Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

Hịch đánh Trịnh

Hịch đánh Trịnh

Lời giới thiệu: Bài này hịch này tương truyền của Nguyễn Hữu Chỉnh thay mặt vua Quang Trung soạn ra, nhưng dù vua Quang Trung không làm toàn bộ thì chắc cũng phải tham gia hiệu đính tu sửa rất nhiều vì bài hịch chính thức đứng tên ông, mà vua Quang Trung vốn là người sính chữ Nôm và cũng có học vấn, lại là người thích tự tay làm mọi việc. Đọc đoạn thơ Nôm của vua Quang Trung "Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ..." chúng ta thấy giọng điệu khí phách không khác gì bài hịch, nên bảo rằng Nguyễn Hữu Chỉnh làm toàn bộ là không có cơ sở!.
            
Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đất quân sư
            
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách
      
Hội thuận ứng thế đừng được chửa
      
Việc chinh tru lòng há muốn ru
    
Ta đây: Bẩm khí trời Nam
   
Vốn dòng họ Nguyễn
 祿           
Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử giả ơn Hàn
            
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào man nhòm vạc Hán
      
Giận quốc phó ra lòng bội thượng
 西     
Nên tây Sơn xướng nghĩa cần vương
            
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp ghé
            
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng nhân sa chốn lầm than
       
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân
       
Ắt đấu cũ lại cơ đồ Hoa Hạ
            
Nào biết ngôi trời có bảy, giặc họ Trương toan biến phiếm mười phần
            
Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước
      
Thế bạng duật đương còn đối mặt
      
Thói kình lang sao khéo lắng tai
            
Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn cử binh điếu phạt
            
Trong mấy chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly
      
Cung đền thành quách phá lâng lâng
      
Súng ống thuyền bè thu thảy thảy
             
Cơn gấp khúc chẳng thương dòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi thú thời thôi
             
Dấu cưỡi rồng còn nhớ đấng tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu sao nỡ
      
So chữ bạo lửa nồng quá Hạng
      
Dò lòng người nước chảy về Lưu
             
Chúng cùng đường cờ nghĩa đem về đầu, nên quân số mỗi ngày một thịnh
             
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, khiến binh uy càng thấm càng thêm
      
Quảng Nam đà quét sạch bụi trần
      
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi
            
Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần
            便
Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện
      
Cảm công đức vua Lê dám phụ
      
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe
          
Ngôi hoàng đế đặt không, há nước thấp lao lung thấy đặng
         
Tội Hoàng Sào chẳng có, lòng trinh thêu dệt vào bình
       
Hiệu Đoan Vương càng tỏ dạ vô quân
      
Mưu soán đoạt nên lòng bội phụ
            
Trưởng cung vốn xưa nay là đích, quyền cha trót bội bạc sao đành
殿            
Điện Đô tuy bé nhỏ nhưng anh, mệnh cha rắp tranh khi sao phải
      
Tai chẳng đoái đến lời cố mệnh
      
Mặt nào trông vào chốn tử cung
            
Khiến một đàn con trẻ đàn bà, đem chữ hiếu nỡ gieo xuống đất
            
Để những kẻ tôi ngay người thẳng, tiếng kêu oan đã động đến trời
             
Chí tôn phù ví chẳng mưu mình, thì sắc lệnh ngân tiền nào đợi nó
            
Gươm ngược cán còn đem xuống dưới, nghĩa lý nào trời đất còn dong
            
Lưới đứt giềng quân đuổi được quan, ấy sự ấy xưa nay cũng lạ
      
Vì phế lập muốn mình cho ích
      
Để khuynh nguy làm nước phải lo
            
Vả bấy nay thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòng trời hẳn muốn
            
Lại gặp hội binh kiêu dân oán, sửa mối giềng tài cả phải ra
       
Chước vạn toàn đã tạc đá Hoành Sơn
      
Binh tức khắc giương buồm Bắc Hải
           
Qua sông Mạnh phất cờ Chu Võ, ra tay sử chính dẹp tà
           
Vào đất Quan thét ngựa Hán Hoàng, quyết chí lấy nhân đổi bạo
     
Sắp sửa vốn nguyên lòng thật
     
Giữ gìn phải ngỏ lời ngay
            
Chữ hướng minh phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng là thế
      ,.... 
Máy trợ thuận hẳn nhiều kẻ biết,.... nữa ta
          
Ai biết suy lẽ phải, quyết một lòng hạ chúng hề tô
          
Ta chẳng phụ dân lành, ắt hai chữ thu hào vô phạm
      
Thói bội phản chớ quen như trước
      
Chút thái bình còn để dài lâu
            
Nước triều đông ví chẳng thuận dòng, lại cự cưỡng rắp giơ tay chắn
            
Lửa cháy đá lỡ hòa lầm ngọc, dù hiền ngu khôn lọt lưới trời
      
Ân với uy ngỏ cáo lời hằng
      .
Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết.
Bài này chúng tôi đánh lại theo bản phiên âm nhớ được chứ không hề có bản nôm nào đối chiếu, toàn bộ chữ quốc ngữ và chữ Nôm được nhập vào MS Word 97 trên nền Windows98 mục đích để minh họa cho việc sử dụng chương trình Hán Nôm 2002.
Huế, 10/2002
Nguyễn Hữu Chỉnh
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lục bát làng Trầu - Một hồn thơ sâu nặng nghĩa tình

Lục bát làng Trầu - Một hồn thơ sâu nặng nghĩa tình “Lục bát làng Trầu” là tập thơ thứ 8 của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung, ghi nhận một thành ...