Lời bạt cho tập thơ "Lạnh hơn xứ mình"
Diễn Đàn: chúng tôi xin giới thiệu "Lời
Bạt" cho tập thơ "Lạnh hơn xứ mình" của Thái Kim Lan, trong đó
tác giả trình bày một kinh nghiệm hiếm có về văn học : làm thơ trực tiếp bằng
tiếng Đức, và sau đó dịch thơ của chính mình sang tiếng Việt. Chúng tôi cũng
xin trích đăng dưới đây "Ca vịnh mùa xuân", một bài thơ thích hợp cho
số báo Tết.
Về “thơ”
Tập thơ “Lạnh Hơn Xứ Mình” được chuyển ngữ tiếng
Việt từ nguyên tác tập thơ tiếng Đức “In einem kaelteren Land” của chính tác giả,
xuất bản lần đầu năm 1992 tại Muenchen.
“In einem kaelteren Land” bao gồm phần lớn những
bài thơ nhỏ bằng tiếng Đức nhặt nhạnh trong thời gian du học tại Cộng Hoà Liên
bang Tây Đức, với 3 cụm đề tài đơn giản và hầu như thuần chất Á đông: cảm hứng
về thiên nhiên, con người hỉ nộ ái ố với nỗi nhớ nhà và Thiền.
Cho mãi đến năm 1992, những “bài thơ” ấy chỉ
là những mẫu chữ “giữ riêng cho mình” gần hơn 10 năm. “Giữ riêng” là nỗi e dè,
không muốn gọi là…”thơ” những con chữ lạ lùng bật ra trong tiềm thức vốn chứa đầy
tiếng mẹ bị bặt âm nơi xứ người:
Một khung trời khép lại
Một chân trời mở ra
Em bật lên tiếng lạ
Ú ớ
Gọi hồn ơ hờ
Như… thơ
Một chân trời mở ra
Em bật lên tiếng lạ
Ú ớ
Gọi hồn ơ hờ
Như… thơ
nhiều tình cờ hơn định trước trên đường đi…
gió lùa trên cỏ, cánh hoa thu không ngơ ngác tím trong vườn Englisch, hay cơn
mưa, hay giá tuyết hay nỗi cô đơn lạnh lùng nơi tha hương hoặc nỗi thất vọng, hụt
hẫng giữa muôn khuôn mặt lạ, và ta, cũng lạ với người, phải nhận lấy tất cả những
thứ ấy để bắt đầu làm quen, làm nơi cư ngụ mới.
Chúng tình cờ trong cái thế giới mà ta vừa mới
cất bước vào…còn chưa tỏ được lời. Rồi bỗng giữa khi học nói, học nghe, những
chữ, những lời bật hiện như rơi từ thinh không, lọt vào tay áo, ta cảm nhận
cùng một lúc với nhịp đập của con tim như một chút may gặp được tri âm! Âm vang
có thể tan vỡ hay hòa điệu, ta đưa chúng thêm một lần vào hồn, và chúng trở nên
quen thuộc như tiếng của mình…
Chúng chẳng khác chi những cọng rơm được lượm
về xây nên mái tạm trú cho những năm tháng xa quê, trong đó những chi xót xa
gay gắt, những mâu thuẫn, những cạm bẫy, bệnh tình, thiếu thốn, bơ vơ của thân
phận con người lưu xứ tự tìm ra âm thanh lên tiếng bày tỏ… Khi nỗi buồn đậm đặc,
khi niềm vui ứ tràn, khi sự kinh ngạc phồng lên, thân ta chao đảo, quay cuồng,
bỗng nhiên trong khoảnh khắc tình cờ có tiếng vọng nào đó vỡ ra, thanh âm xoắn
vào trong cảm xúc…bật nên lời…kết thành lời, thành tên gọi…để hết bỡ ngỡ với
cõi trần, cũng nắng, cũng gió, cũng trăng lên, cũng tuyết đổ, cũng chừng thế ấy
nhưng hãy còn xa rất xa mà lạ cũng thiệt là rất lạ…
”In einem kaelteren Land” bao gồm những khoảnh
khắc làm quen, làm lành vết thương hay chia vui chia khổ của một người đi trong
xứ lạ, như một cách làm hòa, tìm lại đồng điệu…”gọi hồn ơ hờ” và từ đó nhớm bước
cho tâm hồn giải thoát, vượt lên, bay lên, vút qua, thong dong được thở tự do
trên những hỉ nộ ái ố thường tình.
Và nếu như thế được gọi là…thơ, thì thơ vẫn e
dè trong giây phút ban sơ nhất giữa lạ và quen…
Về dịch
Người bạn Đức, vừa là thầy và đồng nghiệp, Gs
U. Blau, sau khi đọc những
bài thơ, đã tặng tôi cái tựa đề cho tập thơ,
gọi nó là “In einem kaelteren Land”, tôi mừng nhận ra tựa đề ấy tâm can.
Nhưng cũng chính nó đã làm khổ không ít khi
chuyển sang tiếng Việt. Nghĩa đen của nó thật đơn giản: “trong một xứ lạnh
hơn”, ở đây ngụ ý so sánh thật rõ, tố cáo luôn cả xuất xứ của người viết: có
người từ xứ nắng ấm đi sang miền lạnh giá, đang ở trong “một xứ lạnh hơn”. Hai
chữ “lạnh hơn” như chỉ rõ gai ốc đang sần lên nơi da thịt còn hâm hấp mùi nắng
nhiệt đới. Trong tiếng Đức, âm hưởng của nó, dù khổ độc, gói ghém ý nhị hơi thở
thi ca được buông ra từ con chữ “kaelteren”, với hấp lực gây nhiều tưởng tượng
phiêu du giữa hai đầu ấm lạnh, giữa sắc nắng chói chang và màu tuyết lạnh lùng,
dịch sang tiếng Việt, bỗng nghe trắc trở, không thơ.
Có thể có 4 khả năng dịch: “trong miền lạnh
hơn”, “nơi miền lạnh giá”, “xứ người lạnh hơn”, “lạnh hơn xứ mình”
Tôi đã loay hoay với cụm từ “Nơi miền lạnh
giá” hòng mang một chút thơ vào trong đề tựa mà vẫn thấy sự hụt hẫng của màu nắng
đang chìm trong cơn lạnh, cái tinh tế, ý nhị so sánh ẩn trong “In einem
kaelteren Land”, cho đến khi bốn chữ “Lạnh Hơn Xứ Mình” xuất hiện, sau khi đắn
đo với cách dịch “Xứ người lạnh hơn” hay “Nơi xứ lạnh hơn”.
Trong một khía cạnh nào đó, “Lạnh hơn xứ
mình” - dịch ra tiếng Đức nguyên nghĩa là “kaelter als mein und zugleich unser
Land” - khả dĩ hoán cốt được nghiã tỉ giảo trong “Trong một xứ lạnh hơn” thành
xương tủy của “mình”. Thay vì “một xứ lạnh hơn” nào đó, không xác định, tôi đem
“xứ mình” như một lời đáp đầy ắp chủ quan đối với xứ kia và đẩy “lạnh hơn” ra
đàng trước như cảm nghiệm so sánh giữa những gì của “xứ mình” mà tôi mang theo
và của xứ người mà tôi đang cảm nhận. Tuy không có chữ “trong” nhưng LHXM cho
thấy người nói đang “ở trong” cái xứ lạnh đang nói đến.
Trong lúc chủ thể trong “Trong miền lạnh hơn”
tiếng Đức được hiểu ngầm (sous entendu) ẩn mặt, trong tiếng Việt, tôi cho
“mình” ra mặt như một dấu nhấn cái tôi – mình - vừa là thể xác cụ thể (thân
mình), nơi nắng gió cọ xát từng sát na, vừa là cái hồn tinh tế chung cuộc của
“TA” như là chủ thể cảm nghiệm, chủ thể ý thức. Trong ngôn ngữ Việt, chữ “mình”
vừa tự nhấn mạnh vừa tự bỏ rơi, “mình” chỉ cái tôi đơn nguyên, cá thể nhưng
“mình” cũng là mọi người, hay “không ai”, không xác định, có thể là ngôi thứ nhất
(tôi), có thể là ngôi thứ hai (anh) và có thể là chúng ta (xứ mình đối với xứ
người) và có thể là ngôi thứ ba (cái mình ấy).
Sự bỏ lửng một trong hai đối tượng so sánh: -
trong “TMXLH” quê hương của người làm thơ không được đề ra, trong “Lạnh hơn xứ
mình” xứ lạ là nước Đức không được nói đến - cả hai chia chung một chủ ý: cái
“không nói” trong hai ngôn ngữ mở rộng chiều không gian tưởng tượng và cái ấy
xui dục ý thơ.
Chừng ấy tâm sự mà cũng để cám ơn người bạn Đức
Ulrich Blau.
Nhặt một vài viên sỏi làm gương:
Có ai tự mình giăng bẫy cho mình? Tôi đã có cảm
giác ấy khi dịch thơ của chính mình.
Những chữ, những câu đắc nhất trong bài thơ
tiếng Đức bỗng hóa ra những cạm bẫy dễ sa chân nhất khi chuyển sang tiếng Việt.
Rất nhiều trường hợp như thế làm toát mồ hôi
cày trên hai cánh đồng chữ nghĩa. Rốt cùng có lẽ cách hay nhất vẫn là sáng tác
lại chứ không dịch.
Nhưng vẫn cố lì mà dịch, như một thách đố giữa
hai bờ ngăn cách, xem thử có cùng ngồi chung được một thuyền hay không, nơi cái
trò ảo thuật chuyển ngữ này.
Ba bài thơ tiêu biểu cho việc dịch “bở hơi
tai” ấy.
Tiết thu (Herbststimmung) (trang 40/41)
Bài thơ được viết từ một cuộc dạo chơi bên hồ
sau một cơn trọng bệnh còn chưa dứt hẳn. Cảnh thu rực rỡ bày ra trước mắt của một
người từ lâu ở trong bốn bức tường, hoát nhiên như một bừng tĩnh. Rừng cây
trùng điệp muôn màu đứng trang trọng bên hồ. Nắng vàng sáng lóa bên ni bờ, bên
kia bờ bóng im chùng xuống Không gian trong suốt mong manh trong im lặng không
cùng. Vạn vật trang đài bất động chỉ duy vài ngọn lá đỏ lìa cành, êm ả rơi xuống
mặt hồ trong như gương. Nhìn ngọn lá đỏ chao trên mặt nước, nhẹ hẫng và bình
an, bỗng nhớ một thời xếp giấy thả thuyền với niềm vui xa bờ rong chơi.
Chính trong giây phút ấy như có một phép mầu
xảy ra: cơn bệnh bỗng được gột rửa, mọi khủng hoảng nội tâm được chữa lành, chẳng
khác trạng thái chết rồi mà được sống lại
Cho nên “tiết thu” là một cuộc hồi sinh đến từ
thiên nhiên, nguồn suối cứu vớt trầm luân con người.
Trong bài thơ, cả vũ trụ mùa thu được thu lại
nơi ngọn lá đỏ và bầu trời trong hồ. Tất cả tịch lặng, đứng sững, ngay cả bụi nắng
cũng ngưng thần, chỉ duy một chuyển động: ngọn lá rơi, nhưng không rơi vào vô định
bi thảm, không sướt mướt than van thu tàn, không đỗ vỡ chia lìa, nó rơi trở lại
trong bầu trời dưới đáy hồ, nó trở lại bầu trời nguyên thủy, lành lặn nhất thể.
Trong toàn bài thơ tiếng Đức, chữ “đắc” nhất
diễn tả tâm trạng ấy là chữ “heilfroh”. Đó là một tĩnh từ ghép hai chữ “heil”
(lành, thánh thiện) và “froh” (vui), một từ “thô” ít được dùng trong văn chương
hơn trong ngôn ngữ thường nhật (Umgangsprache) Đức, tuy có nguồn gốc sâu xa từ
ngôn ngữ nhà thờ nhưng ý nghĩa thánh linh đã phai mờ, cho nên gây ngạc nhiên
không ít cho bạn đọc người Đức, ngạc nhiên mà thú vị khi chợt hiểu ý tứ bài
thơ.
Về cú pháp chữ “heilfroh” như một trạng từ là
gạch nối giữa câu trước và câu sau. Trong cảm nghiệm nó là chiếc thuyền “mộc”
đưa tâm thức từ đáy hồ (như nỗi tuyệt vọng) nơi ngọn lá vừa rụng xuống sang bờ
bên kia. Nó (heilfroh) là thanh sắc và tâm cảm mùa thu (của ngọn lá rơi) đồng
thời cũng là tâm trạng của “mich” (túc từ của ngôi thứ nhất “tôi”), “của tôi”,
người đang nhìn ngọn lá rơi, “mừng húm” được thoát nạn, được mùa thu đưa sang bờ
thoát nạn. Chính chữ “heilfroh” là gạch nối hàn gắn - thô thiển an nhiên như niềm
vui ban sơ nhất- tất cả những yếu tố trong bài thơ, nó chuyên chở cả vũ trụ mùa
thu vào trong ngọn lá đỏ rơi vào cõi an nhiên.
Tôi đã phân vân khi chọn chữ để dịch
“heilfroh”: “hân hoan an lành”, có vẻ văn hoa văn hay “mừng húm” theo cách bình
dân mộc mạc để diễn tả chính tâm trạng của người vừa thoát cơn hiểm nghèo, hú hồn
như kẻ bị trượt châm suýt ngã. Cuối cùng “mừng húm” được chọn để dịch
“heilfroh”, dù biết có thể nó quá “thô” cho một bài thơ theo nghĩa bóng bẫy
thông tục , nhưng chữ “húm” gợi cho ta ý niệm huyền nhiệm giải thoát, của “úm
ma ni bát mê hồng”, như tiếng thở phào của người vừa được cứu lên thuyền sang
sông.
Bài thơ Thời gian (Die Zeit)(tr. 44/45)
Thu ca tiếng Đức chỉ vỏn vẹn một câu, dài hơn
bài thơ sắp nói sau, dịch sang tiếng Việt, cũng gặp khó khăn bởi thể thụ động
là thể nặng nề khi chuyển sang tiếng Việt. Bài thơ phối hợp sự nhạy cảm của hai
giác quan: thấy và nghe trở thành hòa đồng khi màu sắc trở thành âm thanh, khi
bức tranh thiên nhiên lên tiếng thành hòa âm mùa thu, khi thị giác chuyển qua
thính giác và sự nhận biết, nhìn ngắm thiên nhiên xảy ra như một tổng hợp toàn
vẹn của các giác quan. Tất cả những điều ấy đều do chiếc đũa thần thiên nhiên
biến hóa hội hoạ trở thành âm nhạc: đó là thời gian, thời gian như một ý niệm
biến chuyển, trở thành, sáng tạo.
Khi thiên nhiên xuất hiện trong vẻ hoàn hảo
nhất, trong sự lộng lẫy tuyệt đối, thiên nhiên có thể giải phóng sự tù túng, cỡi
bỏ giới hạn ngũ quan, phóng thích mọi phân biệt, và tràn ngập cái TÂM, chuyển
hóa nó thành HOÀN MỸ.
Nguyên nghĩa của câu thơ: bị thời gian khuấy
động, hay cảm động do thời gian, màu vàng chảy tràn trên lá tái xanh hòa nên tiếng
thu ca. Động từ “ruehren” có nghĩa khuấy động, đánh động (như khi khuấy sữa,
đánh trứng), cũng còn có nghĩa làm cảm động, rung động…Trong bài thơ, màu vàng
của mùa thu được khuấy động (như của một bàn tay họa sĩ) chảy tràn ra vũ trụ,
màu vàng huy hoàng lộng lẫy đến nỗi chính nó lên tiếng hoà điệu trở thành bài
ca mùa thu.
Bài thơ Về nhà (Zu Hause sein) (trang
98/99)
Đây là bài thơ ngắn nhất của tập thơ, chỉ gồm
có 5 chữ cái, không có động từ chính. Chữ “wundgelaufen” dùng trong thể
“participe passé” như một trạng từ, có nghiã tình trạng “đi bức đau chân, sưng
chân, đi đến bị thương”, sang tiếng Việt trở thành động từ “đi”, “chạy”. Chữ
“Fußbad” là một danh từ kép của hai chữ “Fuß” (chân) và “Bad” (sự tắm rửa) dịch
sang tiếng Việt thành động từ rửa chân. Chữ “Regenwasser” là một danh từ ghép gồm
“Regen” (mưa) và “Wasser” (nước).
Toàn thể bài thơ chỉ là nét phác họa của một
hình ảnh: rửa chân bị đau vì đã đi nửa vòng trái đất bằng gáo nước mưa. Tính
sinh động của bài thơ nằm nơi giòng chảy của nước mưa mát dịu trên chân đau múc
từ lu nước trong sân nhà cũ: hình ảnh về nhà là như thế, nó được bất động hóa bằng
những danh từ và trạng từ, tĩnh từ, ngay cả tiếng nước chảy trên chân, nó là sự
bình an tuyệt đối của sự trở về căn nhà cũ, nó là bức ảnh ngưng lại một giây của
cuốn phim chạy nửa vòng trái đất.
Nó tựa như một lối thư pháp hán tự diễn tả chữ
TÂM bằng dấu chấm và nửa mặt trăng!
Chỉ có thế mà muôn vàn khó khăn.
Rốt cùng,
Sự gặp gỡ giữa ngôn ngữ và ngôn ngữ là nơi dừng
lại của phiêu bồng tưởng tượng, nơi giao thoa giữa “hiểu” và “cảm”.
Ước mong tập thơ được đọc với tâm độ lượng
như một háo hức kiếm tìm đồng điệu.
Thái Kim Lan





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét