Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm

Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Tác phẩm văn học lớn liên tục phát sáng, một nguồn sáng vô tận. Chia tay với người làm ra nó, tác phẩm liền trở thành bạn đồng hành của mọi người qua các thời đại.Cảm thụ nghệ thuật không hề là sự hưởng thụ bị động mà là một hành động tích cực. Mỗi người đọc, các thế hệ người đọc, với tư cách là chủ thể “đồng sáng tạo”, bằng “nguồn sáng “ của chính mình, rọi vào nguồn sáng tác phẩm, không ngừng tạo nên một nguồn sáng phong phú hơn, luôn lung linh những tia mới. Trong thơ ca Việt Nam, có thể nói như vậy đối với tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… Đó cũng là trường hợp của những tác phẩm xuất sắc trong Phong trào Thơ mới 1932 - 1945.
Ngay từ khi Thơ mới đang bước vào chặng cuối cùng, Hoài Thanh và Hoài Chân đã kịp thời có Thi nhân Việt Nam. Già nửa thế kỉ đã trôi qua, này đọc lại, cuốn sách vẫn không cũ.
Từ năm 1986 lại nay, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới của Đảng nói chung và đổi mới văn học nói riêng, Thơ mới là một trong những vùng của văn học trước Cách mạng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng như bạn đọc yêu mến văn chương. Tuyển tập Thơ mới, chuyên luận về Thơ mới, khóa luận và luận án về các đề tài hết sức đa dạng của phong trào và tác giả Thơ mới, rồ các sách đủ các kiểu nhằm giới thiệu, bình giảng Thơ mới dành cho nhà trường... Chúng ta không ngần ngại khi đưa ra nhận xét: trên mười năm qua, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá Thơ mới nói chung và các tác phẩm, tác giả Thơ mới nói riêng, với những phát hiện mới, đã đạt thêm nhiều thành tựu mới, nâng kết quả nghiên cứu lên một mặt bằng cao hơn.
Tuy nhiên, không ai nghĩ rằng, Thơ mới đã được soi sáng, đánh giá tường tận, ở đây không có gì phải làm thêm nữa. Giữa dòng chảy không có điểm dừng ấy, hi vọng rằng cuốn sách này của chúng tôi là một tiếng nói đóng góp dù nhỏ bé vào quá trình chiếm lĩnh Thơ mới, một hiện tượng nghệ thuật phong phú, có hàm lượng thẩm mỹ cao, để lại dấu ấn đậm nét giữa dòng thơ ca dân tộc.
Phong trào, trào lưu văn học nào cũng hình thành, được xây dựng lần hồi và tồn tại qua những tác phẩm, tác giả cụ thể. Tác giả xuất sắc, tác phẩm đỉnh cao kết tinh một cách nổi bật thành tựu của phong trào, trào lưu. Vì thế phân tích thấu đáo những bài thơ được xem là tiêu biểu nhất, hay nhất của Phong trào Thơ mới là một trong những con đường tiếp cận hữu hiệu để khẳng định ý nghĩa to lớn của cả phong trào cũng như đóng góp xuất sắc của các nhà thơ tiêu biểu. Qua cuốn sách này, chúng tôi cố gắng vận dụng các phương pháp mới về tiếp cận tác phẩm văn học nhằm tìm hiểu một số bài thơ được dư luận rộng rãi thừa nhận là đỉnh cao của Thơ mới 1932– 1945, từ đó đem lại cho bạn đọc những cảm nhận tương đối toàn diện, sâu kỹ về từng bài thơ.
Chúng tôi tuyển chọn 22 bài thơ của 16 tác giả. Khuôn khổ cuốn sách không cho phép tuyển chọn nhiều hơn. Vì vậy, đối với các nhà thơ được xem là xuất sắc nhất, cũng chỉ có thể tuyển chọn được hai bài. Chúng tôi nghĩ rằng cần mở rộng diện tuyển chọn để giúp bạn đọc hình dung rộng rãi hơn vẻ phong phú của phong trào thơ ca này. Ngoài một số nhà thơ rất nổi tiếng, lâu nay luôn được nhắc đến và tác phẩm đã được phân tích nhiều như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Vũ Đình Liên…, lần này chúng tôi tuyển chọn thêm tác phẩm của Nguyễn Nhược Pháp, Huy Thông, Đoàn Phú Tứ, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Tế Hanh… Tuyển chọn của chúng tôi dựa vào những ý kiến tương đối thống nhất của dư luận đánh giá rộng rãi lâu nay. Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, phê bình, một số nhà thơ có uy tín, am hiểu vùng thơ này. Dù đã hết súc cố gắng để đạt đến một thái độ thực sự khách quan trong tuyển chọn, nhưng rất có thể đây đó đang còn chủ quan. Đối với những nhà thơ giàu tài năng, có nhiều tác phẩm hay, việc chọn lấy 1 hoặc 2 bài, chúng tôi cảm thấy chả bõ bèn. Nhưng biết làm sao được, khuôn khổ cuốn sách có hạn, xin được hẹn lần khác khi điều kiện cho phép.
Qua cuốn sách này, bạn đọc sẽ bắt gặp những bài thơ vào loại tiêu biểu nhất cho thế giới nghệ thuật, cho phong cách sáng tạo của từng thi sĩ lãng mạn hàng đầu. Đó cũng là những bài thơ mang ý nghĩa đại diện cho các xu hướng của một trào lưu đa dạng, đa phong cách.
Viết cuốn sách, chúng tôi hướng về bạn đọc đông đảo yêu thích thơ ca. Đối tượng mà cuốn sách tập trung phục vụ là anh chị em sinh viên ngữ văn các trường Đại học và Cao đẳng, các giáo viên giảng dạy văn học. Vì vậy, mỗi bài viết được cấu trúc theo trình tự sau:
– Bài thơ được tuyển chọn.
– Phần phân tích bài thơ ấy của chúng tôi.
– Phần “Tư liệu tham khảo” nhằm giúp bạn đọc hiểu biết và cảm thụ bài thơ toàn diện hơn qua trích tuyển một số ý kiến cần thiết. Với cảm thụ, phê bình, đánh giá văn học, lắm khi những ý kiến được phát biểu trước lại hay hơn, thỏa đáng hơn những ý kiến được phát biểu sau. Cần ghi giữ những ý kiến ấy. Có phần “Tư liệu tham khảo” là vì vậy. Thiết nghĩ, bằng cách này, bạn đọc sẽ có trong tay một tài liệu khá trọn vẹn về từng bài thơ để từ đó cảm nhận bài thơ sâu sắc hơn. Với giáo viên, mục này chắc càng bổ ích.
Do trình độ và thời gian có hạn, chắc chắn cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót. Mong bạn đọc xa gần vui lòng góp ý để chúng tôi chỉnh lí, bổ sung hoàn thiện hơn.
Nhân dịp này, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Giáo dục đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để cuốn sách ra mắt bạn đọc.
Chủ biên LÊ BÁ HÁN
1.NHỚ RỪNG
(Lời con hổ ở vườn Bách thú)
THẾ LỮ
 Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối.
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém.
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Ai đã từng xem bức chân dung Hoàng Lập Ngôn vẽ Thế Lữ. mới thấy nhà “Tinh tướng họa” này thật hóm hỉnh và thâm thúy khi thể hiện những mặt tác giả Nhớ rừng trong gương mặt… chúa sơn lâm! Nghĩa là khuôn mặt một con Hổ chính cống. Người có công “dựng thành nền Thơ mới ở xứ này” cũng như chúa sơn lâm chứ sao! Và, có lẽ, chính con Hổ “nhớ rừng” kia đã làm nên Thế Lữ. Thì ra, họ hóa thân vào nhau, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Quái lạ thay là nghệ thuật tạo hình!
Ta vừa nói đến nghệ thuật tạo hình. Vâng, chính Thế Lữ đã viết Nhớ rừng bằng nghệ thuật tạo hình! Nếu Hoàng Lập Ngôn vẽ nên Con Hổ Thế Lữ bằng hội họa, thì Thế Lữ đã tạo hình con Hổ - nhớ rừng bằng... thơ! Trong nét bút của Thế Lữ, người ta không chỉ thấy họa pháp của một họa sĩ từng theo học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mà hơn hết là thi pháp nghiêng về tạo hình của trường phái thơ lãng mạn (Nghiên cứu những trường phái thơ Pháp, dễ thấy rằng: nếu thi phái tượng trưng nghiêng hẳn về nhạc, thì thi phái lãng mạn nghiêng về nghệ thuật tạo hình, nhất là hội họa). Vì thế mà Nhớ rừng vừa là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện một tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm, vừa là một họa phẩm hoành tráng kì vĩ làm nổi hằn lên trên mặt bằng của câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”. Lúc bấy giờ tiếng Việt trong Thơ mới đang hối hả, đang ráo riết đi tìm mình, thì đến những bài như Nhớ rừng đã thấy cái tiết điệu cần tìm của nó. Chẳng thế mà Vũ Đình Liên đã có thể trích hai câu trong bài này và cả quyết: Chỉ hai câu “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan” cũng có sức mạnh của một tuyên ngôn để bênh vực cho Thơ mới.
Nhiều người đã nói đến nội dung xã hội của bài thơ. Thậm chí có những lúc người ta đã cho rằng nội dung yêu nước mới là nội dung đích thực và đáng kể nhất của Nhớ rừng. Hướng lĩnh hội ấy đã càng ngày càng bộc lộ sự ấu trĩ của nó. Những nội dung kia, nếu có, phải ẩn chìm ở bề sau, là cái lớp nghĩa thứ yếu của văn bản này thôi. Tâm trạng của chúa sơn lâm là một bi kịch. Không chỉ là bi kịch của một con Hổ. Không chỉ là bi kịch của riêng Thơ mới. Mà là bi kịch của thời đại ấy: bị kịch sống mòn! Thế Lữ đã kí thác vào hình tượng con Hổ - bị cầm tù trong cũi sắt giữa vườn bách thú vẫn ôm trong lòng “niềm uất hận ngàn thâu”, vẫn “đương theo giấc mộng ngàn to lớn” - cái nỗi niềm của cả thế hệ mình, thời đại mình: mối bất hòa với thực tại. Họ sống trên quê hương mà luôn thấy thiếu quê hương, sống trong hiện tại mà chỉ muốn thoát ly khỏi hiện tại. “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt” mà đau đáu một nỗi Nhớ rừng, tâm trạng của con Hổ cũng là tâm trạng của họ. Hiện tại là “cũi sắt”, thực tại là “cũi sắt”, quá khứ là rừng già, mơ ước là rừng già – mà con Hổ ấy đã gọi thật trang trọng là “nước non hùng vĩ”. Đối với chúa sơn lâm, rừng là tất cả. Nhớ rừng là nhớ tiếc Tự do. Nhớ rừng là nhớ tiếc thời Oanh liệt. Nhớ rừng là nhớ cái Cao cả… tất cả xuất phát từ phản ứng dữ dội với thực tại cầm tù trói buộc, thực tại tầm thường giả dối, thực tại vô vị, vô tích sự!... Toàn bộ ý nghĩ của cuộc đời mình là ở nơi rừng. Đánh mất rừng cũng là đánh mất mình. Hằng ngày thấy mình cứ bị tầm thường hóa đi mà bất lực! Khao khát rừng là khao khát được là mình! Đó chẳng phải là khát vọng của một cái TÔI đòi giải phóng đó ư? Bởi đây là chúa sơn lâm, nên cái lôgic của nó: nhất nhất phải là tầm vóc “chúa tể muôn loài”. Nghĩa là tất cả phải đều có kích thước kì vĩ, hoành tráng, chế ngự, bao trùm. Nhưng đằng sau những cái riêng thuộc đặc tính của hình tượng chúa sơn lâm, ta đều thấy cái chung của tâm trạng con người. Có lần, người viết đã nói Thơ mới là một điệu sầu mênh mông, mà nếu đem phân chất, ta sẽ thấy trong đó ba mối sầu đậm nhất: sầu nhân thế, sầu thời thế và sầu thân thế. Ba mối sầu này đan quyện, chuyển hóa sang nhau cất lên mà thành Thơ mới. Nhớ rừng nghiêng về mối sầu thứ ba ấy. Tâm trạng chúa sơn lâm chính là tâm trạng “Hùm thiêng khi đã sa cơ”, tâm trạng bi tráng của một anh hùng thất thế! Vì thế mà lời than đầy hùng tâm tráng chí này không chỉ rung chuyển rừng già, mà còn làm rung chuyển muôn vạn con tim của thời đại ấy:
Than ôi! Thời oanh liệt này còn đâu?
Ai chẳng có thời oanh liệt của riêng mình! Nó là đoạn đời huy hoàng chói lọi, là quãng đời ý nghĩa nhất của đời mình! Vì thế bất cứ người nào trong cuộc đời này, nếu là người luôn khát sống thì rồi cũng sẽ có một lúc nào ngấm nỗi hận sầu thất thế, để rồi cất lên cái tiếng than u uất kia của chúa sơn lâm? Trong mỗi một cuộc đời, một kiếp người đều tiềm ẩn cái tiếng than đầy nhân bản ấy của con Hổ này! Nói con Hổ “nhớ rừng” mang trong nó một tâm trạng vĩ đại còn chính vì điều ấy!
Bút pháp tạo hình của Thế Lữ ở đây chủ yếu thể hiện trong việc khắc họa cái phi thường. Và để làm sắc nét điều ấy, thi sĩ đã tạo ra sự tương phản nhất quán và nhuần nhuyễn giữa cái PHI THƯỜNG và cái TẦM THƯỜNG. Chúa sơn lâm được đặt ở trung tâm bức tranh và tất cả đều được nhìn qua con mắt của loài mãnh thú này, vì thế mà tất cả đều trở nên tầm thường. Đối diện với Hổ, con người cũng chỉ là lũ người “ngạo mạn ngẩn ngơ” với “mắt bé” dám “giễu oai linh rừng thẳm”. Bọn gấu thì “dở hơi”, cặp báo chỉ là loài ươn hèn nô lệ, hời hợt “vô tư lự”. Cái thế giới rừng già bên chúa sơn lâm thảm hại đã đành. Mà ngay cả bao tạo vật, cảnh trí lớn lao trong vũ trụ cũng trở nên tâm thường vô nghĩa. Bằng cách tương phản thế, hình ảnh chúa sơn lâm trở nên kì vĩ! “Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi; Với khi thét khúc trường ca dữ dội; Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng; Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng”…, con mãnh thú mới chỉ là chúa tể muôn loài trong xứ sở của mình, giữa chốn rừng núi. Nhưng đến bộ tranh tứ bình này, thì nó đã trở thành chúa tể cả vũ trụ:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Chẳng phải đây là đoạn tuyệt bút nhất của Nhớ rừng hay sao?
Thực ra “tứ bình” là một lối tạo hình quen thuộc từ cổ điển. Người xưa thường khái quát hiện thực vào bộ tứ bình. Cho nên tứ bình là một cấu trúc, một chỉnh thể, một thế giới. Thời gian thì xuân - hạ - thu – đông, thảo mộc thì tùng – trúc – cúc – mai. Nghề nghiệp thì ngư–tiều–canh–mục… Tâm trạng nhớ chồng của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc cang diễn thành cảnh “trông bốn bề”. Tâm trạng nhớ nhung, buồn nản, hãi hùng của Kiều trước lầu Ngưng Bích cũng diễn thành tứ bình với cái điệp khúc “Buồn trông…”. Rồi sau này trong Việt Bắc, Tố Hữu cũng diễn tả Việt Bắc qua bốn mùa thành bộ tứ bình lộng lẫy như thế. Vậy nên, dùng “tứ bình” thì chưa phải là điều thật mới, thật riêng. Điều đáng nói là bốn bức tranh trong bộ tứ bình này đều là bốn bức tự họa của cùng một con Hổ. nó đã khái quát trọn vẹn về cái thời oanh liệt của chúa sơn lâm. Bốn bức tranh là bốn nỗi hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận, bốn câu hỏi mà giọng điệu ngày một tăng tiến dữ dằn. Mà đáng kể hơn cả là bức thứ nhất và bức thứ tư. “Nào đâu…” là một lời than nuối tiếc, ngậm ngùi, hợp với không khí thi vị của “những đêm vàng bên bờ suối” và hợp với dáng điện say mồi mà vẫn rất hào hoa, nghệ sĩ: “Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan” Đến “Đâu…” giọng điệu đã khác hẳn! Không còn là lời thở than, mà đã là lời chất vấn quá khứ, lời chất vấn dữ dội, oai linh:
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Đây là hình ảnh oai hùng, lẫm liệt tạo nên dáng điệu khác: dáng điệu kiêu hùng, bạo chúa. Mấy chữ “lênh láng máu” thật dễ sợ. Nó gợi ra cảnh tượng chiến trường sau một cuộc vật lộn tàn bạo. Nó là máu của con thú rừng xấu số nào đó ư? Không phải! Đó là máu của mặt trời. Ánh tà dương lúc mặt trời hấp hối, qua cảm nhận của con mãnh thú chính là sắc máu lênh láng đỏ. “Chiều lênh láng máu”, chữ “chiều” gợi được một thời gian. Máu đã trở thành màu kỉ niệm. Đối với con thú này màu “máu lênh láng” là màu thời gian. Chữ “sau rừng” gợi được cái không gian nhuộm đây máu đỏ của mặt trời, vừa gợi được cái bí hiểm của nơi diễn ra cuộc tranh chấp đẫm máu. Chữ “chết” đã biến mặt trời thành một sinh thể. Nó không còn là khối cầu lửa vô tri vô giác, bất động giữa không trung, mà thành một con thú. Chữ “mảnh” là hình ảnh mặt trời trong con mắt ngạo mạn và khinh miệt của Hổ. Sự “gay gắt” trong giờ phút hấp hối dường như càng khiến cho chúa sơn lâm khinh bỉ. Thì ra, đối thủ của con Hổ này không phải là những loại gấu, báo vô tư lự, dở hơi, đã đành. Mà con nguời cũng không xứng là đối thủ của nó. Trong vũ trụ này, chỉ có một kẻ duy nhất được chúa sơn lâm xem là kì phùng địch thủ: vầng thái dương! Nhưng trong cuộc tranh chấp kia, phần thắng vẫn thuộc về vị chúa tể muôn loài. Ba chữ “mảnh mặt trời” đã hoàn toàn hạ bệ, hạ gục đối thủ, làm cho mặt trời cũng trở nên thảm hại. Bằng cuộc tranh chấp với mặt trời để “chiếm lấy riêng phần bí mật”, Thế Lữ đã nâng con mãnh thú này lên tầm vóc vũ trụ, kì vĩ nhất trong những cái kì vĩ của vũ trụ này. Đến câu thơ “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, bàn chân ngạo nghễ của con thú như đã giẫm đạp lên bầu trời và cài bóng của nó cơ hồ đã trùm kín cả vũ trụ. Và “Để ta chiếm lấy riêng phần “bí mật” thì đã tỏ rõ cái oai linh của kẻ thống trị cả vũ trụ này rồi vậy! Sự phi thường, kì vĩ đã lên tới tột bậc, vô biên!
Tất cả giọng điệu tráng ca hào hùng, tất cả bút pháp cường điệu khoa trương đặc thù của chủ nghĩa lãng mạn sẽ trở nên chơi vơi, sáo rỗng nếu như không phải đây là chúa sơn lâm. Sự phù hợp tuyệt vời giữa đối tượng mô tả và nghệ thuật mô tả đã chấp cánh cho thơ Thế Lữ bay lên dõng dạc, đường hoàng như một khúc trường ca đa dội!
CHU VĂN SƠN
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Mối bi kịch thân ở nơi tù, hồn ở giang sơn cũ đã tạo nên chất men ngưỡng mộ đối với hoài niệm. Qua tâm linh của loài Hổ, rừng núi hiện lên trong vẻ kì vĩ đắm say. Kì vĩ vì thâm nghiêm bóng cả cây già; kì vĩ vì dữ dội oai hùng với các từ gào, hét, thét, dữ dội, kì vĩ vì hoang vu bí ẩn: hang tối, thảo hoa không nên tuổi, riêng phần bí mật.
Trong cảnh núi rừng kì vĩ đó hiện lên hình ảnh oai linh của chúa sơn lâm. Trọng tâm của bức tranh rừng này là con Hổ. Nhưng trước khi để Hổ hiện ra, Thế Lữ đã dựng cảnh để gợi không khí oai hùng, kinh sợ. Vào đúng lúc tiếng gào thét của thiên nhiên đang ở đỉnh cao dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Đầu tiên chỉ thấy bàn chân, một bước chân dõng dạc, đường hoàng. Câu thơ như đoạn phim cận cảnh quay chi tiết, thu hút sự chú ý của khán gỉa. Sau bàn chân là tấm thân, xuất hiện rất từ tốn nên càng oai hùng, to lớn. Chiều dài của tấm lưng trải ra theo câu thơ, một sự mềm mại tích chứa sức mạnh:
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Cách miêu tả từng động tác, lại là những động tác có chọn lựa của bàn chân, tấm thân và ánh mắt đã thể hiện được sức chế ngự của mãnh thú trước phong cảnh. Mấy câu thơ sau đã hoàn tất nốt bức chân dung chúa sơn lâm. Cái oai của chúa rừng còn chế ngự cả cảnh vật khi chúa đã đi qua khiến cho mọi vật đều im hơi. (…)
Niềm uất hận đương nhiên là vì tù túng,nhưng cái uất nhất do sự tù túng gây nên là phải chấp nhận cái tầm thường. Hổ nhớ rừng không chỉ là nhớ tự do mà còn là, theo tôi lại là chủ yếu nếu căn cứ vào văn bản của bài thơ, nhớ cái cao cả, cái chân thực, cái tự nhiên. Tới đây, chúng ta gặp thuộc tính của chủ nghĩa lãng mạn: vươn tới cái phi thường, cao hơn cuộc sống hằng ngày buồn tẻ, đơn điệu, hé nhỏ trong tầm tay trần tục của con người: hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng”.
(Vũ QUẦN PHƯƠNG: Thơ với lời bình
NXB Giáo dục. H.1997)
“Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt.”
Chúng ta thử tập trung phân tích những cách tân trong hai câu – chỉ hai câu thôi.
Trước hết, ta xét chữ đầu, một từ nghi vấn, dùng theo nghĩa phủ định. Trong bài Nhớ rừng, đơn vị thơ Thế Lữ không phải là câu mà là khổ thơ (strophe), chữ đâu ở đây là tiếng vọng của “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối” ở đầu khổ và sẽ tắt ngấm với: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu” ở cuối khổ. Nào đâu và còn đâu là từ thông dụng, nhưng chữ đâu phủ định đặt ở đầu câu là một cách tân, có thể là nó phát xuất từ câu thơ Pháp “Où sont les neiges d’ Antan” (Đâu hết tuyết ngày xưa – Villon). Đâu, nguyên ủy là do hai từ đằng nào thu gọn cũng như đây, đấy là do đằng này, đằng ấy thu gọn.
Câu thơ còn tân kì vì hình ảnh “chết mảnh mặt trời”, để nói mặt trời lặn. Sau này, Xuân Diệu sẽ nói “mặt đời đi ngủ sớm” và bị chê là Tây, trong khi câu thơ Thế Lữ không bị chê, vì Thế Lữ có sáng tạo, trong khi Xuân Diện chỉ mô phỏng theo tiếng Pháp: hơn nữa, hình ảnh “chết” được kết hợp với “máu sau rừng” ở câu trên. Xưa kia, các cụ không dùng hình ảnh máu huyết như vậy; để diễn tả màu đỏ rực, các cụ nói “Áo chàng đỏ tựa ráng pha”. Các nhà Thơ mới dùng hình ảnh thô bạo hơn; có lẽ Thế Lữ bị ảnh hưởng câu thơ Baudelaire:
Le soleil s’est noye’ dans son sang qui se fige
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir
(Mặt nhật đắm trong máu hồng đông cứng
Trời chiều buồn, rực rỡ tựa triều môn)
Sau này Hàn Mặc Tử, gặp thêm ảnh hưởng của bệnh tật, sẽ viết:
Cả niềm yêu ý nhớ cả một vùng
Hóa thành vùng máu đào trong ác lặn…
…Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si…
Loại từ mảnh trong “mảnh mặt trời” cũng mới lạ; người ta chỉ nói mảnh sành, mảnh giấy, thậm chí mảnh trăng vì trăng khi tròn khi khuyết, có khi bị xẻ làm đôi. Hình ảnh “mảnh mặt trời” gợi ra được cái nhìn tàn bạo của Con Hổ muốn giẫm nát cả vũ trụ”.
(NAM CHI. Thế Lữ Cuộc đời trong nghệ thuật
NXB Hội Nhà văn, 1991)
2.TIẾNG SÁO THIÊN THAI
(Tặng Ngô Bích San)
THẾ LỮ
Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng
Tếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn…
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn
Hàng từng rủ rỉ bên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng tại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
Trời cao, xanh ngắt – Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai
Theo chim, tiếng sáo lên khơi
Lại theo dòng suối bên người Tiên Nga
Khi cao, vút tận mây mờ
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh
Êm như lọt tiếng tơ tình
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không
Thiên thai thoảng gió mơ màng
Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay...
Trong các nhà Thơ mới, có lẽ Thế Lữ là người hay mơ màng cõi Bồng lai Tiên cảnh nhất. Nhiều khi, đang bước giữa chốn trần gian, đang chen chúc trong phố đông người chật, thi sĩ cứ mải mê tưởng nhớ cái cõi cao xa u huyên trên kia, thấy mình “đồng hương” cùng những Kim Đồng, Tiên Nga, Ngọc Nữ:
Trông khóm đào, mai bán khắp đường
Ta cười, tưởng nhớ cảnh quê hương
Bồng lai muôn thuở vườn xuân thắm
Sán lạn, u huyền, trong khói sương.
(Mưa hoa)
Tập Mấy vần thơ (1935) phản ánh tâm trạng của kẻ “Nửa ở Bồng lai, nửa dưới Trầ”. Không ít lần, người lữ khách nơi trần thế (bút danh Thế Lữ mang ý tưởng này) đã thả hồn trở về với quê hương để ghi lại cho ta những cảnh sắc du dương, tuyệt diệu. Những lúc ấy, tâm hồn ta như được cùng tâm hồn thi sĩ tắm trong hương khói mơ màng, trong những cảnh sắc ngất ngây và âm thanh réo rắt.
Tiếng sáo Thiên thai là một lần trở về như thế.
Trở về Thiên thai đồng nghĩa với chiếm lĩnh một không gian đặc biệt. Bài thơ mở ra một không gian trong sáng, xa vắng đến vời vợi. Ở đây cuộc sống thật yên bình thanh thản. Ở đây, cảnh sắc như ngưng đọng, không biết đến thời gian:
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ bên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Trong tâm trạng ngập ngừng bâng khuâng, nét bút vẽ vẫn vận động, biến hóa. Bốn dòng thơ và bốn hình ảnh như để hợp tạo thành một bức tranh gợi cảm về chốn thần tiên. Nếu họa theo, bức tranh này phải bao quát cả không gian rộng và khá nhiều đường nét. Cũng với cảm xúc bút pháp tương tự, sau này Huy Cận vẽ nên cảnh “đẹp xưa” ở miền rừng núi:
Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng, thưa lò mái ngang
Vi vu gió hút néo vàng
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao.
(Đẹp xưa)
Đều rộng rãi, thanh lặng nhưng bức tranh của Huy Cận mang vẻ cổ kính, gợi cảm giác vắng lạnh, bức tranh trong Tiếng sáo Thiên thai đậm màu mơ mộng, gợi tình cảm quyến luyến. Vừa hiện lên trước mắt lại vừa vọng tới tai ta những Tiên nga xõa tóc bên nguồn suối; tiếng rủ rỉ của hàng tùng trong làn gió xuân nhè nhẹ, áng mây hồng lấp ló sau đèo, ánh nắng nhiều nhuộm khắp mình cây. Đặc biệt, màu sắc ở đây tươi sáng mà không chói (đúng là gam màu nhẹ mát của một tâm hồn giàu mộng ảo). Ngòi bút Thế Lữ thật tài tình khi phác họa cái tĩnh trong không gian để diễn tả sự ngưng đọng của thời gian. “Mây hồng ngừng lại sau đèo; Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi”. Tưởng như nơi đây mãi mãi là một buổi chiều xuân. Mà cũng phải thôi – thời gian trên Thiên thai đâu có tính bằng đơn vị thời gian dưới phàm trần! (Theo Thần tiên kí hai chàng Lưu Thần, Triệu Nguyễn gặp gỡ rồi kết duyên cùng hai Tiên nữ ở núi Thiên thai. Sống ở đây được nửa năm, khi về thăm lại quê cũ thì con cháu đã sinh sôi đến đời thứ bảy). Chính sự tĩnh lặng, ngưng đọng ấy, chính “trời cao xanh ngắt” đã tạo nền để làm nổi bật lên một hình ảnh động: đôi con hạc trắng đang tìm về chốn non nước hữu tình, nơi trú ngụ của các nàng Tiên. Câu thơ lục bát được ngắt chia đột ngột rồi vắt dòng theo tiếng reo ngạc nhiên của nhà thơ:
Trời cao, xanh ngắt – Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai.
Cánh chim tiên nâng chở tiếng sáo và từ đây lời thơ thoắt biến hóa, bay nhảy theo những âm thanh vi vút, dìu dặt trong không gian huyền diệu:
Theo chim, tiếng sáo lên khơi
Lại theo dòng suối bên người Tiên Nga
Khi cao, vút tận mây mờ.
Khi gần, vắt vẻo, bên bờ cây xanh
Êm như lọt tiếng tơ tình
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không
Về mặt kết cấu, ba cặp câu trước là điểm tựa cho ba cặp câu này, bài thơ phát triển theo trục dọc. Sau mấy câu tả tiếng sáo gợi hứng đầu bài, nhà thơ tạm dừng lại để chuyển sang phác họa cảnh tiên rồi đến đây cảm nhận âm thanh cùng cảm giác không gian nhập hòa làm một. Trong tập Mấy vần thơ, mấy lần Thế Lữ cảm nhận tiếng sáo. Cái âm thanh réo rắt, trong trẻo này thường nâng tâm hồn thi sĩ lên không gian vời vợi:
Tiếng địch thổi đâu đây
Cớ sao mà réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt
Mây bay… gió quyến mây bay…
Tiếng vi vút như khuyên can, như dìu dặt.
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.
(Tiếng trúc tuyệt vời)
Tiếng diều sáo nao nao trong vắt
Trời quang mây, xanh ngắt màu lơ
Thuyền trôi, nước đẩy hững hờ
Hàng cây lặng đứng trên bờ trông mong.
(Hồ xuân và thiếu nữ)
Thế Lữ hay âm thanh hóa không gian, miêu tả sự quấn quýt, nâng đỡ giữa tiếng sáo với bầu trời, tầng mây ngọn gió. Tiếng sáo Thiên thai cũng nằm trong lối miêu tả ấy song nét đặc sắc là được cảm nhận linh động trên nhiều âm vực đối lập nhau. Khi vút cao, khi xuống thấp; lúc bay xa, lúc lại gần – trong không gian mung lung tràn ngập tiếng sáo đang biến hóa, uốn lượn, lúc ẩn lúc hiện. Tiếng sáo đến khắp mọi nơi – khi chơi vơi cùng cánh chim, lên với mây mờ, lúc đậu trên người Tiên Nga cạnh dòng suối, vắt vẻo đùa nghịch với hàng cây. Tiếng sáo bay nhảy trên những dòng thơ lục bát để trong từng cặp câu đều hàm chứa các âm vực tương phản. Đoạn thơ này của Tiếng sáo Thiên thai dễ nhắc ta nhớ đến cảm nhận tiếng đàn nàng Kiều tài hoa của Nguyễn Du:
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng thưa như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Trong tâm hồn giàu mộng mơ của Thế Lữ tiếng sáo thêm du dương trầm bổng, khoáng đạt vô cùng. Nó là muôn cung bậc chơi vơi và dìu dặt, vắt vẻo đùa nghịch và buồn nhớ hiu hắt của cõi lòng người giữa một buổi chiều xuân.
Miêu tả chốn Thiên thai và tiếng sáo như vậy, Thệ Lữ đã thể hiện một trí tưởng tượng mạnh mẽ khác thuờng. Ví tâm hồn mình như một “cây đàn muôn điệu” ngân lên trước “vẻ đẹp có muôn hình muôn thể”, Thế Lữ say sưa tìm kiếm và tưởng tượng. Trên con đường ấy, cõi tiên đã giúp thi sĩ viết nên những vần thơ say đắm, đặc sắc nhất. Đọc các bài thơ như Tiếng sáo Thiên thai, Hồ xuân và thiếu nữ, Vẻ đẹp thoáng qua, ta không khỏi ngỡ ngàng trước những mơ tuởng cao siêu, sự rung cảm chân thành và ngòi bút biến hóa tài hoa của Thế Lữ. Trí tưởng tượng chính là mẹ đẻ thần kì của nghệ thuật song nếu không có lí trí dẫn dắt thì dễ sinh ra những quái đản. Cái “lí trí” dẫn dắt, thôi thúc thi sĩ – tiểu thuyết gia Thế Lữ là niềm say mê tôn sùng cái Đẹp. Cảm nhận chính xác và phong phú về cái Đẹp của một nghệ sĩ đã giúp ông không chệch hướng. Và những tưởng tượng khác thường về cái Đẹp ở Thế Lữ phản ánh một tâm hồn khoáng đạt, không chịu bị cùm trói, thể hiện một cách phản ứng lại cái xã hội u tối, chật chội lúc bấy giờ. Có điều, nếu như trong nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn (Vàng và máu - 1934, Bên đường Thiên lôi – 1936, Gió trăng ngàn - 1941, Trại Bồ Tùng Linh – 1941...), Thế Lữ thường phát huy trí tưởng tượng để tìm đến những vẻ đẹp li kì, rùng rợn thì khi làm thơ ông lại hay mơ tưởng những vẻ đẹp thoáng qua, lung linh, huyền ảo.
Mơ cõi tiên là một cách tỏ thái độ chán ghét cõi trần. Song mặt khác, sự mơ nào mà chẳng có chút ít bóng dáng của hiện thực bởi suy đến cùng nó cũng là sản phẩm tưởng tượng, ước ao của một con người phàm trần mà thôi. Bởi vậy, thế giới tiên trong Tiếng sáo Thiên thai chẳng hoàn toàn vui, hoàn toàn siêu thoát mà phảng phất nỗi buồn cùng con người. Thế Lữ đã gửi lên đây nỗi buồn xa vắng, hiu hắt của một cái tôi cô đơn khi tự nhìn vào lòng mình:
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng.
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn
Không chỉ thi sĩ mà chính người tiên cũng buồn, cũng mơ màng ngỡ tiếng sáo đang chở lòng buồn của mình dìu dặt lên khơi:
Thiên thai thoảng gió mơ mòng
Ngọc Chân buồn tướng tiếng lòng xa bay…
Xem ra, cái cõi tiên ấy cũng không xa cõi trần là mấy.
Làm nên âm điệu dập dìu, cuốn hút lòng người của Tiếng sáo Thiên thai, không thể không nói đến thể thơ lục bát qua ngòi bút tài hoa của Thế Lữ. “Cũng là lục bát mà những câu lục bát trên này (tức trong bài Tiếng sáo Thiên thai - L.Q.H) thật khác hẳn những câu lục bát thuở xưa. Có thể nói tất cả những sự rung rinh, nhịp nhàng đều ẩn hiện trong các vần thơ của Thế Lữ. Người đọc cảm thấy một cái buồn bát ngát như nghe một thứ âm nhạc lạ lùng, huyền diệu”. Tiếng sáo Thiên thai dẫn ta vào một thế giới du dương, cao siêu, trong đó nỗi buồn cũng dìu dịu, trong sáng. Mỗi vần, mỗi điệu thơ đều “không nỡ” phá vở không khí đặc biệt này. Ngay khi Thế Lữ bộc lộ nỗi buồn, âm điệu thơ vẫn bâng khuâng, luyến láy: “Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn”… Rồi có lúc nhà thơ ngạc nhiên, lời thơ vẫn như tiếng reo vui khe khẽ: “Trời cao, xanh ngắt – Ô kìa; Hai con hạc trắng bay về Bồng lai”. Điều đáng nói là vần, nhịp trong Tiếng sáo Thiên thai thực sự như những rung động phát ra trực tiếp từ cõi lòng. Đâu còn lối thơ lục bát gò gẫm, kể sự theo kiểu diễn nôm. Tình và cảnh ở đây quyến luyến, nhịp nhàng và lời thơ biến linh hoạt theo tiếng sáo, theo dòng cảm xúc.
Sự vận dụng thành công thể lục bát ở Tiếng sáo Thiên thai góp phần chứng tỏ rằng ở buổi cách tân hồ hởi, táo bạo ban đầu, Thơ mới đâu cắt rời hoàn toàn với truyền thống. Như con ong biết tìm nhụy, các thi sĩ Thơ mới tài năng sẽ hút ở truyền thống những sinh lực giúp làm giàu cho nguồn sáng tạo dồi dào của mình. Thông thường, ở chặng đầu của cuộc cách mạng, nhiều “chiến sĩ tiên phong” dễ hăng hái mà đi qúa đà, dễ đoạn tuyệt hẳn với cái cũ (rồi những người tiếp nối sẽ điều chỉnh dần). Phong trào Thơ mới 1932 – 1945 và trường hợp Thế Lữ có phần nào phản ánh hiện tượng đó. Không ít bài ở tập Mấy vần thơ được viết theo thể tự do, không cách khổ, đoạn đều đặn, “chạy dài” theo giọng kể (tỉ lệ 18/47 bài). Không ít đoạn trong tập thơ này bị văn xuôi hóa với dòng thơ có lúc trên 10 âm tiết. Song đó mới là một mặt. Mặt khác, Thế Lữ vẫn chưa dứt thoát khỏi sức mạnh truyền thống (trong nội dung cảm xúc, xây dựng hình ảnh và vận dụng thể thơ). 7/47 bài của tập Mấy vần thơ được viết theo thể lục bát và thành công của Tiếng sáo Thiên thai chứng tỏ sức sống bất diệt của thể thơ này. Nếu nói “Phong trào Thơ mới là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa” thì Tiếng sáo Thiên thay là một phép thí nghiệm có ý nghĩa làm sáng tỏ khả năng biểu hiện phong phú, kì diệu của “khuôn phép” thơ lục bát. Sau Thế Lữ, các thi sĩ lãng mạn tài năng Huy Cận, Nguyễn Bính sẽ tiếp tục đem lại cho thể thơ dân tộc này những giá trị mới.
Khi phải sống nữa cõi đời đầy ganh ghét và gian trá, những tâm hồn khoáng đạt, yêu tự do thường ước mơ những vẻ đẹp cao xa huyền diệu. Nhiều sáng tác của Thế Lữ trong tập Mấy vần thơ thể hiện hành trình tìm đến với cái đẹp khi thì ở quá khứ oanh liệt, khi thì trên chốn Bồng lai thanh cao. Lần theo tiếng sáo Thiên thai Thế Lữ đã Viết nên những vần thơ rung cảm lạ lùng. Rồi đến ngày nào đó, cái tôi thơ mới sẽ “thực dụng” hơn – sẽ yêu đắm đuối và hưởng thụ gấp gáp ngay ở cõi Trần, sẽ thở than, rên rỉ với kiếp lạc loài, với cảnh “đời tàn trong ngõ hẹp”. Những lúc ấy, Tiếng sáo Thiên thai như nhắc về bao mơ mộng sáng trong không còn nữa.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Độ ấy Thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng thành nền Thơ mới ở xứ này. Thế Lữ không bàn về Thơ mới, không bênh vực Thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ…
Nhưng con người táo bạo ấy vẫn không nỡ lìa những giấc mộng nên thơ của thời trước. Tuy ảnh hưởng thi ca Pháp về phái lãng mạn và nhất là ảnh hưởng tân văn Pháp đã khiến những mộng ấy có một ít hình dáng mới, một ít sắc màu mới, ta vẫn có thể nhìn nhận dễ dàng cái di sản của lớp người vừa qua… Người lưu luyến cảnh tiên trong tưởng tượng, phảng phất nghe tiếng sáo tiên, mải mê nhìn những nàng Tiên. Muốn gợi trí mơ tưởng cảnh tiên, người không cần chi nhiều…
Ở xứ ta từ khi có người nói chuyện tiên, nghĩa là từ khi có thi sĩ, chưa bao giờ ta thấy giới tiên có nhiều vẻ đẹp như thế. Phải chăng vì cõi tiên đã cùng coi trần Âu hóa?”
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr 50 – 51)
“Ông là một thi sĩ có công đầu trong việc xây dựng nền Thơ mới. Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến Thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của Thơ mới…
… Thế Lữ là một thi sĩ nặng lòng yêu dấu, nhưng sự yêu thương của ông thật là rộng rãi; hết thảy mọi vẻ Đẹp trong trời đất đều làm cho lòng ông rung động.
Nếu không so sánh văn chương tư tưởng, mà chỉ đứng riêng về phương diện say mê, có thể nói Anatole France tôn sùng cái Đẹp thế nào, thì Thế Lữ cũng say mê cái Đẹp thế ấy. Anatole France mơ tưởng đến các nàng Tiên thế nào, thì Thế Lữ cũng mơ tưởng các nàng Tiên thế ấy…”
(VŨ NGỌC PHAN. Thế Lữ - Nhà văn hiện đại,
NXB Khoa học xã hội. H. 1980, tập II, tr. 691-697)
“Ở đây, tôi muốn so sánh những câu thơ tả “tiếng” ở trong Mấy vần thơ và ở trong Truyện Kiều.
(Chúng tôi xin không dẫn lại những đoạn thơ mà ông Lê Tràng Kiều đã trích trong Truyện Kiều, trong các bài Tiếng sáo Thiên thai, Tiếng trúc tuyệt vời, Tiếng hát bên sông của Thế Lữ).
Vất hết những thành kiến trong óc, cứ bình tĩnh mà đọc những đoạn thơ trên, chắc ai cũng phải nhận rằng: cái tài nghệ của Thế Lữ về một phương diện này qủa không kém Nguyễn Du là mấy.
Nếu tiếng sáo của Thế Lữ kém thâm trầm réo tắt thì nó lại “lơ lửng”, “vắt vẻo” hơn… Ta đọc những câu:
Khi cao vút tận mây mờ
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh.
hay là:
Cao như thông vút, buồn như liễu…
thì ta thấy cái “tiếng” là cái vô hình, trở nên có hình có bóng, khi bay vút lên cao, khi lởn vởn giữa đám cây bên bờ…Thơ như thế mới thật là hoạt vậy…”.
(LÊ TRÀNG KIỀU. Thơ mới Thế Lữ,
Hà Nội báo, số 24. 7– 6–1936…
Dẫn theo Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học,
NXB Văn học, H, 1995, tập I. tr 365 - 367).
3.TIẾNG THU
(Tặng bạn Văn)
LƯU TRỌNG LƯ
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc.
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên là vàng khô?
Thơ ca phải chịu ơn mùa thu hay mùa thu phải chịu ơn thơ ca? làm sao mà nói được! Chỉ biết rằng, trong bốn mùa, xem ra thơ thiên vị với mùa thu hơn cả, và mùa thu cũng ban tặng cho thi nhân nhiều áng thơ ca hơn hẳn các mùa. Có phải vì mối giao tình ấy mà người xưa đã có cả một châm ngôn thâm thúy: “Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người”? Có thể còn ai đó hoài nghi cái chân lí này của người xưa. Nhưng nếu một lần đọc những bài như Tiếng thu thì nỗi hoài nghi vẩn vơ kia dễ dàng tan biến “Hồn thơ” và “hồn thu” ở đây đã đồng vọng mà thành Tiếng thu.
Con người cổ điển vốn xem Tĩnh là gốc của Động, là gốc của sự vận động trong tạo vật. Cho nên người ta đã có cả một quan niệm triết học và mĩ học về cái Tĩnh. Tĩnh được xen là trạng thái vĩnh viễn, là nét đẹp vĩnh hằng của tạo vật thiên nhiên trường cửu không di dịch này. Vì thế, bước vào thơ thiên nhiên xưa là bước vào một thiến niên Tĩnh lặng, miên viễn. Yên bình, thanh vắng trở thành một đặc tính của vẻ đẹp thiên nhiên trong nghệ thuật cổ điển. Ấy là cái TĨNH đầy an nhiên minh triết của thi nhân xưa. Thơ mới không thế! Nếu như gom toàn bộ Thơ mới lại để mà lắng nghe, thì cái âm hưởng đặc trưng nhất vang lên từ đáy hồn Thơ mới chính là tiếng XÔN XAO. Các thi sĩ Thơ mới ít nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn chiêm nghiệm. Họ muốn vào dò la cái sự sống tiềm tàng chất chứa bên trong lòng tạo vật. Bằng mối liên hệ tương ứng vi diệu giữa tâm hồn cá nhân và tâm hồn tạo vật, họ đã khám phá ra sự sống bí mật đầy xôn xao trong lòng thiên nhiên. Bên trong mỗi tạo vật kia chất chứa bao biến thái tinh vi và bí mật. Bên trong mỗi tạo vật là cả một thế giới riêng vừa mơ hồ vừa hiển hiện mà người ta chỉ nắm bắt được bằng thi cảm: Thế giới huyền diệu! Nó là cái cựa mình của nụ hoa, là tiếng thở dài của lá, là nỗi rạo rực của nhuỵ phấn, tiếng đập cánh của những giấc mơ, tiếng rung của những đường trăng, là tiếng ngân của những làn ánh sáng, là sự hổn hển nước mây, là sự run rẩy bâng khuâng của thứ nắng lỡ thì… Thế giới Thơ mới là vạn vật lên men say, là tạo vật ở trạng thái thăng hoa. Vì thế mà XÔN XAO đã thành điệu hồn riêng của Thơ mới.
Có lần Xuân Diệu đã lắng nghe mùa thu và nhận ra thứ tiếng riêng của nó: “Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”. Và bản thân Lưu Trọng Lư cũng đã nghe thấy những điệu huyền: “Những điệu huyền bay lạc khắp thôn”, “Huyền” có thể là đàn. Song đây hẳn không phải tiếng đàn, điệu đàn. Hoặc giả coi đây là tiếng đàn thì ấy là cây đàn vô hình, và tác giả của tiếng đàn hư ảo ấy phải là mùa thu. Bởi đó là thứ âm thanh huyền diệu, hư thoảng tấu lên tự trong lòng tạo vật. Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư đây cũng là tiếng huyền ấy, điệu huyền ấy thôi.
Phải vì Tiếng thu là “tiếng huyền” nên mỗi người đã nghe ra một phách chăng! Người thấy Tiếng thu là một bức tranh; người chỉ xem là một bản nhạc. Người thấy ba khổ thơ như ba câu hỏi của nỗi cô đơn. Có người còn định cho rằng đây là “Bản tốc kí tâm trạng”,v.v… Nhưng dầu sao, đây là Tiếng thu, vậy nên điều đầu tiên có lẽ cần phải nghe cho ra cái TIẾNG của THU, rồi hãy nghe cái TIẾNG của THƠ.
Tiếng thu không phải là một âm thanh riêng rẽ nào, cũng không phải là một tập hợp giản đơn nôm na của nỗi thổn thức trong đất trời, nỗi rạo rực trong lòng người và tiếng xạc xào của lá rừng. Tiếng thu là một điệu huyền. Tiếng thu là cả một bản hòa âm vừa mơ hồ vừa hiển hiện của bao nỗi xôn xao ngấm ngầm trong lòng tạo vật đang họa điệu với nỗi xôn xao huyền diệu của hồn thi nhân.
Khi xem thơ Lưu Trọng Lư, thực tình người viết không muốn trích Chế Lan Viên. Thơ của hai thi sĩ này khác nhau quá mà. Nhưng, phép tương giao (correspondence) của Bôđơle đã khẳng định ngay cả những cái ngỡ hoàn toàn khác nhau cũng có nhiều điều tương ứng, vấn đề là thi sĩ có tìm ra hay không thôi. Huống chi, bài thơ này, ngẫu nhiên thế nào, lại như một sự lí giải thú vị cho Tiếng thu:
Bài thơ anh làm một nửa thà thôi.
Còn một nửa để mùa thu làm lấy
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không phải là anh nhưng nó là mùa.
Cho nên ngay cái tiếng “Lá thu kêu xào xạc” của Lưu Trọng Lư là sự cộng âm, đồng vọng của cả lá thu và hồn thi nhân đó thôi! (Phải nói thêm rằng chữ “xào xạc” của Chế Lan viên là tri giác suy tư, còn chữ “xào xạc” của Lưu Trọng Lư hoàn toàn là trực quan, nó thuộc về cảm giác, cảm xúc!).
Có lẽ bởi sự cộng hưởng ấy mà “bản hòa âm mùa thu” đã tìm thấy cho mình một “bản hòa âm ngôn từ” để cất lên thành Tiếng thu. Vâng, ta đang nói đến một trong những nét đặc sắc nhất của thi phẩm này: âm điệu! Tiếng thu đã được kí thác vào một cấu trúc ngôn từ chứa chan tính nhạc. Nghe trong tổng thể, thậm chí còn thấy bài thơ từa tựa một ca khúc. Sao lại né tránh, lại xem nhẹ việc cảm thụ phương diện âm nhạc của Tiếng thu? Bên cạnh câu “Thi trung hữu họa”, người xưa chẳng đã từng nói “Thi trung hữu nhạc” đó thôi! Vả chăng áng thơ ca chân chính nào cũng xâm chiếm tâm hồn người đọc trước hết bằng âm điệu của nó. Âm điệu thơ bao giờ cũng là sự cất cánh, sự hiển hiện của cái ta gọi là hồn thơ. Nghe được âm điệu riêng thì xem như đã cảm nhập được cái hồn, cái thần của thơ rồi vậy. Mà ở đây, dường như nhạc lại là cái hình thức của Tiếng thu là cái chân dung của thi phẩm: Xem nhẹ điều này chẳng phải là bỏ qua phần hồn mà chỉ chú trọng đến phân thân xác của thơ hay sao? Điều cốt yếu là cảm nhận nhạc tính trong sự hòa điệu giữa TIẾNG THU và TIẾNG THƠ thế nào thôi!
Có thể khi in, bài thơ được sắp xếp thành khổ, cũng có thể in liền không chia khổ. Nhưng điều này không có ý nghĩa quyết định, nó chỉ thuần túy là sự trình bày bề ngoài. Cấu trúc ngôn từ tự nó đã chia bài thơ thành ba phân nội dung, tương ứng với ba câu hỏi. Và như thế, dù muốn hay không, tự nó cũng hình thành ba khổ, bất chấp sự tán đồng hay phản bác của người phân tích. Ba phần nội dung hợp thành một chỉnh thể theo kết cấu rất âm nhạc.
Chúng ta đều biết “lặp lại” và “phát triển” là một quy luật rất thông thường của âm nhạc. Âm nhạc của ngôn từ cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tiếng thu quả là một chỉnh thể chặt chẽ và nhuần nhuyễn, đẹp như một giai điệu thu. Có thể ví với một giai điệu, bởi sự hòa nhập tự nhiên hài hòa giữa “vần” và “nhịp”. Tiếng thu hiệp vần bằng cả hai hệ thống: vần bằng (mùa thu – trăng mờ - chinh phu – rừng thu – vàng khô) và vần trắc (thổn thức -rạo rực – xào xạc – ngơ ngác)… Vần điệu như vậy vừa giàu có vừa nhất quán. Bởi “bằng” cũng chỉ một vần (âm “u”), “trắc” cũng chỉ một vần (âm “ức – ac”). Điều này gợi ta nhớ đến cách hiệp vần trong bài Chiều nổi tiếng của Hồ Dzếnh – cả bài 13 câu, tác giả chỉ dùng độc vần “ây” (“Trên đường về nhớ đầy… Khói huyền bay lên cây”) – Ở bài Chiều của Hồ Dzếnh chỉ có một hệ thống vần bằng, không hiệp vần trắc. Cho nên, cũng tạo nên tính giai điệu, nhưng vần của Tiếng thu có phần quyến rũ hơn nhờ hai hệ thống âm vận tạo thành hai chuỗi vần quyện vào nhau. Còn nhịp điệu có lẽ được tạo ra trước hết bởi thể loại. Thơ ngũ ngôn chín câu, mỗi câu năm chữ, tạo ra bước nhịp lớn đều đặn, Rồi ba khổ thơ, khổ nào cũng mở đầu bằng cụm từ “em không nghe”, tạo nên điệp khúc rõ rệt. Đúng hơn là như một khúc thức gồm ba lời. Khúc thức không chỉ lặp lại mà còn phát triển. Ba khổ thì khổ một: 2 dòng, khổ hai: 3 dòng, và khổ ba: 4 dòng. Sự gia tăng tương ứng với từng mảng nội dung, từng bước đẩy cảm xúc lên cao trào.
Người viết vừa phân tách, mô tả cấu trúc ngôn từ mang tính nhạc của thi phẩm này. Nhưng điều đó phỏng có ích gì nếu như không làm vang lên được cái Tiếng thu?
Có phải mùa thu là mùa nhạy cảm nhất trong năm? Có phải vào mùa thu ngay cả những người vô tâm nhất cũng có thể nghe thấy những rung động tinh vi của trời đất? Lưu Trọng Lư đang muốn chia sẻ muốn tìm kiếm sự đồng điệu, hay đang muốn phô bày những cảm nhận huyền diệu mình mới nghe được trong hư thoảng qua một thoáng nghiên tai thi sĩ? Ba khổ thơ nói đến ba thứ tiếng của mùa thu. Chẳng biết là ngẫu nhiên hay được sắp đặt một cách tinh vi nhuần nhị mà ba “tiếng” ấy lần lượt cất lên theo một trật tự phát triển: từ tiếng thổn thức của mùa thu dưới ánh trăng mờ, đến tiếng rạo rực của lòng người cô phụ, đến tiếng lá thu kêu xào xạc – nghĩa là từ xa đến gần, từ mơ hồ đến cụ thể, từ toàn thể đến cá thể. từ cảnh vật đến nhân vật, từ hình sắc đến thanh âm, từ bề sâu đến bề ngoài, từ kín khuất đến phát lộ, v.v... Nhưng lắng kĩ mà xem, thực ra thổn thức và rạo rực chưa thực là âm thanh. Những tiếng ấy hiện hữu mà mơ hồ. Toàn bài chỉ có duy nhất một từ tượng thanh: xào xạc. Vậy Tiếng thu là bao gồm cả những tiếng có thể nghe được một cách trực quan cả những tiếng chỉ nhận được bằng linh cảm, thi cảm. Nhưng trong ba tiếng trên dường như chứa đựng một tương quan khác. “Thổn thức” và “rạo rực” là những âm nền còn “xào xạc” là âm nổi: Phải chăng nỗi thổn thức của tạo vật, nỗi rạo rực của lòng người đã cộng hưởng thành nỗi xôn xao mênh mang đang rung lên bên trong lòng trời đất này. Còn tiếng “xào xạc” kia chỉ là sự phát lộ thành tiếng ra bên ngoài của nỗi xôn xao ngấm ngầm đó thôi? Hồn thu bàng bạc trong toàn bài nhưng nó hiện hình sống động nhất là ở cái tiếng “xào xạc” ấy. Nghe cái tiếng thu này, ta dễ nhớ đến một tiếng thu khác của Nguyễn Đình Thi về sau này:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may.
“Xao xác” và “xào xạc” thực chỉ là một âm thôi, khác nào như một nốt nhạc chơi ở hai cung khác nhau. Ấy thế mà không thể thay thế được. “Xao xác” đanh và cao gợi được tiếng lá quét mình trên đường phố, nó là cái hơi thu phố phường. Còn “xào xạc” lại trầm và đục, trong không khí này, đã gợi được vẻ âm u và huyền bí của rừng già:
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc.
 Tiếng “thổn thức” của đất trời còn mơ hồ, tiếng “rạo rực” của lòng người cô phụ có phần rõ rệt hơn! Có thể em không nghe! Nhưng còn tiếng “xào xạc” gần gũi thế, lẽ nào em không nghe? Cấu trúc nhạc vừa lặp lại vừa phát triển như thế khiến cho tiếng thu ngày một xốn xang hơn và lòng thi nhân (người cất lên tiếng hỏi tìm sự đồng điệu) cùng ngày một khắc khoải hơn!
Sự hòa điệu giữa Tiếng thu và Tiếng thơ còn tỏ ra tinh tế hơn trong âm hưởng của nó. Toàn bài có thể ngắt thành 18 tiết tấu, thì số tiết tấu bằng là 11, còn tiết tấu trắc là 7. Bằng chiếm ưu thế. Toàn bài có 49 âm thì có tới 30 âm bằng, âm trắc chỉ có 19. Bằng cũng chiếm ưu thế! Lại nữa, toàn bài có những câu hoàn toàn viết bởi âm bằng “ Em không nghe mùa thu… Em không nghe rừng thu”. Vậy là âm điệu chung đã nghiêng hẳn về bằng. Thảo nào chúng ta thấy Tiếng thu có một điệu êm đềm, thanh thoát mà tiêu tao. Cái nền bằng của âm hưởng dường như mang trong nó cái không khí âm u bàng bạc, mơ màng cái nhịp rung trầm trong lòng cõi thu mênh mông. Nhưng điều độc đáo chưa phải ở phần bằng, mà ở phần trắc. Đáng kể nhất là những vần chân thuộc về âm trắc. Chúng đều là những từ láy. Bản thân từ lấp láy đã gợi được sự điệp âm, sự nhấn nhá, luyến láy. Chúng lại đì liền thành chuỗi càng làm cho sắc thái ngân luyến vang vọng hơn, lên cao hơn. Khác nào trên cái nền bằng thanh tĩnh mơ màng của đất trời chợt ngân lên những Tiếng thu:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Khác nào trên cái nền mơ hồ những thổn thức rạo rực xốn xang vô hình thấy động lên một tiếng xạc xào của lá! Sự tương phản bằng trắc ấy lại chính là sự hài hòa, sự hài thanh để cho Tiếng thu thành một bản hoà âm chứ sau?
Tôi cứ nghĩ, Lưu Trọng Lư chính là chú nai kia, bởi cái nghiêng tai ngơ ngác thi sĩ của nó. Nó ngơ ngác vì không nghe ra hay vì tiếng thu quá đỗi lạ lùng. Nó chỉ nghe có một tiếng lá thu kêu xào xạc thôi, mà đằng sau tiếng xào xạc kia là biết bao rạo rực, thổn thức của đất trời. Chỉ có một tín triệu duy nhất là tiếng ”xào xạc” nhưng cái âm thanh của lá rừng thực đã là vị sứ giả của cái vuơng - quốc – thu huyền bí, là phát ngôn chính thức và hàm súc của Tiếng thu. Ẩn sau tiếng “xạc xào” là cả một giao hưởng vô hình của những nỗi xôn xao huyền diệu. Y như thiên nhiên tạo vật này cũng mang trong lòng “nỗi mù mờ của những đam mê và khát vọng”. Hay chính Lưu Trọng Lư đã đem nỗi mù mờ những đam mê và khát vọng của mình mà phổ vào tạo vật để nó thành Tiếng thu?
CHU VĂN SƠN
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Nét đặc sắc của hồn thơ Lưu Trọng Lư là khả năng nắm bắt và diễn tả những xúc cảm mơ màng, bàng bạc lan thấm vào mọi ngõ ngách tâm hồn. Từ cái xào xạc của rừng thu, tiếng thổn thức của ánh trăng mờ, nỗi buồn hồi cố man mác gợi lên trong tiếng gà trưa gáy não nùng, đến nỗi buồn lan toả trong dòng thời gian qua tiếng xa quay (…).
Âm thanh nhạc điệu là sức mạnh đặc biệt của thơ Lưu Trọng Lư. Điệu của toàn bài được coi trọng hơn vần. Trong thể thơ năm chữ quen thuộc, bài Tiếng thu có sự phối hợp tài tình của âm thanh, hình ảnh tạo nên một âm điệu thật trong trẻo, êm dịu, thanh tao. Đặc biệt là câu đầu “Em không nghe mùa thu” với toàn thanh bằng mở ra một nền nhạc trong sáng, rồi trên đó những câu giữa các khổ thơ lại khép lại các từ láy vần trắc – thổn thức, rạo rực, xào xạc, ngơ ngác – tạo nên cái cảm giác xôn xao ở bên trong”.
(NGUYỄN VĂN LONG. Lời giới thiệu
Tuyển tập Lưu Trọng Lư, NXB Văn học. 1987)
“Bài thơ được tạo bằng ba câu hỏi dồn dập, tha thiết, ba câu hỏi cùng một hình thức, hợp lại thành một câu hỏi lớn gõ mạnh vào lòng đồng cảm. Tiếng thu là tiếng buồn, tiếng rạo rực trong lòng người cô phụ đơn chiếc, tiếng thời gian ra đi. Nhưng tiếng thu còn buồn hơn vì nỗi buồn không được chia sẻ. Nó không chỉ buồn mà còn cô đơn. Những gì anh nghe, em không nghe chăng? Cụm từ “Em không nghe” lặp lại ba lần nhấn mạnh một tiếng lòng lẻ loi. Em không nghe thổn thức, em không nghe rạo rực, em không nghe lá kêu. Thổn thức, rạo rực là những trạng thái nội tâm thầm kín mà người ta chỉ có thể nghe được bằng chính tâm hồn mình. Hay là em không nghe thấy cả chính tiếng lòng em? Điều đó càng buồn hơn”.
(TRẦN ĐÌNH SỬ, Những thế giới
nghệ thuật thơ,NXB Giáo dục, 1995)
4. NẮNG MỚI
LƯU TRỌNG LƯ
Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác, gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại nhữg ngày không.
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo.
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực một tâm trạng: “… Dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng tư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hàng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta”.
Khi viết những dòng ấy, chắc hẳn nhà phê bình có nghĩ đến bài Nắng mới.
Trong cuộc đời mỗi con người, ai mà chẳng có tình cảm mẹ con. Bao kỉ niệm tươi vui và đau buồn của tình cảm ấy không ít khi làm cho ta thổn thức. Nắng mới đã rọi vào cái tình cảm muôn thuở mà bảo giờ cũng mới mẻ ấy. Bài thơ có chất mộng của hoài niệm, của tâm trạng “chập chờn sống lại” nhưng rất thành thực, thành thực đến mức kì lạ. Nắng mới đã hội tụ được những vẻ đẹp nơi tâm hồn thơ Lưu Trọng Lư: thành thực phiêu lưu trong cõi mộng, cứ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy.
Bài thơ được cấu tứ theo một mô–típ khá “cổ điển”: từ một điểm gợi hứng ở hiện lại nhớ về dĩ vãng xa xưa. Kể cũng lạ: một tay tranh luận,một nhà diễn thuyết hùng hồn từng hăng hái cổ vũ cho Thơ mới như Lưu Trọng Lư mà khi sáng tác lại khá chừng mực. Người thanh niên có khi dõng dạc, to tiếng (đến hơi quá đáng) ấy lại hay mơ màng trong bao vần thơ êm ái ru ta về quá khứ xa xưa với những không gian huyền diệu.
Hai chữ ”nắng mới” vừa ghi nhận một thời điểm đặc biệt trên dòng chảy thời gian vừa diễn tả không gian. Cái nắng đầu mùa, mỗi năm chỉ có một lần, báo hiệu đã hết những tháng ngày lạnh ẩm. Thời điểm ấy, trong cuộc đời một con người, một gia đình, dễ nhớ kĩ, nhớ sâu lắm. Bởi nó gắn với sự bừng nở, sự rộng rãi, phơi phong. Nỗi nhớ nhưng của Lưu Trọng Lư cũng được gợi lên từ đó. Song có một điều lạ: nắng mới lúc này sao mà buồn, mà mung lung đến thế. Nói khác đi, ngay khi đặt bút viết Nắng mới, thi sĩ đã chập chờn sống trong cõi mộng:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác, gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không.
Cái động của tiếng gà trưa xao xác chỉ thêm rõ cái tĩnh, vẻ mông lung mà thôi. Các từ láy: xao xác, não nùng, chập chờn gợi một nỗi buồn nhẹ, một tâm trạng quạnh hiu, xa vắng. “Mỗi lần” lại nhắc nhớ “mỗi lần”. Nói là “chập chờn sống lại” nhưng nhà thơ nhớ rõ lắm. Nhớ tiếng reo của nắng mới tưng bừng ngoài nội. Nhớ màu áo mẹ từng đưa phơi trước giậu:
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Cái nắng mới của hoài niệm này nao nức. tươi vui bởi gắn với một cậu bé lên mười, với một người mẹ chăm chút, hiền dịu. Màu đỏ của chiếc áo trong tiếng nắng reo làm cho câu thơ sáng hơn, ấm nóng hơn. Có lẽ cũng nhờ màu đỏ ấy mà việc phơi áo của mẹ càng trở thành một điểm son trong nỗi nhớ về tuổi thơ.
Từ “nắng mới hắt bên song” nhớ “nắng mới reo ngoài nội”, nhớ người mẹ phơi áo trước giậu. Cứ thế, nỗi nhớ ngày một thành hình, rõ nét hơn. Dù đã có tả nhưng khổ thơ thứ hai vẫn thiên về xác định thời điểm, địa điểm. Song khổ thơ cuối, cảnh và tình mới thật quấn quyện, mới thật là “thi trung hữu họa”:
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Dáng vào ra của người mẹ như đang hiện lên rõ rệt trong tâm tưởng nhà thơ. Chi tiết gây ấn tượng nhất trong Nắng mới là “nét cười đen nhánh” của người mẹ. Không phải “miệng” cười hay “nụ” cười mà là “nét”. Lại “đen nhánh”! Hình ảnh thơ bỗng sắc, bỗng lấp lánh hơn. Nét cười ấy lại thêm sáng, thêm duyên khi thấp thoáng “sau tay áo”. Chính vì thấp thoáng thế mà nó càng đáng nhớ, càng được nhớ lâu, nhớ mãi. Sau này, tâm hồn thi sĩ, ngòi bút tài hoa của Hoàng Cầm cũng khiến ta chẳng thể nào quên nụ cười của những cô gái miền quê Kinh Bắc:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.
(Bên kia sông Đuống - 1948).
Với Lưu Trọng Lư, khuôn mặt, nét cười đáng kính, đáng yêu của người mẹ cứ thấp thoáng trong một không gian ấy thôi: “Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa”. “Nắng mới” và “giậu thưa” qủa đã thành một thời gian - không gian nghệ thuật ám ảnh không tách rời hình ảnh người mẹ… Có thể nói mẹ là tâm điểm của nỗi nhớ về tuổi thơ trong nắng mới, là nét son giữa những ngày không khiến nó đi suốt cuộc đời với nhà thơ.
Nắng mới là một bài thơ hết sức thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng. Tác giã đã thả hồn mộng đi tận hết cõi lòng để trở về với những hồi ức thấm thía.
Ngôi buồn nhớ mẹ ta xưa…
(Ca dao)
Bài thơ có cấu tứ đơn giản với không nhiều hình ảnh nhưng hình ảnh nào cũng linh động, cũng rất có hồn. Chính vì thế, Nắng mới gợi niềm đồng vọng sâu xa ở tâm hồn nhiều bạn đọc. Nó đã chạm gợi tới một trong những tình cảm thiêng liêng, ấm cúng nhất trong mỗi con người. Nói kỉ niệm riêng nhưng chính Lưu Trọng Lư đã làm bao người đọc phải chập chờn bâng khuâng.
Đọc bài thơ này chắc ta chẳng còn thờ ơ trước mỗi năm một lần nắng mới.
Làm được như thế đã là điều vô cùng vinh dự đối với một nhà thơ.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Đặc sắc của Lư chính ở chỗ này. Từ những kỉ niệm tươi sáng về người mẹ đã khuất cho đến bao nhiêu buồn thương, bao nhiêu chán nản, bao nhiêu đau khổ vì tình yêu, cả cái cảnh đời giá lạnh của đôi vợ chồng lúc “tình đã xế bóng” cùng cái thú ngây ngất của cuộc đời “giang hồ”. Lư đều kể cho ta nghe một cách rất cảm động.
Một điều rõ ràng: đọc thơ người khác ta có thể tìm thấy nhiều bài âm điệu tinh tế hơn, nhiều hình ảnh xinh đẹp hơn, nhưng có ít bài cảm động như thơ Lư. Ấy, chỉ vì Lư thành thực hơn…
Tôi biết có kẻ chê trách Lư cẩu thả, lười giếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy. Tình đã gởi trong lời thơ, Lư không còn đoái hoài đến nữa. Lư vứt chỗ này một bài, chỗ khác một bài, với cái phóng khoáng của kẻ khinh hết thảy những cái gọi rằng quý ở đời này. Sánh với những người yêu thơ Lư, Lư là người thuộc thơ mình ít nhất. Âu cũng là một điều bất lợi. Một điều bất lợi nữa là trong khi làng thơ Việt Nam đương đi tìm một nghệ thuật mới lạ, những tình cảm khuất khác, những hình sắc phiền phức của thiên nhiên, thì Lư chỉ có một ít khúc đàn bình dị, một ít khúc đàn xưa, dầu có đổi xoang đổi điệu cũng vẫn là những khúc đàn xưa.
… Tôi không thuốn nói nhiều. Trước sự đau thương của bạn, tôi muốn im lìm kính cẩn. Tôi chỉ biết, dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư. Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hàng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thị nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr.256–258)
“Thơ gợi kỷ niệm thường cảm động nhưng rất dễ lan man, người ta vốn ham nói dĩ vãng. Bài thơ này khác, chỉ có mười hai câu và rất ít chi tiết, chủ yếu là ba chi tiết: nắng mới, áo đỏ, nét cười đen nhánh. Cả ba gắn với nhau rất chặt, chi tiết nọ dẫn đến chi tiết kia.
…Đoạn đầu là nắng mới thực, nắng trong hiện tại, đoạn hai đoạn ba cũng nói đến nắng mới, nhưng là nắng của hoài niệm. Cái nắng trong hoài niệm tưng bừng, náo nức, nó reo ngoài nội, nó có màu áo đỏ, có nụ cười đen nhánh. Nó là cái nắng lúc còn mẹ, tác giả còn là chú bé hồn nhiên. Còn nắng mới bây giờ bâng khuâng xa vắng quá. Trước reo ngoài nội, bây giờ chỉ hắt bên song vắng”.
(VŨ QUẦN PHƯƠNG. Thơ với lời bình,
NXB Giáo dục, H. 1997, tr.37-39)
5.TIẾNG ĐỊCH SÔNG Ô
HUY THÔNG
Hán binh dĩ lược địa
Tứ diện Sở ca thanh
Đại vương ý khí tận
Tiện thiếp hà liêu sinh.
Ngu Cơ
(Hán binh lấy hết đất
Khúc Sở vang bốn bề
Đại vương chí lớn cạn
Tiện thiếp sống làm chi?
Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa
Giương mắt buồn say ngắm chân trời xa
Trong sương thu nhẹ đượm ánh dương tà
Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại
Khói tưng bay trên vòm trời rộng rãi
Như muôn sao trong đám tối mơ màng
Khắp bốn phương, giáo mác tỏa hào quang
Liên tiếp nhau chen chúc xung quanh ven trời lớn
Mây lan trại (lưới xa xôi, mịt mùng và chắc chắn)
Đóng trùng trùng, điệp điệp trên đầu non
Cờ chư hầu đỏ rực như pha son
Quằn quại cong trên nền trời lá mạ
Gió quát bên tai vương, và rộn rã
Tiếng quân reo, tiếng ngựa hí, tiếng loa vang
Theo gió chiều vi vút vẳng đưa sang.
…Nén đau thương vương ngậm ngùi sẽ kể
Niềm ngao ngán vô biên như trời bể
Ôi! Tấm gan bền chặt như Thái Sơn
Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sờn!
Ôi! Những trận mạc khiến “trời long đất lở”!
Những chiến thắng tưng bừng, những vinh quang rực rỡ!
Ôi! Những võ công oanh liệt chốn sa trường!
Những buổi tung hoành, lăn lộn trong rừng thương!
Những tướng dũng bị đầu văng tước trận
Nhưng, thôi! Vận trời đã tận
Sức “lay thành, nhổ núi” mà làm chi?
Nàng Ngu Cơ, khảng khái nắm tay chàng:
Quân vương ơi! Còn đợi chờ chi nữa
Mà đường xa chàng còn chưa ruổi ngựa?
Trống canh hai trong bóng sẫm đồ hồi,
Còn dùng dằng chi nữa, đi đi thôi!
Kìa! Thờ ơ, trăng mờ đang chênh chếch…
Còn ngồi đó mà nghe chi tiếng địch
Cho chí đầy dần cạn trong tim đau.
Đừng nghe! Đừng nghe nữa! Hãy đi mau!
Nghe làm chi tiếng tre đằng than ai oán
Khúc bi ca nặng nề và đoài đoạn
Đầy những lời thương tiếc điệu thê lương
Quân vương ôi! Mau sửa soạn lên đường
Lên đường xa nơi mơ màng sương phủ…
Nào đâu trái tim xưa? Nào đâu tâm hồn cũ?
Lãnh truân chuyên xin gắng giữ chí bình sinh.
Khách anh hào chi sá kể nổi điêu linh
Ngày gian lao với quãng đường khe khắt.
Địch Trương Lương trên Ô giang dìu dặt
Tưởng trời đêm, trăng biếc lạnh lùng than
Quỳ sát bên, nàng tha thiết kêu van:
Đi đi, chàng, nơi xa xăm, tiếng địch
Càng não lòng, càng âm u, càng tịch mịch…
Đi đi chàng, còn thân Ngu đâu đáng bận trí quân vương
Lá lìa cây dù gió xé bên vệ đường
Dù nắng hung, dù mưa dầm tan nát
Xin quân vương chớ bận lòng vì phận bạc…
Tiếng địch sông Ô về thực chất là một màn bi kịch bằng thơ. Ấy là một cuộc biệt li bi tráng, một trang sử bi thương hiện lên qua một điệu hồn Thơ mới.
Người yêu thơ đã được sống trong bao cuộc chia li tiễn biệt nổi tiếng. Loáng thoáng thôi cũng đã thấy: cuộc biệt li của đôi tình nhân Thấy Kiều – Thúc Sinh trong Truyện Kiều, cuộc chia li của đôi chinh phu – chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc, cuộc chia li của khách tiên - người trần trong Tống biệt, cuộc chia li của li khách “Một giã gia đình, một dửng dưng” trong Tống biệt hành,… Còn ở đây? Là cuộc chia tay của một đấng quân vương trong cái giờ phút nguy ngập, vận mệnh quốc gia ngàn cân treo sợi tóc, kẻ địch đã ập đến, nơi biệt li đang trở thành chiến địa. Ấy là Sở Bá Vương biệt Ngu Cơ!
Huy không đã chọn cái thời điểm đầy kịch tính để dựng lên Tiếng địch sông Ô. Đương lúc bị vây khốn, một bên là VỢ một bên là GƯƠM, một bên là hạnh phúc riêng tư một bên là muôn ngàn sinh linh nước Sở…, Hạng Tịch bị giằng xé khôn cầm, bởi đặt trước một lựa chọn nghiệt ngã. Hùng tâm tráng chí của một đấng quân vương và nỗi quyến luyến của một tình quân. Cả hai trong khoảnh khắc ấy đã xung đột quyết liệt. Hạng Tịch đã có những giây lát mềm lòng. Để chồng xứng đáng là một đấng trượng phu, không vì vướng bận riêng tư mà làm hỏng việc lớn, Ngu Cơ đã rút gươm tự vẫn. Cái chết bi tráng cang cường ấy có làm cho Sở Bá Vương dứt khoát hơn không? Đấng quân vương si tình cứ trầm mình trong đau thương, chẳng còn thiết gì đến nghiệp lớn, vinh quang và sự mất còn của đất Sở... Huy Thông đã dựng lên hình ảnh một Hạng Tịch theo cách riêng của mình. Mọi võ công oanh liệt, ngai vàng và xã tắc đều bị mờ đi trước những lo âu cho thân phận của một con người. Bổn phận của một đấng quân vương đã bị tình thương dành cho một con người che khuất. Chữ Chí đã mờ nhạt trước chữ Tình. Ấy là sức mạnh mà cũng là giới hạn của sở Bá Vương.
Huy Thông khắc họa Sở Vương bằng những nét thật hào hùng với một chí lớn “nghiêng trời lệch đất”, “Như pho tượng đồng ngồi trên mình ngựa, Để luồng mắt mênh mang”. Nhưng cứ đọc kĩ mà xem, ta sẽ thấy Huy thông tỏ ra sở trường hơn cả vẫn là ở việc khắc họa người tráng sĩ đa tình. Thi sĩ thường mô tả Sở Vương mang trong mình một nỗi sầu lớn. Chàng có dùng lí trí để cưỡng chế nỗi buồn ấy mà dường như bất lực. Trong hồn lớn của chàng nỗi buồn sầu cứ mênh mang:
Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa
Giương mắt buồn say ngắm chân trời xa.
Ngay cả lúc chứng kiến cái chết khẳng khái của Ngu Cơ, bên ngoài Hạng Vũ tỏ ra sắt đá “Như đã dày, đã dạn nỗi điêu linh”, nhưng đằng sau cái vẽ “Như thản nhiên, như lạnh lùng, như vô giác” ấy, lại là một con người đau đớn vì tình:
Lần đầu tiên, người chiến sĩ đa tình
Để lệ bạc thầm lăn trên gò má.
Cái “giọt lệ chiến sĩ long lanh” này mới là phần sâu nhất trong bức chân dung Hạng Vũ của Huy Thông. Thi sĩ của chúng ta dường như muốn lí giải cái kết cục bi kịch của Sở Bá Vương bằng giọt lệ ấy!
Diễn biến của cuộc từ biệt này khác nào như một sân khấu bi kịch. Có lẽ Huy Thông cũng có dụng ý dàn dựng như thế cho nên đã gia tăng tính tự sự và linh hoạt cảnh cho bài thơ. Những xung đột trong tâm lí nhân vật, những hành động kịch, những lời thoại… tất cả đều làm cho người đọc có cảm tưởng như đang đối diện với các vở diễn của Sêcxpia hay Raxin, Cornây, Huy gô… Dày công dàn dựng hơn cả vẫn là tiếng địch trên sông Ô. Tiếng địch tựa phần nhạc nền của sân khấu. Tiếng địch trên Ô giang vẳng tới ùa vào lòng Hạng Tịch như xui khiến, như khuyên van. Nó vừa như tiếng lòng “sầu tịch mịch” cất lên từ bên trong, vừa như tiếng sáo định mệnh ám ảnh từ bên ngoài. Những lúc Hạng Tịch có thể dứt khoát, nó vang lên. Những lúc lòng Hạng Tịch yếu mềm, nó cũng rền rĩ. Nó là nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi, cũng là tiếng ca sầu nhân thế. Nó là tiếng thổn thức của cõi lòng, cũng là tiếng nói của hư vô:
Vẳng bên tai như từng lời thổn thức
Như suối vắng âm thầm chiều thu khóc
Địch xa xôi dìu dặt trên Ô giang
Khúc bi ca não nuột và mơ màng
Như càng khêu những nỗi sầu tịch mịch
Như ôm ấp, như nấu nung lòng Hạng Tịch.
Và đồng thời tiếng địch ấy cũng là khúc bi ca đưa tiễn một mối tình đắm say, đưa tiễn một thời oanh liệt cùng với giấc mộng bá chủ của Sở Vương…Tiếng địch trên Ô giang làm cho tâm trạng bi kịch của Sở Bá Vương nhức nhối từng thời khắc, khiến mỗi một lời nói, một việc làm của Vương đều là một khúc đoạn trường. Ngu Cơ nghe thấy âm điệu sầu thảm nguy hiểm của nó. Hạng Tịch thì nghe ra thành một khúc tri âm. Người thiếp can trường đã xả thân để cản Sở Vương đừng buông lòng theo tiếng sáo. Những tiếng sáo lạ lùng vẫn mạnh hơn tất cả, tiếng sáo điêu linh đã mang hồn mang đi, và vẫn cuốn Hạng Tịch theo! Trong màn bi kịch này, hễ mỗi lần tiếng địch vang lên là một lần nhịp độ kịch lại gấp gáp, đẩy Sở Bá Vương đến gần với kết cục! Tiếng địch dịu dàng mà tàn nhẫn, tiếng địch tha thiết mà ma quái. không thể nắm giữ cũng không thể bìa bỏ… Nó là sự lên tiếng của nỗi sầu mênh mang, là sự lên tiếng long lanh của giọt lệ tráng sĩ trong lòng Hạng Vũ. Chao ôi! Cầu mong cho những đấng trượng phu trước lúc ra sa trường đừng nghe thấy, trong lòng đừng vẳng lên cái tiếng địch sông Ô này!
Trong sự thực lịch sử có tiếng địch ấy không? Đây là sáng tạo của nhà Thơ mới Huy Thông đó thôi! Nhưng tiếng sáo ấy dù là của lịch sử hay là của thơ ca, thì đó vẫn cứ là tiếng nói cất lên từ cái phần yếu ớt nhất, thầm kín nhất trong tâm can con người ở mọi nơi và trong mọi thời đại!
Trong giàn giao hưởng của Thơ mới, dầu sao Tiếng địch sông Ô cũng cất lên âm sắc riêng của loại nhạc khí trầm hùng hào sảng nhất. Viết về tiếng địch trên Ô giang, nhưng lời thơ đầy bi tráng của Huy Thông lại như tiếng kèn đồng làm rung lên ở nền thơ kia những âm hưởng hùng tráng đầy hào khí.
Tiếc rằng độ rung của tiếng địch kia qua thời gian ít nhiều có hẹp lại. Vì nó quá dài? Vì nó chưa thật toàn bích? Hay vì hơi hướng sử thi - sử ca ấy đã xưa rồi? Có thể vì tất cả, cũng có thể vì một lí do khác nữa… Mong sao đối với người đọc hôm nay, đối với lớp người sẽ tới, nó không chỉ là cái di tích của một thời, không chỉ là một thứ hồi âm mà tiếng vọng chỉ còn chuyển lay, rung động những hồi ức! Nó vẫn là tiếng kèn đồng vang vọng xuyên thời gian!
CHU VĂN SƠN
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Một người có những ham muốn dị thường như thế ắt phải ưa sống cái đời những vị anh hùng thời trước, hồi thế giới còn hoang vu, hồi một người trượng phu còn có thể tin rằng mỗi hành vi của mình đều làm xao động cả trời đất. Đặc sắc của Huy Thông chính ở những bài anh hùng ca như bài Tiếng địch sông Ô tả bước đường cùng của Hạng Tịch. Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy. Hãy nghe Hạng Tịch than:
Nén đau thương, vương ngậm ngùi sẽ kể
Niềm ngao ngán vô biên như trời bể
Ôi! Tấm gan bền chặt như Thái Sơn
Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sờn!
Ôi! Những trận mạc khiến “trời long đất lở”!
Những chiến thắng tưng bừng, những vinh quang rực rỡ!
Ôi! Những võ công oanh liệt chốn sa trường!
Những buổi tung hoành, lăn lộn trong rừng thương!
Những tướng dũng bị đầu văng trước trận
Nhưng, thôi! Vận trời đã tận
Sức “lay thành, nhổ núi” mà làm chi?
Hơi văn mà đến thế thực đã đến bậc phi thường. Anh hùng ca của Victo Huygô tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh. Nó lôi cuốn bừa đi. Người xem thơ ngạc nhiên và sung sướng vì thấy mình vẫn còn đủ tráng khí để buồn cái buồn Hạng Tịch.
Chỉ tiếc rằng Huy Thông, người anh hùng trong mộng tưởng ấy, lại cũng là một người thiếu niên khao khát yêu đương và rất lễ phép với đàn bà. Có khi vô tình người đã phác họa Hạng Tịch theo hình ảnh của mình. Đã đành Hạng Tịch mê Ngu Cơ, đã đành ái tình không chia kim cổ, nhưng tình yêu của Hạng Tịch hẳn phải thế nào chứ!”.
(HOÀI THANH, Thi nhân Việt Nam
(1932-1941), NXB Văn học, Hà Nội, 1988)

6.NGUYỆT CẦM
XUÂN DIỆU
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm.
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề…
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Có nhiều loại thơ hay. Có những bài thơ hình ảnh minh bạch, câu chữ rõ ràng nhưng lay động người ta do tính chân thật, do cường độ của cảm xúc. Vẻ đẹp “linh lung” của Nguyệt cầm lại ánh lên từ chỗ nhập nhòa giữa khả giải và bất khả giải, giữa việc có thể tường minh và sự bất tường minh. Bài thơ giàu chất họa, chất nhạc này qủa là có sức ám gợi huyền nhiệm.
Không gian trăng – không gian nhạc và tâm trạng nhập nhòa, bất định của nhân vật trữ tình
Bài thơ ám gợi ngay từ cái nhan đề. Nguyệt cầm là một nhạc cụ cổ (loại đàn thùng tròn hình mặt trăng, có hai dây) hay là đàn và trăng (hai sự vật đồng đẳng)? Có lẽ sự nhập nhòa ấy diễn ra chính trong tâm thức sáng tạo của nhà thơ. Nghe tiếng đàn nguyệt giữa một đêm trăng, thoắt chốc, linh hồn Xuân Diệu nhập hòa âm thanh vào “ánh nguyệt tỏ ngời”, vào nỗi run rẩy của không gian mông lung, sáng lạnh.
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Ánh trăng nhập vào cung nguyệt đang buông. Những nốt nhạc buồn hay tiếng đàn đang làm cho trăng cũng mênh mang thương nhớ? “Nhập vào” này không mang nghĩa cộng ghép mà chính là hòa tan, trộn lẫn. Không gì khác, chất xúc tác để có sự hòa tan, trộn lẫn âm thanh với ánh sáng này chính là tâm hồn run rẩy, “rung động tinh vỉ” giữa một không gian – thời gian trăng đặc biệt của thi sĩ.
Nguyệt cầm mở ra một không gian rất đặc trưng cho thế giới tĩnh mịch, băng giá trong thơ Xuân Diệu. Hình tượng thế giới này hay gắn với đêm trăng và trăng trong thơ ông dường như không nhạt, không mờ mà lúc nào cũng “tròn đầy”, “rạng tỏ”. Phải chăng trăng ấy cũng phản ánh một tâm hồn không bao giờ thích nhợt nhạt, bằng phẳng? Ánh nguyệt sáng lạnh rờ rỡ càng soi tỏ tường tận hơn nỗi lạnh buốt, trống trải trong cõi lòng cô đơn. Sự tương phản rực rỡ tận chiều sâu tiềm thức sáng tạo này đã tạo nên những không gian trăng “buồn tuyệt diệu” trong thơ Xuân Diệu. “Hai người chẳng bớt nỗi bơ vơ” bởi “Ánh sáng tuôn đầy khắp lối đi”, bởi “Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá” (Trăng). Người kĩ nữ càng sợ “riêng em phải gặp lòng em” giữa “Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời” (Lời kĩ nữ). Có lúc, trăng ngà sáng lạnh buông khắp không gian vô cùng vô tận. Cả thế giới vũ trụ lặng lẽ, trống vắng một cách tuyệt đối trong ánh trăng trong suốt:
Khắp biển trời xanh, chẳng bến trời
Mắt nhìn thêm rợn ánh khơi vơi
Trắng ngà lặng lẽ như buông tuyết
Trong suốt không gian, tĩnh mịch đời.
(Buồn trăng)
Ở Nguyệt cầm, cái không gian trăng bát ngát này càng mênh mang thương nhớ, trở nên lung linh bởi đang ngưng đọng tiếng đàn. Không gian trăng cũng là không gian nhạc. Sự hoà trộn giữa tiếng đàn và ánh trăng qua tâm hồn nhân vật trữ tình càng về sau càng sâu xa, huyền nhiệm. Mọi hình ảnh trong Nguyệt cầm, có thể nói, đều là tọa độ giao kết giữa các đặc tính “trong”, “lạnh” của trăng (ánh sáng) và của đàn (âm thanh) với tâm trạng “cô đơn”, “buốt lạnh” của nhân vật trữ tình. Chúng ta hãy lần lượt điểm lại (chỉ những hình ảnh biểu hiện trên bề mặt ngôn từ):
– Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
– Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
– Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình.
Từ “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh” ở khổ đầu sang “Linh lung bóng sáng bỗng rung mình” ở khổ hai là một mức tinh vi hơn của cám giác, run rẩy hơn của linh hồn. Tiếng đàn nguyệt trong vắt buồn giữa đêm lạnh vắng khiến bóng sáng rung mình hay cảm giác rung từ lòng người mà lây chuyển ra ngoại giới. Về hai câu thơ này (và cả khổ thứ hai của Nguyệt cầm), Thụy Khuê phân tích ngữ nghĩa theo cấu trúc một câu văn xuôi: “Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh lung linh bóng sáng bỗng rung mình vì nghe nương tử trong câu hát đã chết đêm rằm theo nước xanh”. Thụy Khuê cho rằng giữa hai câu trước này có sự vắt dòng:
“Nhịp cầu thứ nhất liên kết “đêm thủy tinh” với “lung linh bóng sáng”, bật ra hai khả năng diễn nghĩa:
– hoặc là có hai cảnh tượng song song: “đêm thủy tinh lung linh” và “bóng sáng bỗng rung mình”.
– hoặc là cả cái “đêm thủy tinh lung linh bóng sáng” đó bỗng rung mình.
Giải thích thứ hai này ngụ ngầm ý nghĩa: mây vắng và trời trong cũng rung mình như đêm thuỷ tinh vì ba yếu tố trên cùng một chức năng ngữ nghĩa và cấu trúc trong câu”.
Theo chúng tôi, giữa câu hai với câu ba, câu bốn của khổ thơ này quả có hiện tượng vắt dòng, liên kết trực tiếp qua các liên từ ”vì”, “đã”, nhưng giữa câu một với câu hai không có hiện tượng ấy. Chỉ có ba dòng, còn mọi dòng thơ trong Nguyệt cầm đều mang cú pháp câu độc lập. Vì thế, đọc Nguyệt cầm phải đọc chậm mà tự lắng sức ngân. Ba yếu tố “mây vắng”. “trời trong”, “đêm thủy tinh” cùng một chức năng ngữ nghĩa để tô đậm vẻ vắng lạnh, trong suốt của không gian trong thời gian. Và ý thơ cũng ngưng nghỉ tại đó. Tính từ định ngữ cho “bóng sáng” là “linh lung” (theo đúng bản in Gửi hương cho gió, NXB Thời đại, Hà Nội, 1954, chứ không phải là “lung linh” như nhiều bản in lại sau này) được đặt lên trước để tô đậm ấn tượng, cảm giác. Nếu cho rằng hai dòng thơ vắt nối nhau thì “mây vắng” cũng “bỗng rung mình”. Hiểu như vậy không hợp lí bởi đã vắng (nên trời mới trong) thì còn đâu mà rung mình nữa.
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận…
Quan hệ tương hỗ giữa đặc tính “trong”, “tỏ ngời” và đặc tính “lạnh” của ánh nguyệt, của không gian thu được đẩy thêm một bước. Chỉ có thể viết nên những dòng thơ như thế khi thực sự sống trong thế giới của mọi sự u huyền, khi không chỉ cố một trái tim mà còn có cả một linh hồn. Âm thanh não nuột của nguyệt cầm... Cái lạnh mát rợn làn da… Cái lạnh sắc cuộn trong lòng…Lối sỏi duới nguyệt lạnh dường vang vang tiếng hận buồn hay âm thanh tròn vắt như “mỗi giọt rơi tàn” của đàn nguyệt khiến thi sĩ liên tưởng đến tiếng sỏi long lanh? Từ “long lanh” chỉ màu sắc (vật thể hữu hình) lại được sử dụng tái tạo thanh âm. Tưởng như mỗi tiếng đàn đều trong vắt và đều lấp lánh, sóng sánh ánh trăng. Phải chăng tiếng sỏi vốn đã trong, đã ngân lại dưới trăng thu sáng lạnh nên “long lanh”? Chút “có lí” của lôgic đời sống ấy được chìm phủ trong vầng ảo huyền của cảm giác tinh tế. Đó là khi linh hồn thi sĩ đã làm “mờ hóa” nghĩa nguyên của từ để dâng hiến cho người đọc vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật.
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Đến khổ thơ cuối này, sự hòa trộn âm thanh và ánh sáng làm hiện hữu một cách hết sức tự nhiên hình ảnh ánh nhạc. Dấu hai chấm hàm nghĩa giải thích, diễn tả sự tương đồng: ánh nhạc vây bủa bốn bề, cả không gian cao rộng bát ngát âm thanh, trong suốt ánh sáng và ngưng đọng trong niềm cô tịch tuyệt đối.
Sự hòa trộn thành một thể thống nhất không gian trăng và không gian nhạc biểu hiện trên bè mặt hình tượng thơ Nguyệt cầm. Song chi phối diễn biến các hình tượng ấy, không gì khác, chính là tâm trạng âm u, nhập nhòa của nhân vật trữ tình. Có lẽ bởi thế, Nguyệt cầm trở thành một sáng tác tiêu biểu cho chủ nghĩa tượng trưng. Nó là quá trình dò tìm, hòa nhập vào chiều sâu thăm thẳm của thế giới bằng một linh hồn run rẩy. Khi tiếng đàn nguyệt thấu tận tâm can, thắt bỗng, niềm nhớ thương khuếch tán vời vợi chẳng biết đến không gian, thời gian nào:
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.
Cũng một đêm thu lặng ngắt với “một vầng trăng trong vắt lòng sông”, năm nào trên bến Tầm Dương từng nỉ non tiếng tì bà than tiếc cho một thân phận lỡ làng. “Cung đàn trọn khúc thanh tao; Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây”. Cung đàn kể trọn một cuộc đời tài hoa duyên hẩm phận hiu. Cung đàn não nuột về một thời xuân chẳng còn và hiện tại còn sống mà như đã chết. Người đang phổ lòng mình vào cung đàn nguyệt đêm nay phải chăng cũng mang thân phận ấy, đang trong tâm trạng ấy? Quả là sự liên cảm tuyệt vời! Và có liên cảm này bởi người nghe tiếng đàn phải chăng cũng đang dự cảm “cùng một lứa bên trời lận đận” giữa chính mình với những người kia. Liên cảm, dự cảm ngày một rõ rệt quá thành nỗi buốt lạnh tận cõi lòng. “Lệ ai chan chứa hơn người” - nỗi lạnh của tiếng đàn đêm trên sông nước, của vị Giang Châu tư mã Bạch Cư Dị thuở nào với của thi sĩ lãng mạn Xuân Diệu hôm nay chưa biết ở ai “thấp độ âm” hơn. Chỉ thấy rằng giờ đây nó buốt quá, nó sắc quá khiến thi sĩ bỗng cất lên tiếng kêu thấu trời:
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Hai câu thơ liền kề nhau có hai chữ “lạnh”. Trước là lạnh của thời tiết, sau là lạnh của cảm giác, của cõi lòng. Tưởng như cái lạnh nơi không gian thu, nơi tiếng đàn đang ngấm vào xương tủy. Phút chốc không gian nguyệt cầm đêm nay nhập nhòa hình bóng bến Tầm Dương “quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thuở nào. Thi sĩ như sa vào trạng thái tâm thần bất định về không gian, về thời gian. Đáng chú ý là sự thoắt biến, luân chuyển linh động gần – xa trong đối tượng cảm giác như thế được “chuẩn bị” ngay từ nội bộ hai cặp câu của khổ mở đầu Nguyệt cầm. “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh” mở ra một bối cảnh gần gũi trước mặt; “Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần” thoắt dẫn lên niềm nhớ thương vời vợi trong không gian nghìn trùng xa cách. Cũng vậy, từ “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm” sang “Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân” có sự “can thiệp” của chiều sâu cõi lòng đang mênh mang buồn nhớ.
Một cái Tôi vừa hòa nhập vừa cô đơn vò võ
Ngay trong trạng thái mù mờ, chập chờn mộng ảo nhất ở trên, điều thú vị là Xuân Diệu vẫn tỉnh. Dấu hiệu của sự “tỉnh trong mộng” ấy là trăng và nhạc lại được chia tách ra để xoáy sâu hơn vào các nỗi nhớ cụ thể: “Trăng nhớ tầm Dương, nhạc nhớ người”. Trong Nguyệt cầm, trăng và đàn khi được nhập vào trong một cảm giác, khi được chia tách thành hai phạm trù song song đối đẳng. Hiện tượng này phải chăng phản ánh trạng thái đan xen, luân phiên giữa mộng và tỉnh ở tâm trạng người nghe đàn.
Vừa muốn xóa nhòa lại vừa biết tạo giữ các khoảng cách, vừa say sưa hoà nhập những tưởng lãng quên lại vừa tỉnh táo ý thức về chiếc đảo hồn tôi vò võ, đó là mối mâu thuẫn thống nhất tạo nên vẻ độc đáo của cái Tôi trữ tình lãng mạn trong Nguyệt cầm. Mâu thuẩn này chi phối cấu trúc hình tượng, chi phối giọng điệu của bài thơ.
Nguyệt cầm chứng tỏ sự tương quan tận chiều sâu huyền nhiệm giữa các giác quan để tìm đến vẻ thống nhất âm u sâu xa trong lòng tạo vật - sự tương giao đã được người cha của chủ nghĩa tuợng trưng Bôđơle tuyên bố và thể nghiệm xuất sắc. Cả bài thơ là những cảm giác tự cất nên lời chứ không phải tác giả thuyết minh, trình bày về những cảm giác. So sánh nguyệt cầm với Huyền diệu, bài thơ cùng đề tài của cùng một tác giả, ta sẽ thấy rõ hơn mức độ khác nhau của hòa nhập, của tương giao:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
Như hương thấm tận qua xương tuỷ
Âm điệu thần tiên, thấm tận hồn.
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của Du Dương
Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương.
Huyền diệu lâng lâng, ngạt ngào những khúc nhạc thơm, khúc nhạc hướng dẫn ta vào chiều sâu thăm thẳm của thế giới huyền bí mà khi đặt chân đến chỗ tận cùng ta không khỏi choáng mắt ngỡ ngàng. Nhưng dẫu sao ở đây còn có một nhân vật trữ tình đang làm vai trò hướng đạo, đang bày, đang chỉ, đang dẫn dắt cho ta, đang gọi ta mà chia sẻ những cảm giác. Điều ấy hiển hiện trên bề mặt ngôn từ, giọng điệu với các hô ngữ “này”, “hãy”. Khi nghe hương đang thấm vào xương tủy, âm điệu thần tiên thấm tận hồn nghĩa là giữa hương, âm điệu với xương tủy, hồn đang còn một khoảng cách dẫu dần được rút ngắn. Khi đang bày cho người khác con đường đi vào “thế giới của Du Dương” để xem, để ngắm nghía nghĩa là nhân vật trữ tình còn tỉnh, còn ý thức về cách thức đi và hoà nhập… Ở Nguyệt cầm, linh hồn thi sĩ đã nhập hẳn vào “cung nguyệt lạnh”, vào “linh lung bóng sáng” mà phát ra những lời run rẩy. Đây là đỉnh điểm của trạng thái nhất thể hóa giữa con người với thế giới âm thanh và ánh sáng, với vũ trụ mông lung. Bởi thế, ngay từ lúc mở đâu “Trăng thương, trăng nhớ,…trăng ngần” và “Đàn buồn, đàn lặng,… đàn chậm” đã song song chiếu ứng cho nhau. Tạo nên quan hệ chiếu ứng ấy, không gì khác, là cảm giác buồn lạnh, thương nhớ mênh mang ở con người và cũng bởi thế từng yếu tố trăng, đàn đều mênh mang thương nhớ. Sự “có mặt” của cảm giác con người và vai trò của nó được thể hiện rõ hơn trên các từ cảm thán “hỡi”, “ôi”. Đó cũng là hai nốt nhạc ở âm vực cao, trường độ dài tạo độ dừng, ngân cho mỗi lời thơ để rồi tiếp tục xoáy sâu vào đặc tính “trong”, “lạnh” của trăng và “chậm” của đàn:
Trăng thương/ trăng nhớ/ hỡi/ trăng ngần
Đàn buồn/ đàn lặng/ ôi/ đàn chậm…
Cung nguyệt chậm, cứ buông rơi từng tiếng được hữu hình hóa, vật thể hóa qua hình ảnh và nhịp điệu ở câu tiếp theo:
Mỗi giọt rơi tàn/ như lệ ngân.
Chúng tôi đã được nghe thi sĩ Xuân Diệu đọc Nguyệt cầm. Sau mấy tiếng “hỡi”, “ôi” được cất cao, ngân nghỉ một chút thì chữ “tàn” ở câu thơ cuối khổ lại buông chùng xuống âm vực thấp cũng được ngân nghỉ một khoảng như thế để rồi ba âm tiết tiếp theo trở lên âm vực bình thường và kéo dài ngân nga. Từng giọt đàn rơi tàn rồi lại hòa tan vào không gian linh lung bóng sáng. Quả là tâm hồn thi sĩ đã nhập vào cung đàn không chỉ khi viết mà đến cả nhiều lần đọc lại Nguyệt cầm trước công chúng.
Vừa nhập hẳn vào âm thanh, vào nhịp điệu của cung đàn để những cảm giác được bộc lộ trực tiếp như thế, đồng thời nhân vật trữ tình ở Nguyệt cầm có những khi lại đứng tách ra mà chiêm nghiệm, mà liên tưởng. Ấy là những lúc thi sĩ chợt thốt lên: hỡi ôi, trời ơi; hoặc muốn cắt nghĩa (bằng cú pháp lôgic “tỉnh táo”): “Linh lung bóng sáng bỗng rung mình. Vì nghe nương tử trong câu hát, Đã chết đêm rằm theo nước xanh”. Ấy là khi muốn diễn tả tương quan tỉ lệ thuận giữa “thu lạnh” Với “nguyệt tỏ ngời” qua chữ “càng thêm” hay so sánh “đàn ghê như nước”. Chính sự luân phiên và thống nhất trong mâu thuẫn giữa hòa nhập với tách chia, giữa mộng và tỉnh ấy đã dẫn người đọc cùng theo nhà thơ vào nỗi niềm buồn lặng da diết, đã điều hòa, cân bằng cho không khí trữ tình đặc biệt của thi phẩm. Cũng bởi thế, vẫn trên nguyên tắc đơn âm của ngôn ngữ thơ trữ tình, Nguyệt cầm không dễ bị đơn giọng và đơn điệu.
Điều thú vị là càng cố gắng hòa nhập linh hồn vào trăng và nhạc (nghĩa là càng cố gắng ẩn náu vào thế giới thiên nhiên) bao nhiêu thì thi sĩ chỉ càng cảm nhận rõ nỗi cô đơn của cái Tôi cá nhân bấy nhiêu. Nhân vật trữ tình trong Nguyệt cầm mang bóng đáng của một tầng lớp, một thời đại. Giữa con người cá nhân của thơ ca lãng mạn với thế giới thiên nhiên không chỉ tương sinh, tương thông mà còn tương phản. Và giờ đây sức mạnh lấn át thuộc về con người chứ không còn từ phía thiên nhiên. Hơn thế, Xuân Diệu lại là một trong những thi sĩ ý thức quá đầy đủ về chính mình nên càng rõ rệt cảm giác cô đơn:
Bốn bề ánh nhạc: biến pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Đương thời, Huy Cận cũng từng ví tâm hồn cô đơn, sầu não giữa cõi đời của mình như hòn đảo:
Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây
(Mai sau)
Với xuân Diệu, “chiếc đảo hồn tôi” xuất hiện như một ẩn dụ tự nhiên không qua liên từ so sánh. Cần thấy thêm rằng trong thơ ca tiếng Việt trước Xuân Diệu chưa hề xuất hiện cụm từ: “chiếc đảo”. Chữ “chiếc” càng cụ thể hóa tính chất bé nhỏ, đồng thời cũng “củng cố” sự tồn tại chắc chắn, lẻ loi của “đảo”. Đã “biển pha lê” bao bọc, giăng mắc bốn bề thì tất nổi lên “chiếc đảo” bởi cảm giác cô đơn trong “hồn tôi” rõ rệt quá. Hai lần “bốn bề” đứng ở đầu và cuối hai dòng thơ như mở ra một không gian bát ngát rộng xa để nâng nổi chiếc đảo vò võ đang cảm thấu nỗi giá lạnh của cả vũ trụ. “Rợn” vừa là cảm giác từ “thu lạnh”, từ “biển pha lê”, vừa là nỗi cô đơn từ cõi lòng tỏa ra ngoại giới. “Chiếc đảo hồn tôi” thật nhỏ bé mà cũng thật mạnh mẽ khi nỗi sầu buồn từ đó dâng đến tận sao Khuê. Chính cả không gian trong suốt như pha lê, lung linh ánh nhạc này đã giúp cho nỗi sầu buồn ấy được ngưng kết và lên cao vời vợi.
Một cái Tôi hoà nhập cả linh hồn vào chiều sâu huyền bí của thế giới vũ trụ nhưng vẫn biết tự soi ngấm, tự bảo toàn; một cái Tôi tưởng chừng có thể hòa tan vào ánh sáng và âm thanh mà không siêu thoát, mà không tự quên lãng nên cảm thấu rõ rệt nỗi cô đơn vò võ ở giữa cõi đời – đó là sự thống nhất trong những mâu thuẫn làm nên nét độc đáo của hình tượng cái Tôi Xuân Diệu ở Nguyệt cầm. Chính cái Tôi như thế đã giữ bài thơ ở địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng chứ không lạc sang bến bờ của chủ nghĩa siêu thực dù đề tài này khá dễ đi theo con đường ấy.
Nghe tiếng đàn trên sông nước dưới đêm trăng là một tứ thơ cổ điển phương Đông mang màu sắc trang trọng. Thấm thía tứ thơ này, người viết Nguyệt cầm lại thổi vào cảm giác tinh vi, nỗi buồn cô đơn buốt lạnh của một tâm hồn tiếp xúc và văn hóa hiện đại Âu Tây. Nỗi buồn trong suốt, trang trọng ở Nguyệt cầm là kết quả hội ngộ, giao hòa giữa cổ điển và hiện đại, phương Đông và phương Tây. Không hiểu sao, chúng tôi cứ nghĩ nếu đọc Nguyệt cầm, phải đọc vào những đêm trăng lạnh, vào lúc thật khuya, và chỉ một mình ta dưới vũ trụ mông lung “linh lung bóng sáng”. Mỗi bài thơ hay cần được tiếp nhận trong một môi trường sinh thái thích hợp. Chỉ vào những lúc ấy, ta mới tự lắng nghe ra ngân vang của Nguyệt cầm, lắng nghe ra nỗi sầu đang dâng đến sao Khuê của thi sĩ.
LÊ QUANG HƯNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
“… Ông dò xét cái “thế giới bên trong”, lượm lặt từng sợi tơ mềm yếu, từng mảnh nhớ thương, từng vụn sầu tủi. Ông nghiệm thấy rằng:
Phải can đảm mới bền gan yếu đuối
Phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ
nên chịu mất một ít kiêu căng để được thêm rất nhiều sự sống. Vì vậy, ông đã du ngoạn trong xứ yêu mến, nói cho ta hay những đường lối uẩn khúc quanh co.
Ông còn nghe thấu sự mơ hồ, như đã thạo dò la những điều tinh tế. Con người phức tạp cũng đơn sơ, con người thiết thực cũng mơ mộng: ông có một trái tim, nhưng ông còn có một linh hồn. Ông tỏ ra đã từng vào trong thế giới của mọi sự u huyền: hương trầm, âm nhạc, thời khắc, khói sương, tất cả đều nói cho ông nghe những lời chi li và những dây liên lạc.
Với những câu thơ ít lời nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa, Xuân Diệu là một tay thợ thơ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật dẻo dang và cần mẫn…”
(THẾ LỮ. Lời tựa tập Thơ Thơ
NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)
“… Sự sống muôn hình thức mà trong những hình thức nhỏ nhặt lại thường ẩn náu một nguồn sống dồi dào. Không cần phải là con hổ ngự trị trên rừng xanh, không cần phải là con chim đại bàng bay một lần chín vạn dặm mới là sống. Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi. Sau khi đọc đi đọc lại nhà thơ có tâm hồn phức tạp này, sau khi đã tìm kiếm Xuân Diệu hoài, tôi thấy đây mới thực là Xuân Diệu.
Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý đến:
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
cùng cái:
Cành biếc run run chân ý nhi.
Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy:
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.
Cũng chỉ Xuân Diệu mới tìm được nơi đồng quê cái cảnh:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới.
Cho đến khi Xuân Diệu yêu, trong tình yêu của người cũng có cái gì rung rinh.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr. 103 – l04)
“Trong Thơ mới Xuân Diệu, mọi tư tưởng, tình cảm, cảm nghĩ của các nhân vật trữ tình và cái Tôi trữ tình của nhà thơ đều được cảm nhận và biểu hiện bằng cảm xúc, cảm giác, bằng sự thức nhọn giác quan, kể cả tình yêu…
Dưới ngòi bút thơ trữ tình cảm xúc, tràn đầy cảm giác, luôn thức nhọn giác quan, những tình cảm như nỗi buồn, niềm cô đơn được biểu hiện như là những cảm xúc người ta cảm giác được qua giác quan…”
(NGUYỄN QUỐC TÚY. Thơ mới – bình minh thơ
Việt Nam hiện đại, NXB Văn học, H, 1994, tr.104-105)
7.LỜI KĨ NỮ
XUÂN DIỆU
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa
Vội vàng chi, trăng sáng qúa, khách ơi
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời
Khách không ở, lòng em cô độc quá
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả
Tay em đây, mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em!
Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn
Lòng kĩ nữ cũng sầu như biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em
Tay ái ân du khách hãy làm rèm
Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng
Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành
Vì mình em không được quấn chân anh
Tóc không phải những dây tình vướng víu
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
Lời kĩ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kĩ nữ thấy sông trôi
Du khách đi.
– Du khách đã đi rồi
Xét về cấu trúc hình tượng, phần lớn trong các bài thơ lãng mạn của Xuân Diệu nổi lên cái Tôi trữ tình tự biểu hiện. Lời kĩ nữ thuộc số rất ít trường hợp có nhân vật “ngoài Tôi” được miêu tả. Song đây lại là một trong những bài thiết tha và tuyệt vọng nhất của tập Gửi hương cho gió.
Càng nghe Lời kĩ nữ ta càng cảm nhận ra đây chẳng phải là một cô gái bình thường trong cái nghề nghiệp vốn dĩ luôn bị khinh bỉ. Cô gái này nhạy cảm với vẻ sáng lạnh của thiên nhiên, nghe thấu nỗi giá băng ngoài trời đất suốt xương da mà run lên niềm cô đơn đến rợp ngợp.
Phần chính bài thơ là lời van vỉ tội nghiệp của người kĩ nữ. Một thời gian, không gian đặc biệt và cả một cảnh ngộ cụ thể được mở ra:
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi!
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời
Khách không ở, lòng em cô độc quá.
Vậy là lời van vỉ này cất lên sau lúc vừa kết thúc “cuộc yêu đương gay gắt”. Sau đỉnh điểm của cuộc tình, kĩ nữ bỗng càng thấy trống trải, cô đơn. Cuộc đời người kĩ nữ thường gắn với ban đêm, với ánh trăng. Nhưng trăng sáng của “đêm nay rằm” chỉ soi tỏ thêm nỗi cô độc trong cõi lòng thà thôi. Ánh trăng rờ rỡ, bữa “yến tiệc sáng trên trời” thật quá tương phản với cảnh ngộ “riêng em” dưới chốn trần gian. Bởi thế kĩ nữ đành xin – mà xin đâu chỉ một lần – lời thơ như một điệp khúc cầu khiến:
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả
Tay em đây mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng…
Đằng sau những dòng thơ ấy ta như thấy các động tác bày biện lần lượt với thái độ thiết tha, mời mọc niềm nở. Sau gối lả, tay ngả, rượu nồng là một “sản vật” hết sức đặc biệt được cung kính dâng lên:
… Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
Gắn liền cùng bốn chữ “đây” là bốn động tác mời mọc bằng bốn vật dâng. Dấu chấm trước chữ “và” ngắt dòng thơ thành hai câu chứng tỏ người mời rất có ý thức về sự quý giá của vật dâng thứ tư – vật dâng cuối cùng này: hồn. Cẩn trọng và thành kính biết bao khi tôn vị khách làm hoàng tử và đặt dưới chân người ấy “hồn của em đây”. Không phải ngẫu nhiên mà trong lời van xin này ba lần kĩ nữ nhắc tới hồn của mình. Đó là ý thức về đời sống độc lập của tinh thần (với thể xác). Đó là nhận cảm thấm thía về nỗi cô đơn và ước mong vượt thoát khỏi tình cảnh cô đơn. Hơn thế, hồn hiện ra như một thực thể vật chất (có thể nâng đặt, có thể bị đạp, có thể “triền miên trên sóng”) minh chứng cho sự mâu thuẫn, giằng xé giữa ước ao trong sáng về mặt tinh thần với cái hoen ố của thân xác, cái tủi cực của đời sống cơm áo. Vừa mới cung kính đặt “hồn của em đây” “dưới chân hoàng tử”, kĩ nữ đã vội kêu lên: “Chớ đạp hồn em!”. Sau đó lại lần nữa cầu xin, nhờ cậy:
Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành
Vì mình em không được quấn chân anh
Tóc không phải những dây tình vướng víu.
Ngay giữa lúc “Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng”, kĩ nữ đã nhận ra sự lỏng lẻo của quan hệ chung tình, sự bất lực, vô vọng của lời nguyền. Dẫu “xanh tốt”, những sợi tóc kia cũng “không phải những dây tình vướng víu”. Khi tình yêu đã không níu kéo nổi tình yêu thì hãy để hồn “trôi phiêu lưư” “triền miên trên sóng” cho quên đi nỗi đau đớn. Sự tự quên của con người ta bộc lộ nhiều thái độ. Có khi do bất lực, buông xuôi. Có khi bởi bằng lòng, thỏa mãn. Lại có khi vì nguyện ước thiêng liêng “Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” (Tố Hữu). Người kĩ nữ này đang muốn tự quên mình bởi ý thức quá rõ về sự cô đơn, bởi nhớ đến mình thì chỉ chạm vào nỗi cô đơn không cùng mà thôi. Cô sợ những giây phút “riêng em phải gặp lòng em”. chính mình đối diện với lòng mình mà thấm thía nỗi trớ trêu, bất hạnh. Còn bi kịch nào đau đớn hơn khi con người phải trốn chạy bản thân mình. Van xin “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” chứng tỏ kĩ nữ đang còn, và hơn thế, đang rất có ý thức về tình cảnh của mình. Cũng bởi thế, cô muốn thoát mà tự biết không sao thoát nổi. Đây là một ý thức tỉnh táo về mình, về người, về sự bất lực trước hoàn cảnh:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.
Bao trùm khắp cõi lòng kĩ nữ giờ đây là nỗi sợ, nỗi cô đơn lạnh lẽo. Nỗi sợ chẳng thể giữ giấu nổi nữa mà được thốt lên thành lời. Nỗi cô đơn đã toát ra thành cảm giác của nhục thể, rất trực tiếp:
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.
Trong văn chương Việt Nam trước đó quả chưa ai cảm nhận nỗi cô đơn như người kĩ nữ của Xuân Diệu. “Giá băng tràn mọi nẻo” ngoài trời đất đã ngấm sâu suốt xương da hay giá băng trong cõi lòng người đã tỏa ra làm lạnh cả trời đất, điều ấy thật khó phân biệt! Trạng thái cô đơn của tâm hồn, của tinh thần được cảm giác hóa qua các giác quan buốt nhức của thân thể, của vật chất.
Dẫu mời mọc cung kính, dẫu van xin thiết tha đến mấy, kĩ nữ không sao níu giữ nổi bước chân của vị khách làng chơi. Dự cảm chia li, ám ảnh cô đơn thoắt thành sự thực. Nước mắt đàn bà sao tắm được mộng giang hồ của “người viễn du”:
Lời kĩ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
Trong bài thơ này có hai nhân vật: kĩ nữ và vị khách làng chơi. Đây là một người kĩ nữ không bình thường (về tài sắc, về cảnh ngộ éo le, về đời sống nội tâm). Trong buổi “đêm nay rằm” đặc biệt này, có lẽ cô nghĩ đã gặp được một vị khách cũng không phải bình thường. Phải là vị khách thế nào đó thì cô mới mời ngồi lại trong chốc nữa, mới cẩn trọng dâng hiến cả hồn, mới nhờ cậy chia vợi bớt cô đơn đến vậy. Song, thật oái ăm: người khách vẫn nghĩ, vẫn hiểu về cô như bao kĩ nữ bình thường khác và cứ xử sự bằng cách thông thường trong hoàn cảnh ấy: “Gỡ tay vướng để theo lời gió nước”. Té ra chàng ta cũng chỉ là một kẻ tầm thường! Bao lời van xin chẳng thể mủi lòng. Niềm tin đã trao nhầm chỗ! Câu thơ cuối bài như ánh mắt nhìn hút theo mãi, như những lời than, những tiếng nấc qua cái lấc đầu thất vọng:
Xao xác tiếng gà. Trắng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kĩ nữ thấy sông trôi
Du khách đi.
– Du khách đã đi rồi.
Than về sự đi của người cũng là than về nỗi bất hạnh của mình. Nhịp thơ ở đoạn cuối này chậm lắng lại cùng cái vắng vẻ, lạnh buốt và mênh mông rộng dài của trời đất thiên nhiên, cùng bước chân xa dần của du khách. Lối ngắt câu tạo nhịp lặng ấy khác hẳn với đoạn trước. Khi kĩ nữ cất lời, thể thơ tám chữ không tách khổ với cách gieo vần chân liên tục nối tiếp đã tạo nên hình tượng những con sóng trữ tình vừa miên than, vừa ngày một dâng cao. Trong toàn bài thơ, từng cặp âm tiết tham gia vần chân được luân phiên đổi thay thanh điệu tạo thêm tính nhịp nhàng của giọng nói: (nữa), ơi – trời, qúa – lả, say – đây, tử – xứ, tròn – non, rợn – lớn, em – rèm, võng - sóng, gành – anh, víu – nẻo, da – già, chặt – mắt, chơi – khơi, nước - buốt, trôi – rồi. Bên cạnh đó, nhịp điệu đặc biệt của lời thơ còn được tạo nên bằng cách phối hợp cách gieo vần chân với cách dùng vân lưng. Không có bài thơ lãng mạn nào của Xuân Diệu sử dụng nhiều vần lưng như Lời kĩ nữ. Có thể chỉ ra nhiều chỗ vần lưng được vận dụng nhuần nhuyễn:
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả
Tay em đây, mời khách ngả đầu say
- Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành
- Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.
- Lời kĩ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
- Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt…
Đến với Lời kĩ nữ, ta cứ bị ám ảnh bởi một không gian sông nước mênh mông, bởi ánh trăng rằm sáng lạnh đến rợn người và nỗi cô độc tội nghiệp của một cô gái tài sắc, có ý thức về bi kịch của cá nhân mình. Khi người ta đã bằng lòng ngụp lặn trong vũng bùn nhơ nhớp thì còn đâu nỗi sợ cô đơn, còn đâu niềm ước mong tìm đồng cảm! Còn nhớ ở những năm Thơ mới lãng mạn bị phê phán kịch liệt, trên Tạp chí Văn nghệ số 31, tháng 12 – 1959, Hồ Ngọc Hương đã lên án Lời kĩ nữ: “Thái độ Xuân Diệu trong bài thơ này chẳng những không cầm tay người con gái bị sa ngã đứng lên mà còn ru ngủ cô ta trong khoái cảm trụy lạc và dúi co ngã xuống trôi tuồn tuột”. Khi ấy, Xuân Diệu đã phải biện minh, phải giải thích ngọn ngành: “Lời kĩ nữ tiếp nhận một truyền thống có đã lâu trong văn thơ Trung Quốc, Việt Nam: Những người thanh quý, sắc tài, biết suy nghĩ bị xã hội vùi dập, đáng cảm thương. Chủ đề Lời kĩ nữ là nỗi đau khổ, cô liêu, nỗi lạnh lẽo suốt xương da của một người chỉ đứng ở cương vị là một cá thể. “Lòng kĩ nữ cũng sầu như biển lớn, Chớ để riêng em phải gặp lòng em”. Lòng kĩ nữ, lòng thi sĩ… Bài thơ nối tiếp một truyền thống nhân đạo rất sâu trong văn học phương Đông, văn học dân tộc. Cái hồn cốt cổ điển ấy được Xuân Diệu thể hiện bằng những hình ảnh, những cảm giác mới mẻ học được ở thơ ca Pháp để từ đó diễn tả một cách sâu sắc, thấm thía nỗi cô đơn của từng cái tôi cá nhân trong xã hội lúc bấy giờ. Bởi thế, Lời kĩ nữ là sự hòa quyện độc đáo giữa phương Đông và phương Tây, giữa cổ điển và hiện đại.
Điều gì đã làm cho Lời kĩ nữ trở thành một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu thời trước Cách mạng, trở thành một trong những bài thơ hay nhất của Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945? Đâu chỉ là chuyện giác quan sắc bén, “rung động tinh vi”, chuyện nghệ thuật thể hiện điêu luyện mặc dầu các yếu tố này hết sức quan trọng. Điều chủ yếu là do khả năng nhập thân vào nhân vật để tìm thấy ở đó niềm đồng cảm với nỗi xót xa lớn nhất của cõi lòng mình. Nói tới thi sĩ lãng mạn Xuân Diệu là nói tới một côi lòng cô đơn khi những ước ao bồng bột, những khát khao sôi nổi đụng chạm phải sự hờ hững, lạnh lẽo của người đời, khi trái tim si mê lại hiến dâng nhầm chỗ. Càng lên cao, cái đỉnh Hi Mã Lạp Sơn càng hiu hắt giữa “bốn phương trời vò võ”! Bi kịch ấy Xuân Diệu tìm thấy ở người kĩ nữ. Giữa thi sĩ với cô gái tài sắc này quả có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, có sự “đồng bệnh tương liêu” như Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh thuở trước. Trong một không gian, một thời gian khác thường, một con người ôm mối cô đơn khác thường đang mong tìm đồng cảm. Nhưng càng thiết tha tìm, càng sợ gặp lòng mình thì càng lún sâu vào bi kịch cô đơn. Xã hội ấy không chấp nhận những cá nhân tài sắc mà cá nhân ấy lại chẳng thể nguôi ý thức về sự khác người của mình. Ấy là cái bi kịch tất yếu, cái bi kịch luẩn quẩn không sao gỡ thoát nổi của Xuân Diệu thời ấy –“Lòng kĩ nữ, lòng thi sĩ…”.
Mang dáng dấp một câu chuyện (có diễn biến của sự kiện, có nhân vật) nhưng Lời kĩ nữ có cái gốc trữ tình rất sâu. Gốc ấy là cõi lòng cô đơn buốt lạnh giữa cuộc đời đen bạc của nhà thi sĩ luôn khát khao tìm kiếm đồng cảm. Chính Xuân Diệu từng than thở: “Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách. Mà tình yêu như quán trọ bên đường” (Chỉ ở lòng ta). Lần ghé vào quán trọ này, rốt cục, chỉ đào sâu hơn vào cảm giác trống trải, đìu hiu mà thôi. Bi kịch của kĩ nữ cũng là bi kịch của mọi cá nhân “thanh quý, sắc tài, biết suy nghĩ” trong xã hội cũ. Lời van vỉ của kĩ nữ cũng là tiếng lòng của thi sĩ Xuân Diệu. Hai nỗi cô đơn lớn đã gặp nhau trong những lời thơ thành thực khác thường: “Lòng kì nữ, lòng thi sĩ…”.
LÊ QUANG HƯNG
Tư liệu tham khảo
“Là một người sinh ra để mà sống, Xuân Diệu rất sợ chết, sợ lặng im và bóng tối, hai hình ảnh của hư vô. Mục đích của đời người có phải là hạnh phúc đâu! Mục đích chính là sự sống. Mà còn gì làm cho sự sống đầy đủ hơn Xuân và Tình?
Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đẦy trong bầu tim mấy trời thanh sắc. Ông hăm hở đi tìm những nơi sự sống dồi dào tụ lại. Khi ông khao khát vô biên, tuyệt đích, chẳng phải ông muốn lên tới đỉnh cao nhất của sự sống đó sao? Ham yêu, biết yêu, Xuân Diệu muốn tận hưởng tình yêu, vì ông thấy chỉ tình yêu mới gồm được bao nhiêu ý nghĩa.
Nhưng Xuân không dài, Tình có bền đâu! Xuân với Tình cũng vô định như sự thực, không bền, và lại còn mong manh hơn cuộc đời chảy trôi. Bởi thế, Xuân Diệu vội vàng, bao giờ cũng lo âu, thắc mắc. Luôn luôn tận tâm, siêng năng mà sống, ông mau mau đem hết cả tâm hồn mà tặng cho đời, và ông cũng đòi hết cả tâm hồn của người yêu dấu, của trời đất, của mọi sự vật trên trần gian.
Ta thấy cả nỗi cuống quýt sửng sốt của thi nhân giơ tay với lấy giây phút qua, bám lấy bầu xuân hồng, và rền rỉ thở than với người yêu dấu. Người tình nhân ấy có những câu não nuột thấm thía, khiến nụ cười ta rung ở miệng cùng nước mắt dưới hàng mi…
Sở dĩ Xuân Diệu tham lam tình yêu, chứa chất vào lòng không chán, không đủ, không nguôi, là bởi thi sĩ rất sợ cô độc. Ông muốn biến ra nhiều thân, hóa thành muôn ức triệu vì ông thấy người ta đều chỉ trơ trọi một mình. Ông tìm gần gụi vì ông quá riêng tây, ông thấy nỗi mênh mông của tâm hồn nên ông muốn thành một cây kim để hút vào mình thiên hạ.
Thơ Xuân Diệu do đấy mà buồn tịch mịch, ngay trong những điều ấm nóng reo vui. Lạnh lùng ám khắp mọi nơi, xa vắng gồm tự muôn đời, ở đâu cũng là nỗi nhớ nhung, thương tiếc. Lòng thi sĩ thấy rõ điều trái ngược: nồng nàn bởi vì thê lương, khăng khít nhưng vẫn hững hờ, bao nhiêu éo le của cảnh đời mà Xuân Diệu yêu tới đau khổ. Thơ Xuân Diệu là hơi thở thầm kín, giấu giếm, trong đó ẩn sự huyền bí ghê rợn của một đêm trăng, sự não nùng bao la của một buổi chiều, và tất cả tâm hồn khó hiểu của người, của cảnh”.
(THẾ LỮ. Lời tựa tập Thơ Thơ,
NXB Đời nay. H. 1938)
“… Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết…
Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nó hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng thơ bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay.
Nhưng xét ra, cái náo nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái náo nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ. Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố. Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người. Họ tưởng có thể nhắm mắt làm liều, lấy cá nhân làm cứu cánh cho cá nhân, lấy sự sống làm mục đích cho sự sống. Song đó chỉ là một cách dối mình. “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” – lời khẩn cầu của người kĩ nữ cũng là lời khẩn cầu của con người muôn thuở. Đời sống của cá nhân cần phải vịn vào một cái gì thiêng liêng hơn cá nhân và thiêng liêng hơn sự sống…”
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam. NXB Văn học, H. 1993)
“… Xuân Diệu là người đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất… Thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhấn trong tất cả các Thơ mới. Cả ý lẫn lời đều thiết tha, làm cho nhiều người thanh niên ngây ngất…”
(VŨ NGỌC PHAN. Nhà văn hiện đại,
NXB Khoa học xã hội, H, 1989. tập II, tr, 716 – 717)
“… Tôi cho rằng Xuân Diệu là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện mới về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế này đã ban phát cho nhân loại… Con người ấy rất sợ cô độc, khát khao đến đau đớn được sống mãi với đời, được giao cảm với tất cả”.
(NGUYỄN ĐĂNG MẠNH, Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn, in trong cuốn Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục, 1994, tr. 192–203)
8. Tràng Giang
(Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài)
HUY CẬN
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặg lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Đời người không khỏi có những lúc bước chân lang thang đưa ta đến những sông hồ, bờ hãi, biển cồn, núi cao, đèo dốc… những không gian trời nước mênh mông. Nghĩa là ta sẽ phải đối diện với cái vô cùng vô tận của không gian, cái vô thủy vô chung của thời gian. Khi ấy, ngay cả những người vô tâm nhất cũng không tránh khỏi cảm giác cô đơn. Bởi người ta thấy rõ hơn bao giờ hết rằng con người thật là nhỏ nhoi, kiếp người chỉ là thoáng chốc. Đời người sao quá phù du! Ta bỗng thấy mình như đang bơ vơ lưu lạc giữa cái mênh mông của đất trời, trôi nổi trong cái xa vắng rợn ngợp của dòng thời gian. Ta bỗng thấy chơi vơi giữa thế gian này!… Ấy là lúc có thể đọc thơ Huy Cận. Cái thế giới đang mở ra trước mắt ta kia chính là thế giới thơ Huy Cận, thế giới của Lửa thiêng, thế giới của Tràng giang. Thi sĩ đã cất lên giùm ta cái cảm xúc, cái nỗi niềm nhân thế đó.
Ngày trước, để bênh vực cho bài Tràng giang (cũng là bênh vực cho thơ mới!) người ta đã phải viện ra cái kỉ niệm của một chiến sĩ nào đó mà rằng: một người cách mạng như thế cũng rất yêu hai câu đầu của bài Tràng giang, vậy bài thơ này là lành mạnh, nỗi buồn ở đấy là trong sáng, chứ không có hại gì! Rồi ngay cả Xuân Diệu cũng phải lập cả một hàng rào che quanh để bênh vực cho lòng yêu thiên nhiên của bài thơ. Không, lòng yêu thiên nhiên tạo vật tự nó là một giá trị, ngang hàng với những tình yêu khác. Lòng yêu thiên nhiên là một cảm xúc thuộc về nhân tính. Tự nó không cần bảo vệ!
“Tràng giang” không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, đó có thể là Hoàng Hà, Hằng Hà, Vonga, Dương Tử… cũng được chứ sao. Tràng giang là một tạo vật thiên nhiên. Nó có thể được gợi ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm. Nhưng khi đã thành hình tượng Tràng giang thì nó đã khước từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên phổ quát rồi. Lòng yêu của thi sĩ trong đó là một lòng yêu dành cho thiên nhiên tạo vật, một lòng yêu có ở hết thảy con người! Và đó chính là tầm vóc đáng phải có của bài thơ này
Cảm hứng của bài thơ quả là cảm hứng không gian. Không gian được trải ra từ mặt sông lên tận chót vót đỉnh trời, không gian được mở ra từ thẳm sâu vũ trụ vào tận thăm thẳm tâm linh con người. Ấy là một thế giới vừa được nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển, vừa được cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của một cái tôi hiện đại, rất đặc trưng cho Thơ mới. Có lẽ vì thế chăng mà Tràng giang hiện ra như một bức tranh tạo vật trường cửu, lớn lao, vừa hoang sơ, vừa cổ kính. Trong đó thi sĩ hiện ra như một lữ thứ, đơn độc lạc loài.
Tràng giang là một không gian mênh mông vô biên. Ngay cái tên bài thơ đã như một cửa ngõ dẫn vào vô biên rồi. Tràng giang gợi ra hình tượng một con sông chảy mênh mang giữa trời đất. Và đọc câu đề từ người đọc như thêm một lần nữa vén lên bức rèm, bước qua ngưỡng cửa đi theo một hành lang mở thông vào vô biên: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Nhưng dầu sao những hình ảnh sống động của thế giới ấy có thể cảm nhận hoàn toàn trực quan chỉ thực sự mở ra với những câu đầu:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Có lẽ cái chất thơ của sông nước đã nhập vào những câu thế này để phô bày vẻ đẹp của nó. Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng nước trên mặt sông. Nếu câu thứ nhất gợi được những vòng sóng đang loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời, thì câu thứ hai lại vẽ ra những luồng nước cứ song song, rong ruổi mãi về cuối trời. Không gian vừa mở ra bề rộng, vừa vươn theo chiều dài. Đúng là nó có thấp thoáng âm hưởng hai câu thơ cũng tả sông nước trong bài Đăng cao nổi tiếng của Đỗ Phủ:
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc
Dòng sông dằng dặc nước cuộn cuộn trôi)
Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận có cải biên, chỉ dùng tương xứng thôi. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả Đăng cao đặt ở giữa câu, thì tác giả Tràng giang lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy nguyên “điệp điệp” và “song song” tạo ra được dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà ý hướng và âm hưởng văn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng một nỗi buồn lớn!
Suốt dọc bài thơ. Huy Cận còn dày công khắc họa vẻ mênh mông vô biên bằng biết bao chi tiết giàu tính nghệ thuật nữa. Vừa dùng cái lớn lao để gợi sự thênh mông, vừa dùng cát hữu hạn để gợi sự vô cùng. Ấy là hàng trăm ngả sông, những cồn đất, những bờ xanh, bãi vàng, lớp lớp mây cao đùn núi bạc, ấy là một cành củi khô, một bóng chim nhỏ… Nhưng có lẽ bức tranh vô biên của Tràng giang đã đạt đến tận cùng là ở hai câu này:
Nông xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô.liêu.
Câu trên là sự vô biên được mở về chiều cao. Câu dưới là sự vô biên về cả bề rộng và chiều dài. Có một khoảng không gian đang giãn nở ra trong cụm từ “nắng xuống trời lên”. Hai động từ ngược hướng “lên” và xuống” đem lại một cảm giác chuyển động rất rõ rệt. Nắng xuống đến đâu, trời lên đến đó. Và nó được hoàn tất bởi cụm từ “sâu chót vót”. Có cái gì như phi lí! Có lẽ không chịu được vẻ phi lí mà có nhiều người đã cố tình in và viết thành “sâu chót vót” để dễ hình dung hơn. Tiếc rằng, chính “sâu” mới là sự xuất thần của hồn thơ. Đây không phải là sự lạ hóa ngôn từ. Nếu có thì trước hết là sự lạ hóa trong cách nhìn, trong cảm giác. Ánh mắt tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách thường tình để nhận biết về chiều cao. Mà nó như xuyên vào đáy vũ trụ để cảm nhận về chiều sâu. Song, dầu sao, đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn lên. Cho nên, mới là “sâu chót vót”. Chót vót vốn là một từ láy độc quyền của chiều cao, ở đây bỗng phát huy một hiệu quả không ngờ. Nó còn gợi sắc thái chưa hoàn tất. Dường như cái nhìn của thi sĩ vươn tới đâu thì trời sẽ sâu tới đó, mỗi lúc một chót vót hơn. Vừa tương xứng, vừa hô ứng với câu trên, câu thứ hai mở ra bát ngát, tít tắp. Câu thơ được viết giản dị, không chữ nào lạ, ngỡ như chỉ là sự sắp xếp các chiều kích của Tràng giang, thế thôi! Vậy mà thấy động. Các trạng thái tĩnh, các tĩnh từ dường như “cựa quậy” đòi động từ hóa. Trong áp lực của cái nhìn xa hút, “sông dài (ra) trời rộng (thêm) bến cô liêu (đi)” vậy! Thế mới lạ, không có chữ nào lạ hóa, mà vẫn mới lạ. Thế mới biết, chính cảm xúc mới lạ mới làm nên cái mới lạ chân chính cho nghệ thuật.
Là một người thuộc lớp Tây học, nhưng tâm hồn tác giả Lửa thiêng lại thấm đẫm Đường thi. Nên không gian Tràng giang cứ lãng đãng thơ Đường. Thơ cổ Trung Hoa thật tinh diệu trong việc diễn tả cái trạng thái “tĩnh” của thế giới. Có lẽ vì triết học nơi đây đã quan niệm “tĩnh” là gốc của “động”, “tĩnh” là cội nguồn của thế giới. Cùng với nó, “tĩnh tại”, và “thanh vắng” cũng trở thành một tiêu chuẩn mĩ học phổ biến của cái đẹp trong thiên nhiên và nghệ thuật về thiên nhiên. Tái tạo cái “tĩnh vắng mênh mông” trong nghệ thuật được xem là tái tạo hư không – một hư không chứa đầy âm nhạc, chứ không phải hư không trống rỗng. Huy Cận cũng tái tạo như thế, nhưng thi sĩ muốn đi xa hơn. Cái thanh vắng của thơ xưa được cảm nhận bằng sự an nhiên tự tại. Còn sự trống vắng của Tràng giang được cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ. Có lẽ vì thế mà Tràng giang còn là thột thế giới quạnh hiu, cơ hồ tuyệt đối hoang vắng. Đối diện với không gian vô biên, trống trải, cái tôi ấy đi tìm kiếm sự cảm thông. Nhưng con người hoàn toàn vắng bóng.
Đúng ra, con người có thoáng hiện ra trong hình bóng chiếc thuyền ở đầu bài thơ. Một con thuyền “xuôi mái”, thụ động buông trôi trên dòng nước luân lạc. Và nó cũng chị hiện ra thoáng chốc. Rồi sau đó nép mình vào bờ bãi nào mà mất hút trên sông nước, trả lại không gian cho sự ngự trị của muôn ngả sông, nghìn luồng sóng:
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Cố kiếm tìm âm thanh cuộc sống, chỉ tìm âm thanh xoàng xĩnh thôi, dường như cũng không thấy, hoặc quá ư xa mờ, vô nghĩa:
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều!
Chữ “đâu” ở vị trí này có thể hiểu theo hai cách: vừa là phủ định từ với nghĩa là “đâu có”, vừa là từ chỉ nơi chốn với nghĩa là “đâu đó”. Theo nghĩa thứ nhất thì khớp với cách phủ định hoàn toàn sự có mặt của con người ở những câu sau. Còn theo nghĩa thứ hai, thì có “tiếng làng xa…” và đó là âm thanh của cuộc sống đang tan rã, lịm tắt, mờ nhạt, thê lương. Một đằng đã vắng bóng, một đằng đang vắng bóng. Và đằng nào thì cũng quạnh quẽ cô liêu.
Những phương tiện giao lưu chứng tỏ sự có mặt của con người cũng không hề có:
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi Chút niềm thân mật.
Và sự phủ định cuối cùng “Không khói hoàng hôn… Vậy là ở đây không còn là cái thanh vắng cổ điển của “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén, Ngày vắng xem hoa bợ cây” (Nguyễn Trãi), “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” (Bà huyện Thanh Quan), hay “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Nguyễn Khuyến) nữa. Tràng giang hiện ra như một thế giới hoang sơ. Có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế! Thi sĩ như một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một hoang đảo. Trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối. Và nỗi nhớ nhà dâng lên như một tiếng gọi tự nhiên. Đứng trước cảnh thế này, hơn nghìn năm trước Thôi Hiệu cũng chạnh lòng nhớ quê:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng suy nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
(TẢN ĐÀ dịch)
Có lẽ đó chỉ là nỗi hoài hương của lòng sầu xứ. Và nó cần có khói sóng để làm duyên cớ. Nỗi nhớ của Huy Cận là thường trực, có cần đến thứ khói nào để làm duyên cớ đâu! Nhớ nhà như là để vượt thoát, để trốn chạy khỏi nỗi cô đơn cố hữu mà thôi:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhờ nhà.
Dòng sông chảy mênh mang giữa trời đất đến đây như bỗng dội lên những tiếng sóng khác: tiếng sóng của làng quê! Hay chính lòng quê cũng đang xao xuyến dâng lên để thành một dòng tràng giang của tâm hồn mà nhập vào tràng giang của trời đất?
Đứng trước những dòng sông lớn, ta có cảm tưởng như đang đối diện với sự trường tồn, trường cửu. Nghìn năm trước khi chưa có ta nó vẫn chảy thế này. Nghìn năm sau, khi ta đã tan biến khỏi mặt đất này, nó vẫn chảy thế kia. Tràng giang vẫn điềm nhiên, dửng dưng không thèm biết đến sự có mặt của con người. Sự lặng lẽ của tràng giang là miên viễn. Và hình như trong bài thơ, Huy Cận đã thâu tóm được nhịp chảy trôi miên viễn ấy rồi thể hiện một cách tinh vi trong âm hưởng chảy trôi thao thiết của ngôn từ. Những từ láy nằm rải trong chiều dài bài thơ, nhất là láy nguyên: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,… không chỉ gợi được sự đường bệ, mà còn gợi được nhịp triền miên. Những cặp câu tương xứng như trùng lặp, nối tiếp, đuổi nhau không ngừng nghỉ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp “Con thuyền xuôi mái nước song song”. Các vế câu vừa cắt rời, vừa kết nối liên tiếp như một chuỗi dài tạo ra nhịp chảy trôi, dong đuổi, miên man: “Nắng xuống / trời lên / sâu chót vót; Sông dài / trời rộng / bến cô liêu”. Rồi những từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp ở cuối các câu: “hàng nối hàng”, “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”… tất cả những yếu tố ngôn từ ấy như những bè khác nhau, kết lại với nhau, phụ họa lẫn nhau, tạo thành một âm hưởng trôi xuôi vô tận miên viễn cứ ngầm chảy trong lòng bài thơ này khiến cho ta có một cảm tưởng thật rõ rệt: có một dòng Tràng giang thầm chảy trong âm điệu. Và ta như nghe thấy dòng Tràng giang không chỉ chảy trong không gian, mà còn chảy trong thời gian – từ thuở khai thiên lập địa, chảy miết qua các thời đại mà về đây! Phải chăng đây là chiều thứ tư đầy mơ hồ và hư ảo của không gian Tràng giang?
Tôi đọc bài thơ bao nhiêu lần và không sao xóa được khỏi lòng mình cái cảm giác bâng quơ này: mình là cái cành củi khô luân lạc trên dòng tràng giang kia hay mình là cánh chim nhỏ lạc lõng dưới lớp lớp mây cao đùn núi bác đó!... Nó là cảm tưởng của một đứa trẻ? Mà dường như cũng là của một người già? Bởi vì Tràng giang là dòng sông mà cũng là dòng đời chăng?
chu văn sơn
tư liỆu tham khẢo
“Điểm cao trong luồng thơ tạo vật với tâm tình này, chắc hẳn là bài Tràng giang; thiên nhiên tạo vật ở đây đã là đất nước rồi, đất nước của ta. Bài thơ hầu như trở thành cổ điển, của một nhà Thơ mới. Vào một cách dõng dạc đàng hoàng, vì đây là “đại giang”, là sông lớn, ví dụ như sông Hồng; là tràng giang: rộng, bao gồm cả trường giang: dài, “sầu trăm ngả” chứ không phải ít ngả, vì là sông lớn:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Hơi thơ cổ điển là đúng, bởi sông lớn là giang san bền bỉ muôn đời Duy câu thứ tư thì là hiện đại; thơ truyền thống của cha ông ta không đưa cái nét hiện thực, thực tế, nôm na, chân thật đến sống sít, là “củi một cành” trôi đi trên sông.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông đài, trời rộng, bến cô liêu.
Tâm lí của thơ trữ tình công khai nói chung trước Cách mạng là nói nỗi buồn; Huy Cận cũng muốn làm nổi bật cái “dài”, “rộng” và “cô liêu”, cho nên phủ định, đến cả một chuyến đò ngang, đến cả một chiếc cầu, chỉ có bờ bờ bãi bãi. Và đây là tâm trạng trước Cách mạng: “bèo dạt, hoa trôi”, những số kiếp con người trôi dạt trên con sông Thời gian:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Bốn câu kết:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
điệp điệp, song song, rồi lớp lớp, lại nhắc cái trang nghiêm của hai câu thơ mở đầu, bởi đây là không khí của sự lớn lao.
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa:
Ở nửa trên bài: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”, trưa đã ngả sang chiều, nhưng còn nhiều ánh sáng lắm, có vậy mới thấy được thật xa, mênh mông; đoạn cuối bài thì là càng gần về hoàng hôn, con chim đang xòe cánh bay, bóng chiều sa nặng đến nỗi nó phải nghiêng cánh, lệch cánh”.
(XUÂN DIỆU, Tuyển tập Huy Cận.
NXB Văn học, 1986)
9.NGẬM NGÙI
- HUY CẬN
Nắng chia nửa bãi; chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây
Lòng anh mở với quạt này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ…
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…
Dẫu dài hay ngắn, một bài thơ chỉ hay khi tạo được một không khí thẩm mỹ riêng. Sáu cặp câu lục bát của Ngậm ngùi đủ khuôn thành một bầu khí quyển đặc biệt: thế giới mộng sầu của hai người yêu nhau trong buổi chiều buồn đượm màu cổ tích.
Người ta thường có hai giấc ngủ: ban trưa và ban đêm. Vậy mà anh “hầu quạt”, “ru em” vào buổi “cây dài bóng xế”. “Bắt” em ngủ say, mong em mộng vào lúc này kể cũng lạ. Nhưng xét ra, điều lạ ấy lại đúng với “tạng” tâm hồn Huy Cận khi viết Lửa thiêng: khối “thiên cổ sầu” trong “chiếc linh hồn nhỏ” cứ lan tỏa khắp ngoại giới có chấp gì khoảng cách không gian, thời gian. Người như thế khi quạt ru người yêu ngủ mà vẫn “ngậm ngùi” cũng không có gì khó hiểu. Ngòi bút của Huy Cận rất tài tình trong gợi lên vẻ vắng lặng, hắt hiu của buổi xế chiều, buổi hoàng hôn:
– Buồn gieo theo gió ven hồ
Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa.
(Chiều xưa)
– Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng bến cô liêu.
(Tràng giang)
Những buổi chiều thu miền rừng núi đẹp buồn như những bức họa cổ điển:
– Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu
Chơ vơ buồn lọt quán chiều
Mai nghiêng nghiên gửi buồn theo hút người.
(Đẹp xưa)
– Sầu thu lên vút, song song
Với cây hiu quạh, với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.
(Thu rừng)
Buổi chiều trên bãi bờ sông nước mênh mang mà nỗi chờ mong, thương nhớ như trải khắp ngàn dậm:
Nắng đã xế về bên xứ bạn
Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.
(vạn lí tình)
Thời gian trong Ngậm ngùi cũng vào lúc buổi chiều nắng xế và “anh”, “em” được ở riêng trong một không gian im ắng, tĩnh mịch. Chỉ ba dòng thơ đủ gợi lên một thế giới riêng cho hai người:
Nắng chia nữa bãi; chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau…
Nỗi ngậm ngùi thương đau tự tâm hồn cứ phả vào cảnh vật xung quanh được chứng minh qua các tính từ định ngữ: vườn hoang, lá rầu, sợi buồn, cây dài bóng xế ngẩn ngơ… Lời ru vỗ về, an ủi của một người buồn với một người buồn càng trìu mến, tha thiết:
Em ơi! Hãy ngủ… anh hần quạt đây
Lòng anh mở với quạt này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ…
Ru người yêu ngủ ai mà chẳng trìu mến. Nhưng trìu mến đến mức khẻ khàng, vừa quấn quýt vừa có phần thành kính như huy Cận thì có lẽ không nhiều người! Mở lòng cùng quạt, lòng nuôi và thả trăm con chim mộng quấn quýt quanh giường em nằm là một tứ thơ thiết tha thành thực và rất lãng mạn.
Tại sao quạt ru người yêu ngủ mà ngậm ngùi đến thế? Điều dễ thấy là bởi người được ru vừa trải qua lắm thương đau, đang “khó ngủ” nên cần an ủi. Chẳng thế mà phải ru “Ngủ đi em, mộng bình thường” (có lẽ sợ em rơi vào những giấc mộng buồn chán, hãi hùng). Chẳng thế mà phải nhờ “tiếng thùy dương” êm ái vào cùng ru. Ngậm ngùi gợi cho ta hình ảnh một chàng hiệp sĩ đang vỗ về người yêu sau bao tháng ngày tìm kiếm, cứu cô thoát khỏi những đày ải bất hạnh trong các câu chuyện cổ tích ngày xưa. Chỉ có khác là đây chẳng nhuốm màu sắc lạc quan của chiến thắng mà bao trùm không khí ngậm ngùi sâu lắng.
Nhưng tạo nên không khí ngậm ngùi không chỉ do người được ru mà còn do người ru. Và đây là phía quan trọng hơn vì “anh” hoàn toàn có thể “bao bọc” “em” trong một không gian cảnh vật tươi sáng, có thể động viên “em” bằng những lời phấn chấn. Nhưng chính lòng “anh” cũng đang buồn, đang ngậm ngùi thì sao mà làm được như thế! Khi hỏi “Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?” chắc nhà thơ cũng đang liên cảm đến nỗi thương đau của hồn mình, đã từ hồn mình mà hỏi hồn người. Sự tự ý thức về hồn đơn chiết, lạc lõng, cô sầu ở Lửa thiêng thật rõ rệt:
– Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây.
(Mai sau)
- Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang thang thiên cổ sầu.
(Ê chề)
– Hơi Thượng đế! Xin cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái
Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đàng.
(Trình bày)
– Cô hồn một thuở buồn đơn chiếc
Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ.
(Ngủ chung)
Tác giả Lửa thiêng thường sống, thường tự cảm, tự ngẫm bằng cái tâm hồn trĩu nặng sầu buồn ấy. Nhà thơ nghe tiếng động của đời, âm vang của lòng người ít khi bằng tai mà chủ yếu bằng hồn. Trong các nhà Thơ mới, có thể nói Huy Cận đặc biệt nhạy, tinh về lối nghe này:
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…
(Buồn đêm mưa)
Ở Ngậm ngùi cũng bằng hồn mà nhà thơ lắng nghe, hứng đựng trái sầu chín rụng:
Tay anh em hay tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Quả là một liên tưởng tận chiều sâu tâm trạng buồn đau. Từ trọng lượng của đầu tựa, từ tư thế nhìn thấy được bằng mắt ở câu sáu đến cảm giác nặng do trái sầu rụng ở câu tám là con đường đi sâu vào hồn mình của một thi sĩ biết tự lắng nghe, thiên sống bằng tâm trạng. Sẽ không có sự nghe thấy kì diệu ấy nếu không có mối đồng cảm sâu sắc, nếu không đem cả hồn mình ra mà nâng đón hồn người.
Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “Cái buồn Lửa thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh…”. Ru “em” hay tự ru mình? Ngậm ngùi cho người hay ngậm ngùi cho tâm hồn đã chín mấy mùa thương đau của chính mình? Điều ấy thật khó phân tách ở bài thơ này. Ta cũng khó khẳng định “em” ở trong Ngậm ngùi là ai. hồn “em” thương đau, u sầu bởi nguyên do gì? Tiếng thơ ở đây dường như đã bay hết màu sắc thời gian, không gian để thành chung chung, để thành bản ngậm ngùi vừa của hiện tại, vừa của thiên cổ và vĩnh viễn.
Là một khúc ru, Ngậm ngùi tìm đến thể thơ thích hợp quen thuộc của tiếng Việt: lục bát. Chính Huy Cận rất tâm đắc với Ngậm ngùi bởi nó là sự thể nghiệm tài hoa thể thơ dân tộc này: Lời thơ êm ái, nhịp nhàng tuôn chảy chứ chưa có lối ngắt nhịp bất thường hay vắt dòng như lục bát hiện đại sau này. Âm điệu đã góp phần tạo nên không khí ngậm ngùi man mác, sâu lắng rất riêng của bài thơ.
Ngậm ngùi là một cung bậc buồn trong nỗi buồn triền miên ở Lửa thiêng, là một khúc ngậm ngùi trong bản ngậm ngùi dài của một linh hồn nhỏ chứa chất khối cô sầu. Bài thơ cho ta hiểu thêm về mối sầu thiên cổ trong tâm hồn thi sĩ Thơ mới lãng mạn Huy Cận.
LÊ BÁ HÁN
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Nói sao hết, nói sao rõ được cái man mác, cái thiết thực và rất vẩn vơ trong thơ Huy Cận? Đó chẳng phải là đáy sâu thăm thẳm của linh hồn ta ư? Ông thương những hồn ma chịu rét mùa đông, ông tưởng thấy họ đang nương ấp nhau trong đêm giá, ông nhặt “dấu chân trên đường” – ý mới ngộ nghĩnh và man mác làm sao! Ông lượm những dấu bụi để xem những bước chân đã đi qua và đã biến mất.
Ông thân mật, ông ái ân, nhưng bao giờ cũng có cái vụng về, cái thầm kín của ông, cái ngậm ngùi vô cớ.
Huy Cận! Một tâm hồn đặc biệt quá, nóng chảy bên trong, e lệ bên ngoài, hay nói nhỏ và hay làm thinh để cho men lòng càng rạo rực hơn nữa; một tâm hồn hay lặng yên để nước mắt chảy: không biết khóc cái gì; vừa mạnh vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu Tây và rất Á Đông; nghĩa là cả con người, con người phức tạp muôn thuở…”.
(XUÂN DIỆU. Thơ Huy Cận, báo Ngày nay,
số 151, ngày 4–3 – 1939)
 “Chàng như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian; người ta muốn tưởng linh hồn Huy Cận là đám mây kia, là nỗi hắt hiu trong cõi trời, là hơi gió nhớ thương…
Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không phải sáo Thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời Li Tao kể chuyện một cái tôi, mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, bông lau, có phải niềm than vãn của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao? Tiếng rền rĩ dịu êm sẽ vấn lấy ta như một dải lụa ôm ấp một vết đau: tiếng len thấm thía vào hồn ta như khí hậu của núi đèo. tiếng làm thành sương, đọng lệ trên mắt ta… Thơ Huy Cận đó ư? Ai nhắc làm chi nhưng nỗi thê thiết của ngàn đời, ai động đến cái lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế. Những lời muôn năm than thầm trong lòng vạn vật, ai thuật lại mà não nuột lắm sao?
… Linh hồn Huy Cận là một linh hồn trời đất, nói thế không sai đâu! Xem suốt tập Lửa thiêng, cái cảm giác trội nhất của ta là một cảm giác không gian: ta nghe xa vắng quanh mình; ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát, một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô. Huy Cận quá cảm nghe cái mênh mông thì giọng thơ của người cũng lây cái sầu của vũ trụ. Những bài thơ đôi khi vắng vẻ quá: “Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”, “Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người”, hay là “Sầu thu lên vút song song”, chỉ có trời đất ngơ ngẩn với nhau.
Thơ Huy Cận có một hồn xưa là tại đó. Phong cảnh thường bay hết sắc màu, thường chẳng có xôn xao, chỉ nhưng nét lặng lẽ như tranh, làm thành những áng mơ tuyệt diệu. Cho đến những tình người của Huy Cận cũng như không có thời khắc; ta không thấy những chi tiết nhỏ nhặt của đời hằng ngày, những rạo rực mau chóng trong phút giây: chỉ có một tấm lòng thương yêu không biết có tự đời nào, và đoạn thảm, hồi vui cũng nhuốm một màu vĩnh viễn…”.
(XUÂN DIỆU. Lời tựa cho tập Lửa thiêng.
NXB Đời nay. 1940)

“Cái buồn Lửa thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. Có người muốn làm thơ phải tìm những cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã sẵn trong lòng, đời thi nhân không cần có nhiều chuyện. Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong…
Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn giữ lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được?
Thôi đã tan rồi vạn gót hương
Của người đẹp tới tự trăm phương
Tan rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường.
Lại có khi suối buồn thương có tự trong thâm tâm chảy ra lai láng không vướng chút bụi trần:
Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung!
Có ai đàn lẻ để tơ chùng?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng…
Phải tinh lắm mới thấy lòng mình như thế giữa cái ồ ạt, cái rộn rịp của cuộc đời hằng ngày. Đây có lẽ là một điều Huy Cận đã học được trong thơ Pháp. Nhưng với trí quan sát rèn luyện trong nền học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về những cảnh xưa, nơi bao nhiêu người đã sa lầy – tôi muốn nói sa vào khuôn sáo. Người nói cùng ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn. Và cũng như người đã làm thơ trong những chốn ta tưởng không còn có thơ nữa. Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này. Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, nói chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận. Có lúc hình như thi nhân không phân biệt mộng với thực, ngày trước với ngày nay. Cảnh trước mắt người mơ màng như đã thấy ở một kiếp nào; tình mới nhóm người tưởng chừng đã hẹn đâu “từ vạn kỉ…”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam. NXB Văn học, là 1993. tr.120 – 122)
“Tác giả Lửa thiêng thật đã không giống Xuân Diệu và cũng đã khác hẳn Lưu Trọng Lư. Ở Huy Cận, ta không thấy những tiếng kêu ầm ĩ, nóng nảy như ở tác giả Thơ Thơ Và ta cũng không thấy cái buồn vơ vẩn và nhẹ nhàng như ở tác giả Tiếng thu. Huy Cận than thân thì ít mà góp tiếng khóc với đời thì nhiều. Cái giọng nhớ hờ, thương hão của ông đôi khi có hơi giống Tản Đà, nhưng ông lại khác Tản Đà ở chỗ có lòng tin tưởng ở đấng Tối cao. Lòng tin tưởng ấy lai láng ở gần hết các bài thơ trong tập Lửa thiêng và ông đã diễn ra với tất cả một tâm hồn nghệ sĩ. Đứng trước thiên nhiên và nhân loại, ông là một họa sĩ giàu lòng tín ngưỡng và bình tĩnh cần cù, ngồi vẽ những nét dịu dàng, không quá bạo, để không phải tả riêng mình, mà tả tất cả mọi người…
Lẽ thường, ở đời, chỉ khi khóc về mình, người ta mới khóc thảm thiết, còn khi khóc cho cả mọi người và cho thình, người ta vừa gạt nước mắt vừa liếc trông người bên cạnh. Khi đã không có sự tủi thân - có riêng ai, mà tủi thân! – cái khóc của người ta không sao tránh được sự lặng lẽ. Bởi vậy, cái buồn của Huy Cận tôi muốn gọi là cái buồn của người nghệ sĩ hơn là cái sầu của thi nhân.
Đứng trước cảnh vật, Huy Cận đã nhìn bằng con mắt khách quan, dầu ông có ngỏ lời tình ý thì cái tình ý ấy cũng là tình ý của nhiều người khác.
Nếu ai hỏi tôi: thơ Huy Cận thế nào? Tôi sẽ đáp: thơ Huy Cận thanh tao, trong sáng, nhưng kém bề thiết tha, thành thật, là những điều cốt yếu trong thơ của Xuân Diệu”.
(VŨ NGỌC PHAN. Nhà văn hiện đại,
NXB Khoa học xã hội, H, 1989, tập II, tr, 725 – 731)
10.XUÂN
- CHẾ LAN VIÊN
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
- Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết Tết
 Mang lì chiếc áo độ thu tàn!
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn trong niềm nhớ mong đau đớn chính là hình ảnh Chế Lan Viên giữa thời đại Thơ mới. Cánh chim ấy bé nhỏ, lạc lõng giữa đại ngàn ngút ngát xa xanh, giữa xã hội ồn ào, náo nhiệt nhưng hiện hữu rõ rệt quá khiến muôn con mắt phải nhìn, bao tấm lòng phải nhớ.
Thơ mới có nhiều thái độ trước thời gian, trước mùa xuân nhưng không ai “ở lì” với quá khứ, thù ghét đối với mùa xuân như Chế Lan Viên. Khi đọc bài thơ Xuân, ấn tượng đầu tiên là giọng điệu chối từ dứt khoát. Gắn liền cùng giọng điệu này, các động tác trữ tình lắc đầu, xua tay ngăn đuổi được chúng ta tưởng tượng ra:
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ngay trong lời chối từ này, Chế Lan Viên đã đối lập tuyệt đối “tôi” và “tất cả”, đã tự buộc mình vào căn bệnh trầm kha muôn thuở của thi nhân: khổ đau. Ấy là căn bệnh của cả một thế hệ, cả một thời đại nhưng thi sĩ lấy đó làm của riêng mình. Điều đó chứng tỏ cái nỗi khổ đau ở Chế Lan Viên lớn lao quá, thường trực quá mà mùa xuân do tạo hóa (và ai đó) đem lại lúc này chỉ gợi sâu thêm.
Trong tâm lí hầu hết mọi người và phần lớn văn chương xưa nay, mùa xuân đồng nghĩa cùng sự tươi trẻ, cùng niềm vui và sự hồi sinh. Nhiều nhà Thơ mới cũng nằm trong cái quy luật cảm xúc tự nhiên ấy. Ở đây chúng ta chứng kiến dường như một “phản đề”: “Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?”. Song nghĩ một chút, cái “phản đề” này lại diễn tả rất đúng một quy luật cũng của tâm trạng, tâm lí: Khi người ta đang nặng lòng sầu thì cái vui xung quanh dễ gây thêm sầu, thêm bực mà thôi. Khi chẳng “đủ sức” tương đồng thì thành tương phản! Xuân không xoa dịu sầu mà “gợi thêm sầu” – như thế một mặt đủ thấy mức độ nỗi sầu ở Chế Lan Viên; mặt khác cũng thấy tâm hồn thi sĩ vẫn đang mở, đang “nhạy cảm với thời tiết” ra sao.
Bởi cái vui ngoài mùa xuân chỉ đào sâu thêm vào nỗi sầu trong cõi lòng nên Chế Lan Viên trình bày một ước muốn lạ lùng:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
Nhận xét về khổ thơ này, Thi nhân Việt Nam viết: “Ý muốn ngông cuồng, ngộ nghĩnh? Đã đành. Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngông cuồng ấy tôi còn thấy một sức mạnh phi thường. Chắn một luồng gió, chắn một dòng sông, chắn những đợt sóng hung hăng ngoài biển cả, nhưng mà chắn nẻo xuân sang! Sao người ta lại có thể nghĩ được như thế?”.
Mong ước chế ngự thời gian, níu giữ thời gian chúng ta cũng bất gặp ở không ít bài thơ của Xuân Diệu:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi…
(Vội vàng)
Xuân Diệu cũng khao khát “truy lãnh” thời gian, gọi quá khứ về làm hiện tại:
Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ
Trở và đây, và đem trở về đây!
Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây.
(Xuân đầu)
Thái độ đối với thời gian này của Xuân Diệu biểu lộ niềm mong ước tận hưởng hương sắc mùa xuân, tuổi trẻ, tận hưởng hạnh phúc tình yêu. Nó là sự “khôn nguôi nỗi khát thèm” hưởng thụ, là niềm đắm đuối “vô biên” cùng hiện tại trên cõi trần gian. Khó mà bảo rằng ước muốn ấy không “ngông cuồng”, “ngộ nghĩnh”, hơn thế, không chứng tỏ một “sức mạnh phi thường” bởi con người ta ai mà tắt được mặt trời, mà buộc nổi gió, ai mà quay ngược lại được bánh xe tạo hóa – thời gian. Song vẻ “dị thường” (cũng chữ dùng của Thi nhân Việt Nam) của Chế Lan Viên chính ở chỗ thi sĩ “chán hết” những sắc màu, những hình ảnh của trần gian, không nguôi hướng về quá khứ buồn đau, ảm đạm, và hơn thế muốn nhặt nhạnh góp gom những lá vàng, những cánh hoa tàn rã để “chắn nẻo xuân sang”. Một vị tướng mà huy động đám quân sĩ như thế thì cầm chắc phần thất bại!
Không phải Chế Lan Viên không tự biết sự “ngông cuồng”, bất lực của mình. Vì thế, thi sĩ gọi đây là “mộng ảo”. Nhưng càng “ngộ nghĩnh”, đáng yêu hơn khi hiểu rằng “mộng ảo” mà vẫn “say”. Chế Lan Viên rất ít say trong thơ và không hề say tình, say rượu, say nàng Tiên Nâu như nhiều nhà Thơ mới. Ông say một cách có ý thức, có triết lí. Người ta có thể thành tâm, có thể khăng khăng gìn giữ một ước muốn, một lí tưởng mà mình tin rằng đẹp cho riêng mình, dù có khi hiểu đó là ảo mộng. Ấy là một cách để tĩnh dưỡng, để bảo toàn cho tâm hồn trước sóng gió của cuộc đời ô trọc. Ai dám nói điều đó hoàn toàn không đáng yêu, đáng trọng, không phải là biểu hiện của một sức mạnh phi thường!
Từ giọng điệu vừa như mệnh lệnh, vừa như khẩn cầu (“Ai đâu… Nhặt lấy cho tôi…”), lời thơ chuyển sang tâm tình, chia sẻ (“Ai biết hồn tôi say mộng ảo, Ý thu góp lại cảm tình xuân”). Chế Lan Viên phải tâm tình, giãi bày bởi tự ý thức rất rõ về sự lập dị của mình:
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!
Và:
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!
Đây là những so sánh ngầm, những ẩn dụ, không nên hiểu theo nghĩa đen. Phân tích mấy hình ảnh này, có nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Anh (tức Chế Lan Viên) đã chú ý đến cuộc đời bình dị xung quanh, biết ngày Tết đã đến với mọi người. Anh đã nghe tiếng trẻ con cười vang “. Lại có em học sinh gần đây cảm nhận: “Thật bất ngờ khi tác giả đưa hình ảnh trẻ thơ và người nghèo vào hài thơ. Có lẽ đó là tình cảm của một con người đa cảm đã nhìn thấy những con người bất hạnh, và có lẽ, tác giả cũng cảm nhận thấy sự bất hạnh, khổ đau của những con người trong xã hội Việt Nam đương thời. Phải chăng, “một người nghèo” đó cũng chính là tác giả?!”. Quả là Xuân được viết khi tâm hồn Chế Lan Viên đã bớt chìm đắm trong bể u sầu, cảm nhận có gần cuộc đời thực hơn nên lời thơ đã bớt “kinh dị”. Nhưng cái thấy, cái nghe này không phải là mục tiêu tự ý thức của Chế Lan Viên, không phải là đối tượng thể hiện của nhà thơ. Sẽ lạc mạch Xuân nếu nghĩ rằng ở đây Chế Lan Viên bộc lộ niềm cảm thông cùng những con người bất hạnh, khổ đau. Chuyện người nghèo hay người giàu, trẻ thơ hay người lớn chỗ này không hề mang màu sắc giai cấp mà chỉ tô đậm vẽ lập dị, nhấn mạnh sự khác thường giữa bản thân cá nhân mình với mọi người xung quanh, với cộng đồng. “Một người nghèo”, “đứa trẻ thơ” này chính là hình ảnh tự biểu hiện của Chế Lan Viên và chỉ là Chế Lan Viên mà thôi (chúng tôi nhấn mạnh). Nếu hiểu rằng đó là những con người bất hạnh, khổ đau trong xã hội đương thời thì tất dễ dẫn đến cho rằng “chiếc áo độ thu tàn” là chiếc áo cũ, áo rách thật (!). Chuyện “Mang lì chiếc áo độ thu tàn”, “Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran” là chuyện của một người giữa muôn người. Khi Tết đến người ta thường mặc áo mới, khi rét, khi đói thì trẻ thơ phải khóc. Người mang chiếc áo ấy “lì lợm” quá, không đếm xỉa gì đến mọi biến chuyển xung quanh. Đứa trẻ thơ ấy “vô tình”, thất thường quá, chẳng biết khóc, biết cười cho đúng lúc, đúng chỗ như bao đứa trẻ thơ bình thường. Đó là các hình ảnh liên tưởng thật bất ngờ của Chế Lan Viên. Nhưng xét ra, điều bất ngờ này lại hợp lí, lại “đúng mạch” bởi xuân đi liền với Tết, với áo mới, bởi ngày Tết càng rộn tiếng khóc, tiếng cười của trẻ thơ.
Tại sao Chế Lan Viên thù ghét mùa xuân mà mải mong nhớ mùa thu? Khác với nhiều nhà Thơ mới, mùa xuân hay mùa thu trong thơ Chế Lan Viên không phải là chuyện cảnh trí thiên nhiên, không chỉ là sự vận động của thời tiết làm vui hay buồn cho lòng người. Ông có rất ít vần thơ miêu tả, cảm nhận thiên nhiên kiểu như Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử, Chiều xuân của Anh Thơ, Nụ cười xuân, Vội vàng, Đây mùa thu tới… của Xuân Diệu. Hình tượng mùa Xuân, mùa Thu trong thơ Chế Lan Viên mang ý nghĩa triết lí về thời gian, về một thái độ sống. Nó là câu chuyện về hiện tại và quá khứ, về hướng vọng và niềm tin đắm đuối của một tâm hồn. Nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, tâm hồn ấy “không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được”:
Đường về thu trước xa lăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi!
Trong Điêu tàn, mùa Xuân là biểu tượng cho hiện tại náo nhiệt, mùa Thu là biểu tượng của dĩ vãng xa xăm. Thật lạ khi Chế Lan Viên tình nguyện một mình trở về trên con đường thời gian tít tắp. Càng lạ hơn khi quá khứ mà nhà thơ không nguôi tìm về đâu chỉ có vàng son mà phần lớn là rã tàn, đổ nát. Nếu các nhà thơ lãng mạn cùng thời tìm ở mùa Thu những gam màu dịu nhẹ, những nỗi buồn hắt hiu, sâu lắng thì Chế Lan Viên thấy ở mùa Thu sự tàn lụi, sự chán nản não nề. Dẫu thế, ông thích mùa Thu vì chính sự tàn lụi ấy mang dấu tích một thời xưa oai linh hùng vĩ. Có rực rỡ nên mới có lụi tàn, âu đó cũng là một biện chứng. Và thi sĩ lãng mạn Chế Lan Viên trở thành một con người cô độc, tỉ mẩn tìm kiếm hình bóng rực rỡ trong những gì đang rụng, đang “tan tác đổ”:
Thu đến đây! Chừ, mới nói răng
Chừ đây buồn giận biết sao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!
Tìm cho những nét thơ xanh cũ
Trong những tờ thơ lá võ vàng…
(Thu)
Xem thế, ta thấy Chế Lan Viên thích mùa Thu đâu phải vì mùa Thu đẹp. Gặp Thu này mà nhà thơ nhớ về Thu trước. Giữa hiện tại mà nhà thơ cứ đắm mình vào quá khứ. Cứ thế, tâm hồn Chế Lan Viên mải miết “trên đường về” (tên một bài thơ trong tập Điêu tàn). Đúng như sau này Chế Lan Viên đã “tự kiểm điểm”: “Đi xa về hóa chậm, Biết bao là nhiêu khê”. Những hình ảnh về đất nước Chiêm Thành một thời huy hoàng tuyệt mĩ, về sự hoang tàn, tang tóc mà nhà thơ bắt gặp trên con đường về ấy cứ ám ảnh không thôi tâm trí ông. Bởi thế, viết về Xuân hay Thu suy cho cùng cũng chỉ một tâm sự, một chủ đề. Nhiều văn thơ Điêu tàn thở than niềm hoài vọng về quá khứ mà Xuân là một cung bậc da diết:
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.
Câu thơ trước ngắt nhịp ngắn 2/2/3 với những lời cảm thán, với biện pháp điệp từ cứ xoáy sâu vào nỗi nhớ. Hình ảnh “Một cánh chim thu lạc cuối ngàn” gợi lên cảm giác xa vắng, cô đơn. Về mặt nhịp điệu cảm xúc, toàn bộ bài thơ Xuân liền thành một mạch, ngày một căng, cao mà hai câu kết này lên đến đỉnh điểm. Điều thú vị là trong dòng mạch cảm xúc không có điểm ngưng lặng, lời nói trực tiếp của một cá nhân trữ tình đa giọng điệu (chối từ, mệnh lệnh, cầu khiến, giãi bày, cảm thương) được xen kẽ, được kết hợp tự nhiên với các hình ảnh ẩn dụ, so sánh giàu sức gợi. Chính vì thế, bài thơ càng bồi đắp ấn tượng mạnh mẽ với người đọc.
Xuân thể hiện một hướng cảm xúc, một quan niệm sống độc đáo. Quả không có thi sĩ Thơ mới nào đã dứt khoát từ chối, xua đuổi mùa Xuân như Chế Lan Viên. Thái độ ấy được gửi gắm trong những ước muốn chân thành, mạnh mẽ, trong những hình ảnh gợi cảm, táo bạo.
Song xét cho cùng, thái độ trước mùa Xuân như thế của Chế Lan Viên cũng là một cách phản ứng đối với hiện tại, đối với thực trạng xã hội đương thời. Bài thơ chứng tỏ một trong muôn nhiều lối thoát của thế hệ thanh niên tiểu tư sản đang chán ngán, bất lực trước sóng gió xã hội thực dân nửa phong kiến.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Đọc tập Điêu tàn này xong nếu lòng anh vẫn dửng dưng không có lấy một cơn sóng gió thì xin anh hãy cầu khẩn tất cả những gì Thiêng Liêng, những gì Cao Cả tha tội cho phạm nhân là tôi đây. Nếu, khi đọc sách xong mà cái Buồn cái Chán, cái Hãi Hùng cùng ùa nhau đến bọc lấy hồn anh, làm cho anh phải cười, phải gào, phải khóc thì xin anh chớ hẹp hòi gì mà cười cho mênh mang, gào cho vở cổ, khóc cho hả hê, rồi gửi cái cười, cái gào, cái khóc ấy cho không trung. Tôi nằm ngủ trong sao, nghe được, tung mây ngồi dậy, vồ lấy cái quà quý hóa ấy rồi say sưa, rồi ngây ngất, rồi điên cuồng vỗ lên đầu sao Khuê, sao Đẩu, lên cả Nguyệt Cầu mà bảo chúng nó rằng:
– Ha ha! Bay ôi! Loài người thành thi sĩ như Ta cả rồi.
Và vênh vang, kiêu ngạo, Ta lấy mây làm bút, lấy trăng làm mực đề lên nền trời xanh:
Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi
Trong thơ ta xương máu khóc không thôi.
(CHẾ LAN VIÊN. Tựa Điêu tàn, 1937)
Hẳn có người sẽ nghĩ: thơ muốn hay chứ muốn lạ thì khó gì, cứ nói trái sự thực là được. Sự thực người ta ngủ trong nhà thì cứ việc nôi người ta ngủ trong sao.
Đừng tưởng! Lịch sử văn học cổ kim không từng có hai Bồ Tùng Linh. Nói láo đành dễ, nhưng cái khó là nói láo mà vẫn không biết mình nói láo; cái khó là có thể tin lời mình nói. Mà Chế Lan Viên tin lời mình ghê lắm. Khi Chế Lan Viên kêu:
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?
Ý của ai trào lên trong đáy óc
Để bay đi theo tiếng cười, điệu khóc?
tôi nhất quyết là thi nhân thành thực hơn tôi khi tôi nói, chẳng hạn: tờ giấy kia trắng. Vì câu nói của tôi là một câu nói hờ hững, xuất tự tri giác, tôi vẫn tin mà không để vào đó tất cả lòng tin. Chế Lan Viên, trái lại đã để trong tiếng kêu hốt hoảng của mình một lòng tin đau đớn.
Ấy, người thường cớ những nỗi đau đớn tựa hồ vô lí như vậy mà thành thực vô cùng.
Trong một năm người ưa nhất mùa thu. Mùa thu qua được một ngày người đã nhớ:
Ô hay, tôi lại nhớ thu rồi…
Mùa thu rớm máu rơi từng chút
Trong lá bàng thu đỏ ngập trời
Đường về thu trước xa lăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi!
Nếu một nỗi đau đớn như thế mà có thể cho là bày đặt thì ở đời này không còn gì tin được nữa.
Một lần khác, cũng nhớ thu, Chế Lan Viên than:
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.
Nỗi mong nhớ ở đây đã thành thực, mà còn to lớn lạ lùng. Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được…”.
(HOÀI THANH - HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H. 1993, tr 195 – 196)
11. CHÙA HƯƠNG
(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa)
NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Em đeo dải yếm đào
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao.
Mẹ cười: “Thầy nó trông
Chân đi đôi dép cong
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
– Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mố mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm
Ý đợi người tài trai.
Em đi cùng với me
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me đi ra đò
Thuyền mấp mênh bên bờ
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.
Mơ xa lại mơ gần
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước
Em thấy một văn nhân.
Người đâu thanh lạ nhường!
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông giời ôi chen!”
Chàng thưa vâng thuyền đông
Rồi ngắm giời mênh mông
Xa xa mờ núi biếc
Phơn phớt áng mây hồng.
Dòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ!
Thầy khen hay, hay quá!
Em nghe rồi ngẩn ngơ.
Thuyền đi, bến Đục qua
Mỗi lúc gặp người ra
Thẹn thùng em không nói:
“Nam mô A–di– đà!”
Réo rắt suối đưa quanh
Ven bờ, ngọn núi xanh
Dịp cầu xa nho nhỏ:
Cảnh đẹp gần như tranh.
Sau núi Oán, Gà, Xôi
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa lấp sau rừng cây
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu.
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói tỏa mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai mới vào chùa trong”
Chàng hai má đó hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong”.
Đêm hôm ấy em mừng!
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng.
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều… Viết thế thôi
Kẻo ai mà xem thấy
Nhìn em đến nực cười.
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo veo
Hoa đỏ, tím, vàng leo
Vì thương me quá mệt
Săn sóc chàng đi theo.
Mẹ bảo: “Đường còn lâu
Cứ vừa đi ta cầu
Quan thế âm bồ tát
Là tha hồ đi mau”.
Em ư? Em không cầu
Đường vẫn thấy đi mau
Chàng cũng cho như thế
(Ra ta hợp tâm đầu).
Khi qua chùa Giải oan.
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen hay
Chữ đẹp như rồng bay
(Bài thơ này em nhớ
nên chả chép vào đây).
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu trần thạch nhũ
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Me vui mừng hả hê:
“Tặc! Con đường mà ghê!”
Thầy kêu mau lên nhé
Chiều hôm nay ta về.
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn nhời!
Giờ vui đời có vậy
Thoảng ngày vui qua rồi!
Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở!
Chàng ôi, chàng có hay?
Đường đây kia lên giời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!
Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.
(Thiên kí sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện)
Mỗi lần lên chùa Hương tâm trí tôi lại vấn vương mộng tưởng đến thiên kí sự bằng thơ của Nguyễn Nhược Pháp. Tôi cứ vẩn vơ tìm trong những dòng người tấp nập, rồng rắn lên chùa kia bóng dáng cô gái tuổi mười lăm “Khăn nhỏ, đuôi gà cao”, “Quần lĩnh áo the mới”, tìm trên bức tường ngang ở chùa Giải oan bài thơ mà chàng trai tài hoa lẹ bút thảo thuở nào. Mãi mà không thấy! Chẳng lẽ Chùa Hương cùng các nhân vật của nó đã hoàn toàn thuộc về quá vãng? Ở những năm tháng bề bộn này, giữa khi không ít người kéo nhau đi chùa vì những mục đích chẳng can hệ gì đến Trời Phật, không khéo câu chuyện tình trong sáng của cô gái kia chỉ là bóng dáng của ngày xưa.
Ngày xưa… Kể cũng lạ. Một thanh niên trí thức sinh trưởng ở Hà Nội, có bằng tú tài Tây, lại là con một văn hào lớn từng chủ bút Đông Dương tạp chí, mà hay làm thơ về chuyện ngày xưa. Với tâm hồn đôn hậu, trong sáng, với ngòi bút hóm hỉnh, Nguyễn Nhược Pháp đã đem về cho những câu chuyện ngày xưa của tổ tiên, của ông bà ta vẻ sắc linh hoạt, tươi vui, lắm lúc thật ngộ nghĩnh, ngay cả khi miêu tả cuộc chiến ác liệt để giành giật công chúa Mị Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Trong sâu thẳm mỗi con người, ai mà chẳng có một sợi dây tình cảm đồng vọng cùng quá khứ, cùng với những gì tươi mát, sáng trong một đi không trở lại. Ngòi bút Nguyễn Nhược Pháp đã chạm tới được cái sợi dây đàn ấy để nó ngân nga. Có lẽ vì thế, “thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”. Có lẽ vì thế, các bài thơ như Chùa Hương, như Ông đồ (Vũ Đình Liên) đang và sẽ sống mãi với thời gian.
Bước chân và tâm trạng hay sự và tình
Toàn bộ 34 khổ thơ năm chữ của Chùa Hương là thiên kí sự của một cô bé ngày xưa. Nhân vật “em” đóng vai người kể chuyện, ở ngôi thứ nhất chứ không hề có một câu nào là lời xen vào của tác giả. Qua thiên kí sự hiện lên thật rõ chuyến đi chùa Hương hai ngày của cô bé cùng thầy me từ lúc “Hoa cỏ mờ hơi sương” thức dậy chuẩn bị đến buổi chiều hôm sau. Người đọc được theo cùng bước chân cô gái và cùng mỗi bước chân, mỗi điểm dừng ấy là từng cung bậc tâm trạng của cô. Nguyễn Nhược Pháp khéo léo kết hợp kể, tả với biểu hiện tâm trạng để gây không khí sinh động, gần gũi. Nói cách khác, cô gái kia thật khéo dụ dẫn người đọc vào câu chuyện của mình, khiến người đọc tự nhiên cũng cùng mình náo nức, đợi chờ, hồi hộp, khao khát. Sự và tình hài hòa trên từng khổ thơ của Chùa Hương mà ta có thể hình dung qua mấy chặng như sau:
Chặng 1: Sự chuẩn bị đi chùa với tâm trạng náo nức: Em cùng thầy me dậy từ lúc “Hoa cỏ mờ hơi sương” và “vấn đầu soi gương” trang điểm (Lời thơ như rộn rã, nhí nhảnh theo từng nét chân dung tự họa của cô gái):
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Em đeo dải yếm đào
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao.
Nhân lời khen, lời hỏi yêu của mẹ, em tự giới thiệu về tuổi đời, về chuyện tình duyên (Lời tự giới thiệu này chứng tỏ cô rất tự hào với nhan sắc của mình):
– Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm
Ý đợi người tài trai.
Ý em chưa hẹn lời lấy ai, đang “đợi người tài trai” chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ tình cờ rồi bén duyên sau này.
Chặng 2: Đang nhìn sông nước chảy “Mơ xa lại mơ gần, Đời mấy kẻ tri âm” em tình cờ thấy một văn nhân “Tướng mạo trông phi thường”. Cái giật mình rung cảm đâu tiên bỗng trở thành “ngẩn. ngơ” khi xung quanh phong cảnh thật hữu tình (trời mênh mông, núi biếc mờ xa xa, áng mây hồng phơn phớt). khi chàng trai ngâm nga đọc thơ. Em thẹn thùng đến quên mất lời niệm Phật.
Chặng 3: Cảnh núi xanh, suối réo rắt, nhịp cầu nho nhỏ đẹp “gần như tranh”. “Em đi, chàng theo sau” lên chùa. Em ý tứ với từng bước đi của mình vì biết chàng cũng đang “để mắt” đến em (cô bé này cũng sâu sắc lắm chứ đâu còn trẻ con):
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu.
Chặng 4: Thật mừng khi thầy me bảo: “Mai mới vào chùa trong” (thế là thêm một ngày em được đi với chàng). Đêm hôm ấy em mừng, em mơ. Những giấc mơ yêu đời thật đẹp mà nghĩ lại không khỏi cảm thấy xấu hổ:
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều… Viết thế thôi
Kẻo mà ai xem thấy
Nhìn em đến nực cười.
Chặng 5: Lại “Vàng hương vào chùa trong” từ sáng sớm. “Đường mây đá cheo veo; Hoa đỏ, tím, vàng leo; Vì thương me quá mệt; Săn sóc chàng đi theo” (Tình thân mật giữa chàng và gia đình em lúc này đã đậm rồi. Chàng săn sóc mẹ cả vì em nữa đó!). Em (và cả chàng) chẳng cảm thấy đường xa, mỏi mệt gì cả:
Em ư? Em không cầu
Đường vẫn thấy đi mau,
Chàng cũng cho như thế
(Ra ta hợp tâm đầu).
“Chàng đưa tay, lẹ bút; Thảo bài thơ liên hoàn” trên bức tường ngang ở chùa Giải oan (Một hành động có ý nghĩa điển hình cho tính cách tài hoa của các bậc nho sĩ ngày xưa). “Chữ đẹp như rồng bay”, lời hay khiến thầy khen tấm tắc, khiến em nhớ thuộc ngay. Chùa trong huyền ảo quá:
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu trần thạch nhũ
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Giữa lúc em đang say với cảnh, với tình thế bỗng tiếng “Thầy kêu mau mau nhé, Chiều hôm nay ta về”. Em bàng hoàng, hụt hẫng (Cô gái không giấu cảm giác rất thật này của mình. Khổ thơ liên tiếp là những lời cảm thán):
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn nhời!
Giờ vui đờ có vậy
Thoáng ngày vui qua rồi!
Đến lúc này, em nghe hơi thở hồi hộp của mình, nghe cả tiếng tà áo bay: “Em tìm hơi chàng thở! Chàng ôi, chàng có hay?”. Một ước mong gần gũi bởi sợ sự xa cách vĩnh viễn! Quả là. “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Em ước mong được cùng chàng bước đi mãi mãi – có lẽ say sưa lên đến tận trời (Lời thơ như hô gọi, giục giã, như khẩn cầu tha thiết):
Đường đây kia lên giời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!
Khổ thơ cuối nhịp điệu lắng lại cùng “giấc mơ màng” của cô gái, cùng lời cầu xin hạnh phúc lâu bền trong hôn nhân:
Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.
Con người ngoan đạo chẳng giấu lòng mình trước Trời Phật. Và cô gái lúc này chỉ biết nhờ các đấng linh thiêng ấy chứng giám cho tình yêu, cho ước mong hạnh phúc. Trời Phật thương ai nếu không thương những người như cô, như chàng trai. Đôi trai tài gái sắc chắc sẽ lấy nhau. Nguyễn Nhược Pháp kết thúc bằng mấy lời tái bút thật có duyên: “Thiên kí sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện”.
34 khổ thơ bố cục theo trình tự thời gian tạo thành một cuốn phim về chuyến đi chùa Hương đáng ghi nhớ của cô gái. Cứ một bước tiến triển của sự là một bước nảy sinh của tình. Liều lượng sự và tình đều vừa phải và được pha trộn khéo khiến thiên kí sự bằng thơ thanh thoát mà giàu âm vang. Đọc Chùa Hương, ta không khỏi cảm phục tại sao Nguyễn Nhược Pháp lại thấu hiểu cõi lòng những cô gái tuổi mười lăm “tươi như trăng rằm” đến thế. Nhà thơ đã nhập thân vào nhân vật để ta hoàn toàn có thể tin đây là trang nhật kí, là lời tự bạch của cô gái đó. Cái “vẩn vơ tìm” mà tôi đã trình bày ở đầu bài viết phải chăng chính là do sức ám gợi tự nhiên, kì diệu của thiên kí sự trữ tình Chùa Hương?
Cái duyên mặn mà hay nụ cười thanh tao, hiền dịu
Khi nhập thân như trên, cái duyên của Nguyễn Nhược Pháp, trước hết, lặn vào cái duyên của nhân vật. Cô gái trong Chùa Hương tự tin, tự khen đến đáng yêu:
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm.
ý tứ nhưng cũng rất thật thà:
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu.
Cô thật thà khi không giấu sự “đóng kịch” của mình, khi không giấu niềm vui trong đêm chờ ngày sau được đi tiếp với người thương. Nhưng lại rất khéo khi lẩn tránh bộc lộ những giấc mơ của mình (“Em mơ, em yêu đời; Mơ nhiều… Viết thế thôi; Kẻo ai mà xem thấy; Nhìn em đến nực cười”), khi chối từ việc chép bài thơ ngẫu hứng của chàng trai vào thiên kí sự (“Bài thơ này em nhớ; Nên chả chép vào đây”). Quả là cái duyên của một cô gái tuổi trăng rằm sinh trưởng trong một gia đình có học thức, có gia giáo.
Nhập thân vào nhân vật đến mức ấy, cứ tưởng Nguyễn Nhược Pháp đã tự khuất lấp hết mình. Vậy mà không. Hãy đọc kĩ Chùa Hương: dường như sau mỗi lời kể, lời tả, lời giãi bày của cô gái vẫn thấp thoáng ánh mắt, thấp thoáng nụ cười dí dỏm, độ lượng của Nguyễn Nhược Pháp. Chúng ta vừa nhìn và rung cảm bằng con mắt, bằng tấm lòng của cô gái, đồng thời lại nhìn cô, đánh giá cô với con mắt, với tấm lòng của nhà thơ. Vừa đứng trong, vừa đứng ngoài như vậy là tâm thế đặc biệt thú vị khi đọc Chùa Hương. Cùng với Nguyễn Nhược Pháp, chúng ta có thể nở nụ cười cảm thông trước vẻ nhí nhảnh, sự kiêu hãnh đáng yêu của cô gái, có thể đùa giễu một cách độ lượng trước dáng đi ý tứ đến thật thà, trước những giấc mơ hạnh phúc của cô. Nụ cười nhí nhỏm (chữ dùng của Lê Tràng Kiều), hiền dịu và thanh tao đã làm nên cái duyên mặn mà của Nguyễn Nhược Pháp trong những vần thơ. Ở Chùa Hương, cái duyên này lại mặn mà hơn ở những chỗ ý thơ được để vào ngoặc đơn. Có bốn lần Nguyễn Nhược Pháp dùng như thế. Đó là những lời cô gái “chua vào” mang ý nghĩa tự giải thích, tự bình luận. Lời thơ nhờ thế có thêm sức đưa đẩy ý nhị. Nhìn từ phía khác, đây chính là một chứng cớ để thấy cô gái luôn chú ý đến người nghe, đang rất thích, rất muốn người ta nghe câu chuyện của mình. Cái duyên dẫn chuyện của Nguyễn Nhược Pháp cũng ở chỗ đó.
“Ma lực” hấp dẫn kì lạ từ nội dung đến nghệ thuật
Chùa Hương mang dáng dấp một truyện tình dân gian nhẹ nhàng, trong sáng. Cốt truyện không có những thử thách gay cấn, những tình cảnh lâm li mà hấp dẫn người đọc bằng vẻ bình dị, trong lành tự nhiên như một dòng suối ngọt. Một tâm hồn bình dị đã tìm đến một hình thức nghệ thuật bình dị. Bài thơ được viết theo thể năm chữ và chia khổ đều đặn. Tất cả các khổ thơ đều sử dụng cách gieo vần chân để trở thành một cấu trúc xinh xắn. Mỗi khổ thơ mang một khuôn vần khác nhau để tồn tại độc lập tương đối nhưng tất cả được gắn kết tự nhiên trong dòng cốt truyện. Những chữ hút lại với nhau, câu trước gọi câu sau để kết thành những bản đàn nhịp nhàng và những bức tranh màu rất đẹp chứ không bởi một bàn tay phàm trần nào sắp đặt. Vẻ hồn nhiên của Chùa Hương vừa do thiên phú (duyên là cái trời cho mà không phải người nào cũng được) lại vừa do tinh luyện – tinh luyện đến mức không còn thấy dấu vết của dụng công nghệ thuật.
Chùa Hương là một bài thơ “mới”. Cũng như rất nhiều bài Thơ mới lãng mạn, nó lấy đề tài ở tình yêu, tình duyên – một nguồn đề tài hấp dẫn muôn thuở đối với nhiều người, đặc biệt lôi cuốn thế hệ thanh niên đương thời. Những xúc cảm bồng bột và hồn nhiên, những ước mong chân thành và táo bạo, những nét vẽ sinh động và tươi tắn mà chúng ta được bắt gặp ở đây sẽ chẳng thể tìm ra trong thơ văn các nhà nho đạo Khổng.
Nhưng Chùa Hương vẫn phảng phất hồn vía “cũ”. Tình yêu ở đây không đượm màu li biệt, tương tư, cũng không giục giã hưởng thụ, si cuồng. Nó mãnh liệt (bởi bản chất tình yêu đích thực bao giờ mà chẳng mãnh liệt) nhưng biết chừng mực, ý tứ nên thật nhẹ nhàng, dễ thương. Tình yêu của một cô gái tuổi mười lăm lại được nảy nở giữa phong cảnh thiên nhiên sông núi hữu tình, trong không gian chùa Hương nghi ngút hương khói nên càng đậm đà thi vị dân gian. Thiên kí sự được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn linh hoạt.
Sự trộn lẫn “mới” và “cũ” ấy phải chăng đã tạo nên “ma lực” hấp dẫn kì lạ của Chùa Hương. Thiên kí sự bằng thơ này đã ghi lại vẻ đẹp một thời một đi không trở lại trong lịch sử văn hóa dân tộc để thời gian càng lùi xa các thế hệ người Việt càng ngoái về không nguôi nhung nhớ.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Nhược Pháp là một tâm hồn bình dị.
Hơn thế nữa, một tâm hồn trong sáng, nhí nhỏm, ngộ nghĩnh hồn nhiên, trong sáng như mây mùa thu, nhí nhỏm như đôi chim nhảy chuyền ở trên cành, ngộ nghĩnh như cô gái Sài Gòn, hồn nhiên như rau sắng mới hái ở nguồn.
Với một tài nghệ không có gì, Nhược Pháp đã đựng lại một thế giới: ngày xưa…
… Đến bức tranh này, mới thật là bức tranh tuyệt đẹp:
Em đi cùng với me
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Một bức tranh chấm phá có mấy nét mà hình dung cả một thế giới vô hình và hữu hình. Một cái cáng trên có hai mẹ con, theo sau người cha cưỡi ngựa, thắt lưng dài đỏ hoe! Còn có bức tranh nào sơ sài mà ý nhị hơn nữa? Một bức tranh tả được cái lặng lẽ và giản dị bên ngoài núi sông, và cái chất phác, cái mộc mạc bên trong tâm hồn của những người cũ ấy, những người chưa hề biết cái bồng bột, cái kiêu hãnh, cái lòe loẹt của Âu Tây. Cái thắt lưng đỏ là cả một thế giới vậy”.
(LÊ TRÀNG KIỀU. Thơ mới Nhược Pháp,
Hà Nội báo. số 21, 27–5–1936. Dẫn theo Thanh Lãng,
13 năm tranh luận văn học, NXB Văn học, H, 1995,
tập I, tr.340 –346)
“Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp.
Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những “Thắt lưng dài đỏ hoe”, của những đôi “dép cong” nho nhỏ…
Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy mấy bóng người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý với Nguyễn Nhược Pháp: nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Những cảnh, những người đã khiến thi nhân cười cũng là những cảnh, những người thi nhân mến. Người mến cô bé đi chùa Hương và cùng cô bé san sẻ mọi nỗi ước mơ, sung sướng, buồn rầu. Người mến nàng Mị Nương”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr.270 – 272)
“Nguyễn Nhược Pháp thật sự được dư luận yêu thích chính là với tập thơ Ngày xưa. Tập thơ chỉ gồm vẻn vẹn mười bài, viết theo hai thể thơ đơn giản: bảy chữ (sáu bài) và năm chữ (bốn bài), nhưng đã đưa ông lên hàng các nhà thơ có danh trong Phong trào Thơ mới giai đoạn 1932–1945. Bởi lẽ, trong khi các nhà Thơ mới cùng thời đang say đắm trong tình yêu, mơ mộng, đang khao khát niềm vui hưởng thụ, sự phân tích tinh vi các trạng thái khoái cảm của nỗi buồn thất vọng, cái chết… thì Nguyễn Nhược Pháp bỗng đem đến cho thơ một cái nhìn mới mẻ: không nhìn trực diện vào thế giới tâm hồn mình, mà nhìn nó từ lăng kính của một thế giới khác lạ – thế giới “ngày xưa”…
…Cái buồn thấp thoáng trong thơ Nguyễn Nhược Pháp đã giảm đi rất nhiều màu sắc tiêu cực qua ngòi bút kể chuyện rất mực ý nhị, nhất là qua tâm hồn trong trẻo và đầy ưu ái của chính nhà thơ. Và hình thức tự sự quyện với trữ tình, độc thoại xen với miêu tả, thực lẫn với mộng, vớ khả năng tưởng tượng phong phú, sự phối hợp táo bạo hình ảnh, màu sắc, âm thanh để tạo nên những hoạt cảnh rất sống, nhất là với tiếng cười đằm thắm như một vang hưởng tươi mát trong suốt tiến trình của câu chuyện kể, hai bài thơ Sơn Tinh, Thủy Tinh và Chùa Hương đáng được xem là những bài thơ hay trong thành tựu của Thơ mới Việt Nam”.
(NGUYỄN HUỆ CHI. Từ điển văn học,
NXB Khoa học xã hội, H, 1984, tr 76 – 77)
12.MÙA XUÂN CHÍN
- Hàn Mặc Tử
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Mùa xuân chín cũng như Đây thôn Vĩ Giạ quả là những tiếng thơ vào loại trong trẻo nhất của Hàn Mặc Tử. Nhưng, trong trẻo mà đầy bí ẩn. Có phải vì thế mà thơ Hàn Mặc Tử thuộc dạng rất kén tri kỉ tri âm. Cứ tựa như đó là những giai nhân vừa đầy quyến rũ vừa sẵn sàng làm nản lòng, bất lực mọi sự tiếp cận khám phá. Dung dị mà kiêu sa, mời mọc mà thách thức. Biết bao người vây quanh ngưỡng mộ cầu thân, cuối cùng thường nhận được sự chối từ lịch lãm. Cầm bút viết bài này, người viết bắt đầu nhen lên một hi vọng nào đấy.
Cái Tôi chuyển điệu thi tứ chuyển kênh
Ai cũng biết thơ lãng mạn lấy việc đào sâu vào thế giới cảm xúc của cá nhân làm cứu cánh; cái Tôi của thơ lãng mạn là cái Tôi–nội cảm; kết cấu của các bài thơ lãng mạn thường tựa vào diễn biến của cảm xúc. Nhưng xúc cảm can thiệp và sự vận động của từng bài thơ, ở từng tác giả không giống nhau. Nhìn vào ba đại diện lớn nhất của Phong trào Thơ mới dễ thấy: nếu các bài thơ Nguyễn Bính dựa nhiều vào “cốt”, thì thơ Xuân Diệu, ở bề sâu của nó lại dựa hẳn vào “tứ”. trong khi thơ Hàn Mặc Tử lại chuồi theo dòng chảy bất định của “trạng thái tâm hồn”. Vì thế tìm kiếm tâm sự Nguyễn Bính ta có thể theo chân mạch “chuyện”, tìm kiếm ý tưởng Xuân Diệu có thể lần theo dấu “lông ngỗng” của những ngôn từ lôgic rải rác trong các mảng thơ để liên kết “thi tứ”.
Còn trong các bài thơ Hàn Mặc Tử, các vết chân, vết lông ngỗng kiểu ấy đều đã xóa sạch. Tất cả đều có vẻ thiếu mạch lạc, “phi lôgic”. Trong Mùa xuân chín có câu thơ đáng chú ý: “Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”. Câu thơ nói về trường hợp “người khách xa”. Nhưng hoàn toàn có thể nói, thơ Hàn Mặc Tử là chuỗi bất định của những “sực nhớ”, vụt hiện như thế. Nên nhìn bề mặt hình ảnh thơ, các mảng thơ rất tán lạc, “cóc nhảy”, “đầu Ngô mình Sở” như nhiều người đã thấy. Nhưng ở bề sâu, các hình ảnh vẫn cắm rễ vào cùng một nỗi niềm đang chuyển vần, cho nên vẫn liền khối, liền mạch. Người đọc bước vào thơ Hàn Mặc Tử thường chơi vơi, vô phương hướng, mệt. Kẻ bối rối thì đâm hoài nghi bản thân, kẻ kiêu căng thì tự dối mình rằng đã tới.
Vào Mùa xuân chín cũng thế. Bài thơ có bốn khổ, thì ba khổ đầu dường như nghiêng về trạng thái rạo rực xuân tình. Nhưng nó không được triển khai theo hướng đẩy cái “rạo rực” lên mãi, rồi kết ở chỗ cao trào. Mà trạng thái rạo rực đang dồn đẩy, thoắt chuyển thành trạng thái “bâng khuâng” buồn ở khổ kết. Cho nên, mạch thơ đem lại cảm giác: “đồ thị” cảm xúc không phải cứ một đà thẳng tiến, mà dường như có một đứt gẫy rồi chuyển điệu, và tình thơ đó có tới hai cao trào tương phản nhau – “rạo rực” đến “hổn hển” và “bâng khuâng” đến xa ngái. Đấy Mùa xuân chín bắt đầu từ “nắng ửng” làm “khói mơ tan”, rồi hơi xuân theo ngọn “gió trêu”, theo làn “sóng cỏ” mà gợn lên, loang ra mãi đến chân trời. Cứ đà ấy, nó theo chân bao cô thôn nữ lên trên đồi, rồi thẳng tiến đến “vắt vẻo lưng chừng núi”. Và đột nhiên hơi xuân, khí xuân, tình xuân cất hẳn lên khỏi mặt đất, khỏi đồi núi phiêu bồng bát ngát thành “lời nước mây”… Cứ thế bức tranh mở rộng mãi, cao mãi về không gian. Và đến cuối cùng, khi hình ảnh “chị ấy” xuất hiện trong nỗi “sực nhớ” của người “khách xa” thì thế giới của bài thơ cũng dài xa nhất về thời gian. Vậy là, mở ra bằng “nắng ửng” (xuân chớm chín) rồi chín dần, chín mãi, bất ngờ thoát hẳn ra khỏi cõi xuân, thành “nắng chang chang” (đã hết thì xuân, sang thì khác). Mở ra bằng sự ngất ngây với hiện tại, kết lại bằng hoài niệm những ngày xa. Bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh thoắt biến thành tâm cảnh. Chuyển vần mau lẹ và đột ngột thế khác nào chuyển “kênh”. Mạch thơ là sản phẩm của cái Tôi Hàn Mặc Tử. Một cái Tôi vừa ngây ngất yêu đời đã da diết thương đời, vừa náo nức xuân tình vội dằn lòng tiết dục, vừa định hòa nhập thoắt đã cô đơn. Ấy là chủ thể phân li, hay một cái Tôi lưu chuyển các đối cực. Trong cái Tôi ấy những khối mây tâm trạng lóng lánh sắc màu cứ vần vũ mãi, âm u dần thành nỗi cô đơn, hay toàn bộ sự vần vũ kia là chính nỗi cô đơn? Thành ra, thơ Hàn Mặc Tử bên ngoài có cái vẻ “cóc nhảy” bởi bước liên tưởng quá xa cách, nhưng vẫn cứ liền khối là thế.
Vừa ngất ngây xuân chín…
Mùa xuân và Mùa thu trong thơ ca có một vị thế khá “ngang ngửa”. Xung quanh Xuân – Thu có biết bao áng thơ ca nổi tiếng. Vậy nên, viết về xuân, vẽ nên bức tranh Xuân chưa phải là điểm độc đáo gì? Điều đáng nói, đó là Mùa xuân chín. Ai đã đọc Hàn Mặc Tử hẳn thấy rằng mùa xuân có một uy thế lấn át trong thơ của thi sĩ này. Hàn đã có cả một tập “xuân như ý” với những bài xuân tràn đầy thánh ý: Xuân đầu tiên, Đêm xuân cầu nguyện… Hàn có nhiều vẻ xuân kì lạ! Xuân gấm, Xuân hôn phối, Xuân trẻ, Xuân non, Xuân lịch sự… Ngay cái trạng thái “xuân chín” này cũng chứa đựng một quan niệm rất riêng của thi sĩ. Không thấu đáo điều ấy, bài thơ chỉ còn là một bức tranh thiên nhiên. Thực ra, lõi của Xuân là Tình. Xuân chín ấy là tình chín. Tình chín bên trong làm hiện vẻ xuân ra bên ngoài. Nó bắt đầu lồ lộ ra ngoài ““Từ khi má đỏ hây hây”. Rồi cứ theo đà ấy mà chín tới, khi “Ái tình bắt đầu căng”, thì xuân ửng dần lên, từ chớm chín, nhanh chóng thành chín rục, chín muồi, chín mẩy… Điều tinh tế của Mùa xuân chín là trong bài thơ, về hệ thống nhân vật có khá nhiều người: “bao cô thôn nữ”, “ai ngồi dưới trúc” - “khách xa” và “chị ấy”, bên cạnh đó, thiên nhiên cũng có thể xem là một nhân vật “ nhân – vật – cảnh. Xuân tình của cả thiên nhiên và con người cùng nảy nở, cùng song hành chín theo một nhịp độ, chín sang nhau, chút trong nhau:
Trong làn nắng ửng: Khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.
Có lẽ còn lâu nữa về sau, mái nhà tranh vẫn cứ là một hình ảnh thân thương, dễ động lòng người Việt. Nó lặn sâu trong kí ức cộng đồng như một ảnh tượng của quê hương nghìn đời. Ta gặp trong thơ cổ điển của Nguyễn Khuyến: “Năm gian nhà cỏ thấp le te”, ta gặp trong thơ cách mạng của Tố Hữu: “ Mơ mơ mấy xóm tranh chìm trong mây”, của Trần Đăng Khoa: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh, Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”… chỗ này là vẽ đẹp đơn sơ mà thanh bạch, chỗ kia là vẻ khiêm nhường đầy thương cảm, hay vẻ tảo tần dầu dãi mà rất đỗi linh thiêng… Nhưng có lẽ chỉ thơ lãng mạn mới khơi dậy được vẻ tình tứ của mái gianh chân quê ấy. Chẳng thế mà bức tranh xuân này của Hàn Mặc Tử tràn đầy những động thái rạo rực, dậy tình, khao khát yêu đương. Lời thơ ánh lên màu sắc dục. Đằng sau cảnh sắc thiên nhiên kia, thi sĩ thấy bóng hình của xuân hiển hiện ra trong ảnh hình một thiếu nữ tràn ngập xuân tình. Ta thấy cái bóng của nàng vừa mơ hồ, vừa lồ lộ trong làn “nắng ửng” (thường dùng chỉ màu má), trong “tà áo biếc” nơi giàn thiên lí mà làn gió phong tình cố ý trêu tròng “sột soạt” như muốn… lật giở xem (cái làn gió này cũng chính là làn gió “liều lĩnh” đã “lọt cửa cọ mài chăn” bay từ thơ Đường Luật của Tử về đây đó thôi!). Trông cái sắc lấm tấm vàng trên mái nhà tranh quyến rũ kia, cũng đừng vội nghĩ là cảnh sắc, mà chính là xuân sắc, xuân tình của nàng xuân ấy. Nó xui ta nhớ đến cảnh “Ngả nghiêng đồi cao học trăng ngủ, Đầy mình lốm đốm những hào quang” và gần hơn là:
Vui sao cảnh sáng trăng
Ái tình bắt đầu căng
Hoa thơm thì nín lặng
Hương thơm thì bay tan
Em tôi thì hổn hển
Áo xiêm lấm tấn vàng
và khi hương tình bay lan thì nó thăng hoa thành tiếng hát, thành những khúc tình ca:
Đó là khúc tình ca
Nẩy theo hơi thở nhẹ
Ở trên làn dây tơ
Của lòng em rộn rã.
Ngay cả cái câu ngỡ rất gần Nguyễn Du: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” cũng đâu phải tả cái vẻ ngoài của thiên nhiên. Tác giả Truyện Kiều chú mục vào”cỏ non”, còn Hàn nói tới điều khác hẳn: sóng cỏ! Không phải “xanh tận chân trời” mà “gợn tới trời”. Đó là xuân tâm đã dậy men tình đang phát lộ thành sóng cỏ, sóng tình, thành hương tình đang bay lan, là khúc tình ca của nàng xuân đang nẩy theo hai thở nhẹ kia, vậy thôi. Có như thế ta mới hiểu tiếng hát thành sự đồng ca của cả con người về mùa xuân – “Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây”. Tiếng hát ấy của bầy thôn nữ hay của mùa xuân? Là sự hòa giọng của cả hai, hay mùa xuân đang hát lên bằng lời bầy thôn nữ? Thật khó mà phân biệt. Chỉ biết rằng khi tiếng ca tìm đến “Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc” một cách đầy quyến rũ, thì đó là lúc mùa xuân đã chín rồi, xuân tình đã chan chứa, cả vũ trụ này đã ngập vẻ xuân và khí xuân rồi!
... Đã nuối tiếc xuân thì
Nhưng giờ xuân chín cũng là giờ xuân mãn. Xuân thì không còn nữa. tình đã mãn rồi Xuân cũng phôi pha phai lạt. Xuân chín nghĩa là chấm dứt xuân. Nó chấm dứt vào cái ngày cuối cùng của quãng đời thiếu nữ. Nửa sau của bài thơ đã chuyển mạch thành tiếc xuân thì.
Bunhin có một truyện ngụ ngôn đầy dư vị triết học về đời người. Chuyện rằng xửa xưa tuổi thọ con người ngắn lắm, chỉ được 18 năm thôi. Trong khi đó, tuổi các loài khác cao hơn nhiều. Loài lừa có đến 50 năm, loài chó những 40 năm, còn loài khỉ cũng tới 30 năm. Con người cho đó là bất công, bèn kiện tới Thượng đế. Thượng đế nhân từ và nghiêm khắc đồng ý cho con người thêm tuổi. Nhưng người nói: tuổi muôn loài có hạn, nên phải lấy tuổi các loài khác sang cho người. Dại dột và tham lam, loài người liền ưng ý ngay. Từ đó tuổi thọ con người dài tới 60 – 70 tuổi. Song chỉ có 18 năm đầu được làm người, 30 năm kế tiếp sống ở tuổi con lừa (nai lưng làm việc), 10 năm tiếp theo làm con chó (giữ của nả đã làm ra), và cuối đời sống tuổi con khỉ (nhăn nheo xấu xí)… nghĩa là tuổi con người hết vào cái lúc xuân chín vậy. Và do đó, không phải đến Thơ mới, thơ ca mới tiếc xuân thì. Thơ xưa đã đầy những lời cảnh báo về nỗi ngắn ngủi của tuổi trẻ (“Chơi xuân kẻo hết xuân đi, Cái già sồng sộc nó thì theo sau”). Nhưng có lẽ chỉ đến Thơ mới, tiếng thơ của quyền sống cá nhân – thì nó mới thành một tiếng nói đầy ý thức về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của tuổi trẻ và xuân thì. Ở mỗi cá nhân và ở mọi cá nhân: “Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất” (Xuân Diệu). Xuân của đời người là ngắn. Xuân ở đời người con gái càng ngắn đến nghiệt ngã: “Tuổi son má đỏ môi hồng, Bước chân về đến nhà chồng là thôi” (Nguyễn Bính). Hàn Mặc Tử cũng đau khổ hẫng hụt bao lần về điều ấy. Khi người con gái đi lấy chồng là hết, nàng thì mất ước mơ, mình thì mất hồn thơ: “Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ, Em lấy chồng rồi hết ước mơ, Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng, Ngồi lên để thả cái hồn thơ”. Còn ở đây, giữa lúc Mùa xuân chín, tiếng ca còn làm rạo rực cả nước mây, trời đất mà Hàn Mặc Tử đã thấy trước cái tương lai buồn: “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”. Nhìn cái xuân chín hiện thời đã thấy ngay nhỡn tiền cái kết cục mai hậu! Lời thơ như một dự báo se lòng, xót xa về cái ngày xuân mãn, xuân tàn, xuân lạc tận!
Nhìn thấy rõ “Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, Xuân Diệu sẽ “vội vàng” lao vào cuộc đua với thời gian, sống đã đầy đến từng khoảnh khắc để được tận hưởng và tận hiến một cách bồng bột vô tư. Còn Hàn Mặc Tử thì khác. Cái Tôi của Tử không có được cái bồng bột ấy. Trái lại, nó đầy uẩn khúc. Dòng lưu chuyển bên trong cái Tôi kia chính là: Nhìn xuân sắc thì rạo rực xuân tình, nhưng chưa kịp hưởng chút nào hạnh phúc trong cái vườn trần gian đã chợt ngậm ngùi. Cho nên gặp xuân sắc mà tiếc xuân thì, nghe xuân ca mà buồn xuân mãn. Có phải với “cuộc chơi” này, Tử chỉ là kẻ đứng ngoài, là vị “khách xa” mà sinh buồn? Không hẳn vậy, Tử buồn chung cho kiếp người. Tử không hiện ra như một cái Tôi nhập cuộc chơi đang mải mê vồ vập tận hưởng. Cũng như ai kia, Tử là thi sĩ đi ngang qua cuộc đời này mà hát lên cái linh cảm của mình về những giấc mơ đời ngắn ngủi, hư ảo. Có phải vì thế mà ở giữa đỉnh điểm của cuộc chơi trong hiện tại, nhìn về ngày mai mà buồn “Ngày mai trong đám…”, ngoái về dĩ vãng mà thương “Chị ấy năm nay còn gánh thóc, Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Nhìn người hát trên đồi trong cuộc chơi trước mắt, vụt hiện về người gánh thóc dọc bờ sông nhọc nhằn trong tâm tưởng. Một cảnh trong “nắng ửng”, một cảnh giữa “nắng chang chang”. Cái thực thoắt trở nên hư ảo? Hay cái “nắng chang chang” kia mới là vĩnh viễn, còn cái “nắng ửng” này chỉ thoáng chốc thôi? Cái “nắng chang chang” kia sẽ làm cho “nắng ửng” tiêu tan? Hôm nay họ là những cô thôn nữ hát bên đồi, ngày mai họ sẽ là những người chị gánh thóc!
Vậy là nỗi niềm của Tử là trạng thái tâm hồn của một vị khách thơ đi ngang qua vườn trần gian, ngang qua cái thời điểm Mùa xuân Chín để thấy hai chặng đời trong thân phận con người ở mọi kiếp người. Đó chẳng phải là vấn đề lớn của cõi nhân sinh này sao?
CHU VĂN SƠN
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“… Còn ở bài Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử đã tiếp tục như sau:
Sóng có xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
“Cỏ” ở bài thơ Mùa xuân chín không nằm đợi mà bắt đầu một tuyến vận động liên tục phát triển qua các hình ảnh:
– Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
– Bao cô thôn nữ hát trên đồi
– Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
– Hổn hển như lời của nước mây…
– Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc…
Tất cả cùng tạo nên một cảm giác chết ngất của mùa xuân, một cảm giác “chín” rõ rệt dần. Cỏ thì hát tới tận cùng màu xanh. Các cô thôn nữ thì cùng với tới tận cùng tuổi xanh. Lúc này, hội họa đã nhường chỗ cho âm nhạc cất lên. Mùa xuân đang chín từ trong con người. Âm nhạc của con người đã đạt đến cung bậc hòa quyện, lẫn vào âm nhạc thiên nhiên. “Hổn hển như lời của nước mây” thì hồn nhiên quá, mãnh liệt quá, đời quá. (…)
Ở Hàn Mặc Tử, hướng nhận thức có khác hơn. Sau khi thấy sự mất vắng trong cái năm tháng cuối thời thôn nữ thì nỗi xót thương số phận trào lên da diết:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Cái “sực nhớ” ở đây đã vẽ ra một cảnh trí chói chang trong ánh sáng của kỉ niệm. Hình tượng một người con gái gánh nặng cái tuổi “mùa xuân chín” của mình đi dọc dòng đời cuộn xiết, trắng lóa dưới sức thiêu đốt của một “bầu trời xã hội” đã vụt hắt lên từ thẳm sâu lòng trắc ẩn của thi sĩ. Ta như nghe có một lời than khẽ khàng trong hai câu thơ nghi vấn ấy: “Không biết chị ấy còn chịu nổi gánh nặng số phận ấy nữa không?”. Nỗi buồn phảng phất mà trong sáng lạ lùng. Cũng chính trong nỗi buồn đó, có tàng trữ một ước mong. Dù thế nào, con người vẫn hành trình cùng số phận mình đến cùng, dám vui vẻ nhập cuộc đến cùng”.
(NGUYỄN THỤY KHA. Từ “Mùa xuân xanh” của
Nguyễn Bính nhớ “Mùa xuân chín” của
Hàn Mặc Tử – Văn nghệ số 1318 –
1319/4 – 2 – 1989)
“Trong bài Mùa xuân chín ta có thể chọn, rồi liệt kê ra một số cụm từ mà ngay ý nghĩa từ vựng của chúng cũng gợi ra được cho người hiểu tiếng Việt cảm nhận để liên tưởng tới cái rạo rực của tuổi xuân, cái khát muốn chính đáng của sức trẻ:
“Ửng, trêu, biếc, xanh tươi, hát, thôn nữ, đám xuân xanh, cuộc chơi, tiếng ca, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ, ý vị, thơ ngây, bâng khuâng, chín, sực nhớ”.
Và như nhiều bài báo đã chỉ rõ: cảnh sắc tươi đẹp của mùa xuân trong bài thơ này, chính là sự thể hiện nhãn quan của một chủ thể phát ngôn yêu đời, thiết tha gắn bó mặn mà với đời sống.
Đến đây, chúng tôi có thể nêu ra nhận định: việc gợi ra một cách trực tiếp, đậm nét, hoặc gián tiếp, mờ nhạt những cảm xúc rạo rực, những thổn thức chính đáng của sức trẻ, của thân xác và của đời sống tinh thần ở một tâm hồn trắng trong, ở một con người yêu mình, yêu cuộc đời sống động - đó là một trong những cơ sở tạo lập nên giá trị, sự hấp dẫn của bài Mùa xuân chín”.
(CAO XUÂN THỬ. Nhìn nhận luận giải “Mùa xuân chín”
từ trong toàn bộ di sản thơ ca Hàn Mặc Tử, Xứ Lạng,
số xuân 1994)
“Vậy là, mạch vận động của tâm trạng trong toàn bài thơ là bắt đầu từ thực tại bỗng dự cảm về tương lai, rồi lại trở về thực tại, để từ đó là hoài niệm về quá khứ, cái khoảnh khắc chuyển đổi ấy nhanh gấp, dồn nén, bất chợt bùng ra, rạn vỡ. Nó chỉ có thể là kết quả của một trạng thái cảm xúc bề bộn của ý thức và vô thức, hoài niệm và dự cảm, bình yên và xung động, hư và thực… Đó cũng là những mô – măng tâm trạng in một dấu đậm lên thực tại đang vận động, luôn biến đổi không ngừng. Tất cả không gian, thời gian, cảnh vật, lòng người… đều ở trạng thái chín, cần phải đi vào cái thời điểm ắt sẽ biến đổi; tích tụ đã đủ rồi, cần phải chuyển sang dạng khác (nói theo triết học – lượng đã đủ và cần chuyển thành chất). Mùa xuân đã chín, đã viên mãn, đã căng ra, cái lẽ tự nhiên là ắt phải sang mùa. Con người hết cái tuổi hoa sẽ ắt phải sang tuổi quả; lòng không tĩnh tại, gặp tình cảnh khác ắt phải sang lòng. Vâng, sẽ có thể vỡ vụn lắm chứ, bởi ở toàn bài, suốt từ đầu đến cuối bị lèn chặt bởi các câu thơ, mà mỗi câu tải đến hai ba hình ảnh, thể hiện vài ba nét tâm trạng, hàm chứa đến năm bảy nét nghĩa sâu xa… Tất cả được vặn kết đến độ đậm đặc và nặng đằm do sự vận động tất yếu của cảm xúc thơ mang lại.
Toàn bộ bài thơ quy về một điểm này thôi: Dự cảm về một vẻ đẹp hài hoà tự nhiên nhất của thực tại có nguy cơ bị phá vỡ.
Xuất phát điểm của bài thơ là tình trạng hài hòa của thế giới được làm nên bởi sự tương giao tự nhiên nhất của âm thanh, ánh sáng, màu sắc và cuộc hát. Thế mà ngay trong những dự cảm về tương lai, những hồi âm quá khứ bất chợt hiện về quấy phá. Trên dòng chảy trôi không ngừng của thực tại, thế giới hiện ra đẹp đẽ, giản dị nhưng cũng khắc nghiệt biết bao. Đó là cảm giác rất mạnh về vẻ đẹp hài hòa của thực tại nhưng không bao giờ trọn vẹn”.
(VĂN GIÁ. Thêm một lần cầm trên tay “Mùa xuân chín”,
Tạp chí Sông Hương xuân Tân Mùi, 1991)
13.ĐÂY THÔN VĨ DẠ
- Hàn Mặc Tử
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Trong các nhà Thơ mới, hẳn Hàn Mặc Tử phải bất hạnh nhất, lạ nhất và phức tạp nhất. Vì thế, cũng bí ẩn nhất. Có ai định tranh chấp với Tử về những cái “nhất” ấy không? Ví Tử với ngôi sao chổi, Chế Lan Viên đã thật có lí. Và cũng như thái độ dành cho một ngôi sao chổi quá lạ, bao ống kính thiên văn đã đua nhau chĩa về Hàn Mặc Tử. Tiếc thay vùng sáng vừa trong trẻo, vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấy nhiêu. Đến nay đã có bao cuộc thăm dò, thám hiểm. Ướm đi, ướm lại, với một hiện tượng “bấn loạn” nhường này, người ta thấy tiện nhất là xếp vào loại siêu: nào siêu thực, siêu thức, nào siêu thoát, v.v… vậy mà, nào đã thoát! Rốt cuộc, lơ lửng treo phía trước vẫn cứ còn đó câu hỏi: “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”.
Ngày trước, cuộc xung đột “bách gia bách ý” chỉ xảy ra với Hàn Mặc Tử, nói chung. Đây thôn Vĩ Dạ vẫn hưởng riêng một không khí thái bình. Phải đến khi được mạnh dạn tuyển vào chương trình phổ thông cải cách, sóng gió mới ập đến cái thôn Vĩ bé bỏng của Tử. Thế mới biết chả hồng nhan nào thoát khỏi truân chuyên! Có người hạ bệ bằng cách chụp xuống một lí lịch đen tối, người khác đã đem tới một cái bóng đè. không ít người thẳng tay khai trừ Đây thôn Vĩ Dạ khỏi danh sách những kiệt tác thuộc vào phần tinh chất của hồn thơ Tử… Ngay những ý kiến đồng lòng tôn vinh Đây thôn Vĩ Dạ cũng rất phân hóa. Người si mê chỉ thấy đó là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh; cảnh Huế và người Huế, người khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu và tình quê; kẻ bảo hướng ngoại, người khăng khăng đòi hứng nội, lắm người dựa hẳn vào mối tình Hoàng Cúc như một bảo bối mà tham chiến, người dẹp hẳn mảng tiểu sử quan trọng ấy sang bên để chỉ đột phá vào văn bản không thôi, v.v… Tôi tin Hàn Mặc Tử không bác bỏ những cực đoan ấy. Nếu sống lại, thi nhân sẽ mỉm cười độ lượng với mọi ý kiến vì quá yêu Vĩ Dạ bằng những cách riêng tây và nghiêng lệch thôi. Ngay một câu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” cũng thành chuyện cái màn “sương khói” làm “mờ nhân ảnh” là ở Vĩ Dạ hay ở chốn người thi sĩ đang chịu bất hạnh cũng gây bất đồng… Hèn chi, hai tờ báo liên quan đến nhà trường và văn chương là Giáo dục và thời đại và văn nghệ được phen chịu trận. Dù muốn hay không, nó cũng đã thành một “vụ” thực sự thời bấy giờ. Đến nay, khó mà nói là đã chịu nhau. Tình hình xem ra khá mệt mỏi, khó đặt được dấu chấm hết. Hai báo đành thổi còi thu quân với một vài tiểu kết nghiêng về “điểm danh”. Một độ sau, nhà giáo – nhà nghiên cứu Văn Tâm, khi soạn cuốn Giảng văn văn học lãng mạn (NXB Giáo dục, 1991) đã điểm sâu hơn. Rồi, nhà biên soạn này cũng nhanh chóng trở thành một ý kiến trong cái chuỗi dài dài đó. Cuộc hành hương về Vĩ Dạ lại tiếp tục đua chen. Khói hương và cả khói lửa, vì thế, tràn lan ra nhiều báo khác, sang tận tờ Tập văn thành đạo của giáo hội Phật giáo Việt Nam, động đến cả những người đang ở Hoa Kì, Canađa…
Chắc là hiếm có bài thơ nào trong trẻo mà đầy bí ẩn đến như Đây thôn Vĩ Dạ. Xem ra, cái chúng ta “gỡ gạc” được mới thuộc phần “dẽ dãi” nhất ở đó thôi!
Đành rằng, trong cảm thụ nghệ thuật, mọi việc khác không thể thay thế việc dùng trực cảm và phân tích đột phá vào bản thân tác phẩm. Nhưng nguyên tắc độc tôn ấy ở đây đã cho thấy là không mấy hi vọng, nếu không nói là trở nên kém thiêng. Thôn Vĩ Dạ dường như “vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”, cự tuyệt ngay cả những linh khiếu vốn cả tin vào một trực giác đơn thuần. Đây thôn Vĩ Dạ vẫn điềm nhiên giấu kín ngay trong sự trong trẻo kia bao bí ẩn của nó. Muốn đến đúng chỗ giấu vàng của thôn Vĩ, trực cảm nhất thiết phải được trang bị thêm một “sơ đồ chỉ dẫn”, một chìa khóa. Những thứ này, tiếc rằng cũng giấu mình khắp trong thơ Hàn Mặc Tử.
Coi một tác phẩm đã gắn làm một với cái tên Hàn Mặc Tử là không tiêu biểu cho tinh chất của hồn thơ Tử, e chừng phải xem lại cái vội cho là tinh chất kia. Mỗi bài thơ hay – nhất là những tuyệt tác - bao giờ cũng có “mạng vi mạch” nối với tinh hoa và tinh huyết của hồn thơ ấy! Thậm chí, mọi hệ thống kiến giải mới về hiện tượng Hàn Mặc Tử khó được coi là thuyết phục khi chưa thử sức ở Đây thôn Vĩ Dạ. Đã đến lúc phải lần ra “mạng vi mạch” ấy, tinh hoa tinh huyết ấy.
Nói một cách khác, mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc thơ, căn cứ tin cậy nhất vẫn là văn bản thơ. Đó là một nguyên tắc, và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng “hiểu” và “hiểu thấu đáo” là hai cấp độ. Muốn thấu đáo tác phẩm, dứt khoát phải am tường tác giả. Trường hợp trong trẻo mà đây bí ẩn như Đây thôn Vĩ Dạ, với một vị thân sinh đầy phức tạp như Hàn Mặc Tử càng cần phải thế.
Trong nhiều điều cần cho sự soi sáng thôn Vĩ Dạ, không thể không nói đến một “tình yêu tuyệt vọng”, “lối thơ điên” và “lớp trầm tích những biểu tượng”. Nếu “tình yêu tuyệt vọng” quyết định đến điệu tình cảm chung, thì lối thơ điên quyết định đến trình tự cấu tứ, cơ cấu không gian. Trong khi đó, lớp trầm tích những biểu tượng quyết định đến hệ thống hình tượng, hình ảnh của thi phẩm đặc sắc này.
Ai đã đọc Hàn Mặc Tử hẳn phải thấy rằng tập thơ quan trọng nhất của thi sĩ chính là Đau thương. Thực ra, ban đầu Hàn Mặc Tử muốn đặt cho nó một tên khác, “dễ sợ” hơn: Thơ điên. Hai cái tên có thể hoán cải cho nhau, là một điều đáng để cho ta lưu ý. Nó nói rằng Tử đã tự ý thức khá sâu sắc về chính mình. Vâng, Đau thương và Điên chính là Hàn Mặc Tử. Đau thương là cội nguồn sáng tạo, còn Điên chỉ là hình thức của sáng tạo ấy. Đọc ra điều này có lẽ không khó. Còn nhận diện Đau thương lại chẳng dễ dàng chi. Chả thế mà người ta cứ mãi đánh đồng “đau đớn thân xác” với “đau khổ tinh thần” và cứ muốn coi Điên chỉ đơn giản như một trạng thái bệnh lí.
Suy cho cùng Đau thương chính là một tình yêu tuyệt vọng. Ta thường tự cầm tù trong định kiến về tuyệt vọng. Thực ra, tuyệt vọng có thể kết thúc hi vọng, nhưng không kết thúc tình yêu. Không phải nỗi tuyệt vọng nào cũng làm con người gục ngã. Còn có nỗi tuyệt vọng khiến tình yêu thăng hoa. Người ta đi đến tuyệt vọng có thể vì những nguyên ủy rất riêng tây kín khuất, đôi khi ta “bất khả tri” (một thiếu hụt, tổn thương, mất mát nào đó trong tâm thể chẳng hạn). Ai cũng thấy chết là một cuộc chia lìa tất yếu và đáng sợ. Sống có nghĩa là đang chia lìa. Nhưng, may thay, hết thảy chúng ta đều có khả năng quên đi mà vui sống. Còn ở những người như Tử dường như trời không phú cho họ cái khả năng quên. Càng mắc những bệnh trầm trọng lại càng ám ảnh. Sống trong dự cảm khôn nguôi về cái lúc chia lìa, Tử thường đẩy mình tới điểm chót cùng của tuyệt vọng để nuối đời, níu đời. Qua lăng kính lạ lùng của tình yêu tuyệt vọng, cảnh sắc cuộc đời này thường ánh lên trong hồn Tử rạng rỡ, lộng lẫy, thanh khiết hơn bao giờ hết. Mà càng đẹp, càng tuyệt vọng, càng tuyệt vọng lại càng đẹp! Mỗi lần cầm bút có khác nào một lần nói lời tuyệt mệnh, lời nguyện cuối. Cho nên mỗi lời thơ là như một lời bày tỏ da diết của một tấm tình tuyệt vọng mãnh liệt. Và điều oái oăm đã hình thành như thế: Tuyệt vọng đã trở thành một cảm quan, một cách thế yêu đời của Hàn Mặc Tử.
Thế mới đau thương. Thế là đau thương. Có lẽ ý thức về tình yêu tuyệt vọng làm nên thân phận mình, mà trong một bài thơ viết cho Thanh Huy – một người tình trong mộng – Tử đã tự họa bằng cặp hình ảnh trớ trêu này: “Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm”. Thơ Tử là như thế! Đọc Hàn, người ta thường chia ra bài này thuộc về “hàng chữ gấm” (trong trẻo, tươi tắn), bài kia thuộc về “mắt mờ lệ” (u ám, khổ đau) một cách tách bạch và phân liệt. Thực ra, tiếng thơ nào cũng thuộc về cả hai: “Hàng chữ gấm” chỉ là phía thấy được của đôi “mắt mờ lệ” đau thương mà thôi!
Là sản phẩm của nguồn thơ lạ lùng kia, “Đây thôn Vĩ Dạ” là lời tỏ tình với cuộc đời của một tình yêu tuyệt vọng. Bên dưới mỗi hàng chữ tươi sáng của cả bài thơ là cả một khối u hoài.
Và Đau thương đã tìm đến Thơ điên như một hình thức đặc thù đối với Hàn Mặc Tử. Sẽ không quá lời, khi nói rằng Tử đã buộc ta phải xét lại cái quan niệm hẹp hòi lâu nay về Thơ điên. Ta quen thấy điên như một trạng thái bệnh lí mà thường quên rằng còn có điên như một trạng thái sáng tạo (có không ít thi sĩ tìm đến “điên” như chạy theo một thứ “mốt” tân kì, thì điên thế chỉ là điên của người tỉnh queo!). Điên ở Tử là trạng thái đau thương bên trong đang chuyển hóa thành sáng tạo. Cảm xúc tuyệt vọng lại là dạng thức hưng phấn cực điểm, thái quá, khiến tâm tư xé rào vượt ra khỏi những lối đi, những giới hạn thông thường, thi hứng đến như cơn sốc, sáng tạo như lên đồng. Ra đời như vậy, Thơ điên thường có những biểu hiện: a) Mở ra một “kênh” hình ảnh lạ lùng với vẻ đẹp kì dị (thậm chí dễ sợ!); b) Những tiếng kêu lạ như buột lên từ những cơn đau (hú, hét, gào, rú…); c) Một lối liên tưởng rất “phi lôgic” (thoát li hẳn áp lực của lí trí). Điểm thứ ba này (c) đã khiến cho mỗi bài thơ khác nào những xao động tâm linh được tốc kí trung thực và trọn vẹn. Vẻ “điên” ấy hiện ra trong các bài thơ thành dòng tâm tư bất định, liên tục chuyển điệu, cùng một văn bản hình tượng liên tục chuyển “kênh”. Đặc tính này sẽ không khó nhận ra, nếu Tử viết thơ tự do. Còn ở những bài được viết thành các khổ tề chỉnh, vuông vức, tròn trịa, thì việc nhận biết khó hơn nhiều.
Có hình dung như vậy mới thấy Đây thôn Vĩ Dạ cũng là Thơ điên theo đúng nghĩa. Tuy không có những tiếng kêu lạ, không có những hình ảnh kì dị, ma quái, nhưng mạch liên tưởng toàn bài rõ ràng đã khước từ vai trò tổ chức của lí trí. Toàn bài là một mạch liên tưởng bất định, đứt đoạn, “cóc nhảy” – nghĩa là rất phi lôgic. Hoàn toàn không khó khăn lắm để thấy rằng thi phẩm được dệt bằng một chuỗi hình ảnh liên kết với nhau hết sức tự do, bất định: ngoại cảnh (phần đầu) với tâm cảnh (phần sau), tươi sáng (vườn thôn Vĩ) với âm u (cảnh sông trăng và sương khói), hi vọng (“Sao anh không về…“) với thất vọng (“Ai biết tình ai…”), v.v… Những mảng thơ phản trái nhau lại kết vào nhau ngỡ như chẳng có cái lí gì! Vậy mà vẫn liền khối, liền mạch! Nhìn kĩ sẽ thấy đó chỉ là hai phía của cùng một khối u hoài uẩn khúc: phía sáng của “hàng chữ gấm” và phía tối của “đôi mắt mờ lệ” đó thôi. Với một góc nhìn khác thì ở ngay trong từng khổ cũng đã thấy những chuyển điệu gấp khúc – nghĩa là cũng có phía sáng và phá tối riêng. Khổ đầu: Một ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm vốn âm u lại mang gương mặt sáng sủa của khát khao rạo rực. Khổ hai: Một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt hóa thành một hoài vọng chới với nghẹn ngào. Khổ ba: Một niềm mong ngóng vừa ló rạng đã vội hóa thành một mối hoài nghi. Vậy đấy, nếu lối “liên – tưởng – điên” tạo ra một văn bản hình tượng có vẻ “đầu Ngô mình Sở”, thì dòng chuyển lưu của mạch cảm xúc u hoài kia lại tạo ra một âm điệu nhất quán liền mạch phi lôgic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là vẻ đẹp lạ lùng của Đây thôn Vĩ Dạ. Vì thế, vào cõi thơ Tử, không thể chỉ chú mục vào phần “lộ thiên”, mà cần đào rất sâu vào tầng “trầm tích” nữa!
Trên đây, người viết đã lần theo tình yêu tuyệt vọng để thấy nó chi phối hình thức “điên” hao trùm của thi phẩm này. Không dừng lại ở đó, tình yêu tuyệt vọng còn can thiệp vào Đây thôn Vĩ Dạ ở một tầng sâu hơn: điệu tâm hồn riêng của tác phẩm. Ở tầng này, tình yêu tuyệt vọng hóa thân thành một mặc cảm sâu xa, thấm đẫm vào toàn thể bài thơ “mặc cảm chia lìa. Mà trước tiên, nó đổ bóng xuống cảm quan không gian của Tử, nó dàn dựng nên cái tương quan không gian của Đây thôn Vĩ Dạ.
Sau khi mắc bệnh nan y, Tử đã coi mình như một cung nữ xấu số bị số phận oan nghiệt đày vào lãnh cung. Ấy là lãnh cung của sự chia lìa! (Tôi không nhằm nói đến Gò Bồi hay Quy Hòa. Bởi đó chỉ là hai địa chỉ hạn hẹp trong cái lãnh – cung – định – mệnh ấy thôi!). Cơ hội về lại cuộc đời cơ hồ không còn nữa. Vô cùng yêu đời, thiết tha bao luyến mọi người, vậy mà Tử đã chủ động cách li, quyết định tuyệt giao với tất cả. Nhưng tuyệt giao mà chẳng thể tuyệt tình! Thậm chí, càng tuyệt giao, tình nhớ thương càng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Hằng ngày ở trong cái lãnh cung ấy, Tử thèm khát thế giới bên ngoài kia: “Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa? Trời ở trong đây chẳng có mùa, Không có niềm trăng và ý nhạc, Có nàng cung nữ nhớ thương vua”. Chủ động tuyệt giao thực ra chỉ là biểu hiện lộn ngược của lòng thiết tha gắn bó. Hễ tiễn một ai đến thăm mình về lại ngoài kia thì chẳng khác nào tiễn người từ chốn lưu đày vĩnh viễn về lại cuộc đời, thậm chí như tiễn từ cõi này về cõi khác. Một nửa hồn coi như đã chết theo. “Họ đã đi rồi khôn níu lại, Lòng thương chưa đã mến chưa bưa, Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”. Từ bấy trong thơ Tử hình thành hai không gian với phân định nghiệt ngã: Ngoài kia và Trong này. Nó là sự cách nhau của hai cõi, mà khoảng cách bằng cả một tầm tuyệt vọng. “Anh đứng cách xa nghìn thế giới, Lặng nhìn trong mộng miệng em cười, Em cười anh cũng cười theo nữa, Để nhắn hồn anh đã tới nơi”. Đọc thơ Hàn dễ thấy Ngoài kia và Trong này (hay Ở đây) là hai thế giới hoàn toàn tương phản. NGOÀI KIA: mùa xuân, thắm tươi, đầy niềm trăng, đầy ý nhạc, tràn trề ánh sáng, cuộc đời, trần gian, thiên đường sự sống, hi vọng, hạnh phúc… TRONG NÀY: chẳng có mùa, không ánh sáng, không trăng, không nhạc, âm u, mờ mờ nhân ảnh, lãnh cung, trời sâu, địa ngục, khổ hạnh… Trong này chỉ còn về lại được Ngoài kia bằng ước ao thầm lén, bằng khắc khoải tuyệt vọng mà thôi!
Tấm thiếp phong cảnh của Hoàng Cúc gửi vào lập tức đánh động cái khát vọng về NGOÀI KIA. Thôn Vĩ Dạ hiện lên như một địa danh khởi đầu, một địa chỉ cụ thể của NGOÀI KIA trong hồn Tử thôi. Nói một cách khác NGOÀI KIA trong cái giờ khắc ấy đã hiện lên bằng gương mặt Vĩ Dạ. Thèm về thăm Vĩ Dạ cũng chính là thèm khát về với NGOÀI KIA, với cuộc đời, với hạnh phúc, với tình yêu. Nghĩa là trong ý thức sáng tạo của Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ vừa là một địa danh cụ thể, vừa được tượng trưng hóa.
Trong văn bản bài thơ, có thể thấy tương quan không gian ấy ở hai địa danh: “Thôn Vĩ” (Ngoài kia) và “Ở đây” (Trong này). Thi sĩ hiện ra như một người đang “Ở đây”, ở Trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về “Thôn Vĩ”, về Ngoài kia. Vì thế mà trong bài thơ có sự chuyển tiếp không gian rất tinh vi, kín mạch, khó thấy. Trong phần sâu của nội dung có thể thấy ba cảnh chính, ba đối tượng chính: vườn xa, thuyền xa, khách đường xa chúng hợp thành cái thế giới NGOÀI KIA để đối lập với Ở ĐÂY. Như đối lập quái ác giữa cuộc đời và lãnh cung, trần gian tươi đẹp và trời sâu ảm đạm, hạnh phúc và bất hạnh, sống và không sống, gắn bó và chia lìa, v.v… Điều đáng nói là: nếu lối liên tưởng đứt đoạn bất định của Thơ điên tạo ra sự chuyển làn các cảnh sắc không gian đột ngột gấp khúc đến phi lí, thì âm điệu tự nhiên nhuần nhuyễn của cùng một nỗi u hoài, trong cùng một lối thơ chia thành các khổ vuông vức, tròn trịa lại lấy đầy, san bằng những nếp gấp, vết gấp, khiến cho người đọc cứ mặc nhiên coi rằng bài thơ chỉ có sự nới rộng cùng một không gian (Thôn Vĩ) chứ không phải là sự ghép nối giữa các vùng không gian rất xa nhau (“Thôn Vĩ” – Ngoài kia và “Ở đây” – Trong này). Chữ “đây” ở nhan đề thuộc Vĩ Dạ. Còn “Ở đây sương khói…” thì đã vụt bay về cái trời sâu, cái lãnh cung bất hạnh của Tử rồi. Có hiểu thế, ta mới thấy lối biểu hiện phức tạp của Thơ điên và tình yêu tuyệt vọng đầy uẩn khúc của Tử.
Sự tương phản giữa hai miền không gian trên đây không chỉ là mặc cảm của một con người đang chia lìa với cuộc đời. Sâu sắc và thấm thía hơn, đó còn là mặc cảm của một thi sĩ đang phải ngày một lìa xa cái đẹp mà mình hằng tôn thờ, khao khát. Ai đã đọc thơ Tử hẳn phải thấy rằng chuẩn mực quan trọng nhất của cái đẹp theo quan niệm của Tử là sự THANH KHIẾT. Ở cảnh vật là vẻ THANH TÚ (Tử gọi là những “chốn nước non thanh tú”), ở con người là vẻ TRINH KHIẾT (tất nhiên phải là vẽ trinh khiết đầy xuân tình). Những hình tượng cơ bản của thi phẩm này: vườn thôn Vĩ, sông trăng – thuyền trăng, khách đường xa đều là những biểu hiện cụ thể của vẽ đẹp THANH KHIẾT đó. Trong mặc cảm chia lìa, tất cả những vẻ đẹp ấy đều khiến Tử lâm vào tuyệt vọng, và Tử đã cảm nhận những cảnh trí ấy qua lăng kính của niềm tuyệt vọng. Có lẽ trường hợp Tử là một minh chứng đáng sợ cho định nghĩa về cái đẹp của Pôn Valêri: “Cái đẹp là cái làm ta tuyệt vọng”. Trong nỗi tuyệt vọng ở Đây thôn Vĩ Dạ, thấy ẩn hiện đó đây cảm giác về một thực tại xa vời, một hiện tại ngắn ngủi và về sự tồn tại mong manh của mình. Tất cả những cảm giác này thấm vào giọng điệu thơ khiến cho nó trở nên khắc khoải, da diết.
Bài thơ được viết thành ba khổ dựa trên âm điệu chủ đạo của ba câu hỏi buông ra, buột lên, không có lời đáp. Câu hỏi chỉ là hình thức bày tỏ. Ngữ điệu hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Nhờ một ngữ điệu nhất quán mà ba cảnh ở ba khổ thơ hiện ra vốn có vẻ “cóc nhảy”, đứt đoạn đã được xâu chuỗi lại, tự nhiên, khăng khít.
Câu mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”? là một câu hỏi nhiều sắc thái. Vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Không phải câu hỏi của Hoàng Cúc đâu! Đơn giản vì trong tấm thiếp gửi vào, theo tài liệu của Võ Đình Cường, Nguyễn Bá Tín thì chẳng có câu nào thế cả. Cũng không phải lời một cô gái nào khác của Vĩ Dạ. Ấy là lời Tử. Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Vừa hỏi vừa nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết từ bao giờ có còn cơ hội để làm nữa không. Ấy là về lại thôn Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Niềm khát khao đã cất lên thành lời tự vấn. Ba câu sau vẽ ra một hình tượng chung – mảnh vườn thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả họp lại, ánh lên một vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết. Thật bình dị mà thật cao sang. Đọc thơ Tử, thấy trở đi trở lại những hình ảnh vườn. Nào Vườn trần, Vườn tiên, nào Vườn chiêm bao… mỗi nơi một khác. Nhưng vườn của Tử vẫn có một diện mạo chung mà Tử đã từng gọi là “chỗ nước non thanh tú”. Phải, thiên nhiên mà Tử say đắm nhất thường phải có vẻ đẹp thanh tú! Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn và đồng hiện, đầu thai thành vườn Vĩ Dạ này đây.
Nắng trong thơ Tử thường lạ, đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng chang chang, nắng loạn… Đây Hàn Mặc Tử chỉ nói giản dị “Nắng hàng cau nắng mới lên”, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ hay không chỉ hay vì những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó có khả năng gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên cao, sắc xanh dường như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới ban mai lại mới mẻ thanh tân. Nắng trên lá cau là nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, bóng đổ xuống vườn trong nắng mai, in thành những đường tinh tế như kẻ chỉ xuống lối đi, xuống cảnh vật. Thân cau chia làm nhiều đốt đều đặn, cau khác nào như một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần theo từng đốt, từng đốt. Đến khi tràn đầy thì nó biến cả khu vườn xanh thành một viên ngọc lớn… Vậy đấy, câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức con người! Song, trọng tâm của hình tượng vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, câu thơ có vẻ đẹp long lanh! Vì có sắc “mướt” chăng? Vì được sánh với “ngọc” chăng? Quả là, hai chữ ấy đã tác động ngay đến xúc cảm của người đọc thơ. Chữ “mướt” toát lên vẽ mượt mà, óng ả đầy sắc xuân. “Ngọc” vừa có màu, vừa có ánh. Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc không chỉ rời rợi sắc xanh, mà dường như còn đang tỏa vào không gian cả những ánh xanh. Đơn sơ mà lộng lẫy. Thật thanh tú và cao sang! Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn có chữ khác khép nép ở bên cạnh. Khiêm nhường thôi, kín đáo thôi, nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà gửi gắm, kí thác vào đó những uẩn khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ “ai”. Nếu có bài chỉ có một chữ “ai” này, có lẽ cũng chưa có gì thật đáng nói. Bởi chữ “ai” thường chỉ có ý nghĩa “phiếm chỉ hóa”, “ỡm ờ hóa” mà thơ truyền thống đã khai thác quá nhiều. Cả bài có tới bốn chữ “ai” nằm ở cả 3 khổ! Chúng gắn với nhau bởi cả sắc thái lẫn giọng điệu tạo thành một “hệ vi mạch” ở sâu trong lòng bài thơ, bên dưới văn bản hình tượng, chuyển tải một cảm giác se xót: cảm giác về thực tại xa vời, hiện tại ngắn ngủi và cả sự tồn tại mong manh:
– Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
– Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
– Ai biết tình ai có đậm đà?
Tất cả vẫn đẹp đẽ, lộng lẫy thế mà đã ở ngoài tầm tay, đã thuộc về Ngoài kia, thuộc về những ai đó, xa vời, mông lung, nhoà nhạt. Ở câu thứ 3, không thể không nói đến chữ “quá” với hiệu quả nghệ thuật riêng của nó. Cũng là một từ chỉ mức độ, nhưng nó mang lại cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng, kinh ngạc như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau đó cũng không thấy – “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Câu thứ tư gây nhiều tranh luận: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Lối tạo hình của nó là cách điệu hay tả thực? “Mặt chữ điền” là mặt phụ nữ hay đàn ông? Ý kiến đến nay không ngã ngũ. Thực ra, câu thơ có cách điệu gì đâu. Nó diễn tả một khuôn mặt chữ điền đang ẩn sau một cành lá trúc lòa xòa kia mà. Có người đã dày công để chứng minh ấy là mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn hiểu mặt đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi khác: Đó là mặt người thôn Vĩ hay khuôn mặt người trở về thôn Vĩ? Xét cú pháp riêng của câu thơ, có quyền hiểu cả hai cách. Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn) thì hẳn là khuôn mặt phụ nữ – Bởi một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy chính là Tử – khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt tự họa đầy kiêu hãnh (và cả tự… vơ vào nữa!) của Tử. Tìm trong thơ Tử sẽ thấy đây là lối tạo hình rất phổ biến và thường là bức tự họa của thi sĩ. Tử hay vẽ khuôn mặt ẩn sau cành lê, khóm lau, rào thưa, bờ liễu, v.v… Có thể đó là khuôn hình Tử yêu thích. Nhưng có lẽ, sâu xa hơn, là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử vẽ mình trong thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang qua cuộc đời”. “Kẻ đã chia lìa với đời”. Đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần gian. Kẻ ấy về lại cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén vụng trộm thôi. Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện một lần Tử đã trở về mà không vào, nép ngoài ngõ thì cũng thế!) vịn một cành lá trúc mà say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Vậy nên cái câu thơ kia là sản phẩm của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc cảm về thân phận mình. Đó chẳng phải là một niềm uẩn khúc đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao?
Trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ mà cũng là NGOÀI KIA, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, của tình yêu tuyệt vọng, cả những cảnh vật đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử, đó là thiên đường trần gian – một thiên đường giờ đây dường như không còn thuộc về mình nữa. Việc về lại thôn Vĩ vốn là một việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc – hạnh phúc ngoài tầm tay!
Khổ thứ hai chuyển sang một cảnh khác: cảnh dòng sông. Hiểu là sông Hương cũng được mà dòng sông nào đó của cuộc đời NGOÀI KIA cũng được. Mặc cảm chia lìa đã hiện ra trong câu chữ, hình ảnh và giọng điệu:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trong đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Hai câu trên nói đến một thực tại phiêu tán. Tất cả dường như đang bỏ đi: gió bay đi, mây trôi đi, dòng nước cũng chuồi đi… Có một cái gì như là sự ngang trái, trứ trêu. Gió mây làm sao có thể tách rời – mây không tự chuyển – gió thổi mây mới bay, không thể chia tách. Ấy thế mà sự chia lìa đã chia lìa cả những thứ vốn không thể chia lìa! “Dòng nước buồn thiu” vì tự mang trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn li tán chia phôi từ mây gió đã bỏ buồn vào lòng sông? Lạ nhất là chữ. “lay”. Động thái lay tự nó không vui, không buồn. Sao trong cảnh này nó lại buồn hiu hắt vậy. Nó là một nét buồn phụ họa với gió, mây, dòng nước, hay nỗi buồn nước mây đã xâm chiếm, đã lây nhiễm vào lòng hoa bắp phất phơi này? Dường như có một chữ “lay” buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo thời gian mà bay về thơ Tử:
Ai về giồng dứa qua truông
Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.
Câu hát buồn như cơn gió buồn này đã lưu lạc mãi trong Nam Bộ. Và cũng hình như chữ “lay” ấy lại trôi nổi thêm nữa để đến với thơ hiện đại và đậu vào lá ngô của Trúc Thông trong hài Bờ sông vẫn gió:
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió người không thấy về.
Vậy đấy, nếu không có dáng “hoa bắp lay” của Tử hẳn bông sậy kia và lá ngô này khó mà lay được lòng chúng ta!
Trên cái xu thế đang trôi đi, chảy đi, bỏ đi, phiêu tán ấy, Tử chợt ước ao một thứ có thể ngược dòng “về” với mình, ấy là trăng
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Cũng phải thôi! Trong lãnh cung của sự chia lìa, vốn “không có niềm trăng và ý nhạc”, nên Tử ao ước trăng về như một niềm tin cậy, một bám víu, một khát khao, một tri âm, một cứu tinh, cứu chuộc! Người phân tích khó tránh khỏi sự quyến rũ của “sông trăng” và “thuyền chở trăng”. Đó quả là những hình ảnh thi vị tài hoa. Liên tưởng tinh tế đã tạo ra những hình ảnh trôi giữa đôi bờ Hư – Thực, vỗ vào cả hai bến Hiện Thực và Huyền Ảo. Dòng nước đang hóa mình thành dòng trăng hay ánh trăng đang tan mình thành nước? Thuyền chở trăng về cập bến thời gian, huyền ảo thêm mộng ảo! Song, đó chỉ là những nét duyên phô ra của câu thơ. Tôi muốn nói đến một chữ khác lâu nay bị bỏ quên, bởi nó lặng lẽ khiêm nhường chứ không bóng bảy ồn ào. Nó vẫn đẹp trong quên lãng. Ấy là chữ “kịp”. Phải, chữ “kịp” mới mang bi kịch của tâm hồn ấy, thân phận ấy! Ta và cả những người đọc thơ sau ta nữa không thể biết “tối nay” ấy là tối nào cụ thể. Nhưng qua giọng khắc khoải và chữ “kịp” này, ta nhận ra tất cả sự khẩn thiết của nó. Nếu như không”kịp” thì thi sĩ sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương. Chữ “kịp” hé mở cho ta thấy một mặc cảm: mặc cảm về một hiện tại ngắn ngủi, hé mở cho ta một cách thế sống: sống là chạy đua với thời gian. Quỹ thời gian đang vơi đi từng ngày, từng khắc, cuộc chia lìa vĩnh viễn đang tới gần, Tử mong mỏi đến đau thương! Thơ là sự lên tiếng của thân phận, định nghĩa ấy hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.
Khổ thứ ba, giọng khắc khoải đã hiển hiện thành nhịp điệu. Và phải đến đây khi trông ngóng “khách đường xa” thì nỗi niềm ấy mới da diết nhất. Nhịp thơ khác hẳn các đoạn trước – gấp gáp hơn, khẩn khoản hơn:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Vườn đẹp, trăng đẹp và bây giờ đến hình bóng đẹp của người khách đường xa, tất cả đều là những hình ảnh thắm sắc của NGOÀI KIA (“Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa?”). Hình ảnh người con gái trong thơ Tử là biểu tượng sống động cho vẻ đẹp TRINH KHIẾT đầy xuân tình mà Tử hằng tôn thờ. Gắn làm một với hình dáng ấy là sắc áo trắng thanh khiết, tinh khôi! Cho nên, ngóng về thế giới thắm sắc của NGOÀI KIA, thì hình dáng người khách đường xa (người tình xa) phải là hình ảnh đậm nét nhất, rực rỡ nhất và cũng gây tuyệt vọng nhất. Vẻ đẹp trinh khiết mà Tử hằng tôn thờ được Tử dùng một sắc trắng kì lạ để cực tả. Mà đôi khi, thấy cả ngôn ngữ cũng bất lực không theo kịp trực giác của Tử. Tử đã dồn cả màu, cả ánh để tả: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc, Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”, thậm chí lời có lúc trở nên kì quặc: “Chết rồi xiêm áo trắng như tinh”… Ở đây nhiều người phân tích không nhận thấy đặc trưng ấy của thơ Tử, đã lí giải áo trắng quá nhìn không ra bởi vì lẫn vào sương khói mờ nhân ảnh. Không phải thế! Cụm từ “nhìn không ra” chỉ là một cách nói để cực tả sắc trắng – trắng một cách kì lạ, bất ngờ (giống cách viết, tiếng kêu “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”). Không phải là sự thú nhận về nhìn không ra!
Đến đây, Tử mới trở về với nơi tồn tại của mình, với lãnh cung chia lìa bất hạnh của mình:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Ta cứ nghe đâu đây tiếng dội đau thương của Những giọt lệ: “Tôi đang còn đây hay ở đâu, Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu” hay “Trời hỡi bao giờ tôi chết đi, Bao giờ tôi hết được yêu vì?”… Tử yêu đời đến đau đớn tuyệt vọng. Còn cuộc đời? Tình đời liệu còn dành cho Tử được bao nhiêu? Được đến bao giờ? Cuộc đời NGOÀI KIA vẫn thắm sắc và vẫn cách Ở ĐÂY bằng một tầm tuyệt vọng, vẫn “cách xa nghìn thế giới”. Tồn tại ở nơi này sao quá đỗi mong manh? Chỉ có cái Tình kia là sợi dây duy nhất níu buộc Tử với TRẦN GIAN. Thế mà xem ra cái Tình ấy cũng mong manh làm sao?
Thế đấy, tôi đã khá dài dòng khi hành hương về Vĩ Dạ, đã đi theo cái đường dây mỏng manh và bí mật của tình yêu tuyệt vọng chìm khuất và xuyên qua toàn bộ thế giới thơ Vĩ Dạ, những mong chia sẻ được đôi phần. Còn biết làm sao khác được, nếu như không muốn ở thế giới bên kia Tử lại tuyệt vọng thêm lần nữa?
CHU VĂN SƠN
Tư liệu tham khảo
“Thơ Hàn Mặc Tử thường có những bước nhảy về ý. Ý nọ cách ý kia một khoảng rất lớn, có lúc ngỡ như không liên hệ gì với nhau, thoáng nhìn bài thơ có cái vẽ đầu Ngô mình Sở thế nào ấy, nhất là ở các tập thơ cuối đời ông. Nhưng, nét đặc sắc ở Hàn Mặc Tử cũng lại là ở đấy: những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hóa ra lại vẫn có chỗ liền nhau, ấy là ở cái trạng thái xúc cảm. Mà trạng thái xúc cảm của Hàn Mặc Tử thì càng về cuối đời càng kì lạ, độc đáo. Nắm được đặc điểm này là có được chìa khóa mở vào thế giới Thơ điên của Hàn Mặc Tử. (…)
Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một, cả vườn và gương mặt chữ điền kia không hề được nhắc lại. Cảnh hoàn toàn khác:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Nhưng cái tâm trạng thì vẫn một: xa cách, ngóng đợi, vắng vẻ. Không thấy bóng người, chỉ thấy một tâm trạng không còn chỉ là tình quê nữa. Nếu sông nước, hoa bắp, thuyền đỗ bến có là cảnh của thôn Vĩ thì cũng chỉ để gợi một nỗi niềm man mác vắng xa nào đó, mà tác giả thấy chúng cần phải nói rõ. Câu cuối đoạn “Có chở trăng về kịp tối nay?” là câu thơ của cõi mộng. Tác giả, đến đây, không nhìn ra cảnh nữa mà quay vào lòng mình. Đến đoạn cuối ta thấy rất rõ: tác giả lặng đi trong mơ tưởng.
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Người khách này hình như không liên quan gì đến cái nhân vật được gọi là “anh” ở câu thứ nhất “Sao anh không về…” mà lại gợi ta nghĩ tới một khách… má hồng, một người thoáng gặp mà nhớ mãi. Đọc đến câu dưới lại càng rõ “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Màu trắng ở đây cũng là màu trắng của tâm tưởng, tác giả nhìn lại vào tâm tưởng để thấy cái màu áo của kí ức cho nên nó hư hư thực thực. Câu thơ tạo ảo giác rất thích, có lí và bất ngờ: trắng quá nên nhìn không ra. Thôn Vĩ đến đây chỉ giữ vai trò một địa điểm có liên quan tới màu áo ấy. Màu áo bây giờ choán hết cảm xúc tác giả. Bài thơ miêu tả cảnh quê đã thành bài thơ của tình yêu. Một thứ tình yêu đơn phương khó xác định:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thơ đã dẫn ta đến một cõi nào của tâm tưởng, không còn là cái thôn Vĩ Dạ ngoài cố đô Huế nữa rồi. Sương khói làm mờ nhân ảnh không phải là sương khói của ngoài đời, của cái thôn nhỏ ấy đâu: “Ở đây” là ở trong mối tình mới nhen nơi lòng tác giả, là cái khoảnh khắc người đang đắm đuối nhìn không ra ấy. Ý thơ chơi vơi, gợi mở, cảm được mà rất khó cắt nghĩa”.
(VŨ QUẦN PHƯƠNG. Thơ với lời bình.
NXB Giáo dục, H, 1987, tr.40– 42)
“Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều khi như xem tranh đồng hiện: sự vật, sự thế ở những thời gian không gian xa cách nhau đồng loạt xuất hiện và xâm nhập lẫn nhau không quan tâm luận lí – tính luận lí ở đây chỉ tồn tại trong tinh thần “toàn khối dòng tâm tưởng”. Đọc Hàn Mặc Tử, người ta cũng dễ liên tưởng đến thơ Lamactin: thứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc ngẫu phát: cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào một cõi mù sương, bởi vậy, cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn phản hưởng “khi va chạm với sự vật” – đó là kiểu thơ “phong cảnh nội tâm”… Tương tự như vậy: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” là ai mơ? Theo mạch thơ và dựa vào ý tứ trong nội dung thư Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử, ngồi mơ hẳn đang sống ở Vĩ Dạ, nhưng cũng không loại trừ ý nghĩa là chủ thể lãng mạn cùng mơ theo… Và rồi: “Áo em trắng quá” (màu áo trắng trong bức ảnh Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử?), có nghĩa: tâm hồn em thánh thiện quá, hạnh phúc đến đột ngột quá…, ta say men sắc màu trinh trắng đến choáng váng “nhìn không ra”? Hay chỉ hàm nghĩa là: những nét chữ từ thôn Vĩ gửi về Quy Nhơn đã làm thức dậy hình bóng xa xôi một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào”.
(VĂN TÂM. Giảng văn văn học Việt Nam,
NXB Giáo dục, H, 1997, tr.338)
14.MƯA XUÂN
- NGUYỄN BÍNH
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anhl.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm họ hát bên làng
 Năm tao bản tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”.
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay.
Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính, ta như được hít thở không khí êm dịu, thảnh thơi giữa những mảnh vườn làng, bến sông quê, cái náo nức của những hội hè, đình đám, như được sống cùng trái tim yêu đằm thắm, mộc mạc của các trai làng, thôn nữ, cùng nỗi u buồn trầm lặng của những thân phận dang dở, lẻ loi. Hơn ai hết trong làng Thơ mới lãng mạn, ngòi bút nhà thi sĩ “chân quê” này đã tài tình khơi dậy cái hồn quê, tình quê vốn ẩn sâu trong đáy tâm hồn mỗi con người Việt Nam ta.
Trên con đường rung cảm tâm hồn người đọc như vậy, thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính thật đầy ắp sự việc và phong phú nhân vật. Không một thi sĩ Thơ mới lãng mạn nào đem lại cho ta cảm giác đầy đủ, sung mãn trên phương diện này như Nguyễn Bính. Rất nhiều bài thơ của ông có thể nhẩn nha kể, có thể “tóm tắt cốt truyện” được. Đặc biệt, thế giới nhân vật trong thơ ông đông đúc, đa dạng. Ngoài một cái tôi “chân quê” rồi “đa đoan nhuốm bụi kinh thành”, rồi “Xuân tha hương”, ấy là những con người ruột thịt yêu dấu như bà mẹ vất vả “lo liệu đủ trăm chiều”, như người chị từng bảo ban, chia sẻ tâm tình, người em – người bạn gái thuở nhỏ với những trò chơi “hoa với rượu” thật hồn nhiên. Thơ Nguyễn Bính là tiếng lòng của bà mẹ nuốt nước mắt vào trong để động viên con gái đi lấy chồng, là lời thổn thức đắng cay của người chị “lỡ bước sang ngang”: “Một đi bảy nổi ba chìm, Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần”, là tâm tư nhớ nhung của những cô gái bên thoi tơ, khung cửi… Ông ngậm ngùi xót xa cùng cô lái đò “đành lỗi hẹn với tình quân”, “Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng trong”. Ông vọng nhìn theo “Cô hái mơ” đang dần khuất hóng “Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi”. “chín nhớ mười mong” với anh trai làng “Tương tư”, hồi hộp lo âu “Van em em hãy giữ nguyên quê mùa” với chàng trai yêu hương đồng gió nội. Lại có lúc, ông cùng anh lái đò chung giấc mơ làm quan Trạng “Võng anh đi trước võng nàng” vinh quy về làng hay buồn thương tiễn biệt với “Những bóng người trên sân ga”… Nguyễn Bính là thế: nhập thân vào hầu hết tầng lớp dân quê, thổ lộ cho họ những khổ đau, những ước muốn, thổn thức bằng lối nói mộc mạc mà thiết tha, tình tứ của ca dao dân ca.
Nhân vật chính trong Mưa xuân là cô thôn nữ “Lòng trẻ còn như cây lụa trắng”. Câu chuyện mà cô tự kể với “anh”, với cả mọi người được “bố cục” theo lối kể chuyện dân gian truyền thống: từ giới thiệu lai lịch nhân vật đến dựng lại chuyện đã xảy ra theo trình tự thời gian ước lệ:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Lời tự giới thiệu này tuy ngắn gọn nhưng đủ định hướng và hé mở cho diễn biến câu chuyện về sau. Cô gái (nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất) chú ý xác định cuộc sống còn phụ thuộc, tâm hồn chưa hề bợn chuyện tình duyên của mình. Nhưng mọi chuyện bắt đầu từ… “bữa ấy”:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.
Cô chẳng cần nhớ tháng ngày cụ thể. Mưa xuân và hoa xoan trở thành dấu khắc của thời gian; hơn thế, sẽ trở thành nhân vật chứng kiến câu chuyện của cô. Lời mẹ bảo vô tình kia bỗng bắt đầu ám ảnh, bắt đầu đánh thức trong cô nỗi hồi hộp, niềm chờ đợi. Bây giờ kể lại dường như cô vẫn còn ngượng ngập, xấu hổ cho những cử chỉ, thay đổi “bữa ấy” của mình:
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Trong thơ Nguyễn Bính có những lần “hình như” thật đáng yêu. Điều hiển nhiên lại được lấp lửng hóa khiến lời thơ thêm đong đưa, duyên đáng. Đây là tâm sự của một cô gái với người yêu:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em chừng dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
(Chờ nhau)
Đấy là cuộc đời ngắn ngủi của một thiếu nữ khiến người bạn trai bàng hoàng, xót đau trong lặng lẽ:
Người ấy hình như có biết nàng
Mấy lần toan tính chuyện sang ngang
Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé
Vội cắm nghìn thu ở suối vàng.
(Viếng hồn trinh nữ)
Dẫu sao niềm mong ước gặp anh trong đêm hội đã vượt lên sự e ấp, giấu giếm ở những từ ngữ nghi vấn “hình như”, “có lẽ” kia. Cô gái ướm đo mưa và tin tưởng:
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem.
Đằng sau những cử chỉ, cảm nhận đáng yêu của cô gái, ta thấy cả nỗi bồn chồn, niềm tin tưởng. Nuôi niềm tin đợi ấy trong lòng, cô “xin phép mẹ vội vàng đi”. Mưa xuân nhỏ lắm – chỉ là “mưa bụi” thôi nên em không ướt áo đâu. Mà lại đường cũng gần: “Thôn Đoài cách có một thôi đê” (Ta không rõ cô gái đang giải thích với mọi người hay đang tự nói với mình đây. Chuyện mưa to hay nhỏ, đường gần hay xa lúc cô bước chân vội vàng ra đi chẳng còn quan trọng gì nữa!). Thật đáng trọng cái tình yêu tha thiết ở cô thôn nữ này khi cô “mải tìm anh chả thiết xem” trong “đám hát thâu đêm” ở thôn Đoài nọ. Từ tin tưởng, háo hức chuyển sang trách móc, dỗi hờn:
Chờ mãi anh sang, anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng lỡ làng!
Nguyễn Bính quả thật “nhuyễn” lối nói của người nhà quê khi đưa vào thơ các thành ngữ như “năm tao bảy tuyết” “một nắng hai sương”, “bãy nổi ba chìm”, “trăm cay nghìn đắng”… Lời trách móc chẳng đến mức chì chiết nhưng vẫn ngầm chua xót – giận cho người và tủi cho mình. Giọng cô gái ở Mưa xuân cũng giống như giọng chàng trai ở Tương tư vậy:
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
Khi anh đã lỗi hẹn thì mưa xuân cũng chẳng còn “phơi phới bay”, chẳng còn là “mưa bụi nữa”. Nó bỗng “nặng hạt” theo bước chân lầm lụi của cô gái. “Áo mỏng che đầu” sao khỏi ướt, dải đê ngắn bỗng trở nên dài:
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm lủi với canh khuya.
“Mưa xuân đã ngại bay”, “mùa xuân đã cạn ngày”, “Bao giờ em mới gặp anh đây” – bài thơ khép lại vẫn trong niềm bâng khuâng mong đợi. Mùa xuân… mùa của hội hè, mùa của hò hẹn… biết bao giờ trở về để lại được nghe mẹ bảo, lại được thấp thỏm chờ và tìm như “bữa ấy”. Bài thơ của Nguyễn Bính khiến cho ta giật mình khi bỗng nghĩ trên cõi đời này có biết bao nỗi đợi chờ thầm lặng chưa được rồi sẽ không được một ai biết đến. Đánh thức ở mỗi người đọc một chút giật mình như thế để bớt vô tâm – ấy chính là thiên chức cao quý của văn chương.
Mưa xuân được viết năm 1936, khi Nguyễn Bính 18 tuổi. Ấy là một trong những bài thơ ở buổi đầu tiên của một hồn quê sáng trong như lụa. Chẳng thấy ở đây những vất vả lo toan thường nhật, những tang thương nghịch cảnh của xã hội nông thôn Việt Nam trong chế độ thực dân nửa phong kiến. Của thời nào vậy và của nơi nào vậy những “mưa xuân phơi phới bay”, những “Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng, Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng”, những “giậu mồng tơi xanh rờn”, những “Sáng giăng chia nửa vườn chè”, những đêm hội chèo thâu đêm náo nức…? Cải làng Thiện Vịnh, cái vùng chiêm trũng mênh mông Vụ Bản, Ý Yên, Bình Lục, Phú Xuyên trắng trời trắng nước, người dân quanh năm đầu tắt mặt tối lại là nơi nuôi dưỡng, nhen nhóm lên những hình ảnh thơ đẹp như vậy ư? Thơ Nguyễn Bính như hồ nước trong veo mà nhìn suốt đáy bỗng ánh lên vẻ đẹp tinh thần, quan niệm sống hồn nhiên và lạc quan của người nông dân Việt Nam ta. Chất lãng mạn của thơ Nguyễn Bính, phải chăng, chính là ở chỗ ấy? Một thứ lãng mạn gần như bản năng của một tâm hồn dân giả gắn bó máu thịt cùng quê hương, đau đáu ước mong cùng những người dân quê thân thuộc. Vì thế, Mưa xuân là một câu chuyện tình tuy đơn phương mà dịu êm, trong sáng. Về sau, khi dấn bước vào cuộc sống tha hương, khi để tâm hồn nhuốm bụi kinh thành, Nguyễn Bính chắc hẳn khó lòng viết lại nổi những bài thơ “chân quê” như thế.
Có thể thấy sự gần gũi thú vị giữa Mưa xuân của Nguyễn Bính và Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay” và “Hôm qua đi chùa Hương” là những rung động trong sáng, những khát khao thầm kín mà mãnh liệt của các cô gái tuổi mười lăm, mười sáu. Không nhiều thi sĩ đã thể hiện thật tinh tế, ý nhị nỗi lòng của thiếu nữ ở độ tuổi ấy.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Ở mỗi người chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta. Nhưng – khôn hay dại – chúng ta ngày một cố lìa xa nề nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh. Dầu sao, những tính tình tư tưởng ta hấp thụ ở học đường đã cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta người nhà quê vốn khiêm tốn và hiền lành kia ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi có lúc ta tưởng chàng đã chết rồi. Ở Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta. Ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr.308 – 309)

“Cái làng Thiện Vịnh trong thơ Nguyễn Bính cũng chỉ là một bóng mơ. Làng Thiện Vịnh thật có giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình, đâu đâu cũng xơ xác nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng còn lên, quằn lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối. Mỗi năm, mỗi mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương. Nhà thơ bó gối ngồi nhìn vào trong đêm. Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng. Nhà thơ tưởng tượng, trên những khổ cực ấy, phấp phới những lứa tuổi đương tơ, hoa cải vàng tháng chạp, mưa dây mưa dợ, trăng rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo hát…
Thơ là niềm khao khát, là ước nguyện của con người. Khi chưa quen Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của Nguyễn Bính và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha của người làm thơ, đâu là cái hoa hòe hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh. Rồi mỗi khi gặp chính trong cuộc sống khốn Khó hằng ngày tưởng như chẳng liên quan gì đến những bài thơ quê sáng như lụa của Nguyễn Bính, tôi lại rõ ra ý nghĩa sâu thẳm của mỗi câu thơ với quê hương. Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỉ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt kia đằm lên, ngây ngất nhớ thương, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt vời của Nguyễn Bính.
…Tinh hoa của tài năng con người nảy nở vào một khi nhất định, thời kì sức lực nhất – có thể chỉ nổi lên ở một bài thơ, thậm chí, ở một câu thơ. Một văn tài lỗi lạc đến mấy cũng không thể cả đời lúc nào quanh mình cũng lung linh hào quang những sáng tạo tầm cỡ. Sức mạnh sáng tác cũng ví như sức khỏe con người, không phải và không thể lúc nào người ta cũng sung sức nhất được.
Nguyễn Bính chỉ thật riêng ở một góc trời ở những bài thơ đầu với một mảng thơ đất quê. Trong đời thơ của anh, đáng lẽ đến hết thời kì hồn nhiên, năng khiếu phải được nâng cao hơn nữa – như bây giờ ta nhận xét hoặc nói cách khác, sự rèn luyện tâm hồn và ngòi bút phải đưa được “cái tài trời phú” lên cao hơn, mới bồi đắp được độ bền và sức trẻ của sự sáng tạo. Nguyễn Bính không tới được cơ hội ấy. Dù trong kháng chiến và cho đến bài thơ sau cùng, Nguyễn Bính vẫn thường viết về quê hương, nhưng tinh hoa chỉ có một thời, và thời ấy đã qua rồi… Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê”.
(TÔ HOÀI. Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính,
NXB Văn học, H, 1986)
“Nhà thơ này yêu thôn quê một cách kì lạ, cái tình yêu ấy làm cho thơ anh, ở những câu bình dị nhất, vẫn có sức lôi cuốn, vẫn có cái duyên xao động lòng người. Dưới mắt anh, những cảnh sắc thật thông thường ở thôn quê cũng rất gợi cảm, đâu chỉ ánh trăng mới đẹp, mà cảnh mưa phùn gió bấc, hoa xoan, đường lầy hay nắng lửa trưa hè vẫn cứ làm ta xúc động, nhớ thương. Đó là tài năng của anh. Giọng anh vừa cất lên, người ta đã nhận ngay ra hình bóng quê hương làng mạc. Cách ăn nói nghĩ ngợi của bà con làng xóm đã thấm vào Nguyễn Bính. Nhiều khi không hẳn là nghĩa chữ, ý câu mà chỉ bằng cái giọng nói, cái cách nói, Nguyễn Bính đã tẩm tâm hồn chúng ta vào trong hồn của quê hương dân dã…
Tại sao dưới bút anh, những chữ đơn sơ, những cảnh bình thường lại có sức gợi cảm? Cái tài ấy sinh ra từ cách nhìn của anh, anh nhìn bằng tâm tưởng, anh thấy được những điều mắt thường ta không thấy. Một cái nhà ga “Tường vàng, mái đỏ màu son” ai cũng thấy. Nhưng “Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga” thì riêng Nguyễn Bính mới nhìn ra được.
Đọc Nguyễn Bính, vì vậy, chúng ta được nhập vào hồn quê hơn là cảnh quê. Nói về cảnh thì Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ có nhiều chi tiết sắc và thực hơn, nhưng dựng được cái hồn quê thì chưa ai bằng Nguyễn Bính. Ngày nay, nông thôn ta đã đổi thay nhiều, cả phong cảnh lẫn hồn người, những câu thơ Nguyễn Bính như một dấu tích tâm hồn dân tộc sẽ nuôi lòng nhiều thế hệ bạn đọc”.
(VŨ QUẦN PHUƠNG. Đóng góp của thơ
Nguyễn Bính – báo Giáo viên nhân dân số đặc biệt:
Nhìn nhận lại một số hiện tượng văn học, tháng 7 – 1989)
15.TƯƠNG TƯ
- NGUYỄN BÍNH
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh cửa trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây tá vàng
Bảo rằng cách trả đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…
Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa. Nhưng trong cuộc đời, tương tư thường là một nỗi nhớ đơn phương. Người này nhớ, mà đôi khi cứ ngỡ người kia vô tình lắm, chẳng hề biết, chẳng thèm biết rằng mình đang khổ sở về tương tư. Thực tình nhớ là hiện thân của yêu. Nhớ chính là yêu. Một tâm hồn đang thớ là một trái tim đang yêu. Một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn của một trái tim ngừng yêu. Cho nên có kẻ nào yêu mà chẳng từng tương tư. Nguyễn Bính cũng thế! Chàng trai chân quê này tương tư và trải đến tận cùng những cung bậc tương tư, nói khác đi, là đã bị mọi cung bậc của tương tư giày vò, đến khổ sở.
Yêu nhau, mà xa nhau, tất sẽ nảy sinh nhung nhớ. Xa cách về không gian và xa cách về thời gian chính là duyên cớ để tương tư. Vì thế mà trong bản chất tình cảm, tương tư là một khát khao, một nỗ lực vượt không gian và chiến thắng thời giang. Không gian, thời gian vô cớ trở thành kẻ thù của những tình nhân bị xa cách. Và đây là những kẻ thù nghìn lần đáng ghét. Bởi trong nỗi tương tư khoảng cách dù ngắn cũng trở thành dằng dặc, diệu vợi, nghìn trùng, một khoảnh khắc cũng thành đằng đẵng, thăm thẳm. Đôi khi chỉ tấc gang cũng trở thành vực thẳm; thậm chí với một tình nhân giàu dự cảm thì dầu chưa xảy ra xa cách, đã khắc khoải tương tư rồi:
– Vừa thoáng tiếng còi tàu
 Lòng đã Nam đã Bắc.
– Nên cả lúc gần anh
 Mà lòng em vẫn nhớ.
(XUÂN QUỲNH)
Trong bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã nói lên nỗi tương tư nghìn đời của những lứa đôi. Ngay những lời mở đầu đã vẽ ra nỗi tương tư chan chứa cả cảnh sắc thôn làng:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Chỉ vì có một chàng trai thôn Đoài đang gửi lòng sang cô gái thôn Đông mà cuối cùng đã thành thôn Đoài nhớ thôn Đông. Cách nói bóng gió tạo được một hiệu quả không ngờ là hai miền không gian đang nhớ nhau. Điều này đâu phải vô cớ. Khi người ta tương tư, cảnh vật xung quanh cũng ngập tràn nhung nhớ. Người ta còn nhìn bằng đôi mắt khách quan nữa đâu? Cảnh vật nhuốm màu tương tư rồi. Câu thứ hai đặc Nguyễn Bính. Ấy là giọng kể lể! Một câu thơ dường như được viết toàn bằng số từ! Không gian tương tư thật rõ. Câu bát có xu hướng kéo dài, nó càng dài hơn bởi giọng kể lể và chất đầy những số từ thậm xưng lối thành ngữ. Mỗi người đứng ở một đầu câu thơ, thăm thẳm, vời vợi. Giữa họ là một khoảng trời diệu vợi. Nỗi tương tư giăng mắc một nhịp cầu “chín nhớ mười mong”, khởi lên từ đầu này và chấp chới, và mơ màng tới được đầu kia. Kế đó là một sự lí giải:
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Sánh mình với Trời, ngông là thế mà thấy cũng chấp nhận được! Bởi cả hai có cùng một căn bệnh. Tôi và Trời hóa ra là kẻ đồng bệnh. Ấy thế mà chưa hết đâu, cái Tôi này xem ra còn hạ thấp cả Trời nữa “Gió mưa là bệnh của Trời”, thì bệnh ấy là một thói tật, một thói hư, Trời giở chứng ra! Còn “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” thì là một căn bệnh mắc phải, do “ngoại nhập”. Từ ngày yêu nàng, tôi mới mắc bệnh này. Coi tương tư là một thứ “bệnh” mới kể lễ được những khổ sở của cái Tôi thang bệnh. Mà bệnh này đã mắc thì phi em ra vô phương cứu chữa! Trong câu thơ thấy có cái giọng chấp nhận một thực tế, một quy luật tất yếu không cưỡng lại nổi. Tôi hiện ra vừa như một tình nhân đắm đuối vừa như một nạn nhân tự nguyện rước bệnh, rước khổ sở vào thân! Có phải khi yêu lời chân thành nào cũng hóa khôn ngoan thế chăng? Hay đó chính là sự khôn ngoan của trái tim?
Hình như tương tư thường bắt đầu bằng kể lể, giãi bày và rồi chẳng mấy ai chịu dừng lại ở đó. Sẽ còn là trách móc, hờn giận, sẽ còn là dằn dỗi đơn phương, khao khát đòi hỏi… cũng đơn phương! Nghĩa là bệnh tương tư mỗi ngày một thêm trầm trọng. Mà “kì” nhất là cũng một không gian ấy thôi, nhưng khi đang kể lể khổ sở của mình thì bỗng dài ra vô tận, đến khi trách móc, “kể tội đối phương” thì lại thu hẹp đến kiệt cùng:
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Mở ra, thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông tưởng chừng nghìn trùng cách trở. Đến đây, té ra sự cách trở đã hoàn toàn triệt tiêu: Tuy hai thôn nhưng thực ra lại có một làng. Quái lạ thay là tâm lí tương tư! Khoảng cách có vậy mà khéo co giãn biến hoá làm sao!
Nhưng xem chừng, hay nhất vẫn là sự kể lể về thời gian:
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Ngày trước, tả mối tương tư Kim – Kiều, Nguyễn Du cũng thấy cái nghịch lí trữ tình của thời gian:
Sầu đong càng lắc công đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
Một ngày thôi mà ngỡ đã ba thu. Thế cũng đã quá ư… trầm trọng! Dầu sao đó vẫn là nỗi tương tư được nói bằng giọng người trần thuật, ngoài cuộc! Còn lời thơ Nhuyễn Bính vẫn nguyên sự sốt ruột, khắc khoải của người trong cuộc. Y như lời lẽ của một người đang ngồi bóc lịch đếm từng ngày chậm chạp, rề rà trôi qua một cách vô tình, thậm chí như cố tình trêu ngươi vậy! (“Ngày qua ngày / lại qua ngày”, câu thơ đi nhịp 3/3, chia thành hai vế, vế này là sự lặp lại của vế kia lối trùng điệp. Chữ “lại” chứa đựng một ngán ngẩm, vừa hi vọng vừa như thất vọng. Tất cả gợi được nhịp vận hành lặp đi lặp lại của những ngày đợi chờ, mong mỏi mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng!). Câu thứ hai vẽ ra một người nóng lòng chờ đợi cùng với một cái cây (chẳng rõ là cây gì, chỉ biết nó cũng nặng trĩu tương tư! Hay đó là cây – tương – tư?!). Thời gian với người tương tư chẳng vô hình. Nó có màu. Ấy là màu vàng héo! Mỗi ngày qua để lại một dấu vết nhỡn tiền trên vòm lá. Cái cây là một nhân chứng. Một cuốn lịch thiên nhiên. Một tri kỉ câm lặng. Một kẻ đồng nạn. Anh đợi em khi cây hãy còn xanh, đến nay cây đã vàng hết cả rồi, vậy mà… Đợi chờ làm cây héo úa, làm người héo hon! Cái cây kia là hình ảnh khác của anh! Cái cây kia chính là anh. Tả cảnh ngụ tình là thế! Phải nói, chữ “nhuộm” thật đắt. Cũng viết về sự biến đổi sắc màu trên cây cỏ, khi Thúy Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du viết:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Chữ “nhuốm” rất động! Nói được sự biến đổi đang diễn ra, chưa hoàn tất. Nó cũng trực tiếp! Dường như sắc màu của chia li ở câu trên đã hắt sang câu dưới, đã phổ vào cảnh vật nên mới “nhuốm”. Nó là sự lây lan từ tinh thần con người xâm nhập vào cây cỏ. Còn chữ “nhuộm” của Nguyễn Bính gợi được thời gian. Bởi xem chừng nó tĩnh hơn! Quá trình biến đổi đã hoàn tất: lá xanh đã biến hẳn thành lá vàng rồi! Sắc thái kể lể đậm hơn. Thời gian đợi chờ của anh đằng đẵng, dằng dặc đến nỗi đủ để nhuộm một cây xanh thành cây lá vàng hết cả rồi! Lời thơ vì thế mà khổ sở, khắc khoải bội phần!
Có phải tương tư là một gánh nặng đơn phương, càng nặng bao nhiêu càng nghĩ đối phương vô tình bấy nhiêu, cho nên cung bậc tương tư cứ chuyển biến rất tự nhiên từ kể lể, thở than sang trách móc? Mà lời trách móc thì, chao ôi, đầy một lối “quy kết”, khó mà “chạy tội” được:
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…
Vẫn cái “luận điệu dễ ghét” ấy! Kể lể nông nỗi mình thì cũng một sự xa cách kia thôi mà hóa muôn trùng, thăm thẳm. Còn ở đây thì “phủ định sạch trơn”: không hề có xa cách – không có cách trở đò giang, không phải không có đường, mà thực ra gần lắm, chỉ có một đầu đình thôi! Nhưng không thế thì làm sao có thể “quy chụp” người ta vô tình được! Sao những trái tim yêu lại có thể “ranh mãnh một cách hồn nhiên đến thế! Vậy đấy, trong nỗi tương tư, trái tim thường cất lên những lời buộc tội thật dễ thương! Và khi ”người ta” đã nhân danh nỗi khổ sở vì tương tư, thì những lời “buộc tội” vô cớ đến đâu cũng thật dễ chịu, chẳng phải thế sao!
Trách chưa hết đã lại hờn:
Tương tư thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Hờn mát đến điều rồi thì lại khát khao đến độ:
Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?
và cuối cùng thì khẳng định đinh ninh:
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Tất cả đã sẵn sàng và đang nóng lòng chờ đợi. Chỉ còn em nữa thôi! Thôn Đoài đã hẳn là nhớ thôn Đông, điều ấy không còn bàn cãi nữa rồi. Vậy thì cau thôn Đoài còn biết nhớ giầu không của thôn nào được nữa đây? Câu thơ chứa trong nó một lôgic thật… nguy hiểm!
Vậy là trong thẳm sâu tâm lí, Tương tư chính là khao khát hạnh phúc lứa đôi. Khao khát ấy tràn ra trong giọng điệu khi kể lể, phân trần, khi giận hờn, trách móc. Khao khát ấy còn kí thác vào những cặp đôi giấu mình suốt dọc cả bài thơ. Ban đầu những đôi ấy còn xa xôi, càng về sau càng xích lại gần:
Thôn Đoài – Thôn Đông
Một người – Một người
Tôi – Nàng
Bên ấy – Bên này
Bến – Đò
Hoa – Bướm
Nhà em – Nhà anh
Và cuối cùng là: Giầu – Cau. Kết như thế thật khéo!
Vòng vo, xa gần, cuối cùng vẫn cứ tụ lại ở điều cần nhất, khắc khoải nhất: Ấy là giầu – cau! Nghĩa là chuyện nhân duyên. Tương tư ở Nguyễn Bính là mơ ước, khao khát chuyện nhân duyên! Thực ra, những cặp hình ảnh kia vẫn chưa thành đôi hẳn! Mới chỉ ở dạng tiềm năng, để ngỏ và chờ đợi. Vâng, đợi chờ một vì “cứu tinh” duy nhất là Em. Em đến, giầu cau sẽ thắm lại và tất cả sẽ kết thành đôi. Bệnh tương tư sẽ được cứu chữa! Nỗi khổ sở hết giày vò! Vân vân và vân vân…
Nhưng em có biết không, khi tất cả những điều kia đã thành thì cũng là lúc nỗi tương tư bắt đầu giải thể?…
CHU VĂN SƠN
TƯ lIỆU THAM KHẢO
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Nội dung hai câu thơ dường như không khác nhau, kết cấu thì lặp lại: bắc cầu cho khoảng cách không gian chỉ là một nỗi nhớ. Song, hai lớp ý nghĩa này vừa chồng khít lên nhau vừa bổ sung cho nhau nhằm cụ thể hóa, cá thể hóa, nổi bật một tâm trạng khắc khoải ôm trùm. Nếu ở câu trên, mới chỉ là “ngồi nhớ” – một dáng dấp, một nét nghĩ suy thì ở câu sau “chín nhớ mười mong” đã bồn chồn như là có lửa. Xu thế cá thể hóa diễn ra đồng thời với việc thay thế khái niệm phiếm chỉ “thôn Đoài”, “thôn Đông” bằng một từ xác định và thu hẹp: “một người” (“Một người chín nhớ mười mong một người”). (…)
Bất đầu là:
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Cái “chung lại một làng” làm nổi bật cái chưa chung giữa hai người. Sự lẻ loi này trở nên vô lí. Ca dao xưa khi yêu nhau là có cớ. Ví như “Trời mưa, cho ướt lá cà; Đôi ta bé nhỏ làm nhà ở chung”. Lí do của sự sum họp là “Trời mưa”, là “đôi ta bé nhỏ”. Cái tiên đề ấy ở đây đã có, đã thuận dòng mát mái khi “hai thôn chung lại” Thế mà cánh chim hồng kia vẫn chưa đỗ xuống, chưa làm tổ ở một lòng ai để nhà thơ héo tàn vì nhớ mong, trông đợi (“Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”). Những từ láy, những nhịp hai tẻ nhạt vô tình ở câu trước để đổi nhịp ở câu sau đã lại là rơi rụng mất rồi”.
(LÊ BẢO. Những bài thơ hay với phổ
thông Trung học, NXB Hà Nội: 1991)
16.MÀU THỜI GIAN
- Đoàn Phú Tứ
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếu phụ chàng
Duyên trăm năm dứt đoạn
Tình một thửa còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát.
Thơ hay quả có muôn hình nghìn trạng. Màu thời gian đi theo một “kênh” khá đặc biệt. Ta không rõ Đoàn Phú Tứ định nói gì. Ngày nay hay ngày xưa, chuyện mình hay chuyện người? Sự bâng khuâng, vô định trong cảm xúc đã “phổ “ thành âm điệu thơ nhẹ nhàng, vương vấn mà vẫn biến hóa. Bài thơ tỏa ra một chất nhạc, một mùi hương thanh thanh, dìu dịu quyến luyến lấy tâm hồn ta:
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình.
Ngay từ khúc mở đầu, âm thanh và hương vị đã quấn quyện. Cơn gió xanh hay tiếng chim thanh đang dìu vương hương ấm? Có lẽ là cả hai. Gió mát nhẹ cùng tiếng chim trong đều nhuộm hương và dìu dặt tỏa lan khắp không gian mùa xuân. Chữ “dìu” diễn tả sự thướt tha, dìu dặt. Hai âm tiết mang vần “ương” đi liền nhau càng tạo nên âm điệu vương vấn. Khổ thơ nhiều thanh bằng với câu cuối kéo dài ra như làn gió thoảng.
Trong Màu thời gian, khổ thơ mở đầu trên mang tính xác định nhất. Xác định về không gian, về thời gian, cả về cảm xúc. Sắc màu và hương ấm từ đây sẽ thành điểm gợi hứng, thành cơ sở liên tưởng cho các khổ tiếp sau.
Mượn hình ảnh màu thời gian để tâm tình, Đoàn Phú Tứ đã tạo cho câu chuyện tình yêu ở đây thêm vẻ kín đáo và mang ý vị triết lí. Cũng nhờ thế, ý thơ có thể đi về tự do giữa hiện tại và quá khứ. Từ “sớm nay” thoắt trở lại đến “ngàn xưa”:
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian.
Xưa có người cung phi, nàng Lí phu nhân, lúc gần mất nhất định không cho vua Hán Võ đế xem mặt, sợ trông thấy nét mặt tiều tụy của mình vua sẽ hết yêu. Nhớ lại chuyện ấy Đoàn Phú Tứ giờ thấy lòng nao nao. “Nàng” được “Ta lặng dâng trời mây phảng phất nhuốm thời gian” ở đây là ai vậy? Là người yêu của nhà thơ hay nàng Lí phu nhân thuở trước? Ý thơ “phảng phất” giữa chuyện nay với chuyện “ngàn xưa” trong tình cảm thiết tha, có phần thành kính. Ta cũng bắt gặp tình cảm giống như thế ở người kĩ nữ trong thơ Xuân Diệu:
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
(Lời kĩ nữ)
“Lặng dâng” hay “cung kính đặt dưới chân” cũng chỉ là một mà thôi: đều thành thực, đều ngưỡng vọng. Nhưng một đằng là dâng hồn - nghĩa là trao hết thảy niềm tin, trao “hết mình”, dâng hết nỗi cô đơn vò võ mong tìm sự sẻ chia, đồng cảm. Một đằng là dâng câu chuyện xưa phảng phất buồn, là kéo câu chuyện ấy về hiện tại để làm cớ thổ lộ tâm tình. Phải chăng vì thế người kĩ nữ của Xuân Diệu cứ cuống quýt, rối rít van xin, còn “Ta” trong Màu thời gian thì bình tĩnh, lẳng lặng. Với một “Ta” như thế, màu thời gian tất không thể sáng, đậm, hương thời gian tất không thể nức, nồng:
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh.
Có lẽ để chứng minh cho màu “tím ngát” của thời gian – màu của những mối tình thủy chung, trong sáng trong buồn thương xa cách – nhà thơ lại trở về với người xưa. Nhắc lại những câu chuyện tình nổi tiếng trong lịch sử, lời thơ bỗng chuyển sang điệu thất ngôn, lên âm vực cao với nhịp vừa nhanh vừa trang trọng khác với âm điệu chầm chậm, êm ái của khổ thơ ngũ ngôn trước:
Tóc mây một món chiết dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng.
Nhớ lại chuyện nàng Lí phu nhân thủa trước, Đoàn Phú Tứ tưởng tượng một người cung phi lúc gần mất không chịu để vua xem mặt mà chỉ cắt tốc dâng gọi là đáp lại mối tình trìu mến của đấng quân vương. Nhưng Lí phu nhân không có chuyện cắt tóc. Để có “Tóc mây một món chiếc dao vàng” này lại phải nhớ chuyện Dương Quý Phi với Đường Minh Hoàng nữa. Dương Quý Phi sắc nước hương trời lúc mới vào cung vốn có tính hay ghen. Vì thế, Đường Minh Hoàng sai giam nàng tách ra một nơi. Song nhớ người đẹp quá, nhà vua sai Cao Lực Sĩ ra thăm. Dương Quý Phi cắt tóc gửi vào dâng vua để tỏ rõ lòng mình. Thấy thế, Đường Minh Hoàng thương quá, lại vời nàng vào cung. Nhờ món tóc mà Dương Quý Phi lại được sớm chiều gần gũi đấng quân vương. Nàng Lí phu nhân thà phụ chàng chứ không muốn để Hán Võ đế xem thấy dung nhan tiều tụy. Đoàn Phú Tứ đã khéo trộn hai chuyện ấy làm một: nàng cung phi chỉ cắt tóc dâng vua thôi còn vẫn giữ khoảng cách “nghìn trùng e lệ”. Và thế là nàng cung phi của Đoàn Phú Tứ tội nghiệp, xa vời hơn Dương Quý Phi và cũng lãng mạn, thiết tha hơn Lí phu nhân rất nhiều!
Với một nàng cung phi như thế, “Duyên trăm năm dứt đoạn, Tình một thủa còn hương”. Mối tình thủy chung thâm kín trong xa cách quả đã ngậm hương cho muôn đời! (Sự đối lập giữa “một thủa” và “trăm năm” càng tô đậm vẻ bất diệt của hành động chung thủy). Bài thơ kết thúc bằng việc láy lại ý tưởng về thời gian ở đoạn trước:
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát.
So với trước, trình tự hương với màu được đảo ngược để đảm bảo âm điệu thơ, mặt khác cũng để tô đậm vào ấn tượng người đọc màu tím ngát của thời gian.
Các nhà Thơ mới bày tỏ nhiều quan niệm khác nhau về thời gian. Với Xuân Diệu, thời giai thấm thoắt tới qua đồng nghĩa với sự tiêu trôi, hủy hoại, trở thành kẻ thù của sắc xuân và tuổi trẻ (một cái nhìn đậm màu sắc duy lí về thời gian tuyến tính). Với Chế Lan Viên, thời gian chỉ là sự gợi nhắc về quá khứ “xa lăm lắm”, về những nẻo đường thu ngập lá vàng... Thời gian, qua con mắt của Đoàn phú Tứ, bỗng mang hương vị, màu sắc của những mối tình thiên cổ. Ông đã lặng lẽ nhìn thời gian bằng trái tim rung động thiết tha mà nhẹ nhàng, thầm kín. Trái tim ấy có con đường triết lí riêng của nó. Trái tim ấy có nhịp đập riêng của nó.
Người Pháp thường bảo thời gian màu xanh. Quan niệm ấy gắn liền cùng lòng lạc quan, cùng cảm hứng nồng nàn, tươi trẻ. “Cãi lại” quan niệm bằng “màu thời gian tím ngát”, Đoàn Phú Tứ đã “phổ” vào thời gian một ý vị triết lí – tâm tình thâm trầm sâu sắc. Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ nhuốm những câu chuyện tình thiên cổ thắm thiết thủy chung và phảng phất bi thảm. Mà ngẫm cho cùng, bản chất của tình yêu là thế: càng đẹp hơn trong xa cách đau thương, càng tỏa hương, tím ngát khi mang mùi vị của chia li, mất mát.
Mở đầu bài viết chúng tôi đã nói đến cái “kênh” đặc biệt mà trong đó Màu thời gian tuôn chảy. Niềm thất vọng khi không thể giải thích rõ rệt hết Màu thời gian sẽ được an ủi phần nào khi đặt nó vào tín ngưỡng thơ mà nhóm Xuân thu nhã tập tôn thờ. Nhóm sáng tạo này xem thơ thiêng liêng, cao quý ngang với Đạo, với Tôn giáo, với Tình yêu, “thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu”. Theo quan niệm của Đoàn Phú Tứ, khi làm thơ, thi sĩ thoát khỏi mọi chuyện tầm thường để rung động trong cõi vô cùng vô tận: “Thoát khỏi cái Tôi dày đặc, tối tăm, ta đã sáng suốt vươn tới cõi vô cùng bằng Tình yêu, hằng Thơ, bằng Tin tưởng”. Quan niệm thơ là thứ trí thức cao cấp, thiêng liêng như thế dẫn đến sự khẳng định tính hàm súc, tính đa nghĩa, thậm chí việc không thể giải thích nổi của loại hình nghệ thuật này: “Thơ là một cái gì không giải thích được… Nó tràn sóng sang người đọc, được rung động theo nhịp điệu của Tuyệt đối… Ta là chiếc đàn muôn dây, rung theo nhịp điệu của vô cùng, và trên cánh nhạc, ta cảm thông với sự thật của Trời Đất, sự thật tuyệt đối”.
Quả thế, Màu thời gian tức thời lay động toàn bộ tâm hồn ta, mê hoặc ta bởi “Hương thời gian thanh thanh, Màu thời gian tím ngát”. Cũng là hương là màu đấy nhưng ngẫm ra không phải được cảm nhận bằng những giác quan nhạy bén như Xuân Diệu. Ai mà nhìn được màu, mà biết được hương của thời gian (Ngay cái tên bài thơ đã mang tính triết lí trong sự huyền ảo). Phải chăng ấy là một tâm hồn đang rung theo nhịp điệu của vô cùng, đang vô định giữa hiện tại và quá khứ, đang lạc vào chốn xa xăm huyền bí nào đó.
Chính vì thế, cái hay của Màu thời gian không phải dành hết cho mọi người. Nó thuộc hạng thơ cao cấp, sang trọng. Nó chỉ hợp với những ai có tri thức, có văn hóa thơ. Về phương diện này, tiếng thơ Đoàn Phú Tứ và của các thành viên Xuân thu nhã tập hẳn không thể “ đại chúng hóa” như thơ Nguyễn Bính.
Màu thời gian là một bài thơ thanh, đạm sau khi đã nồng. Nó cất lên lời tâm tình mang ý vị triết lí thâm trầm, kín đáo. Bài thơ cũng thật giàu chất nhạc trên con đường đi về tự nhiên giữa hiện tại và quá khứ. Soi thời gian qua lăng kính của tình yêu, Đoàn Phú Tứ đã nhìn thấy một màu tím ngát. Cái nhìn tím ngát ấy phảng phất buồn nhưng đang tỏa hương thanh, nhưng là buồn dịu, buồn thắm.
Hương và màu thời gian của Đoàn Phú Tứ thanh lọc tâm hồn ta trong nỗi buồn ấy.
lÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Người ta vẫn nghĩ Đoàn Phú Tứ chỉ có tài viết kịch và diễn kịch. Nhưng thơ hay không cần nhiều. Đoàn Phú Tứ chỉ làm có dăm bảy bài mà hầu hết là những bài có đặc sắc. Ấy là một lối thơ rất tinh tế và rất kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm giác rất nhẹ nhàng. Người xem thơ cũng biết rằng đây là hình ảnh của một đôi mẫu đời, nhưng hình ảnh mờ quá không thể đoán những mẫu đời kia ra thế nào. Có khi cả ý nghĩa bài thơ cũng không hiểu rõ.
Nhiều người khi làm thơ chỉ biết có mình, không giấu giếm gì hết: thơ làm ra in trên báo lên sách thì được, nhưng không thể đưa ra đọc trước người khác vì quá sỗ sàng. Đoàn Phú Tứ không thế. Tôi tưởng Đoàn Phú Tứ có thể đọc thơ mình trước mọi người mà không sợ ngượng”.
 “Nói về toàn thể nên chú ý đến điệu thơ. Bài thơ bắt đầu bằng những câu dài ngắn không đều: âm điệu hoàn toàn mới. Kế đến bốn câu ngũ ngôn cổ phong, một lối thơ cũ mà các thi nhân gần đây cũng thường dùng. Bỗng chuyển sang thất ngôn: điệu thơ hoàn toàn xưa. Lời thơ cũng xưa với những chữ “phụng quân vương” và những chữ lấy lại ở câu Kiều:”Tóc mây một món dao vàng chia hai”. Nhưng với hai câu thất ngôn dưới thi nhân đã từ chuyện người xưa trở về chuyện mình. Những chữ “thiếp phụ chàng” đưa dân về hiện tại. Rồi điệu thơ trở lại ngũ ngôn với hương màu trên kia.
Thành ra ý thơ, lời thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân đi từ hiện tại về quá khứ, từ quá khứ gần đến quá khứ xa, rồi lại dần dần trở về hiện tại. Hiện tại chỉ mờ mờ nhạt nhạt, nhưng càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rực rỡ, Nhất là từ chỗ ngũ ngôn chuyển sang thất ngôn câu thơ đẹp vô cùng. Tôi tưởng dầu không hiểu ý nghĩa bài thơ người ta cũng không thể không nhận thấy cái vẻ huy hoàng, trang trọng của câu thơ.
Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh thế và kín đáo như thế”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr. 98 – 100)
17.CHIỀU XUÂN
- ANH THƠ
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.
Chúng ta hãy tưởng tượng: sẽ ra sao gương mặt Thơ mới 1932 – 1945 nếu thiếu vắng Bức tranh quê của Anh Thơ, thiếu vắng những sáng tác của Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ? Chắc hẳn sẽ mất đi một mảng sắc màu thú vị! Một đất nước tuyệt đại đa số là nông dân, chủ yếu sống nhờ vào thôn quê mà không sản sinh nổi vài ba thi sĩ như thế thực là điều đáng phải suy nghĩ.
Vậy nữ sĩ Anh Thơ đã góp một phần vào việc “cân bằng sinh thái” cho đời sống thơ ca lúc bấy giờ (Chúng tôi không nói thơ ca Việt Nam 1930 – 1945 trong đó có Phong trào Thơ mới lãng mạn đã ở trạng thái cân bằng). Bên cạnh bao bậc đàn anh đang tạo nên sự đa thanh, đa giọng điệu cho Thơ mới hồi bấy giờ, Anh Thơ đã đem đến một tiếng thơ điềm nhiên, có phần dửng dưng, bình tĩnh. Nữ sĩ đã làm dịu tâm hồn người đọc bằng cách đưa họ về với những bức tranh quê yên bình, trong đó như ngưng đọng nhịp sống thong thả ngàn đời của người nông dân Việt Nam. Cái nóng nguội bớt nhờ cái lạnh. Thú mộng ảo, nỗi thương vay nhớ hờ giảm đi chút nào nhờ cái thực, nhờ sự gần gũi xung quanh.
Ba khổ thơ của Chiều xuân là một bức tranh quê cỡ lớn với ba khoảng không gian rất đặc trưng. Các khoảng không gian (hay các bức tranh nhỏ) này được xác định rõ ràng bằng ba trạng ngữ chỉ nơi chốn: “trên bến vắng”, “ngoài đường đê”, “trong ruộng lúa”. Ba mươi bộ của tập Bức tranh quê được viết đều đặn trong ba mươi ngày, vào một khoảng thời gian cố định (mỗi buổi trưa), được chia đề tài theo hướng định sẵn: “Làm tả cảnh bốn mùa, cảnh mưa nắng, cảnh lụt, cảnh hạn, tả phiên chợ, đám cưới, đám ma, ngày hội, ngày Tết… Cứ nghĩ đến đâu, thích cảnh gì, làm một bài thơ tả cảnh ấy. Làm rất nhanh…”. Lối sáng tác thơ “thủ công nghiệp”, theo “thao tác dàn bài” ấy đã in sâu vào dòng mạch bố cục từng bài thơ. Phần lớn các bài thơ Bức tranh quê đều gồm ba khổ, là sự hợp tạo, chung cộng của ba bức họa nhỏ được xác định khá minh bạch bằng từng trạng ngữ chỉ không gian.
Khi bố cục như thế, sự hay dở của bài thơ tùy thuộc vào đầu óc quan sát, vào tình người gửi trong cảnh vật. Các bức tranh trong Chiều xuân chứng tỏ một khiếu quan sát tinh tế, nhạy bén và gợi ở người đọc những rung cảm chân thành, trong sáng và thiên nhiên, cuộc sống làng quê.
Đây là thiên nhiên của nông thôn Việt Nam, hơn thế, của vùng đồng bằng Bắc bộ chứ không thể ở nơi nào khác. Ở đâu có nữa những “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng”, những “chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”. Ở đâu có nữa “Những trâu hò thong thả cúi ăn mưa”, “ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ”. những “Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra”, ”Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng”. Và ở đâu có nữa những cô nàng yếm thắm đang lặng lẽ “Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa”... Chiều xuân mang nhịp sống thong thả, yên bình dường như cố hữu của phương thức sản xuất nông nghiệp phong kiến chứ không chát chúa tiếng trống thúc thuế dồn sưu, không vang động tiếng kêu trời oan ức của những người nông dân nghèo bị áp bứt như trong nhiều tác phẩm hiện thực phê phán. Ấy là sự thản nhiên của Anh Thơ - thản nhiên gạt ra ngoài những ồn ào, các chấn động mạnh mà tìm đến những gì tĩnh lặng, trong sáng. Hãy chú ý đến hệ thống từ ngữ, nhất là các từ láy trong bài thơ – tất cả đều gợi nên cảm giác êm đềm, lĩnh lặng ấy: êm êm, bến vắng, biếng lười nằm, im lìm, vắng lặng, vu vơ, rập rờn, thong thả… Những chữ ấy tạo nên không khí lắng dịu của buổi chiều xuân. Cũng như có khi chỉ lá ít bông hoa mướp, một lũ chuồn chuồn mà Anh Thơ gợi nên cả cái không khí thu:
Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay
Khiếu quan sát tinh tế ấy cùng tâm hồn gắn bó với cuộc sống thôn quê đã giúp Anh Thơ viết nên không ít vần thơ diễn tả sinh động cảnh và tình trong cảnh. Điều đáng quý là dù có chỗ trùng lặp (giữa các bài thơ) nhưng những bức tranh quê của Anh Thơ đều là kết quả của sự quan sát, từng trải thực, đều là những cảnh gần gũi xung quanh chứ không mang tính ước lệ khuôn sáo. So sánh Chiều xuân của Anh Thơ với bài thơ cũng cùng tên của Quách Tấn, chúng ta càng thấy rõ điều này:
Chim mang về tổ bóng hoàng hôn
Vàng lửng lơ non biếc đọng cồn
Cành gió hương xao hoa tỉ muội
Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn
Khói mây quanh quấn hồi chuông vọng
Trời biển nôn nao tiếng địch dồn
Thưởng cảnh ông câu tình tự quá!
Thuyền con chở nguyệt đến cô thôn.
Từ thể thơ đến hình ảnh, từ ngữ, Chiều xuân của Quách Tấn quả là sáng tác của “một sứ giả đời Đường, đời Tống”. Nó đẹp một cách trang trọng, cổ điển chứ không mang màu sắc dân dã, thân mật như bài thơ của Anh Thơ. Hình ảnh mưa xuân đổ bụi, con đò bến nước, hình ảnh những chòm hoa xoan “lớp lớp rụng vơi đầy”, những cánh bướm rập rờn trôi… ta cũng bắt gặp trong nhiều bài thơ của Nguyễn Bính – một ngòi bút rất tài tình khi khơi dậy cái hồn quê, tình quê.
Khi phân tích mặt “chưa đạt” của Chiều xuân, có nhà nghiên cứu đã nhận xét: “Tiếc rằng bài Chiều xuân vẫn có phần “chưa làm xong”: hiển ngôn – cảnh – thực thì “hữu dư” mà vô ngôn – tình – hư còn “bất túc”. Mặt chưa đạt này, theo nhà nghiên cứu, phản ánh hạn chế chung là “thiếu hụt một vế” của cả tập thơ. Bức tranh quê chứa nhiều thành tố cảnh mà tình chưa tương ứng, nhiều thực quá mà còn thiếu hư, hiển ngôn tả lấn át vô ngôn gợi… Hầu hết thơ trong Bức tranh quê chỉ mới như hoàn thành một nửa – đó là những bài thơ dang dở”. Có lẽ chưa thật “tâm phục khẩu phục” với ý kiến này nên chính Anh Thơ đã giãi bày: “Trước khi làm Bức tranh quê tôi cũng đã sáng tác được nhiều bài thơ có đủ cả hai vế cảnh và tình, chứ không đến nổi chỉ biết làm một lối tả cảnh mà không biết tả tình. Và khi làm Bức tranh quê tôi đã học được lối gợi tình cảm thật hàm súc của thơ Đường và phát triển bằng cách để khách quan nói lên sự vui, buồn, yêu, ghét của mình…”.
Quả thật, nếu đọc liền một mạch cả tập Bức tranh quê, không khỏi có cảm giác đơn điệu. Ít đổi thay về thể thơ, về bố cục. Ít biến hóa trong cấu tứ, trong xây dựng hình ảnh. Chỉ thực mà rất ít mộng. Và Bức tranh quê cũng chẳng phải là trường hợp cá biệt. Đọc thơ của một số tác giả (kể cả thuộc giai đoạn hiện nay) ta thường thấy hiện tượng: tách riêng dăm bảy bài thì thấy hay, thấy mới nhưng đọc liền cả tập thì nhận ra sự trùng lặp, sự đơn giọng. Bởi thế, cũng cần chia sẻ với cảm giác này của nhà phê bình Hoài Thanh ở Thi nhân Việt Nam: “Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa”.
Cảm giác đọc cả tập là thế. Nhưng khi phân tích từng bài mà cho rằng “Hầu hết thơ trong Bức tranh quê chỉ mới như hoàn thành một nửa – đó là những bài thơ dang dở” thì lại hơi “nặng giọng”. Mỗi người làm thơ có một tạng cảm xúc, tâm tình và người ta có lắm kiểu “ngụ tình” trong thơ. Đã đành có khi Anh Thơ muốn hàm súc quá, muốn để khách quan tự nói lên tình cảm của mình quá đến mức người ta chẳng còn thấy xao động, bồng bột của một cá nhân. Nhưng khá nhiều bài trong Bức tranh quê vẫn chứa đựng một cái tình nhè nhẹ, kín đáo đối với cảnh sắc, con người chốn làng quê. Đằng sau những bức tranh cảnh và người ấy chúng ta vẫn tìm thấy thế giới bên trong của hồn quê đất Việt.
Không náo nhiệt, ồn ào. Không vất vả lam lũ. Càng không nức nở quằn quại dưới ách cai trị của địa chủ phong kiến, thực dân. Nghĩa là tước đi cái màu sắc hiện thực về xã hội nông thôn đương thời. Ngòi bút Anh Thơ dựng nên một thế giới quê tĩnh lặng, thanh thản, nhiều khi mang tâm trạng ngẩn ngơ, một chút buồn vu vơ của tâm hồn thi nhân. Chiều xuân cũng thế: nó gợi trong ta cảm giác về sự ngưng đọng, bất biến. Cái cô nàng yếm thắm đang cào cỏ ruộng nào đó chỉ khẽ giật mình một chút thôi (và sự giật mình như thế không nhiều trong Bức tranh quê). Màu sắc ở đây không chín ửng, không thắm, âm thanh ở đây không “vắt vẻo”, “hổn hển” như trong Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử. Ngay sắc cỏ trong hai bài thơ này cũng khác nhau: “Sóng cỏ xanh tươi gợn đến trời” lớp lớp dâng đầy mãnh liệt chứ không vô tâm, bằng phẳng như “Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ”. Mùa xuân chín vẽ nên cái đẹp tươi thắm, rực rỡ mà mong manh trong tâm trạng thấp thỏm nhìn tới ngày mai và bâng khuâng ngoái về quá khứ. Chiều xuân phác họa một thế giới bình ổn bằng những gam màu dịu mát.
Nghĩ lại thời làm thơ trước Cách mạng, Anh Thơ khiêm tốn nhận mình “chỉ là người em gái út của Phong trào Thơ mới”. Tác giả Bức tranh quê ví tập thơ này của mình chỉ là bông hoa đồng nội bé nhỏ và khiêm nhường trước những sắc hương rực rỡ và thơm ngát của những bông hồng, bông cúc đại đóa, phù dung sáng chói…
Nhưng biết đâu, vì đã nhìn lắm thứ hoa rực rỡ sắc hương nên người ta lại để ý đến bông hoa đồng nội.
Biết đâu, lẫn vào giữa nhịp sống bon chen, hối hả ở chốn thị thành, nhiều khi người ta lại thèm muốn trở về với “con người nhà quê” vốn ẩn sâu trong mình, lại có nhu cầu để tâm hồn thăng bằng, thư giãn.
Phải chăng, đó cũng là một lí do để Tự lực văn đoàn trao giải thưởng về thơ năm 1939 cho Bức tranh quê.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ LIỆU THAM KHẢO
“Anh Thơ từ lâu chỉ chuyên lối thơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường: một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy. Thơ của người biệt hẳn ra một lối. Có kẻ sẽ cho Anh Thơ là người vô tình. Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình? Anh Thơ cũng đã bắt đầu làm những bài kể nỗi lòng mình. Hẳn người đã tập luyện nhiều lắm mới có thể đi đến cái thản nhiên, cái dửng dưng mà độc giả Bức tranh quê ắt phải lấy làm lạ. Nhiều lúc tôi tưởng người đã đi quá xa. Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh. Cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất này khác nữa.
Không, thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao. Thơ không cốt tả mà gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên một lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bay bổng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân. Như khi người tả cảnh bến đò trưa hè:
Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi
Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi.
hay tả cảnh một buổi sáng trong trẻo:
Gió man mát bờ tre rung tiếng sẻ
Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây
Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ
Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say.
Cảnh trong thơ cũng bất tất phải mênh mông. Một cái vỏ ốc đủ khiến ta nghe cả tiếng sóng biển rào rạt. Chỉ có ít bông hoa mướp, một lũ chuồn chuồn mà Anh Thơ gợi nên cả cái không khí thu:
Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay.
Thường người cũng không cần đến những cảnh vốn sẵn nên thơ như thế. Với một vài điệu nhỏ nhặt dường như thô lậu, người hé mở cho ta một cảnh trời. Chỗ này, giữa đám người ồn ào và đông đúc, vài ông thầy bói lặng lẽ đi:
Bước gậy lần như những bước chiêm bao.
Chỗ kia, đêm ba mươi tết, chung quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục.
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.
Cho hay, vô cùng chỉ có thế giới bên trong. Và hình sắc đẹp là hình sắc khéo dẫn người ta vào thế giới ấy “.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN, Thi nhân
Việt Nam. NXB Văn học, H, 1993, tr. 174 – 175)
 “Năm ấy tự lực văn đoàn đang có kì thi văn thơ. Khi tờ báo đăng thể lệ cuộc thi đến tay tôi, hạn nộp bài chỉ còn một tháng, làm sao tôi kịp làm thơ để dự thi? Bố tôi thỉnh thoảng bực mình vì vụ kiện, bực mình vì vợ kế, lại xoay ra nhiếc móc tôi không biết nối nghiệp mẹ mà buôn bán, giúp đỡ bố, chỉ ngồi làm thơ. Bố tôi nói: “Con gái làm thơ lắm chỉ hư thân! Tao mà vớ được lần nữa thì tao từ, tao từ!”. Chị Hai thương tôi bày kế cho tôi: “Buổi trưa thầy lên gác ngủ, chị cũng lên khâu vá. Mỗi bậc thang cô cho Hải, cho Trình, cho cu Chú canh. Hễ thầy dậy, chị đánh tiếng, các em sẽ báo cho cô biết, mà cất sách vở đi” (chị vẫn ý tứ gọi tôi là cô).
Làm sao xong được ba mươi bài mới đủ một tập để dự thi. Mỗi buổi trưa, chị Hai bưng quả trầu, thúng khâu lên gác, các em tôi ngồi suốt dọc cầu thang để canh. Tôi có một quyển sổ nhỏ và chiếc bút chì. Hễ có động là tôi dễ giấu.
Nhưng tôi sẽ tả những gì trong thư đây? Thơ tình yêu say mê như Xuân Diệu? Nhưng tôi đã được yêu và biết yêu đâu. Như Chế Lan Viên mơ nhớ xứ Chàm, nhưng có biết xứ Chàm ở đâu? Thơ Bạch Nga mười hai châu như Mai Hương và Nguyễn Vĩ? Cũng chịu. Vậy thì viết gì? Tôi lại làm thơ về phong cảnh xóm làng vậy. Xưa nay tôi chỉ biết xóm làng.
Hạn dự thi còn một tháng, tôi cứ chia ra mỗi buổi trưa làm một bài. Làm tả cảnh bốn mùa, cảnh mưa nắng, cảnh lụt, cảnh hạn, tả phiên chợ, đám cưới, đám ma, ngày hội, ngày Tết… Cứ nghĩ đến đâu, thích cảnh gì, làm một bài thơ tả cảnh ấy. Làm rất nhanh. Từ mười hai giờ đến một rưỡi chiều, hễ nghe chị Hai ho trên gác, các em đằng hắng một loạt, tôi vội vàng giấu biến giấy bút, ngôi nghiêm bên hộp khâu. Bố tôi xuống gác, mất nhắm mắt mở không thể ngờ tôi lại dám làm thơ ngay lúc bố tôi còn ở nhà.
Vừa ngày hết hạn cuộc thi, tôi cũng làm xong và gửi được tập thư đó”.
(ANH THƠ, Từ bến sông Thương (hồi kí)
NXB Văn học, H. 1986)
“Điều đáng quý ở Anh Thơ là chị tìm cảm hứng ngay từ những khung cảnh bình thường quanh chị. Chị không mĩ lệ hóa nhưng vẫn tìm được cái đẹp trong sự hình dị. Đoạn cuối bài thơ Chiều xuân vẫn là cảnh thường thấy ở chốn thôn quê: cảnh ngoài cánh đồng đang mùa cào cỏ. Bài thơ rất dễ bằng phẳng nếu ở đoạn cuối này không có nét gì đột biến. Nét đột biến ở đây là … một cô nàng yếm thắm, một cái giật mình. So và cảnh đầu của bài thơ, ở đây không giản đã hoạt động hơn, đã có con người làm lụng và cảm xúc, ruộng lúa sắp ra hoa thay vì hoa xoan rụng. Cảnh sắc bớt vắng vẻ, bài thơ có được cái ấm áp của đời thường”.
(VŨ QUẦN PHƯƠNG, Thơ với lời bình.
NXB Giáo dục, H, 1997)
18.SAY ĐI EM
- Vũ Hoàng Chương
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng xót thương, càng nhớ thương
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo!
Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê thường lẳng lơ
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm, não nuột, dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê, hồn gửi cánh tay hờ.
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần…
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Cố chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa
Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng
Chưa cuối xứ Mêli, chưa cùng trời Phóng đãng
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
Ta quá say rồi!
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi?
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Nếu lập một chiếu rượu cho các thi sĩ Việt Nam nửa trước thế kỉ này, chắc hẳn chúng ta phải mời Tản Đà và Vũ Hoàng Chương “cầm chịch”. “Kiếp say sưa đã chấm sổ thiên đình”, “Trời đất sinh ta rượu với thơ; Không thơ không rượu sống như thừa” (Tản Đà). “Xin dốc hết nồng say cho đến cặn; Uống cho mê và uống nữa cho điên; Rồi dang tay theo chậm gót Nàng men; Về tắm ở suối mơ, nguồn Tuyệt đối” (Vũ Hoàng Chương). Cả hai vị đến tự nguyện làm đồ đệ trung thành của Lưu Linh, đều tích cực “quảng cáo” cho cái thú say sưa trong men rượu.
Thế nhưng Tản Đà và Vũ Hoàng Chương mỗi người tìm đến nàng men bởi nguyên nhân khác nhau và vì mục đích cũng không giống nhau. Tản Đà thường say khi vui và say để mà vui, để được làm thần tiên ngoài mắt không còn biết cõi trần là gì nữa:
Khi vui, vui lấy kẻo già
Cơn men dốc cả giang hà chưa say.
(chưa say - Khối tình con II)
Vũ Hoàng Chương lại thường say vì sầu, vì ngao ngán, say đến điên rồ để “không còn biết chi đời”. Một đằng là cái thú phiêu diêu, có chút ngông ngạo của một nhà nho lãng tử. Một đằng là cái say của một cá tính ý thức quá rõ về sự “lạc loài” của mình, muốn tự quên mà không làm sao quên nổi. Ở chặng cuối con đường của cái Tôi cá nhân Thơ mới, Vũ Hoàng Chương đã đào sâu vào tận cùng bản thể để thêm thấm thía nỗi cô đơn, trống lạnh. Khi ấy, cái Tôi cá nhân càng phải gấp gáp tìm các cách trốn mình, trốn đời. Và Vũ Hoàng Chương đã chọn lối “đưa hồn say về tận cuối trời Quên” trên đôi cánh của nàng Men, nàng Tiên– Nâu, bằng đê mê trong những khoái lạc của trần tục.
Say đi em – bài đầu tiên trong tập Thơ say, xuất bản năm 1940 - trở thành thi phẩm tiêu biểu nhất cho cảm hứng trên của Vũ Hoàng Chương.
Bài thơ lôi cuốn người đọc bởi lối say quay cuồng, lời giục giã riết róng và nhịp điệu điêu luyện. Nếu nói Thơ mới đã thực hiện bước cách tân lớn lao về mặt tổ chức lời thơ để diễn tả sát hợp những cung bậc cảm xúc phong phú, phức tạp của cái Tôi trữ tình cá thể thì Say đi em là một dẫn chứng sinh động. Ở đây cuộn lên ba đợt sóng của cảm xúc: từ than vãn não nuột bỗng gấp gáp si cuồng rồi rã rời, đau đớn. Qua ngòi bút trau chuốt tài hoa của Vũ Hoàng Chương, nhịp điệu trên thể thơ tự do được đổi thay linh hoạt. Đó là nhịp của bước chân, động tác, của lời than, tiếng giục.
Lời than vãn ở cung bậc 1 mang vẻ ngậm ngùi giữa những kẻ “cùng một lứa bên trời lận đận”. Nó chứng tỏ dư vị Đông phương còn khá đậm đà trong tâm hồn thi sĩ Thơ mới Vũ Hoàng Chương:
Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương.
“Khúc nhạc hồng“, “điệu kèn biếc” thể hiện sự tương giao giữa các giác quan cảm nhận. Lối màu sắc hóa âm thanh ấy ta bắt gặp khá nhiều ở các nhà Thơ mới (nhất là ở Xuân Diệu, Bích Khê) khi thuyết tương ứng của Bôđơle được thế hệ thi sĩ này nhiệt tình hưởng ứng và học tập. Bên cạnh hai câu “mới” này, hai câu sau lại phảng phất gió sương của thời xưa cũ. Màu sắc “cũ” đậm hơn khi xuất hiện nỗi niềm hoài niệm, nhớ thương thời đã qua tươi, ngọt:
Đầu xanh lận đận, cùng xót thương, càng nhớ thương
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo!
Nhớ tiếc, liên tưởng xưa – nay đã trở thành một mô-típ trữ tình quen thuộc trong thơ ca phương Đông. Cái khác của Vũ Hoàng Chương là đã diễn đạt nó dưới dạng lời cảm thán của câu văn xuôi để gây ấn tượng trực tiếp, mạnh mẽ. Đến hai khổ thơ tiếp theo, sự điêu luyện của nhịp, của vần mới chứng tỏ rõ. Đây là sự kết hợp hai câu tám chữ với cặp câu lục bát để lời thơ thêm du dương không dứt:
Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp. Nghê thường lẳng lơ.
Đây là sự đan xen giữa những câu bốn chữ và những câu sáu, bảy chữ cùng lối gieo vần gián cách khiến âm điệu vừa nhịp nhàng, vừa lả lướt, như ru người ta vào cảm giác đê mê:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm, não nuột, dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê, hồn gửi cánh tay hờ.
Nhịp thơ lắng chìm xuống một chút theo “âm thanh gờn gợn nhỏ, ánh sáng phai phai dân” rồi vụt rộn lên cùng điệu nhảy, cùng cảm xúc “bốc lửa”:
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa
Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng
Chưa cuối xứ Mê li, chưa cùng trời Phóng đãng
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.
Hai câu trước được ngắt nhịp ngắn, đều 3/3 tái hiện các động tác tương ứng nhịp nhàng. Tiếp đó, nhịp thơ lại buông lơi trong cảm giác chập chờn, lâng lâng. Vũ Hoàng Chương muốn đi đến tận cùng cảm giác của kẻ say cuồng trong điệu nhảy:
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết
Niềm khoái lạc “đốt mình” trong những thú vui trần tục đến đây lên mức tột cùng. Nếu còn sống đến lúc này, chắc Tản Đà phải lắc đầu trước lối say của Vũ Hoàng Chương! Một cá nhân đau đớn vì cảm thấy “đầu thai nhầm thế kỉ” đang thả hồn quên lãng trong “những thứ say mới nhập cảng” (chữ dùng của Hoài Thanh ở Thi nhân Việt Nam), say đến “quên hết” chứ đâu còn vẻ ngất ngưởng thanh cao.
Người quá say rồi thì đâu còn nhịp nhàng theo điệu nhảy, đâu còn hô gọi, giục giã. Lời nói lúc này cũng không sao đứng vững. Đang trên âm vực cao nhất, lời thơ bỗng buông chùng như ngã trôi trong cơn say, bỗng rã rời theo cảm giác của thân thể:
Ta quá say rồi!
Sắc ngả màu trôi…
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi?
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Đến lúc này bước đã chếnh choáng, mắt đã hoa. Những ảo giác mập mờ xuất hiện: ánh sáng trôi trong tiếng nhạc, gian phòng điên đảo, ai đang ghì sát môi mình. Nhưng ngay giữa khi mắt mờ để hồn trôi vào quên lãng như thế, vẫn sừng sững hiện lên một thành Sầu:
Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
Nếu không có lời than thất vọng đau đớn này mà dừng lại ở cảm giác “say không còn biết chi đời” Say đi em sẽ giảm đi nhiều giá trị. Khi say, con người ta dễ thật với ruột gan mình nhất. Tản Đà chẳng từng nói hình tướng của chúng sinh (của mọi người trần thế) được hiện lên rõ nhất trong lúc say nhừ, say tít:
Mảnh hình hài quen giả trá xưa nay
Chúng sinh tướng lúc này coi mới hiện.
(Say – Khối tình con II)
Khi chếnh choáng đến cuối xứ Mêli, cùng trời Phóng đãng, mắt bỗng chạm phải thành Sầu. Cái thành Sầu ấy vững chãi quá dẫu “Đất trời nghiêng ngửa”! Ấy là nỗi đau đớn của Vũ Hoàng Chương. Thành Sầu đâu phải xây trên đất mà dựng tự trong hồn – một linh hồn cay đắng tự nhân lên gấp bội cảm giác lạc loài của một thế hệ. Vì thế, tưởng “Say không còn biết chi đời” nhưng không sao quên nổi (để tiêu tan thành Sầu ấy rượu và khiêu vũ không “đủ đô”, có lẽ vì thế về sau Vũ đành nhờ cánh khói của Nàng Tiên Nâu dìu cao mà vượt thoát). Trở lại chặng đầu phát triển của Thơ mới, ta thấy cái Tôi ở Thế Lữ, Lưu Trọng Lư đã chớm chán chường, đã sớm “mời say”, đã có những khi tìm đến cảm giác đê mê trong trụy lạc:
Ta ngây thơ như cô gái đương xuân
Nhưng đến nay, cô ấy trải phong trần
Đã dày dạn, thấy đời thô rõ qúa!
Lòng đã tắt không còn tin tưởng nữa
Thì quên đi! Quên hết để say sưa
Để mê li trong thú ái ân vờ
Để trốn tránh những ngày giờ trống trải.
(THẾ LỮ – Trụy lạc)
Có điều, cái ý muốn trụy lạc ở Thế Lữ còn thi thoảng, còn bình tĩnh hơn nhiều so với cái khát vọng say ở Vũ Hoàng Chương sau này. Nó cũng đang ngượng ngập nên thường tự thanh minh chứ chưa điên cuồng mà phát ra điệu thơ như Vũ Hoàng Chương. Nhưng điều muốn nói là mọi lối say sưa này đều khúc xạ những nỗi đau đớn của một thế hệ muốn sống có nghĩa lí, có niềm tin mà không sao tìm kiếm nổi. Càng say lại càng sầu, đó là nét đáng thương cảm cho Vũ Hoàng Chương ở Say đi em: “Có ai say để quên sầu? Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn” (Chén rượu đôi đường - Thơ say). Khi người ta hoàn toàn vô tâm, không còn biết buồn, không còn tự sầu thì cũng chẳng có gì đáng thông cảm nữa.
Vậy Say đi em, say mà vẫn tỉnh, vẫn da diết một niềm hận đời, một mối cô sầu.
Nhật xét về tập Thơ say, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cho rằng Vũ Hoàng Chương rất chú trọng đến sự gọt giũa lời thơ nên “lẽ tự nhiên là sự thành thực vì đó mà kém hẳn”. Nhà phê bình đánh giá “cái say của ông (tức Vũ Hoàng Chương) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật của ông, hơn là ở những tính tình ông thổ lộ”. Nhận xét này vừa đúng vừa có chỗ chưa phải lắm đối với Vũ Hoàng Chương. Quả Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ khéo chọn chữ, khéo tạo âm điệu nhưng không phải bao giờ ông cũng lấy đó để bù lấp cho sự rung cảm thành thực. Phần nhiều bài trong Thơ say, Thơ mây cái gốc vẫn là xúc động chân thành của cõi lòng và từ đó mà phát ra điệu thơ. Say đi em là một bài thơ như thế. Về trường hợp này, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nói: “Vũ Hoàng Chương có dụng ý muốn say để làm thơ. Cái dụng ý ấy không khỏi có hại. Nhưng một lần kia, bước chân vào tiệm nhảy, người bỏ quên dụng ý làm thơ ngoài cửa và lần ấy người đã làm một bài thơ tuyệt hay”.
Cái “tuyệt hay” của Say đi em ở sự dồn thắt nỗi đau đớn điên cuồng của một cá thể không sao tự phủ định. Nhà thơ vừa cổ vũ cho cảm giác đê mê trong lạc thú trần tục vừa thành thực và xót xa thừa nhận khối sầu đau chưa tan trong tâm hồn.
Cái “tuyệt hay” của Say đi em còn ở câu chữ và âm điệu biến hóa, nhịp nhàng và điêu luyện. Những con sóng của cảm xúc, của ngôn từ như ru, như cuốn người đọc bởi sức mạnh khác thường.
Vì thế, Say đi em cho ta hiểu thêm bi kịch của một cá nhân, một thế hệ, hiểu thêm khả năng kì diệu của ngôn từ tiếng Việt qua ngòi bút một thi sĩ tài hoa.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ lIỆU THAM KHẢO
“Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ. Vũ Hoàng Chương có dụng ý muốn say để làm thơ… cái say sưa của vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc, mặc dầu từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi. Nhưng trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa và bi đát riêng”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học. H, 1993, tr. 316:317)
“Thơ say đã đưa Vũ lên ngang hàng với những ngôi sao đáng chú ý trong Phong trào Thơ mới. Dù xuất hiện ở cuối mùa thơ, nhưng Vũ Hoàng Chương đã góp một tiếng thơ độc đáo mà chỉ những tài năng mới tạo ra được nó...
Thơ Vũ Hoàng Chương lấy cái Tôi làm chủ thể, lấy cảm giác nhập thần vào những phút giây mình là mình nhất mà viết. Xuân Diệu có cái đê mê vào tình yêu. Hàn Mặc Tử có cái đê mê vào cõi huyền điệu, thì Vũ Hoàng Chương đê mê trong cái khoái lạc của trần tục, của những quan niệm sống chỉ có mình mới hiểu mình nhất, mới thấy giải thoát khỏi mọi thứ sầu muộn rắc rối ở xung quanh…
Vũ Hoàng Chương dẫn Thơ mới vào cõi sâu xa cá tính. Thơ Vũ không hề bí hiểm, nhưng Vũ chẳng giống ai trước mình, và những người sau cũng chẳng ai bắt chước nổi. Vũ tạo nhạc, tạo tranh trong Thơ, Vũ chọn từ cho từng câu đắc ý, Vũ đắm hồn vào những trang thơ mà Vũ cho đó mới thật đáng gọi là Thơ… “.
(NGÔ VĂN PHÚ. Lời giới thiệu Thơ say,
NXB Hội Nhà văn, H, 1993, tr.6, 9)
19.TỐNG BIỆT HÀNH
- THÂM TÂM
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Vị trí của Thâm Tâm đối với Thơ mới có cái gì na ná như Thôi Hiệu đối với thơ Đường. Nếu chọn mười nhà thơ Đường lớn nhất, chưa chắc đã có Thôi Hiệu, nhưng nếu chọn mười bài thơ Đường hay nhất không thể không có Hoàng Hạc lâu. Vâng, kể tên mười nhà Thơ mới lớn nhất không chắc có Thâm Tâm, nhưng chọn mười bài Thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành. Thi phẩm là sự thăng hoa đột xuất của ngòi bút Thâm Tâm.
Bài thơ mang trong mình “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” đúng như cảm nhận của Hoài Thanh. Nhưng bài thơ cũng có cái khó hiểu riêng của nó. Chả thế mà, thời đại Thơ mới qua đi đã già nửa thế kỉ rồi, Tống biệt hành vẫn cứ gây khó hiểu cho thời đại này. Cuộc tranh luận trên Giáo dục và Thời đại và Văn nghệ hồi 1992 – 1993 chẳng phải là những “bâng khuâng khó hiểu” thế sao! Băn khoăn hàng đầu của cuộc luận chiến ấy là “Người ra đi là ai?”. Những người dựa vào hoàn cảnh ra đời thì khăng khăng rằng: đó là người chiến sĩ cách mạng đang “giã gia đình” lên chiến khu (Nghĩ cũng lạ. Hiểu thế là hoàn toàn dùng NGOÀI để hiểu TRONG, đã đành. Mà sáng tạo thơ đâu phải trực tiếp thế! Sự kiện ngoài đời đi vào hồn tác giả để trở thành hình tượng còn phải qua nhiều “bộ lọc” lắm: nào cảm quan riêng, nào khuôn mẫu riêng, nào chất liệu riêng nữa… Thế cho nên trong bài Ngày về, Chính Hữu viết về những chiến sĩ Trung đoàn thủ đô, mà hình tượng thơ vẫn cứ là những chinh phu, trượng phu kiểu trung đại đó thôi!). Những người chỉ căn cứ vào văn bản thì nhất quyết rằng đây chỉ là một trang nam nhi mang chí lớn. Có lẽ hiểu như thế là đúng mức. Bởi trong bài thơ, không có bất cứ chi tiết nào đủ làm căn cứ khẳng định đây là chiến sĩ cách mạng. Vả chăng, việc người ra đi có phải là chiến sĩ cách mạng hay không, không mấy quan trọng. Thậm chí nó không hề quyết định mảy may đến chất lượng nghệ thuật của thơ ca. Cái quyết định vẫn là tình người trong tiễn biệt chia li được thể hiện ở đây có sâu sắc không, chân thành không, mới mẻ không. Rồi, người ta cũng băn khoăn về “hoàng hôn trong mắt ai?”. Người đi hay kẻ ở? Ngay cả ba câu cuối cùng “Mẹ thà coi… Chị thà coi… Em thà coi…” là thế nào: những người thân là chủ thể hay đối tượng của “thà con?… Đến nay, nỗi “bâng khuâng khó hiểu” dường vẫn còn nguyên đó.
Người ra đi là ai? Câu hỏi vẫn rất cần lời đáp. Nhưng không phải là đặt anh ta vào tầng lớp, thành phần xã hội nào. Mà là xác định trúng nội dung của hình tượng “li khách”. Bởi điều này dường như quyết định đến giọng bi phẫn rất đặc sắc của bài thơ, cũng như các bí ẩn khác của nó.
Như cái tên của thi phẩm. Tống biệt hành viết về một cuộc chia li, tiễn biệt. Đề tài không mới. Vậy mà vẫn cứ độc đáo. Trước hết, có lẽ bởi đây là một “cuộc chia tay ngang trái và đầy uẩn khúc”. Nó vừa tiêu biểu cho thời đại ấy vừa có tính cách muôn thuở.
Người ra đi có một gia cảnh thật nặng nề: mẹ già, hai chị luống tuổi muộn chống, em còn bé thơ. Là con trai lớn, anh phải ở nhà để phụng dưỡng mẹ, để chăm sóc chị, để bảo ban em thì mới thuận cảnh, mới làm tròn bổn phận. Nhưng anh lại là một trang nam nhi mang chí lớn, ôm mộng lớn, mơ một nghiệp lớn. Thế là anh rơi vào tình thế giằng co giữa Bổn phận và Khát vọng. Nói một cách khác là sự giằng xé giữa TÌNH và CHÍ Khát vọng giục anh lên đường, Bổn phận níu anh ở nhà. Nếu như anh chỉ có một trong hai phẩm chất đó thôi, hẳn là không đau khổ. Đằng này CHÍ thì lớn, mà TÌNH lại nặng. Chẳng phải mâu thuẫn nội tâm này có tính cách muôn thuở đối với một trang nam nhi đó ư? Anh vẫn phải đi, không thể khác. Bởi thế, không nên máy móc rằng đi là nhẫn tâm, ở mới có tâm. Có tâm hay vô tôm không phải trong chuyện đi – ở nữa, mà là ở chỗ đi như thế nào thôi. Để có thể ra đi, anh phải tự làm rắn lòng mình lại, phải dùng cả ý chí và lí trí để dằn lòng, để cưỡng chế tình cảm. Anh phải quyết lòng dửng dưng, dứt khoát giã từ:
Đưa người ta chỉ địa người ấy
Một đã gia đình, một dửng dưng…
Đó không chỉ là chuyện đóng vai. Đó dường như còn là một nỗ lực của ý chí để kìm nén tình cảm nữa. Bởi chia tay là lúc lòng người ta dễ mềm yếu nhất. Những người thân có lẽ chỉ thấy vẻ bề ngoài, hẳn đã nghĩ rằng anh là kẻ vô tình, vô tâm, bạc bẽo. Duy chỉ có một người hiểu rõ bụng anh. Người ấy là tri kỉ của anh, và xem ra cũng là một trang nam nhi mang chí lớn. Người ấy là tác giả. Tác giả sẽ “bật mí” cùng ta:
– Ta biết người buồn chiều hôm trước…
– Ta biết người buồn sáng hôm nay…
Cuộc chia tay này khiến người buồn lấm. Cho đến tận lúc đi, người vẫn buồn, dù rằng người cố tình che giữ – “Bóng chiều không thắm không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”. Thì ra anh vẫn là người rất nặng tình. Không nặng tình sao có thể buồn da diết đến vậy!
Điều uẩn khúc là ở chỗ này đây! Con người anh hiện ra thành một sự tương phản giữa bề ngoài và bên trong. NGOÀI thì dửng dưng, lạnh lùng, kiêu bạc, TRONG thì quyến luyến, ngậm ngùi, buồn bã. Người thiếu cảm thông chỉ thấy bề ngoài, người tri kĩ thì cứ thấu từ trong ra!
Tất cả những uẩn khúc, trái ngang kia dường như đã hiện ra ngay từ khổ mở đầu. Và đây cũng là khổ thơ hay hơn cả:
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?.
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Cặp từ xưng hô ở đây đã khiến ta chú ý. Thật khó thay bằng một cặp nào khác. “Ta – Người” hàm chứa một khẩu khí. Khẩu khí gợi ra dáng điệu ngang tàng, ngạo nghễ của hai trang nam nhi cùng mang chí lớn và những cao vọng. Khổ thơ này dành nói riêng một nửa cuộc tiễn đưa: hai người bạn, hai người đàn ông. Có lẽ vì thế mà nó được viết rất tương xứng. Bốn câu thành hai cặp, hai câu hỏi, hai nỗi bâng khuâng, băn khoăn. Hai câu trên: nỗi lòng “người tiễn”, hai câu dưới: tâm sự “người đi” không bộc lộ theo lối trực tiếp, mà tình cảm được thể hiện gián tiếp thành những băn khoăn, lạ lùng – người trong cuộc như không hiểu được điều gì đang diễn ra trong lòng. Mỗi cặp câu ứng với một người, đối xứng với nhau, tạo ra cái không gian riêng của tình bầu bạn. Chỉ có họ là hiểu nhau. Lòng người tiễn được diễn tả bằng “tiếng sóng” (âm thanh), tình người đi được thể hiện bằng “bóng hoàng hôn” (hình sắc). Cả hai đều sâu kín, thật phù hợp với khí chất nam nhi – những người ít phô bày, biểu lộ tình cảm, mà thường kiềm chế, đè nén tình cảm của mình. Cách tổ chức khổ thơ thì theo nguyên tắc tương xứng. Còn cách khắc họa hình tượng thì lại theo nguyên tắc tương phản. Lời thơ, hình ảnh thơ, tình thơ tuôn chảy khá tự nhiên giấu kín bên trong hai cặp tương phản lớn. Ấy là sự tương phản giữa “người” với “cảnh” và tương phản ngay trong con người: giữa “bề ngoài” và “bên trong”. Cảnh thì bình thường dửng dưng (không gian, thời gian đều rất đỗi bình thường – “không đưa qua sông”, “Bóng chiều không thắm, không vàng vọt”), không hề có tác động, can thiệp gì đến lòng người. Vậy mà, nỗi buồn chia phôi đều có đủ. Thế mới biết lòng người quyết định tất cả. Dựng nên cảnh “tống biệt” này, dường như Thâm Tâm muốn chọi lại với người xưa. Cổ nhân quan niệm cảnh và người bao giờ cũng thống nhất, cũng mang chung một tâm trạng. Còn ở đây không thế. Cảnh thì vô tình. Con người thì mang một cõi lòng khép kín, cô đơn trước cảnh. Và viết “… không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”, Thâm Tâm còn như muốn chọi lại với cuộc tiễn “Kinh kha nhập Tần” trên sông Dịch thuở xưa nữa! Vì thế mà lời thơ không khỏi có chút giọng ngang tàng! Thực ra sự tương phản này không khó thấy. Sự tương phản ngay trong con người khó nhận thấy hơn! Mà xem ra nó tụ cả ở câu thứ tư – câu kết của khổ thơ:
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Khổ thơ này sử dụng âm “ong” với mật độ khá dày (không, sông, sóng, trong, lòng, bóng, không, không, trong, trong…). Nó tạo nên âm hưởng của những cơn sóng lòng đầy xáo động, xao xuyến. Nhưng ngoài việc đóng góp cho khổ thơ hai âm “ong” như thế, hai chữ “trong” ở câu này còn có một bí ẩn khác. Ấy là nó thể hiện được sự tương phản giữa “bề ngoài” và “bên trong” đầy uẩn khúc của người đi. Bề ngoài, anh tỏ ra dửng dưng, ánh mắt làm ra trong veo, cứ thản nhiên như không. Nhưng người bạn tri kỉ của anh lại thấy rõ bóng hoàng hôn ở chính ánh “mắt trong” ấy. Anh cố cưỡng chế tình cảm. Nhưng tình cảm vốn tự nhiên, nó vẫn cứ dâng lên, dù kín đáo, dù che giấu thế nào rồi cũng hiện ra thôi. Vậy là chỉ có đôi mắt tri kỉ mới có thể cảm thông được đáy sâu của đôi “mắt trong”. “Trong mắt trong” thật kiệm lời mà chất chứa nhiều dư ba, có một giá trị tạo hình, tạo chân dung thật tinh tế.
Tống biệt hành vốn còn bốn câu nữa và đấy mới là khổ kết:
Hơi thu đầu núi giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Buồn ở lưng trời nghe đã lại
Tiếng đời xô động tiếng lòng câm.
Khi tuyển vào Thi nhan Việt Nam, Hoài Thanh đã quyết định cắt bỏ cả đoạn ấy. Thế là Tống biệt hành đã kết lại ở bốn câu nghẹn ngào, tức tưởi đầy bi phẫn này:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi nhu chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Hình như đây mới là điểm đừng của lời thơ, đây mới là cái kết mà bài thơ cần phải tìm đến! Tiếc rằng nhiều người đã nhọc công để chứng minh những người thân là “chủ thể” hay là “đối tượng” của “thà coi”. Đúng là bài thơ này có một hiện tượng làm cho nó càng đượm vẻ khó hiểu: sự lưu chuyển giọng phát ngôn. Có lúc là lời người tiễn. Lại có lúc người tiễn nhập thân vào người đi để cùng cất lên tiếng nói bên trong của anh ta. Và đây chẳng phải là một sự nhập thân thế sao! Chúng ta đồng thời nghe thấy cả hai giọng không tách bạch được: giọng “nói thay” đầy cảm thông của kẻ tiễn, giọng độc thoại đầy bi phần của “li khách”. Và cho dù nó được cất lên bằng sự hòa giọng cũng chẳng đến nỗi khó hiểu lắm. Bởi hai giọng, hai sắc thái cũng chỉ một ý nghĩa, đều là tiếng lòng câm của li khách đấy thôi. Có nên duy trì cách hiểu theo lối loại trừ hoặc “chủ thể”, hoặc “đối tượng” thế không? Và có nên hiểu giản đơn rằng cách này là khổ tâm, còn cách kia là nhẫn tâm? Thực ra cách này hay cách kia đều chỉ là những sắc thái phản trái của cùng một nỗi đau lòng. Nhìn từ tính đa nghĩa của ngôn từ thơ và nhất là từ tâm sự đầy uẩn khúc kia của “li khách” ta sẽ thấy rằng ý nghĩa của câu thơ chính là sự chồng chất cả hai sắc thái ấy. Chẳng phải thế ư? Dù người đi đang khẩn khoản mong người thân “thà coi” mình như “chiếc lá bay”, như “hạt bụi”, như “hơi rượu say” (những thứ tồn tại mà như không tồn tại), hay anh ta đang dằn lòng, buộc lòng hi sinh cái bổn phận của mình, cái tình nhà của mình đến nỗi phải “thà coi” như thế, thì dù ở bề nào cũng là đau đớn, dằn vặt vì nỗi buộc phải chà đạp lên chữ “hiếu” chữ “nghĩa” mà thôi!
Cả hai đều là tiếng nói nghẹn ngào đắng chát của mặc cảm bất hiếu lỗi đạo ở một người con vốn nặng tình nhà mà lại chót mang chí lớn đó. Bởi sự chồng chất cả của hai sắc thái mà nỗi lòng anh ta nặng nề gấp bội. Và cần thấy rằng nếu không phải là người có hiếu thì không bao giờ có cái mặc cảm bất hiếu lỗi đạo ấy! Chỉ vì mang chí lớn, ôm ấp hoài bão lớn mà anh phải đành lòng vậy, cầm lòng vậy trong sự lựa chọn nghiệt ngã giữa Bổn phận và Khát vọng, chứ phải đâu anh ta là kẻ có trái tim sắt đá, vô tình!
Có thể nói rằng mặc cảm bất hiếu lỗi đạo là đỉnh điểm của tình cảm biệt li ở đây. Và mặc cảm chồng chất kia chính là một vẻ đẹp âm thầm đầy uẩn khúc của li khách. Thế đấy, người đi đã có một tri kỉ. Nhưng xem ra bài thơ đầy uẩn khúc này vẫn rất cần những tri âm!
Chu Văn Sơn
Tư liệu tham khảo 
“Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài thơ dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”.
Novembre 1941
(HOÀI THANH. Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941,
NXB Văn học, 1987)
“Hành là thể thơ thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Hán Ngụy, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ. Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn nhỏ, dài, ngắn, đều không cố định. Lời thơ thường là lời nói làm cho cái chí trong bài hiện ra lồ lộ. Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại. (…)
Người đi không chỉ có dáng dấp trượng phu “thoắt đã động lòng bốn phương” kiểu Từ Hải, mà còn có cái thật của tình cảm lúc chia biệt của người lính thú đời xưa. Hiển nhiên, đây không phải là cuộc ra đi đáng thương, đẫm nước mắt, mà là cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn. (…)
Cái hay của bài thơ chính là sự miêu tả vẻ đẹp của con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo”.
(TRẦN ĐÌNH SỬ. Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, 1995)
20.ÔNG ĐỒ
- Vũ Đình Liên
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Tiết trời gần vào độ cuối đông. Ở các làng hoa Nhật Tân, Quảng Bá nhiều cành đào đã lấm tấm nụ. Năm nay trời ít rét. Những người trồng hoa đang tìm cách hãm cho đào ấp nụ lâu để chờ dịp Tết.
Giữa việc làm ấy của người trồng hoa đào bây giờ với chuyện “vẫn ngồi đấy” kiên nhẫn của ông đồ già “muôn năm cũ” có gì giống nhau chăng? Vì kế mưu sinh, con người ta quá thừa kiên nhẫn. Nhưng ai mà chế ngự được thời gian, chiến thắng được quy luật vần xoay của tạo hóa. Muộn chút thôi, rồi đào lại nở. Gượng sức tàn, rồi ông đồ cũng phải rút lui vào hậu trường của xã hội. Vũ trụ và lịch sử cứ thản nhiên thực hiện cái quy luật sinh thành, và đào thải không cùng.
Chuyện thất thế rồi lụi tàn của số phận ông đồ là lẽ tự nhiên. Biết thế, nhưng bài thơ của Vũ Đình Liên gợi mãi trong ta niềm ngậm ngùi thương cảm. Ngày ấy, chẳng phải thi sĩ Xuân Diệu đã từng ngỡ ngàng: “Ờ nhỉ! Sao hoa cũng phải rơi?” (Ý thu). Hoa nào tồn tại mãi với thời gian nhưng đây là một lời hỏi rất người, rất thi sĩ. Nghệ thuật là thế: tìm những cái bất bình thường trong cái bình thường, “thắc mắc” lại những điều “có lí”. Cái tứ thơ của Ông đồ dường như chứa đựng sự mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí. Nếu lí trí lạnh lùng mách bảo: chuyện hoa phải rụng, vận ông đồ đến lúc phải suy là lẽ đương nhiên thì làm sao có văn chương, nghệ thuật.
Để viết được Ông đồ phải có trái tim mẫn cảm, tình thương người mênh mông. Đáng chú ý, đây lại là trái tim, tình thương của một người thuộc lớp mới, thuộc thế hệ trí thức Tây học (Vũ Đình Liên sinh năm 1913, làm bài thơ này khi mới 23 tuổi). Quả như Hoài thanh nhận xét: Ông đồ là nơi gặp gỡ của hai nguồn thi cảm: lòng thương người và tình hoài cổ. Bài thơ là “lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta” trước “cái cảnh thương tâm của nền học Nho lúc mạt vận”. Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay” -nhưng có một người đã “hay”, đã lặng lẽ, xót xa nhìn để viết nên bài thơ vào hàng tuyệt tác.
Người ấy không “phô” tình cảm thành những lời lâm li mà biết dồn nén. Ông đồ kể chuyện và tả cảnh theo trình tự thời gian. Đó là thột bài thơ có cốt truyện hẳn hoi. Song từ trong câu chuyện được kể ấy lấp lánh ánh nhìn, âm vang giọng nói của một nhân vật trữ tình. Sự cố kết giữa sự và tình ấy được diễn tả thật dung dị và kiệm lời bằng thể thơ ngũ ngôn. Năm khổ thơ giàu tính tạo hình của điện ảnh mà giữa các cảnh là những khoảng trắng mông lung:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bảy mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Sự xuất hiện của ông đồ già và việc bán chữ của ông như đã thành một thường lệ trong đời sống của xã hội này: “Mỗi năm… Lại thấy…”. Một khổ thơ mà có hoa đào nở (cũng mang ý nghĩa xác định thời gian), có phố đông người qua, có cả ông đồ già bên mực tàu, giấy đỏ… Nhà thơ như cao giọng phấn khởi, như tấm tắc cùng tiếng ngợi khen của bao nhiêu người:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Kẻ thuộc bậc đứng đầu tứ dân trong ngót chín thế kỉ (sĩ, nông, công, thương) mà giờ phải mài mực kiếm sống nơi hè phố. Thứ chữ mang đạo lí thánh hiền từng được bao thế hệ tôn sùng, chỉ để răn dạy và ngâm vịnh thanh cao mà lúc này đành đem ra so đo giữa “cơ chế thị trường”. Việc làm ấy cũng là điều cực chẳng đã, cũng là tủi, là tội nghiệp. Nhưng dẫu sao ở những năm ấy tài ông đồ còn được thuê, chữ ông đồ còn được trọng. Khi “Bày mực tàu giấy đỏ, Bên phố đông người qua” nghĩa là ông đồ đã chấp nhận thành kẻ bán. Kẻ bán thì cần người mua. Hàng hóa càng “có giá” khi được đông người mua. Lúc ấy có bao nhiêu người đang biết thưởng thức, biết xuýt xoa trước những nét bút như phượng múa rồng bay và có lẽ ông đồ đang tủm tỉm nụ cười mãn nguyện. Ta tưởng tượng ra cả đám đông đang chờ chực, đang xúm xít quanh ông đồ, cả bao ánh mắt thán phục, bao giọng nói trầm trồ trước những đường bút uốn lượn bay bướm. Và có riêng một người cứ lặng lẽ, trìu mến nhìn ông, nhìn cả đám đông kia…
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Về mặt bố cục, câu thơ này có nhiệm vụ chuyển tiếp. Chuyển ý bằng lời kể trực tiếp – ấy là sự “thật thà”, giản dị của bút pháp Vũ Đình Liên. Nhưng xét ra nó không “lạc giọng” bởi vẫn nằm trong mạch kể vào chuyện từ đầu. Hơn thế, đây là sự “thật thà cao tay” khi nhịp điệu của lời kể trở thành nhịp điệu của thời gian, nhịp điệu của suy thoái. “Mỗi năm mỗi vắng” – bước đi của thời gian gõ nhịp cho từng nấc tàn suy của cảnh bán mua quanh ông đồ. Khổ thơ thứ ba không tả ông đồ, chỉ tả giấy, mực để ta hình dung ra cảnh ngộ, tâm trạng nơi ông:
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.
Sự tách biệt “thắm” và “đỏ” càng khơi sâu vào nỗi buồn. Giấy vãn đỏ một kiểu vô hồn, lặng lẽ. Mực vẫn đọng yên trong nghiên. Giấy và mực cũng buồn và sầu cùng với chủ nhân của nó. Hai câu thơ trĩu nặng nỗi ưu tư, xót xa trước thời thế đổi thay. Đến khổ thơ sau, trên giấy đỏ ấy lại lác đác lá vàng:.
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Đây là khổ thơ giàu tính tạo hành nhất trong Ông đồ. Bằng bản tính kiên nhẫn, bằng chút hi vọng mong manh vào người đời (và cả bằng gắng gỏi cho miếng cơm manh áo nữa) ông đồ vẫn ngồi đấy. Phố vẫn đông người qua. Chỉ khác là lúc này “không ai hay” sự có mặt của ông nữa. Còn đâu cảnh xúm xít, còn đâu bao lời tấm tắc ngợi khen quanh ông. Thủ pháp tương phản được vận dụng thật tự nhiên: cái “tĩnh” càng trở nên lặng hơn bên cái “động”, cái “một” càng trở nên cô đơn, vón cục lại trước cái “nhiều”, cái náo nhiệt. Trước mắt ta, ông đồ ngồi bó gối nơi vỉa hè. Lá vàng rơi trên giấy không buôn nhặt. Mắt ngơ ngác, buồn rầu nhìn ra màn mưa bụi mịt mờ. Một không gian cảnh, một không gian người hiện lên mồn một như cảnh phim nổi đặc tả đầy sức gợi.
Khổ thơ kết thúc bài Ông đồ chứng tỏ sự hội tụ văn hóa thơ Đường, văn hóa thơ pháp nơi tâm hồn giàu thương cảm của Vũ Đình Liên. “Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông). Nỗi buồn mênh mang ấy trong thơ Thôi Hộ thật gần với ý thơ của nhà thơ Pháp thế kỉ XV Francois Villon ở bài Những người mệnh phụ xưa mà chính Vũ Đình Liên tạm dịch: “Đừng hỏi những người phụ nữ ấy bây giờ ở đâu. Những người tài hoa son trẻ ấy tìm lại thế nào được. Tuyết mỗi năm tan một lần. Làm sao tìm được tuyết năm xưa”. Niềm hoài cổ ở những tâm hồn lớn đã gặp nhau.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa.
Xuân lại về, đào cứ nở. Ấy là quy luật tuần hoàn bất diệt của tạo hóa. Đào đã nở từ khổ thơ đầu và lặng lẽ có mặt suốt bài thơ Ông đồ. Đào lại nở với khổ thơ cuối. Song màu thắm của đào lúc này chỉ làm tăng thêm cảm giác ngỡ ngàng trước sự trống vắng. Thủ pháp trùng điệp được vận dụng nhằm nhấn mạnh cái thiếu, cái hụt. Các chữ “xưa”, “muôn năm cũ” gợi sâu vào nỗi xa vắng, ngậm ngùi. Từ cảm nhận “cảnh đấy, người đâu”, lời thơ thoắt trở nên da diết, ám ảnh trong niềm nhớ thương vời vợi:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Từ việc không còn thấy thân xác, nhà thơ cất lời hỏi tìm hồn. Thì ra, những nét bút phượng múa rồng bay của ông đồ ở trên được Vũ Đình Liên cảm nhận như vẻ đẹp từ hồn. Thì ra, mối quan hệ giữa người viết thuê và bao nhiêu người thuê viết ở trên chính là cuộc giao cảm kì diệu trong cõi tinh thần. Đó thực chất là nhu cầu cần đổi trao, tiếp nhận văn hóa giữa những kẻ thiện tâm chứ đâu phải chuyện mua bán bình thường. Trong tâm thức người Việt. chữ “hồn” gợi lên cái gì linh thiêng, bất tử. “Những người muôn năm cũ” ấy trước tiên là ông đồ, là bao thế hệ nhà nho đã lấy đạo Nho, chữ Nho làm lẽ sống. Trước luồng gió Âu hóa ào ạt thắng thế này, hồn họ đang trú ngụ nơi đâu?
“Những người muôn năm cũ” còn là “Bao nhiêu người thuê viết” những năm xưa. Ở khổ thơ thứ ba, đã một lần nhà thơ hỏi: “Người thuê viết nay đâu?”. Những người ấy hoặc đã khuất, hoặc đã nhạt phai tình yêu thú chơi chữ Nho – một nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc. Chính họ đã phũ phàng, đã vô tình đẩy ông đồ ngày một xa hoa đào nở, xa mực tàu giấy đỏ.
Hỏi hồn “Những người muôn năm cũ” hay cũng tự hỏi hồn mình? Lời “khấn khứa tưởng niệm” này có lẽ còn mang ý nghĩa âm thầm “ân hận sám hối”. Vũ Đình Liên muốn khơi tìm cái “cũ” trong hồn của một lớp người mới – lớp người hiện đại như ông. Họ đã vô tâm lướt qua ông đồ, đã quên đi bóng dáng trong kí ức của chính tâm hồn mình. Tứ thơ của Villon ở trên hàm ý chấp nhận sự vĩnh biệt dĩ vãng, còn câu kết thúc bài Ông đồ lại tha thiết ước mong tái ngộ với một nỗi niềm ân hận. Trong tầng sâu của nó, bài thơ Ông đồ nhắc ta không phải chỉ cần thủy chung với người khác mà còn cần biết thủy chung với chính mình.
Trên năm khổ thơ ngũ ngôn, cả một dòng thời gian thấm thoắt chảy trôi, cả một lớp người lùi xa về dĩ vãng. Cuốn phim Ông đồ chẳng nhiều cảnh mà dung chứa quá trình vận động của một thời đại, thăng trầm số phận của một lớp người. Bài thơ thật giản dị từ bố cục đến ngôn từ nhưng đầy sức ám ảnh. Nếu nói rằng sức mạnh của thơ nằm nhiều ở các khoảng trống, ở sự im lặng giữa các từ thì Ông đồ là một dẫn chứng sinh động.
Chính vì dồn nén chặt, vì dành nhiều khoảng trắng nên Ông đồ đã gợi ra nhiều cách hiểu. Khi phân tích bài thơ này, một vấn đề đặt ra: ông đồ biểu tượng cho cái gì? Sự thất thế, tàn lụi của ông nêu lên vấn đề gì? Điều dễ thừa nhận là Ông đồ đã đánh động trong chúng ta nhiều tâm trạng: nỗi buồn hoài cổ, sự tiếc nuối quá khứ vàng son, lòng thương xót số phận hẩm hiu của những nhà nho… Nó chứa đựng cả một hệ vấn đề: bi kịch của sự gặp gỡ Đông Tây, sự suy vong và cáo chung của một thời đại, sự biến mất vĩnh viễn của một lớp người. Nhưng có nên từ sức ngân vang ấy của Ông đồ mà cho rằng bài thơ là lời ai điếu cho “thậm chí cả một nền văn hóa từng vang bóng trong hàng chục thế kỉ”. Có bắt ông đồ chịu đựng quá sức chăng khi đặt lên vai ông vấn đề số phận của nền văn hóa dân tộc? Sẽ là suy diễn lâm li khi hiểu chữ “hồn” ở dòng thơ cuối bài là “hồn nước”, là “quốc hồn, quốc túy”. “Hồn ở đâu bây giờ”? Đó là một câu hỏi đầy khắc khoải, vang lên như tiếng nói từ nghìn xưa vọng về. Thể xác con người và các giá trị vật chất khác có thể chỉ là những thoáng phù du ngắn ngủi, tạm bợ, nhưng các giá trị tinh thần, cái “hồn” của một nền văn hóa, cái cốt cách tinh thần của một dân tộc, lại là những điều có ý nghĩa vĩnh cửu, tạo nên đặc trưng của một cộng đồng người nhất định. Do đó, mất đi cái “hồn” của một nền văn hóa cũng có nghĩa là “mất nước”, một sự mất mát lớn lao và không gì có thể bù đắp được. Với những liên tưởng và cảm nhận khác nhau, câu hỏi của nhà thơ “Hồn ở đâu bây giờ?” cũng chính là những câu hỏi đã làm day dứt biết bao người Việt yêu nước và yêu văn hóa dân tộc: “Hồn nước ở đâu? Hồn thiêng sông núi là đâu? Quốc hồn quốc túy là đâu?,… trong hoàn cảnh mất nước hoặc khi văn hóa dân tộc bị xúc phạm và tha hóa thì những câu hỏi trên luôn đặt ra, như một sự thôi thúc của lương tâm, trách nhiệm và tình cảm yêu nước. Với ý nghĩa đó, bài thơ Ông đồ cũng nằm trong truyền thống “chiêu hồn nước” của văn hóa Việt Nam, thể hiện phần nào tình cảm yêu nước của tác giả, tuy rằng tình cảm này còn khá mờ nhạt và mong manh”. Để tôn vinh một tác phẩm, người phân tích có khi ngỡ “quàng” vào nó càng nhiều vòng hoa giá trị càng hay. Nhưng thiện ý ấy lắm lúc lại phản tác dụng, lại dễ gây “dị ứng” cho người tiếp nhận. Hình ảnh ông đồ viết chữ, theo chúng tôi, là một nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc. Nét đẹp ấy chưa hẳn đáng mất đi giữa thời buổi văn minh phương Tây ồ ạt xâm nhập và lấn át trong đời sống xã hội lúc bấy giờ, nhất là ở chốn thị thành. Nhưng thực tế nó phải và đã mất đi (vì cái mới bao giờ cũng tiện lợi, cũng hấp dẫn hơn cái cũ, vì nó gắn với một lớp người đang ngày càng thất thế, già cỗi – kể cả về vị trí xã hội lẫn tuổi tác). Tiếc thương cho ông là ngậm ngùi trước sự thảm bại không tránh khỏi của một lớp người, sự mai một của một nét đẹp văn hóa dân tộc. Còn toàn bộ nền văn hóa dân tộc đâu chỉ nằm trong nếp thưởng thức chữ Nho và mất đi thói quen thưởng thức này đâu hẳn là tiêu tán mất cốt cách tinh thần dân tộc. Nội dung khái niệm văn hóa dân tộc phải xét trong sự tiếp biến, trong quá trình vận động. Dẫu ngậm ngùi trước sự thất thế rồi triệt tiêu của chế độ học hành, thi cử bằng chữ Hán, của Nho giáo và nhà nho trong mấy mươi năm đầu thế kỉ này nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng hiện đại hóa văn hóa, văn học là nhu cầu tự thân, là khuynh hướng tất yếu của đời sống tinh thần xã hội khi được kích tích bởi văn minh phương Tây. Đó là một bước tiến bộ của văn minh. Trong nền văn hóa dân tộc, có cái đành phải mất đi, có cái cần phải đổi thay để thích ứng. Cũng từ đó, bản sắc văn hóa dân tộc ta không già cỗi, tàn lụi mà ngày một giàu có thêm, được nâng lên những tầm cao mới.
Chúng tôi nghĩ rằng về nhận thức lí trí, Vũ Đình Liên không đến nỗi bảo thủ để khư khư mãi với mực tàu giấy đỏ, để riết róng trách cứ dòng người “Qua đường không ai hay” (trước “Ông đồ vẫn ngồi đấy”) kia. Song Ông đồ rung cảm sâu xa tâm hồn bao bạn đọc bởi nó là câu chuyện về số phận con người, về đạo lí thủy chung với ông cha, với quá khứ. Những câu chuyện ấy càng đậm màu sắc cảm thương, càng làm ta xúc động khi, thật đột đáo, gắn liền với một lớp người đáng kính, với một nét văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức nhiều thế hệ người Việt.
Với tầm ý nghĩa trên, bài thơ Ông đồ sẽ tồn tại mãi với thời gian và bất chấp biên giới không gian. Trên dòng đời, càng đến gần điểm cuối, con người ta càng hay ngoái nhìn về quá khứ, càng có nhu cầu được các thế hệ sau để tâm, trân trọng. Dòng thời gian cứ biến thiên bất tận, còn mỗi con người có mặt chỉ hữu hạn trên cõi đời… Bởi thế, đối với cả những người chưa hề thấy ông đồ, chưa hề thấy lối chữ tượng hình viết bằng mực tàu trên giấy đỏ, đối với con cháu chúng ta mãi sau này, bài thơ của Vũ Đình Liên vẫn thắp lên một nén tâm hương, vẫn như một lời nhắc nhủ thấm thía.
LÊ QUANG HƯNG
Tư liệu tham khảo 
“Trong làng Thơ mới, Vũ Đình Liên là một người cũ. Từ khi Phong trào Thơ mới ra đời ta đã thấy có thơ Vũ Đình Liên trên các báo. Người cũng ca tình yêu như hầu hết mọi nhà thơ hồi bấy giờ. Nhưng hai nguồn thi cảm chính của người là lòng thương người và tính hoài cổ. Người thương những kẻ thân tàn ma dại, người nhớ những cảnh cũ người xưa. Có một lần hai nguồn cảm hứng ấy đã gặp nhau và đã để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác: Ông đồ. Ông đồ hằng năm đến mùa hoa đào, lại ngồi viết thuê bên đường phố. “Ông chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn”. Ít khi có một bài thơ bình dị mà cảm động như vậy. Tôi tưởng như đọc lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta chỉ xúm nhau lại chế giễu họ quê mùa, mạt sát họ hủ lậu. Cái cảnh thương tâm của nền học Nho lúc mạt vận chúng ta vô tình không lưu ý. Trong bọn chúng ta vẫn có một hai người ca tụng đạo Nho và các nhà nho. Nhưng chế giễu mạt sát không nên, mà ca tụng cũng không được. Phần đông các nhà nho sót lại chỉ đáng thương. Không nghiên cứu, không lí luận, Vũ Đình Liên với tấm lòng dễ cảm đã nhận ra sự thực ấy và gián tiếp chỉ cho ta cái thái độ hợp lí hơn cả đối với các bậc phụ huynh của ta. Bài thơ của người có thể xem là một việc nghĩa cử.
Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ để lưu danh, đủ với người đời”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân
Việt Nam, NXB Văn học, H. 1993. tr.63 – 64)
“… Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm thía. Màu mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trắng của đoạn thơ, trước khi vào bốn câu kết:
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hay trở lại với câu thơ đầu bài “Mỗi năm hoa đào nở” để quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy”, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa “Không thấy ông đồ xưa”. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải là bóng dáng của một người, mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp, câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: “Những người muôn năm cũ”. “Muôn năm” thật ra chỉ vài ba năm, nhưng nói “muôn năm” mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ “muôn năm cũ” của câu trên dội xuống chữ “bây giờ” của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi”.
(VŨ QUẦN PHƯƠNG. Ông đồ, in trong Tác phẩm văn học
1930– 1975, tập 1, NXB Khoa học xã hội, H. 1990)

“Thơ vốn hàm súc nhưng đạt đến độ như Ông đồ thì thật đáng phục. Giữa cái thời ý tưởng tràn bờ, khuôn khổ lung lay, nhà thơ mới Vũ Đình Liên đã chừng mực chọn cho mình, thể thơ 5 chữ, thả dài 5 khổ. Chỉ 100 chữ, không cầu kì, cũng không tân kì, thế mà cả một thời lay lắt nghiêng ngả kéo dài nửa thế kỉ của Hán học và nhà nho gói trong đó, hé từng câu, phô từng cánh âm thầm tỏa ra cái “tiều tụy đáng thương của một thời tàn”.
(HOÀNG THỊ THƯƠNG. Những người muôn năm cũ,
hồn ở đâu bây giờ?. In trong Tiếng nói tri âm.
NXB Trẻ. 1994, tr. 35 – 40)
“Với Ông đồ, Vũ Đình Liên không xuất phát từ ý niệm hay biểu tượng. Ông khởi đi từ cảnh đời có thực. Ông đã tả những gì mà các giác quan ông ghi nhận được, hoàn toàn chân xác, không hề tô vẽ. Chúng ta thấy mỗ chữ, mỗi câu, mỗi đoạn đều cụ thể và giản dị như gạch ngói, nhưng lạ thay, khi kết thành nguyên khối lại lạo nên sức vang, lại thành biểu tượng.
Bài thơ đã thể hiện đồng thời hai sự biến dịch: sự biến dịch của vũ trụ và sự biến dịch của đời người.
Đặt cái vĩnh hằng của thiên nhiên bên cạnh cái nhất thời của kiếp người, đặt cái thời gian khách quan bất tuyệt bên cạnh cái thời gian đờ người hữu hạn. Vũ Đình Liên đã làm nổi lên cái bi kịch lớn nhất của kiếp người, trong khát vọng vươn lên đến sự vĩnh cửu”.
(NGUYỄN THỊ THANH XUÂN. Ông đồ – Cảm thức về thời gian và nỗi niềm dâu bể, in trong Tiếng nói là âm, NXB Trẻ, 1994, tr.54 – 57)
21.NHẠC
- BíCH KHÊ
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, – những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ồ côi lầu mây ánh gì kim cương
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động
Ô nàng tiên nương! – Hớp nhạc đầy hương.
Trong bài thơ nổi tiếng có tên là Huyền diệu, thi sĩ Xuân Diệu có nói đến một thế giới thật mơ hồ:
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của Du dương
Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương…
Ấy là cái thế giới hiển hiện trong giai điệu nhạc, trong âm điệu thơ, là thế giới của hương trăng, hồn hoa, những thanh âm đương ngả ngớn làm gợn lên những đợt sóng pha lê, trong đó ánh hào quang khiêu vũ cùng thanh điệu, sương khói ngân nga cùng ánh sao, thơ bay chơi vơi như những cánh hồng… Không phải thế giới thực, không phải thế giới mộng. Không phải cõi này, cũng không phải chiêm bao. Hai chữ “Du dương” muốn định danh thế giới này, nhưng xem ra chưa tới. Thực thì, chính Xuân Diệu đã cảm nhận được diện mạo của cõi ấy ở chính cái nhan đề! Đúng, đó là “thế giới huyền diệu”. Con đường thơ, nhìn ở một phía nào đó, chính là hành trình kiếm tìm đuổi bắt cái HƯ ẢO. Biên giới của thơ cứ mở ra xa mãi, sâu mãi vào cõi mơ hồ. Hồn thơ của thi sĩ các thời đại cứ say sưa theo đuổi những MONG MANH, HƯ THOẢNG, HUYỀN HỒ, như là những ảnh hình kì diệu nhất của THƠ. Tuy nhiên, cũng phải đến Thơ mới, địa hạt HUYỀN DIỆU mới được nói đến nhiều như một “miền đất hứa”, một cõi riêng xứng đáng nhất với THƠ. Và người có ý thức hơn cả về “thế giới huyền diệu”, có lẽ là Hàn Mặc Tử. Hàn đã thấy nó khi viết về Bích Khê: “Thi sĩ Bích Khê có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế, thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”. Ở một chỗ khác, hình dung về con đường tìm tòi của Bích Khê, Hàn cũng viết: “Sự say mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bến bờ của huyền diệu”. Có thể thấy hồn thơ Xuân Diệu vẫn lãng đãng đi về giữa thế giới Du dương và trần thế. Còn Hàn Mặc Tử và Bích Khê càng về sau đã siêu thoát hẳn vào cõi khác. Lầu thơ của hai thi sĩ này muốn tọa lạc hẳn trên địa hạt huyền diệu và được xây cất chủ yếu bằng vật liệu của “thế giới huyền diệu”. Vậy, rốt cuộc “thế giới huyền diệu” là gì? Dường như người ta chỉ có thể đến được thế giới này bằng thi cảm. Nó là một thực tại thuộc về tâm hồn thi nhân, là thực tại mà hồn thơ nắm độc quyền. Nếu vạn vật trên thế giới thực này hiện hữu bằng “thể phách”, thì phần “tinh anh” của vạn vật đã tụ hội, đã hòa nhập với nhau thành “thế giới huyền diệu”. Vậy nên, Huyền diệu là thế giới của thăng hoa. Nó là sản phẩm điển hình của tư duy tượng trưng. Nói khác đi, chỉ có tư duy tượng trưng là thích hợp nhất để đến với Huyền diệu, để tạo ra Huyền diệu.
Mà trong cái thế giới kì diệu huyền bí ấy, nhạc chẳng phải là sản phẩm huyền diệu bậc nhất hay sao? Hầu như nhà Thơ mới nào cũng bị hấp dẫn trước ma lực của nhạc. Biết bao nhiêu người viết về nhạc như một thế giới kì bí thần tiên. Và viết cả bằng việc phát huy nhạc tính của ngôn từ thơ nữa. Nếu chọn riêng những bài viết “về nhạc” và “bằng chất nhạc” của ngôn ngữ, có thể thấy đó cũng sẽ là những bài thuộc về tinh hoa của Thơ mới.
Nhạc của Bích Khê là thế. Bước vào bài thơ, bàn chân ta lạc hẳn vào cõi huyền diệu. Những ảnh hình quen thuộc của thế giới thực không tồn tại nữa. Đây là một thế giới biến ảo. Gần với ảo giác và hoang tưởng! Ở đây tất cả dường như đều đang bảng lảng, bồng bềnh, chơi vơi. Tất cả đang thăng hoa. Nhạc là hình tượng trung tâm của thi phẩm. Mà nhạc cũng tượng hình trong muôn hình, muôn thể. Tất cả cái thế giới ấy là hiện thân của nhạc, là sự hiển hiện của nhạc. Là nắng, là trăng, là sương, là sóng, là hương, là hoa, là vàng, là ngọc, là kim cương, là ánh xanh xao, là màu trinh bạch, là sắc vàng thơm, là ánh tím hường… Tất cả xôn xao trong những ngân rung vi diệu nhất… Vậy đấy, nhạc là bản giao hưởng huyền diệu của những anh hoa trong thế giới này. Một thứ nhạc như thế, người ta không chỉ nghe bằng thính giác. Cũng không chỉ nghe bằng tổng hòa các giác quan! Chỉ có thể nghe bằng sự thăng hoa của tâm hồn.
Viết về nhạc là viết về một thế giới vô hình. Không thể dùng cái vô hình này để biểu đạt cái vô hình kia. Bởi như thế, thơ đã đánh mất tiếng nói của nó, cũng đồng thời thơ đã thú nhận sự bất lực của mình. Và thế giới kia dù huyền diệu đến đâu cũng không còn huyền diệu nữa. Thi sĩ là người đi vào cõi mơ hồ để mang về những hình sắc diễm ảo. Bước chân thi sĩ đặt đến đâu, mọi trừu tượng đều tượng hình thành hình tượng. Nghĩa là cõi hư vô cũng lùi bước. Bích Khê đã làm sống dậy cái thế giới của nhạc, để nó thực sự trở thành ngày hội của những hình sắc huyền ảo. Tất cả đều hiển hiện, hiển linh: nhạc không chỉ có “cung âm điệu” mà còn “gờn gợn sóng”, không chỉ “nhịp nhàng” bay mà tẩm đầy phấn, thấm đẫm hương… Bích Khê đã dùng hàng loạt vật liệu thơ từ hư ảo đến vật chất, vật thể để thể hiện nhạc. Trong giai điệu nhạc thấy “những cánh hồng đơm” đang nở dần nở dần theo nhịp điệu, thấy cả những ánh trăng đang xao động làm dậy sóng cả không gian, thoáng thấy cả những bóng nhạn tự phương nào đó đang mang thơ về, thấy thoáng hiện cả những lầu mây nước tỏa ánh kim cương… Để thể hiện cả một nhạc cảm vi diệu của mình, Bích Khê đã huy động khá nhiều đến “kênh” vật liệu cao quý, tinh túy của thế giới vật chất: Ấy là ngọc! Âm điệu của nhạc là sự lên tiếng của ngọc: “rung rinh điệu nhạc”, “hồn ngọc thạch”, “ánh kim cương”, “bàn tay ngà”… Âm điệu của nhạc còn là sự lên tiếng của đàn THƠ, với những dây tơ hoàn toàn hư ảo huyền hồ:
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ở đây tư duy thơ tượng trưng, nhất là phép tương giao đã giúp cho thi sĩ thâm nhập thật sâu vào cõi huyền diệu của nhạc và nhạc đã tìm thấy trong thơ Bích Khê những hiện hình lộng lẫy nhất của nó: “Màu trăng không gian như gờn gợn sóng”… “Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây…”. Mà đáng kể nhất có khi là ngay câu mở đầu:
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc.
Nhạc đã hoàn toàn hiển hiện. Nhạc mang màu nắng vàng, nhạc tỏa hương thơm. Hương thơm của nhạc lại là hương thơm của nắng – hai lần hư ảo, hai lần thăng hoa… Bốn chữ “rung rinh điệu ngọc” thật siêu thoát. Nhạc đã bỏ thính giác để hiện hình trong thị giác: “rung rinh”. Chuỗi thanh âm nối thành một điệu. “Giai điệu rung rinh” hay một chuỗi những giọt nắng đang rung rinh? Nắng là ảo thể còn ngọc, cao hơn, đã là một thực thể, vật thể. Hai chữ “điệu ngọc” hàm súc và dư ba. Làm giai điệu nhạc sáng đẹp “như ngọc”, mà cũng là một giai điệu kết “bằng ngọc”. Nó là nhịp rung của dây tơ, hay giọng ngân của ngọc?… Trong Nguyệt cầm, tả tiếng đàn nguyệt theo lối “hợp âm”, Xuân Diệu cũng có câu:
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Mỗi một hình ảnh thơ trong Nguyệt cầm đều là “hợp âm” của cả ánh sáng (trăng) và âm thanh (đàn). Mà ở đây là sự hiện hình tiêu biểu. Mỗi nốt đàn tấu lên bay vào không trung như một “giọt”. Là giọt mà không chỉ là chất lỏng. Nó vừa là “giọt đàn”, vừa là “giọt trăng”, vừa là, “giọt lệ”, lại dường như còn là “giọt bạc” nữa. Chữ “tàn” cho thấy nó là giọt ánh sáng. Nhưng “lệ ngân” thì thật huyền diệu. Đơn âm mà đa nghĩa. Có thể hiểu “ngân” là động từ để hình ảnh thơ là: mỗi giọt rơi tàn như tiếng ngân của giọt lệ (âm thanh). Có thể hiểu “ngân” là danh từ để hình ảnh thơ là: mỗi giọt rơi tàn như một giọt bạc long lanh (ánh sáng). Và câu thơ là “hợp âm” của cả hai nghĩa ấy! Cả Bích Khê và Xuân Diệu đều có những nhạc cảm siêu việt. Người này có thể hứng trong lòng tay và cân được sức nặng của một âm thanh, người kia có thể xâu từng âm giai lung linh nắng thành một chuỗi ngọc, thành những “điệu ngọc rung rinh”. Phải chăng, đối với thi sĩ, không có gì có thể gọi là vô hình?
Câu thơ hay là câu thơ đi xuyên cả hai cõi hữu hình và vô hình.
Câu thơ hay là một làn sóng làm động cả hai bờ hư và thực! Chẳng phải vậy sao? Bích Khê đã làm thế trong Nhạc và cũng trong nhạc ta thấy một hình bóng thật huyền hồ. Ấy là một giai nhân:
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường.
Nàng có đôi tay ngà “Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà”. Nàng nâng trên đôi tay cây đàn thơ hư ảo và toan ấn vào một đường tơ để tấu nhạc: “Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây”. Nhưng nàng là ai? Nàng là kĩ nữ đang chơi đàn? Nàng là giai nhân đang nghe đàn? Nàng là nương tử trong bản đàn? Nàng là tình nhân mà thi nhân đang muốn gửi đến bản “nhạc” này? Hay nàng là nàng tiên, là nữ thần âm nhạc?. Hay nàng là tất cả! Thật là huyền hồ. Đúng là một lối tạo hình hoàn toàn của nhạc. Có lúc ta thấy bóng xiêm y, có lúc ta thấy dáng bàn tay ngà, có lúc ta thấy “động đào” nơi nàng hiển hiện. Có lúc nàng hiện ra như một nàng tiên cá, không phải bơi trong đại dương, trong thuỷ động mà bơi trong đại dương âm thanh, nàng đang uống từng hớp nhạc đầy hương:
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động
Ô nàng tiên nương! – Hớp nhạc đầy hương.
Nếu thiếu đi hình tượng “tiên nương” hư ảo huyền hồ ấy hẳn toàn bộ bản Nhạc này của Bích Khê dù tài hoa đến đâu cũng chỉ còn là một mớ thanh âm hỗn loạn xô bồ.
Vẻ đẹp của Nhạc còn thể hiện ngay trong nhạc tính của ngôn ngữ thơ. Bích Khê có nhiều bài làm theo lối Xuân Diệu trong bài Nhị hồ. Nghĩa là chỉ khai thác những âm tiết thuộc thanh bằng (cả trầm bình thanh và phù bình thanh) để viết nên bài thơ. Toàn bài vì thế có âm điệu nhẹ nhàng, trong sáng, du dương. Nhưng ở những bài như thế không khỏi có cảm giác cầu kì, kĩ xảo (Tì bà, Thi vị… là những ví dụ). Ở Nhạc, Bích Khê tránh được cực đoan ấy. Chúng ta vẫn thấy những âm trắc. Tuy ít nhưng là cần thiết. Những âm trắc, câu thơ bỏ vần trắc đã làm cho bài thơ không có nguy cơ trở thành một thể lỏng bồng bềnh trôi chảy, không phải một áng chữ bồng bềnh phiêu tán. Nó vẫn là NHẠC và vẫn là THƠ. Hàn Mặc Tử có nói đến một đặc sắc của bài thơ là bỏ vần ở chữ thứ tư: “Đấy là lối sáng tạo, bỏ vần ở chữ thứ tư (vần giữa) ta đọc đến những câu…”. Hình như không phải việc bỏ vần, mà là ngắt nhịp. Bích Khê viết Nhạc bằng thơ tám chữ. Và đều ngắt câu thơ thành hai nhịp lớn ở chữ thứ tư, chia đôi câu thơ. Đoạn nghỉ giữa câu dài hơn. Trong mỗi nhịp lớn lại chia thành nhịp nhỏ, nên nhịp thơ vừa đều đặn thăng trầm như nhịp sóng âm xô động, lại vừa linh động biến hóa.
Đúng như cảm giác của Hàn Mặc Tử, “đọc đến những câu:
Nhẹ nhàng nhịp nhàng thở đều trong sương
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!…
Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương.
phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi, lên xuống như muôn hoa lá bị cơn gió lùa” (Bích Khê Thi sĩ thần linh). Ngoài ra, âm điệu thơ còn được Bích Khê khéo tạo dựng, kết nối bằng từ láy, bằng trùng điệp các chữ, các vế câu, các câu… trên cái nền nghiêng về thanh bằng. Vì thế mà chúng ta có cái thú vị là được thưởng thức một thứ thơ – về - Nhạc bằng một bản – nhạc – thơ!
CHU VĂN SƠN
Tư liệu tham khảo
“Sự say mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của Huyền diệu. Ở đấy, sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa, người ta chỉ gặp toàn âm thanh đương ngả ngớn, với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lồng nhạc, trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ. Không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát.
Ở địa hạt Huyền diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc. Trong khi nói đến Nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến những cung cầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. Và bởi mê man với sự “nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương”, thi nhân đã sáng tạo được rất nhiều bản ca thần tình diễm ảo. Và Nhạc lúc bấy giờ cũng không còn là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng cười, mơn man như ân tình đòi hỏi…”.(HÀN MẠC TỬ. Tựa Tinh huyết,
NXB Hội Nhà văn, H, 1995)
22.QUÊ HƯƠNG
- TẾ HANH
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Giữa lúc phần đông các thi sĩ Thơ mới đang thở than sướt mướt với tình yêu tuyệt vọng, với mối sầu cô đơn, Quê hương của Tế Hanh cất lên một tiếng nói khỏe khoắn khác lạ. Trong khi các thi sĩ đồng quê như Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ đưa người đọc đến cùng những làng thôn xứ Bắc yên ả, tươi vui với Cổng làng, Chợ Tết, Đám hội, Bến đò ngày mưa; với Trưa hè, Chiều xuân… Tế Hanh lại nhớ về một làng quê làm nghề chài lưới ở miền Trung Trung Bộ với cuộc sống lao động vất vả mà đầy chất thơ Chính sự “lạc giọng” này khiến chúng ta càng chú ý hơn đến Quê hương và nhiều vần thơ lúc ấy của Tế Hanh.
Nhiều người vẫn có ấn tượng rằng đã là nhà thơ lãng mạn thì phải nói đến tình yêu đau khổ cô đơn, hoặc phải nhớ nhung mơ mộng đắm đuối. Nếu tìm tòi theo hướng ấy tất sẽ thất vọng khi đến với tập Hoa niên của Tế Hanh. Không, Tế Hanh không phải là nhà thơ “lãng mạn ròng” như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… ít ra ở Quê hương, Lời con đường quê là những bài từng được Thi nhân Việt Nam tuyển chọn. Có lẽ nhà thơ đã viết Quê hương bằng cả tấm lòng mến yêu thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, mến yêu con người lao động tràn trề sức lực, bằng những kỉ niệm nồng nàn nhất của mình. Nên không có tấm lòng ấy làm sao có được cảm xúc phấn chấn trong những dòng thơ này:
Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Lời thơ như hăng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, và cánh buồm! Các hình ảnh so sánh đậm màu sắc hùng tráng hiếm thấy trong Thơ mới lãng mạn (chất tráng trong Nhớ rừng của Thế Lữ, trong một số bài thơ của Huy Thông thường gắn liền cùng chất bi và toát lên trong những hoài vọng xa xôi, cao cả). Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng: “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, hao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy.
Cảm hứng phấn chấn của Tê Hanh được cất lên từ cuộc sống gian lao, mạnh mẽ của cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Nó bất chấp khoảng cách thời gian, không gian. Trong xa cách lòng tưởng nhớ quê hương mà bài thơ không hề gây cảm giác xa xôi. Như hiển hiện sinh động trước mắt ta hình ảnh “Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng; Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”, hình ảnh mái chèa phăng phăng, cánh buồm no gió. Và cả cảnh ồn ào đáng yêu khi chào đón thành quả lao động:
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
“Nhờ ơn trời biển lặng, cá đầy ghe”
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi “mạnh mẽ vượt trường giang” của đoàn thuyền, hơi thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui của dân làng, theo những chức thuyền trở về nằm im trên bến. Chính từ đây, xuất hiện mấy câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương:
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng
Có thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Không là người con của một vạn chài không thể viết được những câu thơ như thế! Hơn nữa, chỉ viết được những câu thơ như thế khi biết âm thầm đặt hồn mình vào đối tượng, vào cảnh vật để lắng nghe. Khi đặt hồn vào đó rồi, các khứu giác, xúc giác tinh nhạy của nhà thơ như phập phồng thu nhận những cảm giác. Chất muối mặn mòi thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da, thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm ám gợi bâng khuâng, kì diệu? Tế Hanh thật tài và thật tinh khi sống trong lòng sự vật, có khả năng nghe thấu cảm giác, tiếng lòng của những vật vô tri. Ở Lời con đường quê, nhà thơ nhập hồn vào “con đường nhỏ chạy lang thang” để đón lấy ánh nắng ban mai, để quyện lấy những mùi hương, để “san sẻ cùng người nỗi ấm no” và ngây ngất “với những tình quê buổi hẹn hò”. Ở Vu vơ, xem tiễn biệt trên ga, ông cảm thương cùng nỗi vướng víu của những toa tàu:
Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vướng víu trong hơi máy
Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau.
Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường; hơn vậy, đây lại là nhớ quê hương:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Nếu không có mấy câu thơ kết thúc này, ta không biết Quê hương được viết trong xa cách, trong niềm tưởng nhớ khôn nguôi. Những hình ảnh của quê hương trên kia đã thành kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi. “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá” – câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha thành thực của Tế Hanh.
Biểu hiện tình yêu và nỗi nhớ, niềm tự hào đối với cuộc sống lao động của quê hương, bài thơ sử dụng thuần thục thể thơ tám chữ với lối gieo vần chân. Vần chân được gieo liên tiếp và đổi thay theo từng cặp câu, đoạn sau lại được bắt liền vần với đoạn trước. Thể thơ cùng lối gieo vần này chúng ta cũng bắt gặp ở nhiều bài thơ lãng mạn nổi tiếng như Nhớ rừng của Thế Lữ, Tương tư chiều của Xuân Diệu… Nó rất thích hợp khi diễn tả dòng cảm xúc miên man, cuồn cuộn. Sau hai câu có ý nghĩa giới thiệu, cả bài thơ Quê hương được cuốn đi trong dòng cảm xúc vừa hùng tráng, vừa thiết tha sâu lắng. Điều thú vị là gần 20 năm sau, khi viết Nhớ con sông quê hương (1956), Tế Hanh lại vận dụng rất thành công thể thơ, lối gieo vần này. Nói đúng hơn, tâm hồn nhớ thương “Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới” đã tự nhiên “bắt” Tế Hanh đến với một hình thức nghệ thuật thích hợp.
Tưởng nhớ quê hương trong xa cách trở thành một dòng cảm xúc chảy dọc đời thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng “Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông” đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ ông, đã trở thành một điểm hướng về để ông viết nên những vần thơ thiết tha, đau đáu. Trong dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Bài thơ mang âm hưởng khỏe khoắn, toát lên tình cảm đậm đà, trong sáng của chàng thi sĩ Tế Hanh ở độ hoa niên giữa lúc bầu trời thơ xung quanh lắm chỗ đang ảm đạm.
LÊ QUANG HƯNG
TƯ lIỆU THAM KHẢO
“Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm. Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương. Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”, như tiếng hát của hương đồng quyến rũ con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới thật gần gũi thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm trao cho cảnh vật: sự mỏi mệt say sưa của con thuyền lúc trở về bến, nỗi khổ đau chất chứa trên toa tàu nặng trĩu những buồn vui sầu tủi của một con đường. Tế Hanh luôn nói đến những con đường. Cũng phải. Trên những con đường nhưng lại biết bao bâng khuâng hồi hộp!
Nhưng Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết. Hôm đầu tiên tôi gặp người thiếu niên ấy, người rụt rè ngượng nghịu như một chàng rể mới. Nhưng tôi vẫn nhớ đôi mắt. Đôi mắt nồng nàn lạ. Tôi nghĩ ở một người như thế những điều cảm xúc, nỗi đau xót sẽ quá mức thường và có khi khác thường”.
(HOÀI THANH – HOÀI CHÂN. Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H, 1993, tr. 133 - 134)
“Ngoài những thi đề quen thuộc của Thơ mới - sự cô đơn, nỗi buồn vơ vẩn, ái tình không được đáp lại, v.v… Hoa niên ít nhiều còn những tình cảm trong trắng của tuổi niên thiếu với quê hương, gia đình, nhà trường (Quê hương, Chiết rổ may, Là con đường quê,…).
Chủ đề quen thuộc và thành công hơn cả của tế Hanh là tình cảm đối với miền Nam quê hương, là ý chí đấu tranh thống nhất Tổ quốc… Phong cảnh và con người quê hương thường được tái hiện với những tình cảm khi lắng đọng, khi dạt dào, nhưng đều thiết tha, chân thành trong những kỉ niệm tươi thắm…
Trong thơ Tế Hanh, cảm xúc chân thực thường được diễn đạt bằng lời thơ giản dị, tự nhiên, giàu hình ảnh. Tiếng nói nhỏ nhẹ, hiền hòa bình dị nhưng không kém phần tha thiết đã giúp cho thơ Tế Hanh dễ dàng đến được với người đọc”.
LÊ BÁ HÁN (Chủ biên)
Nguồn: NGUYỄN VĂN LONG, Từ điển văn học,
NXB KHXH, H, 1984, tập II, tr. 344.
Theo saomaidata.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...