Thi sĩ Quách Tấn và thiên nhiên
Khoảng giữa thập niên 1980 chúng tôi được hầu chuyện cùng thi
sĩ Quách Tấn. Câu chuyện xoay quanh lĩnh vực làm việc của tôi tạm gọi là “Bảo vệ
môi trường sinh học, sinh thái học”
Thực ra tên gốc của lĩnh vực ấy là “Landespflege”, một khoa học
tổng hợp của nước Đức đã có hơn 200 năm lịch sử.
Thuật ngữ Landespflege không thể chuyển dịch sang bất cứ một ngôn ngữ nào khác. Với 4 môn học chính bao gồm “Bảo vệ thiên nhiên”, “Quy hoạch cảnh quan và du lịch ngoài đô thị”, “Bảo vệ quê hương” và “Bảo tồn di tích” (gồm di tích lịch sử, di tích văn hóa và di tích thiên nhiên)
Thuật ngữ Landespflege không thể chuyển dịch sang bất cứ một ngôn ngữ nào khác. Với 4 môn học chính bao gồm “Bảo vệ thiên nhiên”, “Quy hoạch cảnh quan và du lịch ngoài đô thị”, “Bảo vệ quê hương” và “Bảo tồn di tích” (gồm di tích lịch sử, di tích văn hóa và di tích thiên nhiên)
Có thể nói một cách nôm na là một ngành “chăm sóc vùng lãnh
thổ” hoặc “chăm sóc quê hương” với nhiều mục đích như giữ gìn, làm đẹp, tôn tạo,
phát huy, quy hoạch và quản lý phần vật chất lẫn tinh thần và cả phần thiêng
liêng của đất nước.
Nó có thể được hình dung như một dòng sông tiếp tục rộng mở,
hình thành từ sự hội tụ của bao nhiêu nguồn suối tư tưởng và nhận thức thuộc
văn học, nghệ thuật, khoa học tự nhiên, triết học, tâm lý học, xã hội học v.v... Xin đan kể một số nguồn suối chính đã đóng góp vào việc xây dựng nền cho khoa học
này mà ý tưởng và tình cảm của Quách Tấn về thiên nhiên đã biểu lộ rất nhiều
nét tương đồng với nội dung của nó.
Thứ nhất là phong trào “Làm đẹp và làm tốt đất nước”
(1770-1830). Phong trào này có mục đích tạo lập vườn “phong cảnh” và làm thanh
lịch làng nước từ nhà ở, đường đi, công viên đến ranh giới thành phố và
vươn ra tận vườn ruộng, đường xe hỏa… Ước vọng lớn của phong trào là xây dựng
và cải tạo quê hương, đất nước thành một địa đàng.
Thứ hai là phong trào “Bảo vệ quê hương và bảo vệ thiên
nhiên” (1830-1919). Phong trào này đã năng nổ tìm hiểu cũng như gìn giữ và phát
huy gia tài lịch sử, văn hóa và thiên nhiên- trong đó có một khía cạnh mà nay
ta gọi là bảo vệ đa dạng sinh học. Hàng vạn con người tham gia tích cực trong
công việc này, đã thành lập nhiều đoàn thể dưới những danh xưng khác nhau. Ví dụ
như: “Hội du ngoạn” chuyên đến vùng núi cao không bóng người lai vãng để tìm hiểu
và mô tả phong cảnh, chim thú, cây cỏ hoang dại nơi đây. Đoàn thanh niên mệnh
danh là “Những cánh chim du ngoạn”, muốn vươn lên trong tư duy khai phóng và muốn
đứng vững trên đôi chân của lứa tuổi mình, đã du khắp mọi miền đất nước... Họ
ghi chép sáng tác văn thơ và nhạc rồi đem phổ biến rộng rãi. Tình yêu quê hương
và sự hiểu biết về đất nước đã được chuyển tải trực tiếp đến mọi người.
Thứ ba, những nhóm tìm hiểu và bảo tồn các khu hoang dã, núi
non, vách đá, đồi cát hoặc bảo vệ chim thú, di tích v.v.. đã tiếp tay khơi dậy
thiện cảm và cách nhìn chính xác và sâu sắc hơn về thiên nhiên.
Những phong trào này và các trào lưu lập Vườn quốc gia, Vườn
đô thị, một mặt đã dẫn đến sự bảo tồn thực vật bản địa hữu hiệu hơn; mặt khác
đã góp phần làm tăng vẻ đẹp thành phố, tạo khu du lịch nghỉ ngơi cho dân chúng
hoặc là “Xanh xã hội” đưa hoa lá vào những khu phố xám xịt, nơi có giới công
nhân ăn ở. Nó cũng đã thúc đẩy nhà nước thiết lập cơ quan và ban hành đạo luật
bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ bờ biển, bờ sông và bờ suối như một sở hữu của toàn
dân, không ai được xâm chiếm làm của riêng.
Bên cạnh các phong trào vừa kể, nhiều nhà thơ, nhà văn, triết
gia cũng đóng góp quan trọng cho cách nhìn thẩm mỹ trước cảnh quan, cho sự “suy
nghĩ bằng con tim” trước tạo vật, cho quan niệm về một thiên nhiên thơ mộng hoặc
một thiên nhiên thanh bình, uyên nguyên như Goethe, Schiller, Holderlin,
Hermann Lon đã có phần đóng góp của mình.
Bảo vệ thiên nhiên và Landespflege dần dần trở
thành một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước (1919-1945).
Sau năm 1945 Landespflege trở
nên một khoa học toàn diện mà bảo vệ thiên nhiên là môn sinh vật sinh thái hiện
nay. Các hoạt động thực tiễn của chúng đều dựa trên luật pháp, quy hoạch và chịu
sự quản lý của các cơ quan nhà nước cũng như được sự hỗ trợ của các đoàn thể quần
chúng.
Chúng tôi đã thông tin ngắn gọn lãnh vực làm việc của
chúng tôi như vậy. Thi sĩ Quách Tấn im lặng lắng nghe, nhiều lúc gật đầu, đôi
khi có đôi lời bình luận. Thời gian tuy ít song cũng đủ cho chúng tôi cảm nhận
được thái độ ưu ái của thi sĩ đối với chuyên môn của chúng tôi, nhất là đã giúp
chúng tôi phát hiện được cái nhìn sâu sắc về thiên nhiên của thi sĩ. Tôi dự định
triển khai những điều mình đã ghi nhận, nhưng rồi bao nhiêu gánh nặng sinh nhai
dồn dập đổ lên vai nên đành chờ một dịp thuận lợi.
Duy có một câu nói của thi sĩ trong câu chuyện đã khiến tôi
nhớ mãi, Lúc chúng tôi lướt qua môn quy hoạch cảnh quan dựa trên các chuẩn mực
khoa học thẩm mỹ, du lịch và xã hội, chúng tôi đã minh họa vài nét tưởng tượng
về sự phối trí cây cảnh, màu sắc lên bờ biển Nha Trang, đặc biệt là hình thù đa
dạng, cỏ, hoa, trái có hương thơm, có sự chuyển màu của hoa lá theo các mục
đích vừa tạo đường nét và màu sắc linh động bắt mắt, vừa gợi cảm và gây ý thức
về thời gian, vừa nuôi dưỡng và nhân rộng côn trùng chim chóc. Thi sĩ tỏ vẻ rất
thích thú và thốt lên:
“Đó cũng là thơ… là đạo đức rồi!”.
Lúc đầu câu nói chỉ gây cho chúng tôi một sự ngạc nhiên,
nhưng sau đó vang mãi trong tim. Nhất là sau này khi đọc xong hai cuốn Địa
phương chí: Nước Non Bình Định và Xứ Trầm Hương. Chúng tôi
đã nhận thức rõ là Quách Tấn đã muốn nói gì.
Đoạn tả hoa xoài trong cuốn Nước Non Bình Định đã khiến hồn
chúng tôi say đắm bay bổng trong thế giới màu sắc và hương vị của quê hương
Bình Định.
“Hoa xoài ngắm từng nhánh không đẹp, ngắm cả cành cũng không
đẹp, ngắm cả cây cũng chưa thấy đẹp. Muốn thấy rõ vẻ đẹp của hoa xoài phải ngắm
cả rừng hoa. Và không đâu có thể thưởng thức đầy đủ bằng lúc xoài ra hoa (tháng
chạp, tháng giêng âm lịch)…Trước mặt chúng ta một màu vàng linh động, dính liền
với sắc trời xanh. Không có một màu nào khác (cho đến cả màu xanh của lá) lẫn lộn
vào. Đó là đồng lúa chín của miền lục tỉnh trong Nam? Không, vì sắc lúa chín
vàng đậm, còn màu hoa xoài vàng tươi. Đó là rừng hoa hòe nở hạ? Không, vì hoa
hòe không có mùi hương. Đó là rừng huỳnh cúc, rừng huỳnh mai? Có thể ví được.
Chỉ khác là hương cúc lành lạnh đăng đắng, hương mai dìu dịu và chỉ thoáng qua.
Còn hương hoa xoài thì mùi lờn lợt nhưng vị lại ngòn ngọt, bay vào mũi rồi thấm
lần xuống cổ, khiến khi đứng ngắm hoa xoài, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, ý…của chúng
ta đều chung hưởng thú. (Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên, TP HCM 1999, trang
99)
Ôi thật là thơ! Quách Tấn đưa chúng tôi vào thế giới của
màu sắc và hương vị của xoài, thế giới của hòe, của cúc, của mai, của đồng lúa
chín quê hương, của sắc trời xanh, của thời điểm ngắm nhìn, của con người thưởng
ngoạn.
Thi sĩ Quách Tấn
Với Xứ Trầm Hương, chúng tôi lại đi trong sắc vàng của
hoa mai trên đồi Trại Thủy, trong rừng mai Phước Hải và nhất là trong sắc lá đỏ
thắm giữa mùa xuân của lá bàng “mùa đông chỉ rụng cho có lệ. Qua xuân thì xanh
trở vàng, vàng trở đỏ. Đỏ thắm như màu son, đỏ tươi như môi người thiếu nữ
trinh trắng”. Những hình ảnh này sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn
người Khánh Hòa dù mai sau không còn cảnh trí này nữa. Với Nha Trang, một bức
tranh toàn cảnh thơ mộng tươi đẹp với tầng lớp núi non xa gần, với sắc màu đan
xen giữa thiên nhiên và công trình nhân tạo, tô điểm cho nhau tạo ra trạng thái
hài hòa mà các nhà quy hoạch cảnh quan hay quy hoạch tổng thể đáng quan tâm,
đáng cố gắng giữ gìn, đáng ngăn chặn những sự vô tình phá vỡ trong phương án
xây dựng phát triển quê hương và phục vụ con người:
“Đứng tại Nha Trang trông sang, những lúc trời quang mây tạnh,
nhất là những lúc mặt trời mới lên và lúc bóng chiều đã ngã, thì chúng ta mới
thấy rõ vẻ đẹp của núi. Không nhiều cây rậm lá màu sắc núi trông lục lìa. Đỉnh
núi không có ngọn đâm lên trời xanh mà chạy lô nhô như những luồng nhưng đường
nét sắc bén như một tấm bìa các em cắt làm thủ công. Và những màu đỏ màu xám của
gạch của ngói, những màu trắng và màu đen của vôi của đá…tô điểm cho bức tranh
màu lục đậm thêm duyên. Ngoài xa những dãy núi cao, màu xanh nhạt làm bối cảnh
và ngoài xa nữa là trời xanh . Càng nhìn càng thích” (Xứ Trầm Hương trang 63)
Đọc xong Xứ Trầm Hương ta thấy nhà thơ Quách Tấn yêu
thiên nhiên cũng như yêu quê hương Khánh Hòa vô cùng. Và rồi tôi trực nhận ra
trong Quách Tấn còn tiềm ẩn một con người khác: một nhà “Quê hương học”, một vị
thầy “Thẩm mỹ học” trong môn quy hoạch cảnh quan, điều mà đáng lẽ ra tôi phải
thấy được trong lúc hầu chuyện.
Tôi thầm nghĩ: Té ra mình đã không đủ tính nhạy để nhận ra một
bậc thầy ngay cả trong chuyên môn của mình: Thi sĩ Quách Tấn há chẳng lắng nghe và ca ngợi ngành Landespflege đó
sao. Thi sĩ đã nói: “Bác không ngờ là người ta đã có một chuyên khoa như vậy!”
hoặc “Họ giỏi thiệt!”. Quách Tấn há chẳng đã mỉm cười gật đầu liên tiếp khi
nghe nhu cầu làm đẹp cảnh quan, bảo tồn và tôn tạo di tích, phát triển du lịch
ngày càng trở nên quan trọng trên thế giới đó sao!
Trong câu chuyện bảo vệ thiên nhiên, Quách Tấn há chẳng ngạc
nhiên và ca ngợi những quốc gia tuy không có truyền thống đạo Phật song đã sớm
lập vườn quốc gia và ban hành luật pháp bảo tồn giống loại chim thú, cây cỏ
hoang dã đó sao!
Nhìn chung hai quyển “Nước Non Bình Định” và “Xứ Trầm Hương”
đã gói ghém đầy đủ tình cảm và tâm ý nồng nàn của Quách Tấn đối với Quê hương.
Còn thiên nhiên? Thiên nhiên trong hai quyển sách cũng hiện
ra với đa dạng hình sắc: lúc lung linh thơ mộng, lúc hoành tráng vĩ đại, khi
huyền bí mộng mị.
Mạch ngầm nào đã khiến cảm xúc và tư duy của thi sĩ tuôn trào
như vậy?
Giờ đây chúng tôi hết cơ hội được hầu chuyện với thi sĩ, hết
cơ hội để trực tiếp nhận được câu trả lời.
Nhưng thơ văn của Quách Tấn còn đó. Nhiều người quen biết thi
sĩ còn đó. Tôi còn có cơ hội học hỏi, tôi đã gặp lại hai anh, Quách Giao và
Phan Hồng Châu, kẻ sâu nặng với thơ văn, người trầm tư với đạo Phật. Cả hai được
gần gũi với thi sĩ và hiểu rõ thi sĩ hơn tôi, ngay cả cách nhìn ngắm thiên
nhiên qua con mắt văn thơ và con mắt đạo học. Chúng tôi đã bổ túc cho nhau để
cùng nhìn Quách Tấn trong lãnh vực thiên nhiên và quê hương... Giữa thời đại mà
sự giao lưu và ảnh hưởng qua lại của các nền tư tưởng, văn học, nghệ thuật,
khoa học trên thế giới đã trở nên sinh động và phong phú thì chúng tôi đã bổ
túc cho nhau để cùng nhìn ngắm văn thơ Quách Tấn, nhìn ngắm thiên nhiên trong
tâm hồn Quách Tấn qua con mắt văn thơ, con mắt đạo học và con mắt khoa học. Ba
quan điểm này đã chi phối cách nhìn, sự cảm nhận và tư duy về thiên nhiên.
Chúng cũng có cách cắt nghĩa riêng về nguồn gốc thiên nhiên để từ đó vạch ra
chuẩn mực đánh giá và tiêu chuẩn hành xử đối với thiên nhiên.
Chúng tôi nương theo ba quan niệm có sẵn như những cái khung
tiện lợi cho việc phân tích tìm hiểu “Quách Tấn và Thiên nhiên”. Song chúng tôi
chỉ nương theo những gì rất phổ biến và gác sang bên mặt triết lý của chúng.
Chúng tôi không có ảo tưởng rằng mình có thể thấu triệt được hết mọi chiều sâu
để rồi cuối cùng gán ép quan niệm của Quách Tấn vào bất cứ một quan niệm sẵn có
nào.
Vậy ba quan niệm đó là gì?
Thứ nhất là quan niệm đạo giáo. Qua đó con người và thiên
nhiên đều được Trời hay Chúa sáng tạo ra. Tuy vậy, con người luôn luôn được xem
là “vật chí linh”, là sản phẩm chọn lọc được Chúa giao cho nhiệm vụ gìn giữ Quả
Đất với hình dạng một Vườn Địa đàng Còn thiên nhiên chỉ là tặng phẩm, chỉ là ân
sủng của “bề trên” ban cho con người. Thiên nhiên là cái tách rời khỏi con người.
Con người có quyền sử dụng hay bắt nó làm tôi tớ tùy theo ý muốn. Gần đây, giới
thần học Tây phương cũng đã nhận thức rằng xu thế hủy hoại thiên nhiên về lâu về
dài sẽ đem lại cho con người những hệ quả thảm khốc. Họ đã suyễn dương thêm ý
tưởng “phải gìn giữ” những gì do “bề trên” sáng tạo.
Thứ hai, ngược lại với quan niệm trên, thuyết vật lý -
mà lâu nay làm nền tảng cho khoa học tự nhiên và vẫn còn giá trị trong đời sống
thông thường - nhận thức rằng vũ trụ - bao gồm cả thiên nhiên – là một guồng
máy khổng lồ có tính cơ học được hình thành từ vật chất. Vũ trụ vật lý tự khép
kín bên trong và mang tính định mệnh (như thuyết Quyết định luận Determinism). Tự do ý chí và tự do hành động của con người chỉ là ảo tưởng (A.M.K.
Muller: Die praparrierte Zeit Der Mensch in der Krie…= Thời gian được xử lý.
Con người trong khủng hoảng…Stuttgart 1972, từ tr. 72) Theo quan niệm này,
thiên nhiên không còn là sinh thể linh động. Nó là đối tượng để khảo sát, để mổ
xẻ tìm hiểu và được xử lý theo lý trí như những khúc, những đoạn, những lát cắt..
Và mục tiêu tối hậu của lý trí là “kiến lập”, là “cải tạo”, là “chế biến”.
Thiên nhiên là nguyên liệu để làm ra sản phẩm.
Thứ ba là quan niệm Nhất thể, cũng gọi là Toàn thể.
Theo đó thì thiên nhiên là một Đại thể bao trùm khắp nơi nơi. Con người và xã hội
loài người chỉ là những thành phần trong Đại thể ấy. Mối tương quan giữa con
người và thiên nhiên là mối tương quan đối tác, tương tự như giữa người
với người, không xa cách nhau, không thù nghịch nhau, không ngự trị nhau, không
hành hạ và tiêu diệt nhau.
Trong mối tương quan đối tác, con người và thiên nhiên
tác động tương hỗ với nhau về các mặt thể xác, trí tuệ và tâm linh. Thái độ
của con người đối với thiên nhiên là đồng cảm, đồng rung động, đồng
đau khổ và đồng sinh diệt. Trong mọi tình huống, quá trình đối tác diễn ra
đều mang tính tích cực hay tiêu cực, song không có mâu thuẫn. Thiên
nhiên cũng là cuốn sách để đọc, để học, để tra
cứu, để chỉ lối hòa nhập vào uyên nguyên.
Chúng tôi đã đối chiếu ba quan niệm trên với những mảnh khảm
về Quách Tấn mà chúng tôi tìm thấy để đi đến kết luận rằng:
Thứ nhất, Quách Tấn là con người mến mộ đạo Phật. Những gì
thi sĩ cảm, nghĩ và viết không bắt nguồn từ đạo lý “sáng thế”.
Thứ hai, Quách Tấn là nhà thơ. Chế ngự thiên nhiên, bắt thiên
nhiên làm tôi tớ hay mổ xẻ thiên nhiên ra để tìm hiểu và sử dụng là những điều
xa lạ đối với thi sĩ. Thi sĩ cũng không sống giữa một xã hội công nghiệp phát
triển, giữa thời đại của chuyển gien hoặc nhân bản con người theo phương pháp
vô tính. Như vậy Quách Tấn không có cái nhìn thiên nhiên qua con mắt khoa học
và công nghệ.
Chúng tôi đã lắng nghe tiếng lòng của nhà nghệ sĩ qua các văn
phẩm, thi phẩm. Ngoài các tập Địa phương chí, chúng ta còn thấy rất nhiều tình
yêu thiên nhiên trong thơ Quách Tấn nữa:
Chúng tôi đã lắng nghe tiếng lòng của Quách Tấn qua bài “Tiếng
Vui”:
Cảm ơn ông hàng xóm
Ngừng mở máy thu thanh
Võng đưa thềm mận chín
Nghe sẻ gọi bình minh.
Chúng tôi cảm thấy thi sĩ thật đáng thương chịu đựng loa phát
thanh suốt năm tháng, chỉ được đôi khoảnh khắc yên tĩnh để nghe chim hót và ngắm
ánh bình minh.
Chúng tôi cũng chua xót cho thi sĩ đã nhờ vào cái lệnh giới
nghiêm của thời chiến tranh đầy bất trắc để có chút bình an thưởng thức lời
chim gọi đàn và giọt trăng lửng lơ trên cành:
An nhàn học thú người xưa
Mỗi năm thưởng thức vài giờ là may
Phần thì xe cộ máy bay
Phần thu thanh mở sáng ngày tối đêm
Hổm rày nhờ lệnh giới nghiêm
Bình minh thánh thót tiếng chim gọi đàn
Loạn ly đưa lại bình an
Cành chim đôi giọt trăng tàn lửng lơ.
(An nhàn, Nha Trang 1968)
Đôi dòng thơ trên đủ cho thấy những gì mà Quách Tấn
khao khát, những gì là chất sống quan trọng của thi sĩ: hoa trái, chim chóc,
ánh bình minh, trăng sao và bao nhiêu thành phần khác của thiên nhiên, một
thiên nhiên hiện hữu từ muôn triệu năm, trước khi loài người có mặt trên quả địa
cầu này.
Thiên nhiên đối với Quách Tấn là thế giới cùng hiện hữu, cùng
chung sống, cùng làm bạn và có những người bạn đáng tin cậy để Quách Tấn có thể
trao gởi tất cả những gì tươi đẹp nhất, lạc quan nhất, tinh túy nhất của cuộc đời
mình:
Lo buồn nghĩ chẳng ích chi
Đời còn vui được ta thì cứ vui
Một mai ba tấc đất vùi
Trần gian để lại nụ cười cho hoa.
(Một mai, 1979)
Từ trong nét cơ bản ấy, chúng tôi lần theo tiếng lòng thi sĩ
tuôn chảy theo những dòng thơ văn. Qua đó khuôn mặt bên ngoài của thiên nhiên
không ngừng ánh lên, tỏa sắc lung linh và bao vẻ đẹp đặc thù:
- Thanh bình, nhẹ nhàng và nên thơ như bức tranh tả chân với
những hình ảnh quen thuộc ở thôn quê:
Bên dòng khe nước trong
Cây măng vòi cong cong
Lắc lư chim chèo bẻo
Trên nền trời rạng đông.
(Rạng đông)
Sóng gợn đồng lúa thơm
Hương theo ngọn gió nồm
Qua hàng tre nắng nhuộm
Dòn dã tiếng cu cườm.
(Đơn giản)
- Lộng lẫy choáng ngợp, chợt hiện ra cuốn hút cả thần hồn:
Thình lình dì gió mở tung cửa
Đưa chị Hằng Nga lộng lẫy vào
(Thình lình)
- Lãng mạn, tình tự quấn quyện nhau:
Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió
Tóc liễu dừng thơ đón tóc trăng
(Đêm tình)
- Kiều diễm, vương giả làm cho lòng chếnh choáng đắm say:
Thược dược gió bay màu túy vũ
Hải đường sương tỉnh giấc xuân tiêu
(Xuân quạnh)
- Ánh ngời, trân quí, xanh thắm một bầu trời:
Châu thân trùm phí thúy
Đôi mắt ngời kim cương
Mộng ấp trời xanh thắm
Trên cành cửu lý hương.
(Con sâu cửu)
- Diễm lệ, huyền thoại, tung bay:
Vườn dừa mé biển tung đuôi phụng
Rẫy bắp sườn non thẳng cánh cò
(Qua Phú Yên tức cảnh)
- Thanh tịnh và sung mãn nét đẹp tâm linh:
Lặng lẽ cây thềm giếng
Sao sa nặng trĩu cành
(Ếch kêu)
Với nhà thơ, thiên nhiên đâu chỉ phơi bày vẻ đẹp của mình,
thiên nhiên còn trao đổi với thi sĩ biết bao tình ý đậm đà.
- bầy én là bạn:
Tuy không người đối bóng
Bầy én bạn tương tri
(Vàng Ngập Bến)
Về đây mây nước bạn mình
(Lờ mờ)
- mảnh trăng là bạn:
Đêm đêm nằm đợi canh gà giục
Mảnh nguyệt rừng xa bạn cố tri.
(Lánh
cư )
- thiên nhiên bay nhảy cùng trẻ em, gây reo lên
niềm vui trong sáng với tiếng nhạc châu ngọc;
Ô vui thay!
Ồ vui thay!
Hoa soan lay
Đàn bướm bay
Trong nắng hường
Trong gió hương
Tiếng ve gọi
Lời trẻ nói
Ngang qua đường
Sang qua mương.
(Trong nắng hè)
- trúc đã chung niềm sầu đau nhớ bạn từ buổi chia ly:
Ngõ ngoài trúc đổi bao lần biếc
Còn vướng hoàng hôn lúc biệt ly
(Ngõ trúc)
- thi sĩ đã cùng rét lạnh với thân phận hẩm hiu của cò:
Co ro thân cò lép
Bến lạnh đứng rình mồi
(Dòng thu)
Sự rung động và cảm thông của Quách Tấn với các vật hữu tình
đâu có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì thiên nhiên cũng còn biết thương nhau và an ủi
nhau kia mà:
Lá thương nhánh nặng bay hầu hết
Trời sợ non côi xích xuống gần
(Trời Đông)
Hoặc:
Sẻ vàng hoa mận trắng
Khắng khít niềm tương thân
(Bóng Chiều Xưa)
Và đá cũng mang nặng nghĩa tình sâu nặng:
Khắng khít thớt em nương thớt chị
Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông
(Chơi
Hòn Chồng Cảm Đề)
Đối với Quách Tấn, vạn vật đã bồi đắp cho thi sỹ niềm rung cảm
và tình thương yêu sâu lắng. Thi sĩ đã đáp lại bằng tình cảm, bằng sự tôn trọng
nhau.
Thi sĩ đã cất bước nhẹ nhàng lúc đi dạo trong đêm khuya vì
tôn trọng giấc ngủ của chim:
Bước hoa dìu gió nhẹ
E động giấc hoàng ly
Không hái hoa vì thương hoa:
Thương
hoa không nỡ hái
Hoa
rụng lòng thêm thương
(Tình Hoa)
Và kêu gọi ngọt ngào tha thiết với trẻ em không nên đánh
chim:
… Con chóp mào
Kêu trên cây đào
Nghe hay làm sao
Em nở nào?
Đi tìm cây sào
Đánh con chóp mào
Em nở nào
Cầm cây sào
Đánh con chóp mào
Hở em?
Em hỡi em
Để cho chim
Đi tìm
Con sâu con bọ
Đem về nuôi
Bầy con nhỏ
Bên cửa tổ
Nằm há mỏ
Chờ mong mẹ về…
(Chim chóp mào)
cứng rắn và cương quyết khuyên kẻ bắn chim dừng tay sát hại:
Ánh lửa hoàng hôn đã lập lòe
Oanh vàng còn nuối bóng hoa lê
Hởi anh trương ná dừng tay lại
Cửa tổ chim con ngóng mẹ về
(Hoàng Hôn)
Đó là những nét đồng cảm, đồng rung động, đồng chia sẻ vui buồn
trong tấm lòng của thi sĩ đối với thiên nhiên.
Trong quan hệ qua lại giữa Quách Tấn và Thiên Nhiên, tính
tương hổ về thể xác qua trí tuệ đến tâm linh đã phơi bày một cách tích cực và
không mâu thuẫn. Sự thưởng thức hoa xoài mà thi sĩ đã mô tả trong “Nước Non
Bình Định” đã biểu hiện điều ấy. Quách Tấn không chỉ nhìn ngắm hoa xoài với con
mắt thẩm mỹ mà với cả con mắt triết lý và tâm linh. Quách Tấn đã hòa nhập toàn
bộ con người mình, với hoa xoài, cây xoài, rừng xoài. Chúng đại diện cho trăm vẻ,
trăm màu của thiên nhiên. Chúng làm điều kiện để khơi động từng phút từng giây,
từng sát na cảm xúc của thi sỹ, hổ trợ thi sĩ ý thức được sự có mặt của ngũ
quan và những tính năng của nó mà thuật ngữ của đạo Phật gọi là “nhãn thức, nhĩ
thức, tỷ thức” v. v.. Cây xoài cũng là một vũ trụ. Nó là hiện thân của đất, nước,
không khí, năng lượng mặt trời của sự vận hành tháng năm, của thời gian vô tận.
Hòa nhập vào nó cũng là hòa nhập vào suối nguồn của sự sống.
Một vỏ sò khô cũng vang vọng nghe tiếng reo của biển khơi. Sự
sống, sự chết nào lại chẳng liên quan với môi trường sống, với thế giới đồng hiện
hữu? Hiện thể của vỏ sò hoặc con sò đâu thể thiếu vắng biển khơi. Tiểu thể và đại
thể tương quan, tương duyên với nhau và mỗi tác động đều gây sự chuyển động dây chuyền:
Vỏ sò khô ấp ủ
Niềm băng tuyết đêm sương
Muôn xa bờ bến cũ
Vang vọng sóng trùng dương
(Ấp Ủ )
Hoặc:
Nước
ngậm trời long lanh
Con cào cào áo xanh
Bờ cao búng chân nhảy
Mây chiều thu rung rinh.
(Búng
Chân)
Đây là nhận thức triết lý đúng hơn là đạo lý của Quách Tán.
Nó bắt nguồn từ sự thấm nhuần đạo Phật.
Trong thế giới tương quan, tương duyên và có cả tương tác nữa
thì đâu đâu cũng mang tính động thái và tính tiến trình. Tất cả đều tác động
qua lại, đều vận chuyển, nghĩa là không diễn ra một chiều mang tính định mệnh,
mang tính “sáng thế”. Tính tương quan tương duyên quyết định cho sinh diệt cũng
như hình ảnh màu sắc của thiên nhiên, cũng quyết định tính vô biên, vô thường
và vô ngã của thiên nhiên.
Thơ văn của Quách Tấn đã giúp chúng tôi hiểu sâu thêm nhận thức
ấy.
Đã nhiều khi chúng tôi tự hỏi đến bao giờ mình mới giữ lòng tự
tại khi trước mặt luôn luôn có sự đổi thay. Đến bao giờ mới trực cảm được “mộng
cũng là chân” để hưởng hương xuân ngào ngạt mãi:
Mười hai mùa lá rụng
Đây mùa hương nở xuân
Theo duyên lòng chẳng đổi
Là mộng cũng là chân
(Nở xuân)
Con đường của chúng tôi đi còn dài vô tận để có thể được như
Quách Tấn là chấm dứt tất cả mọi bay nhảy, mọi tìm kiếm, đi và đến, để như “Chim
dừng cánh biệt ly” (Mơ đạo), để không còn hỏi “Cảnh hay lòng” và để nhận thức được
rằng “Lòng với cảnh không chia” (Quán trọ đêm thu) và:
Nước mây hằng tự tại
Vàng đá chẳng vô tri.
Làm sao đi theo con đường tu sửa thầm lặng trong sự “Ẩn ánh
cõi từ bi” của Quách Tấn để trải nghiệm được ”Hương gió thoảng liên trì” (Mơ đạo),
dù chỉ trong một sát na!
Ngày chúng tôi đến thăm nghĩa trang nơi an nghỉ của nhà thơ
Quách Tấn. Lòng chúng tôi hoàn toàn tỉnh lặng sau khi đọc những dòng thơ
được khắc trên bia mộ:
Nghìn xưa không còn nữa
Nghìn sau rồi cũng không
Phảng phất bờ trăng rạng
Hương Ưu đàm trổ bông.
(Thoáng Hiện)
Nghìn xưa không còn là thực tại. Nghìn sau chưa là thực tại.
Và thực tại cụ thể hiện ra, chưa kịp nhận biết đủ, đã trở thành quá khứ trừu tượng
trong sát na liền theo. Trí tuệ nhận thức được điều đó. Không giữ chặt cái đã
qua, không sống với cái chưa có thực khó khăn. Không để cho những gì của
quá khứ và tương lai chen vào phút giây đang hít thở thì vầng trăng rạng cũng
cho “thấy” cả hương Ưu đàm. Hoa Ưu đàm là hoa Giác ngộ. Hoa này không xuất hiện
trong cuộc sống vang dội loa phát thanh và rộn ràng xe cộ cũng không xuất hiện ở
nơi đâu đâu cũng tấp nập bay nhảy, tìm kiếm, đi và đến. Bốn câu thơ ngắn trong
bài Thoáng hiện của Quách Tấn đã ghi lại điều này.
Tại đây, nếu chấm dứt bài này thì thật là đẹp. Tuy nhiên vì
đã có ý đồ tìm hiểu về Quách Tấn và thiên nhiên thì cũng nên có đúc kết dù là tạm
bợ:
Thứ nhất, trong việc tìm hiểu “Quách Tấn và thiên nhiên” mỹ cảm
của chúng tôi được đánh thức và bay theo bao nhiêu vẻ đẹp, bao nhiêu nguồn sống
linh động, tươi sáng và nồng ấm của quê hương. Chúng tôi đã phát hiện nhiều nét
tương đồng trong thơ văn của thi sĩ so với văn thơ và triết lý thời lãng mạn về
mặt cảm xúc, tư duy và nhận thức, nhất là trong cố gắng tìm về một quê hương
vĩnh hằng. Dầu vậy chúng tôi không nghĩ rằng Quách Tấn là một nhà thơ thuộc trường
phái lãng mạn (romantic). Cõi vính hằng của Quách Tấn là hương liên trì, là
hương Ưu đàm, là bờ Giác ngộ.
Thứ hai, đối với bản thân tôi, khi ngẫm lại con đường học và
hành tuy dài dằng dặc và gồ ghề của mình, tôi càng thú vị khi hiểu rõ hơn lời
Thầy Quách Tấn đã nói:
“Đó cũng là thơ,,, rồi”
Và trên quê hương ta cũng có ngành học hay những môn học
tương tự như vậy mà tôi chưa được biết đến vì giới hạn của mình, thì dấu ấn của
Quách Tấn lưu lại có thể xem như một phần linh hồn của ngành học ấy - qua nhận
xét chủ quan của tôi.
Thứ ba, Quách Tấn thường được xem như một nhà thơ Đường cổ điển.
Tuy vậy theo chúng tôi, cái nhìn và nhận thức về thiên nhiên của thi sĩ thực sự
không cổ điển.
Vì sao?
Vì mô hình mới cho suy tư và hành động của con người hiện
nay, mà đông đảo các nhà khoa học xuất sắc, các triết gia và các nhà tôn giáo
tên tuổi tại các nước công nghiệp tiên tiến đang nỗ lực đóng góp xây dựng, bao
gồm bốn trụ chống:
1.) Nhìn nhận tính sinh động của vật chất và mọi
sinh thể trong thiên nhiên.
2.) Đòi hỏi một tư duy toàn thể
3.) Gắn liền chủ thể với khách thể và với thiên
nhiên.
4.) Bắt đầu đối thoại với thiên nhiên bằng một nền
công nghệ và kỹ thuật mang tính giải trừ quan niệm “đóng băng” đối với thiên
nhiên, hòa hảo lại với thiên nhiên, phục hồi và tăng cường sức sống của thiên
nhiên.
Mô hình mới này muốn cống hiến cho con người, con đường thoát
ra khỏi mô hình nhận thức cổ điển, tuy nó đã làm nền cho sự phát triển kinh tế
và công nghiệp hiện đại, song lại gây ra càng ngày càng nhiều hệ quả tiêu cực
cho con người và quả đất. Nhận thức cổ điển được thiết lập trên bốn trụ chống.
Đó là:
1,) Định kiến về vật chất như vật liệu chết
2.) Nhìn sự vật như một vật thể cô lập.
3.) Phân cực rõ rệt giữa chủ thể và khách thể với hệ quả là sự
vong thân và chuyển hoá (manipulate) đối tượng.
4.) Chế ngự và sử dụng thiên nhiên tận gốc ngọn.
Nhận thức về thiên nhiên của Quách Tấn có tiệm cận với mô
hình mới vừa gợi ra hay không, có thể kích thích sự suy nghĩ của thế hệ sau hay
không, có lẽ phải “tùy duyên” và tùy theo hai chữ “Sắc không” trong đạo Phật. Bởi
vì thi sĩ đã khẳng định:
Có mình đời chẳng hơn chi
Không mình cũng chẳng thiệt gì đến ai
(Trôi ngoài)
Và thi sĩ cũng đã tâm sự:
Người nay còn chửa hiểu mình
Người sau đâu dễ thấu tình người nay
Bụi đường khi phủi đôi tay
Nghìn thu tâm sự dấu giày rêu phong
(Tâm sự)










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét