Văn học và y học nhìn
từ mối quan hệ liên ngành
Thế kỷ XIX, sự xuất hiện đặc biệt của hai vị bác sĩ tâm thần nổi tiếng là John Charles Bucknill (1817-1897) và Sigmund Freud (1856-1939) được công nhận là khởi điểm cho việc nghiên cứu một cách nghiêm túc về mối quan hệ giữa văn học và y học. Bởi Bucknill và Freud là hai trong số những nhà y học đầu tiên sử dụng văn học để tạo nên bước đột phá mới trong lịch sử y học.
Việc Bucknill nghiên cứu những tác phẩm của Shakespeare nhằm
khám phá những ý tưởng mới về bệnh lí tâm thần và việc Freud đặt nền tảng cho sự
ra đời của phân tâm học là những trường hợp tiêu biểu minh chứng cho mối quan hệ
giữa y học và văn học. Đặc biệt, từ khoảng nửa sau thế kỉ XX, nhiều đề tài
nghiên cứu, nhiều tờ báo, tạp chí khoa học, nhiều hội thảo… chuyên sâu trên thế
giới đã khám phá các vấn đề liên ngành giữa hai lĩnh vực y học và văn học từ
nhiều bình diện cụ thể.
Nhìn từ tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, văn học
và y học vốn được xem là hai lĩnh vực có mối quan hệ tương hỗ lâu dài. Cùng lấy
con người làm đối tượng trung tâm để tiếp cận, cả văn học lẫn y học đều có mục
đích là khám phá, thấu hiểu con người trên mọi phương diện, từ đó đồng hành
cùng con người trên hành trình vươn đến một đời sống khỏe mạnh, tốt đẹp cả về
thể xác lẫn tinh thần.
Thực tế đã chứng mình có vô vàn áng văn thơ vang danh đông
tây kim cổ trở thành những “thần dược” chữa trị tâm bệnh hữu hiệu. Việc đọc một
tác phẩm văn chương hay, có giá trị được ví như việc uống những viên thuốc bổ
giúp bồi dưỡng trí tuệ và tâm hồn con người. Tương tự, từ y học cổ truyền đến y
học hiện đại đều cho rằng một cơ thể khỏe mạnh không chỉ được biểu hiện ở sự cường
tráng về mặt thể chất mà còn ở sự sảng khoái, minh mẫn, tinh anh về mặt tâm lí,
tinh thần, trí tuệ.
Tính chất liên ngành giữa văn học và y học có thể thấy rõ qua
một số khía cạnh nhất định. Nhiều đặc tính của y học được phản ánh trong văn học
như những đối tượng cụ thể và ngược lại. Có không ít thuật ngữ y khoa từng được
nhắc đến, minh giải trong các tác phẩm văn học.
Thoạt đầu, một số chứng bệnh di truyền có liên quan đến sự đột
biến gene như bệnh ma cà rồng, bệnh người sói, bệnh người lùn, bệnh người cá… đều
được đặt tên theo các nhân vật trong một số truyện cổ dân gian. Nhiều tên gọi
chứng bệnh của tâm lí học cũng có khởi điểm từ thần thoại Hi Lạp như mặc cảm
Oedipe, mặc cảm Electra, mặc cảm Prométhée, bệnh lí Narcisse…
Đến khi nền văn học viết được xác lập, nhiều tác giả văn học
đã gọi tên và diễn tả các chứng bệnh trước cả khi y học ghi nhận về chúng. Ở Nhật
Bản, xuất phát từ kiệt tác Truyện kể Genji của nữ sĩ Murasaki
Shikibu, thuật ngữ “phức cảm Genji” đã được nhiều nhà tâm lí học cũng như người
dân Nhật Bản đời sau sử dụng để miêu tả hiện tượng người Nhật luôn có ham muốn
nương tựa vào mẹ của họ suốt cuộc đời.
Hay ở Pháp, xuất phát từ vở hài kịch Người bệnh tưởng của đại
văn hào Molière, thuật ngữ “bệnh tưởng” được sử dụng để chỉ rối loạn lo âu mắc
bệnh và rối loạn triệu chứng thực thể, trong đó người bệnh luôn ám ảnh bản thân
có bệnh nặng mặc dù chỉ có triệu chứng bệnh nhẹ.
Còn ở Anh, sau khi nhà văn Robert Louis Stevenson cho ra đời
cuốn tiểu thuyết dị kì Bác sĩ Jekyll và ông Hyde, tên gọi “Jekyll và Hyde” đã
trở thành thuật ngữ tâm lí học chỉ hội chứng đa nhân cách của con người.
Hơn nữa, trên lập trường lấy các vấn đề thuộc về y học làm đối
tượng trung tâm để sáng tác và phản ánh, lịch sử văn học thế giới còn ghi nhận
một khối lượng tác phẩm lớn đề cập đến các chứng bệnh của nhân loại: tiểu thuyết Trà
hoa nữ (1848) của Alexandre Dumas (con) đề cập đến căn bệnh lao; tiểu thuyết Thằng
ngốc (1868) của Dostoevsky đề cập đến chứng động kinh; tiểu thuyết Dịch
hạch (1942) của Albert Camus đề cập đến bệnh dịch hạch; nhật kí Một
lít nước mắt (1988) của cô gái nhỏ người Nhật Kito Aya đề cập đến căn bệnh
thoái hóa tiểu não; tự truyện Chiếc áo lặn và con bướm (1997) của nhà
văn Pháp Jean-Dominique Bauby đề cập đến chứng tai biến mạch máu não và tàn phế
ở tuổi trung niên…
Bên cạnh đó, không hiếm tác phẩm xây dựng hình tượng trung
tâm là y bác sĩ và sử dụng nhiều diễn ngôn y khoa: tiểu thuyết Thành
trì (1937) của A.J.Cronin kể về bác sĩ Andrew Manson; tiểu thuyết Bác
sĩ Zhivago của Boris Pasternak kể về bác sĩ quân y Yury Zhivago; tiểu thuyết Sự
im lặng của bầy cừu (1988) của Thomas Harris kể về bác sĩ thần kinh học
Hannibal Lecter; tự truyện Khi hơi thở hóa thinh không của bác sĩ
Paul Kalanithi kể về hành trình chống lại căn bệnh ung thư…
Đặc biệt, khi lấy y học làm đối tượng phản ánh và khảo tả,
văn học không ngừng khám phá bản thể vốn đa dạng, chi tiết mà thầm kín của con
người, lí giải nhiều nguyên nhân có ý nghĩa về mặt y khoa, cũng như xem xét lại
nhiều diễn ngôn truyền thống.
Nhìn từ chiều ngược lại, có không ít tác phẩm văn học là công
cụ hữu hiệu trong việc nghiên cứu bệnh tật cũng như điều trị bệnh nhân. Đối với
y bác sĩ và sinh viên y khoa, việc đọc các tác phẩm văn học không chỉ giúp họ
giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi sau những giờ làm việc, học tập vất vả mà nhiều
lúc còn giúp họ có thể diễn giải bệnh tật một cách sinh động, gần gũi đồng thời
có thể gia tăng khả năng thấu cảm khi đối mặt với hoàn cảnh và vấn đề mà bệnh
nhân mắc phải.
Việc đọc tác phẩm văn học còn có thể giúp cải thiện đáng kể
chỉ số lo lắng và trầm cảm của con người. Sách văn học là thứ giả dược quý giúp
chúng ta giải phóng số lượng lớn hormone hạnh phúc dopamine trong não, đồng thời
gia tăng khả năng ghi nhớ lâu dài.
Mối quan hệ liên ngành giữa văn học và y học còn được thấy rõ
trong tổ hợp danh xưng nghề nghiệp của khá nhiều bác sĩ. Thực tế, không ít những
vị lương y nổi tiếng trên thế giới đồng thời là những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng:
Friedrich Schiller – bác sĩ giải phẫu quân đội kiêm kịch gia tài ba nước Đức;
Anton Chekhov – vị bác sĩ khả kính và cũng là nhà văn kiệt xuất người Nga;
Archibald Cronin – vừa là một bác sĩ đại tài vừa là một trong những người viết
truyện hay nhất thế kỉ XX…
Ở Việt Nam, nhiều danh y xuất thân Nho học cũng đồng thời là
nhà văn, nhà thơ lỗi lạc như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đình Chiểu…
Trong không gian đương đại, nhiều bác sĩ, dược sĩ đồng thời là nhà văn, nhà
thơ: Trương Thìn, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Phước, Phạm Nguyên Tường, Trần Thanh
Cảnh, Triều La Vỹ… Bên cạnh đó, nhiều nhà văn, nhà thơ xuất thân là sinh viên
ngành y: Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lê Minh Nhựt…
Có thể nói, không nhiều ngành độc lập lại có mối liên hệ sâu
sắc như văn học và y học. Nếu như văn học chủ yếu bồi dưỡng trí tuệ và tinh thần
cho người đọc một cách gián tiếp thông qua các hình tượng thẩm mĩ thì y học chủ
yếu giúp bệnh nhân đảm bảo sức khỏe, chống lại bệnh tật một cách trực tiếp bằng
các biện pháp và cơ chế y khoa.
Nhìn một cách tổng thể, cả bệnh nhân và người đọc đều tìm đến
y học và văn học xuất phát từ nhu cầu sống. Và như đã nói, có không ít người đọc
văn học là bệnh nhân, đặc biệt là những người mắc hội chứng thần kinh; lúc này
nhà văn như là bác sĩ tâm lí gián tiếp góp phần “chữa trị” cho họ bằng những liệu
pháp tinh thần.
Trong quá trình giao thoa và phát triển của hai lĩnh vực y học
và văn học, một số trường phái lí thuyết của y học có sự liên hệ, tương tác với
văn học mà tiêu biểu nhất là phân tâm học do bác sĩ người Áo Sigmund Freud đặt
nền móng. Mặc dù ngày nay, vấn đề phân tâm học có phải là một trường phái thuộc
lĩnh vực y học hay không còn gây nhiều tranh cãi, nhưng số đông các nhà y học
đã công nhận điều này.
Nhìn về mối quan hệ gần gũi giữa văn học và phân tâm học, dễ
thấy nhiều khái niệm mà phân tâm học từng đề cập và sử dụng có nguồn gốc từ văn
học như đã trình bày ở phần trên. Thoạt đầu, Freud sử dụng những truyện kể cổ
xưa để giúp mọi người tiếp nhận lí thuyết của ông một cách dễ dàng. Đến khi
phân tâm học được đón nhận rộng rãi, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã vận dụng một
số lí thuyết quan trọng của trường phái này như lí thuyết về vô thức, lí thuyết
về tính dục, lí thuyết về cơ cấu nhân cách toàn diện… để hướng đến giải mã nhiều
vấn đề liên quan đến tác phẩm như việc luận giải các biểu hiện thuộc về vô thức,
các mặc cảm của nhân vật hay nhìn nhận hành vi vô thức sáng tạo của một số tác
giả văn học.
Kế tiếp Freud, người học trò cũng là người bạn của ông – Carl
Gustav Jung (1875-1961) đã đưa ra nhiều thuật ngữ về tâm lí học phân tích được
sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học như mẫu gốc (nguyên mẫu, cổ mẫu), vô
thức tập thể, phức cảm, đồng hiện…
Đặc biệt, phân tâm học còn trở thành tiền đề cho việc ra đời
một số khuynh hướng và thể loại văn học thuộc chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu
hiện đại. Những lí thuyết xuất phát từ phân tâm học như trên không chỉ giúp các
tác phẩm văn chương được tái khám phá, nhìn nhận ở góc độ mới mà còn trở thành
khuynh hướng sáng tác văn học hấp dẫn được ưa chuộng trên thế giới vào khoảng từ
nửa sau thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI.
Tư tưởng của Freud về vô thức, về kĩ thuật liên tưởng tự do
cũng như việc tái khám phá tầm quan trọng của những giấc mơ đã khuyến khích các
tác giả văn học thử nghiệm sử dụng kĩ thuật dòng ý thức, đề cao lối viết tự động,
cái ngẫu nhiên, từ chối tư duy phân tích logic mà tiêu biểu là các tác phẩm của
chủ nghĩa dada và chủ nghĩa siêu thực. Bước sang địa hạt của văn chương hậu hiện
đại, việc quá đề cao yếu tố trò chơi trong sáng tác, xem sự viết như một nghệ
thuật phối ngẫu những mảnh ghép tự động, đặc biệt ở thể loại thơ, là minh chứng
cho thấy sự gần gũi giữa phân tâm học và văn học.
Một trường phái khác của y học cũng được nhắc đến khá nhiều
trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI và có mối quan hệ tương đối gần gũi với văn
học chính là y học thẩm mĩ. Hướng đến việc sử dụng các phương pháp điều trị thẩm
mĩ xâm lấn tối thiểu để tăng cường sự hài lòng của bệnh nhân về ngoại hình, y học
thẩm mĩ đặc biệt quan tâm đến vẻ đẹp bên ngoài và sức khỏe của con người.
Đây cũng là vấn đề rất được chú trọng trong phê bình nữ quyền
phương Tây về các phạm trù như lí tưởng cái đẹp và thực hành làm đẹp. Chính sự
xuất hiện những quy chuẩn, lí tưởng về vẻ đẹp đã trở thành tiền đề, nguyên nhân
cho việc thực hành làm đẹp, cải tạo vẻ đẹp thân thể. Bản thân văn học cũng lấy
thẩm mĩ làm đối tượng sáng tác và nghiên cứu, đặc biệt là vẻ đẹp ngoại hình của
người nữ.
Thần thoại cổ đại của phương Tây lẫn phương Đông đều nhắc đến
các vị thần đại diện cho sắc đẹp nữ giới như Aphrodite (thần thoại Hi Lạp),
Freyja (thần thoại Bắc Âu), Cliodna (thần thoại Celtic), Lakshmi (thần thoại Ấn
Độ), Hathor (thần thoại Ai Cập), Oshun (thần thoại Yoruba – châu Phi), Ixchel
(thần thoại Aztec)…
Ca dao, dân ca Việt Nam cũng đề cập rất nhiều đến chuẩn mực vẻ
đẹp của người phụ nữ xưa: Những người con mắt lá răm/ Lông mày lá liễu
đáng trăm quan tiền; Ai xui má đỏ, môi hồng/ Để anh nhác thấy đem lòng thương
yêu; Những người thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con; Một
thương tóc bỏ đuôi gà/…/ Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng nhánh hạt
huyền kém thua; Lưng ong, mắt phượng, mày ngài/ Cổ cao ba ngấn kém ai trong đời…
Đến thời kì văn học trung đại, vẻ đẹp hình thể của nữ giới
càng được quan tâm khi xuất hiện rất nhiều phép ước lệ so sánh như khuôn trăng,
nét ngài, da tuyết, mắt phượng, gót sen, tóc mây, tay măng… Bước sang thời kì
văn học hiện đại và đương đại, vẻ đẹp hình thể người nữ trở thành một trong những
chủ đề được bàn luận khá nhiều, đặc biệt là xuất hiện dày đặc trong các sáng
tác của nữ giới lớp diễn ngôn thân thể và diễn ngôn chấn thương: “Cả thảy có mười
một hồ sơ xin việc. Ba cô loại ngay vòng đầu vì quá xấu” (tiểu thuyết Chân
trần của Thùy Dương); “…vợ hắn thừa hưởng từ cha đẻ hầu như toàn bộ hình
thể, nhất là khuôn mặt với quai hàm vuông gấp bốn người thường; đã hơn bốn lần
hắn nài nỉ vợ hắn nuôi tóc dài nhưng vợ hắn một mực từ chối, hắn đành bó tay để
âm thầm chịu đựng” (tiểu thuyết Thang máy Sài Gòn của Thuận); “Sân khấu
lúc này diễn trích đoạn balê Cái chết của con thiên nga, nữ diễn viên vai chính
có khuôn mặt tuyệt đẹp nhưng đôi chân hơi béo, không múa mà chỉ đưa đẩy cặp
mông vĩ đại gần như hở hoàn toàn dưới chiếc váy bồng, người xem không thể không
liên tưởng đến một con vịt bầu” (tiểu thuyết Chỉ còn 4 ngày là hết tháng
tư của Thuận)…
Có thể thấy, hầu hết những diễn ngôn trên đều gián tiếp nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của việc sở hữu một hình thể đẹp, dễ nhìn. Đặc biệt, bản
thân “vẻ đẹp” là khái niệm thường được gắn cho nữ giới như một đặc trưng phái
tính. Chính vì mong muốn đạt được vẻ đẹp ngoại hình, một bộ phận không nhỏ người
nữ trong xã hội đã buộc bản thân lệ thuộc và tự ép mình theo những tiêu chuẩn
đó. Thế kỉ XX và đặc biệt là đầu thế kỉ XXI, các dịch vụ phẫu thuật thẩm mĩ
không ngừng nở rộ và văn hóa làm đẹp được đề cao.
Đáng chú ý, tự bản thân văn học cũng đã từng tạo ra những
hình tượng nhân vật được nhiều độc giả nhìn nhận là có ngoại hình lí tưởng, là
động cơ để họ quyết định đi phẫu thuật thẩm mĩ sao cho giống với nhân vật đó nhất,
bất chấp hệ lụy khôn lường.
Báo chí từng ghi lại trường hợp Melynda Moon – một cô gái người
Canada vì quá say mê bộ phim được chuyển thể từ thiên tiểu thuyết Chúa tể
những chiếc nhẫn đã quyết định phẫu thuật đôi tai của mình trở nên nhọn hoắt.
Và thậm chí, hiện tượng này còn xảy ra đối với cả nhiều người nam: chàng trai
có tên Henry Rodri vì quá yêu thích nhân vật Red Skull trong bộ truyện tranh của
Mavel đã quyết định phẫu thuật cắt bỏ, sửa mũi và cấy ghép thêm những nối lồi
trên trán; Richard Hernandez – cựu Phó Chủ tịch của Ngân hàng Commerical
Banking (Mĩ) vì quá cuồng mộ Voldemort – một nhân vật trong bộ tiểu thuyết Harry
Potter đã quyết định trải qua hơn hai mươi lần phẫu thuật để biển đổi các
bộ phận trên cơ thể…
Chính điều này vô hình trung góp phần giúp ngành y học thẩm
mĩ phát triển đa dạng hơn. Theo thị hiếu riêng của khách hàng, phạm vi chuẩn thẩm
mĩ từ đó được mở rộng, mà có khi được “đo” từ những nhân vật trong các bộ tiểu
thuyết hay truyện tranh nổi tiếng. Từ đó, các tác phẩm văn học dần trở thành đối
tượng nghiên cứu, tìm hiểu của các bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ nói riêng và ngành
y học thẩm mĩ nói chung.
Như vậy, nhìn từ mối quan hệ liên ngành, văn học và y học có
nhiều sự gặp gỡ và giao thoa thú vị. Ngày nay, trên thế giới, việc nghiên cứu mối
quan hệ đặc biệt này đã không còn xa lạ, nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ rất cần được
tiếp tục minh giải. Với văn học, việc định hướng nghiên cứu từ góc nhìn y học
giúp giải mã và thấu thị các hình tượng nhân vật có liên quan đến bệnh tật và
thân xác, đặc biệt là những chấn thương về tinh thần.
Xét thấy, không ít tác phẩm văn học Việt Nam, từ tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp hay nhiều tác phẩm của Y Ban, Võ Thị Hảo, Đoàn Minh Phượng, Dạ Ngân, Thuận, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Khắc Ngân Vy… đã sử dụng không ít diễn ngôn y khoa như một hình thức liên văn bản trong truyện kể, nhìn nhận một cách đa chiều về tâm sinh lí con người. Thiết nghĩ, góc nhìn y học hứa hẹn là hướng mở giàu tiềm năng của khoa học văn chương.
27/2/2023
Nguyễn Hữu Minh
Nguồn: VNQĐ
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét