Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025
Tiếng đàn năm cũ
Trăng tròn vành vạnh, chênh vênh trên tán cây phượng già bên kia đường. Ngàn có cảm giác như cành lá được dát một lớp vàng trong suốt, mềm mại, huyền hoặc. Dòng sáng nhạt dần khi trăng lững thững đi lên vòm trời lồng lộng gió. Ngàn bất giác lạnh và chợt nhớ tiếng đàn năm cũ.
Hương vị quê nhà
Hương vị quê nhà
Tuyết bao phủ ngọn đồi, bám quanh hàng cây, trùm lấp
dòng sông, xóa tan dấu tích con đường. Tuyết trắng trời! Tuyết tràn ngập! Tuyết
chở giá rét mùa đông và bão tố về đây vây bọc lấy tôi.
Đặt tờ đô la trên lòng bàn tay, tôi ngắm nhìn nó. Tôi đã giữ
tờ giấy bạc nầy gần năm năm. Đó là số tiền đầu tiên tôi kiếm được từ tuyết. Hôm
ấy, tuyết cũng dầy đặc như bây giờ. Người ta trốn buốt lạnh trong những căn
phòng cửa kính, có lò sưởi. Bên ngoài, mọi vật như tê đi, ngất lịm vì bị ướp
trong khoảng không gian băng giá.
Khác với người lớn, trẻ con háo hức nhìn ra khung kính. Chúng
thích thú thấy tuyết biến màu xanh của hàng cây trước ngõ thành một dãy cổ thụ
trắng xóa, bạc đầu. Tuyết lất phất. Tuyết bay bay. Tuyết mang những tiếng hú hú
dài vang xa rồi quay vòng lại. Khu phố cũ bỗng dưng lạ lẫm, huyền hoặc như
thành trì trong cổ tích. Tony, một chú bé mơ mộng kể cho cha mẹ nghe mơ ước của
mình. Chú muốn chạy ra giữa trời. Tuyết sẽ bám đầy tóc, đóng quanh người chú
như hàng cây kia đang đông cứng, hóa thạch. Người ta sẽ gọi Tony là “Người tuyết”.
Đời nào ba mẹ Tony đồng ý nhưng họ nghĩ ra một sáng kiến để
làm vừa lòng đứa con trai độc nhất bằng cách thuê người lấy tuyết nắn tượng.
Không ai dại gì trong cơn bão tuyết mà ra ngoài trời để nhận số tiền ít ỏi. Một
trăm “đô” không đủ mua quan tài nếu nhỡ bị chết cóng. Nhưng, tôi lại chính là kẻ
khờ khạo ấy. Tôi muốn sống bằng chính đồng tiền của tôi tạo ra. Tôi muốn được hồi
sinh!
Tôi đã chết từ khi rời khung cửa máy bay. Nó đã mang tôi từ
vùng đất quê hương sang xứ sở giàu có nầy. Nơi mà Kha, chồng tôi đã định cư và
nhập quốc tịch Mỹ. Tôi chờ đợi ngày gặp lại anh như nắng hạn chờ mưa. Tôi yêu
anh! Vắng anh, cơm không thể làm tôi no. Áo không đủ ấm cho cơ thể và mọi thứ đều
trở nên vô nghĩa. Những lá thư của anh không làm tôi an tâm mà chỉ đốt cháy
lòng tôi nỗi nhớ anh. Khi mọi thủ tục xuất cảnh hoàn tất, ngồi trong máy bay
sang Mỹ, tôi muốn điên lên vì sung sướng. Trái tim tôi mọc cánh bay bổng ước
mơ. Tôi sẽ sà vào lòng anh. Mặc kệ dòng người đông đúc tại phi trường với những
nụ cười hóm hỉnh, những đôi mắt tò mò chế giễu, tôi sẽ nhìn tận mặt anh. Tìm lại
nét đáng yêu ngày nào hai đứa mới quen. Tôi nắm lấy tay anh, đi bên anh như cô
dâu e thẹn sánh vai cùng chú rể. Tôi sẽ… Tôi sẽ rất nhiều thứ.
Nhưng, Kha không đi một mình đến đón tôi. Bên anh là người
đàn bà lạ. Bàn tay đeo đầy nhẫn vàng nắm lấy cánh tay Kha. Khuôn mặt chẳng có
nét gì sắc sảo nhưng nhờ trang điểm khéo léo đã trở nên quyến rũ. Nghiêng đầu tựa
vai anh, bà ta nũng nịu thì thầm gì đó khiến Kha mỉm cười thích thú. Khi nhìn
thấy tôi, Kha không dám chạy đến mừng. Anh mỉm cười, gật đầu chào lễ độ như người
lạ. Và, tôi biết, từ lúc đó, tôi mất anh. Tôi đã chết! Họ đưa tôi về một căn
phòng tiện nghi bằng chiếc mercedes của người đàn bà Việt Nam mang quốc tịch Mỹ
ấy. Kha giải thích:
- Đây là nhà của em. Cathy thuê cho em đó. Anh rất tiếc!
Trong lần đi lo giấy tờ cách đây một tháng, anh đã gặp Cathy và yêu cô ấy. Anh
không thể sống thiếu Cathy. Anh định viết thư xin lỗi em, đề nghị em ở lại Viêt
Nam. Nhưng, giấy tờ đã xong. Vả lại, Cathy bảo rằng dù sao cũng tốn kém rồi,
nên để em sang đây, giúp em làm ăn hầu chuộc lại lỗi lầm của anh và cô ấy. Anh
hứa sẽ lo hết mọi thứ cho em. Em được sống trong giàu sang, sung sướng.
Ngừng giây lâu để xem tôi phản ứng ra sao, thấy tôi im lặng,
anh tiếp:
- Em muốn gì anh cũng chiều, miễn là…
Tôi ngắt lời:
- Ly hôn?
Kha nhìn tôi, mặt đỏ ửng, không biết vì xấu hổ hay xúc động:
- Em vẫn thông minh như ngày nào! Chắc em cũng hiểu rằng dù
em không đồng ý cũng không thay đổi được gì. Anh mong em hiểu là anh muốn đôi
bên đều có lợi. Rồi em sẽ thấy New York là thiên đường.
Khi họ đã về nhà riêng, tôi khép cửa “thiên đường” bắt đầu
công việc biến thân thể mình thành xác chết. Và làm cho cái “thiên đường” này
thành một “ngôi nhà mồ”. Tôi mở tung hành lý tìm chai thuốc ngủ. Sơ ý, tôi đánh
rơi hộp mứt sầu riêng xuống nền nhà. Mùi hương ngào ngạt lan tỏa khắp nơi, gợi
nhớ quê hương với vườn sầu riêng của ngoại. Những hàng cây khẳng khiu, cành
ngang xấu xí, màu lá xanh vàng, héo hắt, mệt mỏi khép hờ, khiến thoạt nhìn cứ
ngỡ cây sắp chết khô. Vậy mà, khi gió mùa thổi về, cây trở mình chìa ra những
chùm hoa trắng tinh khôi. Đứng giữa vườn lúc ấy, tôi phải ngẩn ngơ tưởng là
xuân đã về rồi. Hoa sầu riêng thơm chẳng khác hương bưởi lan tỏa trong vòm lá
quấn quýt bên tôi. Tôi tha hồ tung tăng giữa khoảng không gian thơm lừng. Những
cánh hoa nhỏ tàn dần, nhường cho trái xuất hiện. Lạ làm sao! Cuống hoa bây giờ
ngày cứ một to hơn để giữ chặt trái trên cành. Mỗi lần nhìn dáng méo mó, gai
góc của trái sầu riêng. Tôi ngạc nhiên chẳng hiểu vì cớ gì bên trong nó lại ẩn
chứa một hương vị độc đáo, diệu kỳ. Tôi thích ăn sầu riêng lắm. Cứ đến tháng
năm là tôi về thăm quê ngoại. Bà hay đùa:
- Nhớ ngoại hay nhớ sầu riêng vậy?
Tôi bẽn lẽn thưa:
- Con nhớ ngoại nhiều hơn!
Sau đó, tôi tha hồ thưởng thức sầu riêng. Bao giờ, tôi cũng
phải hít hà:
- Thật là tuyệt, hả ngoại!
Ngoại cười hiền lành rồi đem mớ vỏ ra sân phơi, bà bảo:
- Khói sầu riêng cũng thơm lắm. Nhưng bọn gián, rận rệp, lại
sợ mùi thơm ấy. Nếu đem treo một cái vỏ sầu riêng dưới gầm giường thì lập tức mấy
chú rệp sẽ bồng bế nhau di tản sang nơi khác.
Tôi đùa:
- Ngoại ơi! Sau này, con lập gia đình, nếu chồng con có vợ
bé, ngoại cho con vài quả sầu riêng nhé! Con sẽ ném vào mặt tình địch cho nó rỗ
mặt mới được.
Bà phì cười:
- Làm vậy ác lắm cháu ơi!
- Chứ làm sao hả ngoại?
Bà lặng đi giây lâu. Có lẽ bà nhớ lại hoàn cảnh của bà:
- Cháu hãy về đây sống với ngoại!
Tôi ném chai thuốc vào tường. Mảnh thủy tinh vỡ cùng những
viên thuốc ngủ văng tứ tung. Đứng bật dậy, tôi thảng thốt gọi:
- Ngoại ơi!
Ngay hôm sau, khi Cathy và Kha trở lại, hai người đều phải
kinh ngạc trước thái độ bình tĩnh của tôi. Họ đồng ý cung cấp tiền bạc, sắp xếp
cho tôi đi học ngoại ngữ và mọi thứ khác với điều kiện tôi phải ký tên vào tờ
đơn xin ly dị.
Ngoài giờ học, tôi lân la làm quen những người gần đó để tìm
việc làm. Và, công việc đầu tiên của tôi là “nắn tượng tuyết”.
Với cây xẻng nhỏ, tôi băng ra ngoài trời. Hai hàm răng run
lên va vào nhau nghe cồm cộp. Bàn tay tê cứng đánh rơi cái xẻng xuống nền tuyết.
Tôi muốn chạy vào nhà, từ chối công việc điên rồ nầy nhưng nhớ đến vẻ lạnh lùng
của Kha, ánh mắt khinh bỉ của ả Cathy mỗi lần trao tiền cho tôi, tôi cương quyết
phải tiếp tục làm cho bằng được để có thể sống bằng đồng tiền của chính mình. Bỗng
dưng, tôi cảm thấy cái lạnh như giảm đi, máu nóng chảy dồn dập. Nhấc xẻng lên,
tôi hăng hái đắp tuyết thành một cột trụ cao lớn. Tôi dùng con dao nhỏ khắc họa
khuôn mặt người lên tuyết. Tôi khắc đôi mắt lãng mạn, đa tình, cách nhếch mép đểu
cáng lên môi hình tượng và tôi đội cho nó chiếc nón nỉ, khoác lên vai người tuyết
cái áo dạ cũ dành cho việc hóa trang. Tôi bàng hoàng nhận ra Kha trên hình tượng
tuyết. Tôi run rẩy vuốt ve đôi má lạnh buốt. Tôi hôn đắm đuối đôi môi cứng đờ,
không cảm xúc ấy rồi tựa đầu lên vai anh, tôi ngất lịm.
Tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trong căn phòng sang trọng của biệt
thự. Người ta đã đưa tôi vào đó, cho tôi sưởi ấm. Vị bác sĩ giúp tôi hồi sức
cũng là người gốc Việt đã chân thành khuyên bảo:
- Tôi sẽ tìm việc làm giúp cho cô. Nhưng cô nên xem tiền chỉ
là phương tiện trong cuộc sống hơn là mục đích của đời mình.
Tôi ngậm ngùi giải thích:
- Ở đây, mục đích của tôi là tiền. Khi nào được hồi hương, tiền
sẽ biến thành phương tiện, thưa ông.
Hôm nay, ngày cuối cùng tôi sống trên đất Mỹ. Nơi mà nước mắt
và máu tim tôi bị vắt đến khô cạn. Nơi mà tôi lăn mình trên đớn đau, vật lộn với
công việc để tìm lãng quên và hái ra tiền. Những tờ giấy bạc được xếp cẩn thận
trong ngăn tủ. Chúng nằm yên chờ giờ hóa thân thành phương tiện để biến nơi tôi
trở về thành một thiên đường nhỏ.
Ngày mai, New York ở lại sau lưng, cùng với quá khứ xa xôi,
phiền muộn. Ngày mai, tôi về với quê hương. Khi rời khung cửa máy bay, tôi sẽ lại
là tôi năm nào. Vườn sầu riêng của ngoại mùa nầy chắc nở đầy hoa trắng! Ôi,
hương sầu riêng rồi lại bủa vây tôi! Và, ngoại tôi lưng còng, tóc bạc ra tận
ngõ dang tay thì thầm:
- Cháu đã về với ngoại!.
Nguyễn Thị Mây
Theo https://vietvanmoi.fr/
Chuyện tình kể trong "Mưa xuân"
Chuyện tình kể
trong "Mưa xuân"
‘Mưa xuân’ là một bài thơ tiêu biểu của Nguyễn
Bính.
Từ nhan đề bài thơ, hình ảnh “Mưa xuân” trở thành một
tín hiệu nghệ thuật xâu nối mạch ngầm mười khổ thơ toàn bài. Trên nền không
gian của mưa xuân là câu chuyện tình yêu thầm kín được nhân vật trữ tình “em” kể
lại với một giọng điệu nhẹ nhàng, thiết tha, sâu lắng.
1. Mùa Xuân đi vào thơ ca từng làm nên những tiếng thơ
trong trẻo, náo nức, vui say. Với Hàn Mặc Tử, “Mùa Xuân chín” hiện
lên với gam màu ấm nóng, gợi khoảnh khắc rạo rực của nhân vật trữ tình:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.
Trong bộ tứ bình cảnh sắc bốn mùa của “Việt Bắc”, nhà thơ Tố
Hữu điểm một nhành xuân bằng sắc trắng tinh khôi: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”.
Mùa Xuân Tây Bắc đi vào thơ Chu Thùy Liên bằng hình ảnh căng
tràn sức sống: “Cành mận bung cánh muốt”.
Hòa âm cùng dàn hợp xướng thơ xuân, nhà thơ Thanh Hải cũng
góp một giai điệu thật tươi tắn, rộn ràng – một “Mùa Xuân nho nhỏ”:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Nguyễn Bính cũng từng đem đến cho thơ xuân bằng một mùa xanh:
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.
Bắt nhịp cùng sắc màu tươi tắn, căng tràn sức sống của mùa
Xuân đất trời, và tiếng xuân rộn ràng, hồ hởi của lòng người, một lần nữa, với
thi phẩm “Mưa xuân”, Nguyễn Bính đã đem đến cho thơ xuân một tứ thơ đẹp,
mang nét đặc trưng của mùa Xuân Đồng bằng Bắc Bộ:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Mưa xuân là dấu hiệu thời tiết của mùa Xuân. Mưa xuân thường
nhẹ, bay – còn gọi là mưa bụi. Từ láy “phơi phới” trong câu thơ “Bữa ấy
mưa xuân phơi phới bay” vừa để chỉ trạng thái “bay” của mưa vừa diễn tả nỗi
mừng vui, khấp khởi của người đang ngắm mưa. Sự giao thoa giữa đất trời và lòng
người làm cho cảnh vật trở nên sống động, có hồn, mang tâm trạng.
Giữa không gian mưa xuân bay, là hình ảnh bình dị, quen thuộc: “Hoa
xoan lớp lớp rụng vơi đầy”. Hoa xoan màu tím, có pha chấm trắng, cánh nhỏ li
ti, thường nở vào đầu tháng Ba, tức vào độ giữa mùa Xuân.
Hoa xoan lại mang vẻ đẹp đặc trưng của nông thôn Việt Nam,
mang hồn xuân của vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Hoa xoan ở đây không phải được miêu tả
ở dạng cảnh sắc, mà trong trạng thái “lớp lớp rụng vơi đầy”. Cái “vơi đầy” của
lớp lớp những cánh xoan rụng xuống vừa gợi cảnh quen của bức tranh mùa Xuân
thôn quê vừa gợi cái xao xuyến của lòng người trước cảnh xuân.
Mưa xuân ở đây còn mang theo chút se lạnh, nhất là khi về
đêm:
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay dưới mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh.
Mưa lúc này dường như đã nặng hạt, đã thành giọt nhỏ xuống
trước mái hiên. Mưa mang theo hơi lạnh, “Em ngửa bàn tay trước mái hiên” và cảm
nhận được “chấm lạnh” khi từng giọt mưa rơi xuống.
Khí tiết đặc trưng của mùa Xuân Đồng bằng Bắc Bộ từng được
Nguyễn Bính nhắc đến trong bài thơ khác:
Chiều ấm mùi hương thoảng gió đưa
Tà tà mưa bụi rắc lưa thưa
Cây cam cây quít cành giao nối
Lá ngửa lòng tay hoa đón mưa.
(Mưa xuân II)
Nguyễn Bính được xem là nhà thơ của làng quê Việt Nam, với những
bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc. Thơ ông đến với người đọc như một cô gái
quê kín đáo, duyên dáng. Người đọc bắt gặp ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm,
thiết tha, đậm hồn dân tộc, gần gũi với ca dao, dân ca.
Trở lại với bài thơ “Mưa xuân”, có thể thấy, những dòng
thơ mở đầu làm hiện lên khung cảnh thôn quê quen thuộc, ở đó hồn quê thu về
trong vẻ hồn nhiên, yêu đời của một cô gái tuổi đôi mươi. Nhưng đây không phải
là bài thơ đặc tả cảnh xuân, cảnh quê, toàn bộ không gian mùa Xuân trong bài
thơ được miêu tả trong ý đồ nghệ thuật của tác giả nhằm làm nền cho một câu
chuyện tình yêu thầm kín của cô gái thôn quê. Không gian ấy vừa mang nét đẹp
riêng, vừa phù hợp để diễn tả tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình. Đó là
không gian biết nói, biết rung động, biết cất lời.
2. Vào mùa Xuân ấy, trong đêm mưa xuân ấy, có một câu
chuyện tình thầm kín của cô gái thôn quê được kể. Nhân vật trữ tình hiện lên
qua lời bộc bạch chân thành ngay từ những câu thơ mở đầu:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Chỉ vài lời tự bạch, người đọc có thể hình dung được về công
việc, về hoàn cảnh sống của cô gái: Làm nghề dệt vải, sống cùng mẹ già. Ngầm
sau đó còn là lời nhắn gửi: “Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/ Mẹ già chưa bán chợ
làng xa”. Phép so sánh “lòng trẻ” với “cây lụa trắng” thật độc đáo.
Hình ảnh “cây lụa trắng” vừa gần gũi, thân quen vừa giàu sức
gợi – gợi vẻ đẹp tinh khôi của người con gái, gợi vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách, gợi
sự trong trắng, thiêng liêng. Sau sự tự ý thức về giá trị, cô gái thổ lộ: “Mẹ
già chưa bán chợ làng xa”. Lời tự bạch táo bạo nhưng lại được nói một cách ý nhị,
kín đáo nhờ biện pháp so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong ca dao. Thơ Nguyễn Bính mới
nhưng gần gũi cũng bởi cách nói, cách so sánh như thế.
Câu chuyện tình yêu được kể tiếp khi nhắc đến sự việc:
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay.
Hội làng là một nét văn hóa của người Việt xưa, đặc biệt là ở
vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Người ta đến hội làng, trước là để xem hội, sau nữa là để
gặp gỡ, giao duyên. Vì thế mà, ngay khi biết “thôn Đoài hát tối nay”, trong
lòng cô gái đã dấy lên cảm xúc:
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh.
Cả khổ thơ như bị “giăng tơ” bởi tâm trạng thổn thức của nhân
vật trữ tình. Trong lòng “em”, cảm xúc rạo rực, đắm say đang dâng trào nhưng
không biết thổ lộ ra sao, vì không biết tình cảm của “anh” thế nào. Cảm xúc đó,
ban đầu còn cố giấu kín trong lòng, nhưng rồi, không thể kìm nén được, nó tràn
lên câu chữ, hiển hiện ra bên ngoài: “Em ngừng thoi lại giữa tay xinh/
Hình như hai má em bừng đỏ”.
Đây có lẽ là những câu thơ thần kì, vì nó đã bắt được cái khoảnh
khắc rung động tận sâu bên trong tâm hồn con người. Đằng sau cái “bừng đỏ” trên
hai má em là tình yêu không thể giấu kín, là nỗi thẹn thùng, xấu hổ và cả chút
e dè, ngại ngùng khó nói ra của một cô gái.
Nhưng khi tình yêu trong lòng trào dâng mãnh liệt, “em” buộc
phải thú nhận: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”. Lời thơ giăng mắc tơ lòng,
nhưng cứ được bắt đầu bởi những phỏng đoán “hình như” (hai má em bừng đỏ), “có
lẽ” (là em nghĩ tới anh). Điều này làm cho câu thơ trở nên nhẹ nhàng, mềm mỏng
hơn, lời bộc bạch tình yêu trở nên kín đáo, tình tứ hơn.
3. Thời gian trôi dần về đêm, khi “Bốn bên hàng xóm
đã lên đèn”, cô gái đứng trước hiên nhà, cảm nhận mưa chấm lạnh xuống bàn tay
và đoán định: “Thế nào anh ấy chả sang xem”. Và thế rồi, “Em xin phép
mẹ vội vàng đi”.
Cái “vội vàng” này không phải chỉ là để kịp xem hội làng,
vì “Thôn Đoài cách có một thôi đê”, mà có lẽ còn là cái vội vã, gấp gáp để
kịp gặp anh. Khi “Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm”, thì em vẫn “mải miết
tìm anh”. Em tìm anh đến quên cả lời mẹ dặn “xem về kể mẹ nghe”, tìm đến “chả
thiết xem”, tìm thâu đêm. Cuộc tìm kiếm đó cũng chính là hành trình để đến với
tình yêu, đến với hạnh phúc.
Chỉ tiếc rằng, cuộc hành trình ấy đã không như mong đợi. Lòng
người đột nhiên chùng lại, lời thơ từ đây, trở thành lời tự thổn thức:
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
“Giường cửi lạnh” hay lòng em lạnh lẽo, hụt hẫng, chơi
vơi. “Thoi ngà nhớ tay em” hay lòng em đang dâng tràn nỗi nhớ anh. Sự
lỡ làng ấy đã làm giọng thơ từ đây chuyển sang dỗi hờn, trách cứ:
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa Xuân cũng lỡ làng.
Tâm trạng đợi chờ của cô gái được diễn tả thật tinh tế. Điệp
từ “anh” và “sang” (“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang”) làm cho âm điệu câu thơ
vừa luyến láy vừa như được kéo dài. Thành ngữ “năm tao bảy tuyết” được dùng để
trách cứ về việc anh đã “hò hẹn” lại “lỡ làng”, nhưng giọng điệu dỗi hờn sao mà
da diết…
Mùa Xuân lỡ làng, tuổi xuân trôi đi, tình yêu không gặp gỡ,
nhưng sau câu thơ, niềm khát khao tình yêu, khát khao hạnh phúc của cô gái thì
vẫn thổn thức, thiết tha, cháy bỏng. Tâm hồn nhân vật trữ tình hiện lên, ở một
góc khác, nhưng vẫn rất chân thực, rất đẹp.
4. Trở về từ hội làng, không gặp được anh, “mình em lầm lụi”,
buồn tủi, khoảng cách không gian cũng nhuốm tâm trạng:
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
Nếu buổi đầu đến hội “Thôn Đoài cách có một thôi
đê” – tức một đoạn đê ngắn, thì giờ đây, vẫn thôi đê đó nhưng đã thành “một
dải đê!”. Vẫn là “mưa xuân phơi phới bay”, vẫn là “hạt mưa chấm bàn tay” nhưng
đến hết hội mưa đã “nặng hạt”. Cái dài của đê, cái nặng của mưa có sự hiện hữu
của tâm trạng! Câu thơ cuối khổ khép lại, nhưng nỗi buồn thương thì còn giăng mắc
– “Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya”.
Thời gian chảy trôi, đầu hội “Bốn bên hàng xóm đã lên
đèn” thì tan hội đã là “canh khuya”. Tâm trạng cô gái từ “giăng tơ một mối
tình”, nay chỉ còn “lạnh lùng”, “thêm tủi”. Mạch của bài thơ được cấu tứ theo mạch
cảm xúc của nhân vật trữ tình từ đầu đến hết đêm hội, tất cả làm nên một câu
chuyện tình yêu không gặp gỡ.
Sự tiếc nuối, nỗi niềm mong ngóng cứ thế hòa vào mưa xuân,
gieo vào lòng người những nỗi vương vấn khôn nguôi. Thế nhưng mạch thơ đến đây
vẫn chưa khép lại. Lúc này, “mưa xuân đã ngại bay/ Hoa xoan đã nát dưới
chân giày”, “Hội chèo làng Đặng” đã “về ngang ngõ”, “mùa Xuân đã cạn ngày”,
nhưng trong lòng cô gái vẫn gieo hi vọng:
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng: Hát tối nay?
Kết cấu vòng tròn: Mở đầu là một thông báo “Hội chèo làng Đặng
đi qua ngõ/ Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay”, kết lại là một câu hỏi “Bao
giờ hội Đặng đi ngang ngõ/ Để mẹ em rằng: Hát tối nay?”. Trong câu hỏi vẫn thắc
thỏm nỗi đợi chờ. Chưa biết là “bao giờ” thì em mới gặp được anh, nhưng nỗi đợi
chờ thì vẫn ở đó, đi qua mùa Xuân, qua tháng năm, bất chấp thời gian. Mùa Xuân
nay dẫu đã “cạn ngày” nhưng tình xuân thì không thể phôi pha.
“Mưa xuân” là bài thơ hiện đại, tiêu biểu của phong trào
Thơ mới (1932 – 1945), nhưng lại mang đậm những yếu tố truyền thống. Bài thơ diễn
tả tâm trạng, cảm xúc của cô gái khi yêu nhưng được viết theo thể thơ tứ tuyệt
trường thiên, giọng thơ nhẹ nhàng, dễ đi vào lòng người. Bài thơ vừa toát lên vẻ
đẹp của nhân vật trữ tình, toát lên vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa vừa thể hiện được
sự gắn bó sâu nặng của nhà thơ Nguyễn Bính với làng quê, với những nét văn hóa
truyền thống của dân tộc.
Có thể thấy, “Mưa xuân” là một bài thơ tiêu biểu
cho phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Bính, nó “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn
náu trong lòng ta” (Hoài Thanh). Câu chuyện tình yêu của cô gái thôn quê được kể
trong một đêm vào cữ mưa xuân đã làm sống dậy những rung cảm chân thực, tinh tế,
những khát vọng về tình yêu, hạnh phúc của con người.
Cảnh quê trở thành đất sống cho câu chuyện tình, và chính những
thổn thức, rung động trong lòng cô gái đã làm cho cảnh quê trở nên có hồn, mang
tâm trạng. Tình và cảnh hòa quyện vào nhau, mang vẻ đẹp “chân quê”, mang vẻ đẹp
rất riêng của thơ Nguyễn Bính giữa bức tranh đa sắc màu, hiện đại của thơ mới.
Chất chứa sau mỗi dòng thơ là những cung bậc cảm xúc chân thật,
là tiếng lòng của cô gái đang yêu và cả nỗi khắc khoải, đợi chờ trong tình yêu.
Vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo và nỗi khát vọng tình yêu cháy bỏng của cô gái chính
là điểm lắng sâu làm nên giá trị, sức sống của bài thơ.
25/3/2025
Trần Thị Thanh Nga
Nguồn: GD-TĐ
Theo https://vanvn.vn/
Phùng Văn Khai và bức phù điêu 80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân đội
Phùng Văn Khai và bức phù điêu
80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân
đội
Nhà văn Phùng Văn Khai là một nhà văn xông xáo ở nhiều
thể loại – loại hình nghệ thuật. Anh làm phim về các văn nghệ sĩ quân đội, làm
thơ, viết truyện ngắn, bút kí, tiểu luận chân dung văn học, đặc biệt là viết tiểu
thuyết lịch sử (chưa kể anh còn tổ chức làm sách cho nhiều văn nghệ sĩ khác)…
Tôi biết nhà văn Phùng Văn Khai từ sớm qua những tác phẩm văn
học, nhưng trực tiếp gặp mặt thì vào quãng chục năm trước, khi thường sang Điện
ảnh Quân đội ăn trưa và trò chuyện cùng nhà thơ, Đại tá Nguyễn Anh Nông (khi ấy
là Quản đốc Xưởng sản xuất phim Khoa học, Điện ảnh Quân đội nhân dân). Những buổi
trà dư tửu hậu cùng nhiều văn nghệ sĩ ở đây cho tôi biết thêm về các nhà văn mặc
áo lính. Dạo ấy, tôi còn làm việc tại Viện Văn học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam). Cái đủng đỉnh có phần khệnh khạng cho ra dáng “Viện sĩ” (nói theo
cách mỉa mai của PGS Vũ Đức Phúc – nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học, trong một
lần tôi tháp tùng ông về dự lễ tại Viện), nghĩ lại thấy thật trẻ con. Hay đúng
hơn, đó là sự hãnh tiến vô lối của kẻ không biết giời cao đất dày là gì.
Vẫn còn nhớ, trong một cuộc rượu, khi hơi men đã ngấm, Phùng
Văn Khai khật khừ đứng lên đọc bài thơ Mướp và giàn của Nguyễn Anh
Nông. Chẳng biết ông nhà văn quân đội ăn to nói lớn này có ý nhắc khéo tôi hay
không, nhưng sau đó, tôi cũng dè dặt bớt. Âu cũng là một bài học mà tôi nhận được
từ cách bảo ban kín đáo của nhà văn Phùng Văn Khai. Bài thơ ấy thế này: Mướp
mới nhú mầm/ Giàn ai đã dựng/ Giàn cao sừng sững/ Mướp bé tẹo teo/ – Ngày tháng
trôi vèo/ Mướp leo, leo mãi/ Mướp leo, leo mãi/ Phủ xanh mặt giàn/ – Mướp liền
nhâng nháo/ Ăn nói vênh vang/ Rằng:- Ta cao lớn/ Thấp sao…cái giàn! – Ong bay
tìm mật/ Bên hoa mướp vàng/ Nghiêng cao đầu hỏi/ Những lời ong ong: – Nếu không
có giàn/ Mướp dựa vào đâu?/ Mướp đứng thế nào?/ Mà cao hơn được?/ – Mướp ta
lúng túng/ Xoăn tít cả râu/ Gật gật cái đầu/ Mướp buông chùm quả/ Lay lay bóng
lá/ Như là phân vân.
Đại tá, nhà thơ Nguyễn Anh Nông về nghỉ hưu rồi vội vã từ biệt
anh em đồng đội rong chơi cõi khác. Năm 2017, sau nhiều hò hẹn, tôi có dịp đầu
quân về Tạp chí Văn nghệ Quân đội, cùng cơ quan với nhà văn Phùng Văn Khai. Anh
làm thủ trưởng của tôi từ đó. Gần gũi nhau nhiều hơn, có dịp trà rượu rong chơi
cùng nhau nhiều hơn, đọc Phùng Văn Khai nhiều hơn (cả thơ, truyện ngắn, bút kí,
tiểu luận phê bình, và nhất là tiểu thuyết lịch sử) tôi càng hiểu hơn tâm tính,
cốt cách, khí chất nhà văn họ Phùng này. Xem ra, Phùng Văn Khai không phải dạng
vừa để mình có thể trưng ra bộ dạng khệnh khạng, nhâng nháo, vênh vang như ngọn
mướp trong bài thơ của thi sĩ Nguyễn Anh Nông.
Phùng Văn Khai là một nhà văn xông xáo ở nhiều thể loại – loại
hình nghệ thuật. Anh làm phim về các văn nghệ sĩ quân đội, làm thơ, viết truyện
ngắn, bút kí, tiểu luận chân dung văn học, đặc biệt là viết tiểu thuyết lịch sử
(chưa kể anh còn tổ chức làm sách cho nhiều văn nghệ sĩ khác)… Mảng nào cũng ngồn
ngộn, đòi hỏi một người chuyên tâm, cần mẫn và phải có sức vóc mới có thể bao
quát được. Tôi đọc Phùng Văn Khai xem chừng chưa kĩ, chưa ngấm, nên còn e dè lởn
vởn vòng ngoài. Đấy còn là do sức nghĩ, sức làm việc của tôi chưa cho phép.
Thành ra, mỗi lần anh ưu ái gửi tặng sách (nhất là các bộ tiểu thuyết lịch sử),
thú thực, tôi có phần ái ngại cho mình.
Công sức, tâm huyết của người viết, in ra cả bộ dày cộp, như
cách Phùng Văn Khai nói về tác phẩm của các bậc đa đề ở Văn nghệ Quân đội là “cục
gạch” như thế, đem tặng bạn văn, em út, là phải trân trọng, quý mến lắm. Vậy
mà, mình đọc xong cũng chẳng phản hồi hay có ý kiến gì, xem ra thật không phải
với “Bậc đàn anh trong văn giới”, chưa nói là thất lễ với thủ trưởng, cấp trên.
Đôi lúc, tôi thỏa hiệp, rằng mình chỉ là một cá nhân, tài hèn sức mọn, đọc được
chút ít sách vở, chăm chú vào mảng chuyên môn hẹp của mình, được đến đâu hay đến
đấy. Việc kinh bang tế thế đã có các đấng bậc trong thiên hạ. Nhưng, sao vẫn cứ
thấy canh cánh bên lòng. Không hẳn là món nợ, đúng hơn, đó là sự thôi thúc tự
nhiên từ bên trong, rằng Phùng Văn Khai là “cái giàn” bề thế mà người đọc, người
viết, nhất là người mang tiếng là làm nghiên cứu – phê bình văn học không thể bỏ
qua.
Như đã nói, bên cạnh series tiểu thuyết lịch sử: Phùng
Vương, Ngô Vương, Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý
Phật Tử định quốc, Trưng Nữ Vương, Phùng Văn Khai còn viết nhiều thể loại
khác. Năm 2024, nhân dịp kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt
Nam, 80 năm ngày truyền thống Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam
(22.12.1944 – 22.12.2024) bên cạnh bộ Tổng tập Nhà văn Quân đội (Nxb
Văn học, 2023, 5 cuốn, gần 5000 trang, Giải A Sách Quốc gia), Người chiến
sĩ ấy (Nxb Văn học, 2024), Người trước súng sau (Nxb Văn học,
2024) do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức bản thảo, in ấn (mà trong
một bài điểm sách tôi gọi là cuộc duyệt binh vĩ đại của binh chủng văn học nghệ
thuật Quân đội), nhà văn Phùng Văn Khai cũng kịp thời ra mắt bạn đọc công
trình 80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân đội (Nxb Quân đội Nhân dân,
2024).
Có thể nói, cuốn chân dung văn học này của Phùng Văn Khai
cũng là một cuộc biểu dương lực lượng như vậy. Nhưng, nghĩ kĩ, với thể chân
dung văn học (khác với sự góp mặt trực tiếp bằng tác phẩm), cách viết của nhà
văn Phùng Văn Khai giống như người tạc một bức phù điêu. Phải rồi! Đó là một bức
phù điêu lớn, nơi hiện lên dáng nét, tinh thần, diện mạo và cả những những đóng
góp của các văn nghệ sĩ Quân đội, qua góc nhìn, trải nghiệm, tri thức, cảm xúc,
suy tư của Phùng Văn Khai về 80 văn nghệ sĩ mặc áo lính. Rất có thể, trong cái
nhìn của người khác, 80 con người ấy sẽ hiện lên chỗ này chỗ kia khác với cách
hình dung của nhà văn Phùng Văn Khai. Đó cũng là lẽ thường vậy. Sự phong phú,
phức tạp của đối tượng, tính chủ quan trong tiếp nhận, khiến mỗi người đọc sẽ
có cho riêng mình những chân dung khác nhau.
80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân đội ra mắt vào dịp kỉ niệm
80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, 80 năm ngày truyền thống Tổng
Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, điều đó nói lên ý tưởng của người viết.
Trình ra một bức phù điêu hoành tráng như vậy, Phùng Văn Khai hẳn đã phải nung
nấu và chuẩn bị từ trước đó rất lâu, cho thời điểm trọng đại này. Thú thực, tôi
có thể không đọc hết Phùng Văn Khai ở mọi thể – loại, nhưng khi chiêm ngưỡng bức
phù điêu bằng chữ này, tôi đã bị lôi cuốn, phải đọc hết, đọc với tâm thế để biết
thêm, để soát xét lại nhiều tri thức văn học sử của mình. Những gương mặt, những
cái tên, những cuộc đời, những tác phẩm – thành tựu của họ đối với nền văn học
sử thi cách mạng Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung, đủ
sức giữ người đọc ở lại với từng trang viết của Phùng Văn Khai. Hãy mở xem, Văn
Phác, Vũ Cao, Thanh Tịnh, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Phùng Quán,
Nguyễn Thi, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Xuân Sách, Nguyễn
Xuân Khánh, Nguyên Ngọc, Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng
Khoa, Dương Hướng, Chu Lai, Nguyễn Bảo, Bảo Ninh… Toàn những nhân vật “khủng
long”, xứng đáng là tượng đài của nền văn học cách mạng Việt Nam. Chỉ riêng việc
lựa chọn đối tượng để dựng chân dung văn học đã nói lên cái gan của Phùng Văn
Khai. Nếu không đọc, không tìm hiểu nghiên cứu cẩn trọng, không sống một cách
sâu sắc với tác phẩm – tác giả (có nhiều người Phùng Văn Khai trực tiếp làm việc,
cộng tác, gần gũi) rất dễ rơi vào vu khoát, nói lấy được.
Thể tài chân dung văn học tạo nên môi trường khá phóng túng,
tự do, cho phép người viết tung tẩy, bày tỏ kinh nghiệm quan sát riêng tư của
mình. Phùng Văn Khai hiểu và tận dụng khá thành công đặc tính này. Tuy nhiên,
như là sự cộng hưởng, tái bổ sung, việc trải nghiệm kĩ lưỡng với đối tượng (cả
đời tư và sự nghiệp) lại giúp cho kinh nghiệm, ấn tượng trở nên sâu, dày, đầy đủ
hơn. Nhờ thế, chân dung nghệ thuật trở nên sắc nét, sống động, và hơn hết là
thuyết phục được người đọc, rằng chân dung ấy chính là con người ấy, bản sắc –
diện mạo ấy. Viết chân dung phải ra được chân dung, toát lên được thần thái,
khí chất, hồn cốt của nhân vật. Với ý nghĩa đó, tôi nghĩ rằng, bức phù điêu bằng
chữ của Phùng Văn Khai đã làm nổi hình nổi nét được nhiều gương mặt văn nghệ sĩ
Quân đội, trong đó có nhiều tác giả quen thuộc với bạn đọc Việt Nam. Những chân
dung Trung Trung Đỉnh, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa, Chu Lai… thực
sự thú vị, vì có chuyện và nhất là có giọng.
Cùng với đó, những gương mặt khác cũng được hiện lên qua cái
nhìn tinh và sắc, nhiều chỗ thấm thía. Chẳng hạn, khi viết về “hơi thở thản
nhiên” trong thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả đưa ra nhận định: “… lòng ông phải rất
thanh thản, thậm chí giấu biệt đi những đớn đau dằn vặt, mới có thể viết về nỗi
đau tài tình đến vậy. Cái thanh thản của Phùng Khắc Bắc chính là sự thanh thản
một cách lạ thường của người lính trước giờ nổ súng” (Phùng Khắc Bắc, thản
nhiên Một chấm xanh, tr.15). Phùng Văn Khai cũng cho thấy cảm nhận tinh tế,
cách diễn đạt giàu hình ảnh của mình: “Văn Phạm Hoa là thứ văn mang lửa, không
phải là ngọn lửa cháy đùng đùng, mà là những mạch lửa đêm đông bền bỉ” (Nhớ Phạm
Hoa, bâng khuâng trang giấy trắng, tr.116); “Cái lặng lẽ trong cõi chung riêng
của Chính Hữu như chất lên vai ta những đúc kết của cuộc đời” (Nhà thơ Chính Hữu,
bình dị và bát ngát, tr. 143); “Cứ thấy chị lặng lẽ mà lừng lững sống và viết một
mạch trên nửa thế kỉ, vừa bình tĩnh an yên vừa đặt ra những vấn đề khiến lương
tri chúng ta phải lay động đớn đau và ngẫm ngợi, và nhất là muốn hành động”
(Nhà văn Lê Minh Khuê, những trang văn xanh mãi, tr. 169)…
Nói về giọng điệu trong những bài viết chân dung văn học của
Phùng Văn Khai, thú vị nhất có lẽ là giọng tưng tửng, có chỗ bông phèng tếu
táo, “gọi Bụt bằng anh”. Dĩ nhiên, gọi Bụt bằng anh, tức là phải gần chùa lắm.
Gần, thân, hiểu, mới có thể tếu táo với nhau như vậy. Và, cũng phải thân gần đến
mức nào, nhân vật mới thể hiện – để lộ những câu chuyện, những dáng nét riêng
tư như thế với người viết. Lớp “phục trang” có lẽ đã được tiết chế đến mức tối
đa, giúp tác giả tiếp cận được gần nhất với cái lõi thuộc về “bản ngã” của đối
tượng. Không phải Phùng Văn Khai không có giọng nghiêm cẩn, trọng thị, đạo mạo
cung kính hay lễ nghi khánh tiết (nhất là đối với các đấng bậc, đa đề của văn
giới Việt Nam), thậm chí với những oan khuất của tiền nhân, tác giả còn thể hiện
rõ giọng thương cảm, bênh vực, chiêu tuyết. Nhưng, thành thật mà nói, cứ chỗ
nào cung kính đạo mạo thì độ hấp dẫn, lôi cuốn của trang viết lại vơi đi chút
ít. Dẫu vậy, lùi ra xa để ngắm nghía bao quát, có thể thấy, trùm lên các bè điệu
ấy là chất giọng ân nghĩa, cảm phục nồng nhiệt mà Phùng Văn Khai thành tâm dành
cho các văn nghệ sĩ Quân đội.
Phùng Văn Khai tỏ ra là người mặn chuyện, có duyên chính ở
cái tạng tếu táo, thân gần ấy. Một vấn đề nảy sinh ngay tại đây, thuộc về lí luận
thể tài, đó là chân dung văn học – nghệ thuật khác với chân dung con người tiểu
sử. Hai con người này không hẳn đồng nhất, thậm chí lắm khi còn khác biệt một
cách kì lạ. Người ta có thể tếu táo, gọi Bụt bằng anh khi tái hiện chân dung
con người tiểu sử, nhưng khó có thể tếu táo khi dựng chân dung nghệ thuật. Bởi
chân dung văn học – nghệ thuật là con người tư tưởng, là “bản ngã phục trang”
(Costica Bradatan) được giải mã và phục dựng từ tác phẩm. Nó – chân dung ấy, rất
ít khi có thể trưng nạp giọng bông phèng, tếu táo (trừ khi đó là những tự truyện
– hồi kí hay tác phẩm có yếu tố tự thuật hài hước). Sự gia cố bền chắc và tỏa
bóng của truyền thống từ chương – lập ngôn trong văn hóa – văn học phương Đông
đã thủ tiêu “sự thật biết cười” trong phần lớn trước tác của các tác giả trên xứ
sở này.
Nói như vậy không có nghĩa là những chân dung văn học mang sắc
thái nghiêm cẩn của Phùng Văn Khai nhẹ đồng cân. Phải thật khách quan chỗ này,
những bài viết về Văn Phác, Nguyễn Đình Thi, Vũ Cao, Hoàng Cầm, Hữu Mai, Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Xuân Khánh… đều cho thấy sự trọng thị
hết mực dành cho con người tiểu sử và thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, tiếp cận
có chiều sâu với tác phẩm của Phùng Văn Khai. Từ tác phẩm mà tái tạo con người
nghệ thuật khác với từ những chi tiết đời thực mà chắp nối, khắc tạc nên con
người tiểu sử. Không phải văn nghệ sĩ nào cũng có thể tếu táo bông phèng, nếu
không khéo, hoặc tiếp cận sai về thi pháp giọng điệu, rất dễ rơi vào suồng sã,
kém duyên, thậm chí là khiếm nhã, bất kính. Hiểu điều đó, Phùng Văn Khai đã rất
linh hoạt trong cách xử lí giọng điệu, tựa như nét bay nét chìm, nét mờ nét tỏ,
chỗ thưa thoáng, chỗ đậm đà… trong cấu trúc tổng thể của bức phù điêu. Lối làm
việc ấy, kết quả ấy, cũng có thể xem là cái tài, cái khéo, sự hợp tình, hợp lẽ
của Phùng Văn Khai khi tiếp cận các gương mặt văn nghệ sĩ quân đội vừa lừng
danh trong văn chương nghệ thuật, cũng vừa lắm giai thoại đời tư.
Không thể phủ nhận, cuốn sách 80 gương mặt văn nghệ sĩ
Quân đội ra mắt thể hiện một ý chí chính trị rõ rệt, như đã nói, làm một
cuộc duyệt binh, biểu dương lực lượng của những “siêu anh hùng” trong nền văn học
nghệ thuật cách mạng Việt Nam. Với tinh thần ấy, lối tư duy “công tác và sáng
tác” trên nền của thời đại Hồ Chí Minh đã xuyên suốt công trình của Phùng Văn
Khai, nâng đỡ các chân dung được trình hiện. Hệ thống từ khóa có thể đậm nhạt,
thưa dày, nhưng đều châu tuần về lõi tư duy này. Không khó để xâu chuỗi những hạt
nhân như: Tổ quốc, Nhân dân, thời đại, nghệ sĩ, chiến sĩ, chính nghĩa, lòng
trung thành tận tụy, tình yêu thương dâng hiến, ý chí và khát vọng sống/ viết
cao cả, hướng tới các giá trị nhân văn – thẩm mĩ cao cả.
Dù viết về ai, theo lối tếu táo bông phèng hay nghiêm trang
kính cẩn, con người nghệ thuật hay con người tiểu sử, vượt lên trên những thăng
trầm uẩn khúc, những quanh co vướng mắc của lịch sử thân phận – tác phẩm, các
văn nghệ sĩ vẫn một lòng hướng về Tổ quốc – Nhân dân – Nghệ thuật và các giá trị
nhân văn tốt đẹp. Họ sống và viết, tức là “công tác và sáng tác”, dẫu thế nào,
sau cùng vẫn là những tấm gương, là bài học cho các thế hệ văn nghệ sĩ đi sau.
Có thể nói, tư duy ấy đã thấm nhuần tư tưởng sử thi cách mạng, định hướng và
nâng đỡ bức phù điêu bằng chữ của nhà văn Phùng Văn Khai.
80 gương mặt văn nghệ sĩ Quân đội, vừa là những chân dung
riêng, nhưng khi tề tựu trong một đội hình – đội ngũ, họ làm nên bức chân dung
có tính đại diện cho phẩm cách, lương tri, tài năng của người nghệ sĩ. Bức phù
điêu này, ẩn sau những con chữ, cũng đồng thời làm hiện lên một chân dung khác
– nhà văn Phùng Văn Khai – người tạc chân dung văn nghệ sĩ Quân đội trong thời
đại Hồ Chí Minh.
25/3/2025
Nguyễn Thanh Tâm
Theo https://vanvn.vn/
Thơ Vũ Trần Anh Thư gần như không có nỗi buồn
Thơ Vũ Trần Anh Thư
gần như không có nỗi buồn
TS Nguyễn Thị Tính ấn tượng với thơ Vũ Trần Anh Thư ở
chỗ “thơ của chị gần như không có nỗi buồn”, chỉ lan tỏa niềm vui, cộng hưởng
niềm vui. Chị đã kháng cự lại thứ thơ ủy mị thường tình đã bão hòa trong thơ nữ
đương đại…
Thêm tập thơ của một nữ doanh nhân làm thơ vừa ra mắt, tập ‘Ban
mai thơm mắt nắng’ của Vũ Trần Anh Thư. Dạo gần đây văn chương được góp
thêm nhiều tác giả là doanh nhân thành đạt, vì sao?
Không chỉ in nhiều tập văn thơ, các tác giả doanh nhân còn được
trao nhiều giải văn chương, trong đó có Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
Vì sao gần đây lại có nhiều doanh nhân thành đạt viết văn làm
thơ như vậy và điều này ảnh hưởng như thế nào đến đời sống văn chương?
Tuổi Trẻ Online đặt câu hỏi với nhà phê bình Văn Giá bên lề
buổi ra mắt tập thơ Ban mai thơm mắt nắng (NXB Hội Nhà văn) của Vũ Trần
Anh Thư ngày 23.3 tại Hà Nội.
Xu hướng viết văn làm thơ phát triển
Trước câu hỏi vì sao văn chương gần đây lại hấp dẫn nhiều
doanh nhân dấn thân như vậy, ông Văn Giá nói đó là câu hỏi khó.
Tuy nhiên ông cũng đưa ra câu trả lời: có lẽ lý do quan trọng
nhất là nhu cầu biểu đạt con người mình, biểu đạt về thời mà mình đang sống bằng
văn chương. “Đó là một nhu cầu phổ biến, lành mạnh, chính đáng”, ông Văn Giá
nói.
Ông Văn Giá cho biết ông có người bạn nhà văn người Mỹ. Trong
lớp viết văn ông này dạy có những người nội trợ, nhân viên bưu điện, nhân viên
ngân hàng…
Ban ngày họ đi làm, tối họ học viết văn. Ở Việt Nam việc này
còn dè dặt nhưng ông Văn Giá tin sẽ ngày càng phát triển. Và ông đánh giá xu hướng
này “chỉ có tốt thôi”.
Ông Giá nói có những doanh nhân mong muốn trở thành người viết
chuyên nghiệp. Còn có những người đến với văn chương rất hồn nhiên, như trường
hợp Vũ Trần Anh Thư, cũng rất tốt.
Ông Văn Giá đánh giá cao giọng thơ hồn nhiên, trong lành, nhiều
thương mến với cuộc đời, với chính mình của Vũ Trần Anh Thư.
Ban mai thơm mắt nắng
Ban mai thơm mắt nắng là tập thơ thứ hai của Vũ Trần Anh
Thư làm theo thể thơ 1-2-3 do Phan Hoàng khởi xướng (là lối thơ ngắn gọn chỉ có
6 câu thơ kể cả nhan đề, chia làm ba khổ).
TS Nguyễn Thị Tính ấn tượng với thơ Vũ Trần Anh Thư ở chỗ
“thơ của chị gần như không có nỗi buồn”, chỉ lan tỏa niềm vui, cộng hưởng niềm
vui. Chị đã kháng cự lại thứ thơ ủy mị thường tình đã bão hòa trong thơ nữ
đương đại.
Nhà phê bình văn học Hoàng Đăng Khoa cũng đồng tình với nhận
xét này. Anh nói thơ Vũ Trần Anh Thư làm lung lay mặc định trong anh lâu nay là
thơ phải trú ngụ trong nỗi buồn mới hay.
Hoàng Đăng Khoa cho biết thơ Vũ Trần Anh Thư còn làm lung lay
mặc định thứ hai của anh. Lâu nay anh thường chọn thể thơ tự do, và cho rằng chỉ
thơ tự do mới tải được hết bản đồ tâm hồn đa mang, đa sự của nhà thơ.
Nhưng Ban mai thơm mắt nắng cho thấy thể thơ 1-2-3
rất vừa khuôn, rất tương thích với tần sóng tâm hồn của Vũ Trần Anh Thư.
Tại buổi ra mắt thơ, độc giả được thưởng thức nhiều ca khúc
phổ thơ của Vũ Trần Anh Thư, trong đó có bài Vầng trăng mẹ có lẽ là
bài hát cuối cùng của nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha.
Nhà thơ Đỗ Anh Vũ cho biết tập thơ đầu tiên, tập Tiếng
mưa của Vũ Trần Anh Thư có 15 bài thơ được phổ nhạc.
Một số bài thơ trong tập Ban mai thơm mắt nắng:
1. Hà Nội bừng sắc hoa vô ưu
Trong cái lạnh còn vương vất
Những bông hoa không phiền muộn
Như nụ cười thoáng hiện sau mưa
Từng chùm vô ưu thắp niềm vui lên mờ sương mái phố
Rồi thả nỗi mình theo năm cánh vàng rưng
2. Đắm trong ngan ngát làn hương
Trắng ngẩn ngơ tháng ba vừa sang
Gánh hàng hoa chở mùa qua phố
Đời vắng dần dại khờ cồn cào nông nổi
Chợt rưng mùa
Chạm hoa bưởi tóc xanh…
3. Với bình hoa trong cà phê quán vắng
Trôi đi nhé tháng tư
Cho ta dạt miền tinh khiết
Trong không gian thinh lặng
Loa kèn an nhiên ướp nhụy nỗi buồn
Rồi thong thả bung cánh. Và hương…
25/3/2025
Nguồn: TTO
Theo https://vanvn.vn/
Thương người, ta có
Thương người, ta có
Ngót 20 năm thiên di từ miền quê Hà Tĩnh đến mảnh đất
Kinh Kỳ, sống và viết mãnh liệt, sau 11 tác phẩm, thì có lẽ tạp văn Thương
những xa xôi là một sự trải bày đủ đầy nhất của nhà văn Như Bình về chính
mình. Con người ta, cần cả một cuộc đời để trưởng thành, cả những chuyến đi xa,
những rời bỏ để ngoái lại, để nhớ thương, để tha thiết đáp đền ân huệ đã được
sinh ra. 21 khúc thương niêm trong 146 trang nhớ, Như Bình đã tự bứt da thịt
mình để bày biện một kí ức bộn bề. Những khúc nhôi đoạn trường của chị, tôi đọc
mà ứa lệ vì chân thực.
Như Bình hơn 10 năm mới ra sách, nhưng thực chất Thương
những xa xôi còn hơn thế, được hoài thai từ khi chị còn là một đứa bé chân
trần, tóc cháy nắng, chạy dưới cánh đồng quê Hà Tĩnh ngút ngát gió, bời bời cát
trắng. Chị ngồi từ hiện tại để cái cây thương nhớ hôm qua trổ mầm xanh biếc. Cuốn
tạp văn mà mỗi trang như mỗi ô cửa, chị chạm vào những vóc hình thân thuộc,
thương đến xót xa. Về mẹ, cả đời tảo tần dốc sức nuôi đủ đàn con 5 đứa, vuông lụa
mịn hay tấm lưng đổ bóng thời gian trùm lên bậu cửa, hiên nhà, bờ sông trảng
cát, đã gọi những cơn nắng chang chang.
Người cha thư sinh, đàn hay, hát giỏi, văn võ đủ cả, yêu vợ
thương con, đào hoa trong cả nỗi thương vay của thiên hạ. Ông, bà, rồi những o,
những cậu, những chú, cả người bạn học… hiện lên trên trùng trùng, lớp lớp kí ức
tuổi thơ sống động, vẽ vào Như Bình một khắc khoải, tiếc thương. Ngoài kia, dưới
lớp sương mù quá vãng, có những ngôi mộ nằm lại giữa mênh mông. Khi chị mở cánh
cửa xa ngái ấy, cái bản lề run lên dưới lớp mọt thời gian. Hương xưa xao xác đầy
lồng ngực. Chị muốn ở lại, muốn rời đi, muốn bứng bao da diết nhớ trong veo ấy
về ngôi nhà mình. Nhưng họ đã về cát bụi chỉ máu thịt ở lại trong chị.
Như Bình trong ngót 200 trang văn, chưa bao giờ thôi nhỏ lệ.
nước mắt thấm trên những khuôn mặt người thân. Những người có cả một bầu trời đỏ
dậy miền Trung nhưng suốt đời chẳng mấy chốc cất nỗi cơ cực đi mà ngó lên viễn
thẳm, có cả khung trời mùa xuân hoa trái dâng hương nhưng chẳng thảnh thơi nuôi
nhựa xuân trong lồng ngực. Những nếp tranh luôn vắng vẻ vì con người còn mải miết
trong bùn đất. Đến mức, như thể cái nghèo giăng bẫy khắp chốn, chạy kiệt quệ họ
vẫn không ra khỏi.
Nhưng đất nghèo nuôi chí lớn. Như Bình đã họa lại cả một thời
thiếu thốn, đến cái cây ở vườn nhà chị cũng chưa bao giờ lớn đủ trong cái ngưỡng
tự nhiên mà trời ban tặng. Để nhắc đến miền Trung là nhắc đến dải đất, mà mỗi hạt
cát cũng đủ căng mình gánh nắng gió, con người nơi ấy đã thắt lưng buộc bụng,
ra khỏi đói nghèo, bằng quyết chí đổi đời, bất chấp nghiệt ngã của số phận
giáng xuống. Hoàn cảnh không lôi tuột họ xuống hố mà chỉ khiến họ can trường và
kiêu hãnh trưởng thành vượt bậc.
Lần lần từng con chữ Như Bình, thấy hiển hiện một gia đình
yêu thương kiểu mẫu. Cha mẹ chị đi trong những nỗi mất mát quá lớn, kì hôn nhân
dài đến 10 năm éo le khó sinh con, rồi núm ruột đỏ hỏn vừa ra khỏi lòng mẹ đã tắt
sự sống. Cha vẫn yêu thương che đỡ cho mẹ, trước mọi rìu búa dư luận, những soi
xét lạnh lùng, tàn nhẫn. Bù đắp cho niềm tin nuôi bằng nước mắt ấy là đàn con 5
đứa, ai nấy đều học hành bài bản và có vị trí xã hội. Cả một đoạn trường nhọc
nhằn mà khi nhắc lại ai nấy đều bùi ngùi. Người dân quê chị còn nhắc đến gia
đình họ Lê ấy trong niềm tự hào.
Nỗi thương cha, nhớ mẹ của Như Bình đã thêu vào khung trời
năm tháng những sợi chỉ ngào vị mặn mòi. Người mẹ thông minh, buôn bán nhanh nhạy
nhưng thất học, cả đời đàn bà tất tả xuôi ngược để lo cho đàn con ấm bụng và được
học hành. Đến nỗi, tấm lụa đẹp mịn màng, mãi nằm lại trong cái rương kỉ niệm, bởi
mẹ tiết kiệm, vì cả đời mẹ có mấy chốc được thảnh thơi mà ngắm nghía, chăm chút
bản thân. Khi các con bù đắp được, là lúc thời gian đã vít còng lưng mẹ.
Dấu ấn cả một thời gian khổ đã mang trên tấm lưng bà mẹ nhọc
nhằn. Mảnh lụa đã mủn đi, nhưng bụi mục đã găm vào Như Bình niềm ân hận và nỗi
thương mẹ đến xót xa. Mỗi lần lật lại kí ức, chị lại chạm vào tấm lụa mẹ không
bao giờ được mặc. Tất cả đã khiến Như Bình bằng mọi giá phải học tập và lao động
để vượt lên hoàn cảnh. “Tấm lụa đẹp như chỉ có trong cổ tích. Mẹ cất kỹ dưới
đáy rương, một năm đến Tết, mẹ giở rương ra một lần cho chúng tôi sờ vào tấm lụa
hồng ấy một lát, để cảm nhận hít hà về một thứ gì đó thuộc về cái đẹp và xa xỉ”.
Viết về mẹ, Như Bình nhắn những đứa con: hãy biết yêu thương và đừng để yêu
thương trở nên muộn mằn, vô nghĩa.
Cả đời âu lo của mẹ, được bù đắp bởi cha, một người đàn ông tử
tế, vào đời với gia tài đàn ông vô giá: mảnh khảnh thư sinh, tài hoa, đàn hát,
văn võ đủ cả. Nhưng số phận phóng tay đấy, rồi lại keo kiết có thừa, cha mẹ lận
đận đường con cái. Hàng chục năm mỏi mòn chờ kết trái tình yêu. Tuyệt vọng, hy
vọng, mất mát, vỡ òa hạnh phúc. Gia đình chị đã nức tiếng một vùng bởi có đến 5
người con đỗ đại học.
Mỗi mùa vu lan là mỗi day dứt Như Bình. Từng câu chữ chậm
trôi giữa đôi bờ nhớ, quên. Nhớ những tháng ngày hạnh phúc, “Cha mạnh mẽ, ngang
tàng như sóng ở sông Ngàn Mọ quê mình. Cha là thầy giáo dạy môn toán cho nhiều
học sinh đi thi học sinh giỏi, nhưng cha lại cũng giỏi võ trong xã không ai bằng.
Thời Pháp, cha là đấu sĩ chuyên đánh võ ở các võ đài của Pháp để kiếm thêm thu
nhập cho mẹ nuôi các anh. Cái cách mà cha sống ngang tàng, lãng tử, bảo vệ các
con, bảo vệ kẻ yếu, đánh lại những kẻ chuyên đi bắt nạt người khác cũng thành
giai thoại ở quê mình”. Bóng dáng cha mẹ thấp thoáng sau bao sợi ngâu buồn,
vĩnh viễn gieo nức nở xuông nhân gian. Đứa con Như Bình như thể đã quên khoảnh
khắc sống của mình để níu bám vào song thân để được trở về thời thơ bé, nghe
cha khỏa nước trên sóng sông Ngàn Mọ, ngắm dáng mẹ lẫn vào khuya sâu bên mảnh
vườn quê. Chỉ những con chữ nhỏ bé mới có sức mạnh nối dài linh cảm giữa hai
cõi đến thế. Cuộc sống nào cũng bắt đầu từ vô hình rồi đến hữu hình. Kiếp luân
hồi cứ tiếp nối tiếp nối nhau.
Trang sách Như Bình bước ra o Khuyên, người mà gia tài đầy ắp
nỗi bất hạnh đàn bà, nhưng giàu có tình yêu của những người ruột thịt. Đến nỗi
trong cơn mộng du hoảng loạn, o đã tìm cho mình con đường giải thoát bằng cái
chết ở quốc lộ. Cái chết với những người kiệt cùng lại là một ân huệ. O Khuyên
khiến chị nhớ lại “những thời đoạn sóng gió, cuộc sống chưa bình yên, tôi rơi
vào rối loạn âu lo mất phương hướng trầm trọng”. Như Bình thương o Khuyên, và tất
cả đàn bà trên thế gian này, thương mình. O Khuyên khiến độc giả cảm thương
nhưng vô cùng trân trọng cách o gói ghém đời mình chi chút trong những món đồ
cũ kĩ “Mở ra thấy đó là tấm bằng khen cài Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng
Nhất của o. Trên tấm huân chương là chiếc phong bì ghi “Tiền làm quách khi chết”.
Mở phong bì ra có chín triệu đồng”. Đời ai rồi cũng mở, cũng gói, nhưng
Như Bình mở trang văn đàn bà miền Trung của một thời quá vãng đã để lại một dư
vang nước mắt ngậm ngùi và trân trọng.
Là một họa sỹ, kí ức chị có khi được vẽ bằng sắc hoa học trò:
bằng lăng tím nhức nhối. Mùa học trò trong veo, hồn nhiên lại khắc trong chị nỗi
đau mất đi người bạn học. Gom bao nhiêu sắc tím mực mồng tơi để viết về tình bạn
ấy? Những đứa trẻ một thời đi về trên những con đường gầy gò luồn vào xóm cát,
mỗi vết chân đến với cổng trường theo đòi con chữ như những cánh sao. Số phận dẫn
chúng đến với chốn riêng, người thắp sáng, kẻ nhập nhòa, đó là những tình trong
trẻo và ngây thơ nhất. Nhưng người bạn của chị đã ra đi ở độ tuổi mùa xuân cuộc
đời. Bằng lăng tím đã cứa vào tim chị, nỗi buồn mất não nùng. “Ngày ấy, trong
giàn giụa nước mắt đau thương, tôi đã nghĩ không hiểu sao, thiên nhiên có thể
vô tâm mà đẹp não nùng trong ngày bạn tôi từ biệt tuổi thanh xuân để về trời.
Tôi đã hận cả mùa hè thành Vinh, giận cả màu đỏ nhức nhối của hoa phượng, và
màu tím của bằng lăng. Cái chết tháng Năm của bạn đã để lại trong lòng tôi vết
thương sâu của mùa hè. Vết thương màu hoa phượng. Vết thương màu hoa bằng
lăng”.
Như Bình là một người đàn bà đầy dậy cảm. Những điều giản dị,
nhỏ bé trong đời lại gọi, chạm và cứa vào hồn chị. Sau những tất tả đời thường,
chị trở về tổ ấm yêu thương. Từ không gian của mình, bên ô cửa nhỏ chị nhìn ngắm
thế giới qua tâm hồn mình. . “Cửa sổ là đôi mắt của ngôi nhà, là tâm hồn của
cái không gian ấm áp được gọi là gia đình bé mọn. Cửa sổ nhà tôi luôn mở khi
tôi trở về nhà, có khi mở cả những ngày mưa, những mùa đông hun hút lạnh… Nếu bạn
đứng ở khung cửa sổ, áp má vào cửa kính nghe mưa chảy đầm đìa tràn trề trên
gương mặt mình, chỉ cách có một tấm kính mỏng, bạn sẽ thấy dịu lòng biết bao
khi ngoài kia bão tố đang tràn về và mình ở phía sau một khung cửa sổ bình yên ấm
áp”. Thế giới xao động và đầy âm vang. Mà mỗi chuyển động của nó đi vào trong
chị dù nhẹ bẫng hay mãnh liệt thì cuối cùng sau mỗi trường đoạn, đủ đầy cảm xúc
sẽ đến với độc giả, viết là cách thương yêu chan chứa.
Như Bình qua Thương những xa xôi đã mượn con chữ để
gửi lòng biết ơn sâu sắc về gia đình, bạn, quê hương cả những người, những điều
chị gặp dọc hành trình cõi người, tất cả để có một Như Bình của hôm nay. Nghệ sỹ,
khi đã chín, chữ của họ là một trái thảo. Cái cách Như Bình trải bày tâm hồn
mình ấy, chính là phẩm hạnh nghệ sỹ của chị. Và dù có tài hoa, danh tiếng đến
đâu, mà quên những yêu thương, lơ đễnh với những máu thịt của đời mình, ấy cũng
là một mất mát, nhẫn tâm.
26/3/2025
Nguyên Tô
Theo https://vanvn.vn/
Nguyễn Du bàn về sáng tác văn chương
Nguyễn Du bàn về
sáng tác văn chương
Từ khi Đại thi hào Nguyễn Du qua đời đến đầu thế kỷ
21, chúng ta chỉ biết đến tác phẩm của cụ để lại gồm có 250 bài thơ chữ Hán
cùng “Truyện Kiều” bất hủ và một số tác phẩm chữ Nôm. Tất cả đều ở dạng sáng
tác. Cách đây vài chục năm, mới phát hiện ra tập “Hoa nguyên thi thảo”, là một
tập bình thơ của Đại thi hào, gồm 33 lời bình thật ngắn gọn cho 33 bài thơ.
Tuy nhiên, khi chưa tiếp cận tập sách phê bình này, chỉ qua
sáng tác, chúng ta cũng biết được một phần về sự đánh giá nhiều tác phẩm, đồng
thời thấy rõ quan niệm sáng tác văn chương của Đại thi hào. Đó là nội dung bài
viết này.
1. Sinh thời, Nguyễn Du yêu mến, phục tài nhiều nhà thơ cổ điển
Trung Quốc, đặc biệt là Đỗ Phủ. Sự gặp gỡ giữa hai nhà thơ này, ngoài tài thơ
ra, cùng có trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Đánh giá nhà thơ
Đỗ Phủ và nói lòng yêu mến của mình đối với nhà thơ này, Nguyễn Du viết:
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư)
Bình sinh bội phục vị thường ly
Nghĩa là: “Văn chương ông lưu truyền thiên cổ, ông là bậc thầy
muôn đời. Tôi bình sinh khâm phục ông, không lúc nào rời thơ ông”. Nguyễn Du
tôn Đỗ Phủ là người thầy muôn thuở, lấy thơ Đỗ Phủ làm sách gối đầu giường, bởi
nhận thấy thơ Đỗ Phủ là thứ văn chương chói sáng về câu chữ và gần gũi với cuộc
đời. Nhiều khi đọc thơ Đỗ Phủ, Nguyễn Du khóc một mình bởi thương người sống
cách mình hơn ngàn năm trước.
Với Thôi Hiệu, người có bài thơ “Hoàng Hạc lâu” nổi tiếng đến
mức Lý Bạch đến nơi này không dám làm thơ nữa vì đã có thơ Thôi Hiệu rồi, thì
Nguyễn Du đánh giá: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ“, nghĩa là bài thơ Thôi
Hiệu làm xong thì cỏ cây trở thành thiên cổ. Tôi nghĩ rằng, khó tìm được một
câu nào đánh giá thơ cao hơn thế! Với Lý Bạch, Nguyễn Du không bình thơ mà nói
về quan niệm sống của “ông tiên trong làng rượu” này, rằng “ông coi thường vinh
hoa như dép rách”. Đó là ba nhà thơ đời Đường mà Nguyễn Du yêu mến nhất. Còn một
nhà thơ nữa sống cách Nguyễn Du trên hai ngàn năm. Đó là Khuất Nguyên thời Chiến
quốc. Nguyễn Du viết:
Tông quốc tam niên bi phóng trục
Sở từ vạn cổ thiện văn chương
Nghĩa là, ông buồn rầu suốt ba năm bị đày xa Tổ quốc, tập “Ly
tao” vẫn là áng văn muôn thuở tuyệt vời! Nguyễn Du đã dành ba bài thơ nói về
Khuất Nguyên, trong đó có bài “Phản chiêu hồn” quá quen thuộc với đông đảo bạn
đọc.
Còn Nguyễn Du nhận định như thế nào về các nhà thơ đương thời?
Ông viết:
Tam Đường thiên tải hậu
Tịch mịch cửu vô văn
Nghĩa là, sau đời Đường nghìn năm, thi đàn vắng vẻ, đã lâu
không nghe ai nổi tiếng hay thơ nữa! Nếu lời nhận xét này thốt ra từ miệng một
nhà thơ bình thường, tôi tin rằng thời đó lắm kẻ đã nổi khùng lên, mắng người
nói câu đó là chủ quan, là “mục hạ vô nhân”, nhưng Nguyễn Du nói thì có cái lý
của thiên tài từ đỉnh cao thi ca nhìn xuống.
2. Có một câu hỏi mà chúng ta đã bàn khá nhiều trên báo chí
cũng như trong các cuộc hội thảo là làm thế nào để có thơ hay, như cố tìm bí
quyết để các nhà thơ không cho ra đời những bài thơ dở. Vấn đề này, cách đây
trên hai trăm năm Nguyễn Du đã từng “phát biểu” trong “Truyện Kiều”:
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
Tôi nghĩ rằng, ở đây Nguyễn Du không chỉ nói chuyện Thúy Kiều
ban ngày thăm mộ Đạm Tiên, lòng cảm thương, rồi đêm về làm thơ; mà là câu trả lời
cho câu hỏi trên kia: Khi lòng ngổn ngang trăm mối là điều kiện cho những câu
tuyệt diệu ra đời. Như vậy, thơ hay thường đến với những người có nỗi lòng đau
đáu, trăn trở, cảm thương, dằn vặt… chứ thơ hay không thể có được với những ai
sống đơn giản, dửng dưng, “trơ như đá, vững như đồng” trước nỗi đau và niềm vui
của người khác.
Thực tế cũng đã kiểm chứng điều này khi chỉ ra rất nhiều nhà
thơ có tác phẩm hay nhất của mình vào những năm đời sống khó khăn, nhiều dằn vặt
suy nghĩ, còn khi đời sống khấm khá rồi, không phải lo nghĩ gì, thì “nhà càng lộng
gió, thơ càng nhạt” (Xuân Sách) là không phải chuyện cá biệt.
Khi lòng ngổn ngang trăm mối thì dễ có thơ hay, nhưng chỉ có
thơ hay về điều mình đang dằn vặt suy nghĩ, chứ thật khó làm thơ về đề tài
khác. Khi Thúc Sinh mê mẩn Thúy Kiều, chàng có làm một bài thơ Đường luật, muốn
Thúy Kiều họa lại, nhưng Thúy Kiều đã từ chối:
Lòng còn gửi áng mây hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay
Nghĩa là, lòng Thuý Kiều đang “ngổn ngang trăm mối” về quê
hương, gia đình thì không dễ gì làm thơ thù tạc được.
Tuy nhiên, trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du còn chỉ ra rằng, đối
với những người có tài thơ, tâm hồn thơ thường trực, thì có thể làm thơ theo
“đơn đặt hàng” của người khác, vẫn có được những bài thơ hay. Đó là trường hợp
Thúy Kiều làm bài thơ tứ tuyệt vịnh bức tranh tùng theo yêu cầu của Kim Trọng,
hay vịnh cái gông theo yêu cầu của Chánh án “mặt sắt đen sì” ngay trong phiên
tòa. Thế mà hai bài thơ đặt hàng ấy được “khen tài nhả ngọc phun châu” hoặc “giá
đáng Thịnh Đường”! Thế là Nguyễn Du vừa coi trọng hoàn cảnh ra đời của bài
thơ, vừa đánh giá cao tài năng thiên bẩm của người làm thơ.
Chất lượng cuộc sống và chất lượng tác phẩm không đồng hành
cùng nhau, thậm chí có khi còn ngược nhau. Nguyễn Du đã chỉ ra trường hợp Khuất
Nguyên, một nhà thơ nước Sở, thế kỷ thứ IV trước Công nguyên. Khuất Nguyên giữ
chức Tam lư đại phu (dưới Tể tướng). Lúc đầu Sở Hoài Vương tín nhiệm Khuất
Nguyên, bằng lòng thực hiện chủ trương chính trị của ông, nhưng sau bị Thượng
quan Ngân Thượng gièm pha, Sở Tương Vương không dùng Hiến lệnh của Khuất
Nguyên, đày ông đi Giang Nam.
Ông đi qua hồ Động Đình, theo dòng sông Nguyên đến Thần
Dương, Tư Phố rồi theo dòng sông Tương đến Mịch La và ngày 5 tháng 5 ông trẫm
mình tại đó. Đối với Khuất Nguyên, việc Hiến lệnh của ông không được dùng là một
tai họa, dẫn đến lưu đày và cái chết, nhưng đối với thơ cổ điển Trung Quốc, thì
đó là điều may mắn, bởi nhờ cuộc lưu đày đó mà có được “Ly tao”, một tuyệt tác.
Nguyễn Du viết:
Trực giao Hiến lệnh hành thiên hạ
Hà hữu Ly tao kế Quốc phong?
Nghĩa là: Giá như Hiến lệnh ông thảo ra được ban hành khắp
thiên hạ, thì thơ ca Trung Quốc làm gì có “Ly tao” kế tiếp “Kinh thi”? Qua trường
hợp Khuất Nguyên, phải chăng, Nguyễn Du muốn nói rằng, có khi điều bất hạnh
trong cuộc sống, lại là điều may mắn trong sáng tác thi ca?
Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nói nhiều về quan hệ giữa tuổi
tác và sáng tác thơ văn, hay nói chính xác hơn là ông nêu những hạn chế, nhược
điểm trong sáng tác do tuổi tác mang lại. Nguyễn Du là người về hình thức già
trước tuổi, đầu bạc ở tuổi ba mươi và là một nhà thơ có nhiều câu thơ nói về
tóc bạc nhất trong tất cả các nhà thơ mà tôi được đọc. Chỉ sáu mươi bài thơ đầu
tiên trong “Thanh Hiên thi tập”, thì có đến 22 lần ông nhắc đến tóc bạc, lúc
thì lô đầu, bạch đầu lúc thì bạch phát, tiêu tiêu bạch phát… Còn trong hai tập
“Nam trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”, tóc bạc trù mật khắp nơi.
Có người nói rằng, tuổi càng cao, có từng trải và chiêm nghiệm,
thơ viết càng sâu sắc, nhưng với Nguyễn Du thì ngược lại. Ông nói: “Lão khứ văn
chương diệc tị nhân”, nghĩa là, “già rồi văn vẻ cũng xa lánh người”. Đồng hành
với sự già đi của thân thể là sự chai lỳ của cảm xúc, thưa vắng sự sửng sốt trước
con người và cảnh vật, lòng hiếm khi “ngổn ngang trăm mối”, tất nhiên ít có điều
kiện cho thơ ra đời. Khi đó nhà thơ phải sáng tác theo ý thức và trách nhiệm,
chứ không phải do sự thúc giục của nội tâm.
Chất lượng của những tác phẩm đó sẽ như thế nào? Nguyễn Du
nói: “Văn chương tàn tức nhược như ti”, nghĩa là, khi sức mình đã tàn thì văn
chương chỉ mong manh như sợi tơ, dễ đứt lắm! Không chỉ đối với các nhà thơ “thường
thường bậc trung” mà ngay đối với Đại thi hào, thì cũng trở nên bất lực trong
sáng tác khi tuổi già đến nơi. Nguyễn Du thừa nhận rằng:
Tráng niên ngã diệc vi tài giả
Bạch phát thu phong không tự ta
Nghĩa là, thuở trẻ ta cũng là kẻ tài ba, nay đầu đã bạc, chỉ
còn than thở suông trước gió thu mà thôi! Vẫn làn gió thu ngàn năm ấy, với tuổi
trẻ, có thể thành thơ, với tuổi già chỉ còn lời than thở suông, chẳng làm được
gì. Hai câu thơ này tác giả viết trong chuyến đi sứ, vô hình trung góp phần phản
bác lập luận của những ai bảo rằng Nguyễn Du sáng tác “Truyện Kiều” sau chuyến
đi sứ, tức là từ năm 1814 đến 1820.
“Bắc hành tạp lục” là tập thơ cuối cùng của Nguyễn Du viết
trong chuyến đi sứ nhà Thanh, gồm 132 bài mà bài cuối cùng viết cuối năm 1813.
Thế là từ năm 1814 đến khi mất, năm 1820, Nguyễn Du không để lại một bài thơ chữ
Hán nào, còn “Truyện Kiều”, theo các nhà nghiên cứu có uy tín thì được sáng tác
trước năm 1802. Phải chăng những năm cuối đời, văn chương đã xa lánh nhà thơ
như ông đã nói, và ông không muốn sáng tác nữa, vì biết rằng, có viết ra thì
“văn chương tuổi lão mảnh như tơ” là điều ông không bao giờ muốn đem đến cho bạn
đọc. Nếu vậy, đó là thái độ tôn trọng người đọc của Đại thi hào.
27/3/2025
Vương Trọng
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ
Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ Nhà thơ Tuệ Sỹ, tức Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ nguyên quán tỉnh Quảng Bình, sinh năm 1943 tại Paksé, Lào vừa từ ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...






