Tiểu thuyết "Bửu sơn kỳ hương":
Khắc họa một vùng văn hóa
Lâu nay, nhiều người quan niệm, một cuốn tiểu thuyết
hay, trước hết phải mới ở thi pháp, nghĩa là nó mang đến cho độc giả cách thể
hiện lạ, chí ít cũng đang là model của thời cuộc mà những người viết trẻ đang
hăm hở thực hiện.
Nhưng ở tiểu thuyết Bửu Sơn kỳ Hương của Lý Lan thì hình như không phải thế, vẫn bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, vẫn cách kể truyền thống, thậm chí không có cả không gian hồi tưởng, không gian hiện tại và quá khứ đan xen nhau… Nhưng đọc vẫn hay, hay ở giọng văn, ở nghệ thuật khắc họa nhân vật, ở chi tiết đắt giá, ở vốn sống, vốn văn hóa của tác giả được thể hiện rất linh hoạt, tài tình…
Bối cảnh câu chuyện xảy ra từ cuối thời vua Gia Long, qua thời
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, một thời kỳ đầy giông bão của lịch sử Việt Nam.
Câu chuyện xoay quanh nhân vật huyền thoại, ông Phật Ngồi, sau này trở thành
giáo chủ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, có cách tu theo kiểu người Việt, phù hợp
với văn hóa người Việt nên cuốn hút được khá nhiều tín đồ. Xuyên suốt không
gian và thời gian của truyện là kể về gia tộc người Hoa, vốn là người Minh
Hương sang nước ta chưa lâu, những người phản Thanh phục Minh, được các chúa
Nguyễn cưu mang, cấp đất cho sinh sống và trở thành một bộ phận tích cực trong
xã hội Việt Nam.
Sự gặp nhau giữa ông Phật Ngồi và gia tộc người Hoa của dòng
họ Huỳnh cũng đều làm thuốc cứu người. Giữa lúc Nam bộ đang bị dịch bệnh. Phật
Ngồi học thuốc nhờ nhiều năm tu trên núi; còn dòng họ Huỳnh từ ông nội truyền lại…
Thời cuộc đảo điên, dòng họ Huỳnh cũng chịu nhiều mất mát; Cụ Thượng, Tổng trấn
thành Gia Định qua đời, gia đình cũng bị liên lụy theo, phải trốn tránh sự truy
lùng của quan quân triều đình. Thậm chí ông Phật Ngồi cũng bị nhốt tù vì nghi
là kẻ phản loạn. Mãi đến thời Thiệu Trị, Cụ thượng (Lê Văn Duyệt) được minh
oan, thì vụ án Phước Xuân Đường mới được gỡ bỏ.
Trên cái nền cốt truyện đó, Lý Lan đã kể bằng giọng giàu hình
ảnh, đưa người đọc khám phá một vùng đất mới khai mở, từ Châu Đốc, sát biên giới
với nước láng giềng Chân Lạp xuôi dòng Cửu Long xuống Sa Đéc, Vĩnh Long, sang
sông Vàm Cỏ, sông Bến Nghé, sông Đồng Nai với Cù Lao Phố, Biên Hòa, Đề Ngạn…
Người ta sống trong không gian sông nước, đi lại chủ yếu bằng thuyền. Ta gặp những
con người nghèo khổ, phóng khoáng, với những căn nhà ở hôm trước, hôm sau dời
đi, chỉ cần vài cái đạp là dọn xong. Cảnh sông nước cá tôm nhiều đến dùng tay
không cũng bắt được… Thiên nhiên, xã hội đã tạo nên tính cách con người Nam bộ,
trọng người nghĩa khí. Người Minh Hương sang ở chung với những người Việt, và
chính những người Nam bộ đã làm thay đổi cách sống của người Minh Hương. Họ tựa
vào nhau bằng đức tin tôn giáo, bằng tình người, bằng lòng nhân hậu. Trong truyện
ta gặp các nhân vật như chị Hai, Bình, ông bà Tư… xoay quanh nhân vật ông Phật
Ngồi, họ vừa làm nổi bật ông Phật Ngồi, vừa thể hiện chất hồn nhiên của người
dân Nam bộ.
Ông Phật Ngồi, nguyên mẫu là Đạo Lành, sau này được gọi là Phật
Thầy Tây An do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập. Ông có tài trị bệnh cho dân. Tiếng
lành đồn xa, người ta tin theo những lời răn dạy của ông. Bửu Sơn là núi báu, Kỳ
Hương là hương thơm lạ. Đạo của ông không chú trọng vào hình thức như thờ tượng
phật, không cần ly gia cắt ái, không cần ăn chay, cạo râu, cạo tóc, gõ mõ tụng
kinh… Ngay cả khi ông Phật ngồi, chị Hai, Bình bị bỏ rơi trên cồn vắng cả năm
trời, Bình vẫn thấy ông Phật ngồi tĩnh tọa, bình thản… Sau này, chính ông Phật
Ngồi đã cuốn nhân dân kéo về Bảy Núi để lập làng kháng chiến chống lại quân xâm
lược Pháp, đúng theo giáo lý của ông “Ân đất nước”. Nhân vật giáo phái tu theo
kiểu riêng chỉ có ở người Nam bộ, lòng thương dân, lòng yêu nước và cuốn hút
người dân đi theo cũng đúng theo kiểu Nam bộ.
Nhân vật Chị Hai cũng rất đặc biệt, chị sống tự do, gặp hoàn
cảnh éo le bị dạt sang cồn vắng, chính chị là người lo cho ông Phật Ngồi và anh
chàng Bình hậu đậu. Chị biết bện dây rừng làm võng, cất chòi cho cả ba người ở,
đi hái rau tập tàng về cho cả ba người ăn, chị lo cho họ như lo cho người thân
của mình một cách vô tư. Rồi chị có bầu với Bình, trong một trận lũ kinh hoàng,
chị bị đẻ rớt từ trên ngọn cây. Thai nhi rớt xuống nước còn mang theo nhau và
cuống rốn. Không sợ nguy hiểm, chị nhào xuống nước theo con và bị lũ cuốn đi.
May nhờ ông bà Tư, đôi vợ chồng già neo đơn đã cứu vớt được mẹ con chị, cưu
mang hai mẹ con với tấm lòng nhân hậu. Còn anh chàng Bình tuy hơi hậu đậu nhưng
là người thật thà, trung thành. Chính anh sau này đã theo Phật thầy kéo về Bảy
Núi cùng nhân dân kháng chiến chống Pháp.
Những nhân vật người Hoa trong truyện được tác giả xây dựng
khá thành công. Họ là những người có tầm nhìn xa, có ơn trả ơn bằng việc trung
thành với các chúa Nguyễn khi các chúa Nguyễn cho họ vào sinh sống ở đất Nam bộ.
Họ giúp đỡ các chúa Nguyễn ngay cả khi chúa Nguyễn bị thất bại, lúc Nguyễn Ánh
chỉ còn vài chục người đi theo. Chính vì sự trung thành đó họ bị Tây Sơn trả
thù, truy sát. Nhưng khi Nguyễn Ánh thành công, lên làm vua, họ lại không ra
làm quan, chỉ mở nhà thuốc cứu dân, nhất là khi đại dịch kéo đến, họ dám liều mạng
ở trong tâm dịch để cứu chữa cho các nạn nhân vô vụ lợi. Qua ngòi bút của Lý
Lan, những người Hoa thật độ lượng, thật quảng giao, trọng nghĩa khí. Có ơn trả
ơn, có lỗi tìm cách chuộc lỗi. Khi thực dân Pháp cai trị, mặc dù họ biết tiếng
Pháp cũng không ra hợp tác với quân xâm lược. Cũng có người đã theo ông Đạo Ngồi
lên núi kháng chiến chống Pháp. Có lẽ Lý Lan sinh ra, lớn lên trong gia tộc người
Hoa nên chị rất rành tính cách, văn hóa người Hoa. Những trang viết của chị có
tâm thức người Hoa, nó bàng bạc trong những câu chữ không dễ dẫn ra được, nhưng
chị đã thành công khi xây dựng những nhân vật này.
Cuối cùng là nhân vật hiện nay vẫn còn tranh cãi là nên tôn
vinh hay lên án, đó là Phan Thanh Giản, làm quan qua mấy đời vua nhà Nguyễn, cuối
cùng là vua Tự Đức. Ông nhiều lần bị giáng chức rồi lại phục chức. Vua giao trọng
trách cho ông sang Pháp đàm phán chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam bộ, nhưng cuộc
đàm phán thất bại – dĩ nhiên. Vua giao cho ông trấn nhậm vùng biên địa phương
Nam khi ông đã bước qua tuổi bảy mươi. Lúc “Mười mấy tàu Pháp đậu kín mặt nước
trước thành Vĩnh Long, cả trăm nòng pháo chĩa vào thành… Pháo của chúng sẽ bắn
tan nát thành lũy trong vòng một giờ, sau đó năm ngàn lính tập được huấn luyện
kỹ và một ngàn chiến sĩ dũng mãnh Pháp với vũ khí tối tân sẽ đổ bộ và giết bất
kỳ kẻ kháng cự nào… Ông Giản đứng như trời trồng. Ông không chỉ nghĩ đến vợ
con… ông nghĩ đến hàng ngàn gia đình tỵ địa chưa kịp ở yên, ông nghĩ đến hàng
trăm sĩ tử tuổi đôi mươi và tất cả sĩ phu đang tụ tập ở Văn thánh miếu, ông
nghĩ đến hàng vạn người đang cấy lúa, đắp bờ, phần lớn là đàn bà trẻ con. Ông
chấp nhận giao thành với điều kiện quan Pháp không cho lính tàn sát nhân dân”
(Tr.327,328)…Cái chết của Phan Thanh Giản giống như cái chết của Võ Tánh và Ngô
Tòng Chu khi không giữ được thành Bình Định thời chúa Nguyễn Ánh; trước khi chết,
họ cũng yêu cầu quân địch không sát hại nhân dân và những người lính trong
thành; Phan Thanh Giản đã nhận trách nhiệm về mình và tuẫn tiết một cách bi
hùng.
Tuy vậy cuối cuốn tiểu thuyết tác giả vẫn hé cho người đọc niềm
hy vọng, bởi vẫn còn hơn một ngàn người vẫn cầm súng kháng chiến trong núi Cấm,
nơi có đại bản doanh của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhất là đoạn kết có hậu “Lịch
sử chép, Pháp chiếm toàn cõi nước Việt Nam năm 1884 và phải hoàn toàn rút khỏi
Việt Nam sau khi đầu hàng ở Điện Biên Phủ năm 1954”.
Lý Lan đã từng dạy học ở Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ, là tác giả của của hơn 30 đầu sách, dịch giả của bộ sách Harry Potter, nghĩa là chị đang sống trong dòng chảy văn học phương Tây, nhưng chị không bắt chước cách viết theo trào lưu phương Tây. Chị chọn cách viết có vẻ truyền thống, nhưng nghệ thuật cao nhất là thể hiện kỹ năng tốt nhất điều mình muốn nói. Ở Bửu Sơn Kỳ Hương, tác giả Lý Lan bằng cách kể điềm tĩnh, với nhiều chi tiết độc đáo, giàu hình ảnh đã khắc họa được không gian một vùng văn hóa đặc sắc của đất phương Nam buổi đầu mở cõi của dân tộc ta, đó là thành công đáng ghi nhận.
17/3/2023
Nguyễn Trường
Nguồn:
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét