
không phải do đi tìm sự cứu rỗi sau mối thất tình. Những giai đoạn “cuộc đời/sáng
tác nhạc” của Schubert theo trong phim, ta thấy tương tự với những giai đoạn
“cuộc đời/sáng tác thơ” của Hàn Mặc Tử: cũng bệnh tật, nghèo, thất tình, đi tìm
giải thoát linh hồn nơi tôn giáo, yểu mệnh chết sớm. Chắc do xúc cảm khi coi
phim, liên tưởng đến Hàn Mặc Tử, mà nhạc sĩ Phạm Duy mới đặt lời Việt bi thiết
cho bản “Serenade” của Franz Schubert. Thực sự nhạc của Schubert rất mỹ miều,
thơ mộng, vì vậy ông đã được gán cho những danh hiệu như “nhạc sĩ thi sĩ hơn hết”
(the most poetic musician), hoặc danh hiệu “bậc thầy vô địch của lời tình ca đẹp”
(the unrivaled master of lyrical beauty). Vậy thì có thể nói
Schubert không phải nhạc sĩ của tình ca bi thiết. Từ ngữ “serenade”
được nhạc sĩ Phạm Duy có khi chuyển thành nhan đề là Dạ Khúc (đối với
bản Serenade của Schubert), có khi với nhan đề “Chiều Tà” (đối với bản serenade
của Enrico Tocelli). Ý nghĩa nào cũng được vì Serenade là thể loại ca khúc lãng
mạn (không nhất thiết quy định ý nghĩa về thời gian), thường được các chàng
trai khi chiều tối đứng dưới cửa lầu, hát để tỏ tình với người đẹp. Đó là một tập
tục đã có từ thời trung cổ ở Âu Châu.
Có một phiên bản Việt ngữ khác cho bản nhạc Serenade của
Schubert với nhan đề “Giấc Mơ Chiều” của nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân (Có lẽ chính hai
ông bà Phạm Ngọc Lân trình bày bài hát này trong Youtube Music. Xin tìm đến nơi
tiêu đề “Sérénade de Schubert - Giấc Mơ Chiều”). Lời Việt của phiên bản này thơ
mộng, không lắm đau thương. Nhưng nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân cũng phát biểu như sau
khi có khán thính giả hỏi về lời ca qua Internet: “Lời Việt trong bài này hoàn
toàn theo ý riêng của người viết lời, không phải dịch theo bản của của Đức hay
của Pháp” (ghi chép lại trong “Youtube Music”, ngày 23 tháng 6 năm 2011).
“Theo ý riêng”, nhưng có lẽ phiên bản này khớp với chất nhạc dành cho tình ca đẹp
của Schubert. Xin trích ra đây để song hành với phiên bản nhiều xúc động bi
thương cũng viết theo ý riêng (cảm nhận thẩm mỹ âm nhạc) của nhạc sĩ Phạm Duy.
Và đây là lời Việt của nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân:
“Chiều dần nhẹ buông
Giăng mờ
sương dần xuống
Vẳng xa… chuông ngân ru hồn ta
Bầy chim mỏi cánh
Bay tìm về
tổ ấm
Nhắc ai… cô đơn trong chiều phai
Chạnh lòng nhớ bóng ai xa vời
Người
yêu từ muôn kiếp khôn nguôi
Mong người còn nhớ thương ai
Ngày mai sẽ nắng lên
rạng ngời
Để tâm hồn như áng mây trôi
Trôi về nơi ấy người ơi
Rồi một ngày
nào đến sẽ sum vầy
Rồi tan hết ưu phiền
Sống bên nhau đôi tâm hồn chung vui
buồn
Lòng hết vướng sầu
Tình thôi úa màu
Mơ ngày vui đến bên nhau
Mơ thành
câu hát ngàn sau
Bản Serenade mà Schubert phổ nhạc từ thơ của Ludwig Rellstab,
nguyên tác bằng Đức ngữ. Bản tiếng Đức rất dễ truy tìm, nhưng bản bằng tiếng
Pháp viết cho đàn piano hình như cũng theo “ý riêng” của người soạn dành cho
đàn dương cầm. E rằng trích ra đây bài thơ của Ludwig Rellstab bằng tiếng Đức
thì độc giả Việt (cũng như người viết bài này) không bao nhiêu người đọc được để
biết tường tận ý nghĩa bản nhạc phổ thơ “Serenade” của Franz Schubert, mà bản
tiếng Việt đúng với bản tiếng Đức thì không có. Vì vậy, xin trích ra đây bản
Anh ngữ chứa đựng những lời tình ca đẹp mà một khán thính giả (không thấy nêu
tên) trên Youtube Music đã công bố khi có một người tên Donald ngày 6 tháng 8
năm 2008 thỉnh cầu tìm giùm bản dịch đúng với nguyên tác tiếng Đức “Stanchen”
(tức Serenade”). Và sau đây là phiên bản Anh ngữ ấy (chắc có thể để hát):
Serenade - F.Schubert (Guitarist Kim Chung) - YouTube
Serenade - F.Schubert (Guitarist Kim Chung) - YouTube
“My
songs quietly implore you
Through the night
Down to the silent wood
My love,
come to me
The tree tops whisper
In the light of the moon
Don’t be afraid,
my love
No-one will observe us
Can you hear the nightingales?
Oh! They
implore you
Their sweet laments
Pleads with you on my behalf
They understand
the yearning I feel
They know love’s torture
With their silvery notes
They
touch every soft heart
Let them touch yours, too
Sweet love: hear my plea
Trembling, I await you
Tháng 6/2013
Trần Văn Nam






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét