"Ngọn đèn khuya" thơ
Võ Văn Luyến
Mỗi nơi anh đi qua, mỗi nơi anh cảm nhận đều có những vần thơ về nơi đó, đó là kỉ niệm thoáng qua, là miền nhung nhớ, là nơi yêu thương. Nhưng, có lẽ thơ anh vẫn rất hay khi viết về giếng quê, về tuổi thơ gió đồng…
Muôn sự tại duyên! Mỗi ngày vào Facebook, tôi đọc thơ anh, có
bài dài, bài ngắn, có bài vừa đăng báo, có bài đăng đã lâu… Thơ Võ Văn Luyến mặc
định trong tôi một gợi nhớ tâm tình. Cũng có lúc tôi viết ngay lời bình, có lúc
tôi nghĩ suy và tôi đã tìm thơ anh để đọc, đọc văn bản bằng chỉnh thể để cảm nhận
hết cái hay của nó.
Đề tài nào trong thơ anh cũng mang dấu ấn của miền Trung, của
Quảng Trị quê anh, nơi có nắng và gió Lào cát bỏng, nơi có những ngày rét đến
tím da, nơi có những địa danh mà ai có ở có cảm nhận, có nếm trải mới viết về
nó bằng chính gan ruột. Tôi đọc về anh bởi nơi đó anh giãi bày, anh tâm sự, anh
tự nhìn mình, tự so sánh, đối chiếu để cuối cùng tìm ra chính cái bản thể con
người anh – một đời người – một đời thơ – một đời thầy giáo!
Từ hai tập thơ “Sự trinh bạch của ngọn nến” (2007), “Người
câu bóng mình” (2011) ta thấy bề dày sáng tác văn chương của nhà thơ cùng với
chiều sâu nghiên cứu phê bình trong cuốn “Đối ngọn đèn khuya” (2014) – tập hợp
những bài viết của anh về văn chương và của những nhà phê bình, nhà thơ viết về
thơ anh.
Trước “sự trinh bạch của ngọn nến” anh tự độc thoại với mình,
tự vấn mình “Anh chú thích cuộc đời anh vào chỗ cuối cùng của trang giấy còn lại…
Anh chú thích cuộc đời anh bằng nỗi đam mê” và rồi chính anh cũng thừa nhận: “Thế
mà chả ăn thua gì, trước sự trinh bạch của ngọn nến”. Viết ra những dòng thơ
như thế là nhà thơ đã đối diện với chính mình trong cái tĩnh lặng của không
gian và trong cái thời gian đã khuya “đối ngọn đèn khuya” – một không thời gian
thích hợp cho con người thơ tự tìm về với chính mình mà tự bạch “mình ta lang
thang qua bao cơn mơ, chân thành mà chưa nên hình câu thơ, vòng đời hư hao ăn
năn mơ hồ”. Nhà thơ khác với nhà văn viết truyện là ở chỗ đó. Người viết truyện
thường đứng ở vị trí khách quan để kể chuyện và câu chuyện như là của ai đó, dù
họ có thể là người đã trải qua. Còn nhà thơ phải kể ra cái tôi của anh, bộc lộ
cảm xúc bằng cái tôi của anh, và chính anh “cập nhật tôi, điều chỉnh tôi, thông
báo trạng thái tôi” (Vecto – thơ Phan Thanh Bình), với nhà thơ sự thể nghiệm
thường viết ra những câu thơ như máu thịt của chính họ.
Trường hợp “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” (Tương tư) của Nguyễn
Bính hay Xuân Diệu với những câu thơ để đời kiểu như: “Tình yêu đến tình yêu đi
ai biết, Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt” (Giục giã). Tự viết về mình, khi suy
ngẫm về thời gian, hiểu quy luật về cái vô hạn của thời gian vũ trụ và cái hữu
hạn của thời gian đời người, nhà thơ nhiều khi không giấu nỗi buồn: “Tôi mang
bóng chiều lẫn bóng em vào bóng núi, Ngước xanh cao hư ảnh một màu trời, Gió nhện
giăng quấn vào tôi tơ rối, Một vì sao lạc giữa chơi vơi” (Thời gian). Và dẫu
“thời gian có quên đi tất cả” thì trái tim anh vẫn “rung nhịp đập vô hồi”, cho
nên thi hứng về mùa xuân dường như bất tận trong thơ Võ Văn Luyến. Những bài “Nõn
xuân”, “Mùa xuân”, “Mùa xuân gõ cửa”, “Khoảng trời mùa xuân”, “Bất chợt mùa
xuân”… gợi cái tình da diết, cái hồn thơ thẳm sâu thương nhớ: “Em tơ nõn, kiếp
ta đòi xanh lá, Cháy trăm năm da diết tuổi xuân thì” (Mùa xuân); mùa xuân như
là dự cảm cho những gì đang khát khao trong sự rung động của trái tim thi sĩ: “Bất
chợt như chưa hò hẹn, Mà sao pháo nở rậm trời, Dòng thơ tưởng chừng vơi cạn, Tự
dưng xiết chảy trong người” (Bất chợt mùa xuân).
Mùa xuân là đề tài quen thuộc trong thơ anh, đến tập thơ “Người câu bóng mình”, ta lại bắt gặp những bài thơ “Vần tháng giêng”, “Chớm xuân”, “Mẹ ơi, xuân đến rồi kìa”, “Xuân thức”, “Tâm thức xuân”… Đây là cảm thức của thi nhân – thầy giáo mang trong mình chất liệu quen thuộc của thơ cổ, thơ Mới. Các nhà thơ xưa cũng thường viết về mùa xuân, như Mãn Giác thiền sư với bài thơ kinh điển: “Cáo tật thị chúng” (Có bệnh bảo mọi người): “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” – Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai (Bản dịch của Ngô Tất Tố); hay Trần Nhân Tông với bài thơ “Xuân hiểu” (Buổi sáng mùa xuân): “Thụy khởi khải song phi, Bất tri xuân dĩ quy” – Buổi sáng mở cửa sổ, A, xuân về rồi đây… (Bản dịch của Trần Lê Văn) và Nguyễn Trãi từng có câu thơ rất hay: “Cầm đuốc chơi đêm này khách nói, Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân”… Các nhà thơ Mới như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính… cũng có những vần thơ xuân trong cái nôn nao, chộn rộn với nhịp mùa đi. Và nhà thơ Võ Văn Luyến cũng đã có cảm thức xuân xuyên suốt chặng đường thơ của mình, càng lúc anh càng có cảm giác sốt ruột, nhận ra cái nhịp mùa đi thật là khắc nghiệt với thời gian đời người, âu đó cũng là một kiểu “bi kịch”: “người đàn ông giết mình bằng thời gian, bằng những hạt hồng cầu mê ngủ…”, vì “người đàn ông bỏ quên nụ hôn” (Người câu bóng mình) – tiếc nuối vô cùng.
Dường như cảm thức xuân trở thành ấn tượng đặc biệt với người
miền Trung chúng tôi, bởi sau những tháng ngày hạ nắng, gió Lào cháy da, bỏng
thịt, là những ngày mưa dầm gió bấc, bão lũ liên miên, thì xuân đến như xua đi
giá rét, như quên đi cái nắng đang chờ chực, và nhất là với nông thôn thì xuân
đến còn là xong mùa vụ, là cái mới của đất trời và lòng người:
Tháng giêng vào ta gió lộng trăng ngà
cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay
nải
này người em gái mà mắt thị thành mà áo phong phanh ngó sen
ngơ ngác…
…
Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng
Tháng
giêng vào ta, lúa cóng bên sông
Tháng
giêng vào ta, mơ ước đòng đòng
(Vần tháng giêng)
Bài thơ “Vần tháng giêng” tươi mới, rộn ràng, háo hức, xanh
non… và có lẽ đây là bài thơ rất hay trong tập thơ “Người câu bóng mình” của
anh. Tôi có cảm giác như, hễ viết về miền quê, viết về ruộng đồng, viết về dân
quê “một nắng hai sương” tâm hồn anh thư thái, nhẹ nhõm, dường như vốn sống,
kinh nghiệm, sự từng trãi trong anh đã đánh thức tiềm năng nghệ thuật để anh có
những bài thơ hay về đề tài này: “Con cà con cuống”, “Thương mẹ đêm mùa mưa lũ”,
“Nhìn bóng biển”, “Đoản ca về miền gió cát”, “Tuổi thơ gió đồng”, “Chân dung
làng cá”, “Giếng quê”, “Mẹ vùng lũ quê”…
Tuổi thơ tôi
quấn
rơm rạ ruộng đồng
nắng nôi đất ải
chạy giặc càn bàn chân toác móng
tội nghiêp mạ, tiếc dần sàng thúng mủng
quảy gánh theo đi
thương các con khoai sắn, nhiều khi
nước mắt ràn, mạ giấu vào vạt áo
chúng tôi hồn nhiên chân sáo
nhìn khói bom như khói đốt đồng…
(Tuổi thơ gió đồng)
Không ai viết về ký ức mà hay đến như thế. Ký ức đạn bom, ký ức
chạy giặc thất kinh, mệt nhọc trong mắt mẹ nhưng với tôi – trẻ con thì nhìn
khói bom như khói đốt đồng, nhìn đạn bom mà không sợ hãi, quen đến mức chẳng cuống
cuồng, lo sợ, ngây thơ nghĩ như niềm vui con trẻ. Đọc đến đây, bất chợt tôi nhớ,
có lần, một gia đình ở Huế có đám tang, các sư thầy tụng kinh gõ mõ, trong nhịp
kinh cầu đều đặn như thế một cháu trai chừng 3 tuổi nhẹ nhàng múa theo làn
hương khói. Bất chợt, người lớn quên cả niềm tiếc thương, mỉm cười theo sự thơ
ngây của con trẻ. Hình ảnh mẹ tôi chạy giặc “toác móng bàn chân” thật thương
xót, vậy mà trong cái tôi kí ức về khói bom đạn lại nhẹ nhàng như khói đốt đồng.
Âu đây cũng là quy luật tâm lý: Ta đi qua kí ức xưa như đi qua cánh đồng sương
mù, và kí ức bao giờ cũng màu hồng. Tuổi thơ tôi trôi chảy trong miền hoài niệm:
“Tuổi thơ tôi, lấm lem mượn nước gương soi… Tuổi thơ tôi, ngụp lặn dòng sông…
Tuổi thơ tôi, thao thiết gió đồng”. Những câu thơ quá hay bởi cái tứ thơ chặt
chẽ, tuôn chảy về kí ức xưa trong hoài niệm thân thương đến cháy lòng. Đọc bài
thơ này của anh, tôi như thấy mình trong đó, như thấy các bạn tôi trong đó, với
nông thôn, với ruộng đồng, bờ bãi như ngấm vào tâm thức, ngấm vào cuộc đời, dù
cái thị thành hôm nay có hiện đại bao nhiêu, có văn minh bao nhiêu thì cũng
không làm bật cái gốc văn hóa ngàn đời trong mỗi một công dân Việt, bởi chúng
ta là đất nước thuần nông, nông nghiệp đã mấy ngàn đời văn hiến.
Anh đã tìm về kí ức với “Giếng quê”, nơi đất cằn sỏi đá, mùa
hạ nắng cháy mặt người, tìm ra giọt nước thật là khó khăn, và giếng quê đã trở
thành kỉ niệm của anh, của em, của cha, của mạ, của mỗi người từng lớn lên ở
nơi này:
– Mạ tôi bảo:
Con ơi mỗi lúc muộn phiền soi mặt vào giếng nước quê ta
– Cha tôi bảo:
Những lúc nguy nan lấm bụi đường lạc bước
hãy tìm về mắt giếng mẹ nghiêng soi
– Chị tôi bảo:
Tìm tình yêu đừng đi đâu xa
giếng làng mình trong veo mắt biếc
– Em tôi bảo
Khi nào anh thơ thẩn vào ra
… ra giếng hỏi Bống về thả lá
– Và riêng tôi
Khẩn nguyện trước vô cùng
ơn giếng làng – hồn trời đất bao dung
(Giếng quê)
Đời làm thơ mấy ai viết được những bài thơ hay đến như thế.
Thân thương máu thịt, gắn bó thiết tha đã bật lên trong tâm thức anh những câu
thơ làm cháy lên tình thương mến với giếng quê. Giếng quê – nơi chứng kiến, nơi
giãi bày, nơi tâm sự, nơi nhắn nhủ, nơi hứa hẹn, nơi mong chờ. Mô típ bến quê,
sông quê, giếng quê không mới, cái mới là ở thi hứng. Anh không kể về một mối
tình đã hò hẹn nơi đây, anh không nhắc về một kỉ niệm luyến lưu, mà anh đã nhắc
nhở, nhớ nhung, gửi gắm cả tâm thức cuộc đời anh vào “giếng quê” với những lời
nhắc nhở, dặn dò thân thương của mẹ, của cha, của em thân thương và cả chính
anh cũng đã nhận ra nơi đó “hồn trời đất bao dung”, thật là nhân văn. Vẻ đẹp của
bài thơ chứa đựng ngay trong cái lý tưởng nhân văn về vùng quê mà anh hằng gắn
bó.
Mỗi nơi anh đi qua, mỗi nơi anh cảm nhận đều có những vần thơ
về nơi đó, đó là kỉ niệm thoáng qua, là miền nhung nhớ, là nơi yêu thương.
Nhưng, có lẽ thơ anh vẫn rất hay khi viết về giếng quê, về tuổi thơ gió đồng.
Thơ anh khá đa dạng về thể loại, cấu tứ, có bài mượn thể thơ đồng dao, có bài
viết theo lối văn xuôi, nhưng tôi vẫn thích những bài thơ viết theo thể tự do,
nhất là những bài thơ có những câu thơ dài đến 3, 4 dòng thơ, tôi có cảm giác
như cảm xúc tuôn trào đến mức câu chữ không diễn tả hết cảm xúc và tâm hồn của
anh. Thật đáng trân trọng. Mong những vần thơ của anh vẫn sáng mãi cùng “ngọn
đèn khuya”, trước “sự trinh bạch của ngọn nến”.
2/3/2023
Hoàng Thị Thu Thủy
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét