Hoàng Lê nhất thống chí 3
Vua lại sai Đình Giản qua miền thượng du trấn Sơn Tây, kêu gọi
nghĩa binh các trấn Tuyên Quang, Hưng Hoá, hẹn ngày cùng đến. Còn tự mình thì
đi tới vùng Hải Dương, truyền hịch chiêu dụ.
Lúc vua đến huyện Chí Linh, quan văn đi theo chỉ có ba người
là Trần Danh án, Vũ Trinh và Ngô Thì Chí mà thôi.
Ngô Thì Chí có dâng vua bài "Sách lược trung hưng"
như sau:
"Thần trộm nghĩ, dẹp loạn phải xem cơ, dùng võ phải có đất.
Vua Thiếu Khang giữ Luân ấp mà sau mới dấy được nghiệp trung hưng; Vua Chiêu Liệt
chiếm ích Châu mà sau mới chống được kẻ ngoại địch. Địa thế nước ta, Cao Bằng,
Lạng Sơn nằm ở phía đông bắc, giáp với đất Trung Hoa. Núi sông hiểm trở, đủ để
giữ vững, binh mã hùng cường, đủ để tiến đánh. Nay bệ hạ hãy ngự giá đến đó,
sai một sứ thần sang báo với nhà Thanh, xin họ đem quân đóng áp bờ cõi, để làm
thanh viện cho ta; đồng thời đưa mật chỉ cho hào kiệt bốn trấn, bảo họ hưởng ứng.
Lòng người đã được khích lệ, ai dám không theo? Trăm quan kẻ nào chưa theo kịp,
ai dám không tới? Ngoài tựa vào thế thượng quốc, trong nhóm họp quân cần vương,
khiến cho thế giặc mỗi ngày mỗi trơ trọi, thế ta mỗi ngày một lớn mạnh. Rồi đó,
ta sắp đặt phương lược, tiến lên khôi phục kinh thành, công nghiệp trung hưng hẳn
có thể hẹn ngày mà làm nên được!".
Vua vời Chí tới và bảo:
- Ngươi nói rất hợp ý ta. Mùa đông năm ngoái, ta sai hoàng đệ
và các hoàng thân hầu thái hậu lên Cao Bằng, có đưa mật chỉ cho viên đốc đồng
Nguyễn Huy Túc, dặn y dùng lời nghĩa khí khích động lòng người, liên kết bọn
phiên tướng, tụ tập quân biên cương, cũng là sắp sẵn cho việc ấy. Nhưng còn Lạng
Sơn thì ta chưa sai ai đi.
Chí tâu:
- Trước kia, khoảng năm Đinh Dậu (1777), niên hiệu Cảnh Hưng,
cha thần đã vâng chiếu lên làm trấn thủ xứ Lạng Sơn, để tuyên bố uy đức của triều
đình và chiêu tập những kẻ lưu vong. Nhân dân bảy châu, đến nay vẫn còn mến
yêu. Thần xin lên đó, vâng chỉ chiêu dụ, nhân dịp báo tin cho Túc, tâu với thái
hậu, hẹn ngày ra quân để đón xa giá. Thế là một chuyến đi mà được cả hai việc.
Vua Lê khen là phải rồi cho Chí đi. Chí mới đến huyện Phượng
Nhãn thì phát bệnh, không thể đi tiếp, liền gửi tờ biểu về xin nghỉ ít hôm để
điều trị. Vua bèn cho mười nén bạc để chi về việc thuốc thang.
Trong lời biểu của Chí gửi về tạ ơn vua, có đoạn viết:
"Gặp cơn nguy biến, chí hợp mà tâm đồng; nghĩa vua tôi
ngàn năm mới gặp; trong đạo luân thường, phận ưa mà tình nặng; tình cha con một
nhà khác chi? Nay gặp buổi quốc gia còn lắm nạn; chính là khi thần tử phải quên
mình. Dám đâu vì việc riêng mà tiếc thân; nguyện sẽ đeo bệnh tật để dấn bước".
Vua xem tờ biểu lấy làm cảm động.
Vừa lúc đó, bọn Đình Dư, Doãn Lệ sai người đưa tờ mật biểu tới
nói rằng: "Các vùng Đông Ngàn, Kim Hoa, Võ Giàng, Quế Dương (nay đều thuộc
Hà Bắc; riêng Kim Hoa sau đổi là Kim Anh nay thuộc Vĩnh Phú và một phần nhập
vào huyện Sóc Sơn thuộc Hà Nội), lòng người đâu đâu cũng căm tức. Bọn thần đã
tuyên lời chiếu dụ, các hào mục đều xin dấy quân cần vương. Cúi xin xa giá trở
về Kinh Bắc, để cho bọn họ được vào yết kiến. Rồi nhân đó, bệ hạ ban lời dụ trước
mặt họ cho họ về nói lại với nhau, như vậy ai mà không theo? Khi đã phò giá về
đóng ở đấy, thì người trong thiên hạ đều được trông thấy mặt trời. Đình Giản
trước đây đi Sơn Tây, Tôn Lân trước đây đi Sơn Nam, cũng được xa nhờ tiếng tăm,
uy linh của nhà vua mà đem quân về họp. Hà tất phải lên Lạng Sơn, là nơi bờ cõi
xa xôi cách trở? Bọn thần e rằng cứ nấn ná ngày tháng sẽ làm lỡ mất cơ hội, rồi
lại bỏ chỗ gần mà lo chỗ xa, thì thật là thất sách!".
Vua Lê cho lời ấy là phải.
Vũ Trinh mời nhà vua về làng Xuân Liên, huyện Lang Tài (nay
sáp nhập với huyện Gia Bình thành huyện Gia Lương). Cha Vũ Trinh là Vũ Chiêu
làm tờ biểu xin dâng hai trăm lạng bạc để tiêu vào việc quân. Vua nhận số bạc ấy,
bèn dùng nhà Chiêu làm nơi hành tại.
Lại nói, khi Bắc bình vương sai Võ Văn Nhậm ra đánh đất Bắc,
vốn do mệnh lệnh đã định từ trước, nhưng trong bụng cũng hơi nghi ngờ Nhậm, bèn
sai bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân làm tham tán quân vụ để chia bớt quyền của Nhậm.
Bắc bình vương lại bảo riêng với Sở rằng:
"Nhậm là con rể vua anh. Nay ta với vua anh có sự xích
mích, lòng y chắc cũng không yên. Chuyến này y cầm trọng binh vào nước người, sự
biến không thể liệu trước được. Nay ta không lo Bắc Hà mà chỉ lo về Nhậm mà
thôi. Ngươi nên xem xét từng ly từng tý, hễ có gì thì phải gấp rút báo cho ta
biết. Ví như lửa cháy, dập tắt từ khi mới bén thì dễ dàng hơn".
Lúc Nhậm thừa thắng kéo xe ra Bắc, như vào làng bỏ trống,
không một người nào dám chống cự. Nhậm có vẻ dương dương tự đắc. Kịp khi bắt sống
được Nguyễn Hữu Chỉnh, Nhậm tự cho là uy vũ của mình đủ khiến người ta phải phục,
khu xử việc Bắc Hà không có gì khó.
Khi nghe vua Lê chạy sang phía bắc, nương tựa vào Nguyễn Trọng
Linh, Nhậm liền tức tốc gửi thư bắt buộc LInh phải đem vua Lê ra nộp. Nhậm lại
cho đòi các người trong tôn thất và các quan văn võ phải đến cửa quân chờ hầu;
thường dùng cách hất hàm, đưa mắt, dùng bộ điệu, khí sắc để sai khiến mọi người
mà chẳng ai dám làm gì.
Thế nhưng, rốt cuộc Nguyễn Trọng Linh vẫn không đến, các viên
quan có thế lực cũng chẳng có ai tới. Trần Quang Châu ở Kinh Bắc. Nguyễn Viết
Tuyển ở Sơn Nam, Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương, ai nấy cầm quân giữ đất và nói
phao lên rằng, chẳng bao lâu, bốn phía sẽ nhòm về kinh đô, cùng Nhậm quyết chiến.
Rồi đó, hễ quân Tây Sơn có tên nào ra khỏi thành là bị bọn thổ hào giết chết.
Giặc cướp cũng nhân dịp nổi lên khắp nơi, khói lửa liên tiếp. Lúc bấy giờ Nhậm
mới có ý sợ, liền bắt hết nhân dân quanh vùng kinh kỳ đắp lại thành Đại La.
Ngày đêm đốc thúc, không cho nghỉ ngơi chút nào, đến nỗi có người đang đội đất
mà ngã sấp xuống. Làm lụng mệt nhọc, đói khát, ai cũng ta oán. Khi ấy, có người
đồn rằng: Trần Quang Châu đã lẻn vào trong thành làm nội ứng, hẹn Nguyễn Viết
Tuyển đem binh thuyền ngược dòng sông Nhĩ Hà đi lên để làm ngoại ứng. Nhậm bèn
hạ lệnh lùng khắp kinh sư, những người ở trọ trong các phố phường đều đem chém
chết.
Ngô Văn Sở nói:
- Mình cứ vững dạ, có lo gì họ? Nếu mình tự bối rối trước,
thì còn trấn áp được ai? Chi bằng tha họ cho yên lòng dân.
Nhưng Nhậm không nghe. Vừa lúc ấy có người ở làng Cơ Xá, huyện
Gia Lâm, tự xưng là Trần Đình Khôi làm chức thiêm sự của nhà Lê, xin vào yết kiến.
Nhậm cho mời vào và hỏi:
- Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ vong mạng, lấy trộm ngôi cao, tàn hại
nhân dân, thiên hạ ai cũng căm giận. Người Bắc Hà mưu đồ đánh hắn mà không được,
trở lại bị hắn làm hại. Nay ta trừ hắn đi cho, đáng lẽ ơn ta mới phải, sao ta vời
mà không ai đến?
Khôi đáp:
- Ông có tài quyết thắng ở ngoài ngàn dặm, lẽ nào lại không
xét rõ tình người? Người Bắc Hà dù oán Chỉnh rất sâu, mà lòng nhớ nhà Lê chưa
nguôi. Họ thấy ông giết Chỉnh, xa gần cũng đã mừng rỡ, nhưng vì ông chưa bàn gì
đến việc phò Lê, nên người ta bàng hoàng trông ngóng, chưa dám đến vội. Nay tự
quân đã bỏ nước mà đi, không có lẽ còn quay trở lại. Có Sùng nhượng công Lê Duy
Cận, lúc tiên đế còn sống, đã chính vị làm đông cung, sau gặp việc biến cố năm
Nhâm dần (1782), mới bị kiêu binh truất bỏ. Nếu ông khôi phục ngôi đó cho Sùng
nhượng công để tạm coi việc nước, rồi đem việc ấy bá cáo khắp trong ngoài, yết
một mảnh giấy ở cửa Đại Hưng, thì chẳng bao lâu các quan văn võ sẽ đến họp cả.
Lúc bấy giờ việc thiên hạ ai cũng phải nghe ông, ông xoay vần dễ như trở bàn
tay, lo gì mà không xong xuôi?
Nhậm gật đầu nói:
- Ông nói rất có lý. Ví như mổ trâu, cắt đúng đường gân khớp
xương thì các thớ thịt sẽ đứt cả, không khó nhọc gì.
Rồi đó, Nhậm bèn sai mời Sùng nhượng công vào phủ, lấy lễ thượng
khách mà tiếp đãi và bảo rằng:
- Thiên hạ vốn là thiên hạ của nhà Lê. Tự hoàng bỏ nước mà
đi, trong nước không có ai làm chủ. Ông là thái tử cũ, đã có mệnh vua từ trước.
Bây giờ ở ngôi ấy, ngoài ông ra thì còn ai nữa?
Sùng nhượng công nói:
- Nước mọn này mất cả giường mối, nhờ ơn thượng công (chỉ
Nguyễn Huệ) đã gây dựng lại cho. Nhưng trời chưa thôi vạ, tự hoàng thơ ấu, bị
tên loạn thần làm lầm lỡ, phải chuốc lấy sự bại vong. Nay chúa công (chỉ Võ Văn
Nhậm) không nỡ bỏ, lại lo nối lại cái dòng đã đứt, đó là điều may lớn cho nước
mọn này. Chỉ hiềm tôi là người không có đức, nếu được lạm giữ ngôi ấy, thì công
việc chỉnh đốn phen này, cũng xin nhờ chúa công giúp đỡ cho, may ra mới có thể
tự lập được.
Nhậm cười mà rằng:
- Ông hãy cứ làm, không cần lo xa. Có tôi ở đây, bọn gian
hùng dù muốn hại ông, cũng quyết phải sợ mà không dám hành động. Đợi khi thượng
công ra đây, tôi xin nói giúp ông, ông sẽ được lên ngôi vua thật sự.
Sùng nhượng công nghe nói, mừng lắm, bèn sắm sửa lễ vật tới yết
nhà Thái-miếu, rồi vào ở trong gian nhà phía tả điện Cần-chính, và cho Khôi đi
tìm tất cả các quan đến để bàn việc.
Trước hết, Khôi tới nhà Lê Phiên. Phiên mắng rằng:
- Vua phải chạy đã không đi theo, lại theo người ta mà lập
vua khác. Lời nói ấy sao còn đến tai ta làm gì?
Rồi Phiên bỏ trốn lập tức.
Khôi lại tới nhà viên tham tụng là Huy Bích. Bích từ chối
không chịu gặp. Sùng nhượng công bèn thảo tờ dụ các quan đại ý nói rằng:
"Năm xưa đã nhường ngôi, quả không có lòng tham thiên hạ.
Ngày nay tạm nắm quyền, chỉ mong giữ việc tế tự. Những ai hiểu cho ý đó, thì
nên tới họp tại triều".
Nhưng các quan văn, rốt cuộc chẳng một ai tới. Khôi liệu công
việc chắc là không thành, bèn bàn tính với một người bạn. Người ấy trả lời:
- Anh nộp tiền để mua chút bằng sắc, triều không ngồi, tiệc
không dự, mất nước không phải tội lỗi của anh, được nước không phải trách nhiệm
của anh, chẳng qua anh muốn nhân lúc loạn lạc mưu đồ phú quí mà thôi. Nhưng
Sùng nhượng công không phải món hàng lạ có thể buôn bán được, Văn Nhậm lại là kẻ
dã tâm khó lòng tin cậy. Một mai Bắc bình vương đến, tai vạ thật là khó lường;
mà sau này vua Chiêu thống trở về, anh cũng không có chỗ nào để dung thân nữa.
Tục ngữ có câu: "ở yên chẳng muốn, muốn chui đầu vào chum để mua vạ".
Chính là nói hạng người như anh đó!
Khôi sợ, bèn bỏ trốn.
Sùng nhượng công ngồi trơ trong điện, chỉ có một vài hoàng
thân và ba bốn tên võ biền, sớm tối ở chung với nhau; còn mọi công việc đều
không đến tay. Hàng ngày hắn ta đi bộ đến phủ đường, chầu chực Văn Nhậm và hỏi
cách xử trí, song Nhậm cũng chẳng biết xử trí ra sao. Người kinh thành thấy vậy,
đều gọi hắn ta là "giám quốc lại mục" (viên thơ lại coi việc nước).
Lại nói, Ngô Văn Sở từ khi nhận mật chỉ của Bắc bình vương và
cùng Nhậm ra Bắc, lúc ở trong quân thường vẫn dùng lời nói ngọt nhử Nhậm, để ngầm
dò ý. Đến lúc này, Sở bèn bảo Nhậm rằng:
- Chúng tôi vâng mệnh theo ông đánh dẹp, giặc Chỉnh đã bị giết,
nhưng dư đảng của y ở vùng đông nam vẫn chưa dẹp yên, vua Lê vẫn còn chạy trốn ở
ngoài, mà các quan cũng đều lẩn tránh. Nay ông cho Sùng nhượng công làm giám quốc,
nhưng tôi xem lão ấy chỉ là phường a dua không được tích sự gì, rốt cuộc chỉ là
một cục thịt trong cái túi da, làm sao mà sai khiến được kẻ khác? Từ khi có nước
Nam tới nay, triều đại thay đổi không biết là mấy lần rồi. Thiên hạ nào phải là
của riêng ai. Liệu có thể lấy được thì cứ lấy đi, rồi đặt quan, chia chức để
xây dựng phên giậu, làm cho tai mắt của mọi người đều được một phen đổi mới. Nếu
có kẻ nào lấy trộm danh nghĩa (ý nói những kẻ mượn tiếng phò Lê) thì cứ bảo là
giặc, rồi đem quân tới đánh, ai dám chống lại? Việc gì mà phải mượn đứa tôi đòi
ngoài chợ trông coi việc nước, để hắn sắm vai ông chủ "tượng đất"
trong vườn; còn mình thì cứ đóng mãi trong thành, làm tụi lính khách ở trọ nước
ngoài?
Nhậm nói:
- Bọn Nhưỡng, Tuyển chẳng qua hơi tàn thoi thóp; nắm lấy cánh
tay tự nhiên phải đến. Vả ta xem bọn bề tôi nhà Lê chẳng có mặt nào như Điền
Đan nước Tề, Vân Trường nhà Hán (Điền Đan là người họ vua Tề đời Chiến quốc;
Vân Trường tức tên tự của Quan Vũ, là bạn kết nghĩa của Lưu Bị thời Tam Quốc.
Hai người đều có tài trong việc đánh dẹp và giúp nhà vua khôi phục đất nước);
chẳng qua họ sợ binh oai của ta, nên sớm chiều dùng dắng đó thôi. Nếu ta hạ một
cái bảng, hẹn ngày phải tới cửa quân, không tới thì chém, chắc là chúng sẽ cởi
áo mang roi đến xin chịu tội. Điều đó không phải là việc đáng lo. Chỉ vì lòng
người đất Bắc còn nhớ họ Lê, không thể không chiều theo lòng mong mỏi của mọi
người. Mượn hắn ra làm pho tượng gỗ, là cốt để chia rẽ đồ đảng của Chiêu thống,
và ràng buộc lòng dân Bắc Hà đó mà thôi. Chỗ đó không phải chỗ lũ các ông có thể
biết được! Các ông khoẻ sức đánh trận, ta sẽ giao cho các ông chia đường tiến
đánh, rồi giữ lấy đất, làm bức trường thành cho ta, há chẳng tốt ư? Đến lúc đó,
cuộc thế xoay vần, tự nhiên có nhiều việc hay, đường đường làm chủ không phải
ta thì còn ai? Cần gì mà phải làm khách?
Sở im lặng ra về, rồi bảo với Lân rằng:
- Lão tiết chế thật khinh người quá. Hắn có tài đức, trí lược
gì mà dám coi bọn ta là tụi lính tráng? Xem hắn từ khi vào thành đến nay, đã
làm được việc gì? Thúc ép dân phải gấp rút đắp luỹ và phò Lê Duy Cận làm giám
quốc, đều là sắp sẵn cái mưu làm phản, để hòng tranh giành với chủ ta. Đã không
biết lấy giặc Chỉnh làm răn, trở lại muốn bắt chước nó. Không muốn sống lại muốn
chết, thì cứ cho hắn đi theo Chỉnh, để răn những kẻ khác!
Sở bèn lượm lặt các việc làm của Nhậm, cho là tội trạng làm
phản, lấy Lân làm chứng, rồi ngầm sai người về Nam báo với Bắc bình vương (theo
Cương mục thì Nhậm có làm những việc trái phép, như tự đúc ấn chương, chuyên
quyền trong việc cất nhắc, xếp đặt quan chức, v.v... Nhưng bên cạnh đó, Sở vốn
có hiềm khích với Nhậm, nên đã dâng mật thư vu oan cho Nhậm làm phản). Bắc bình
vương nói:
- Thằng Võ Văn Nhậm đáng chết thật! Ta vẫn biết hắn thế nào rồi
cũng làm phản, quả nhiên không sai.
Tức thì Bắc bình vương hạ lệnh tiến ra Bắc, đốc thúc các quân
bộ và quân kỵ mã ngày đêm đi gấp. Chừng hơn mười ngày, đến thành Thăng Long. Bấy
giờ đồng hồ vừa nhỏ giọt xuống đến trống canh tư, Nhậm đang ngủ say trong phủ.
Sở được tin, liền dặn người do Bắc bình vương sai đến phải giấu kín việc ấy,
không được báo cho Nhậm biết; rồi sai người ngấm ngầm ra ngoài thành đón Bắc
bình vương. Người nhà và người xung quanh Nhậm cũng đều không ai biết gì. Chốc
lát, Bắc bình vương vào thành, đến thẳng chỗ Nhậm nằm, Nhậm cũng vẫn chưa biết.
Bắc bình vương liền sai võ sĩ là Hoàng Văn Lợi đâm chết Nhậm rồi khênh xác ra
sau phủ đường (cũng theo Cương mục, lúc Nguyễn Huệ đến, Nhậm ra ngoài thành
đón, Nguyễn Huệ liền nhường ngựa đang cưỡi và lọng che cho Nhậm vào thành, lại
an ủi vỗ về ôn tồn. Sau đó, Nguyễn Huệ mới bắt Nhậm đem tra khảo và giết chết).
Mờ sáng, Bắc bình vương truyền lệnh cho Sở làm chức đại tư
mã, thống lĩnh quân đội thay Nhậm, lúc đó quân lính mới biết.
Hôm ấy, Bắc bình vương cắt đặt lại quan chức: Đô đốc nghĩa
hoà hầu làm trấn thủ trấn Sơn Nam; Lôi quang hầu (có bản chép Tuyết quang hầu)
làm trấn thủ trấn Sơn Tây; Nguyệt quang hầu làm trấn thủ trấn Kinh Bắc; Hám hổ
hầu (có bản chép Hô hổ hầu) làm trấn thủ trấn Hải Dương. Còn Giác hoà hầu coi
giữ bộ Hình, chánh ngôn hầu coi bộ Hộ, Ước thiện hầu coi bộ Lễ, Lộc tài hầu coi
bộ Lại, và đều kiêm nhiệm chức hiệp trấn. Bắc bình vương lại bảo họ tiến cử những
người mà họ hiểu biết, chia ra cho làm quan ở các huyện. Võ thì chia ra chức suất,
chức nội; văn thì chia ra chức tri, chức ngoại. Cả sáu trấn (theo Dụ am văn tập,
dưới triều Tây Sơn, các trấn ở Bắc Hà được chia lại thành 7 nội trấn và 6 ngoại
trấn. Đây là 6 ngoại trấn: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái
Nguyên, Yên Quảng) đều do Sở tuỳ theo tài năng mà cắt đặt người, sau đó bẩm lên
xin cấp văn bằng, rồi cho ai nấy lĩnh quân bản bộ về trấn của mình. Bắc bình
vương lại hạ chỉ vẫn để con thứ tư của tiên hoàng nhà Lê là Lê Duy Cận làm giám
quốc, coi việc tế tự, và cho đòi hết thảy các quan văn võ phải tới cửa khuyết,
chực sẵn ở nhà bộ Lễ, rồi theo viên lễ quan là Võ Văn Ước vào yết kiến.
Bấy giờ viên quan văn là Ngô Thì Nhậm vào yết kiến trước, Ước
tưởng lầm là hoàng tử nhà Lê, liền mời cùng ngồi với mình. Tiếp đó, bọn Lê
Phiên đến, đều lạy ở dưới sân, Ngô Thì Nhậm trong bụng rất áy náy, vội đứng dậy
đi ra. Ước lấy làm lạ không biết là ai, bèn hỏi:
- Người vừa ngồi đây là ai thế?
Có người trả lời:
- Văn ban Ngô Thì Nhậm đấy!
Ước giận mà rằng:
- Ta vâng mệnh cai quản tất cả, sao lại được vô lễ như vậy?
Rồi Ước tức tốc sai người theo bắt.
Ngô Thì Nhậm đã biết trước chuyện đó, nên lúc ra, vội vàng trốn
tránh ngay. Đến tối, Nhậm vào yết kiến viên trung thư lệnh Kỷ lễ hầu là Trần
Văn Kỷ.
Kỷ người Thuận Hoá, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà.
Năm Đinh dậu (1777) niên hiệu Cảnh hưng, Kỷ thi ở trấn đậu giải nguyên. Năm Mậu
tuất (1778), Kỷ tới kinh thi hội, sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết
ít nhiều. Năm Bính ngọ (1786), Bắc bình vương đánh lấy thành Phú Xuân, sai người
tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc bình vương
rất trọng, cho ở vào chỗ "màn trướng" (nơi ở của bậc tướng soái), việc
gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời.
Lúc ấy Ngô Thì Nhậm tới gặp Kỷ, nói rõ tình trạng mình xúc phạm
tới Ước, sợ bị hãm hại nên không dám đến, chứ không phải dám trốn tránh, rồi nhờ
Kỷ giải cứu cho. Kỷ nói:
- Nghe ông là bậc kỳ tài, không may bị tiếng gièm pha, trốn
tránh hơn năm sáu năm, sự tích luỹ càng thêm tinh tuý. Nay ra ứng dụng với đời,
chính là hợp thời. Tôi đã đem tên ông trình với chúa thượng khen tài ông có thể
dùng làm việc lớn. May mắn nay được chúa thượng rủ lòng yêu mến, đã sai tôi tìm
ông, vậy không phải cần gì đến ông Ước!
Tức thì Kỷ đưa Nhậm vào yết kiến Bắc bình vương. Bắc bình
vương nói:
Ngày trước, ngươi vì chúa Trịnh không dung, một mình bỏ nước
mà đi. Nếu ta không đến đây, ngươi làm sao được thấy bóng mặt trời? Có nhẽ đó
là ý trời muốn để dành người tài cho ta dùng. Vậy ngươi hãy cố gắng mà lo việc
báo đáp, thế là được.
Ngô Thì Nhậm rập đầu tạ ơn. Bắc bình vương ngoảnh lại bảo Kỷ:
- Đây là người do ta gây dựng lại, nên thảo ngay tờ chế phong
làm chức tả thị lang bộ Lại, tước Tình phái hầu, cùng với Văn Ước coi tất cả
các quan văn võ của nhà Lê.
Hôm sau các quan lục tục kéo đến, lễ quan đưa vào lạy ở điện
Chính trung. Bắc bình vương đòi hết lên sảnh đường mà bảo:
- Vua Lê do ta lập lên, nhưng là người tối tăm nhu nhược,
không thể gánh nổi công việc. Sau khi ta về Nam, liền bị Nguyễn Hữu Chỉnh sai
khiến tự rước lấy bại vong, đất nước này dù ta không lấy thì cũng bị người khác
lấy mất. Nay ta để Sùng nhượng công làm giám quốc, các ngươi hãy cố gắng ở lại
giúp đỡ ông ta. Ta thật không muốn lấy Bắc Hà để kiếm lợi, nay mai lại sắp về
Nam. Nhưng vì sợ tự hoàng tranh giành cùng giám quốc, thành ra ta làm ơn mà lại
hoá ra gây loạn cho họ, nên ta phải để viên đại tư mã là Ngô Văn Sở ở lại trông
nom việc binh, chờ khi bốn cõi tạm yên, ta sẽ gọi về.
Trăm quan từ giã lui ra, rồi nói riêng với nhau:
- Bắc bình vương tạm dùng lời nói ngọt để giá ngự chúng ta,
chứ không phải thật bụng. Văn Sở cầm quân ở đây, thì Sùng nhượng công làm gì mà
có nước? Hễ cử động gì liền bị họ nắm lấy cánh tay, ông ấy còn làm được chi? Ví
như cây tầm gửi, bám vào cành cây khác, rễ không bén đất, sống lâu dài làm sao
được? Chúng ta, người nào có thể đi theo vua lo việc khôi phục thì đi đi, nếu
không thì nên ẩn xa cho sạch mình, chớ để cho người ta lừa phỉnh mà rước lấy vạ.
Sùng nhượng công cũng biết như thế, nên đã phải than rằng:
- Ta nay tiếng là làm giám quốc, thật ra chỉ là một ông từ giữ
đền. Nhưng vì miếu xã ở cả đây, bỏ đi thì đi đâu? Thôi thì cũng đành cam lòng
như thế, không hối hận gì nữa vậy!
Qua vài ngày, Bắc bình vương dẫn quân về Nam. Trước khi lên
đường, vương chọn năm sáu viên văn thần là bọn Phan Huy ích, Nguyễn Thế Lịch,
Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lan..., phong cho quan tước: ích làm chức tả thị lang bộ Hộ,
tước Thuỵ nham hầu, được đưa về Nam (bản chữ Hán chép cả Ngô Thì Nhậm cũng được
đưa về Nam; đó là chép lầm). Còn bọn Lịch, Tốn, Lan..., thì đều được phong chức
hàn lâm trực học sĩ, theo đại tư mã Sở ở lại đất Bắc. Nguyễn Hoàn và Phan Lê
Phiên đều xin về dưỡng nhàn, nhưng vẫn được Bắc bình vương cho giữ nguyên chức
tước, và sai bộ Lễ cấp phát giấy tờ cho họ trở về làng xóm. Tham tụng là Bùi
Huy Bích, thiêm đô là Nguyễn Huy Trạc đều có đến kinh, nhưng không chịu cho dẫn
vào lạy chào. Rồi đang đêm Bích trốn, còn Trạc thì tự tử ở đài Ngự-sử.
Những người trốn tránh không chịu ra thì có phó đô ngự sử
Nguyễn Đình Giản, tham tri chính sự Lê Duy Đản, Phạm Đình Dư, đồng xu mật viện
Nguyễn Duy Hạp, Phạm Trọng Huyến, thiêm sai công phiên Phạm Quí Thích, đô cấp sự
trung Nguyễn Đình Tứ, tất cả chỉ có bảy người mà thôi (theo Cương mục, thì số
người này gồm tám viên, mà có một số tên khác hẳn đây).
Lại nói, bấy giờ vua Lê đang ở huyện Lang Tài, lại dời đến
huyện Chí Linh. Các quan biết chỗ vua ở, nhiều người đến theo. Lê Ban ở Giáp
Sơn (cũng gọi Hiệp Sơn, nay là đất huyện Kinh Môn, Hải Dương (Hải Hưng)) đem một
trăm người nghĩa dũng đến yết kiến. Vua mừng lắm, phong cho làm chức ngự doanh
sứ, tước trung nhạc hầu.
Ban nói kín với vua rằng:
- Trước đây, thần về Nghệ An, thấy nhân tình rất là căm phẫn,
ghét Tây Sơn như cừu thù, nhiều người đã nhóm họp ở rừng núi để cùng lo việc khởi
nghĩa. Các bậc phụ lão nghe tin thần ở Bắc vào, đều lần lượt đến hỏi nhà vua ở
đâu, muốn cho con em đi theo. Nhân thể, thần mới cùng đi với họ. Dọc đường qua
cửa biển, thần lấy điều nghĩa khuyên dụ, nhiều người xin đem thuyền qua biển, hẹn
nhau họp ở ngoài khơi phủ Kinh Môn (địa bàn phủ Kinh Môn (Hải Dương) đời Lê rất
rộng, gồm cả một số huyện của Quảng Yên và Kiến An hiện nay). Gần đây, thần được
tin báo rằng: hiện có chừng hơn bảy chục chiếc thuyền và hơn ba trăm thuỷ thủ,
khí giới lương thực đầy đủ, ít hôm nữa sẽ đến. Vậy xin xa giá ngự ra Giáp Sơn,
hạ chiếu cho Trần Quang Châu đem quân bản bộ hộ vệ. Quân bộ do Châu thống lĩnh;
mặt thuỷ thần xin đảm đương. Hai cánh quân nương tựa lẫn nhau. Trước hãy khôi
phục trấn Hải Dương để làm nơi xa giá tạm nghỉ. Trấn ấy phía bắc có thể khống
chế các huyện Từ Sơn, Thuận Thành; phía nam thông với các phủ Thái Bình, Kiến
Xương, theo đường Yên Quảng có thể đến thẳng Cao Bằng, và kéo luôn sang vùng Lạng
Sơn. Cơ trung hưng không còn cách nào khác nữa.
Vua Lê nghe theo, bèn hạ chiếu cho Châu làm chức đốc chiến ở
đạo Kinh Bắc
Quân chưa kịp tiến, thì vừa gặp lúc Đinh Tích Nhưỡng ở Hải
Dương dâng tờ biểu xin theo đi đánh trận. Mọi người nghe tin, nói nhao lên rằng:
"Nhưỡng là một thằng chẳng ra làm sao. Bảo là có nghĩa ư? Trước đây hắn đã
toan giúp nhà chúa để chống lại mệnh lệnh nhà vua, lúc đầu phò quận Thuỵ, sau lại
theo chúa án đô. Đến khi quận Thuỵ làm không nên việc và án đô bị thất bại, hắn
đều bỏ đi không nhìn. Bất nghĩa đến thế là cùng! Bảo là có tài ư? Chính hắn đã
hai lần cầm quân chống giặc, thì một lần thua ở Kim Động, một lần thua ở Ngô Đồng,
chỉ chạy thoát được cái thân, không chết là may đấy thôi! Xem một đời hắn, toàn
không có nghĩa khí, lại không có tài chiến đấu, chỉ cậy thế con nhà tướng, quen
dùng khí thế đè nén người ta. Khi hắn mới về Hải Dương, thả bộ hạ cướp bóc
trong xứ. Người ta coi hắn là giống diều quạ gian giảo và gọi là giặc Nhưỡng.
Hào mục các huyện đã viết thư cho nhau kể tội các của hắn. Họ đã họp nhau trong
làng Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, hẹn nhau đến đánh phá Hàm Giang. Nhưỡng phải
lui quân về huyện Bình Giang. Rồi nhân lúc ban đêm, kéo đến làng Lai Cách, giết
hại không biết bao nhiêu người mà kể, đến nỗi thây nằm ngổn ngang đầy đồng. Sự
tàn nhẫn của hắn như vậy, nên người Hải Dương ai cũng coi hắn là kẻ thù. Nay
dung nạp hắn, chẳng những vô ích mà còn mất lòng nhân dân Hải Dương; thật là thất
sách!".
Vua Lê cũng từng nghe tin: Nhưỡng bị mọi người không dùng đã
ngấm ngầm đưa thư xin hàng Tây Sơn, nên lúc này cũng nghi ngờ không cho Nhưỡng
theo đi đánh.
Các hào mục ở trấn Hải Dương nghe tin vua sang xứ đông, đều
dâng tờ biểu, quyết xin đánh Nhưỡng.
Vì thế, Nhưỡng bối rối quá, tính không còn chỗ nào để dung
thân liền phát cáu mà nói rằng:
- Vua đã không thương ta, ta còn cần gì vị nể vua?
Rồi Nhưỡng sai tên đồ đảng của y là Trần Liên đến Thăng Long
ngấm ngầm tố cáo chỗ vua ở, và xin Văn Sở sai quân đi bắt. Ban đầu, Liên nghe
tin vua lén lút ở trong nhà dân, chỉ có sáu bảy người theo, bèn báo cho Sở biết.
Sở hỏi cặn kẽ, Liên vẽ rõ đường đi cùng chỗ ở của vua, rồi
nói:
- Ví như vào chùa trói một lão trọc lôi đi mà thôi!
Sở cười mà rằng:
- Nếu quả như lời ngươi nói, sao ngươi không lôi cổ đến đây
cho ta, còn xin quân làm gì?
Liên đáp:
- Lôi ông ta đi chẳng qua chỉ một tên lính cũng đủ, nhưng
chúng tôi còn sợ danh nghĩa, nên không dám làm. Việc ấy cố nhiên là việc dễ,
nhưng lại khó đối với người trong nước, xin ngài xét cho chỗ đó!
Sở tin là thật, liền sai một trăm tên lính cùng đi với Liên.
Không ngờ lúc ấy, Trần Quang Châu và Lê Ban đã đến chỗ vua ở, và quân lính bảo
vệ cũng không ít. Đêm ấy nghe báo quân Tây Sơn vượt núi mà đến, hai người bèn
chia hai đường đánh dồn lại, và giết chết sạch. Liên chạy trốn vào hang núi được
thoát, rồi chạy về Thăng Long báo tin. Văn Sở lập tức cho một đạo quân lớn đi
đuổi vua Lê (theo Cương mục, thì Đinh Tích Nhưỡng đã đến vây đánh vua Lê hơn một
tháng. Sau có hai người ở Hải Dương là Trần Đĩnh và Hoàng Xuân Tú đến cứu vua,
chém giết hai người em của Nhưỡng. Nhưỡng mới phải bỏ chạy). Vua mới đến Giáp
Sơn, các đạo quân cần vương còn chưa nhóm họp được hết. Chợt nghe tin quân địch
sắp đến, Nhưỡng làm hướng đạo. Mọi người đều run sợ nói nhao nhao lên rằng:
"Nhưỡng mà thông đồng với giặc thì Hải Dương không thể ở được". Châu
xin vua lại về huyện Chí Linh. Ban thì xin vua đi Yên Quảng. Mọi người đang bàn
bạc phân vân chưa quyết, thì vừa lúc Trương Đăng Quĩ và người con là Trương
Đăng Thụ cưỡi chiếc thuyền biển từ phủ Kiến Xương đến yết kiến vua. Thấy thế,
Quĩ bèn nói:
- Chí Linh là nơi đồi núi gập ghềnh, tắt ngang sang Gia Bình
thì lại là đồng ruộng mênh mông. Ta quân ít sức hèn, đánh hay giữ đều không tiện.
Còn Yên Quảng thì lại giáp với Hải Dương, đường sông, vũng biển, đều là cửa ngõ
ra vào của Nhưỡng. Hắn đã ăn ở hai lòng, thì đó cũng không phải chỗ yên lành có
thể trú ngụ. Trấn Sơn Nam đất tốt dân đông, đinh tráng có thể luyện làm quân
lính, thóc gạo có thể trưng làm lương thực, sông ngòi chằng chịt như mạng nhện,
cưỡi một chiếc thuyền, bỏ chỗ nọ đến chỗ kia, chẳng ai còn biết lối nào mà tìm.
Bệ hạ đang lúc như con rồng ẩn bóng, không đâu yên ổn bằng đấy.
Vua theo lời Quĩ, bèn quyết ý dời về phía nam. Còn lời bàn của
Châu và Ban thì vua đều không nghe. Rồi đó, vua yên uỷ hai người, sai Châu dẫn
quân về Bắc, Ban thì đem thuyền biển lui về Biện Sơn (núi Biện Sơn ở vùng biển
huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá), chờ lệnh trưng phát. Thế là quân cần vương tan tác
đi ra bốn phía, còn vua thì đi về phía nam.
Lúc tới nơi, vua đóng ở huyện Chân Định, dùng nhà Đăng Quĩ
làm nơi hành tại. Quĩ đưa con em và người trong họ tới lạy chào, vua đều ban
cho quan tước, sai họ chia nhau đi các làng, các huyện chiêu mộ quân nghĩa
dũng. Xa gần nô nức hưởng ứng, đều xin họp quân cần vương, hẹn ngày cùng đến,
thuyền bè kể có hàng nghìn, quân lính có tới vài vạn. Các tay hào mục đều đến,
vua tự mình ra yên uỷ họ. Rồi sai Đăng Quĩ chia quân làm năm đạo, trong từng đạo
lại đặt ra các chức thống lệnh, đốc chiến, tham quân, đốc hướng mỗi chức một
viên, lập thành cơ đội, chờ ngày xuất phát.
Viên nội hàn là Lê Xuân Hạp bảo Đăng Thụ rằng:
- Quân lữ là việc lớn, không thể khinh suất. Trước hết nên điểm
số quân, kén lấy người cường tráng sung làm chiến sĩ, cứ năm chục người làm một
đội, năm đội làm một cơ, năm cơ làm một đạo, do viên thống đạo đốc suất. Những
người còn lại thì để dùng vào việc chuyên chở và sai khiến, chớ để quân lính
không tinh nhuệ lẫn lộn vào, tiếng là có số mà vô dụng. Nay nên kê rõ danh
sách, dẫn vào bái mạng, để nhà vua ban cho binh phù, trao cho quân luật. Viên
thống đạo vâng mệnh lệnh triều đình; các cơ đội thì chịu sự tiết chế của viên
thống đạo. Người nào tuân theo mệnh lệnh thì có trọng thưởng; người nào không
nghe mệnh lệnh thì bị tội chém. Sao cho quân lính đều hăng hái và biết khuôn
phép, sau đó mới có thể đưa ra trận mạc. Binh là việc dữ, chiến là việc nguy,
không phải là trò trẻ con.
Thụ nói:
- Ngày nay chính là lúc đang cần gấp rút thu phục lòng người,
mọi việc hãy tạm giản dị, chưa thể buộc ngay họ vào khuôn phép được!
Hạp nói:
- Thu nạp được nhiều người mà dùng không được chỉ sợ họ thấy
giặc là chạy, rồi lại còn giày xéo lẫn nhau nữa, thì dù nhiều cũng chẳng làm
gì. Sao không nghĩ đến việc cụ lớn đại thần nhà ta đã cố sức khuyên nhà vua qua
sứ Sơn Nam, ông là con ngài, vâng mệnh cầm quân, vạn nhất mà bị vấp ngã, tội ấy
tại ai?
Thụ không nghe, chỉ gọi các hào mục đến mà phân phái bằng miệng,
tuyệt nhiên không có sổ sách gì để có thể tra cứu. Bởi vậy, đến khi có việc cần
sai khiến, Thụ đều lờ mờ không biết đâu mà lần, đến nỗi phải chạy đi hỏi lăng
xăng khắp nơi, trong quân ngũ chẳng còn có kỷ luật gì nữa. Quĩ cũng không biết,
gọi Thụ hỏi về việc quân thì Thụ thưa:
- Các đạo nay đã tề tựu, quân số rất nhiều, ai cũng hăng hái
đánh giặc. Xin đánh một trận để lập công!
Quĩ cho là phải, tâu xin chọn ngày xuất quân. Vua có ý ngần
ngại mà rằng:
- Ta nghe những người giỏi về chiến trận, trước hết phải lo đến
việc thua, rồi sau mới thắng được người. Nay ta xem thuyền bè thì đều là thuyền
câu, thuyền chài, quân lính thì đều là những kẻ chợ búa ô hợp, dùng quân ấy mà
đánh, có chắc là không bị thua chăng? Nghĩ đến cái cảnh sau lúc trốn chạy, cùng
một và người bề tôi lo việc dựng lại cơ nghiệp, thì trẫm dù không thể khôi phục
được xă tắc cũng quyết chết với xã tắc, thề đánh nhau với giặc đến cùng, chớ có
sợ gì xuất quân? Nhưng trẫm muốn làm việc gì cũng phải tính kế vạn toàn, ngõ hầu
khỏi mang tiếng là vì khinh suất, vội vàng mà chuốc lấy vạ bại vong.
Quĩ ngoảnh lại bảo Thụ:
- Thánh thượng bảo như vậy, con nghĩ thế nào?
Thụ nói:
- Ngày nay, điều mà mình trông cậy, ấy là lòng người. Mọi người
ai cũng kính mến ơn đức của thánh thượng, căm thù với giặc, nguyện xin đánh một
trận lớn, giết cho hết giặc. Lòng người như thế, đánh đâu không tan? Đẽo cây gậy
có thể quật ngã được nước Sở, dựng ngọn tre có thể làm mất nhà Tần (trong sách
Mạnh tử, lời Mạnh tử nói với Lương Huệ vương có câu: Chế đình khả dĩ thát Tần,
Sở chi kiên giáp lợi binh, nghĩa là đẽo cây gậy có thể đánh bạt giáp bền gươm sắc
của quân Tần, Sở. Theo Bắc sử, cuối đời Tần, Trần Thắng và Ngô Quảng khởi binh,
chỉ dùng cây cối làm gươm dáo, dựng ngọn tre lên làm cờ mà đánh bại quân Tần);
huống chi số quân này và số thuyền này, há không đủ giết chết quân giặc hay
sao? Nếu cứ muốn quân lính quen thạo trận mạc, thuyền bè phải đủ lầu gác, thì
trước đây quận Thạc, quận Nhưỡng đều là những viên tướng trải qua trăm trận,
lính thuỷ bộ các doanh mà họ thống lĩnh đều là quân tinh nhuệ, hùng dũng, sao
cũng không thể thành công mà lại phải tan vỡ? Vậy thần xin thả thuyền ngược
dòng mà lên, quyết chiến với giặc. Xe nhà vua tới sông, quân sĩ hăng lên gấp
trăm, chẳng qua năm ngày, có thể lấy lại kinh thành. Cơ hội này không nên bỏ lỡ!
Vừa lúc ấy Nguyễn Viết Tuyển đưa binh thuyền đến đón vua.
Nhân thế, Đăng Quĩ khuyên nhà vua cho xuất quân.
Nguyên trước, Tuyển là người cùng huyện với Hữu Chỉnh, làm bộ
tướng của Chỉnh, cùng với Chỉnh vượt biển vào với Tây Sơn, xông pha những nơi
nguy hiểm, không hề rời bên cạnh Chỉnh. Đến lúc Chỉnh về nước và đắc chí, liền
tiến Tuyển với vua, nói là tài Tuyển có thể đương nổi một mặt. Vua bèn hạ chiếu
cho Tuyển làm trấn thủ trấn Sơn Nam, thống lĩnh năm ngàn lính bộ và bảy chục
chiến thuyền.
Tuyển giỏi về thuỷ chiến, nên khi Chỉnh có hiềm khích với Tây
Sơn, sợ Văn Nhậm lợi dụng lúc sơ hở mà đi đường biển đến, Chỉnh bèn sai Tuyển
đóng đồn ở cửa biển Đại Hoàng, đem quân đi tuần ngoài biển để dò la tin địch. Đến
lúc kinh sư tan vỡ, Chỉnh đưa vua chạy sang Kinh Bắc, Tuyển không được biết.
Sau đó tin báo đến nơi, Tuyển mới lật đật ở biển rút về trấn, mưu đóng giữ đất ấy
để chống với địch. Văn Nhậm đã có lần đánh Tuyển, nhưng không hạ được. Đến khi
Văn Sở lên thay Nhậm, muốn dỗ Tuyển về hàng, bèn sai người vào Nghệ An, bắt cha
và vợ Tuyển ra Thăng Long. Rồi sai vợ Tuyển cầm thư cha Tuyển viết để dụ Tuyển,
đồng thời lại đưa tin rằng: "Nếu Tuyển không mau mau đầu hàng, thì sẽ giết
cha!".
Tuyển lấy thư của cha, khóc và nói:
- Đời người có ba đấng bề trên thì hoàng thượng là vua ta, Bằng
công là thầy ta; mệnh cha không dám không theo, nhưng thù của vua và thầy không
thể không trả. Giả sử đầu hàng mà được trọn đạo nuôi cha, trở về quê hương họ
hàng làm người nông dân huyện Chân Phúc cho hết đời, thì dù được đằng nọ mất đằng
kia, ta cũng cam lòng. Song chỉ sợ bị lừa dối, rơi vào tay quân độc ác, cả mình
ta cũng bị nó giết hại, thì trung hiếu đều hỏng, để tiếng cười cho ngàn đời,
làm kẻ ngu dại trong thiên hạ, như thế rất là không nên.
Rồi đó, Tuyển dặn vợ trở về từ tạ với cha. Cha Tuyển được
tin, biết Tuyển không có ý cứu mình, bèn ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Đã không có thể cầu sống với con thì còn xin sống với người
khác làm gì? Giả sử nó làm được như Vương Lăng (đời Hán, Vương Lăng là một tướng
giỏi của Hán Cao-tổ; khi Sở Hạng Vũ đánh nhau với Hán, bắt mẹ Vương Lăng, rồi
buộc phải viết thư dụ con về hàng, nhưng bà không chịu, tự ấn cổ vào mũi gươm
mà chết để cho con một lòng phò Hán), thì dù có chết như bà mẹ Lăng, ta cũng
không hối tiếc. Nhưng ta xem nó chỉ như con lợn, con chó, khó lòng mà làm được
như thế. Chết khi chính mắt trông thấy nó thất bại, thà rằng chết trước còn
hơn!
Sở biết ý ông ta, liền sai người canh giữ rất nghiêm ngặt, và
nói:
- Tuyển đã không có ý hàng, thì ta cũng không thể nuôi giặc.
Rồi Sở tự đem quân đi đánh Tuyển, đưa cả cha và vợ Tuyển đi
theo. Sở sai đại đô đốc Nguyễn Văn Tuyết thống lĩnh thuỷ quân, còn mình thì
thân hành đem bộ binh cùng Phan Văn Lân chia làm hai cánh tả hữu, men theo hai
bờ sông cái, cùng tiến lên.
Đến bến Thanh Trì, Sở bắt được một tên do thám của Tuyển, tra
hỏi thì y nói:
- Tuyển chỉ có tám chục chiếc chiến thuyền, đóng ở cửa ải Hàm
Tử, mà không có quân bộ. Lương thực toàn lấy của dân, năm ngày một kỳ, nhưng
cũng không được đều đặn. Quân của Tuyển có khi buộc thuyền ở ven bờ sông, rồi
vào nhà dân cướp bóc, mọi người ai cũng chán ghét, thế không thể nào đóng lâu ở
đấy được. Gần đây, Tuyển lại sai đắp luỹ đất ở sông Hoàng Giang, đốc thúc công
dịch rất gấp. Nghe đâu ông ta sắp lui về đấy để làm chước cố thủ.
Nhờ vậy, Sở biết rõ tình hình hư thực của Tuyển, liền bảo với
Lân rằng:
- Quân ta chuyến này bắt Tuyển như bắt đứa trẻ con, không khó
gì cả!
Sở bèn họp quân bộ, chia làm hai đạo, nhân đêm tối tiến về
phía nam, vòng ra sau quân Tuyển, phục kích ở hai bên bờ sông, đợi khi thuỷ
quân giao chiến với quân Tuyển và nghe thấy tiếng súng nổ, thì lập tức giục trống,
hò reo xông lên, hai cánh cùng nhắm thuyền quân của Tuyển mà bắn.
Rồi đó, hai bên giao chiến ở vùng huyện Kim Động, quân Tuyển
bất lợi, phải theo nước xuôi chèo gấp về nam. Sở thừa thế vẫy quân đuổi theo. Đến
sông Hoàng Giang, quân Tuyển dựa vào luỹ đất để giữ thế thủ, hai mặt thuỷ bộ
nương tựa lẫn nhau để chống với quân Sở.
Lúc Tuyển thua ở Kim Động, sĩ dân mạn xuôi đều chưa ai biết.
Trông thấy thuyền bè đầy sông, cờ quạt rợp trời, họ cho là quân Tuyển thế nào
cũng thắng trận. Lại nghe vua Lê ở Chân Định, Tuyển đã cho thuyền đi đón, xe
vua sắp đến, nên ai cũng nô nức mừng rỡ, tranh nhau đem đinh tráng, mở cờ gióng
trống để đón quân vua. Tuyển thấy dân tình như thế, nên mới dâng biểu tâu xin
nhà vua ngự ra coi quân. Đăng Quĩ cũng hết sức chủ trương việc nhà vua thân
chinh. Vua Lê bất đắc dĩ phải gắng gỏi nghe theo. Nhân dân vùng ven sông trông
thấy tàn lọng nhà vua, đều xúm xít trên bờ, chen chúc đứng xem chật như nêm cối.
Ai nấy đều nói: "Vua ta đến đấy!" Rồi bảo nhau vái lia lịa và tung hô
"vạn tuế".
Xe vua đi sang hướng bắc, đến sông Ngô Đồng, chợt thấy một
người hớt hơ hớt hải chạy về phía nam. Quân lính liền bắt lại, hỏi cớ sao mà chạy.
Người ấy miệng run cầm cập, không thể nói được, chỉ giơ ngón tay trỏ về một
làng ở đằng xa, hồi lâu mới đáp:
- Giặc... đến... nơi... rồi!
Mọi người cùng lên trên cao mà nhìn thì thấy thấp thoáng ở
trong đám cây cối um tùm, có một toán quân đang từ phía tây đi tới, cờ quạt khi
mờ khi tỏ. Ai nấy đều nói: "Đúng là bộ dạng quân Tây Sơn". Họ vội
vàng xuống thuyền, tâu rõ với vua. Vua nói:
- Quân Tuyển đóng ở phía trước, quân giặc sao lại vượt qua mà
đến đây được?
Rồi nhà vua sai Xuân Hạp lên bờ, dùng ống viễn kính để xem. Hạp
xem đúng là quân Tây Sơn, nhưng sợ quân sĩ kinh sợ, bèn trở lại tâu rằng:
- Bộ dạng toán quân ấy chưa được rõ ràng, nhưng quân Tây Sơn
xuất quỷ nhập thần, rất là khó lường. Đề phòng việc bất trắc, đó là phép đời
xưa. Vậy xin tạm dời thuyền ngự sang bờ bên đông xem sao?
Vua cho là phải.
Thì ra lúc bắt đầu đi đánh Tuyển, Sở đã dùng thuỷ quân thẳng
theo dòng sông xuôi xuống làm chính binh; lại ngầm sai đô đốc Nguyễn Văn Hoà
lĩnh đạo khinh binh do đường Bình Lục, Thiên Thuỷ vòng lại làm kỳ binh, để đánh
úp phía sau. Nhưng Tuyển không hề biết.
Quân hai bên đánh nhau mới được vài hiệp, Tuyển sai tướng sĩ
đặt súng bảo long ở trên bờ sông, để bắn quân địch. Chợt thấy quân địch trói
cha và vợ Tuyển ở đầu thuyền, rồi chèo thuyền vun vút xông lên phía trước. Tuyển
trông thấy, khóc và nói:
- Con bắn cha là trái với đạo trời!
Đoạn Tuyển vội vã thét quân sĩ thôi bắn, và lui vào trong luỹ
để cố thủ.
Bỗng nghe tiếng súng ầm ầm như sấm, khói lửa ngút trời, quân
lính hoảng sợ, đều nói nhao lên rằng: "Giặc đã chặn mất đường về rồi".
Họ bèn bỏ chạy tan tác. Tuyển ngăn không nổi, liền cùng bộ hạ
hơn trăm người nhằm phía nam sông Hoàng Giang mà chạy.
Thuyền vua Lê đóng ở bờ phía đông hồi lâu, sau nghe tin quân
Tuyển thua trận, quân Tây Sơn xông ra bốn phía, chém giết rất giữ dội, thì mọi
người đều mất hết hồn vía, bỏ cả thuyền bước vội lên bờ, cướp đường mà chạy.
Nhà vua thấy vậy, liền thuận theo dòng sông buông thuyền chạy về phía nam. Khi
tới một ngã ba sông, không biết đi về ngả nào, vua bèn sai gọi gấp Đăng Quĩ để
hỏi, nhưng đã không thấy Quĩ ở trên thuyền nữa.
Lúc ấy gió bắc đang mạnh, vua sai giương buồm thẳng ra biển
mà đi. Bốn bề mênh mang, mù mịt, trời nước một màu, theo gió cưỡi sóng, lênh
đênh trong biển khơi, việc sống chết lúc ấy thật không biết đâu mà lường. Vua
Lê ngước mắt lên trời mà khấn rằng:
"Nếu trời không muốn bảo tồn dòng dõi họ Lê, thì xin
nguyện đi theo hải mã đến chỗ Quảng lợi vương ở biển Nam Hải, không cần sống
làm gì nữa".
Nói chưa dứt lời, chợt thấy có một chòm núi, đột ngột hiện ra
giữa những lớp sóng, sau núi có chừng vài chục chiếc thuyền. Vua vội vàng hỏi
người cầm lái, thì ra đã đến hải phận Biện Sơn. Dần dần lại gần, thấy một người
bận quần áo trận đứng ở đầu thuyền, nhìn kỹ chính là Lê Ban.
Vua vừa mừng vừa thẹn, chưa biết nói sao. Ban biết là thuyền
vua, vội vàng đến bái yết. Vua ứa nước mắt mà nói:
- Ta hối không dùng kế của nhà ngươi, bị Trương Đăng Quĩ làm
lỡ. Biết trước thế này, thà ở Giáp Sơn mà thua, còn hơn là đến Chân Định mà
thua, thêm một phen lặn lội, chỉ tổ cho người ta chê cười. Nhưng thôi, cũng là
việc đã rồi. Còn bây giờ thì nên làm như thế nào?
Ban tâu:
- Thần nghe nói: "Có lắm nạn mới dấy được nước, sự lo
phiền mở rộng thánh đức". Xin bệ hạ chớ vì thế mà nhụt chí. Thua được là
việc thường của nhà binh. Ví như đánh cờ, thua ván này bày ván khác, cố làm sao
cho có nước cờ lạ hơn người, quy mô sắp sẵn rồi, mới có thể ra mặt. Hiện nay thế
giặc quá mạnh, ta chưa chiếm được một mảnh đất nào, không thể đánh nhau với
chúng. Thần xin bệ hạ lên đường vào Lam Sơn là đất hưng vương của Thái tổ ngày
xưa, lấy đó làm nơi bảo vệ xa giá, rồi sai người truyền dụ các tù trưởng của
dân mường mán. Họ đều là dòng dõi phiên thần, ai mà chẳng hăng hái? Thêm vào
đó, lại thu nhặt quân hai xứ Thanh, Nghệ, họ đều là lính túc vệ thân cận xưa
kia, ai là chẳng vui lòng đi theo? Thế rồi theo đường ven núi, qua lại liên lạc
với nhau. Quân ở ba trấn Sơn Nam, Sơn Tây, Hưng Hoá xuôi dòng sông mà xuống, đột
ngột từ trong núi kéo ra. Một ngày kia cả ba đạo đồng thời nổi dậy, tiến thẳng
đến đô thành. Cuộc trung hưng của triều ta xưa kia, chính là dùng cách ấy.
Vua nghe lời, liền theo đường bộ đi về vùng Lam Sơn, trấn
Thanh Hoa. Rồi sai Ban qua đất Thiên Quan (tên phủ, gồm đất các huyện Nho Quan,
một phần huyện Gia Viễn (Ninh Bình) và một phần huyện Lạc Sơn (Hoà Bình) ngày
nay) dụ quận Thái; sai tôn thất Duy Lan tới đất Phù Sùng dụ hai viên tù trưởng ở
Tây Lĩnh.
Hai viên tù trưởng này vừa mới qua lại hoà hảo với Tây Sơn,
không dám trở mặt ngay, họ đều nói:
- Chúng tôi mấy đời nhờ ơn nặng của nhà nước, há dám không hết
lòng? Nhưng mà kinh doanh nghiệp lớn, ắt phải tích luỹ lâu năm mới thành, không
thể làm xong ngay trong khoảng mươi hôm. Đời xưa Hán Cao-tổ, Đường Thái-tông
còn phải khó nhọc đến năm sáu năm. Vậy xin lượng thánh xét kỹ, hãy cứ lấy Lam
Sơn làm nơi ẩn náu, thư thả để cho chúng tôi luyện tập quân mã, sắm sửa khí giới,
thu góp lương thực, sửa sang đường sá, rồi mới có thể vâng mệnh nhà vua được. Nếu
muốn làm gấp, e không phải sức của chúng tôi có thể làm nổi.
Lan về nói với vua rằng:
- Chúng nó thật không có lòng mộ nghĩa, nên tạm dùng lời
thoái thác để cự tuyệt ta. Chỗ này sơn lam chướng khí không thể ở lâu. Vậy xin
bệ hạ sơm sớm lo liệu, đừng để mất thì giờ vô ích.
Vua cho là phải, bèn lập mưu thay quần áo như người thường,
trở về Kinh Bắc, tạm trọ ở phủ Lạng Giang, sau lại dời ra phủ Từ Sơn, ở nhà
viên tham tri là Đình Dư. Do đó, bọn Lê Đản, Doãn Lệ, Danh án, Vũ Chiêu, Vũ
Trinh, Xuân Hạp lại lần lượt lui tới chỗ vua ở. Vua cùng họ bàn mưu tính kế;
Đình Dư nói:
- Nay bề tôi nanh vuốt của nhà vua chỉ có ba người là Ban,
Tuyển và Châu. Tuyển từ sau khi thua ở Hoàng Giang, chạy về Nghệ An, nay không
biết ở đâu? (theo Cương mục, thì sau đó Tuyển ra Thăng Long xin hàng Ngô Văn Sở,
bị Sở giết chết) Châu bị Tây Sơn lùng bắt, lẩn trốn vào hang núi, không còn thì
giờ lo toan công việc. Ban vâng chỉ đi chiêu dụ, còn ở Thanh Hoa, cũng chưa có
tin tức gì. Hiện nay bệ hạ nương náu ở nơi thôn ổ, lũ thần đi lại luôn, sợ lâu
dần có người biết, sẽ xảy ra tai biến bất trắc. Chi bằng bệ hạ hãy đi lên Cao Bằng,
Huy Túc hiện còn hầu thái hậu ở đó. Trong thì dùng các phiên thần hộ vệ, ngoài
thì dựa vào sự cứu viện của thiên triều, ngõ hầu mới có thể làm được việc.
Vua nói:
- Trước kia, ta đã sai Ngô Thì Chí lên Cao Bằng (ở trên nói
đi Lạng Sơn, đây lại nói đi Cao Bằng, có lẽ là chép lầm) để sắp đặt sẵn mọi việc.
Nghe đâu Chí bị ốm giữa đường, nay không biết ra sao?
Danh án thưa:
- Chí bị bệnh nặng, không đi được, phải cáng về huyện Gia
Bình, rồi mất. Chúng thần nghe tin, nhưng chưa kịp tâu.
Vua ứa nước mắt, nói:
- Mất một người bề tôi giỏi rồi đấy! Tiếc thay!
Rồi vua bèn tự tay viết tờ chiếu, truy tặng Chí làm chức hàn
lâm thị chế, tước Dụ trạch bá, trao cho án và nói:
- Nhà ngươi cầm tờ chiếu này đưa cho vợ con của ông ta, cho họ
biết ý của trẫm.
Đản tiến lên nói:
- Hiện nay những kẻ thần dân theo giặc, đem hết tình hình nước
nhà nói với chúng, cho nên mình sắp mưu toan việc gì, thế nào chúng cũng biết
trước. Thậm chí có kẻ còn đưa giặc đến để bức bách nhà vua. Biến tự trong sinh
ra, không chỉ có giặc ngoài mà thôi. Vì thế mà việc ở Chí Linh và Giáp Sơn, cả
hai lần đều không làm nên chuyện; liền đó, việc ở Sơn Nam cũng vậy. Ngày nay chỉ
còn có cách là sai sứ sang cáo cấp với nhà Thanh, xin họ dàn quân sát biên giới
nước ta, để hỏi cái tội của quân Tây Sơn gây việc binh đao và bọn người trong
nước theo giặc; làm cho bọn giặc không thể ở yên, mà lũ phản nghịch cũng có phần
sợ. Như vậy, thì lòng mộ nghĩa của người ta mới được bền vững mà mưu cơ khôi phục
mới khỏi bị tiết lộ và khỏi bị phá rối.
Vua cho là phải, bèn sai thảo bức thư, đưa trước cho viên tổng
đốc lưỡng Quảng (tức hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc)), đại lược
nói rằng:
"Ba trăm năm nay, nước chúng tôi nhờ đội oai đức của
thiên triều, đời đời giữ chức phiên phong, trong nước yên lặng. Chẳng may vận
nước giữa chừng gặp buổi suy vi, vua trước qua đời. Nguyễn Huệ Tây Sơn là rể nước
tôi, quên ơn bội nghĩa, nhân khi nguy biến, đánh người trong lúc có tang; lại
chiếm cứ đất nước, để đến nỗi người cháu nhà vua phải trốn chạy ra ngoài, chưa
kịp sai sứ báo tang và xin phong, thể lệ nhiều điều thiếu thốn. Nếu không tới cửa
ải mà bày tỏ, e lại vì thế mà mang tội. Vì vậy, nay xin bẩm rõ nguyên do, mong
rằng quan lớn thương tình kẻ ở xa, đề đạt giúp cho. Tôi đã có biểu trần tình,
xin giao cho một người đem đi, lại có chép một bản phụ, xin trình lên ngài xem.
Vời trông thiên triều, ví như trời che đất chở, xa gần không sót chỗ nào. Xét đến
tấm lòng kính thuận của các đời trước nhà tôi, và thương đến nỗi khổ yếu ớt,
lang thang của tôi; xin hãy truyền cho đem quân tới sát bờ cõi, đánh kẻ có tội,
dẹp yên loạn lạc, để gây dựng lại nước tôi. Muôn vàn lần nhờ ơn thiên triều, ơn
đức của đại hoàng đế không sao kể xiết, mà công giúp đỡ của quan lớn cũng sẽ
cùng bền vũng với núi sông của nước tôi vậy".
Thư thảo xong, vua sai Đản và án sung chức chánh, phó sứ. Hai
người đem vài kẻ thân tín cùng đi, chỉ đội nón cũ, bận áo rách như người thường
dân đi đường. Vua Lê tiễn hai người đến vùng núi Bảo Lộc và dặn rằng:
- Đối đáp ở đất nước người là chức trách của sứ thần. Chuyến
đi này quan hệ đến sự mất, còn của nước nhà và sự thành, bại của công việc. Các
ngươi nên tuỳ cơ ứng biến, đem cái tài học chất chứa lúc bình sinh mà thi thố
ra việc làm. Tài kinh luân ở ba tấc lưỡi, việc từ lệnh ấy không thể thiếu được.
Các ngươi nên cố gắng, cho xứng đáng với tấm lòng trông chờ của trẫm.
Hai người lạy tạ rồi đi. Đản nói riêng với án rằng:
- Bọn ta tiếng là bồi thần, thật ra chẳng khác gì kẻ vong mạng,
ra đi lúi xùi chẳng có ai đưa đón, trên đường thì nhiều sự cách trở, lại phải
trèo leo vất vả trong chốn núi rừng. Nếu chưa đến đất Trung Hoa mà đã bị quân
giặc đuổi bắt, thì đó chính là sự dở dang rất đáng lo ngại. Còn như đã tới được
gần doanh của đốc bộ lưỡng Quảng thì ta không còn lo gì nữa.
án nói:
- Nếu như lòng trời còn giúp xã tắc, chắc sẽ không có việc ấy,
cần gì mà phải lo xa? Có điều, từ khi nước ta có nước đến nay, trong việc đi lại
với Trung Hoa tuy rằng các đời sáng nghiệp và trung hưng cũng đã từng gặp cảnh
gieo neo không biết là bao nhiêu phen, nhưng mà kẻ bồi thần đi sứ, chưa có ai lại
như chúng ta ngày nay.
Nhân thế, án làm bài thơ, trong có hai câu rằng:
"Ngàn thuở còn truyền câu chuyện lạ:
Sứ thần áo rách, nón mê tàn
Rồi hai người theo con đường tắt trong núi, qua cửa ải Lạng
Sơn mà đi.
Thật là:
Rời nước một thân qua ải Hán
Đau lòng hai mắt khóc sân Tần °
Chưa biết hai người đi chuyến này ra sao? Hãy xem hồi sau
phân giải.
---------------------
° Dịch ở hai câu chữ Hán như sau: Thiên cổ do truyền kỳ tuyệt
sự, Tệ soa tàn lạp sứ thần trang)!
Đời Xuân thu, nước Sở bị nước Ngô chiếm đóng, quan đại phu nước
Sở là Thân Bao Tư sang cầu cứu với nước Tần. Vua Tần không nghe, Bao Tư cứ đứng
khóc ở sân luôn bảy ngày đêm: sau đó vua Tần phải cho quân sang cứu Sở-Đây mượn
ý đó để nói việc bọn án sang cầu cứu nhà Thanh cũng khó khăn như vậy.
Hồi thứ mười hai
lê sứ thần qua đất bắc xin quân
tôn đốc bộ tới ải nam truyền hịch.
Lại nói, viên tham tri chính sự Lê Duy Đản và viên phó đô ngự
sử Trần Danh án theo đường tắt trong núi đi đến vùng Hoà Lạc (thuộc huyện Hữu
Lũng, Lạng Sơn), gặp lúc quân do thám của viên đô đốc Tây Sơn Nguyễn Văn Diệm
đi tuần, xét hỏi rất ngặt, người nào không có giấy tờ đều bị ngăn trở. Hai người
bèn cải trang làm người lái buôn, nhập theo bọn khách trú (tiếng đương thời,
dùng để chỉ những người Hoa kiều ngụ cư ở Việt Nam), men núi đi tắt sang Trung
Hoa, rồi nhờ quân của viên quan giữ cửa ải đưa đến doanh phủ Thái Bình (thuộc
Quảng Tây).
Bọn Đản lạy rập dưới sân mà nói:
- Kinh thành của nước chúng tôi từ năm Bính-ngọ (1786), bị giặc
Tây Sơn là Nguyễn Huệ đánh phá, quốc vương qua đời, cháu nối nghiệp do dòng
chính thống lên làm chủ việc tế tự. Mùa đông năm Đinh-vị (1787), Huệ lại sai tướng
ra đánh. Tự quân phải chạy trốn ra ngoài, các bề tôi lớn nhỏ đều phiêu bạt nơi
sườn non góc biển. Người ở lại bị chúng bắt bớ, người đi ra bị chúng ngăn chặn,
hễ chúng bắt được là giết chết liền. Trước đây, tự quân của chúng tôi chạy vào
Sơn Nam cùng một vài người bề tôi tập hợp quân dân, tính việc khôi phục, lại bị
chúng đánh phá, phải chạy vào trấn Thanh Hoa. Nay nhân khi dân mộ nghĩa còn mến
chủ cũ, đều muốn tự quân của chúng tôi lẻn về phía bắc sông Nhĩ Hà, đem tình
hình báo với thiên triều, ngước mong thương đến nước chúng tôi, đem quân cứu viện
để cho tự quân của chúng tôi có thể khởi sự ngay ở trong nước, rồi dựa vào uy
thế của thiên triều mà sai khiến các nghĩa sĩ. Như vậy thì việc khôi phục đất
nước mới mong có cơ hội. Hiện nay tự quân của chúng tôi đóng ở huyện Phượng
Nhãn, sai chúng tôi lẻn lút sang đây. Đường đi đến cửa ải, tính ra chỉ có bốn
ngày nhưng vì chúng tôi sợ giặc bắt, phải vượt suối trèo non, đi vòng theo đường
quanh co, nên hơn một tháng mới tới nơi. Cúi xin nghĩ lại: Nước nhỏ mọn chúng
tôi làm bề tôi của thiên triều đã hơn ba trăm năm, lo giữ chức phận và việc tiến
cống không bao giờ ngớt. Nay bỗng chốc bị giặc chiếm đoạt, xã tắc tàn hoang.
"Người ta đến lúc cùng thì quay về gốc", không thể không gọi ông trời
mà kêu. Đức đại hoàng đế cũng tức là vua nước nhỏ mọn chúng tôi, mà các vị quan
lớn lại là bậc quan lại giúp việc nhà trời. Muôn trông thương đến kẻ ở nơi biên
ải xa xôi, dựng lại nước đã mất, nối lại dòng đã dứt, để cho họ Lê là người bề
tôi tiến cống, được đội phúc lớn của trời.
Bọn Đản nói rất thảm thiết và đem các tờ biểu, tờ bẩm trình
lên. Viên phân phủ họ Vương ngờ rằng quân Tây Sơn giảo quyệt, giả làm sứ thần của
họ Lê để dò la tình hình Trung Quốc, bèn vờ hỏi vặn rằng:
- Vua trước của nước Nam mất đi đã hai năm nay. Nếu như trong
nước có biến, tự tôn đáng lập mà không được lập, sao lại không tới cửa ải bày tỏ
sự tình ngay từ năm ấy? Vả chăng, trước đây có tiếp được công văn đệ sang, chẳng
qua chỉ nói về việc làm mất quốc ấn, xin cấp cho chiếc khác mà thôi. Còn như
duyên cớ tại sao không được lập, nguyên do tại sao bị đuổi đi thì không hề nói
tới một lời. Nay việc đã trải qua hai năm, tự tôn nương náu ở đâu, quân giặc động
tĩnh ra sao, người trong nước theo ai phản ai như thế nào, tình hình đều chưa
rõ rệt. Lại nữa, trong tờ biểu này đứng tên tự tôn họ Lê, mà chưa có tờ biểu
báo tang và cầu phong, chưa được cấp lại quốc ấn thì sao được khinh suất dâng tờ
biểu lên, và vội vã sai sứ thần đến? Xét ra, những việc ấy đều là việc chưa hợp
thể lệ. Cần phải có tự tôn họ Lê tự mình đến đây khai báo, để ta giáp mặt mà hỏi
rõ tình do. Nếu chỉ bằng vào lời nói của người khác thì không được. Ta là bề
tôi giữ đất, việc ở ngoài bờ cõi là việc lớn, quyết không thể nhẹ dạ mà tin các
ngươi. Nhưng thôi được, các ngươi đã vì việc cáo cấp mà đến đây, nghĩ tình ta
cũng không nỡ đuổi đi. Hãy cho ở lại đây, để ta bẩm rõ với quan đốc bộ, phái
người ra ngoài bờ cõi, dò xét một phen cho đích xác, rồi mới có thể làm tờ biểu
tâu lên nhà vua mà chờ chỉ ý quyết định.
Đản và án nghe vậy, không biết nói sao, đành phủ phục dưới
sân mà gào khóc. Viên phân phủ họ Vương xét thấy thật tình, bèn dỗ dành rằng:
- Xem ra lũ các ngươi trung thực đáng khen, mà tình cảnh thật
đáng thương! Thiên triều sẽ có cách phân xử, không nên kêu mãi cho nhàm, cứ ra
nhà trọ để chờ mệnh lệnh.
Hai người mừng rỡ, bái từ lui ra. Bấy giờ là năm 53 niên hiệu
Càn-long, tức là tháng chín mùa thu năm Mậu-thân (1788).
Đản và án ở đó được ít lâu, viên phân phủ họ Vương gọi vào mà
bảo rằng:
- Việc bên ấy xin cứu viện, đã được thấu đến triều đình.
Hoàng đế thương đến các vua đời trước của nhà Lê làm bề tôi tiến cống nhiều đời,
đã hạ chỉ cho quan tổng đốc lưỡng Quảng là Tôn đại nhân, hiệp đồng cùng quan tổng
đốc Vân, Quý (Vân Nam, Quí Châu (Trung Quốc)) là Phú đại nhân, điều động năm chục
vạn lính dõng ở Điền Châu ra ngoài biên thuỳ tìm kiếm tự tôn họ Lê, hộ tống về
nơi kinh thành nước An Nam. Những tình hình đó, từ cuối mùa đông năm Đinh-vị
(1787), quốc mẫu bên ấy và viên trấn mục ở Cao Bằng là Nguyễn Huy Túc đã qua cửa
ải Đẩu áo sang bày tỏ rồi. Nhưng chưa rõ hai anh em tự tôn thất lạc ở đâu. Còn
tự tôn thì sau khi chạy trốn, mẹ con cách trở, cũng không rõ tình trạng bên này
nên lại sai các người trèo đèo vượt suối sang đây (theo Cương mục, thì việc mẹ
Chiêu thống sang cầu cứu nhà Thanh như thế nào, Chiêu Thống đã được Lê Quýnh về
báo cáo rõ cả rồi, lúc này cử Đản và án sang chỉ là để đón quân Thanh mà thôi).
Các ngươi đã là người do tự tôn sai đi, mà tự tôn đang ở đất Phượng Nhãn, thế
thì tình hình ra sao, các ngươi hãy làm tờ cung khai, bẩm lên quan đốc bộ, chờ
khi đại quân xuất phát, ta sẽ dẫn các ngươi tới lạy chào và cung khai.
Bọn Đản, án được tin ấy, mừng lắm, bèn xin để một người ở lại
chờ hầu, một người về trước phí báo cho tự tôn rõ, để nhóm họp những kẻ đồng
chí, kêu gọi người trong nước, khiến cho xa gần đều biết, và các nơi đều nổi dậy,
chờ thời cơ hưởng ứng với thiên binh. Lại dựa vào oai linh của thiên triều, các
nơi sẽ nhắm những chỗ hiểm yếu mà đóng đồn trại để ngăn chặn quân địch. Đó thật
là một cơ hội rất tốt.
Viên phân phủ họ Vương bằng lòng cho. Thế là án ở lại phủ
Thái Bình, còn Đản thì theo đường cũ về nước.
Lại nói, từ khi kinh thành thất thủ, vua Lê chạy sang phương
bắc. Còn hoàng thái hậu cùng mấy người tôn thất chạy trước lên Cao Bằng; viên đốc
đồng Cao Bằng là Nguyễn Huy Túc đem phiên binh đón rước mời về ở tạm tại một
nhà dân bên cửa ải Đẩu áo, để mưu đồ sang cầu cứu nhà Thanh.
Nguyên lúc Huy Túc mới đến Cao Bằng, có người khách trú tự hiệu
là Ngô-sơn tiều ẩn, vốn quen với Nguyễn Đình Tố, thường vẫn hay đi lại nơi dinh
trấn. Túc lần đầu được gặp và nói chuyện với hắn ta, lấy làm lạ lắm. Đến lúc Tố
mất, người khách đến viếng, Túc lấy lễ thượng khách mà đối đãi, mời ở lại hơn
mười ngày. Việc tang của Đình Tố đã xong xuôi, người khách mới cáo từ ra về.
Lúc sắp chia tay, người khách bảo riêng với Túc rằng:
- Quí quốc từ nay sẽ có nhiều việc, quan đốc thần trước cũng
đã biết, không hiểu lúc gần mất ngài có nói lại với các vị đồng liêu không?
Túc nói:
- Nước tôi, bên ngoài có giặc mạnh, sau này chắc là không thể
yên ổn, đó là việc mà người trong nước ai cũng biết. Nhưng kết cục ra sao,
không phải là điều Túc này có thể biết trước. Quan đốc thần trước với Túc này đều
lấy làm lo. Nay tôi làm quan ở ngoài, đã không được dự vào nơi trọng yếu, thì
dù có ý kiến nông cạn cũng không làm được gì?
Người khách nói:
- Chính vì làm quan ở ngoài nên mới không thể không đương lấy
việc nước. Cứ như tài của ông, há chẳng có thể làm được một phen kinh trời động
đất, khiến người cả nước vội vàng chạy vạy ư? Nhưng chẳng qua chỉ là một giấc
chiêm bao mà thôi. Đó thật là khí số với nhân sự có quan hệ với nhau; đáng cười
mà cũng đáng tiếc vậy!
Túc nằn nì hỏi mãi, nhưng cuối cùng người khách vẫn không chịu
nói rõ, cáo từ mà đi.
Đến lúc Túc đưa thái hậu qua đất Trung Hoa, tới Long Châu lại
gặp người khách ấy giữa đường. Túc đem tình hình trong nước nói với hắn ta
không hề giấu giếm, và nói thêm:
- Việc gấp lắm rồi! Ông có cách gì dạy cho tôi không?
Người khách nói:
- Khi ông ở trấn Cao Bằng, bắt đầu nghe có tai biến nếu có thể
cùng viên đốc đồng trấn Lạng Sơn, đồng một lòng hợp sức giữ lấy đất hai trấn ấy,
tụ tập phiên tướng phiên binh, chống nhau với giặc, làm hùng bá ở một phương; rồi
đưa thư sang các phủ Long Châu, Bằng Tường (đều thuộc Quảng Tây, giáp liền với
Cao Bằng, Lạng Sơn), hẹn khi có việc nguy cấp thì họ cứu giúp, để nhờ cái tiếng
viện trợ của họ. Ngày xưa họ Mạc đã dùng kế ấy mà duy trì được 56 năm (theo Lịch
triều hiến chương loại chí thì sau khi vương triều nhà Mạc đổ, dư đảng họ Mạc
chiếm giữ Cao Bằng còn kéo dài được 96 năm nữa, kể từ Mạc Kính Cung (1592) đến
Mạc Kính Vũ (1688)). Nếu quả ông mà làm được như thế, há chẳng giữ được trọn đời
của ông hay sao? Sao lại bỏ chỗ ấy cho người ta? Đã bỏ lỡ mất cơ hội đó không
làm, thì nay chỉ có cách liên lạc với các xứ Long Châu, Bằng Tường, thiết tha
xin với quan tổng đốc, đem việc tâu lên nhà vua, trông vào điều may trời cho, để
cầu xin cứu viện mà thôi. Sau khi lấy lại được nước nhà, ông nên cố gắng
"đào giếng đắp núi", tự mình phải hết sức, đừng để làm cái trò cười
cho đời sau.
Túc nói:
- Đó là cái ý quan trọng xa xôi, tôi xin kính vâng lời dạy,
không dám lãng quên. Nay Túc tôi đưa quốc mẫu chạy sang đây, cũng chính là ý
như thế, song chỉ sợ tình của kẻ dưới, không thể thấu lên đến bề trên. Nếu được
nhờ ơn ngài chỉ đường vạch lối, đem việc này thưa trước lên trên cho chúng tôi,
thì xin đội ơn vạn lần, vạn lần!
Người khách nói:
- Đất lạ quen nhau, tôi dám đâu không hết sức?
Người khách bèn cùng đi với Túc. Viên đô ty Long Bằng (Long
Châu, Bằng Tường) tên gọi Trần Hồng Thuận là bạn quen của người khách. Khách
bèn dẫn Túc đến đấy, nói là mẹ, vợ và thân thuộc của tự tôn nước An Nam bị quân
giặc Quảng Nam (chỉ quân Tây Sơn) đuổi giết, trốn đến cửa ải, cúi đầu đợi mệnh...
Hồng Thuận lập tức hội đồng với viên phó quan ở Long Châu là
Trần Thốt đi tới nơi tra xét. Tất cả đàn ông đàn bà gồm 64 người, Hồng Thuận tuỳ
tiện cho ở bên cửa ải, rồi đem việc ấy nói rõ với viên quản đạo Giang Tả thuộc
tỉnh Quảng Tây là Thanh Hùng Nghiệp, để bẩm lên quan tổng đốc lưỡng Quảng là
Tôn Sĩ Nghị. Tiếp đó, Hồng Thuận lại cho sao đơn khiếu nại của nước Nam đại ý
nói rằng: "Quốc thành bị giặc đánh phá, cướp bóc, không biết kêu xin với
ai? Ai cũng căm thù giặc, thề không cùng sống với chúng, nhiều người lẻn lút nấp
ở trong núi, kết thành đồ đảng, chỉ vì chưa có người đứng ra làm chủ, cho nên họ
còn rời rạc khó bề hợp nhất. Nếu được thiên binh sang cứu thì các nơi sẽ cùng
hưởng ứng ngay, và có thể hẹn ngày mà lấy lại quốc thành".
Sĩ Nghị thấy giấy báo tin ấy, liền bảo bọn liêu thuộc rằng:
- Nước An Nam từ đời Hán, Đường, là đất phụ thuộc vào nước
ta; đến đời nhà Tống, họ Đinh quật cường, mới trở thành nước tiến cống. Trải mấy
đời nối theo nhau cho đến ngày nay, lại không thể giữ được nước. Hoặc giả trời
khiến nước ấy lại làm quận huyện của Trung Quốc chăng?
Lập tức, Sĩ Nghị ruổi ngựa tới vùng Long Bằng, dò xét tình
hình biên giới, rồi họp bàn với viên tuần phủ là Vĩnh Thanh.
Vĩnh Thanh nói:
- Mở mang bờ cõi là một việc lớn, lợi hại không phải nhỏ. Quả
như lời họ nói, thì nước ấy kể cũng đáng thương. Nhưng thế lực của giặc, đoán
chắc là không phải như vậy. Chúng ở ven biển nổi lên, theo việc binh nhung từ
khi đầu còn để chỏm, một lần khởi quân mà lấy được cái nước đã ba trăm năm, nhất
định không phải là yếu, và cũng nhất định không đời nào chịu để cho người ta doạ
dẫm, mới nghe tiếng đã phải đêm hôm lẻn trốn đi. Trừ phi chúng có bị đánh cho
giập gẫy một vài phen thì chúng mới chịu rút lui và nghe theo. Trung Quốc ta
thái bình đã hai trăm năm nay, dân chúng không biết đến việc binh. Nay bỗng dồn
họ tới chỗ nóng nực lam chướng, dù thắng được cũng không phải là mạnh. Huống
chi chưa chắc đã thắng, mà vạn nhất vấp ngã thì tổn thất thật không nhỏ. Cụ lớn
là vị đại thần của nước, nắm quyền ở chốn biên thuỳ, cần phải giữ vững bờ cõi;
há nên vừa mới nghe kêu nài một tý đã vội gây hấn ở nơi biên ải? Cái gương của
bọn Hoàng Phúc, Trương Phụ ở đời Vĩnh-lạc, Tuyên-đức (Hoàng Phúc và Trương Phụ
là tên các tướng nhà Minh. Vĩnh-lạc là niên hiệu Minh Thành tổ, Tuyên-đức là
niên hiệu Minh Tuyên tông. Đây chỉ việc quân Minh sang xâm lược Việt Nam hồi đầu
thế kỷ XV, sau bị Lê Lợi đánh bại), cũng chưa phải xa xôi, xin nghĩ kỹ cho!
Nghị nói:
- Nước An Nam được phong, đời đời lo giữ chức phận tiến cống.
Tây Sơn là bọn giặc nhỏ, dám diệt nước họ. Nạn của cống thần không thể không cứu,
tội của cuồng tặc không thể không trị. Vì nghĩa mà hành quân ai dám không theo?
Nếu lấy cớ là mọi rợ mà bỏ ra ngoài, ngồi nhìn bọn họ giết hại nhau mà không cứu
thì tám xứ "man", chín xứ "di" làm bề tôi Trung Quốc, còn
trông cậy gì nữa?
Rồi Nghị gọi sáu người là bọn Nguyễn Huy Túc, Lê Quýnh, Hoàng
ích HIểu, Nguyễn Đình Quán, Nguyễn Quốc Đống và Nguyễn Đình Mai đến cửa quan, để
hỏi tình trạng.
Trước hết, Nghị hỏi tự tôn có mấy anh em, sau khi chạy trốn,
hiện nay ở đâu?
Bọn Túc khai là: Tự tôn có ba anh em, rất yêu mến nhau. Anh
trưởng là Lê Duy Kỳ, tức là người đáng được nối ngôi, thứ hai là Tụ quận công
Duy Tụ, thứ ba là Lan quận công Duy Chỉ. Hiện nay, Duy Kỳ chạy xuống lộ Sơn Nam
hạ (năm Lê Cảnh hưng thứ Qui Nhơn (1741), chia xứ Sơn Nam làm 2 lộ: lộ Sơn Nam
thượng (Vùng Hà Nam, Hưng Yên, Hà Đông sau này) và lộ Sơn Nam hạ (vùng Nam Định,
Thái Bình sau này)), để chiêu tập nghĩa binh. Duy Tụ ở vùng Tuyên Quang, Hưng
Hoá cũng đang nhóm họp các người đồng chí, xa xa làm thanh viện cho nhau. Nghe
nói họ nương tựa lẫn nhau, thần dân thuận theo, quyết không đến nỗi tan tác.
Nhưng không biết từ đấy về sau có thể hăng hái làm nên việc hay không? Tới đây
đã hơn bảy tám tháng, sự thế đổi thay, họ có còn giữ được chỗ ấy nữa không, điều
đó chúng tôi không được biết.
Nghị lại hỏi tin tức của mẹ con tự tôn nay ra sao?
Túc nói:
- Chúng tôi trước ở Cao Bằng, rồi rước quốc mẫu sang nội địa
(chỉ đất Trung Hoa). Tự tôn thì vẫn ở trong nước. Quan san cách trở, tin tức
không thông. Nay nếu được phép thì xin lẻn về báo cho tự tôn biết tin của mẹ và
gia quyến. Xin cho ba người chia đi hai ngả. Đình Mai xin đi đường cửa ải núi
Mông Tự. Quýnh và Đống xin theo đường Long Môn mà vượt biển. Ngửa trông cụ lớn
cho người dẫn đến biên giới, để chúng tôi gấp đường chạy về; chừng trong một
tháng, dò xem tin tức ra sao, sẽ xin bẩm rõ.
Nghị lại hỏi lâu nay ở bên ấy mùa màng ra sao?
Túc thưa:
- Nước chúng tôi luôn mấy năm bị mất mùa, giá gạo rất đắt, một
thưng gạo giá đến sáu trăm đồng tiền. Lộ Sơn Nam hạ vốn được gọi là nơi giàu
có, bây giờ dân gian cũng không có thóc lúa để dành, các nhà đều trống rỗng như
chiếc chuông treo. Tự tôn trước kia đóng ở xứ ấy, vì lương thực không đủ, cho
nên hễ làm việc gì cũng bị thất bại. Chúng tôi khi ở nước nhà, chỉ nghe như thế,
đó là việc thực.
Nghị quay sang hỏi Lê Quýnh, Quýnh liền đáp:
- Họ Lê giữ nước hơn ba trăm năm, dùng ân huệ buộc chặt lòng
người, dùng lễ nghĩa vun trồng sĩ khí. Cho nên, dù bọn phản nghịch tiếm quyền
mà lòng người mến chúa cũ vẫn như xưa. Chỉ vì họ Trịnh hiếp chế, lòng dân căm
giận. Tây Sơn nhân lúc sơ hở ấy, mượn tiếng phò Lê diệt Trịnh, nên người trong
nước không ai chống cự. Chúng nhân thế đắc chí, lại càng hung hăng, tự đặt niên
hiệu, chiếm giữ kinh thành, đến nỗi tự tôn họ Lê phải phiêu bạt ra ngoài. Do
đó, dân cày và những kẻ lục lâm nổi lên khắp nơi, không ai hẹn ai mà người nào
cũng xưng là quân họ Lê. Nếu như thượng quốc rủ lòng bao dung kẻ nhỏ mọn, giúp
đỡ kẻ khốn cùng, sai một đạo quân tới sát bờ cõi để làm thanh viện, thì người
trong nước nghe tin, ai không trỗi dậy, thề cùng phục thù? Mà như vậy, chắc
cũng không hao tổn đến binh lực của thiên triều nhiều lắm.
Nghị nghe được lời khai rõ ràng, bèn đem một bức địa đồ nước
Nam, bảo bọn Quýnh duyệt lại, và hỏi:
- Có đúng không? Không sai chứ?
Quýnh bẩm:
- Vị trí và phương hướng nhiều chỗ sai lầm, ước chừng mười phần
sai đến bốn năm.
Nghị nói:
- Cho phép các ngươi cứ thật mà sửa lại.
Rồi Nghị sai gọi một người thợ vẽ đến, theo chỗ Quýnh sửa đổi
mà vẽ lại. Lại bảo Quýnh lưu ý xem những vùng nào đã theo giặc, vùng nào chưa
theo giặc, anh em vua Lê hiện đóng ở đâu, nhất nhất đều ghi chú thật rõ ràng
vào địa đồ.
Rồi nhân đó, Nghị gọi bọn Túc và bảo:
- Chờ ta tâu lên triều đình, khi nào được chỉ của nhà vua, tức
khắc sẽ chiểu theo những điều kêu xin của bọn ngươi mà làm cho thật tốt tất cả
mọi việc. Chuyến này các ngươi về nước, phải tìm cho được đích xác chỗ ở của tự
tôn. Lại phải dò xem quân giặc động tĩnh ra sao? Người trong nước có thể trỗi dậy
được không? Hễ có dịp thuận tiện lập tức phải phi báo cho ta biết, ta sẽ phúc tấu
về triều, xin cho kéo quân ra ải, thì công việc mới có thể mau xong.
Bọn Túc mừng lắm, cùng nhau ngoảnh mặt về hướng bắc, trông vời
cửa khuyết mà lạy và hô "vạn tuế" luôn mấy lần.
Sau đó, Nghị sai viên quản đạo Tả Giang, tỉnh Quảng Tây là
Thanh Hùng Nghiệp hộ vệ quốc mẫu An Nam và các quyến thuộc đến đất Nam Đôn, tuỳ
nghi cấp cho các thứ lương thực, chăn áo, để ai nấy đều được yên ổn.
Luôn thể, Nghị thảo tờ biểu tâu rằng: "Cứ lời người trấn
mục của nước An Nam là Nguyễn Huy Túc, chạy sang nội địa cung khai: tháng sáu
mùa hè năm thứ năm mươi mốt, niên hiệu Càn long, em giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc
là Nguyễn Văn Huệ đem quân xâm phạm kinh thành nước ấy. Tiếp đến tháng tám, Văn
Nhạc theo ra. Vừa gặp lúc các trấn đều chỉnh đốn binh lính, voi ngựa đến cứu.
Anh em Văn Nhạc sợ không dám ở, ngay trong tháng ấy, đang đêm phải đem quân lẻn
trốn. Quốc vương là Lê Duy Đoan (tức Lê Hiển Tông) làm mất quốc ấn, liền đó bị
bệnh mà mất. Vì con trưởng chết sớm cháu đích tôn là Duy Kỳ, theo lệ được nối
ngôi, có thảo văn thư đệ sang, xin cấp cho quả ấn khác. Kế đó, tiếp được hịch của
quan đốc bộ đưa sang, nói rằng như thế không hợp thể lệ, mà phải sai bồi thần
dâng biểu báo tang rồi xin phong mới đúng. Không ngờ mùa đông năm sau, Văn Huệ
lại sai bộ tướng là Võ Văn Nhậm nhân khi nguy biến, đánh người giữa lúc có
tang, đến nỗi tự quân phải chạy trốn, chưa kịp sai sứ thần qua xin. Bọn Túc đưa
quốc mẫu của nước Nam chạy ra vùng Bắc Sơn thuộc huyện Võ Nhai, vua Lê thì chạy
trốn sang phủ Thiên Trường. Tướng giặc chiếm cứ quốc thành, sai người đi khắp
nơi lùng bắt. Lại có tên thổ dán trấn Lạng Sơn là Quyển Trâm, tên phiên mục Cao
Bằng là Bế Nguyễn Trù đầu hàng giặc, đem quân định cướp quốc mẫu để làm con
tin. Bọn Túc liền đưa quốc mẫu lên Cao Bằng. Tháng năm năm nay, đi tới đầu xứ
Bác Nậm (thuộc huyện Quảng Yên và Phú Hoà, tỉnh Cao Bằng), bị quân giặc theo kịp,
không còn kế gì để thoát thân, bọn Túc phải đứng cách sông kêu xin thiên triều
cứu giúp. Rồi họ liều mạng đưa được quốc mẫu và bọn quyến thuộc lội nước sang bờ
bên này, người nào không kịp sang sông đều bị giặc giết chết. Nay bọn Túc rập đầu
kêu van, xin được ở lại chịu tội với thiên triều, không chịu mắc vào tay nhơ nhớp
của giặc... Lại cứ lời bọn Túc nói thì hiện nay quốc thành bị giặc chiếm đóng
các nơi khác cũng đều nghe tiếng mà tan rã tơi bời. Các địa phương tiếp liền với
nội địa như Mục Mã (thuộc Cao Bằng), Lạng Sơn, đều đã theo giặc. Riêng có vùng
Diễn Châu ở Nghệ An, các hạt Kinh Môn, Nam Sách ở Hải Dương... là còn có bọn thổ
hào ứng nghĩa, ra vào các nơi hang núi, lừa dịp đánh giết quân giặc, nên giặc
cũng chưa thể đánh chiếm được hết cả. Vả chăng tuy quân giặc từ khi chiếm được
đất Tây Sơn, một mực hung tợn, chỉ biết có việc tàn sát, nhưng cũng vẫn có những
nơi không chịu hàng giặc. Tự tôn lẩn trốn, chắc cũng ở những nơi ấy. Mẹ và vợ của
tự tôn đã chạy sang đất thiên triều, muôn lần trông được sự bao dung. Còn trong
bọn bề tôi chạy trốn cũng có được một vài kẻ có chút tài cán, họ tự xin về nước,
tìm kiếm tự tôn, để lại gắng sức lo toan một phen nữa. Nếu như sức chẳng chiều
lòng, thì họ xin làm cái chước bảo tồn lấy người con côi, tha thiết xin được
thiên triều thương xót... Các khoản tình do trên này, đều do tay tri phủ Nguyễn
Hữu Nhân (có bản chép Đào Hữu Nhân) viết thành câu hỏi, đầu mục nước ấy lần lượt
trả lời. Xét ra, họ cũng thật tình, lại có phần hăng hái, biết được nghĩa lớn.
Thần trộm nghĩ, cống thần họ Lê, theo lệ thì tự tôn của họ được nối ngôi, chẳng
may nước ấy bị diệt, mẹ và vợ đã tới cửa ải kêu van, thực cũng nên thể tình mà
chu cấp, để họ được yên chỗ, rồi chờ để xét rõ tin tức của nước họ, sẽ quyết định
việc cho đi hay cho ở lại. Chỉ nghĩ bọn họ khi chạy đến ven sông, tức là đã thuộc
về địa đầu bờ cõi của thiên triều; vậy mà tụi giặc trông thấy quân lính thiên
triều đóng đồn ở đấy, lại vẫn còn dám hung hãn giết người, lòng giặc hiểm độc,
không phải là không có ý dòm dỏ. Thần đã mật thư cho viên đề đốc là Tam Đức sắp
đủ chiến binh, chi đi đóng giữ ở các cửa ải trong sáu xứ chung quanh Long Châu.
Nếu chúng qua sông, tức thì bốn mặt chặn đánh, không để cho chúng chạy thoát;
luôn dịp cũng tỏ cho chúng được biết binh uy của thiên triều, cho chúng hoảng sợ.
Thần lại xin viết thư mật cho các viên quan coi giữ miền Triều Châu và Long
Châu, bảo phải gấp rút đi tuần tra và dò xét kỹ càng ở các miền biên giới..., Nếu
có tình hình gì khác, thần xin tiếp tục viết biểu tâu lên, chờ vâng chỉ cho thi
hành".
Vua Thanh xem tờ tâu ấy, liền bảo viên đại học sĩ là Bá Hoà rằng:
- Lê Duy Kỳ ở An Nam, tuy chưa được phong, nhưng y là người
đáng được nối ngôi, cũng không khác gì quốc vương. Nay mẹ và vợ cùng các quyến
thuộc của y đều chạy sang đây, thế là toàn cõi nước ấy đều đã mất cả. Việc dựng
lại nước đã bị diệt, nối lại dòng đã bị tuyệt, cần phải trù liệu sắp đặt mà rốt
cuộc cũng phải hao phí rất nhiều binh lực. Nay xét ra, Duy Kỳ còn ở lại trong
nước để tự lo lấy việc khôi phục, dân nước ấy theo giặc chẳng qua mới chỉ mấy xứ
Mục Mã, Lạng Sơn, còn ở các vùng đông bắc, tây nam thì lòng người mến chủ cũ vẫn
có thể tin cậy. Nếu dựa vào đó để lo nối lại ngôi vua ắt là có thể xong việc. Vậy
truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị biết rằng: "Họ Lê thờ phụng thiên triều rất là
kính thuận. Duy Kỳ theo lệ đáng được nối ngôi. Việc mất quốc ấn, ngày trước đã
có dâng thư xin cấp ấn khác, song vì chưa cho sứ sang báo tang, không hợp thể
chế, cho nên việc cấp ấn phải hoãn, đã có hịch dụ. Nay họ lại sai sứ thần tha
thiết sang kêu xin, vậy chuẩn y việc sắc phong và cấp ấn cho họ. Xét cho kỹ.
Duy Kỳ sở dĩ bị giặc đánh đuổi cũng chỉ là vì y không lo gắng sức trỗi dậy mà
ra. Hiện giờ đất nước của y còn nhiều chỗ chưa bị giặc chiếm, thần dân cũng còn
biết kính mến; Duy Kỳ nên nhân dịp ấy nhóm họp nghĩa quân, thu phục quốc thành,
để cho nghiệp cũ không đến nỗi bị sụp đổ. Mẹ và vợ y chạy sang nội địa, đã được
sắp đặt chỗ ở yên ổn, ăn mặc không thiếu, đất nước đã quen, y cũng không cần phải
lo nghĩ, có thể chuyên ý lo việc trong nước, chờ khi khôi phục được kinh thành
thì sẽ cho quân đưa mẹ và vợ y trở về. Lúc y sai sứ thần, thì lại nên sai người
đã thông tin lần này sang, để làm chứng cứ, ngõ hầu mới khỏi bị kẻ gian lừa dối
mưu hại. Đến như Nguyễn Huệ cậy mạnh cướp nước, phép không thể tha, đã giáng chỉ
điều động đại quân ở Quảng Tây, để chờ khi gọi đến. Nếu giặc cứ hung hăng như
trước, mà tự tôn họ Lê không thể phấn chấn để làm nên việc, thần dân nước họ lại
cam lòng theo giặc thì sẽ cho đem đại quân bốn mặt họp lại mà đánh, cho sáng tỏ
tội trạng của chúng. Như thế, trước tiên phải đưa hịch phi báo cho thần dân nước
ấy, khiến họ đều biết, để làm mạnh thêm thế của họ Lê và làm cho bọn Tây Sơn mất
vía kinh hồn, mà đối với việc giúp đỡ cho sự thanh viện cũng là có ích. Những
người đi theo như bọn Nguyễn Huy Túc, tình nguyện về nước, tìm kiếm chỗ ở của tự
tôn, để cùng giúp việc khôi phục, chí ấy rất đáng khen, lẽ nên cho họ về sớm; sớm
một ngày là tự tôn của họ đỡ lo một ngày, và sau này trẫm cũng được nghe tin nước
ấy mau hơn một ngày. Tôn Sĩ Nghị vốn có tiếng nhanh nhẹn, sáng suốt, sao không
liệu trước điều đó, mà còn lo trẫm không ưng cho làm, để phải tâu đi tâu lại,
không khỏi phạm sai lầm về sự câu nệ. Nay Nghị cần phải sớm tới Long Châu, giáp
mặt mà hiểu dụ bọn sứ thần, giục họ lập tức lên đường; đem ý của trẫm truyền bảo
cho họ biết, để họ về nước báo tin với anh em Duy Kỳ; đồng thời phải sao các tờ
hịch thành nhiều bản, bảo họ đem về trong nước, ngõ hầu có thể truyền bá rộng
rãi. Ngoài ra, bọn họ lặn lội khó nhọc, hành lý sơ sài, vậy ở đường thuỷ và đường
bộ đều phải cấp phu trạm, hộ tống cho họ gấp đường mà đi; lại cấp cho mỗi người
mười lạng bạc để tiêu pha về việc ăn uống. Nói tóm lại, việc này, nếu như cả nước
An Nam bị mất, Duy Kỳ lại bị giết hại, thì nghĩ tình cống thần, không thể bỏ
qua mà không hỏi tới. Vả chăng bờ cõi nước Nam chưa đến nỗi hoàn toàn mất hết,
tự tôn tuy phải chạy trốn, nhưng thần dân vẫn còn mến phục. Như vậy, ta chỉ cần
làm thanh viện cho họ, để họ tự lo lấy công việc, bất tất phải dấy quân làm to
chuyện đem binh lực trong nước hao phí ở ngoài cõi nóng nực, xa xôi. Đó mới là
kế tuyệt hay. Tôn Sĩ Nghị phải theo chỉ dụ trước, tới nơi biên thuỳ, trù tính
cho kỹ, đốc thần (chỉ Tôn Sĩ Nghị) là người thạo việc, chắc có thể hiểu được ý
của trẫm. Việc kinh lý biên thuỳ ở đấy, cho phép đốc thần được cùng viên phủ thần
là Tôn Vĩnh Thanh họp bàn thoả đáng, tuỳ tiện thi hành. Hãy kính theo chỉ dụ
này!".
Lại nói, quan lại hai hạt Triều Châu, Long Châu từ khi tiếp
được thư mật của Nghị, lập tức đi tuần tra dò xét miền biên giới và cho người
đưa hịch sang bá cáo ở trấn Thái Nguyên.
Bấy giờ có hai họ Trương và Cát quê ở hạt Triều Châu, chuyên
sống về nghề khai mỏ lấy bạc, sang cư trú tại làng Tống Tinh trong trấn Thái
Nguyên. Họ vỗ về mọi người, làm kẻ tù trưởng địa phương, đồ đảng có đến hơn vạn
người, đều là các gia đình người Trung Hoa. Hai họ ấy nghe được tờ hịch, liền
tìm đến chỗ trọ của người đưa hịch mà trình rằng:
- Chúng tôi chuyên sống về nghề mở xưởng khai mỏ, đời đời ở
nước Nam. Trước đây nghe tin kinh thành của nước An Nam bị mất, trong nước loạn
to, sợ rằng cháy thành vạ lây, nên đã cùng người địa phương luyện tập súng, nỏ,
làm chước giữ mình. Có lần, mấy trăm quân giặc đến cướp, chúng tôi mới thử đánh
một trận mà đã giết hết được tất cả. Nghĩ rằng chúng tức giận, ắt lại đến nữa,
chúng tôi bèn chia ra làm mười đoàn, mỗi đoàn một nghìn người thề cùng liều chết
chống giặc. Nay tiếp được hịch văn, ai cũng nô nức nhảy nhót, xin làm tiên
phong. Vả lại chúng tôi vốn là nhân dân Triều Châu, nay cũng muốn xin được cùng
ra sức một phen với quân nghĩa dũng ở Điền Châu.
Người đưa hịch nghe họ nói như vậy, liền lấy tờ khai và đem
tình hình duyên do về bẩm.
Lại nói, vua Lê trước kia đã sai bọn bồi thần sang trần tình
và cầu cứu với nhà Thanh. Đến bây giờ, Lê Duy Đản ở Thái Bình về, báo tin viên
đốc bộ tỉnh Quảng Tây đem việc tâu lên, đã được vua Thanh chuẩn y, chẳng bao
lâu đại binh sẽ sang.
Rồi tiếp đó. Lê Quýnh lại từ Long Châu về báo, nói là thái hậu
và quyền thuộc hiện ở thành Nam Ninh, ăn ở yên ổn. Vua mừng lắm bèn chắp tay
lên trán mà rằng:
"Kẻ tiểu tử này, gặp lúc vận nhà lắm nạn, nhờ được chín
miếu thiêng liêng, đức đại hoàng đế rủ lòng thương, bao bọc cho kẻ nhỏ mọn,
trong nước lại được thấy bóng mặt trời, cơ hội trung hưng phải chăng là ở lúc
này?".
Rồi nhà vua sai thảo tờ biểu tạ ơn và các thư từ trình bẩm, để
cùng đưa sang một thể. Trong đó nói rõ: "Giặc Tây Sơn tàn ngược, dân không
chịu nổi. Hiện nay thần tuy chạy trốn ở ngoài, nhưng may nhờ lòng người vẫn còn
nhớ đến chủ cũ. Nhân đó thần cũng đã cử sự được một vài phen, song đều bị thất
bại. Gần đây tiếp được văn thư, thần đã ngấm ngầm khuyến dụ hào kiệt trong nước,
ai cũng hăng hái, thề giết quân giặc, hằng ngày trông mong ở sự viện trợ của
thượng quốc. Nhờ cậy oai trời, việc chắc phải thành. Khi tiếp được hịch văn do
viên sai quan mang về, thần đã đem tuyên cáo với mọi người trong nước, ai nấy đều
mừng rỡ, hớn hở hơn là chết đi được sống lại; quân giặc cũng vì thế mà mất hết
nhuệ khí. Hiện nay, các nơi đều đã nhóm họp quân nghĩa dũng, chờ thiên binh qua
cửa ải, thì sẽ đến cửa quân lạy chào, và xin chịu kỷ luật làm quân đi tiên
phong. Đảng giặc chắc sẽ bị bắt và quốc đô chắc sẽ được khôi phục. Ơn tái tạo của
đức đại hoàng đế, cùng với đức gây dựng của cụ lớn, thật đáng ghi tạc dài lâu
mãi mãi như sông Lô non Tản vậy!".
Tôn Sĩ Nghị vừa tiếp được tờ bẩm của Triều Châu lại được luôn
tin ấy, liền hội đồng với viên tuần phủ, tâu xin xuất quân. Trong tờ biểu đại
khái nói rằng: "Vâng lời thượng dụ: Chỉ nên làm thanh viện cho họ, để họ tự
lo lấy không cần phải dấy quân làm to chuyện. Kính tuân theo thánh chỉ ấy, thần
đã tra xét kỹ càng các nơi đường sá qua lại. Từ đài Chiêu-đức đến đô thành nước
họ, quân đi chẳng qua chỉ mất sáu ngày. ở Lạng Sơn hơi có lam chướng. Qua khỏi
đó, thuỷ thổ đều tốt lành. Đại quân tiến lên đóng ở La Thành (người Trung Quốc
bấy giờ cũng thường gọi Thăng Long là La Thành (một thành do Cao Biền đắp ở
vùng Hà Nội từ thời thuộc Đường)) vừa không nóng nực lại không có lam chướng. Vả
lại cũng cần diễu võ giương oai, phô trương thanh thế quân ta ở đấy, để cho giặc
biết là không thể địch nổi. Rồi sau mới sai phái các quân ứng nghĩa của nước họ
tự đi đánh dẹp lấy. Quân ta sẽ không đến nỗi phải vấy máu mũi gươm, mà quân giặc
đều bị bắt giết. Như vậy, công trạng hẳn chóng thành. Trộm nghĩ lần đi này thực
đúng như lời thánh thượng đã dạy. Lần trước cứ tâu đi tâu lại thần tự biết là
đã phạm cái sai lầm câu nệ, chậm trễ. Việc binh cần mau chóng, nếu gặp được cơ
hội, thần dám đâu không hết sức tính việc biên thuỳ để xứng đáng với sự giao
phó của bề trên? Đến như sau khi dẹp yên, các công việc cần phải xử trí ra sao,
thần sẽ xin kính cẩn viết tờ biểu tiếp tục tâu lên".
Rồi đó, Nghị hoả tốc tư cho bọn đốc thần ở các tỉnh Vân Nam,
Quí Châu, tuân theo như chỉ vua đã gửi trước từ hai tỉnh ấy kéo quân theo đường
Tuyên Quang mà đi, còn đại binh thì qua ải Nam Quan, do đường Lạng Sơn tiến
sang.
Thật là:
Vâng lệnh, nguyên nhung coi hống hách,
Ra quân, đại tướng vẻ vênh vang.
Chưa rõ lần ấy thua được ra sao? Hãy xem hồi sau phân giải.
Hồi thứ mười ba
khiếp thanh thế, giặc mạnh rút lui
nhờ viện binh, vua xưa trở lại
Lại nói, lúc sắp xuất quân, Tôn Sĩ Nghị lại dâng tiếp một tờ
sớ, đại ý nói: "Thần nghe họ Lê ở nước An Nam hèn yếu, sau này không chắc
đã giữ được nước. Nay họ sang cầu cứu, bản triều theo nghĩa phải cứu giúp. Vả
chăng, An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc (chỉ nước ta ở thời kỳ Bắc thuộc), nếu
sau khi khôi phục họ Lê rồi, nhân đó lại cho quân đóng giữ, thì như thế là bảo
tồn họ Lê mà đồng thời lại chiếm giữ được nước An Nam, một công mà hai việc vậy".
Tuần phủ là Tôn Vĩnh Thanh dâng sớ chống lại lời bàn ấy của
Nghị, đại để nói: "Triều đình mượn tiếng khôi phục họ Lê, khi thấy họ Lê
không thể giữ được nước, lại định sai quan chiếm nước họ; ban đầu thì làm việc
nghĩa, cuối cùng lại theo việc lợi, thần trộm cho là không nên. Hiện nay họ Lê
họ Nguyễn (họ Nguyễn đây là chỉ Tây Sơn) đang đánh nhau, họ Lê thế nào cũng bị
họ Nguyễn thôn tính. Chi bằng cứ đóng quân yên lặng, rồi sau đó, nhân lúc cả
hai bên đều kiệt quệ, bấy giờ ta sẽ đánh lấy cũng chưa muộn gì".
Rốt cuộc, vua Thanh nghe theo lời Nghị. Vì không hợp ý với
Nghị, Vĩnh Thanh bèn cáo ốm không đi.
Nghị một mình vâng chiếu đem quân bốn lộ Quảng Đông, Quảng
Tây, Vân Nam, Quí Châu, ra khỏi cửa ải, rồi chia làm hai đạo: một đạo đi đường
Lạng Sơn, do Nghị đốc suất; một đạo đi đường Tuyên Quang, do viên tổng binh đốc
suất. Cả hai đạo đều chịu dưới quyền tiết chế của Nghị (theo Cương mục thì quân
Thanh kéo sang gồm ba đạo: một do tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và đề đốc Hứa
Thế Hanh chỉ huy, theo đường ải Nam Quan qua Lạng Sơn kéo xuống; một do đề tổng
Vân Quí là Ô Đại Kinh chỉ huy, do đường Mông Tự qua Tuyên Quang tràn sang; một
do tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống điều khiển, từ Khâm Châu qua Cao Bằng đổ xuống).
Nghị họp các tướng sĩ, ban bố quân luật gồm 8 điều như sau:
Điều thứ 1. - Đại binh ra ải, vốn để dẹp giặc an dân. Hễ qua
các nơi đều phải nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi, không được quấy nhiễu nhân dân, cướp
bóc chợ búa.
Điều thứ 2. - Ngoài ải, non cao rừng hiểm, miền ấy rất dễ mai
phục, trước hết phải san bằng đá tảng, phát hết bụi rậm, để cho trước mắt quang
đãng, có thể vững lòng mà tiến lên. Nếu gặp chỗ nào đất mới xốp bở, càng nên để
ý xem xét, để đề phòng mưu gian của giặc.
Điều thứ 3. - Hễ nơi nào đại binh địch đóng thì trước hết phải
xem xét địa phương, chọn lấy hình thế, tìm nơi dễ lấy nước, lấy cỏ, chớ có đóng
gần rừng rậm, bốn mặt phải đào hào đắp luỹ và đốc suất binh lính đêm ngày tuần
phòng, ngày đêm phải chia quân đi dò xét ở ngoài mười dặm, không được ồn ào, dễ
gây ra kinh sợ rối loạn.
Điều thứ 4. - Người Nam đánh trận, hay dùng sức voi. Voi
không phải là vật nội địa từng tập quen, nên hễ gặp phải, trước tiên quân ta thế
nào cũng tránh chạy. Không biết rằng, sức voi tuy khoẻ, chung quy cũng là thân
máu thịt, không thể đương được với súng ống của ta. Nếu thấy voi ra trận, xa
thì bắn súng, gần thì dùng cung và lao, làm cho nó bị đau mà chạy trở lại, giày
xéo lẫn nhau, quân ta nhân cơ hội ấy mà tiến lên chém giết, thế nào cũng thắng
trận, không còn nghi ngờ gì nữa. Cần phải chỉ bảo cho nhau cùng được biết.
Điều thứ 5. - Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng
thứ ống phun lửa làm lợi khí, gọi là "hoả hổ". Khi hai quân giáp
nhau, trước hết họ dùng thứ đó đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải
lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế mà thôi, so với súng ống của ta thì
còn kém rất xa. Hiện nay ta đã chế sẵn vài trăm lá chắn bằng da trâu sống. Nếu
gặp "hoả hổ" của người Nam phun lửa, thì quân ta một tay cầm lá chắn
đỡ lửa, một tay cầm dao chém bừa, chắc rằng chúng sẽ phải bỏ chạy tan tác.
Điều thứ 6. - Đại binh đi đường, nếu gặp khe suối dòng sông,
chỗ nào nước sâu thì phải chặt lấy tre gỗ bắc làm cầu phao, để binh mã vượt qua
cho tiện, chỗ nào sông hẹp nước nông, thì viên quan coi quân phải dò thử đích
xác, rồi cho quân lính nối tiếp nhau như xâu cá mà kéo đi. Lúc xuống nước,
không được đem bùi nhùi, thuốc súng bạ đâu vứt đấy để bị ẩm ướt.
Điều thứ 7. - Rau củi của đại binh dùng hàng ngày, đã có tiền
công cấp phát; chỉ được đổi chác với người Nam bằng cách thuận tình, không được
tự tiện chặt cây cối ở các làng xóm, để sinh ra tranh giành. Nếu ở chỗ nào cách
rừng núi độ một hai dặm, cần sai quân lính bảo vệ cho kẻ đi kiếm củi, không được
tự ý đi xa, để xảy ra biến cố khác. Đến như việc lấy nước nấu cơm, cũng phải do
viên quan coi quân xét nghiệm rõ ràng, quả thật trong sạch không có độc mới cho
múc uống.
Điều thứ 8. - Những quân lính bị thương hoặc bị ốm, viên quan
coi quân phải tra xét tường tận, làm giấy bẩm rõ, rồi cho đưa về doanh điều trị,
để tỏ sự giúp đỡ, thương xót. Nếu có bọn quân lính không tốt, giả làm bị thương
hay đau ốm, hòng được về nhà, một khi tra ra sẽ trị tội ngay tức khắc. Vả lại,
lần này hành quân xa xôi qua miền biên ải, triều đình thương đến binh lính, đã
chu cấp rộng ra ngoài thể lệ, mỗi người lính được cấp một tên phu. Các viên coi
quân cần hiểu dụ trước cho mọi người biết. Lính và phu cũng cần phải thương yêu
giúp đỡ lẫn nhau, không được tuỳ tiện sai khiến một cách tàn ngược. Đến như lúc
hành quân, lính đều phải lấy khí giới, không được tự mình buông tay đi không, vật
gì cũng giao cho phu dịch mang đội, để đến nỗi họ không thể chịu nổi, phải giữa
đường bỏ trốn. Ngoài ra, số phu quá nhiều, tra cứu rất khó, thậm chí có người ở
doanh trước lẫn vào doanh sau, người này người kia không quen biết nhau, dễ
sinh ra lộn xộn. Do đó, phải cấp cho mỗi tên phu một mảnh thẻ bài đeo ở lưng,
kê rõ tên họ, doanh hiệu, để tiện nhận xét phân biệt.
Các điều quân luật trên đây, quân lính đều phải tuân theo một
cách nghiêm túc. Kẻ nào làm trái, nhất thiết xử theo quân pháp, không tha.
Rồi đó, trước tiên Nghị sai truyền hịch sang dụ nước Nam, đại
lược nói:
"Dấy nước đã diệt, nối dòng đã tuyệt, việc đáng làm nào
kể nơi man rợ, xa xôi; vớt người bị chìm, cứu kẻ bị thiêu, đừng chẳng được phải
dùng đến cung tên, binh lính. Nghĩ lại họ Lê ở An Nam vốn là cống thần của
thiên triều. Ba trăm năm vật sản tiến dâng, kính theo chức phận; mười lăm lộ đất
phong chia cắt, gồm có nước nhà. Thế mà khoảng năm Càn-long, tù trưởng trong nước
là bọn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, dấy quân làm loạn, đánh phá La Thành: vua Lê
trước vì lo sợ mà phải qua đời, tự tôn là Duy Kỳ phiêu bạt ra ngoài. Bề tôi cũ
là Nguyễn Huy Túc đem mẹ và vợ tự tôn chạy sang nội địa, tha thiết xin quân cứu
viện. Sau khi hỏi rõ bọn Túc, thì tự tôn hiện nương náu ở vùng Kinh Bắc, Lạng
Sơn, thần dân còn nhớ chủ cũ. Nguyễn Nhạc là quân mọi rợ như giống trâu dê,
quen thói hung tợn của loài lang sói, đến đâu cướp bóc đó, trăm họ oán đến
xương tuỷ. Từ một tên dân ở nơi biên thuỳ nổi dậy, can phạm luân thường, làm
trái nghĩa lý, đạo trời không thể dung tha; lại dám hoành hành ở nơi nội địa, bạo
ngược quần chúng, tàn hại nhân dân, phép vua cũng cần phải đánh. Hiện đã đem việc
này tâu lên, vâng được đức đại hoàng đế thương xót đến họ Lê tan nát, không nỡ
để Giao Châu lầm than; đặc cách sai quan đốc phủ đeo ấn chinh Man (xưa bọn thống
trị Trung Quốc gọi các dân tộc ở phương nam là Man (man rợ chưa khai hoá);
"chinh Man" đây nghĩa là: đi đánh Việt Nam) đại tướng quân, điều động
năm mươi vạn quân, thẳng tới La Thành, trị tội bọn Nguyễn Văn Nhạc, không để
chúng trốn thoát hình phạt của trời. Dân nước Nam đời đời tôn đội vua Lê, nhờ
ơn nuôi dưỡng đã lâu, tri năng chưa mất, tình cảm đang còn, không thể để mất
lương tâm trời cho, bỏ vua theo giặc. Kẻ nào có thể xướng trước tiếng nghĩa, dựa
vào thiên triều làm nơi cứu viện, nhóm họp các người đồng chí, ra sức trừ diệt
quân thù, cửa ải hát khúc khải ca, mạc phủ (chỗ làm việc ở nơi đóng quân của
các tướng soái đời xưa) dâng lên công trạng, sẽ được cắt đất chia phong, hưởng
chung phúc lộc với họ Lê, như ông tổ họ Trịnh ngày trước. Hịch văn đưa tới,
quân lính đều nên hăng hái, mài giũa giáo mác của các người mà chống lại quân
thù của nhà vua. Đồng lòng chung sức, ắt có công lao. Rồi sẽ ngửa trông ban thưởng
ở cửa công, giữ mãi phúc chung ở trong nước. Hãy cố gắng lên!".
Lúc đó, tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Diễm và Phan Khải Đức
đang đóng giữ Lạng Sơn, thấy tờ hịch đến đều run sợ. Trong khoảng một ngày, thổ
binh do họ chiêu tập được, bỏ trốn mất quá nửa. Khải Đức trước hết bí mật sai
lính đem thư sáp đến cửa ải xin hàng. Văn Diễm tự liệu quân mình lẻ loi, thế
không chống nổi; vả mình lại là người Quảng Nam, nếu có hàng, chưa chắc đã được
bao dung, bèn đang đêm rút quân bỏ trốn về Kinh Bắc, cùng với viên lưu thủ ở đó
là Nguyễn Văn Hoà hợp sức giữ lấy trấn thành, rồi sai lính cưỡi ngựa đưa thư về
Thăng Long cáo cấp.
Lại nói, Bắc bình vương Nguyễn Huệ từ mùa hè năm ngoái ra
Thăng Long giết viên chủ tướng tiết chế là Võ Văn Nhậm, rồi thay đổi quan quân,
chỉnh đốn công việc, chuyển giao cho các viên đại tư mã Ngô Văn Sở, nội hầu
Phan Văn Lân, chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, thị lang bộ
Hộ Trần Thuận Ngôn, thị lang bộ Lại Ngô Thì Nhậm cùng giữ thành Thăng Long. Lúc
sắp lên đường về Nam, Huệ mở tiệc họp đông đủ mọi người, rồi nói:
Sở và Lân là nanh vuốt của ta; Dụng và Ngôn là tâm phúc của
ta; Tuyết là cháu của ta; còn Nhậm thì vừa là bề tôi vừa là khách của ta, lại
là dòng văn học Bắc Hà, thông thạo việc đời. Nay ta giao cho các ngươi cả mười
một trấn trong toàn hạt (thời Lê, Bắc Hà gồm 11 trấn. Về sau, Quang Trung có
chia lại). Những việc quan trọng trong nước, đều cho tuỳ tiện mà làm. Mọi việc
cùng nhau họp bàn ổn thoả, chớ vì kẻ cũ người mới xa cách nhau. Ai nấy phải đồng
lòng hiệp sức, lo chung công việc để xứng đáng với sự trông mong của ta. Các
ngươi hãy cố gắng nữa lên!
Mọi người đều đứng dậy lạy tạ và xin vâng mệnh.
Sau đó, Bắc bình vương chọn ngày lên đường về Nam.
Từ khi ấy, trên rừng dưới biển hễ có ai dám ngang ngạnh, Sở
chỉ cần sai một viên tỳ tướng đi đánh là dẹp tan được ngay. Các phủ huyện có đệ
án kiện, giấy tờ lên thì Sở cứ theo việc mà xử, không để ứ đọng. Trong những
ngày rỗi, Sở thường cưỡi ngựa qua các đường phố để mua vui, tự cho rằng ở Bắc
Hà không còn việc gì khó.
Một hôm, mọi người cùng họp nhau ăn uống ở nhà hiệp nghị, Sở
bảo Lân và Tuyết rằng:
- Chúa công đem cả thành lớn giao phó cho ta, cũng ví như sai
người cắt áo gấm mà chưa thể tin là có biết cách cầm kéo hay không. Các ông thấy
việc đó ra sao? Giả sử có Tề thiên đại thánh từ trên trời rơi xuống hay Diêm
vương từ dưới đất lên, ta cũng chỉ quét một lưới là hết. Huống chi cái lũ tẹp
nhẹp, chẳng qua chỉ để người ta thử xem gươm có sắc hay không, chứ làm được trò
trống gì?
Rồi Sở ngoảnh lại bảo Ngô Thì Nhậm rằng:
- Quan thị lang thật giỏi về nghề văn học, còn việc cung kiếm
có thông thạo gì không?
Nhậm nói:
- Có văn tất phải có võ, văn võ không phải chia làm hai đường.
Nhưng người xưa dùng binh, gặp việc thì lo sao ngài lại lấy việc binh làm trò
chơi mà coi thường như thế? Tôi trộm nghe bọn người nước ta chạy sang bên Trung
Hoa, trong đó có nhiều người định xúi họ, mở mang bờ cõi, gây ra binh biến.
Ngài chịu sự ký thác ở cõi ngoài, e rằng không khỏi một phen bạc đầu vì lo lắng,
đến lúc ấy ngài nên nhớ đến lời nói của tôi.
Sở cười và nói:
- Lúc ấy sẽ phiền ông làm một bài thơ để lui quân giặc. Nếu
không làm được như thế, thì túi dao bao kiếm chính là phận sự của kẻ võ thần,
can gì phải quá lo?
Chẳng bao lâu, nghe tin báo ở ngoài biên ải đưa về. Sở rất
kinh sợ, tức thì hội họp các quan văn võ cũ của nhà Lê, mượn tiếng Sùng nhượng
công Duy Cận coi việc nước, làm một bức thư đứng tên Duy Cận; lại giả danh các
hào mục lập một tờ trạng suy tôn Duy Cận làm giám quốc; rồi sai bọn quan văn là
Nguyễn Quí Nha, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn, bọn quan võ là Nguyễn Đình Khoan, Lê
Duy Chử, Nguyễn Đăng Đàn đem bức thư và tờ bẩm tới cửa ải để xin hoãn binh. Một
mặt, Sở họp với bọn Văn Lân bàn việc đánh giữ. Chưởng phủ là Nguyễn Văn Dụng
nói:
- Trộm nghe hồi cuối đời Trần, người Minh sang lấn nước ta,
có bọn Hoàng Phúc, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Liễu Thăng đều là những tướng Kiệt hiệt
của Trung Quốc. Bấy giờ vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn, thế lực không
địch nổi họ. Nhưng hành binh theo cách quỷ quyệt, lại hay dùng mưu mẹo khôn
ngoan; rồi nhờ khéo dùng cách mai phục, nhân lúc quân giặc không phòng bị mà
đánh úp; cho nên có thể lấy ít quân mà đánh được kẻ nhiều quân, vây Vương Thông
ở bến Đông Bộ, giết Liễu Thăng ở núi Mã Yên (Bến Đông Bộ tức bến Đông Tân ở
khúc sông Nhĩ Hà, Hà Nội. Núi Mã Yên ở xã Mai sao thuộc huyện Ôn Châu, Lạng
Sơn) võ công tuyệt lạ, ngàn thủa ngợi khen. Nay người Thanh ở xa đến đây, phải
trèo đèo vượt suối, ta lấy quân nghỉ ngơi mà đón đánh quân nhọc mệt, nhắm trước
các nơi xung yếu, cho quân nấp sẵn để chờ; cứ làm theo kế ấy, lo gì mà không thắng?
Thì Nhậm nói:
- Không phải thế! Ông chỉ biết một mà chưa biết hai. Việc
thiên hạ, tình tuy giống nhau mà thế có khác nhau, sự đắc thất do đó cũng khác
hẳn. Xưa kia, nước ta bị phụ thuộc vào Trung Quốc, quân Minh buông tuồng làm điều
tàn bạo. Người cả nước ai cũng muốn đuổi chúng đi. Cho nên vua Lê Thái Tổ chỉ gọi
một tiếng là xa gần hưởng ứng, hào kiệt trong nước kéo đến như mây tụ. Mỗi lúc
đánh nhau với giặc, người trong nước chỉ lo quân mình bất lợi. Mỗi khi có tin
thắng trận, ai nấy đều hết sức vui mừng. Lòng người như thế, nên hễ chỗ nào có
quân mình mai phục, thì người ta đều giấu kín cho, khiến giặc không hề biết. Sở
dĩ thắng được giặc, đều bởi cớ ấy. Ngày nay, những người bề tôi trốn tránh của
nhà Lê, đâu đâu cũng có nghe tin quân Thanh sang cứu, họ đều nghển cổ mà trông.
Sĩ dân cả nước, giành nhau mà đón chúng. Quân ta mai phục ở đâu, địa thế hiểm
hay không, số quân nhiều hay ít, quân giặc chưa biết thì họ đã báo trước với
chúng. Chúng sẽ nhân kế của ta mà lập kế của chúng, rồi bốn mặt kéo đến vây bắt.
Quân cơ đã bị tiết lộ, tự nhiên mất hết điều tiện lợi. ấy là mình tự hãm mình
vào chỗ chết. Còn hòng đánh úp được ai?
Binh pháp có nói: "Khéo che đậy không khi nào không thắng,
vụng che đậy không khi nào không thua". Được thua khác nhau là do ở chỗ
xưa với nay khác nhau vậy!
Sở hỏi:
- Vậy thì nên làm thế nào?
Nhậm trả lời:
- Phép dụng binh chỉ có một đánh một giữ mà thôi. Nay quân
Thanh sang đây, tiếng tăm rất lớn. Những kẻ trong nước làm nội ứng cho chúng,
phần nhiều là phao tin đồn nhảm, làm cho thanh thế của chúng to thêm, để cho
lòng người sợ hãi lay động. Quân ta có ai được sai phái đi đâu, vừa ra khỏi
thành là đã bị bắt giết. Số người Bắc Hà thuộc vào sổ quân của ta, hễ gặp dịp
sơ hở là bỏ trốn liền. Đem đội quân ấy mà đánh, không khác gì xua bầy dê đi chọi
cọp dữ, không thua sao được? Đến như việc đóng cửa thành mà cố thủ, thì lòng
người đã không vững, ắt thế nào cũng sinh ra mối lo ở bên trong. Dầu cho Tôn,
Ngô (tức Tôn Võ, người nước Tề đời Xuân Thu, và Ngô Khởi người nước Vệ đời Chiến
quốc; hai nhà quân sự nổi tiếng của Trung Quốc thời xưa) sống lại, cũng phải bó
tay, không thể làm được gì. Thật chẳng khác gì đem một con chạch bỏ giỏ cua.
Xin nghĩ kỹ mà xem! Đánh đã chẳng được, giữ cũng không vững. Vậy thì cả hai chước
đánh và giữ đều không phải là kế hay. Nghĩ cho cùng thì chỉ còn một cách này:
sơm sớm truyền cho thuỷ quân chở đầy các thuyền lương, thuận gió giương buồm,
ra thẳng cửa biển, đến vùng Biên Sơn mà đóng. Quân bộ thì sửa soạn khí giới,
gióng trống lên đường, lui về giữ núi Tam Điệp. Hai mặt thuỷ bộ liên lạc với
nhau, giữ lấy chỗ hiểm yếu, rồi cho người chạy giấy về bẩm với chúa công. Thử
xem quân Thanh đến thành, khu xử việc nhà Lê ra sao? Vua Chiêu thống sau khi phục
quốc, xếp đặt việc quân việc nước thế nào? Chờ chúa công ra, bấy giờ sẽ quyết
chiến một phen cũng chưa muộn gì.
Sở nói:
- Chúa công về Nam, đem thành này giao phó cho ta. Giặc đến
thì phải sống chết với giặc, còn mất với thành, trên không thẹn là kẻ bề tôi giữ
đất, dưới không phụ chức trách cầm quân. Nếu mới thấy bóng giặc đã trốn, bỏ
thành cho giặc, chẳng những mang tội với chúa công mà người Bắc còn coi ta ra
cái gì?
Nhậm nói:
- Tướng giỏi thời xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần
thắng rồi mới hành động, tuỳ theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ. Giống
như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước;
đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn
lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi
lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tấn đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất
gì. Nếu có vì thế mà mắc lỗi, tôi sẽ xin bộc bạch với chúa công, thế nào cũng
được chúa công lượng xét, xin ông chớ nghi ngại.
Sở bèn nghe theo, rồi mật truyền cho các viên trấn thủ ở Kinh
Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn một mặt nói phao là đem quân đắp luỹ ở sông Như Nguyệt,
một mặt cất lẻn rút quân về. Lại tư cho các viên trấn thủ ở Hải Dương, Sơn Tây,
hẹn ngày họp quân ở thành Thăng Long. Còn trấn Sơn Nam thì sắp sửa thuyền bè,
chờ thuỷ quân đến sẽ cùng xuất phát.
Qua năm ngày, các đạo quân đều kéo đến đầy đủ, cùng dự cuộc
duyệt lớn ở bãi sông. Rồi đó, Sở hạ lệnh cho quân bộ sắp sẵn lương khô để chờ
sai phái. Trước hết, Sở cho thuộc tướng là Đặng Văn Chân đốc suất lính thuỷ đi
xuống phía đông. Cắt đặt vừa xong, thì trời sập tối, chợt thấy bọn Nguyễn Quí
Nha, Nguyễn Đình Khoan từ trên ải Nam Quan chạy về nói rằng: khi họ đến Nam
Quan, bị bọn lính canh cửa ải của nhà Thanh ngăn chặn không cho sang; hiện nay
quân Thanh đã qua Nam Quan, quân bộ và quân kỵ của đội tiền phong đã tiến đến địa
phận huyện Phượng Nhãn và đóng tại đó.
Sở liền họp các tướng, định rút lui. Phan Văn Lân nói:
- Quân không cứ nhiều, nước không cứ lớn. Nay ta làm tướng cầm
quân ở ngoài, giặc đến chưa từng đón đánh, chỉ mới nghe tiếng doạ hão đã vội
rút lui, thì còn làm tướng làm gì nữa? Tôi xin đem một ngàn quân tinh nhuệ, đến
thẳng sông Như Nguyệt, đánh nhau với chúng một trận, xem khí thế của chúng ra
sao và người Nam với người Thanh ai khoẻ hơn ai, để cho chúng biết rằng bọn ta
cũng không phải là hèn nhát. Đó cũng là sự tính toán tất thắng trước dùng thanh
thế của mình để đè bẹp bên địch vậy!
Sở cũng cho là phải.
Lân bèn đem quân qua sông đi sang phía bắc. Canh ba tới bờ
phía nam sông Như Nguyệt, nghe tin quân của Tôn Sĩ Nghị đã đóng ở núi Tam Tằng.
Lúc ấy tiết trời giá rét, lân kéo quân qua sông thách đánh. Tướng sĩ vốn sợ oai
của Lân, phải liều với khí lạnh mà lội bừa xuống nước. Ra đến giữa sông, những
kẻ cóng quá không thể qua được, đều bị chết đuối. Còn những kẻ vào tới được bờ
cũng đều bị quân Thanh giết chết. Lân liệu chừng không thể giao chiến được nữa,
liền vẫy quân chạy lui. Đám quân tan vỡ trốn vào các làng, đều bị dân chúng bắt
nộp cho quân Thanh. Lân chỉ trơ một mình một ngựa mà chạy về.
Sở sợ quá, giấu kín việc bại trận không cho ai biết, rồi truyền
lệnh cho các đạo quân nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Đúng giữa trưa, đi qua Phú
Xuyên (thuộc Hà Đông (Hà Sơn Bình)), người ta mới biết là Sở rút quân. Hôm sau
tới huyện Yên Mô (thuộc Ninh Bình (Hà Nam Ninh)), Sở sai chia quân đóng đồn dọc
theo ven núi Tam Điệp, thẳng đến bờ biển, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau để
cố thủ.
Trước đó, vua Lê đang lẩn lút ở vùng Kinh Bắc, Lạng Sơn, nghe
tin Tôn Sĩ Nghị đưa hịch sang nước Nam và hẹn ngày đến cửa ải, nhà vua bèn bí mật
sai người đi gọi nghĩa sĩ bốn phương. Các quan văn võ nghe tin, cũng đều khuyên
bảo hào mục các địa phương, nhóm họp hương binh để chờ đợi.
Rồi đó, vua sai Lê Duy Đản đem thư lên cửa ải để yết kiến Tôn
Sĩ Nghị, bẩm rõ tình hình trong nước với Nghị và nói rằng: Tự quân vừa bị cảm
hàn, không thể đi đường, xin chờ đón ở trấn thành Lạng Sơn.
Đến khi nghe tin quân Tây Sơn rút lui, vua mới truyền cho các
đạo quân cần vương đều tới nơi hành tại; rồi kén lấy hạng khoẻ mạnh một ngàn
người sung làm quân túc vệ ở doanh vua; còn bao nhiêu thì giao cho các tướng lập
thành đội ngũ, ai đem bộ thuộc của người nấy chia giữ các trấn. Trần Quang Châu
lĩnh trấn Kinh Bắc. Nguyễn Đạo lĩnh trấn Hải Dương. Hoàng Tố Nghĩa lĩnh trấn
Sơn Nam. Hoàng Phùng Tứ lĩnh trấn Sơn Tây. Mọi người đều vâng mệnh đi tới lỵ sở.
Riêng Trần Quang Châu thì ở lại hành doanh bảo vệ xa giá.
Châu xin dời xe vua về trấn Kinh Bắc, sửa sang thành luỹ, xây
dựng nhà cửa để chờ quân Thanh. Vua nghe lời.
Đoạn nhà vua lại sai bọn binh chương Phạm Đình Dữ, tham tri
Vũ Trinh đem thiếp thỉnh an lên đất Hoà Lạc gặp Sĩ Nghị, nói rõ: Hiện nay đã
phái quân chia đi kinh lược bốn trấn ở ngoài đô thành, lùng bắt bọn giặc lẻn trốn
ở các nơi. Xin đưa một số thổ sản nhỏ mọn là mười con trâu, một trăm vò rượu,
làm lễ khao quân, ngước trông thu nhận cho.
Vua lại truyền phải sức cho các kỳ lão và các xã dân mấy huyện
ven đường, sửa soạn đón rước quân Thanh.
Đại quân của Sĩ Nghị đi sang phương Nam, dọc đường đều thuận
lợi thông suốt. Kịp khi tới núi Tam Tằng đóng quân lại, đến đêm, tuy Phan Văn
Lân định quấy rối, nhưng bị giá rét làm cho thương tổn, nên Nghị chưa đánh mà
quân Lân đã tan. Ngô Văn Sở nghe tin cũng thu quân bỏ chạy cả đêm từ lâu rồi.
Thế là trên đường tiến quân không còn ai dám ngăn trở Nghị. Do đó, Nghị không hề
lo sợ mà lại có vẻ kiêu căng. Mới thấy Vũ Trinh, y liền hỏi:
- Lúc đại binh ra cửa ải, trước hết đã có đưa hịch sang bá
cáo, quân giặc sợ hãi đã ôm đầu chạy trốn. Nghĩ rằng thần dân bên ấy, ai lại
không phấn chấn nổi dậy? Dựa vào oai trời mà lo giết giặc nước, chẳng mấy chốc
sẽ có thể thành công, sao cứ một mực nhu nhược, để chúng được chạy trốn một
cách rảnh rang? Bây giờ đại binh đã đến địa giới nước mình mà các người vẫn tuyệt
nhiên không làm nên công trạng gì. Như thế, còn gọi là nước có người được
chăng?
Trinh nói:
- Nước nhỏ này tự mình không thể làm được việc, mới đến nỗi
phải gõ cửa ải cầu cứu. Nếu sức của chúng tôi có thể chế ngự được chúng thì đâu
dám phiền đến đại binh? Nay cụ lớn lấy điều đó quở trách, tôi còn biết nói làm
sao? Xin thưa về tình hình của giặc. Nguyễn Nhạc sinh trưởng ở vùng Tây Sơn, có
sào huyệt hiểm yếu để nương tựa. Nguyễn Huệ là tay lão luyện về trận mạc, lại nắm
giữ đội quân hùng mạnh. Từ khi kéo quân về Nam, anh em chúng đánh lẫn nhau. Nhạc
ở Tây Sơn, Huệ chiếm Thuận Hoá, ai nấy tự xưng hùng, kẻ đế, người vương. Còn ở
quốc thành của nước tôi, chỉ có đồ đảng của chúng là bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn
Lân mà thôi. Được tin thiên binh đến, bọn chúng chưa biết hư thực thế nào, nên
hãy thu quân tạm lánh. Nhưng nghe đâu bọn chúng đóng quân chặn ở núi Tam Điệp,
ngăn hẳn từ đất Trường Yên (tên phủ, thuộc Ninh Bình, giáp liền với Thanh Hoá)
về Nam, mưu đồ lại tiến ra đất Bắc lần nữa. Một tên tỳ tướng, còn kiệt hiệt như
thế, huống chi tên đại tù trưởng của chúng? Nếu không dùng đạo binh thật lớn mà
đánh, làm sao có thể bắt sống được chúng? Nước tôi sau khi loạn lạc tan tác, tướng
ít quân hèn, sợ rằng khó lòng làm xong việc. Nhờ oai linh lừng lẫy của cụ lớn,
tên tù trưởng mọi rợ sợ oai phải đến hàng, đó là điều mong mỏi của nước nhỏ
này.
Nghị cười mà rằng:
- Nước ngươi vì bị tàn ngược đã lâu, mất cả tinh thần khí
khái, nên động một tý là đem hùm sói doạ nhau. Theo ta xem xét thì chúng chỉ
như hạng trâu dê, sai một người đem thừng buộc lấy cổ mà lôi về, hẳn cũng không
khó gì. Đợi khi quân ta đến La Thành, nhổ bãi nước bọt xoa tay là làm xong việc.
Ngươi hãy chờ mà xem!
Lúc Nghị tới trấn Kinh Bắc, vua Lê tự đem các quan đến chào,
Nghị yên uỷ rằng:
- Quý tự ("Quý tự" là người nối nghiệp tôn quý, đây
trỏ Chiêu Thống) mắc phải nạn lớn đã nhiều năm, nhờ đức đại hoàng đế thương
xót, sai bản chức đem quân hộ tống mẹ và vợ ngài về nước. Chuyến này sang đây,
giúp việc kinh lý, trước hết cần bắt cho hết đảng giặc, rồi sau chỉnh đốn quy
mô, làm kế lâu dài. Bao giờ mọi việc đều muôn ngàn lần ổn thoả rồi, bấy giờ mới
rút quân, xin chớ lo gì về việc nước nữa.
Vua Lê nói:
- Đội ơn đại hoàng đế, đức cả như trời, không sao hình dung
được cho hết. Lại nhờ cụ lớn hạ mình tới đây, khiến cho nước chúng tôi được thấy
ánh sáng của áo cừu, đai ngọc, được thoả lòng ngửa trông sao Bắc Đẩu, núi Thái
Sơn. Mối tình vui mừng, kính mến, không sao kể xiết!
Rồi nhà vua mời Nghị vào dinh nghỉ tạm. Nghị nói:
- Đây cách quốc thành không xa, cần đi ngay, không nên dùng dằng.
Nghị liền sai bắn chín phát súng và nghiêm chỉnh đội ngũ mà
đi.
Chập tối, đến bờ bắc sông Nhĩ Hà, vua Lê xin qua sông vào
kinh thành trước, rồi sai sắm sửa giường màn ở điện Kính Thiên, mời Nghị vào ở,
Nghị không ưng, nói:
- Chỗ ấy không phải là hành doanh của đại tướng, đối với việc
quân có nhiều điều bất tiện.
Đoạn Nghị truyền lệnh chia quân đóng ở nơi quang đãng trong
hai bãi cát phía bờ nam và bờ bắc sông Nhĩ Hà; lại sai bắc cầu phao trên mặt
sông để tiện đi lại. Hôm ấy nhằm ngày 11 tháng 11 năm Mậu thân (1788).
Hôm sau, vua thân hành đến chờ đón ở doanh của Nghị.
Nghị sai người bày biện nghi trượng rất long trọng ở điện
Kính Thiên, rồi truyền cho trăm quan tới hầu. Vua Lê đội mũ miện, mặc áo cổn quỳ
ở giữa sân. Nghị dẫn bọn liêu thuộc đến, rồi tuyên đọc tờ sắc của hoàng đế nhà
Thanh phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương. Trong tờ chế phong vương, đại lược
nói rằng:
"Chia ra cõi bờ mười ba đạo, không phải tham gì đất đai
này; đã lo chức cống ba trăm năm, há chẳng nghĩ đến tổ tông trước?...".
Xong lễ thụ phong, vua bèn theo lệ thảo tờ biểu tạ ơn, xa
trông cửa khuyết mà lạy tạ, rồi nhờ Nghị cho đệ tờ biểu đi.
Nghị nhận lời.
Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi,
đều dùng niên hiệu Càn-long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu
Chiêu thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe
truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau,
quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua.
Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng:
"Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy
bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu
thì viết là Càn-long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào
Trung Quốc?".
Nghị cũng ngông nghênh tự cho mình là tôn quý; có lúc vua tới
yết kiến, y không buồn tiếp, chỉ cho người đứng ở dưới linh các truyền bảo:
"Hôm nay không có việc quân, việc nước gì. Hãy về cung yên nghỉ!".
Lễ ý và sự thù tiếp của y đối với nhà vua hết sức sơ sài như
vậy. Còn đối với quân lính, thì y lại hay dung túng cho chúng mặc sức làm điều
phi pháp.
Trước kia, người Trung Hoa ngụ cư ở các nơi như phường Hà Khẩu
(khu vực phố Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ) ở đô thành, phố Cơ Xá ở trấn Kinh Bắc
và phố Hiến Doanh (nay là Hưng Yên (Hải Hưng)) ở trấn Sơn Nam có tới hơn vạn
người. Đến lúc ấy, bọn họ đều đến bám theo các đồn quân của Nghị, hoặc lập
riêng ra điếm Liễu để. Bọn họ thông thạo tiếng nước Nam, am hiểu phong tục tập
quán nước Nam; do đó, họ liền nhân cơ hội kiếm mọi cách vu hãm những người
lương thiện, áp bức cướp bóc những nhà giàu có, thậm chí giữa chợ, giữa đường
cũng cướp giật của cải, hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả. Nhân dân ở
quanh kinh kỳ luôn luôn bị khổ sở với bọn họ.
Vua Lê tuy biết sự tệ hại ấy, nhưng đã trót mời quân Thanh
sang, chỉ sợ vì việc đó mà làm mếch lòng chúng, nên cũng khó ăn khó nói.
Nghị cũng không phải không biết tình trạng như vậy, song cũng
mặc cho bọn ấy tha hồ làm bậy, không hề ngăn cấm gì hết.
Lại nói, từ khi vua Lê trở về kinh thành, các quan văn võ trước
kia phiêu bạt đều lục tục kéo đến lạy mừng. Vua bèn ban thưởng cho những người
đã từng theo đi trốn, hoặc những người có công giúp đỡ. Phong cho Phạm Đình Dữ
làm thượng thư bộ Lại, kiêm bình chương sự, Nguyễn Huy Túc làm đồng bình chương
sự, Lê Duy Đản, Vũ Trinh đều làm tham trí chính sự, Nguyễn Đình Giản làm thượng
thư bộ binh, kiêm tri xu mật viện sự, Nguyễn Duy Hiệp, Chu Doãn Lệ làm đồng tri
xu mật viện sự, Trần Danh án làm phó đô ngự sử, Lê Huy Tấn, Phạm Quí Thích làm
độ chi bộ Hộ, Lê Xuân Hạp, Ngô Vi Quí làm đồng tri binh chính, Lê Quýnh làm
quân trung uý đốc, tước quận công, lĩnh quân cần vương theo Tôn Sĩ Nghị lo liệu
và xử trí việc quân.
Ngoài ra, các quan liêu trong ngoài đều về các dinh thự làm
việc như cũ.
Viên phó hiến ở trấn Kinh Bắc là Ngô Tưởng Đào lấy cớ già ốm,
từ chối không nhận chức, và dâng sớ nói rằng:
"Vận trời đang lúc gian truân, không ngờ lại được thấy
bóng mặt trời, thật là cái phúc vô cùng của xã tắc. Thần trộm nghĩ rằng: Việc
binh cốt phải mau chóng. Nếu cơ hội có thể làm được, hà tất việc gì cũng cứ
giao phó cho quân nước ngoài để đến nỗi dềnh dàng ngày tháng. Hiện nay quân cần
vương các lộ, ai không muốn hết lòng hết sức lập công ít nhiều? Nhân khi quân
giặc vừa rút lui, ta nên lập tức đem đại binh đuổi sát gót, như tiếng sét chớp
nhoáng không kịp bịt tai, bọn ngông cuồng giảo quyệt kia ắt chẳng còn thì giờ để
mưu tính. Hai xứ Thanh, Nghệ nghe tin, chắc cũng sẽ hưởng ứng. Nguyễn Huệ bị
ngăn cách ở phía nam Hoành Sơn. Sở và Lân chơ vơ ở đấy, hình thế cách trở,
không liên lạc được với nhau; không ngoài mười ngày ta có thể bắt được bọn
chúng. Vây cánh của chúng đã bị cắt đứt thì sào huyệt của chúng cũng có thể lần
lượt bị san bằng. Thần ngu dại cho rằng cái cơ trung hưng chính là ở lúc này,
không thể bỏ qua".
Tờ sớ ấy đưa tới, vua trao cho bọn Nguyễn Đình Giản xem, ai
cũng cho là phải. Riêng Lê Quýnh chống lại mà rằng:
- Sức mình không địch nổi, mới phải cầu cứu. Hành doanh quan
đốc bộ còn ở đây, việc quân mình không bẩm trước, lại tự tiện mà làm, việc xong
thì thôi, vạn nhất bị vấp ngã, họ sẽ đổ cho ta làm lỡ quân cơ, rồi rút quân về
cửa ải, ngồi xem mình làm; như vậy việc lớn sẽ hỏng mất. Chi bằng để thần đến
trình bày trước, xin họ chỉ bảo phương lược và hợp sức với mình, như thế là được
cả hai việc.
Vua cho là phải. Quýnh bèn đến dinh Nghị, nói về việc đó.
Nghị trả lời:
- Việc gì mà phải vội vã như vậy? Ví như thò tay lấy đồ vật ở
trong túi, đến sớm lấy sớm, đến muộn lấy muộn đó mà thôi. Bây giờ đã sắp hết
năm, đại quân xa xôi tới đây, cần phải nghỉ ngơi, không nên đánh vội. Giặc gầy
mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt. Nhưng, nếu nước ngươi đã có lời
xin như thế, thì hãy nên tính tự đô thành về nam chứng sáu chục dặm, chia làm
ba nơi mà đóng quân; đó chính cũng là cách canh gác từ xa để đề phòng bất trắc
vậy. Còn đối với bọn giặc, thì các ngươi cứ chờ đến đầu năm mới ta sẽ cho trẩy
quân tiến đánh cũng chưa muộn!
Sau đó, Nghị sai đắp luỹ đất, một ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết,
huyện Thanh Liêm, một ở làng Nhật Tảo huyện Duy Tiên, một ở làng Ngọc Hồi, huyện
Thanh Trì rồi chia quân ra mà đóng giữ.
Từ bấy giờ trở đi, vua Lê chỉ lấy Nghị làm chỗ dựa vững chắc
nhất. Còn các quan thì cũng không ai nói năng gì đến chuyện xuất quân phục thù
nữa.
Lê Quýnh suốt ngày say mê tửu sắc; ân oán riêng dù bằng cái
tơ, sợi tóc cũng đều đền báo không hề sót. Quýnh lại còn xui vua rằng:
- Trước đây lúc nhà vua gặp nạn, hoàng thân và bọn quan trong
triều, nhiều kẻ lấy tai hoạ làm điều may mắn, vui mừng, khai hết tình hình với
giặc, cam tâm làm chó săn, chim mồi cho chúng để mưu đồ giàu sang, ngược đạo
lý, trái nhân nghĩa, không gì hơn thế. Thần xin được trị tội bọn đó, để thiên hạ
biết rằng danh phận cương thường không thể rối loạn. Đó cũng là việc cần kíp,
không nên dung túng bỏ qua, khiến cho kẻ ác, người thiện không có gì phân biệt.
Vua cho là phải, bèn giao cho các quan đình thần họp bàn.
Mọi người đều tâu, năm ngoái thượng thư bộ Hình kiêm bình
chương Trần Côn Xán đi xứ Tây Sơn, vì không chịu khuất phục, bị địch giết hại,
thật là đáng thương; xin cho quan về tế tại nhà và thăm viếng các người con.
Vua nghe lời, bèn tự tay thảo bài văn tế, trong có câu: "Tiết lớn nghiêng
non lật biển, cùng sương thu nắng lửa tranh hơn; lòng son yêu nước trung vua, gặp
đốt rắn rễ chùm càng tỏ". Lại bàn sang đến tội của bọn phản nước theo Tây
Sơn: Lúc vua đi trốn, trấn thủ Tuyên Quang là Phạm Như toại bắt em vua là Duy Tụ
đem nộp cho địch; phò mã uý Nguyễn Bành dẫn quân địch đuổi tìm chỗ vua ở; theo
luật phải tội chém ngang lưng; Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích đem thân theo địch, lại
nhận chức tước của chúng, đều truất làm dân, về làng gánh vác sai dịch; Nguyễn
Hoàn, Phan Lê Phiên quì gối ở sân địch; Trương Đăng Quĩ đi theo xe vua, giữa đường
bỏ dở, đều bị giáng làm chức tư huấn; Nguyễn Quí Nha, Trần Bá Lãm, Vũ Huy Tấn,
viết thư mạo xưng là giám quốc Sùng nhượng công, để mong xin hoãn binh cho địch,
đều bị hạ ngục; Nguyễn Bá Khoan vì là kẻ võ biền, lại già nua, dốt nát không biết
gì, nên được miễn tội.
Bấy giờ Quýnh nghe nói Nha mới ở Cao Bằng về, vàng bạc đầy
xe, bèn sai người đòi lấy hai chục lạng vàng, rồi nói rõ cho vua biết. Vua cười
mà bảo rằng:
- Bớt chỗ nhiều để bù chỗ ít, mặc ngươi làm chi thì làm,
không hề gì!
Ngoài ra, có ba người chú vua liên lạc với Tây Sơn, lại gả
con gái cho họ, đều bị vua ngầm sai người bắt đem chặt chân, rồi vất xuống cái
giếng ở trong cung (theo Cương mục thì Chiêu Thống còn sai mổ bụng cả một tôn nữ
đang có mang, vì người con gái này đã lấy viên tướng Tây Sơn. Do đó, lòng người
dần dần ngờ vực, không nhất trí).
Kịp khi ấy, thái hậu ở Cao Bằng về, vừa tới kinh, thấy vua chỉ
thích làm những việc báo ân báo oán trái với phép thường như vậy, bèn nổi giận
nói:
- Ta phải trèo đèo lội suối khó nhọc vất vả, mới xin được
quân sang đây... Phỏng chừng nhà nước chịu được mấy phen ơn, thù phá hoại như
thế? Nếu cứ cách ấy mà làm thì trị sao được thiên hạ? Gái già này lại đến làm đứa
lưu vong mất thôi!
Rồi thái hậu gào khóc, không chịu vào cung.
Vua bèn ngầm sai Nguyễn Huy Túc khuyên giải thái hậu. Túc vào
thưa với thái hậu rằng:
- Ngước trông đức hiếu sinh của thái hậu như là trời đất, cố
nhiên phải lấy thế làm lạ. Nhưng hình phạt là phép lớn của nước, cho nên Chu
công phải giết Quản, Thái; nước Lỗ phải đánh thuốc độc giết chết Thúc Nha (Quản
Thúc, Thái Thúc là em Chu công, định giúp Võ Canh là con vua Trụ nổi loạn. Chu
công liền đem giết Quản Thúc và đày Thái Thúc. Thúc Nha là bà con của vua nước
Lỗ, có tội phải chạy ra nước ngoài, sau định xin tha tội để trở về nước, nhưng
người nước Lỗ không nghe, bắt uống thuốc độc chết). Người xưa cũng không vì chỗ
họ hàng hay quen biết mà bỏ pháp luật. Mong rằng lượng trên khoan hồng, để cho
hoàng thượng được làm việc nước thì thật là vạn phúc!
Thái hậu nể Túc có công lớn theo hầu khi mình đi trốn, không
nỡ trái lời Túc, đành gắng gượng nghe theo, song thật ra trong bụng vẫn không
cho là phải. Thái hậu bèn vào cung.
Lúc bấy giờ là tháng mười hai, sắp đến ngày tết Nguyên đán.
Quan coi lễ tâu xin đến ngày 25 thì phong ấn cất đi (cuối năm làm lễ cất ấn (hạp
ấn) để nghỉ việc ăn tết). Các lễ trong miếu xã, triều đình đều chiếu theo lệ
thường mà làm. Riêng quan đại soái của thiên triều ở xa xôi tới, thì về phần vật
phẩm cung đốn, xin theo như lệ thết đãi sứ thần sang phong vương mà thêm gấp
lên một lần nữa. Các quan và quân lính cũng đều cho phép nghỉ mười ngày, để
cùng vui đón tiết xuân.
Thật là:
Én sẻ trên nhà còn hớn hở
Đà đồng trong bụi chẳng lo âu
Chưa biết việc tới ra sao? Chờ xem hồi sau phân giải.
------------
Sách Khổng tùng tử chép: Chim én chim sẻ ở trên nóc nhà, mẹ mớm
cho con ăn mà không biết rằng nhà sắp cháy. Đời Tấn, có Sách Tĩnh thấy con lạc
đà bằng đồng để ở cửa cung điện, liền đe rằng: "Mày sắp phải vứt vào bụi
gai". ý nói đời sắp loạn lạc. Đây ám chỉ bọn Sĩ Nghị, Chiêu Thống như đang
ngồi trên đống lửa, tai hoạ sắp đến mà vẫn nhởn nhơ không biết gì cả.
Hồi thứ mười bốn
đánh ngọc hồi, quân thanh bị thua trận
bỏ thăng long, chiêu thống trốn ra ngoài
Lại nói, Tôn Sĩ Nghị sau khi đem quân ra cửa ải, xuyên rừng
vượt núi, như giẫm đất bằng; ngày đi đêm nghỉ, không phải lo lắng gì, kéo thẳng
một mạch đến thành Thăng Long, không mất một mũi tên, như vào chỗ không người.
Từ xưa, các nhà cầm quân chưa có khi nào được dễ dàng như thế. Cho nên y xem
thường, cho là vô sự, không cần phải đề phòng. Rồi đó, y lại càng thêm kiêu
căng, buông tuồng, mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang
thang, không còn có kỷ luật gì cả. Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mười dặm, để
kiếm củi đun, có kẻ đi tới các chợ búa dân gian để buôn bán, hàng ngày sớm đi tối
về xem như việc bình thường. Bọn tướng tá cũng ngày ngày chơi bời tiệc tùng,
không hề để ý gì đến việc quân. Hễ ai nhắc đến tình hình giặc giã thì bọn họ
đáp rằng: "Chúng nó như cá chậu chim lồng, còn chút hơi thừa thoi thóp,
không đáng nói đến. Vâng lệnh của quan lớn đốc bộ, định đến ngày mùng 6 tháng
giêng, nhân dịp đầu xuân sẽ xuất quân kéo thẳng đến sào huyệt của quân Tây Sơn.
Bọn giặc ấy nhất định sẽ lần lượt bị bắt sống không một tên nào lọt lưới. Người
Nam Hà sẽ đến mà xem!".
Thế là người trong nước, kể cả các viên quan đã từng trốn
tránh hồi xưa mà bấy giờ đã được thấy lại bóng mặt trời, ai nấy mới đều yên tâm
vui mừng về cuộc sum họp trước mắt. Rồi họ dựa vào tổng đốc họ Tôn làm bức trường
thành, không còn nghĩ gì đến việc cung khuyết bị tàn hoang, không còn lo gì đến
việc kẻ địch đang ở nơi cửa ngõ; võ lặng, văn im, thảy đều bệ trễ.
Vừa lúc ấy, có người cung nhân cũ từ phủ Trường Yên tới, nói
với thái hậu rằng:
- Xe vua trở về kinh thành, đã gần một tháng. Hiệu lệnh ban
ra, chẳng qua mới đến các vùng ứng Hoà, Thường Tín, Từ Sơn, Thuận Thành, Quảng
Oai, năm lộ mà thôi. Còn như từ Trường Yên về nam, Thanh Hoa là đất căn bản,
lăng tẩm tiền triều ở đó, Nghệ An cũng là quận chân tay, quân cấm và quân túc
trực đều lấy người ở đấy, thì nay vẫn bị mất về tay giặc, tin tức không thông,
đó thật là điều đáng lo rất lớn. Hiện nay, việc nước hư thực thế nào, thế giặc
mạnh yếu ra sao, những người đứng ngoài mà xem, không ai không biết. Trước đây,
hoàng thượng gặp nạn phải chạy, các quan trèo đèo vượt suối, khó nhọc vất vả đã
hơn một năm, bao nhiêu nhân tình chắc đã từng trải hết rồi, sao vẫn điềm nhiên
không lo nghĩ gì cả? Tổng đốc họ Tôn từ thượng quốc tới đây, thế nước và tình
hình của giặc chỉ biết đại khái. Đến như các miền, cũng có nơi xung yếu, noi
bình thường, chia đồn và mai phục, cần phải trù tính kỹ càng. Việc binh có lúc
nên đánh, lúc nên giữ, phải tuỳ cơ ứng biến trong chốc lát. Tất cả những điều ấy,
họ làm sao mà hiểu được rõ ràng, đích xác? Vả chăng, khi trước Lê Quýnh khai
báo ở bên ấy, nói rằng: "Nhiều nơi trong nước ta không chịu theo giặc, người
chuộng nghĩa còn nhiều, lòng người cũng có thể trông cậy, nếu được đại binh
sang làm thanh viện thì công việc khôi phục có thể thành...". Đó chỉ là một
cách nói, để tổng đốc họ Tôn không cho việc ấy là khó. Quýnh vì muốn chóng được
quân sang cứu, cho nên mới bịa ra lời nói hão để lừa dối họ. Họ cũng tưởng là
thật, hăng hái tiến lên, không còn lo nghĩ gì về sau. Cứ xem lời lẽ trong bài hịch,
thì những điều họ bắt buộc mình phải đương lấy, rất là nặng nề; còn họ thì chỉ
lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm mà thôi. Không biết rằng,
Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn
ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỉ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu
Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám
nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn
xiêu, sợ hơn sợ sấm sét. E rằng chẳng mấy lâu nữa, hắn lại trở ra, tổng đốc họ
Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi, thì địch sao cho nổi? Họ chẳng qua
chỉ là người khách, chuyến này sang cũng cốt xem sự thế khó hay dễ để liệu bề
tiến lui mà thôi. Nhưng còn nhà nước của ta thì sao? Thái hậu có thể chạy sang
đất Trung Hoa một chuyến nữa chăng?
Thái hậu giật mình nói:
- Đó chính là tâm sự của gái già này, vẫn ngày đêm lo lắng mà
chưa biết làm thế nào?
Rồi nhân tiện, thái hậu đem việc đó nói lại với vua. Bấy giờ
nhà vua mới hoảng sợ, liền cùng bọn Quýnh đến doanh quân của Nghị tha thiết xin
xuất quân. Nghị gọi Quýnh đến mà căn vặn rằng:
- Người nước mày nay quả thật không thể trông cậy được, thế
thì lời cung khai của mày trước đây ra sao? Dám lừa dối ta chăng?
Rồi Nghị ngoảnh sang bảo vua:
- Tự vương trẻ tuổi, chưa từng trải công việc, trước đây tới
đón chào ta ở Lạng Sơn, sao không nói cho rõ? Bấy giờ, nhân khi ta thắng, đè bẹp
ngay lúc chúng đang khốn đốn, há chẳng dễ dàng hơn hay sao? Nay đã bỏ lỡ cơ hội
ấy, để chúng có thì giờ thong thả mà bày mưu đặt chước, cách trị chúng cần phải
tính toán cho chu đáo, không thể hấp tấp. Vả lại, đã định đến sang xuân, vào
ngày mùng sáu thì sẽ xuất quân, như vậy cũng không còn xa gì nữa. Nếu muốn đi gấp
thì cho phép vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được.
Vua lui ra bảo với Quýnh rằng:
- Ngươi từng dốc lòng với ta, việc nước cũng đã được quá nửa
rồi. Vậy nay hãy cố gắng làm cho tròn công trạng trước, đừng để người trong nước
có thể bàn tán về ta, và thiên triều có chỗ quở trách được ta.
Lại nói, Lê Quýnh là người làng Đại Mão, huyện Siêu Loại (nay
là huyện Thuận Thành, Hà Bắc) vốn là một tay phong lưu công tử, con trai của tiến
sĩ triều Lê là Lê Doãn Giản. Khi tuổi trẻ, Quýnh chỉ biết uống rượu, đánh bạc,
việc văn việc võ đều chưa hề luyện tập qua. Trước kia vì là con nhà quí tộc
thân cận, nên được vào làm gia thần nhà vua. Đến khi quân Tây Sơn tới xâm lấn,
kinh thành thất thủ. Quýnh vâng mệnh vua theo hầu thái hậu lên Cao Bằng, rồi bị
quân giặc đuổi bắt, phải chạy sang Trung Quốc. Vì Quýnh hơi biết chữ nghĩa, cho
nên khi chuyện trò với người Thanh, thường bịa ra nhiều câu khoác lác. Tôn Sĩ
Nghị cũng không xét đến chỗ đó, đem lời tâu lên, vua Thanh ưng thuận. Thế rồi
may được khôi phục lại nước nhà. Quýnh tự cho là công lao của mình. Sau khi về
thành Thăng Long, Quýnh chỉ lo đền ơn trả oán và công nhiên ăn của đút lót. Những
tay hào kiệt trong nước đều không ưa Quýnh. Vua cho là Quýnh có công, giao cho
cầm quân. Nhưng Quýnh, mắt còn choáng lộn bóng tinh kỳ, tai chưa nghe quen tiếng
chiêng trống, nói gì đến chuyện sắp đặt việc binh bị? Quýnh bèn mượn cớ không
muốn xa rời cạnh vua, xin vua truyền cho viên trấn thủ Sơn Tây đem quân bản bộ
đóng trước ở Giản Khẩu, để chặn đường ra của quân Tây Sơn. Đó là Quýnh cốt cho
mình khỏi phải ra trận; còn việc chinh chiến được hay thua, nước nhà còn hay mất,
Quýnh chẳng cần biết đến làm gì.
Nhắc lại, Ngô Văn Sở sau khi đem các đạo quân rút lui, tức tốc
sai Nguyễn Văn Tuyết chạy trạm vào Nam cáo cấp. Một mặt chặn ngang đất Trường
Yên làm giới hạn, đóng thuỷ quân ở hải phận Biện Sơn, quân bộ thì chia giữ vùng
núi Tam Điệp, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau, ngăn hẳn miền Nam với miền Bắc.
Vì thế, việc ở bốn trấn đường ngoài không hề thấu đến hai xứ Thanh, Nghệ. Vì vậy
việc quân Thanh đến Thăng Long và việc vua Lê thụ phong ngày 22 tháng 11, từ
Thanh Hoa trở vào, không một người nào được biết. Ngày 20 tháng ấy, Sở lui về
Tam Điệp, thì ngày 24 Tuyết đã vào đến thành Phú Xuân. Bắc bình vương tiếp được
tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.
Nhưng các người đến họp đều nói:
- Chúa công với vua Tây Sơn có sự hiềm khích, đối với ngôi
chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh
sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu,
ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người rồi
sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa là muộn.
Bắc bình vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân (ở
địa phận xã An Cựu, huyện Hương Trà, Thừa Thiên (Bình Trị Thiên)), tế cáo trời
đất cùng các thần sông, thần núi; chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi hoàng đế, đổi
năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu
Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm
Mậu thân (1788).
Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh, cả thuỷ lẫn bộ
cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An, vua Quang Trung cho vời người cống sĩ ở huyện
La Sơn là Nguyễn Thiếp vào dinh và hỏi:
- Quân Thanh sang đánh, tôi sắp đem binh ra chống cự. Mưu
đánh và giữ, cơ được hay thua, tiên sinh nghĩ như thế nào?
Thiếp nói:
- Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân
Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế
nên đánh nên giữ ra sao. Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, giặc
Thanh sẽ bị dẹp tan.
Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hám hổ hầu
kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chưa mấy lúc, đã được
hơn một vạn quân tinh nhuệ. Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn,
đem số thân quân ở Thuận Hoá, Quảng Nam chia làm bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu,
còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì làm trung quân.
Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên uỷ quân lính, truyền
cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh, rồi dụ họ rằng:
- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các
ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ
ràng, phương Nam phương Bắc (chỉ đất Trung Quốc) chia nhau mà cai trị. Người
phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến
nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người
mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương,
đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh
có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận
lòng người, dấy nghĩa quân đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về
phương Bắc. ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền
ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc
xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các
triều đại trước. Nay người người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm
quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy
ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri
lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có
quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết
ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!
Các quân lính đều nói: "Xin vâng lệnh, không dám hai
lòng!".
Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều
nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón, đều mang
gươm trên lưng mà xin chịu tội.
Vua Quang Trung nói:
- Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái. Ta
giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên (từ thời Lê Hồng Đức, các trấn ở Bắc Hà đều
gọi là "thừa tuyên"), lại cho tuỳ tiện làm việc. Vậy mà giặc đến
không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dạy rằng:
"Quân thua chém tướng". Tội của các ngươi đều đáng chết một vạn lần.
Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến như
việc tuỳ cơ ứng biến thì không có tài. Cho nên, ta để Ngô Thì Nhậm ở lại đấy
làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa
phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa.
Năm trước ta ra đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng
cớ rõ ràng. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người
trong kinh kỳ làm nội ứng cho chúng, thì các người làm sao mà cử động được? Các
ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm
yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng,
kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau
hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy...
Thì Nhậm bèn lạy hai lạy để tạ ơn. Vua Quang Trung lại nói:
Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã
có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ
chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn
mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là
phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp
nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm
nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh,
thì ta có sợ gì chúng?
Bọn Sở, Lân đều lạy tạ và nói:
- Chúa thượng thật là lo xa, chúng tôi ngu dại không thể nghĩ
tới chỗ đó. Hiện nay phương lược tiến đánh ra sao, xin chúa thượng nhất nhất chỉ
rõ để chúng tôi tuân theo mà làm.
Vua Quang Trung bèn sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra
làm năm đạo, hôm đó là ngày 30 tháng chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng:
- Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối
30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long
mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác!
Sau đó nhà vua truyền lệnh: Các viên tướng ở trung quân thuộc
về doanh vua sai phái là đại tư mã Sở; nội hầu Lân đốc suất tiền quân làm tiên
phong; Hám hổ hầu đốc suất hậu quân làm đốc chiến; đại đô đốc Lộc, đô đốc Tuyết
đốc suất tả quân, trong đó gồm có thuỷ quân vượt biển vào sông Lục Đầu; rồi Tuyết
vẫn kinh lý vùng Hải Dương để tiếp ứng với mặt đông; còn Lộc thì đi gấp lên các
hạt Lạng Sơn, Phượng Nhãn, Yên Thế để chặn đường về của quân Thanh; đại đô đốc
Bảo, đô đốc Long đốc suất hữu quân, trong đó gồm quân voi và quân kỵ mã; Long
xuyên qua huyện Chương Đức, theo đường đến thẳng làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì
để đánh ngang vào đồn quân Điền Châu; Bảo thì thống đốc quân voi ngựa do đường
Sơn Minh ra làng Đại áng huyện Thanh Trì để tiếp ứng cho cánh hữu.
Cả năm đạo quân đều lạy vâng mệnh lệnh, đúng ngày, gióng trống
lên đường ra Bắc (theo Cương mục thì trước khi tiến quân ra Bắc, vua Quang
Trung có viết thư cho Sĩ Nghị vờ xin đầu hàng để khiêu gợi lòng kiêu căng,
khinh địch của Nghị. Theo Lê triều dã sử, khi tiến quân ra Thăng Long vua Quang
Trung bày cho quân lính cứ ba người một tốp thay phiên võng nhau đi, thành ra
quân trẩy đi liên miên không phải dừng mà ai nấy đều lần lượt được nghỉ. Do đó,
quân Tây Sơn đã hành binh cực kỳ thần tốc).
Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh trấn thủ ở đó tan vỡ chạy
trước. Lúc đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám từ đằng xa trông thấy
bóng cũng chạy nốt. Vua Quang Trung liền thúc quân đuổi theo, tới huyện Phú
Xuyên thì bắt sống được hết, không để tên nào trốn thoát. Bởi vậy, không hề có
ai chạy về báo tin, nên những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi và Ngọc Hồi (thuộc
Thường Tín (nay thuộc tỉnh Hà Sơn Bình) và Thanh Trì (nay thuộc thành phố Hà Nội))
đều không biết gì cả.
Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng, năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang
Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa
truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có
hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin
ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.
Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền
ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức.
Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn;
hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất";
vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi
(theo Dã sử, thì lúc này vua Quang Trung sai đốt hết lương thực và tự mình quấn
khăn vàng vào cổ để tỏ ý quyết chiến quyết thắng, không chịu lùi). Quân Thanh nổ
súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống
phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho
quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra
quân Thanh lại tự làm hại mình.
Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa
xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống
đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất
tề xông tới mà đánh.
Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên
nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết (Cương mục
ghi Sầm Nghi Đống thắt cổ chết ở Loa Sơn (tục gọi gò Đống Đa). Theo Bang giao lục,
trong chiến dịch mùa xuân Kỷ Dậu, số quân Thanh bị chết là 27 vạn). Quân Tây
Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân
Thanh đại bại.
Trước đó, vua Quang Trung đã sai một toán quân theo bờ đê Yên
Duyên kéo lên, mở cờ gióng trống để làm nghi binh ở phía đông. Đến lúc ấy, quân
Thanh chạy về trông thấy, càng thêm hoảng sợ, bèn tìm lối tắt theo đường Vịnh
Kiều mà trốn. Chợt lại thấy quân voi từ Đại áng tới, quân Thanh đều hết hồn hết
vía, vội trốn xuống đầm mực, làng Quỳnh Đô (thuộc Thanh Trì, Hà Nội), quân Tây
Sơn lùa voi giày đạp, chết đến hàng vạn người.
Giữa trưa hôm ấy vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi
kéo vào thành (có sách chép khi Quang Trung vào Thăng Long, chiếc chiến bào màu
đỏ đã bị nhuộm đen vì khói thuốc súng).
Nguyên trước đó, đô đốc Long đốc suất hữu quân đã đem binh đến
đóng ở làng Nhân Mục huyện Thanh Trì. Lúc vua Quang Trung đang đánh với quân
Thanh ở Ngọc Hồi, thì sáng hôm ấy Long đã đánh tên thái thú Điền Châu ở trại
Khương Thượng thuộc huyện Quảng Đức (trại Khương Thượng tức làng Khương Thượng
nay thuộc thành phố Hà Nội). Quân Thanh tan vỡ bỏ chạy, Long liền tiến trước
vào thành.
Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê ở thành Thăng Long, tuyệt
nhiên không nghe tin cấp báo gì cả cho nên trong ngày Tết mọi người chỉ chăm
chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc. Nào hay cuộc
vui chưa tàn, cơ trời đã đổi. Ngày mồng 4 bỗng thấy quân ở đồn Ngọc Hồi chạy về
cáo cấp. Thật là: "Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên".
Bọn ấy lại nói:
- Quan quân ở đồn Hà Hồi đều bị quân Tây Sơn đánh úp bắt hết
cả. ở đây cách đồn Ngọc Hồi không xa, sớm chiều thế nào cũng bị đánh tới.
Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt sợ hãi, lập tức sai lãnh binh Quảng Tây
là Thang Hùng Nghiệp dẫn viên hàng tướng Tây Sơn là Phan Khải Đức đem nghĩa
binh tới cứu; lại sai hai mươi lính kỵ mã ở dưới trướng của mình cùng đi với
Nghiệp, và dặn họ rằng:
- Trong khoảng chốc lát, phải tiếp tục báo tin về ngay.
ý của Nghị chỉ lo có một mặt đó, không ngờ lại có mặt khác ập
tới. Canh tư đêm ấy, chợt nghe ở phía tây bắc thành tiếng súng nổ đùng đùng
không ngớt. Nghị vội sai người cưỡi ngựa ra xem, thì nghe báo tin đồn quân Điền
Châu tan vỡ, quân Tây Sơn đã vào cửa ô, đốt giết lung tung, khói lửa bốc lên đầy
trời rồi.
Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không
kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng
bắc mà chạy. Quân sĩ các doanh nghe tin, đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh
nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại
bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhĩ Hà vì thế mà tắc
nghẽn không chảy được nữa (có sách chép, đạo quân Vân-Qui lúc này mới kéo sang
đến Sơn Tây, nghe tin Nghị thua chạy, nên cũng vội vàng tìm đường tháo lui về).
Vua Lê ở trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn
Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa thái hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến bến sông thì thấy cầu
phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm thình lình gặp
được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc. Trưa ngày mồng 6
vua Lê và những người tuỳ tòng chạy đến núi Tam Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã
đi khỏi đó. Bấy giờ quân Thanh chạy về nước, trên đường đông nghịt như chợ, đêm
ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi. Vua đưa thái hậu cùng đi với họ đến đồn Hoà Lạc
thì gặp một người thổ hào. Hồi trước vua Lê chạy ra ngoài, người ấy đã được biết
mặt; lúc đó thấy vua, người ấy bất giác lệ rơi, nhân tiện mời vua vào trại
trong núi tạm nghỉ. Bấy giờ, vua Lê và những người tuỳ tòng luôn mấy ngày không
ăn, ai nấy đều đã mệt lử. Người thổ hào kia liền giết gà làm cơm thết đãi. Vua
sai bưng một mâm lên mời thái hậu; còn mình thì cùng ăn với bọn Quýnh, Hiến ở
mâm dưới.
Ăn vừa xong, chợt nghe tin quân Tây Sơn đã đuổi theo đến nơi.
Vua cuống quít bảo người thổ hào rằng:
- Muôn đội hậu tình, không có gì để báo đáp, chỉ có trời cao
đất dày chứng dám tấc lòng thành của ông mà ban phúc cho thôi. Bây giờ quân giặc
gần tới, trước mắt đây có con đường sống nào có thể chạy gấp lên cửa ải, xin
tính kế ngay cho.
Người thổ hào vội vã sai con đưa đường, theo lối tắt trong
núi mà đi. Trời nhá nhem tối thì nhà vua đến cửa ải, theo kịp chỗ nghỉ của Tôn
Sĩ Nghị. Một lát các viên quan khác cũng lục tục theo đến, cùng nhìn nhau than
thở, oán giận chảy nước mắt. Tôn Sĩ Nghị cũng lấy làm xấu hổ.
Nhân tiện, vua từ giã Sĩ Nghị và nói:
- Cô (lối xưng nhún mình của các vua chúa đời xưa) không có
tài, chẳng giữ nổi xã tắc. Đội ơn tướng quân vâng chỉ của hoàng đế sang cứu viện;
nào ngờ lòng trời không giúp nước nhỏ, nay ngài lại bỏ mà đi. Kính chúc tướng
quân về triều được hai chữ "vạn phúc", Cô xin ở lại đất nước, thu nhặt
dân binh, để tính việc nổi lên chuyến khác. Xa nhờ oai linh, may được nên việc,
đều là ơn của tướng quân ban cho. Nếu như sự thế không xong, lại xin sang hầu
tướng quân, như thế cho tiện.
Nghị nói:
- Nguyễn Quang Trung chưa diệt, việc này còn chưa thôi. Nay
hãy dâng biểu tâu lên xin quân, không đầy một tháng, đại binh sẽ lại tới. Chỗ
này gần kề đảng giặc, ở lại không tiện, hãy tạm vào Nam Ninh nghỉ ngơi để chờ
thánh chỉ cũng được.
Vua Lê nghe lời. Nghị bèn cùng bọn tướng tá thu nhặt tàn quân
kéo về.
Vua lại sai bọn Quýnh, Hiến ở lại để ngầm chiêu dụ những người
trung nghĩa ở trong nước. Còn vua thì cùng viên phụ đạo (tên gọi chức tù trưởng
ở ngoại phiên) Cao Bằng là Địch quận công Hoàng ích Hiểu, viên trấn thủ Kinh Bắc
người làng Nộn Liễu huyện Nam Đường là Lê Hân, viên đề lĩnh bốn thành người huyện
Thư Trì, trấn Sơn Nam là Phạm Như Tùng viên phó đề lĩnh người làng Thanh Tuyền,
huyện Nam Đường là Nguyễn Viết Triệu, viên thư tri công lượng chính người làng
Nghĩa Động, huyện Nam Đường là Lê Văn Trương, viên hiệp lý quân vụ, người làng
Quỳnh Côi, huyện Nam Đường là Phạm Trần Thiệu, người bà con bên vợ ở làng Tỳ
Bà, huyện Lang Tài là Nguyễn Quốc Đống, viên chưởng tứ bảo người làng Đồng Bảng
trấn Thanh Hoa là Lê Quý Thích, cùng đưa thái hậu theo Nghị sang Trung Quốc.
Thực là:
Bờ cõi chưa xong bề tính liệu,
Nước non buồn nỗi lúc chia ly.
Chưa biết việc ấy ra sao! Hãy chờ hồi sau phân giải.
Hồi thứ mười lăm
dẹp yên cõi bắc, nguyễn huệ được phong
đánh phá cao bằng, duy chỉ bị hại
Lại nói, khi Tôn Sĩ Nghị chạy trốn về nước, trong lúc vội
vàng, không kịp thu nhặt đồ đạc. Đến khi tới huyện Phượng Nhãn lại nghe nói tướng
Tây Sơn là Đắc lộc hầu đem quân từ mặt đông kéo lên chặn đường, đã gần tới nơi,
Nghị lại bị một phen khủng khiếp, các vật cần thiết mang theo, đều phải vứt bừa
ra giữa đường để mong chạy thoát lấy thân mình. Cho nên những vật của vua Thanh
ban cho như sắc thư, kỳ bài, quân ấn đều bị quân Tây Sơn bắt được đem về.
Nguyên mùa đông năm ngoái, theo lời xin của Nghị, vua Thanh
đã truyền lệnh cho Nghị đem quân ra ngoài cửa ải Nam Quan. Sau đó, vua Thanh lại
có chỉ dụ bảo Nghị đi từ từ, chớ có vội; hãy làm tờ hịch đưa sang trước làm
thanh viện cho nhà Lê, rồi thả bọn bề tôi nhà Lê về nước, tập hợp nghĩa binh,
tìm tự tôn họ Lê, để cho ra mặt đối địch với Nguyễn Quang Trung, thử xem sự thế
ra sao? Nếu như lòng người An Nam còn mến nhà Lê, lại được thiên binh kéo sang,
thì ai chẳng hăng hái nổi lên, và như vậy, Quang Trung ắt phải lui tránh. Bấy
giờ sẽ bảo tự tôn họ Lê đi tiên phong đuổi đánh còn Nghị thì đem đại binh tiếp
theo, chắc là không khó nhọc gì mà sẽ thành công. Đó là chước hay thứ nhất. Nếu
như người trong nước, nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Quang Trung nhất
định sẽ không chịu lui. Khi ấy, cần phải viết thư nói rõ hoạ phúc, xem hắn đối
phó ra sao? Rồi chờ cho thuỷ quân các tỉnh Mân, Quảng (Phúc Kiến và Quảng Đông,
Quảng Tây) của ta vượt biển đánh trước vào Thuận Quảng (Thuận Hoá và Quảng
Nam), bấy giờ sẽ thúc quân tiến lên. Quang Trung mặt trước mặt sau đều bị đánh,
tất phải hàng phục. Ta nhân đó mà bảo tồn cho cả hai. Thuận, Quảng về nam cho
Quang Trung ở; Hoan, ái (Nghệ An, Thanh Hoá) về bắc, phong cho tự tôn họ Lê. Rồi
đó, đóng đại binh ở nước ấy, xa xa kiềm chế họ, sau này sẽ có cách xử trí khác.
Đến khi đại quân của Nghị ra khỏi cửa ải Nam Quan nghe tin
quân Tây Sơn đã lui chạy, tức thì Nghị sai chỉnh đốn đội ngũ, kéo thẳng đến
đóng ở thành Thăng Long, không còn lo lắng gì cả, vì thế mới thua một trận tan
tành.
Bấy giờ dân Thanh thái bình đã lâu, không biết gì đến việc
binh, thấy Nghị tất tả chạy về, nhân tình đều nhốn nháo sợ hãi. Tiếp đó lại
nghe tin quân Tây Sơn đuổi đến Lạng Sơn, nói phao lên rằng: "Sẽ giết hết rợ
Hung Nô". Do đó, ở đất Trung Quốc, dân chúng lại càng nhốn nháo. Từ cửa ải
Nam Quan trở về bắc, trai gái già trẻ, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn, suốt vài
trăm dặm, lặng ngắt không còn bóng người.
Vua Thanh được tin, giận lắm, lập tức hạ chỉ, sai viên quan ở
nội các là Phúc Khang An làm tổng đốc lưỡng Quảng, đem binh mã chín tỉnh sang
kinh lý việc An Nam và đòi Sĩ Nghị về kinh chịu tội.
Lại nói, Nghị ở Thăng Long chạy đi, nhằm đêm mồng 5 tháng
giêng. Đến trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến quân vào thành.
Sau khi đã hoàn toàn quét sạch quân Thanh, vua Quang Trung
bèn đóng quân tại thành Thăng Long, rồi hạ lệnh chiêu an. Phàm những người
Thanh trốn ở các nơi, đều bảo phải tới đầu thú, dân gian không được chứa chấp.
Trong khoảng mươi ngày, quân Thanh ra thú có đến hơn vài vạn, đều được cấp phát
lương ăn áo mặc.
Nhân bắt được chiếu thư và quân ấn do Sĩ Nghị bỏ rơi, vua
Quang Trung bèn đưa cho Ngô Thì Nhậm xem và bảo:
- Ta xem tờ chiếu của vua Thanh, thì chẳng qua họ cũng chỉ cốt
xem tình hình ta mạnh yếu ra sao để mà định bề tiến lui, chớ còn việc nghĩa cử
để dựng lại nhà Lê, không phải là bản tâm của họ. Họ chỉ mượn tiếng để mưu đồ lợi
riêng mà thôi. Nay họ đã bị ta đánh thua, nhịn đi thì thẹn, báo thù thì khó. Vậy
những tàn quân ta bắt được, đều nên cấp lương và đưa hết lên cửa ải. Ngươi vốn
giỏi về nghề văn từ đối đáp, nên thảo ngay bức thư đưa sang cho họ, đại khái
nói:
"Ta là nước nhỏ, một lòng kính thuận, sợ mệnh trời, thờ
nước lớn, sao dám có ý gì khác. Trước đã có biển văn đệ sang, bị ngài tổng đốc
họ Tôn dìm đi, không thấu đến bề trên được. Gần đây, ta từ miền Nam tới, vốn là
muốn biện bạch lòng thật thà với ngài tổng đốc họ Tôn. Không ngờ đường sá đồn
nhảm, làm to thanh thế của ta, khiến cho mọi người nghi ngờ sợ hãi, bỏ đội ngũ
mà chạy trước, để đến nỗi cầu phao bị đứt, quân lính thiên triều phải chết đuối,
những kẻ tranh đường chạy trốn lại giày xéo lẫn nhau nhiều người bị thương bị
chết. Đó thật là do ngài tổng đốc họ Tôn gây nên, không phải là tội của nước nhỏ
dám giao chiến. Hiện nay đã thu góp được số tàn quân hơn một vạn người, lại đã
tra rõ họ tên, quê quán, cấp lương đầy đủ và đưa lên cửa ải; vậy xin kê sổ dâng
nộp...".
Thì Nhậm vâng lệnh, lập tức theo ý đó thảo một bức thư, rồi
sai người phi ngựa giao cho viên đầu mục ở Lạng Sơn đưa tới ải Nam Quan, nhờ
chuyển đệ sang Trung Quốc.
Lại nói, viên tổng đốc lưỡng Quảng mới là Phúc Khang An vốn
là người Mãn, thuộc đội Cờ viền vàng (hộ khẩu của dân Mãn chia theo binh chế, gồm
có tám đội Cờ (bát kỳ): Cờ vàng, Cờ trắng, Cờ đỏ, Cờ xanh, Cờ viền vàng, Cờ viền
trắng, Cờ viền đỏ, Cờ viền xanh. Các đội Cờ này lúc thường thì làm dân, lúc động
thì làm lính. Về sau, khi người Mông, người Hán qui phục nhà Thanh, vua Thanh
Thái tông cũng tổ chức ra bát kỳ người Mông và bát kỳ người Hán như vậy, để làm
lực lượng nòng cốt trong việc thống nhất Trung Quốc) do chân ấm sinh làm đến chức
quan trong Nội các, vua Thanh vốn rất tin dùng, nên mới giao cho kinh lý việc
nước Nam.
Vừa mới thay Nghị làm chức tổng đốc, Khang An đi trạm đến mạc
phủ Quảng Tây, đã chính mắt thấy Nghị trơ trọi một thân chạy về, rồi đó, tai lại
được nghe thanh thế của vua Quang Trung, nên trong bụng không khỏi rụt rè lo sợ.
Đến khi tiếp được bức thư từ biên cương đưa tới, Khang An quyết liền tự mình
gánh vác lấy việc phương Nam, bèn nói kín với viên phân phủ họ Vương ở phủ Thái
Bình rằng:
- Nam Bắc thôi việc binh đao, đó là phúc của sinh dân, mà thực
là điều may lớn cho các quan ở ngoài bờ cõi. Ta nghe nói có viên quan coi việc
giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu thư từ từ trước đến giờ đều
do tay y mà ra. Vậy ông nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ trương việc
giảng hoà, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc
ấy thế nào cũng xong.
Phân phủ họ Vương lui ra, tức thì viết thư cho Ngô Thì Nhậm.
Nhậm đem việc ấy tâu với vua Quang Trung.
Bấy giờ, vua Quang Trung tuy đã dẹp yên Bắc Hà, nhưng ở miền
Nam, vẫn có cái lo bên trong, nên muốn gấp rút về Nam, bèn họp các tướng sĩ lại
mà bảo:
- Việc binh ở Bắc Hà, ta giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân.
Việc giao thiệp với Trung Quốc ta giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích. Mọi việc
đều cho phép các ngươi tuỳ tiện xử trí. Ta hãy về Nam, nếu việc gì không quan hệ
lắm thì bất tất phải qua lại bẩm báo cho thêm phiền phức.
Rồi đó, vua Quang Trung dẫn quân về Nam, để Văn Sở ở lại, coi
giữ hết thảy việc quân, việc nước. Còn Ngô Thì Nhậm thì làm chủ về việc giao
thiệp với Trung Quốc, cùng với viên quan giữ biên ải của nhà Thanh là phân phủ
họ Vương hai bên liên lạc với nhau; ngoài thì có Phúc Khang An đề đạt ý kiến,
trong thì có Các thần Hoà Khôn chủ trương mọi việc.
Hoà Khôn người Mãn Châu, thuộc đội Cờ vàng, cũng do chân ấm
sinh vào làm ở Nội các, cùng với Khang An quản lý việc hộ.
Khang An gửi thư cho Thì Nhậm, bảo Nhậm đưa vàng bạc đút lót
Khôn. Khôn kiền tâu với vua Thanh xin bãi việc binh, phong vương cho Quang
Trung, và không nên gây hấn với nước ngoài, làm hao phí cho Trung Quốc. Khôn lại
nói: "Từ xưa đến nay, chưa có đời nào làm nên công trạng ở cõi Nam. Nhà Tống
rồi nhà Nguyên, nhà Minh, rốt cuộc đều bị thua trận, gương ấy hãy còn rành
rành".
Vua Thanh cho là phải, bèn quyết ý giảng hoà. Bọn Hoà Khôn
đón ý vua Thanh làm cho mọi việc đều ăn khớp, nên không việc gì là không vừa
lòng nhà vua. Bởi vậy, vua Thanh rất thích, thường viết thư khen ngợi họ.
Khi ấy, Khang An liền báo tin cho Thì Nhậm biết, giục Nhậm viết
tờ biểu tạ ơn. Nhậm thảo một tờ biểu, trong đó nói kèm thêm rằng: "Nước
chúng tôi đã đến kỳ tiến cống, theo lệ phải kính sai bồi thần đệ dâng lễ vật.
Nhưng tiểu phiên (nước phiên thuộc nhỏ mọn, ở đây là một cách nói nhún để chỉ
vua Quang Trung) còn là tạm quyền việc nước, không dám tự ý làm việc ấy, vì sợ
chưa hợp lệ. Mà nếu điềm nhiên bỏ đi lòng cũng không yên. Nay các vật phẩm tiến
cống và các người bồi thần đều đã kính cẩn đợi sẵn trên cửa ải. Vậy xin cúi
mong bề trên quyết định, chúng tôi khôn xiết run sợ chờ lệnh... ".
Khang An tiếp được tờ biểu tạ ơn ấy, lập tức sai ngựa trạm đệ
về Yên Kinh. Hoà Khôn liền đem biểu dâng lên. Vua Thanh xem xong, thích lắm,
bèn truyền cho các bồi thần nước Nam là bọn Võ Huy Tấn, Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình
Cử được phép qua cửa ải, vào chờ ở thành Quế Lâm; lại sai sứ thần sang phong
cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương và ban thưởng cho rất hậu. Còn các phẩm
vật tiến cống đều chiếu lệ cũ mà thu nhận. Liền đó, vua Thanh lại giáng chỉ vời
vua An Nam sang chầu.
Ngô Thì Nhậm bèn kén viên quan võ người làng Mạc Điền, huyện
Nam Đường ở trấn Nghệ An, tên là Nguyễn Quang Thực (Đại nam chính biên liệt
truyện sơ tập lại chép là Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu), dung mạo
đoan trang, giả làm quốc vương; lấy Văn Sở làm trọng thần hàng võ, Huy ích làm
trọng thần hàng văn, đô đốc Nguyễn Duật làm hộ vệ, Võ Huy Tấn làm bề tôi coi giấy
tờ, cùng hầu "quốc vương" sang yết kiến vua Thanh. Ngoài lễ dâng thường
của địa phương lại dâng thêm hai thớt voi đực. Dọc đường, người Thanh phải phục
dịch chuyển vận rất khó nhọc. Trong ngoài ai cũng biết là giả dối, mà không ai
dám nói.
Khi "quốc vương" tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm,
không hề biết đó là vua Quang Trung giả. Lúc "quốc vương" vào yết kiến,
vua Thanh cho cùng ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ
ôm gối hệt như tình cha con trong nhà. Lúc "quốc vương" lạy tạ về nước,
vua Thanh sai thợ vẽ truyền thần bức chân dung mà ban cho, ân lễ rất trọng hậu,
thực là một cách đối đãi khác thường từ ngàn xưa hiếm có.
Lại nói, vua Lê khi ở cửa ải Nam Quan theo Sĩ Nghị vào đất
Trung Quốc, trú ngụ ở thành Nam Ninh, thì vừa gặp lúc Phúc Khang An đến thay Sĩ
Nghị, và mưu đồ giảng hoà với Tây Sơn. Khang An bèn đón vua Lê vào nghỉ ở thành
phủ Quế Lâm. Hồi ấy những người nước Nam lần lượt sang Trung Quốc theo vua Lê gồm
có: Chú vua là Trung quận công Duy án, đi đường Du Quan (ở hồi 9 đã chép Duy án
đi cùng với phái bộ Trần Công Xán vào Tây Sơn đòi đất Nghệ An, sau phái bộ bị
dìm chết ở ngoài biển. Đây lại thấy Duy án xuất hiện, không hiểu là chép lầm
hay án còn sống sót mà người viết không ghi rõ chăng?); Đinh Nhạ Hành và Đinh Lệnh
Dận quê ở Hàm Giang, đi đường Long Môn; nội hàn Trần Duy Lâm, quê ở Nam Chân;
xuất nạp Lê Doãn, quản cơ Hậu Kính Lê Dĩnh người ở Đồng Trạch và bọn Phan Khải
Đức người Nghệ An đều đi đường ải Nam Quan; bọn Bế Nguyễn Cung, Bế Nguyễn Doãn
là phụ đạo ở Cao Bằng đi đường Cao Bằng. Lúc họ vào ra mắt, Khang An tuỳ tiện sắp
đặt chỗ ở và cấp cho lương ăn áo mặc, rồi dùng Phan Khải Đức làm chức đô ty ở
Liễu Châu, Đinh Nhạ Hành làm chức thủ bị ở Toàn Châu, Bế Nguyễn Doãn làm chức bả
tổng. Còn Trung quận công cùng các người khác thì đều đưa vào ở chỗ vua Lê
trong phủ Quế Lâm.
Sau hơn một tháng, Khang An cũng từ Nam Ninh về Quế Lâm, liền
hạ lệnh bãi hết binh mã các tỉnh, rồi bày ra yến tiệc và âm nhạc linh đình, rộn
rã. Vua Lê lấy làm lạ hỏi, thì Khang An nói:
- Mùa hè nắng nực, không lợi cho việc sang đánh miền Nam, cần
chờ đến mùa thu mát mẻ, sẽ điều động một thể.
Tiếp đó, Khang An lại mời vua Lê yến tiệc say sưa, rồi ung
dung nói:
- Ngày xuất quân không còn xa, vương nên tự mình đem tả hữu
liêu thuộc làm quân dẫn đường đi trước. Nhưng bây giờ nên gọt đầu gióc tóc (kiểu
đầu của người Mãn Thanh: gọt tròn xung quanh như cái nồi đất, rồi tết đuôi xam ở
đằng sau), thay đổi quần áo giống như người Trung Quốc, để khi về Nam quân giặc
không thể phân biệt được, thì công lớn mới có thể thành. Sau khi khôi phục nước
nhà, bấy giờ sẽ lại theo như tục cũ. "Việc binh không ngại dùng cách xảo
trá" Vương nên nghĩ tới chỗ đó.
Vua Lê cho là phải và đáp:
- Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên triều cứu
viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy
còn có tiếc gì?
Rồi vua Lê cùng các bề tôi đều gióc tóc, thay đổi đồ mặc.
Khang An thấy vậy, mừng lắm, liền cho một số tiền bạc và tiếp đãi tử tế. Vua
tôi nhà Lê đều không biết sự lừa dối của Khang An. Nhân đó, Khang An bèn làm một
tờ biểu kín tâu với vua Thanh, trong đó đại ý nói: "Vua An Nam là Lê Duy Kỳ,
không còn có ý xin cứu viện, vua tôi đều đã gióc tóc đổi đồ mặc, xin ở lại yên ổn
trong đất Trung Quốc. Vậy xin bãi bỏ các đạo quân định đưa sang đánh dẹp phương
Nam". Còn Hoà Khôn cũng luôn dịp tâu xin phong vương cho vua Quang Trung.
Thế là các lời xin ấy đều được vua Thanh chuẩn y.
Một hôm, Khang An lại mời vua Lê vào dinh. Giáo mác trang
hoàng la liệt, quân hầu đứng khắp chung quanh, cung mã, nghi trượng rất là
nghiêm chỉnh, chính giữa dựng cây cờ lớn, có thêu sáu chữ: "Đề đốc cửu tỉnh
binh mã" (đề đốc binh mã chín tỉnh).
Sau khi uống trà và ăn hoa quả xong, An im lặng không nói câu
gì, vua Lê cũng không hiểu ý của An ra sao. Lúc từ giã đi ra, thì thấy sứ giả
Tây Sơn đã ở ngoài cửa. Vua Lê tức tối hồi lâu, rồi đành phải về quán trọ yên
nghỉ.
Trước kia Trường phái hầu là Lê Quýnh vâng mệnh ở lại trong
nước, chiêu dụ hào kiệt các địa phương để lo việc khôi phục. Lúc này, Quýnh và
bọn Trịnh Hiến, Lý Tạo, Lê Hợp (có bản chép là Lý Nhu Đạo, Lê Doãn Thực) tất cả
gồm vài chục người đều kéo sang đất Trung Quốc. Khang An cho trát đòi bọn Quýnh
đến bàn việc nước. Lúc họ tới nơi, An chẳng hỏi han gì, chỉ bàn về việc gọt đầu
gióc tóc và đổi đồ mặc mà thôi.
Quýnh biết An dối trá, giận lắm, nói:
- Đòi ta đến ngỡ là để giáp mặt mà bàn bạc, nay té ra lại chẳng
bàn bạc gì, mà chỉ toàn bảo gọt đầu gióc tóc và đổi đồ mặc. Chúng ta đây, đầu
có thể chặt, tóc không thể cắt, da có thể lột, đồ mặc không thể đổi!
Khang An biết là không thể ép buộc được, bèn sai đem bọn họ
an tri ở tỉnh Quảng Tây.
Hồi cuối mùa đông năm ấy là năm Kỷ Dậu (1789), vua Thanh sau
khi đã sai sứ phong cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương và nhận các vật
phẩm tiến cống, liền giáng chỉ đòi vua cũ của nước An Nam phải đến Yên Kinh.
Nguyên lúc kinh thành Thăng Long tan vỡ, vua Lê chạy sang bắc,
em thứ ba của vua Lê là Lan quận công Duy Chi đưa hoàng phi chạy ra, đến bến
sông Nhĩ Hà thì gặp lúc cầu phao đã gãy, liền theo bờ sông chạy về phía tây. Đến
Tuyên Quang, Duy Chi bèn lén lút ở đấy, rồi nhân dịp chiêu dụ các tay hào mục địa
phương, để cùng nhau gắng sức lo việc khôi phục. Về sau, Duy Chi dấy quân ở đất
Bảo Lạc (nay thuộc Cao Bằng), đắp đồn luỹ, trưng thu lương thực, chống nhau với
quân Tây Sơn. Được vài tháng, quân và lương không đủ, bị quân Tây Sơn đánh
thua, Duy Chi và các tướng tá đều bị bắt, đóng cũi đưa về Nam, rồi đều bị hại
(theo Đại nam chính biên liệt truyện và Bang giao lục thì Duy Chi đánh phá cả
các vùng Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên; sau lại liên kết với Lào để định
đánh úp Nghệ An. Vì thế, quân Tây Sơn phải đánh dẹp rất gay go, kéo dài hàng
năm (1789-1790) mới bắt được Chi). Quân dân cả nước, ai cũng thương xót. Có người
viếng bài thơ, trong có câu rằng:
Phú Xuân có đất chôn hờn mới.
Bảo Lạc không trời báo oán xưa.
Duy Chi đã chết, hoàng phi bèn trốn về vùng Kinh Bắc, lẻn lút
trong dân gian, quân Tây Sơn tìm bắt nhưng không được.
Lúc bấy giờ, vua Lê ở Yên Kinh, tin tức không thông, các
hoàng thân đều bị quân Tây Sơn giết hại. Các bề tôi trung nghĩa ngày xưa như
bình chương Nguyễn Huy Túc, tham tri Phạm Đình Dữ, thượng thư bộ Binh Nguyễn
Đình Giản, thiêm thư xu mật viện sự Lê Ban, phó đô ngự sử Trần Danh án, trấn thủ
Kinh Bắc Trần Quang Châu đều phải trốn nấp ở các nơi thôn ổ, quân Tây Sơn lùng
bắt không được. Còn con cháu dòng dõi của các nhà quyền quý phần nhiều cũng vẫn
có cảm tình với chủ cũ. Nên chi, trong chốn làng quê, tiếng trống thường nổi
lên luôn luôn.
Nguyễn Đình Giản, từ khi vua Lê chạy sang Trung Quốc, không kịp
chạy theo, bèn ẩn ở huyện Lập Thạch thuộc trấn Sơn Tây (nay thuộc Vĩnh Phú).
Vua Quang Trung cho người đến trấn Thanh Hoa, bắt con gái yêu
của Giản đưa vào hậu cung muốn để vời Giản ra làm quan. Nhưng Giản nói:
- Con bé ấy không chết, làm nhục nhà ta, ta không vì tình nhi
nữ mà bỏ nghĩa vua tôi.
Quân Tây Sơn biết không thể đoạt nổi chí hướng của Giản, bèn
lập mưu bắt sống Giản về. Giản không chịu khuất, rồi chết. Giản có làm bài thơ
tự thuật như sau:
Vị thân hay vị nước nhà,
Thân còn nước mất biết là làm sao?
Đội non khôn hoá thân ngao (sách Liệt sử chép: ở biển Đông có
năm hòn núi nổi lênh đênh trên mặt nước, trời sai 15 con ngao đỡ cho núi đứng vững.
Đây mượn ý để nói việc chống đỡ quốc gia),
Dễ đem mình cuốc khóc gào núi sông (xưa vua Thục là Đỗ Vũ mất
nước, sau khi chết hoá thành con cuốc, tiếng kêu ai oán).
Giận không Vương Xúc gươm trung (Vương Xúc làm quan nước Tề đời
Chiến Quốc, sau Tề vị nước Yên chiếm, Vương Xúc dùng gươm tự tử),
Đọc ca chính khí dãi lòng sắt đanh (Chính khí ca của Văn
Thiên Tường, một trung thần đời Tống, làm khi bị giam ở yên kinh).
Ngoảnh nhìn cung khuyết Long thành,
Thân này với nước nhục vinh nỡ rời!
Lê Ban khôi ngô, hùng dũng, sức khoẻ hơn người; mỗi bữa ăn gấp
mấy chục người. Sau khi vua Lê bị nạn, Ban thường quanh quẩn bên cạnh, không từ
hiểm nghèo. Đến khi vua Lê chạy sang Trung Quốc. Ban theo không kịp, bèn đi đường
tắt về quê ở Nghệ An, cùng các hào mục địa phương họp quân đánh nhau với Tây
Sơn, bị thua mấy trận rồi bị bắt. Ban giữ vững chí cũ, không chịu khuất phục.
Quân Tây Sơn bèn thả cho về. Sau Ban chết ở Thăng Long.
Trần Danh án lưu lạc ở miền rừng núi, thôn quê trong xứ Bắc
Giang. Vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm viết thư vời án. án cố từ, thề chết
không chịu ra, lời lẽ phần nhiều gay gắt. Nhân dịp, án lại làm bài thơ trả lời
Nhậm như sau:
Gặp bác đời nay dễ mấy lần,
Dung nhan phảng phất mộng luôn gần.
Về ai nước ấy thôi đành kệ,
Nương trọ, đời nay chỉ biết thân.
Song bắc giấu mình còn nhớ Tấn (điển Song bắc trỏ Đào Tiềm
người đời Tấn, vì khi Đào Tiềm cáo quan về nhà, trong một lá thư gửi cho bạn,
ông có viết câu "Bắc song cao ngoạ..." (Nằm hóng mát dưới cửa sổ phía
bắc) để nói về cái thú ở ẩn. Đào Tiềm là tôi cũ của nhà Tấn, khi Tống cướp nước
Tấn, Đào Tiềm viết lách gì cũng vẫn đề niên hiệu của nhà Tấn để tỏ lòng trung
nghĩa)
Biển Đông thà chết chẳng theo Tần (điển Biển Đông trỏ Lỗ Trọng
Liên người nước Tề đời Chiến-quốc. Khi Lỗ Trọng Liên sang chơi nước Triệu, gặp
lúc nước Tần vây Triệu rất gấp; bấy giờ có sứ nước Nguỵ sang Triệu bàn nên tôn
Tần làm hoàng đế thì sẽ khỏi bị vây; Trọng Liên nghe nói, không bằng lòng, gặp
sứ Nguỵ bàn lẽ phải trái và nói; nếu Tần xưng đế thì Liên này thà nhảy xuống biển
Đông mà chết chứ không chịu làm tôi tớ cho Tần... Lời nói khảng khái ấy của Trọng
Liên, quả nhiên đã làm cho quân Tần phải rút lui, không vây Triệu nữa).
Người sau bên mộ giơ tay trỏ:
Tiến sĩ đời Lê cũ, họ Trần.
Nhậm biết không thể khuất phục được án, bèn ngầm sai người
đem quân đến hăm doạ. Nhưng án vẫn ngồi làm thơ, thần sắc như thường, trong có
câu rằng:
Kiếp này dẫu béo mồm hùm sói,
Thà chết không làm bụng chó heo!
Quân Tây Sơn lại dỗ cho làm quan to, cuối cùng án vẫn không
theo, họ bèn thôi.
Trần Quang Châu cùng bọn bộ tướng, nhóm quân đánh lại Tây
Sơn, ngang dọc trong hai trấn Đông Bắc (Hải Dương và Kinh Bắc). Khoảng trong bốn
năm năm liền, luôn luôn phá vỡ đồn luỹ và giết được rất nhiều tướng tá của Tây
Sơn, khiến cho quân Tây Sơn cũng phải khiếp sợ Châu. Sau mắc mưu gian, Châu bị
quân Tây Sơn bắt sống. Châu cũng không chịu khuất phục, rồi chết (theo các tài
liệu lịch sử, thì những cuộc chống đối của đám cựu thần nhà Lê bấy giờ còn có:
Dương Đình Tuấn (Bắc Giang). Nguyễn Phủ (Bắc Ninh), Phạm Đình Đạt (Bắc Ninh)...
Nhưng cuối cùng cũng đều bị Tây Sơn dẹp tan).
Từ đó trở đi, các trấn yên lặng, không phải lo sợ về nạn binh
hoả nữa.
Sau khi nhận sắc phong của vua Thanh, vua Quang Trung bèn tự
coi mình như hoàng đế, lập con cả là Quang Toản làm thái tử, con thứ hai là
Quang Thuỳ là Khang công, lĩnh chức tiết chế các quân thuỷ bộ miền Bắc, con thứ
ba là Quang Bàn làm Tuyên công lĩnh chức đốc trấn Thanh Hoa, Tổng lý mọi việc
quân, dân. Các trấn đều đặt một viên trấn thủ, một viên hiệp trấn. Mỗi huyện đặt
một viên phân tri và hai viên tả hữu quản lý để trưng thu binh lương và xử lý
việc kiện cáo. Lại lập ra binh chế, chia ra các cấp quan võ; lấy đạo thống lĩnh
làm cơ, lấy cơ thống lĩnh các đội, để quản thúc và luyện tập cho quân lính.
Các trấn từ sông Gianh ra Bắc đều phải kê khai sổ đinh, chiếu
theo lệ cũ kén lính và thu các thứ thuế dung (tức thuế thân, do Trịnh Cương đặt
ra), thuế cước. Lập sổ ruộng, định lệ thóc thuế. Chia ruộng công, ruộng tư ra
làm ba bậc để thu thuế. Vua Quang Trung cho rằng Nghệ An ở vào chính giữa nước,
đường sá từ Nam ra từ Bắc vào đều vừa bằng nhau, quê tổ tiên mình cũng ở đấy,
bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền, chuyên chở gỗ, đá, gạch ngói, để xây dựng
cung phủ, lâu đài. Đắp thành đất chung quanh và sai các quân lính đào đá ong ở
địa phương để xây thành trong. Dựng toà lầu Rồng ba tầng cùng điện Thái-hoà hai
dãy hành lang, để phòng dùng đến trong những khi có lễ triều hạ (các quan vào
chầu và chúc mừng nhà vua). Thành này được gọi là Phượng Hoàng trung đô hoặc
Trung kinh Phượng Hoàng thành (thành này Quang Trung định lập làm nơi đóng đô
nên mới gọi là "trung đô" hoặc "trung kinh"; còn tên
"Phượng Hoàng" là gọi theo tên ngọn núi ở chỗ xây dựng thành, "tức
rú Quyết cạnh đường Bến Thuỷ bây giờ". Khi xây dựng "Phượng Hoàng
trung đô", Quang Trung có viết chiếu mời Nguyễn Thiếp ra xem đất. Trong tờ
chiếu, có đoạn viết như sau: "Nay kinh Phú Xuân thì hình thế cách trở. ở
xa trị Bắc Hà, sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghị rằng, chỉ đóng đô ở Nghệ
An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ
làm cho người tứ phương đến kêu kiện, tiện việc đi về" - Xem thêm chi tiết
trong La Sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn).
Năm Canh tuất (1790), nước Ai-lao chưa chịu tiến cống. Vua
Quang Trung bèn sai viên đốc trấn Nghệ An là Nguyễn Quang Diệu (có sách chép Trần
Quang Diệu. Việc Quang Trung đánh Lào, thực ra không phải nhằm mục đích chiếm đất,
mà chỉ cốt phá tan âm mưu cấu kết giữa Duy Chi và vua Lào) làm chức đại tổng quản,
viên đô đốc lĩnh tượng chính là Lê Văn Trung làm chức đại tư lệ xuất quân tiến
đánh.
Quân Tây Sơn tiến đến đô thành nước Ai Lao, vua Ai Lao chống
cự không nổi, đem quân chạy trốn. Bọn Diệu vào thành, thu hết vàng bạc, châu
báu, voi ngựa đem về.
Sau khi được vua Thanh phong vương, vua Quang Trung càng thêm
kiêu căng, có ý xem khinh Trung Quốc. Vừa lúc ấy, có giặc Tàu ô (tên gọi chung
bọn giặc biển người Trung Hoa bấy giờ, thường đi tàu thuyền ở ven biển Việt Nam
để ăn cướp) ở lưỡng Quảng cướp bóc miền ven biển, quân Thanh đuổi đánh, bọn giặc
liền chạy xuống vùng Nam Hải và xin quy phục nước Nam. Vua Quang Trung bèn cho
bọn đầu mục của chúng đều làm chức thống binh, đồng thời lại sai chúng trở lại
cướp bóc quấy nhiễu miền duyên hải của Trung Quốc. Từ đấy các thuyền buôn bán
không thể qua lại giá cả hàng hoá cao vòn vọt. Vua Quang Trung lại dung nạp cả
bọn giặc Tàu ô ở Tứ Xuyên gọi là "Thiên địa hội" ("Thiên địa hội"
không phải là giặc Tàu ô, mà là một tổ chức bí mật của nhân dân Trung Quốc, nhằm
lật đổ triều đình Mãn Thanh, thành lập năm 1674, lúc đầu trung tâm ở vùng Phúc
Kiến, sau phát triển khắp nơi trong nước, thâm nhập cả vào các tầng lớp Hoa kiều
ở ngoài nước). Tổng đốc nhà Thanh bấy giờ sợ sức mạnh của nước Nam, nên cũng
không dám hỏi chi đến.
Qua những việc đó, vua Quang Trung càng cho người Thanh là dễ
đánh, bèn tính việc kén chọn quân lính, dành dụm lương thực, đóng tàu biển thật
lớn, có thể chở nổi voi, rồi cùng các quan văn võ ngấm ngầm để ý dòm ngó Trung
Quốc.
Thật là:
Cõi Bắc vừa xong trường chiến đấu,
ải Nam lại nẩy dạ anh hùng.
Chưa biết việc ấy ra sao? Chờ xem hồi sau phân giải.
Hồi thứ mười sáu
tế linh đường, sứ thanh bị lừa
chết yên kinh, vua lê nuốt hận
Lại nói, vua Quang Trung toan lập mưu đánh Trung Quốc, đêm
ngày bàn bạc với các tướng tá, họ đều nói:
- Nên kê sổ dân cho đúng để kén quân lính, đó là việc cần kíp
ngày nay.
Vua Quang Trung lấy làm phải, bèn hạ lệnh cho các trấn phải đốc
thúc các xã sửa lại sổ đinh, phát "tín bài" (thẻ làm tin) để thống kê
dân chúng vào sổ, rồi cử người coi sóc xét hỏi. Tổng trưởng các huyện có nhiều
người vì cố tình giấu giếm mà bị chém. Việc đi lại trên đường, nhân dân đều lấy
làm khổ. Viên phân tri ở các huyện nhóm họp số dân đã ghi trong sổ lại, chiếu sổ
cấp cho mỗi người một cái thẻ; giữa thẻ in bốn chữ triện "Thiên hạ đại
tín" (niềm tin lớn của thiên hạ), bốn mép chung quanh thì viết họ tên quê
quán của những người có thẻ và in dấu ngón tay trỏ bên trái để làm bằng cứ. Mọi
người đều phải đeo thẻ ấy, gặp khi xét hỏi thì đưa ra trình; đó gọi là
"tín bài". Ai không có thẻ, tức là dân lậu, sẽ bị bắt đem sung quân
(bị đày đi các nơi biên giới xa xôi để làm lính thú) và bắt tội các người tổng
trưởng, xã trưởng của họ.
Sổ đinh thành rồi, vẫn theo lệ ba đinh bắt một người lính. Lại
sai các viên phân quản đem quân đến các xã vây bắt, tra xét. Vì thế, dân gian
nhốn nháo, nhiều người lẩn trốn vào các khe núi.
Có người ở làng Ngọc Điền, huyện Thạch Hà, trấn Nghệ An, tên
là Trần Phương Bính (nhiều sách chép là Trần Danh Bính), nguyên là con viên tiến
sĩ đời Lê xưa là Trần Danh Tố, không chịu đeo thẻ. Trấn thủ Nguyễn Diệu khen và
tha cho không bắt tội.
Bính là một người bản tính thông minh nhanh nhẹn, lại sẵn có
khí tiết, thường làm thơ để tỏ chí của mình, có hai câu rằng:
Tim gan chất chứa hờn trời đất,
Mặt mũi đành trơ với tháng ngày.
Về sau, các cống sĩ và các hào mục địa phương họp quân ở làng
Nga Khê, huyện Thiên Lộc, định đánh úp thành Nghệ An. Họ bèn suy tôn Bính làm
quân sư. Bọn Bính kéo quân đến xã Bình Lãng, ven núi Hồng Lĩnh để đánh nhau
cùng quân Tây Sơn. Bị thua trận, Bính liền trèo lên đỉnh núi cao nhất của núi Hồng
Lĩnh, tự tay đề một bài thơ vào vách chùa ở đó như sau:
Đền nước không còn chước,
Bên mình có mũi dao.
Ngoái cổ nhìn Hồng Lĩnh.
Chín mươi chín đỉnh cao.
Rồi Bính lấy dao đâm thọc vào bụng mà chết; quân dân nghe
tin, ai cũng thương xót.
Lại nói, vua Quang Trung, sau khi quyết định việc đánh Trung
Quốc, bèn sai bề tôi là Chiêu viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh, dâng biểu cầu
hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Điều đó không phải là bản
tâm của vua Quang Trung, chẳng qua chỉ muốn thử xem ý nhà Thanh ra sao mà thôi.
Nhưng vừa lúc ấy thì vua Quang Trung bị bệnh rồi mất. Hôm đó nhằm ngày mùa thu,
tháng tám năm Nhâm Tý (về tháng vua Quang Trung mất, có một vài tài liệu chép
là tháng 9. Nhưng theo sự chứng minh rất xác đáng của ông Hoàng Xuân Hãn (La
Sơn phu tử, tr. 158-160), dựa vào sách Đại Nam thực lục và tài liệu của các
giáo sĩ phương Tây đã chép lúc đương thời, thì vua Quang Trung đã mất vào ngày
29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792). Cũng theo ông Hoàng Xuân Hãn, thì việc Hoàng Lê
nhất thống chí chép mất vào tháng 8 như ở đây cũng không hẳn là sai; vì theo
sách lịch Tây Sơn đương thời, tháng 7 năm Nhâm tý là tháng thiếu, ngày 29 lại
là ngày cuối tháng, mà vua Quang Trung lại mất vào khoảng nửa đêm, như thế thì
chép tháng 7 hay tháng 8 cũng chỉ chênh nhau chừng nửa giờ mà thôi), sau khi
lên ngôi hoàng đế được 5 năm. Trước đó, khi sứ nhà Thanh sang phong, vua Thanh
có ban cho vua Quang Trung chiếc áo màu, trong thêu bảy chữ bằng kim tuyến: Xa
tâm chiết trục đa điền thử (câu này nghĩa đen là: "Bụng xe gãy trục, nhiều
chuột đồng". Theo Hán văn, chữ xa với chữ tâm hợp lại thành chữ Huệ tên
vua Quang Trung. Chuột thuộc về tý. ý nói năm tý vua Quang Trung chết). Bấy giờ
không ai hiểu ra sao, thì ra đến lúc này mới nghiệm.
Sau khi vua Quang Trung mất, việc cầu hôn và việc đòi đất
không thấu đến triều đình Trung Quốc, nên vua Thanh cũng không biết (theo gia
phả họ Vũ (Vũ Văn Dũng) thì tờ biểu đã đệ lên vua Thanh, và đã được vua Thanh
nhận lời gả công chúa cùng trả lại đất Quảng Đông. Sau nghe tin vua Quang Trung
chết nên việc đó mới đình chỉ).
Tháng ấy con trưởng vua Quang Trung là Quang Toản theo di mệnh
của vua cha, lên nối ngôi, đổi năm sau tức là năm Quí Sửu (1793) làm năm đầu
niên hiệu Cảnh thịnh, và truy tôn vua Quang Trung làm Thái tổ Vũ hoàng đế. Rồi
đó, Quang Toản sai sứ thần sang Trung Quốc báo tang, đem dâng các sản vật địa
phương và hai thớt voi đực; lại sắp xếp lễ cống hàng năm và làm tờ biểu xin
phong vương, để hai sứ bộ cùng đi một lúc. Trong tờ biểu có nói: "Vâng lời
dặn lại của vua cha, sau khi chết, không đưa di hài về quê hương, mà chôn cất ở
làng Linh Đường (thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội)) phía ngoài kinh thành để tỏ
lòng mến nhớ cửa khuyết...".
Vua Thanh khen ngợi, tức thì sai sứ thần sang làm lễ tế.
Quang Toản bèn làm ngôi mộ giả ở làng Linh Đường để nhận lễ thăm viếng của nhà
Thanh. Trong bài văn tế của nhà Thanh có câu: "Chúc ngôi Nam cực, lòng
trung đà tỏ trước sân triều; yên giấc Tây Hồ, trọn đời vẫn không quên cửa khuết".
Vua Thanh lại ban cho thuỵ hiệu là "Trung thuần" và
ban tặng một bài thơ, bảo khắc vào đá, dựng bên trái mồ vua Quang Trung để làm
nổi rõ sự vinh hiển.
Rồi đó, vua Thanh phong cho Quang Toản làm An Nam quốc vương.
Sau khi được phong, Quang Toản bãi lệnh đeo "tín
bài", triệt hồi các đạo quân đi bắt dân lậu, nghiêm cấm việc quấy nhiễu
nhân dân, dùng cậu ruột là Bùi Đắc Tuyên làm chức thái sư, coi tất cả mọi việc
chính sự của triều đình.
Vì thấy Quang Toản còn nhỏ, Đắc Tuyên ra mặt chuyên quyền,
tha hồ làm oai làm phúc, các quan văn võ đều nem nép kiêng sợ, mầm mống tai hoạ
bắt đầu từ đấy.
Lại nói, vua Lê từ mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) chạy sang đất
Trung Hoa, trọ ở thành Quế Lâm.
Mùa đông năm ấy, vua Thanh nghe lời bàn của bọn Khang An, Hoà
Khôn, phong vương cho Nguyễn Huệ, lại giáng chỉ đòi vua Lê vào Yên Kinh. Mùa
xuân năm Canh Tuất (1790), vua Lê bắt đầu lên đường, tháng năm mùa hè năm ấy
thì đến Yên Kinh. Các quan văn võ của nước ta trước sau sang đất Trung Quốc đều
được lần lượt đi theo.
Vừa khi ấy, vua Thanh đi tuần du, gặp bọn Lê Quýnh ở tỉnh Sơn
Đông, bèn sai người gọi vào ra mắt và dụ rằng:
- Chủ các ngươi đã xin yên ổn ở lại Trung Quốc, lũ các ngươi
giốc lòng cùng theo, thì nên lập tức gọt đầu gióc tóc, đổi đồ mặc để chờ mệnh lệnh.
Bọn Quýnh tâu rằng:
- Lũ tiểu thần từ xa xôi muôn dặm theo trốn sang đây, xin cho
được dùng phong tục bản xứ để ra mắt quốc vương, rồi sau sẽ xin vâng chỉ.
Vua Thanh khen ngượi hồi lâu, rồi bảo họ đi thong thả lên Yên
Kinh.
Lúc bấy giờ, vua Lê cùng thái hậu và con đầu của vua trọ ở cửa
Tây Định trong thành Yên Kinh, cạnh nhà Quốc tử giám, trước cửa có biển đề:
"Tây An Nam doanh" (Dinh An Nam phía tây). Còn các bề tôi thì ở trong
cửa Đông Trực, cạnh nhà Dương phố, ngoài cửa có biển đề: "Đông An Nam
doanh" (Dinh An Nam phía đông). Tất cả bọn đều được nhà Thanh chiểu theo số
người mà cấp phát cho lương ăn, và cho phép tự do qua lại.
Một hôm, nghe tin vua Thanh sắp ra Nhiệt Hà tránh nắng, mờ
sáng ngày mai thì lên đường. Nhân dịp đó vua Lê liền cùng các bề tôi thảo ra tờ
biểu xin quân cứu viện, rồi nhờ vào viên đô thống đội Cờ viền vàng tên là Kim
Giản, để xin yết kiến vua Thanh.
Đến khi xe vua Thanh đi qua, vua Lê cùng các bề tôi đều quỳ
xuống yết kiến ở mép đường bên trái. Xe vua Thanh dừng lại một chút, có viên
thông ngôn báo rằng: "Hoàng đế có chỉ khen thưởng". Rồi viên đó giục
họ lạy tạ và trở về doanh. Lát sau, đã thấy Kim Giản vâng chỉ vua Thanh phong
cho vua Lê chức tá lãnh, đời đời nối chức và được lĩnh áo mũ tam phẩm.
Vua Lê bất đắc dĩ phải nhận vậy. Cách mấy hôm sau, lại thấy
có viên quan ở nội phủ vâng chỉ vua Thanh đòi vua Lê vào sân điện, ban cho bốn
trăm lạng bạc và sai người sắp sẵn cho các thứ đồ vật. Còn những bề tôi đi
theo, đều được cấp mỗi người năm trăm đồng tiền. Các lễ mừng, lễ điếu ở trong
nước, đều chiểu theo như thể lệ đã định cho những người thuộc tám hiệu cờ.
Năm ấy, vua Lê thấy người Thanh không thể tin cậy được, bèn
cùng bọn Phạm Như Tùng, Hoàng ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết
Triệu, Lê Văn Trưởng, Lê Quí Thích và Nguyễn Đình Cẩm, người làng Hương Ngạnh,
huyện Từ Liêm, Lê Tùng người làng Tây Đàm, Lê Thức người làng Đáp Cầu, huyện Hoằng
Hoá cùng nhau uống máu ăn thề, rồi cùng thảo tờ biểu, xin quân cứu viện. Lại
bàn nếu xin quân không được, thì sẽ xin đất cũ là hai châu Tuyên Quang, Hưng
Hoá để thờ tổ tiên, hoặc lẻn vào Gia Định để mưu đồ việc khôi phục, nhỡ có gặp
sự bất trắc thì sống chết cũng liều.
Thảo xong tờ biểu, bọn họ đến báo trước cho Kim Giản biết,
Kim Giản không tiếp. Vua tôi nhà Lê cùng nhau rập đầu xuống đất mà kêu thật to.
Kim Giản bất đắc dĩ phải mời vào nhà, pha trà thết đãi, rồi bảo:
- Vương hãy cứ về quán trọ mà chờ, sẽ bàn bạc sau.
Được hơn một tháng, thấy có viên quan nhà Thanh tên là Khoa
Lan tới báo với vua Lê rằng: "Đã có chỉ truyền tạm cho vương vùng đất Khâm
Châu (thuộc Quảng Đông). Chờ đến năm sau vào dịp mùa xuân hoa nở sẽ trở về nước
cũng không muộn gì".
Vua tôi nhà Lê đều không tin.
Tháng ba, mùa xuân năm Tân hợi (1791). Hoà Khôn lập mưu chia
đám vua tôi nhà Lê ra mỗi người một nơi để họ khỏi kêu ca, bèn sai Khoa Lan cưỡi
ngựa tới nói dối rằng:
- Đã có chỉ truyền cho vương về ở đất Tuyên Quang, vậy các bề
tôi cần phải chỉnh đốn mũ áo để cho vương vào triều tạ ơn.
Các bề tôi nhà Lê ở doanh Đông đều tin là thật, bèn theo đến ấn
phòng. Khôn sai người lấy khoá sắt khoá luôn lại, rồi dùng xe trâu đưa họ đi ra
ngoài ba trăm dặm, an trí Hoàng ích Hiểu ở Y Lê, Lê Hân ở Phụng Thiên, Như Tùng
ở Hắc Long Giang, Quốc Đống ở Cát Lâm, Viết Triệu ở Trương Gia Khẩu thuộc Nhiệt
Hà, chỉ để một mình Trần Thiện ở lại hầu hạ quốc vương.
Vua Lê nghe tin ấy, lo giận bồn chồn, đến sáng sớm cưỡi ngựa
vào nhà Kim Giản, định kêu cho các bề tôi. Vừa lúc ấy, Kim Giản đã vào chầu vua
Thanh ở vườn Viên Minh. Vua Lê lập tức ruổi ngựa đi thẳng tới cửa vườn, nhưng đến
nơi thì bị lính canh cửa ngăn lại. Người dắt ngựa của vua Lê là Nguyễn Văn
Quyên, quê ở Bố Vệ, phục xuống đất kêu ầm lên. Bọn người Thanh sợ tiếng kêu gào
vang đến chỗ vua Thanh, bèn giật lấy con ngựa của vua Lê, rồi vực luôn cả nhà
vua lên xe bắt đến toà Thận Hình giữ lại.
Văn Quyên bèn cất tiếng mắng to:
- Bọn chó Ngô vô lễ, dám làm nhục vua ta!
Sau đó, Văn Quyên lập tức lấy gạch ở sân ném bừa vào bọn
chúng. Đám quân lính giữ vườn nổi giận, xúm lại đánh Văn Quyên gần chết, đoạn
cũng bắt đến giam ở toà Thận Hình đúng một tháng mới tha cho về. Văn Quyên nhân
thế bị bệnh mà chết.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Huy Túc đang lánh ở vùng núi Tản Viên (tức
núi Ba Vì ở Sơn Tây (Hà Nội)), nghe thấy việc ấy, cho Văn Quyên là có nghĩa,
bèn làm bài "Tán" như sau:
"Trung thay mã đồng! Giỏi thay mã đồng! (người hầu ngựa)
Mến chúa lòng trung nghĩa, theo đuổi việc binh nhung.
Tấc dạ như voi, khỉ (Đường Huyền-tông thường tập cho voi quỳ
lạy, lúc An Lộc Sơn cướp ngôi, cũng bắt voi quỳ nhưng voi không nghe. Đường
Chiêu Tông có con khỉ biết quỳ lạy; lúc Chu Toàn Trung cướp ngôi, cũng bắt khỉ
lạy, khỉ không chịu); một đức như kiến, ong.
Mạnh mẽ như loài gấu; thẳng thắn như chim hồng
Cắt đâm chẳng lánh, hổ doạ cũng xông.
Ngựa trời vung cẳng; hùm sói tranh phong.
Phì nguyền da ngựa (theo ý câu nói của Mã Viện nhà Hán:
"Làm trai nên lấy da ngựa bọc thây". Chỉ việc hăng hái hy sinh nơi
chiến trận); để tiếng vô cùng.
Kìa ai đó?
Xiêm bào ngoài mặt; sâu mọt trong lòng.
Ruồi xanh xu nịnh, hươu ngựa gian hùng (thơ "Thương
dăng" Kinh Thi ví bọn tiểu nhân như đàn ruồi xanh. Triệu Cao, gian thần
nhà Tần, chỉ con hươu mà nói với vua là con ngựa).
Sao chẳng bảo chúng:
Sung làm hẩu ngựa; bắt muỗi giết trùng.
Vậy dám đặt tên cho anh là Trung tráng công!"
Trong lúc vua Lê ở toà Thận Hình, một hôm Hoà Khôn sai người
đến doanh Tây, ép thái hậu bảo phải thảo tờ biểu nói rằng: quốc vương tình nguyện
ở lại đất Trung Quốc, việc xông vào cửa khuyết và làm huyên náo là tại các người
bề tôi gây ra...
Biểu đang thảo thì viên giám thần là Nguyễn Trọng Đắc trông
thấy, liền giật lấy bản nháp xé đi và nói:
- Bị người ta lừa dối mà đưa các bề tôi đến chỗ chết thì làm
thế nào?
Người Thanh lại bắt ép Trọng Đắc về ở doanh Tây, rồi cấm hai
doanh không được tự tiện đi lại với nhau.
Một hôm, con vua Thanh, tước vương thứ sáu, nhân lúc lui triều
thư thả, tới nhà Hoà Khôn nói chuyện, có bàn đến việc nước An Nam. Vương nói:
- Vua tôi họ Lê gặp nạn chạy sang nước ta, mà cầu cứu không
được, cũng nên thương xót, giúp đỡ họ. Chắc các bề tôi của họ cũng đều là người
trung nghĩa. Nay họ không có tội gì mà bắt giam ở đất xa, nước ngoài nghe thấy,
họ sẽ bảo Trung Quốc ra sao?
Khôn nói:
- Hoàng thượng đã có chỉ truyền như vậy, việc ấy đức vương
không cần phải biết đến!
Vương nói:
- Hoàng thượng tuổi đã già, việc nước đều đo quốc lão đây xử
trí; mọi việc đúng hay sai, quan hệ không phải nhỏ. Ta đây sao lại không cần biết!
Khôn vốn cậy thế vua Thanh yêu mến, lại ăn nói vô lễ, khiến
cho vương giận lắm, lập tức cầm chiếc bàn cờ đánh Khôn. Cả bọn người ngồi đấy đều
đứng dậy khuyên giải, can ngăn, Khôn mới thoát nạn.
Hôm sau, Khôn hậm hực vào kêu với vua Thanh. Vua Thanh tức
thì nổi giận lôi đình, sai người đòi vương vào, định tự tay đánh đòn. Viên quan
nội các là A Lâm rập đầu xuống đất cố sức can, vua Thanh mới chịu thôi, liền
sai người đánh vương ở trước sân điện mười gậy.
Vương lui ra, tức quá thành bệnh. Cách vài ngày, bệnh thêm nặng,
vương bèn gọi các vương thứ tám, thứ mười một và thứ mười bảy tới dặn rằng:
- Trong ba em, chưa biết sau này hoàng thượng lập ai? Hễ ai nối
ngôi thì phải trừ khử tên gian tướng ấy đi, đừng có để mối lo lại cho xã tắc!
Ba người nghe lời, đều lạy hai lạy xin vâng và lui ra. Sau
đó, vương mất.
Từ đấy, vua Lê không còn dám nói đến việc xin quân cứu viện nữa,
nhưng trong lòng uất ức không bao giờ nguôi.
Tới mùa hè, năm Nhâm Tý (1792), con đầu của vua Lê lên đậu rồi
mất. Nhân thế, vua Lê lo buồn sinh bệnh, thoi thóp nằm liệt không dậy được. Năm
sau, bệnh nhà vua càng nguy kịch, các bề tôi bị an trí ở những nơi khác đều
dâng biểu về hỏi thăm.
Lúc đó, có người gia đồng của Lê Như Tùng tên là Lê Huy Vượng,
vì có công hầu hạ khó nhọc, vua Lê cho làm con nuôi, đặt tên là Duy Khang, bảo
giữ việc thờ tự hoàng khảo và hầu hạ thái hậu.
Lúc hấp hối, vua Lê gọi các thị thần tới nhận lời trăng trối,
nhà vua nói:
- Trẫm gặp phải lúc vận nhà suy kém, không thể giữ được xã tắc;
phiêu bạt ở đất nước người để hòng tính việc khôi phục, lại bị đứa quyền gian
lường gạt; uất ức đến mãi bây giờ, phải ôm hận mà chết, thật do lòng trời gây
nên. Sau này nếu các ngươi được về nước, thì nên đèo nắm xương tàn của trẫm
cùng về, chôn ở cạnh lăng tẩm của các vị thánh hoàng đời trước, để tỏ rõ chí hướng
của trẫm. Các người nên ghi nhớ lấy và nói cho mọi người đều biết.
Các bề tôi đều khóc lạy, xin vâng lời.
Rồi đó vua Lê tắt thở, thọ 28 tuổi. Bấy giờ là ngày 16 tháng
mười, mùa đông năm thứ 58 niên hiệu Càn-long nhà Thanh (1792).
Vua Thanh sai dùng lễ quốc công an táng vua Lê ở khu Quảng
Lăng, ngoài cửa Tây Trực, đất rộng chừng ba mẫu, xung quanh có giậu ngăn; lại bảo
các bề tôi đi theo đều theo lễ mà chế đồ tang trở. Sau đấy, vua Thanh bèn cho
Duy Khang nối chức tá lãnh.
Nguyễn Viết Triệu ở Nhiệt Hà, tiếp được tin buồn, liền đặt
linh vị làm lễ thành phục, khóc lóc thảm thương, hôn mê luôn mấy ngày, rồi phát
bệnh mà chết.
Đến năm đầu niên hiệu Gia-khánh nhà Thanh, tức là năm Bính
Thìn (1796), hết trở vua Lê, Thái hậu thấy các bề tôi đi theo, ở nơi đất khách
cô đơn khổ sở, mà chưa biết đến ngày nào mới trở về, bèn dâng tờ biểu xin cho
các người theo trốn sang Trung Quốc đều được lấy vợ.
Vua Thanh cho phép và ban cho mỗi người tám lạng bạc, 35 đồng
tiền lớn để làm lễ cưới, bảo họ ai ở chỗ nào, cứ tuỳ tiện yên phận mà sinh cơ lập
nghiệp ở chỗ ấy.
Lại nói, vua Tây Sơn (từ đây, trong bản chữ Hán đều theo quan
điểm của triều Nguyễn dùng chữ "Tây nguỵ" để trỏ nhà Tây Sơn) là
Quang Toản, tuổi trẻ nối ngôi, Đắc Tuyên chuyên chính đã lâu, hình ngục phiền
hà, trong ngoài chia lìa, Bắc, Nam nhốn nháo, lòng người lung lay. Mặt khác,
quân của triều Nguyễn (trong bản chữ Hán, từ đây về sau đều dùng hai chữ
"hoàng triều" để chỉ triều Nguyễn (Gia-long)) từ năm Mậu thân (1788)
đã lấy lại thành Gia Định; năm Canh tuất (1790) lấy lại được hai phủ Bình Thuận
và Duyên Khánh. Từ đó trở đi, quân triều Nguyễn luôn luôn tiến đánh mặt bắc,
thanh thế rất mạnh. Mười ba thừa tuyên ở Bắc Hà cũng đều nghển cổ để chờ sự
trung hưng của triều nhà Nguyễn. Sự bại vong của nhà Tây Sơn, những kẻ am hiểu
tình thế đều nhìn thấy rõ ràng, nhưng riêng vua tôi nhà Tây Sơn thì vẫn không
biết.
Thật là:
Gặp nước thuồng luồng đà hoạt bát,
ở nhà én sẻ vẫn im lìm
Chưa biết sự thể ra sao? Hãy xem hồi sau phân giải.
-----------
Theo điển trong sách Khổng tùng tử, én sẻ ở trên mái hiên,
không biết rằng người nhà đã có lửa cháy... ở đây ý nói nhà Nguyễn đã gặp thời
cơ như thuồng luồng gặp nước; Quang Toản sắp bị diệt mà vẫn không biết gì cả.
Hồi thứ mười bảy
mất thành thăng long, vua cảnh thịnh bị bắt
táng lăng bàn thạch, nguyễn hoàng phi chết theo
Lại nói, vào năm đầu khi vua Tây Sơn Quang Toản mới lên nối
ngôi tức là năm Quí sửu (1793), đại quân của nhà Nguyễn (Nguyễn ánh) cả thuỷ lẫn
bộ, từ Gia Định kéo ra đánh vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc ở thành Qui Nhơn. Tướng sĩ
của Nhạc đánh mãi đã mệt nhọc, thế lực dần dần cùng quẫn, Nhạc bèn sai người đến
chỗ Quang Toản xin quân cứu viện. Quang Toản hợp các tướng mà bảo rằng:
- Ta nghe nói "môi hở răng lạnh, môi còn răng ấm",
nay vua bác có nạn mà sức chống giữ kém cỏi, không thể không cứu.
Rồi Toản cho đô đốc Nguyễn Diệu làm chức đại tổng quản, dẫn
quân vào Nam cứu Nhạc. Quân chúa Nguyễn lại rút về.
Tháng 8 năm ấy, Nhạc mất, con cả là Quang Thiệu lên nối ngôi.
Nhân thế, Diệu chia quân giữ lấy thành. Tiếng là cứu viện, nhưng thực ra là
thôn tính ngấm ngầm.
Năm sau, tức là năm Giáp Dần (1794), Quang Toản lại sai Đắc
Trụ (có sách chép Đắc Thân, là con Đắc Tuyên) làm chức tán nghị, đi vào Qui
Nhơn cùng với Quang Thiệu trấn giữ thành ấy và lấy Nguyễn Diệu làm thống suất,
lĩnh đại quân tiến đánh thành Nha Trang. Từ Lê Văn Trung trở xuống, tất cả bảy
tướng đều được gia phong làm tước quận công quản binh và nghe theo lệnh chỉ huy
của Diệu. Diệu tiến sát thành Nha Trang, mà quân tuần tiễu thì đã đến tận địa
phận tỉnh Bình Thuận. Quân nhà Nguyễn hết sức chống giữ khiến Diệu không thể thắng
nổi. Hồi đó, quân Tây Sơn luôn luôn đến xâm lấn miền Nam, hai bên chống chọi với
nhau đến hàng năm.
Thình lình Diệu nghe tin cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở
đều bị bọn tư đồ Dũng và thái bảo Hoá giết chết, bèn vội vàng kéo quân về, họp
bàn cùng bọn tướng tá, định dùng quân lực bắt hiếp bọn Dũng.
Nguyên từ năm Quang Toản mới lên ngôi tới khi ấy, Đắc Tuyên
thì chuyên quyền, còn Văn Sở thì trấn giữ thành Thăng Long, coi hết việc quân,
dân, rồi được thăng chức đại tổng lý, tước quận công. Năm ấy Quang Toản lại sai
đại tư đồ Dũng ra coi binh mã bốn trấn ở miền Bắc. Dũng đến nhà trạm Hoàng
Giang, gặp trung thư lệnh là Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó. Dũng cùng ngủ
đêm với Kỷ, Kỷ bèn nói với Dũng rằng:
- Quan thái sư (chỉ Đắc Tuyên) chức vị đã cao tột bực, trong
tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho
nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau
này ăn năn sao kịp?
Dũng vốn tin và trọng Văn Kỷ, bèn cho lời Kỷ là phải. Hôm
sau, Dũng đem quân bản bộ gấp đường quay về, hợp mưu với thái bảo Hoá, bắt phe
đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Qui Nhơn bắt Đắc Trụ và sai đô đốc
Hài ra thành Thăng Long lập mẹo bắt Ngô Văn Sở đưa về, rồi thêu dệt thành tội
trạng làm phản mà đem dìm xuống nước cho chết hết.
Quang Toản không thể ngăn chặn nổi, đành chỉ khóc lóc mà
thôi. Sau đó, Dũng lại sai Hoá vào giữ thành Qui Nhơn.
Chẳng mấy chốc, Diệu ở Nha Trang nghe tin, đêm ngày lo nghĩ,
chỉ sợ vạ lây đến mình, bèn bảo các tướng rằng:
- Chúa thượng không cương quyết, đại thần giết lẫn nhau, tai
biến không gì lớn hơn thế nữa. Nay hãy kéo về để dẹp yên cuộc phiến loạn ở bên
trong, rồi sau lại vào đánh giặc cũng được.
Các tướng đều nói:
- Xin theo mệnh lệnh!
Ngay hôm ấy Diệu giải vây cho thành Nha Trang rồi kéo quân về
thành Qui Nhơn. Hoá nghe tin, đến tạ tội trước. Diệu lờ đi không hỏi. Về tới
làng Yên Cựu (ở phía nam thành phố Huế, trên bờ sông Hương (Bình Trị Thiên)),
Diệu đóng quân ở bờ nam sông. Dũng cùng bọn nội hầu Tứ thì đem bản bộ đóng ở bờ
bắc sông, mượn mệnh lệnh của nhà vua để chống lại với Diệu.
Quang Toản sợ lắm, phải sai bọn trung sứ qua lại vỗ về, hoà
giải, Diệu mới chịu đem bọn tả hữu vào yết kiến Quang Toản và giảng hoà với bọn
Dũng; kế đó Diệu lại xin gọi Hoá về và xin cho Lê Văn Trung thay chân Hoá, trấn
giữ thành Qui Nhơn.
Lúc đó, bọn người ở bên cạnh Quang Toản ngày đêm gièm pha rằng,
oai quyền của Diệu lớn quá, đang toan có mưu khác. Toản tin là thật, liền rút hết
binh quyền của Diệu, chỉ cho giữ một chức quan vào hàng thị thần mà thôi. Bình
sinh Diệu vốn tương đắc với Lê Văn Trung, bèn gửi thư mật vào Qui Nhơn, hẹn
Trung cất quân lập Quang Thiệu làm vua mà bỏ Quang Toản. Trung theo lời, bèn
kéo quân về, đồng thời xin Quang Thiệu thân đem quân tiếp ứng phía sau.
Quân Trung về đến Quảng Nam, trong ngoài nhốn nháo sợ hãi.
Quang Toản họp các quan lại bàn bạc, mọi người đều nói:
- Bảo Văn Trung lui quân, phi Diệu không ai làm được!
Quang Toản liền sai Diệu đi. Văn Trung không báo trước với
Quang Thiệu mà một mình một ngựa theo Diệu về yết kiến Quang Toản. Quang Thiệu
nghi ngờ, sợ hãi, lập tức rút quân và voi về thành Qui Nhơn, đóng chặt cửa
thành để cố thủ.
Quang Toản sai tướng đến đánh liên tiếp mấy tuần không hạ được,
bèn tự mình làm tướng đem quân đi. Đến Lê Giang, có viên thái phủ tên là Mân
nói với Toản rằng:
- Cuộc biến loạn Quang Thiệu thực do Văn Trung gây nên, tội
không thể tha, xin giết ngay để răn kẻ khác.
Quang Toản cũng cho là phải, bèn sai vời Trung vào dinh, bảo
võ sĩ trói lại đem chém. Sau đó, Toản vỗ về tướng sĩ, hạ lệnh tiến đánh Qui
Nhơn, mười ngày hạ được thành, bắt sống được Quang Thiệu. Toản bèn để Mân ở lại
giữ thành Qui Nhơn, rồi cùm Quang Thiệu đưa về, dùng thuốc độc giết chết.
Nhà Tây Sơn kể từ khi Văn Nhạc, chiếm giữ Qui Nhơn vào năm Mậu
Tuất (1778), tức là năm thứ 39 niên hiệu Cảnh Hưng, thì tự xưng là thiên vương,
đặt niên hiệu là Thái Đức; năm Canh Tý (1780) lại xưng hoàng đế, lập Quang Thiệu
làm thái tử. Năm Quý sửu (1793), Nhạc mất, Thiệu lên nối ngôi, được năm năm, đến
năm Mậu Ngọ (1798) thì mất nước, tất cả là 21 năm.
Lại nói, sau khi Văn Trung bị Quang Toản giết, con rể Trung
là Chất nghi ngờ, sợ hãi, bèn phản Tây Sơn, vào Nam đầu hàng chúa Nguyễn ở Gia
Định. Chúa Nguyễn cho coi quân ngự lâm.
Nguyên lúc đầu, Chất thờ Quang Toản, giỏi về tài đánh dẹp,
làm đến chức đại đô đốc. Đến khi Văn Trung chết, Chất bỏ quân lính chạy trốn.
Thái phủ Mân sợ Chất làm loạn, liền lùng bắt rất gấp. Chất có người đày tớ
nghĩa hiệp hoá trang như hình dáng của Chất, rồi tự tử ở khe núi, để cho Mân
thôi, không lùng bắt Chất nữa. Chẳng bao lâu, Mân biết là giả dối, bèn treo giải
thưởng truy lùng Chất hết sức ráo riết. Chất bất đắc dĩ phải ra thú ở cửa quan
của Mân. Mân liền sai Chất coi toán quân tiền phong, để chờ sai phái, và định bụng
dùng quân luật mà giết chết. Chất biết ý ấy, bèn dỗ bọn tướng tá của y, gồm sáu
mươi người, đem quân và voi vào Nam, dâng biểu xin hàng. Sau Chất vâng mệnh
chúa Nguyễn đem quân đánh nhau với Mân. Quân Mân thua to, Mân phải chạy vào núi
rừng mà trốn; quân, voi, khí giới đều bị Chất thu sạch.
Quang Toản nghe tin, lại sai đại tư đồ Vũ Tuấn dẫn binh tới
trấn, chiêu tập tàn quân để đóng giữ.
Đến năm Canh Thân (1800), quân chúa Nguyễn vượt biển ra đánh,
sức Tuấn chống không nổi, dâng thành xin hàng. Chúa Nguyễn bèn đổi thành Qui
Nhơn làm trấn Bình Định, sai quan coi hậu quân là Tính quận công Võ Đình Tính
(cũng thường gọi là Võ Tính) đem quân đóng giữ, còn thượng thư bộ Lễ là Ngô
Tòng Chu thì làm chức hiệp trấn.
Được vài tháng, Quang Toản sai thống suất Diệu và tư đồ Dũng
đốc suất các đạo quân thuỷ bộ vào đánh Qui Nhơn. Diệu coi quân bộ, Dũng coi
quân thuỷ, hai đạo hợp sức mà đánh. Quân Nguyễn hết sức chống giữ bọn Diệu
không thể đánh thắng. Dũng bèn dùng ba chiếc tàu chiến lớn, chặn ngang cửa biển
Qui Nhơn, trên tàu lập chòi gác, đặt súng lớn; phía trong lại dàn quanh vài
trăm chiếc chiến thuyền, đốc thúc quân thuỷ canh giữ đề phòng quân cứu viện ở
ngoài đến.
Năm sau, bị quân Nguyễn đánh tan, tàu lớn và chiến thuyền đều
bị thiêu huỷ. Dũng lên bộ, dẫn tàn quân mà chạy, rồi hợp quân với Diệu.
Quân Tây Sơn đã mất đường thuỷ, bèn đắp luỹ đất, ụ đất ở xung
quanh thành Qui Nhơn, để đứng trên đó mà bắn vào thành; lại lập nhiều đồn trại
kiên cố, chứa chất quân lương, làm kế ở lâu. Nhưng quân Nguyễn canh giữ rất cẩn
mật, bọn Diệu không sao hạ được thành. Quang Toản rất lấy làm lo.
Lúc ấy lại có bọn cha cố của đạo Gia-tô tây dương (tiếng dùng
để gọi các nước phương Tây nói chung) ở trong nước Nam, đi khắp nơi dụ các đạo
đồ làm loạn. Các nơi nổi lên như ong, Quang Toản liền sai bắt bọn trùm trưởng của
họ đem giết chết, rồi triệt hạ các nhà giảng, phá huỷ các ảnh tượng và đốt các
sách tây của họ. Hễ bắt được đồ đảng của họ, lại bắt phải giẫm chân lên ảnh thì
mới tha, ai không chịu thì bắt sung quân nuôi voi, cắt cỏ cho voi ăn. Bởi thế,
giáo dân tức giận, càng xui giục lẫn nhau, đâu đâu cũng đều náo động.
Còn quân nhà Nguyễn thì hàng năm ra đánh, thanh thế lừng lẫy.
Mỗi khi gió nam nổi lên, thì nhân dân các trấn lại nói với nhau: "Chúa cũ
ra đấy!" (bấy giờ hàng năm cứ đến khoảng tháng 4, tháng 5 khi gió nam thổi
mạnh thì Nguyễn ánh đốc quân thuỷ bộ ra đánh, đến lúc có gió mùa đông bắc thổi
thì lại rút quân về. Người đương thời thường gọi những đợt tấn công như vậy là
những trận "giặc mùa". Bọn sĩ phu phản động chống Tây Sơn và ngả theo
Nguyễn ánh mới nhân đó, đặt ra câu ca dao: Lạy trời cho chóng gió nồm, Cho thuyền
chúa Nguyễn thuận buồm trẩy ra).
Lúc đó, nhà Nguyễn cho rằng tướng mạnh và quân tinh nhuệ của
Tây Sơn đều tụ họp cả ở Qui Nhơn mà Quang Toản ở thành Phú Xuân thì quân lính
phòng giữ rất yếu ớt, bèn đốc suất hết thuỷ quân và trên một ngàn chiến thuyền,
hẹn ngày thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc. Cờ quạt chói nắng, chiêng trống
vang trời, xông thẳng vào đánh cửa Thuận An. Tướng Tây Sơn là phò mã Trị đem hết
quân lính chống giữ, địch không nổi, phải tan vỡ. Quang Toản nghe tin, lại đốc
hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Toản
đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn bèn tiến lên, chiếm lại đô thành.
Hôm đó nhằm vào ngày mùng 3 tháng năm, mùa hè năm Tân dậu (1801), tức là năm thứ
24, kể từ khi chúa Nguyễn ánh quyền giữ việc nước.
Sau khi thua trận, Quang Toản rụng rời hoảng hốt, liền thay đổi
đồ mặc, cùng vài người quan hầu, cưỡi ngựa chạy trạm, chạy ra miền Bắc. Đến Nghệ
An ở lại vài ngày, rồi lại ra Thăng Long hộ họp tướng sĩ, lo việc chống giữ.
Tháng sáu mùa hè năm ấy, thình lình viên trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Thận sai
người báo tin lầu Rồng ba tầng ở đấy tự dưng đổ sụp. Những người nghe tin đều
cho là điềm chẳng lành.
Sang đầu mùa thu, quan nhà Nguyễn là Tường quang hầu cùng Thuỵ
ngọc hầu vâng chỉ đem quân theo hai đường Hương Sơn và Trấn Ninh ra đánh, để quấy
rối trấn Nghệ An. Nguyễn Thận sai tướng đón đánh, quân của Thận luôn bị thua.
Sau vài ngày, Tường quang hầu vì lũ lụt không thể ở lâu, bèn đem thuyền cũ cắm ở
cửa sông vùng Hương Sơn, đầu và đuôi thuyền bện cỏ làm hình quân lính, cho mặc
áo giáp cầm kích, trong thuyền đắp vài đĩa đèn để cho quân Tây Sơn nghi ngờ, rồi
nhân lúc đêm tối đem quân bản bộ cưỡi thuyền nhẹ xuôi dòng xuống phía đông, ra
cửa Nam Giới, vượt biển mà về Nam. Đến khi quân Tây Sơn biết thì quân của Tường
quang hầu đã đi được hai ngày rồi. Thuỵ ngọc hầu cũng từ Trấn Ninh rút quân
theo đường mạn ngược mà về kinh sư.
Ngày tháng tám năm ấy (1801), Quang Toản ở Thăng Long, xuống
tờ dụ vỗ về quân dân các trấn, và đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu
Bảo Hưng. Tháng mười một mùa đông năm ấy, Quang Toản thân hành đem quân và voi
của bốn trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc và hai trấn Thanh Hoa, Nghệ
An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.
Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802), quân nhà Nguyễn qua sông Gianh
tiến đánh hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chánh. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về
doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng năm mùa hè năm ấy (1802), chúa Nguyễn hạ
chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long, ban tờ dụ ra cho quân dân
Nam Hà, Bắc Hà đều biết.
Nguyên từ năm 49 niên hiệu Cảnh hưng, tức là từ năm Bính ngọ
(1786) trở về sau, nhà Nguyễn vẫn dùng niên hiệu cũ của nhà Lê.
Năm Nhâm Tuất (1802) này, lúc đầu cũng vẫn còn gọi là năm Cảnh-hưng,
đến bây giờ mới đổi ra niên hiệu mới.
Bấy giờ, trong thành Qui Nhơn hết ăn, quan quân đều đói mệt.
Viên tham tán là Ngô Tòng Chu uống thuốc độc chết trước. Tính quận công cũng tự
đốt mà chết. Tướng sĩ hơn vài vạn người đều ra thành xin đầu hàng. Diệu bằng
lòng nhận cho hàng.
Sau khi vào thành, Diệu lập tức bàn với bọn tướng tá đem quân
về đánh kinh thành (Phú Xuân (Huế-Bình Trị Thiên)). Qua vài ngày, Diệu đem quân
ra khỏi địa giới trấn Qui Nhơn thì bị viên phó tướng của nhà Nguyễn là Đắc lộc
hầu chặn lại. Nguyên từ năm ngoái, sau khi nhà Nguyễn lấy lại kinh thành, liền
sai Đắc lộc hầu tới đó lập đồn cắm trại để ngăn chặn sự tiến công của quân Tây
Sơn. Lúc ấy, Diệu đem quân về qua đó, đánh phá hàng nửa ngày mà không thể hạ được.
Quân Diệu bị quân nhà Nguyễn bắn sang, người chết và người bị thương gối nhau
mà nằm. Diệu chẳng biết làm thế nào, bèn đem quân và voi dọn núi mở đường đi
vào địa giới nước Ai Lao, định ra Nghệ An. Chúa Nguyễn nghe tin, lập tức cắt đặt
các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc.
Ngày 28 tháng năm, quân thuỷ của nhà Nguyễn đi tới cửa biển
Đan Nhai thuộc trấn Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng
tiến đến phía nam sông Thanh Long, nổ ba tiếng súng rồi vượt sang bờ phía Bắc.
Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn kinh sợ, bỏ chạy tán loạn. Quân nhà
Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân, rồi kéo cờ phấp phới. Viên trấn thủ của
Tây Sơn là Nguyễn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Đại, thiếu
uý Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Triêm tự thắt cổ; còn Thận
chạy ra trấn Thanh Hoa. Thế là quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An.
Diệu ở Qui Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ
An đã tan vỡ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long, do đường phía trên huyện
Nam đường chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người
một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi theo, bắt sống được Diệu.
Ngày tháng sáu, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em
Quang Toản là đốc trấn Bàn cùng bọn Thận, Đằng đều đầu hàng.
Ngày 18, vua Gia Long tiến ra Thăng Long, truyền lệnh cho các
quân đánh thành, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Quang Toản bỏ thành cùng với em
là Quang Thuỳ và bọn đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau, Thuỳ và
vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn Quang Toản cùng các bề tôi thì đều bị thổ hào
Kinh Bắc bắt được đóng cũi đưa đến trước cửa quân. Bọn quan lại ở các trấn hoặc
trốn, hoặc hàng, không một ai dám chống lại. Quân Tây Sơn đến đấy là hoàn toàn
bị dẹp tan.
Vua Gia Long ở lại thành Thăng Long, hạ chiếu kêu gọi nhân
dân yên ổn làm ăn, chia đặt quan văn, quan võ ở các trấn: lại vời các quan văn,
võ nhà Lê và các bậc kỳ lão, hỏi về công việc ở Bắc Hà; tha bớt thuế khoá, phu
phen, bãi bỏ mọi sự phiền hà, chiếu theo sổ đinh cũ của nhà Tây Sơn cứ bảy suất
đinh kén một người lính, rồi lập ra các quân năm doanh và mười cơ.
Vài tháng sau, vua Gia Long về kinh đô Phú Xuân, sửa lễ cáo
miếu dâng tù, đem bọn vua tôi Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo
cho khắp cả nước đều biết (theo Đại nam thực lục chính biên, thì Quang Toản
cùng những người con khác của anh em Nhạc, Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực
hình 5 voi xé xác để giết chết. Còn Huệ, Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả
bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ
của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm vố vĩnh
viễn trong ngục thất). Từ đấy Nam, Bắc yên vui, cõi bờ chung hiệp, cơ đồ sẽ thống
nhất muôn đời vậy.
Lại nói, từ khi thái hậu nhà Lê chạy sang Yên Kinh, ở tại
"Tây An Nam doanh" được bốn năm thì cháu đầu (tức con trai cả của
Chiêu Thống) mất, năm năm thì vua Lê mất. Những người đi theo đều bị Hoà Khôn
đưa đi các nơi khác, chỉ còn thái hậu và Duy Khang ở lại Yên Kinh mà thôi. Tấc
lòng cố quốc tha hương, tơ sầu muôn mối; mưa xuân sương thu, mấy độ thở than.
Thái hậu với các thị thần thường muốn dâng biểu xin về nước, nhưng vì đất nước
đang bị Tây Sơn chiếm cứ, lại đành phải ngậm sầu mà thôi.
Ngày 11 tháng mười, mùa đông năm thứ tư, niên hiệu Gia Khánh
nhà Thanh, tức là năm Kỷ vị (1799), thái hậu lo buồn thành bệnh, mất ở
"Tây An Nam doanh". Vua Thanh giáng chỉ sai quan bộ Lễ trông coi việc
tang, và đem di hài quàn tạm ở cạnh lăng vua Chiêu Thống.
Trước đó, từ năm ất Mão (1795), tức năm thứ 60 niên hiệu
Càn-long, vua Thanh đã truyền ngôi cho con thứ 11, tức là vua Gia Khánh. Sau
khi lên ngôi, vua Gia Khánh bèn tôn vua Càn Long làm thái thượng hoàng. Bấy giờ
vua Gia Khánh nghĩ lại lời dặn của anh, tức là vương thứ sáu, định giết Hoà
Khôn, nhưng vì Hoà Khôn là người được thượng hoàng yêu mến, nên vẫn chưa dám hạ
lệnh giết.
Đến mùa xuân năm ấy, thượng hoàng mất, vua Gia Khánh liền sai
bắt Hoà Khôn, ép buộc hắn phải tự tử, đồng thời tịch thu hết thảy gia tài của hắn.
Sau khi giết Hoà Khôn, nhân tiện bàn đến việc vua cũ của nước
Nam, vua Thanh cũng tỏ vẻ thương hại, bèn vời các bề tôi của nhà Lê bị an trí
trước kia, cho vào ở trong xưởng Lam thần, ban ơn rất hậu, đầu tóc, quần áo đều
cho được tuỳ tiện.
Năm Quý Hợi (1803), năm thứ tám niên hiệu Gia Khánh nhà
Thanh, tức là năm thứ hai niên hiệu Gia Long ở nước ta; lúc đó đã dẹp yên xong
quân Tây Sơn, nhà Nguyễn bèn sai sứ thần sang nhà Thanh, dâng biểu trần tình và
xin phong vương. Các bề tôi cũ của nhà Lê nghe tin, liền làm tờ bẩm trình với
quan nội các, xin đem linh cữu của vua cũ và thái mẫu về nước an táng. Viên
quan nội các đem việc ấy tâu lên.
Năm Giáp Tý (1804), vua Thanh giáng chỉ cho đưa di hài của
vua Chiêu Thống về táng ở quê nhà và cho các người bề tôi trốn theo đều được về
nước; lại truyền xuất tiền công cấp cho viên tá lãnh mười lạng bạc, viên kiêu kỵ
tám láng, còn từ lãnh viên trở xuống thì kể cả đàn ông đàn bà, mỗi người lớn được
năm lạng, mỗi người nhỏ được ba lạng; đồng thời bảo các tỉnh dọc đường phải
giúp đỡ và tiễn đưa họ ra cửa ải.
Tháng giêng năm ấy, các bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống
thì thấy da thịt đã nát hết, chỉ có trái tim không nát, mà sắc máu hầu như vẫn
còn đỏ tươi. Tính từ khi quàn đến bây giờ đã mười hai năm. Ai trông thấy cũng đều
lấy làm lạ và than thở. Rồi đó, họ lại lượm di hài của thái hậu và con đầu của
vua. Cả di hài của Viết Triệu và Văn Quyên cũng được đưa về theo.
Ngày 13 tháng 8 mùa thu năm ấy, di hài vua Lê đưa về đến cửa ải.
Hoàng phi là Nguyễn Thị Kim nghe tin, liền từ Kinh Bắc lên cửa ải để đón linh cữu.
Ngay từ hôm ấy, hoàng phi tuyệt thực, mỗi ngày chỉ uống một chén hồ, vật vã bên
linh cữu mà khóc lóc. Ngày 23 tháng 8 di hài đưa về đến Thăng Long, các quan dựng
rạp tế ở nhà Diên tự công. Hằng ngày hoàng phi chỉ nhấm vài đốt mía mà thôi.
Ngày 12 tháng 10, các quan thay hài cốt vua Lê sang một chiếc
tiểu khác, thấy trái tim vẫn còn y nguyên.
Tế xong, hoàng phi đến trước hương án khóc lóc thảm thiết và
nói với Diên tự công rằng:
- Ta nhẫn nhục vất vả đã mười lăm mười sáu năm trời nay,
trong những ngày ấy không phải là không dám chết, chỉ vì thái hậu, vua ta, con
ta vẫn ở bên Trung Quốc, âm tín không thông, còn mất không rõ, nên ta còn chờ đợi
một chút. Nay thái hậu cùng vua ta đều mất, con ta cũng chết, linh cữu đã về đến
nước nhà thế là việc của ta xong rồi, ta phải chết theo để hầu bên lăng tẩm mới
phải.
Rồi đó, hoàng phi liền uống thuốc độc tự tử. Ai nghe tin ấy
cũng đều thương xót. Sứ thần Trung Hoa bấy giờ đang ở đấy cũng than thở, ngợi
khen mãi.
Ngày 13, các quan lại sắm quan khách khâm liệm cho haòng phi,
rồi ngày 28 cùng rước xuống thuyền đưa về trấn Thanh Hoa.
Ngày 24 tháng 11, các quan làm lễ an táng vua Lê, thái hậu,
hoàng phi, con vua ở cạnh lăng vua Hiển-tông, trên núi Bàn Thạch (thuộc huyện
Thọ Xuân, Thanh Hoá). Hai quan tài của Nguyễn Viết Triệu, Nguyễn Văn Quyên cũng
táng theo ở gần đó.
Trước đây, khi di hài vua Lê đưa về đến ải Nam Quan, Duy
Khang bái biệt trước linh cữu rồi đi về nẻo Lạng Sơn. Còn viên trấn thủ cũ của
xứ Kinh Bắc là Lê Hân về đến Thanh Hoá thì bị bệnh chết. Vợ Hân là người Trung
Quốc đưa quan tài chồng về tại quê chồng ở làng Nộn Hồ (tục gọi là làng Non Hồ),
huyện Nam Đường, trấn Nghệ An, tìm họ hàng nhà chồng để làm lễ an táng. Rồi
nàng ở lại, không về Trung Quốc; lấy người cháu trong họ chồng làm con kế tự giữ
tiết trọn đời, đến 80 tuổi mới mất.
Các bề tôi theo vua Lê lúc đó đều về quê quán. Chỉ có Trịnh
Hiến lại ra làm quan với nhà Nguyễn; rồi sau về làng, vì việc tài sắc bị kẻ thù
giết chết.
Sau khi hoàng phi đã chết theo vua Lê, người khắp cả nước ta
và người Trung Quốc đều khen là bậc tiết nghĩa.
Có người làm bài "Tiêu cung tuẫn tiết hành" (bài
trường ca về người cung phi chết theo vua) để lưu truyền đời sau, lời rằng:
"Đất Thuận An cạnh sông Thiên Đức, (tức sông Đuống)
Người đời xưa gọi ấp Tỳ Bà.
Khúc tỳ mượn ý đặt ra,
Trời sinh người đẹp sánh hoa Đại-đề (tên một khúc ca
trong Cổ nhạc phủ, ca ngợi người con gái đẹp như hoa. ở đây mượn tên đó để chỉ
người con gái đẹp)
Khí tươi tốt nhóm về khuê tú,
Năm Cảnh hưng ất-dậu mừng sao,
Nhà sang sinh bậc nữ hào,
Công, dung, ngôn, hạnh vẻ nào kém đâu.
Tuổi mười bảy kén vào cung khuyết,
Bính ngọ liền sớm biết điềm hùng (điềm con gấu; thơ
"Tư can" Kinh Thi nói nằm mộng thấy con bi con hùng (gấu) là điềm
sinh con trai)
Ơn trên cao cả muôn trùng,
Đượm nhuần mưa móc phúc hồng chứa chan,
Năm đinh vị Tây Sơn khởi biến.
Cảnh phong trần chợt đến khôn lường.
Ngoài thành giong ruổi xe hương,
Quân hầu tan tác, bàng hoàng bên sông.
Vó ngựa lạc Văn phong mấy độ,
Theo từ vi (trỏ mẹ vua) đến Võ Nhai sơn.
Quần Hồng lận đận núi ngàn
Liễu bồ phải chịu muôn vàn long đong,
Xa trông đợi tin rồng vắng bặt,
Chốn nhàn đình nước mắt chứa chan.
Bỗng đâu tiếng trống nổi ran,
Tướng Cao Bằng rước xe loan lên đường.
Tới Mục Mã vội vàng nghỉ lại,
Thuyền vua giong lên ải Phất Mê.
Địch nghe tin, kíp đuổi kề,
Tên bay đạn lạc bốn bề rối ren.
Bè một mảng qua phen kinh hãi,
Bao hiểm nghèo rồi lại bình yên.
Vin cây giẫm đá trèo lên,
Mưa mù lam chướng đầy trên một trời.
Dân sở tại chào mời, đưa dắt,
Gập ghềnh theo lối tắt đường ngang.
Hết đường, tới núi, vào hang,
Giếng thơm trong suốt, nước đang dạt dào.
Biết động ấy thuở nào đào đục?
Mà hôm nay hưởng phúc thần tiên!
Nước ngàn rau núi cũng yên,
Chim kêu, hoa rụng, nỗi buồn tạm khuây.
Trong nội địa (chỉ Trung Quốc) tin đâu bay đến,
Quan trên liền sai khiến người sang.
Trước sau căn vặn tỏ tường,
Long Châu tạm đón dọc đường nghỉ chân.
Cấp phẩm vật mọi phần tươm tất,
Lính đưa đường cẩn mật, tận tình.
Rồi cho đến ở Nam Ninh,
Cửa nhà rộng rãi quán đình nghiêm trang.
Dù Nam, Bắc, đôi đường chua xót,
Lễ nghi thường chưa chút đơn sai,
Một niềm từ huấn vâng lời,
Tiêu phòng (phòng ở của cung phi có trát hồ tiêu vào
vách cho ấm; đây chỉ vợ vua) giữ lễ trong ngoài phân minh.
Nhờ thượng quốc đề binh cứu viện,
Muôn dặm xa đưa đến tin vui,
Về Nam cờ quạt rợp trời,
Vườn xưa điện cũ sáng ngời vẻ xuân.
Tiếng đàn, trống muôn phần rộn rã,
Cảnh cỏ hoa thoả dạ lâu nay.
Nào ngờ vạ gió tai bay,
Buồn vui chốc lát đổi thay khôn lường
Trên ngự giá vội vàng ra ải,
Từ vi và cháu dại cùng đi.
Não lòng thay lúc biệt ly,
Bỗng dưng kẻ ở người đi rã rời.
Sang phía tây tìm nơi lẩn tránh,
Cảnh chơ vơ, cô quạnh, đau thương.
My, Ngu xưa cũng một phường (Mỵ Châu, vợ Trọng Thuỷ; Ngu
Cơ, vợ Hạng Võ; cả hai người con gái đều chết trong cảnh loạn lạc, rồi Mỵ Châu
hoá thành viên ngọc, Ngu Cơ hoá thành cỏ thơm),
Ai làm nên nỗi dặm đường gian truân.
Xưa nhà Hạ có lần suy bại,
Một lữ, thành dấy lại cơ đồ.
Giáo gươm thượng quốc giùm cho,
Nằm gai nếm mật vua lo đủ điều.
Ví xã tắc có nhiều người giỏi,
Phận thuyền quyên đâu phải gian nan.
Khoảng năm quí sửu đồn sang,
"Chầu trời" tin ấy bàng hoàng một phen (chỉ
vào tin Chiêu Thống chết).
Nghĩ vì lẽ dân đen mong mỏi,
Nên Tây Sơn kia nói sai ngoa,
Đến khi vận mở nước nhà,
Sứ thần sang, mới biết là không sai.
Ví ngọc nát, về nơi chín suối,
Hương hồn khôn bạn với tiên quân (hai câu này ý nói, nếu
hoàng phi chết trước di thì hương hồn không được làm bạn với vua Lê, lúc đó thi
hài còn ở Trung Quốc).
Mười sáu năm, biết mấy lần,
Rắp theo Tôn muội làm thân chết chìm (Tôn muội tức em
gái Tôn Quyền và là vợ Lưu Bị đời Tam quốc. Tôn muội bị anh bắt về ở bên Giang
Đông; lúc Lưu Bị đánh Giang Đông bị hại, có tin đồn Lưu Bị đã chết, Tôn muội
bèn nhảy xuống sông tự tử. - ở đây ý nói hoàn cảnh chưa cho phép Lê Hoàng phi
chết được như Tôn muội).
Khiến gia thuộc dò tìm mấy độ,
Lên ải quan hỏi rõ nguyên nhân.
Thề sang tới mộ cố quân,
Quyết liều tính mệnh với khăn lụa là.
Sống là khó, xưa đà có biết,
Nào hay đâu muốn chết cũng gay.
Cơ trời sao khéo vần xoay,
Quan trên đã lấy việc này tâu lên.
Cho về nước, vua liền có chỉ,
Tiết Trung thu, Giáp Tý vừa qua.
Vội vàng lên đón linh xa,
Cháo cơm biếng nuốt, mặt hoa võ vàng.
Thuyền đủng đỉnh Lô Giang qua bến,
Kiệu toàn che, rước đến từ đường.
Thần liêu dâng chén quỳnh tương,
Trông lên, trăm họ đôi hàng lệ sa.
Tình khuê phụ thật là khó vẽ,
Rửa nước thơm làm lễ gọi là.
Mở quan, cúi mặt nhìn qua,
Chắp tay vái lạy lệ nhoà hai mi.
Cầm thuốc độc thầm thì từ tạ
Lui vào màn uống cả một hơi,
Trẻ già ai nấy rụng rời,
Triều đình nghe tiếng bồi hồi tiếc thương.
Ban gấm vóc bạc vàng phúng viếng,
Bao vần thơ lên tiếng ngợi khen.
Khen thay! một chết phỉ nguyền,
Thơm tho muôn thuở con thuyền thanh danh,
Kìa khuê các ngọc lành hiếm có,
Sá chi luống mộ vũ triêu vân (mộ vũ triêu vân: Chiều mưa
sớm mây. Nguyên ở tích Sở Tương Vương đi chơi Vân-mộng, nằm mơ thấy một thần nữ
chung chăn gối với mình, khi từ biệt có nói rằng: Nhà thiếp ở phía nam non Vu,
sớm làm mây chiều làm mưa... Sau người ta thường dùng chữ "mây mưa" để
chỉ việc trai gái giao hoan. - ở đây ý nói không thiết gì đến chuyện ái ân nữa).
Đai vàng nọ đứa nịnh thần,
Một đời ton hót làm thân gian tà.
Kịp đến lúc sơn hà biến đổi,
Trước quân thù quỳ gối, chắp tay.
Lạnh lòng khi đọc thơ này,
Khác nào roi quất, mặt dày mày ê.
Thân khuê các giúp bề Tiết giáo,
Mặt phấn son phụ đạo Cao hình (tiết giáo, cao hình là việc
giáo dục của ông Tiết và việc hình án của ông Cao Dao; hai ông này đều là những
danh thần mẫu mực đời vua Thuấn).
So thơ Cù, Cát đã đành (thơ "Cù mộc" và thơ
"Cát đàm" trong Kinh Thi, nội dung đều ca ngợi các bà hậu phi nhà
Chu),
Trúc Tương vằn đẹp lưu danh muôn đời (tương truyền vua
Thuấn chết ở núi Thương Ngô, hai vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đến viếng, khóc lóc
thê thảm, nước mắt thấm vào các khóm trúc ở xung quanh, thành ra các cây trúc
có vằn rất đẹp. Tục gọi là "trúc Tương phi" hoặc "trúc
Tương". Sau hai bà nhảy xuống sông Tương để chết theo chồng).
Người xưa làm việc dễ rồi.
Nay làm việc khó không người đó sao? (hai câu này ý nói,
chết ngay theo chồng như hai bà vợ vua Thuấn xưa đã làm, là một việc dễ; còn chịu
đựng đau khổ trong một thời gian dài rồi mới chết theo chồng như bà Lê hoàng
phi, là việc khó)
Bài này do bề tôi cũ nhà Lê là đồng bình chương sự Tô phái hầu
Nguyễn Huy Túc làm.
Tổng trấn Bắc Thành là Thành quận công (tức Nguyễn Văn Thành)
đem việc ấy đề đạt lên. Vua Gia Long bèn hạ chỉ ban khen, sai lập đền ở quê
hoàng phi, là xã Tỳ Bà thuộc huyện Lang Tài để thờ; cấp ruộng tế và tha thuế
khoá cho dân làng ấy để dùng vào việc đèn nhang thờ cúng: lại sai dựng bia khắc
chữ để nêu gương tiết hạnh.
Còn các bề tôi đi trốn theo vua Lê thì đến mùa hè, năm Tự Đức
thứ 14 (1860), các quan ở Bộ theo lời bàn kê rõ lý lịch, vâng chỉ dụ của nhà
vua cho lập đền thờ ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thuỵ Chương, thuộc
huyện Vĩnh Thuận. Thứ tự các bài vị đều sắp đặt theo như lời bàn của Bộ. Chính
giữa là linh vị của Trường phái hầu Lê Quýnh đặt thuỵ hiệu là "Trung Nghị".
Bên tả bày linh vị của mười một người, gồm có đề lĩnh Nguyễn Viết Triệu, thượng
thư Bút phong Đình Giản, Đinh võ hầu Trần Quang Châu, Trần Danh Kệ, hữu thị
lang Nguyễn Huy Diệu, trấn thủ Lê Hân, chỉ huy Lê Doãn Trị, chưởng tứ bảo Lê
Quí Thích, Nguyễn Hùng Trung, Lê Tùng, tả tham chính Kinh Bắc, Bình vọng Lê Trọng
Trường. Bên hữu bày linh vị của mười một người, gồm có tĩnh nạn công thần Trần
Danh án, thanh hình hiến phó sứ Tuyên Quang Nguyễn Đình Viện, nội thị Nguyễn
Quyên, Trần Đĩnh, đốc đồng Nguyễn Quốc Đống, Địch quận công Hoàng ích Hiểu;
Nguyễn Đình Miên, Đoàn Thận Xưởng võ uý Nguyễn Trọng Du, Lê Thức, Cận quang hầu
Phạm Như Tùng. Tất cả hai mươi hai người ấy đều được đặt thuỵ hiệu là
"Trung mẫn".
Ngoài ra, ở phía đông thờ năm người là Nguyễn Ngọc Liễn,
Vương Triệu, Vương Chấn Thiều, Tôn Hạp, Lê Diên Định. ở nhà phía tây thờ năm
người là Trần Lương, Trần Đăng, Vũ Trọng Dật, Trần Dần, Trần Hạc.
Từ Lê Quýnh trở xuống cộng ba mươi ba người, trên đầu đều đề
là "Cố Lê tiết nghĩa thần" (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê) và ngôi đền
cũng đề là "Cố Lê tiết nghĩa từ" (đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê).
Việc ấy nêu lên ý nghĩa giáo huấn của triều đình, là muốn gạn đục khơi trong và
bồi đắp phong tục, khiến cho người sau xem đấy cũng biết rằng: Vì nước, người
ta dù có phải chịu khốn khổ trong một lúc mà vinh quang sẽ lưu truyền muôn thuở
vậy.
Ngô Gia Văn Phái
Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét