"Thung lũng Đồng Vang", nơi gieo
mầm tình cảm thiêng liêng
‘Thung lũng Đồng Vang’ của nhà văn Trung Sỹ
trở thành tác phẩm xuất sắc nhất ở lĩnh vực văn học thiếu nhi của giải thưởng Hội
Nhà văn Việt Nam 2022.
Vượt qua nhiều tác phẩm, “Thung lũng Đồng Vang” của nhà văn
Trung Sỹ đã trở thành tác phẩm xuất sắc nhất ở lĩnh vực văn học thiếu nhi của
giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2022.
Trước đó, khi ra mắt, tác phẩm cũng tạo được sức hút với độc
giả, một số nhà nghiên cứu còn xem đây là “làn gió mới” thổi vào đời sống văn học
thiếu nhi Việt Nam đang có những dấu hiệu “chững lại” bởi những tác phẩm quen
thuộc, na ná nhau từ nội dung đến bút pháp.
Bước chân vào không gian của “Thung lũng Đồng Vang”, người đọc sẽ cảm nhận được sự tươi mới của làn gió ấy bởi những thanh âm trong trẻo và bình yên của những đứa trẻ tuổi chơi, tuổi học, trên cái nền đa sắc của cảnh quan và văn hóa rất đặc biệt ở một vùng đất mà chính nhà văn đã sáng tạo nên.
Thế giới trẻ thơ trong sáng và yên vui
Tác phẩm “Thung lũng Đồng Vang” là tập truyện dài gồm
nhiều truyện ngắn nhỏ được liên kết với nhau, tập trung khai thác chủ đề đời sống
sinh hoạt thường ngày của một nhóm bạn Thụy, Thảo, Dực, Linh, Trương, Loan…
cùng thầy cô, gia đình, hàng xóm ở thung lũng Đồng Vang.
Mỗi câu chuyện là một tình huống, một phi vụ của nhóm bạn ấy.
Hôm nay có thể là câu chuyện cười ra nước mắt với nhà quay phim chăn vịt tên Dực,
chỉ vì mãi quay đàn vịt đang tắm để đưa lên TikTok với hi vọng kiếm nhiều tiền
lãi hơn việc nuôi vịt mà bị đàn ong đuổi cắn đến sưng cả mặt, bạn bè đến thăm
không dám lấy khăn che mặt xuống.
Ngày mai lại có thể là câu chuyện của thằng Thụy cố bắt con
chuồn chuồn và nén đau cho nó cắn với hi vọng sẽ biết bơi ngay lập tức.
Và một ngày khác là câu chuyện cả nhóm bạn lén giải cứu con
chim khướu bạc má của ba cái Loan vì thương nó bị nhốt trong lồng. Hoặc li kì
hơn là các phi vụ lật tẩy trò lừa bịp của cô đồng Dụ về chuyện cái miếu có rắn
thần, phi vụ đột kích các thuyền bắt cá bằng điện trên sông…
Cứ như thế, các câu chuyện đã cùng nhau tái hiện thật sinh động
đời sống của các bạn nhỏ miền núi vừa quen thuộc, vừa thú vị với biết bao vui
buồn đáng nhớ.
Khi viết “Thung lũng Đồng Vang”, nhà văn Trung Sỹ chia sẻ rằng:
“Tôi viết cuốn này cho các em, cũng chính là viết cho tôi như một đối trọng, một
ước mơ về những ngày tươi sáng yên lành. Viết cho các em cũng là tự an ủi tâm hồn
sứt sẹo của mình vậy”.
Có lẽ vì thế nên những đứa trẻ trong tác phẩm luôn được sống
trong bầu khí quyển của lòng yêu thương và cứ từ đó mà lớn lên một cách yên
bình. Ông của Thụy và Thảo yêu thương cả hai theo cách của một người lính luôn
bị quá khứ lục vấn, luôn đau đáu việc phải kể lại câu chuyện của mình và gia
đình để vừa kết nối thế hệ, vừa mong muốn chúng sống một cuộc đời đúng đắn.
Bố của Trương yêu thương con theo cách giản dị, bộc trực, kêu
la ầm ĩ, đòi bắt đền con khi thằng Trương bị cửa sổ lớp học sập đè lên người.
Thầy Thức, cô Vi dành những năm tháng thanh xuân rời Hà Nội lên với trẻ em vùng
núi…
Dẫu mỗi đứa trẻ đều có cá tính, cũng lắm khi nghịch ngợm quá
đà, song chúng đều được chỉ dạy trong bao dung. Và nhờ thế mà sự hồn nhiên,
trong sáng của trẻ vẫn được bảo toàn trọn vẹn.
Tuy hướng đến tạo dựng một thế giới trẻ thơ trong sáng và yên
vui, song tác phẩm không đơn thuần đặt những đứa trẻ trong một không gian vô
trùng, thuần khiết.
Giữa những câu chuyện rất trẻ con như tranh nhau mang cây muồng
hoàng yến vừa nảy mầm của Thụy và Thảo, bắt chuồn chuồn cắn rốn của Thụy, ước
mơ làm TikToker của Dực,… là những vấn đề nghiêm túc và sâu sắc mà ở một góc độ
nhất định, trẻ em cũng cần được tiếp xúc và được định hướng để lựa chọn thái độ
sống phù hợp.
Lời nhắc nhở của thầy Thức về việc đừng giết hại sinh vật, dù
chỉ là chim, cóc nhái, tắc kè,… làm trò vui; sự phẫn nộ của ông Kiền trước những
nhũ đá nghìn năm trong động Pung bị chém cụt hay nạn xiệc trộm cá đêm;… đã được
chúng ghi nhớ, từ đó dần hình thành cách ứng xử phù hợp với môi trường sinh
thái: Biết trân trọng, giữ gìn và bảo vệ.
Ông Kiền – người lính đã từng tham gia chiến dịch đánh đuổi
Pol Pot ở Campuchia – trao truyền cho Thụy, Thảo những kí ức lịch sử về những
năm tháng gian khổ ấy, nuôi dưỡng trong những đứa cháu một tinh thần mạnh mẽ,
can trường.
Ông Khương – cha của Trương – là người lưu giữ những kí ức
văn hóa khi am hiểu và nhiệt tình kể lại câu chuyện về việc gõ búa ra mưa ở xóm
Trại Rèn, nhen lên tình yêu với văn hóa độc đáo nơi đây. Vẫn là những đứa trẻ
láu táu, ham chơi, nghịch ngợm, nhưng những Thụy, Trương, Dực,… đã biết gọi điện
xin phép thầy Thức khi tiến hành chiến dịch bắt và đuổi bầy dơi phá vườn nhãn.
Cũng chính những đứa trẻ ấy âm thầm lật tẩy chiêu trò lợi dụng
lòng tin của người dân để lừa đảo của cô đồng Dụ ở miếu cô Trôi. Và cuộc vây bắt
nhóm xiệc trộm cá đêm cũng có phần lớn công sức của bộ ba dũng cảm và mưu trí
đó.
Có thể nói, “Thung lũng Đồng Vang” không chỉ dừng lại
ở việc khắc tạo một thế giới tuổi thơ vô tư, hồn nhiên mà còn miêu tả hành
trình từng ngày lớn lên của những đứa trẻ thông qua việc đặt chúng vào những
tình huống, vấn đề đòi hỏi phải có những suy nghĩ, nhận thức và hành động
nghiêm túc, trưởng thành hơn.
Thế giới nhân vật trẻ thơ trong tác phẩm vì vậy hiện ra thật
sinh động, khi thuần khiết, sáng trong, náo nhiệt, khi từng trải, chững chạc,
trầm tĩnh. Chính cái nhìn đa chiều, nhìn đối tượng trong sự chuyển động và phát
triển của thể chất, trí tuệ và tâm hồn này đã giúp những nhân vật trẻ em của
Trung Sỹ có sự khác biệt nhất định, từ đó tạo nên một trong những dấu ấn đáng
nhớ của “Thung lũng Đồng Vang”.
Một không gian văn hóa đa sắc
Điều tạo nên nét đặc biệt nữa của “Thung lũng Đồng Vang”
là tác giả đã mở ra một không gian đầy mới lạ, đó là không gian miền núi với
xóm núi, phố núi, nơi những người Tày và người Kinh sống với nhau.
Bức tranh thiên nhiên bốn mùa, phong tục tập quán của con người
nơi đây được nhà văn khắc họa và tái hiện chắt lọc kĩ lưỡng, đủ để người đọc cảm
nhận được những nét độc đáo, đặc sắc của không gian địa lý, văn hóa đa sắc, hòa
thuận.
“Thung lũng Đồng Vang” được triển khai theo trật tự tuyến
tính, khởi đi từ những ngày tháng Hai đầu Xuân và khép lại vào một chiều áp Tết.
Cuộc sống của những đứa trẻ nói riêng và con người nói chung được miêu tả theo
tuần tự bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Buổi sáng mùa Xuân được miêu tả theo con đường đến trường của
Thụy và Thảo: “Đường đến trường men theo con sông Khê mềm mại chảy giữa thung
lũng. Bầu sương sữa đục tháng Hai phủ trên những chân ruộng lúa mới cấy, tan dần
trong nắng muộn.
Khói sóng la đà, vấn vít trên mặt nước phẳng lặng như còn
đang ngái ngủ. Tiếng chim bìm bịp nhịp năm vọng đều đều từ các bụi tre um tùm.
Một vài cây gạo ven sông đã chấm vội lên trần mây thấp những chấm son đỏ rực”.
Không chỉ thiên nhiên bốn mùa, những phong cảnh kì quan ở
vùng núi cũng được tác giả đưa vào trong câu chuyện một cách khéo léo như giờ
ngoại khóa địa lý ở động Pung, dẫn dắt người đọc đi từ vực Giải, nơi “hợp lưu của
dòng nước xanh trong như ngọc bích từ trong động chảy ra gặp dòng sông Khê”, đến
sâu trong hang động, nơi “những nhũ đá buông xuống như tấm rèm ngọc”, “một vườn
măng đá lô nhô chen mọc, nom tựa các ly kem sữa trắng đầy quyến rũ”.
Đây quả thực là những cảnh sắc kì vĩ của vùng núi miền cao,
nơi thiên nhiên ưu ái ban tặng cho những vẻ đẹp kì thú và tráng lệ mà không nơi
nào có được.
Ngoài đặc tả thiên nhiên, tác giả cũng đặc biệt chú trọng đến
việc miêu tả những đặc sắc văn hóa của người Tày vùng cao. Những truyện “Newton
phố núi”, “Đám cưới vùng cao”, “Trám bùi để rụng”, “Mùa về trên quê hương”,…
chính là những thước phim tư liệu văn hóa bằng ngôn từ mà tác giả muốn mở ra
trước mắt người đọc, từ văn hóa vật chất (cấu trúc nhà ở, trang phục, ẩm thực,…)
cho đến văn hóa tinh thần (cưới hỏi, quan niệm, tín ngưỡng, văn hóa dân
gian,…).
Đây là khu chợ cũ – nơi hiện ra đủ cung bậc văn hóa cuộc sống
vùng cao – có khu bán rau quả đầy màu sắc với “dậu hoa bí còn quện phấn vàng
tươi trên tay người mới hái, rủ theo lũ ong mật vo ve chui ra chui vào”, “bó củ
mài gầy guộc dài ngoẵng, lấm đầy đất đỏ”,…; có gian hàng ẩm thực đủ loại sản vật
địa phương như “đùm trứng kiến trắng tươi được gói trong chiếc lá rộng bản”,
“mùi vịt quay ngầy ngậy lẫn mùi thơm lá mắc mật”, “hương hoa hồi, hương quế vỏ
nồng nàn từ gian hàng lâm thổ sản khô ướp cay bầu không khí đang tiết Xuân
phân”,…
Nghệ thuật miêu tả của tác giả khiến cho độc giả có thể hình
dung được gần như mọi khía cạnh của khu chợ thị trấn: Màu sắc, âm thanh, hương
vị và cả không khí sầm uất tấp nập của nó như chính họ đang hiện diện ở khu chợ
vậy.
Đặt câu chuyện trong không gian nơi người Tày và người Kinh sống
cùng nhau, tác giả Trung Sỹ còn khéo léo gợi lên một không gian văn hóa đa dạng,
đa sắc nhưng hòa hợp, thân tình.
Những bài hát bolero, những ca khúc thiếu nhi quen thuộc, những
bài chầu văn cùng nhau vang lên trong không gian truyện một cách tự nhiên, hòa
quyện. Nhà người Tày ở phố trấn cũng đã làm theo lối phổ thông. Những học trò
người Tày và người Kinh sinh hoạt và học tập chung một ngôi trường.
Và hơn cả, sự gắn kết giữa thầy Thức, cô Vi với lũ trẻ và những
người dân nơi đây; sự yêu mến, quyến luyến, trân trọng của lũ trẻ và người dân
với những thầy giáo, cô giáo từ miền xuôi lên là một trong những biểu hiện sinh
động của sự hòa hợp, thân tình đó.
Cứ như thế, những trang miêu tả cảnh sắc bốn mùa, kì quan
thiên nhiên, nếp sống lối sinh hoạt của người vùng cao, những món ăn, những bài
ca, những nghĩ suy,… trong tác phẩm đã cùng nhau phác họa nên một bức tranh đa
sắc, vừa làm nền cho những câu chuyện trẻ thơ, vừa tự mình tạo nên nét độc đáo,
khác biệt của một “Thung lũng Đồng Vang” rất thực, rất sinh động, dù
rằng đây là địa danh hoàn toàn hư cấu về mặt địa chính như chính nhà văn đã
nói.
Nhiều người cho rằng, “Thung lũng Đồng Vang” là một
cú rẽ ngoặt đầy bất ngờ của nhà văn Trung Sỹ, người trước đó ghi dấu ấn trên
văn đàn như là một cây bút của chiến tranh và cái chết đầy khốc liệt, gai góc.
Quả vậy, thế giới trẻ em trong sáng, thuần khiết, yên bình, rộn
rã tiếng cười trong tác phẩm này gần như đối lập hoàn toàn với thế giới người lớn,
lính chiến, hiểm nguy, dữ dội, bom rơi đạn nổ trong “Chuyện lính Tây Nam”.
Tuy vậy, người đọc vẫn có thể nhận ra chất “Trung Sỹ” thấp
thoáng trong suốt thiên truyện: Đó là chất trinh thám ở “Đêm trong miếu cô
Trôi”, chất phiêu lưu trong “Giờ ngoại khóa Địa lí – động Pung”, chất “chiến
trận” trong “Cuộc phục kích bất ngờ”, những trang miêu tả và thuật kể đầy am tường
về đối tượng miêu tả, giọng văn chắc khỏe, lôi cuốn, đầy hiểu biết,…
Chất “Trung Sỹ” ấy thật sự giúp “Thung lũng Đồng Vang” thoát
được một trong những “cái bẫy” nguy hiểm khi viết cho thiếu nhi, đó là việc
ngây ngô hóa, đơn giản hóa thế giới trẻ thơ với giọng văn mang tính “bắt chước”
trẻ em vốn khá phổ biến trong các sáng tác của người lớn viết cho thiếu nhi.
Tuy vậy, “Thung lũng Đồng Vang” vẫn còn những hạn chế nhất
định, nhất là trong việc xây dựng thế giới nhân vật người lớn mang tính công thức,
khuôn mẫu nên thành ra có phần sáo mòn.
Người lớn, trong sáng tác viết cho thiếu nhi, gần như luôn xuất
hiện như những người thông thái, đạo cao đức trọng, là những người “luôn luôn
đúng” và đóng vai trò như nhân vật “chức năng”: Giáo dục trẻ em. Thầy Thức, cô
Vi, ông Kiền,… đều là những nhân vật như vậy.
Thế nên, trong tác phẩm, nếu nhân vật trẻ em sinh động, có đời
sống tinh thần phong phú bao nhiêu thì nhân vật người lớn lại hơi khiên cưỡng,
khô cứng bấy nhiêu.
Với “Thung lũng Đồng Vang”, tác giả Trung Sỹ đã gieo vào lòng
trẻ em những hạt mầm của những tình cảm thiêng liêng: Tình cảm gia đình, tình bạn
bè, tình thầy trò, tình làng nghĩa xóm, lòng yêu quê hương, xứ sở,…
Ở một chiều sâu xa hơn, tác phẩm còn gợi nên những vấn đề về
đạo đức sinh thái, về việc lưu giữ và trao truyền những kí ức cá nhân đã mang
tính tập thể và lịch sử cho thế hệ kế tiếp, những kí ức văn hóa của một cộng đồng
người ở vùng cao,…và cả cách mà các dân tộc anh em cùng nhau chung sống trong
hòa hợp, đoàn kết và yêu thương nhau.
Tất cả đã được chuyển tải bằng một giọng văn chắc khỏe nhưng duyên dáng, khi rộn rã khi thâm trầm, thật sự tạo nên sức hút không chỉ đối với độc giả nhỏ tuổi mà cả độc giả lớn tuổi hơn.
23/3/2023
Võ Nguyễn Bích Duyên
Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại 2023
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét