Âm nhạc ngàn xưa trên đất Thăng Long
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ ra chiếu dời đô: chuyển kinh đô từ Hoa
Lư về Thành Đại La và đổi tên Đại La thành Thăng Long. Tại đây, nhà Lý cho xây
nhiều công trình kiến trúc văn hóa, đền chùa, thành lũy, cung điện... Thăng
Long trở thành biểu tượng rồng bay lên, tượng trưng cho khí thế vươn cao của
dân tộc, là trung tâm của nền văn hóa Việt Nam.
Kinh thành Thăng Long, nằm giữa cái nôi của nền văn minh lúa nước
là vùng châu thổ sông Hồng, đã hội tụ, tỏa sáng các nền văn hóa tinh thần cư
dân Lạc Việt.
Nền nghệ thuật trên đất Thăng Long đã hình thành từ ngàn xưa.
Trong các loại hình nghệ thuật ấy, âm nhạc và nhảy múa là những hình thức nghệ
thuật dân gian nguyên hợp ra đời sớm nhất. Múa ra đời muộn hơn, nhưng nhảy là
những động tác giản đơn biểu thị sinh hoạt của loài người, nên nhảy hình thành
cùng với sự phát triển con người trong đời sống hái lượm, săn bắn thú rừng. Bên
cạnh nhảy múa là nghệ thuật ca nhạc ra đời trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ, địa lý
và tâm sinh lý các tộc người. Âm nhạc ra đời cùng với sự hình thành ngôn ngữ,
sự phát triển công cụ sản xuất, chế tác ra các nhạc khí như mõ, tù và, đàn,
sáo. Trên đất Thăng Long xưa, có một hình thức ca nhạc xuất hiện sớm nhất, đó
là hát Ả đào, một hình thức ca hát dân gian, nguồn gốc là hát Cửa đình. Hát Cửa
đình còn gọi là Hát thẻ (hát Ca trù). Trù là thẻ làm bằng mảnh tre ghi chữ đánh
dấu để thưởng cho người hát hay. Sau khi hát xong, các ban hát, hoặc ca kỹ cứ
đếm thẻ mà lĩnh thưởng. Hát dân gian Cửa đình phát triển lên chuyên nghiệp vào
thành Thăng Long đã có nhiều biến đổi theo tên gọi: hát Cửa đình, Ca trù, Ả
đào, hát Nhà tơ, Nhà trò, Cô đầu. Theo Việt sử tiêu án do Ngô Thì Sĩ viết lại
khoảng năm 1028 thì có người ca kỹ là Đào Thị hát hay được vua Lý Thái Tổ ban
thưởng. Sự nổi tiếng của bà được mọi người hâm mộ, thế là tự công chúng đặt tên
cho hát ca trù là hát Ả đào. Hát Ả đào ra đời từ năm 1028 tại kinh đô Thăng
Long. Qua thư tịch cổ còn viết cuối thời nhà Hồ năm 1400-1407 có một bà họ Đào
ở làng Đào Đặng, Tiên Lữ, Hưng Yên, bà bày mưu ca hát để quân Minh nghe hát,
uống rượu say rồi cho bọn chúng vào bao tải ném xuống sông. Từ đó dân làng sống
bình yên. Khi bà mất, dân làng nhớ công ơn bà lập đền thờ gọi làng Đào Đặng là
làng Ả đào, cũng từ đó những người ca hát gọi là Ả đào. Ngày xưa hát Ả đào là
một thú mua vui cho các nhà quan, nên mỗi khi đãi khách, hoặc tổ chức yến tiệc
trong dinh thì gọi là Ty. Dinh Tuần phủ thì gọi là Phiên Ty, dinh án sát gọi là
Niết Ty. Những cuộc hát Ả đào ở trong dinh gọi là hát Nhà tơ. Còn hát Nhà trò
là hát có điệu bộ, đó là một hình thức ra trò, làm trò diễn. Từ hát Nhà trò sau
lại đổi tên là hát Cô đầu. Hát Cô đầu thịnh hành ở phố Khâm Thiên, đây là giai
đoạn phát triển cuối cùng của hát Ả đào. Ngày xưa, các phường gánh cầm ca
thường thu gom tiền của một gánh, số tiền đóng góp ấy gọi là tiền đầu. Từ đó
chữ ả có vẻ miệt thị, nên gọi là cô, chữ đào gọi là đầu, nên có tên gọi là hát
Cô đầu. Hát Cô đầu dưới thời phong kiến thực dân là một lối chơi sang, có thể
thức lề lối hát.
Những người có tiền hoặc các quan lại, công tử, các nhà địa
chủ, phú hào, các văn nghệ sĩ đến hát Cô đầu là một thú vui chơi có tính văn
hóa. Nhưng Cô đầu có hai loại, một là: Cô đầu rượu, cô nàng như một thứ người
mẫu đứng đầu các quán. Cô hát hay, nhịp phách giỏi, múa đẹp, người đẹp, nhưng
chỉ hát để cho khách thưởng ngoạn âm nhạc, không bao giờ làm những chuyện khác
và cũng không ai dám sàm sỡ với Cô đầu rượu. Hai là: các cô đào khác, khách vừa
ca vừa bỡn cợt, và làm các việc vui thú nhưng ở chỗ khác.
Hát Ả đào chuyển thành nghệ thuật chuyên nghiệp có các nghệ sĩ
sống bằng nghề ca múa phải tính từ năm 1028 sau Chiếu dời đô 18 năm. Hát Cửa
đình chuyển thành hát ca trù diễn ở các nhà quan lại phong kiến, có các ban hát
riêng gọi là Giáo phường. Từ năm 1471, vua Lê Thánh Tông phong cấp cho các quan
Ty để trông nom các Giáo phường. Theo sách Khâm định Việt sử và Lịch triều hiến
chương thì nhà Lê thường lấy các Giáo phường ra tổ chức những buổi thiết triều,
ngoại giao, phong chức.
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, kinh thành Thăng Long là
nơi khai sinh ra các loại hình nghệ thuật dân tộc. Thời vua Hùng chủ yếu là
nghệ thuật dân gian, tiêu biểu có các hình thức diễn xướng dân gian, là nghệ
thuật nguyên hợp gồm năm thành tố: văn học, âm nhạc, múa, phục trang và nghệ
thuật độc diễn, nguồn gốc của các loại hình nghệ thuật: âm nhạc, múa, sân khấu,
xiếc... Sách Kiến văn tiểu lục còn ghi về một trò xiếc và âm nhạc thường diễn ở
các nhà quan lại kinh thành Thăng Long: “Cầm giấu vật gì trong tay (để đánh đố)
gọi là Tàng câu. Trước hết thông luôn ba hồi trống tiên nữ để (người dự lễ)
đứng vào địa vị thường yên, thứ hai là hồi trống bão lão để khu trừ tà khí. (Về
trò Tàng Câu) có chép lời thế tục nói, lập đàn lễ phật, bày trò chơi Tàng câu,
là có ý làm cho quỷ thần vui vẻ. Trò này sai người đóng vai địa tạng Đinh Thiên
Quý làm quản giáp, tục gọi là con giáp, lại sai gái đẹp đóng vai nàng Câu Dặc;
lại truyền gõ sênh, trống cơm tầm bông, mã la, tục gọi tiếng địch địch”(1).
Đoạn trích trên là một trò diễn xướng dân gian nguyên hợp, khởi đầu Tàng câu,
một trò diễn ảo thuật xiếc, đây là trò diễn sớm nhất ở nước ta xuất hiện vào
giữa thế kỷ X ở kinh thành Thăng Long. Cùng diễn xiếc ảo thuật có người đóng
các vai, lại có gái đẹp đóng vai Câu Dặc... Có nhạc trống cơm, mã la... Tàng
câu là một trò diễn có tính sân khấu, hòa nhịp cùng âm nhạc. Đến năm Đinh Dậu
1117, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu bãi bỏ trò chơi này. Diễn xướng dân gian là
nghệ thuật dân tộc một người diễn các vai, còn ở trò Tàng câu là một trò có
nhiều người tham diễn, có tính sân khấu cao. Có thể coi trò Tàng câu là trò
diễn sân khấu đầu tiên ở Thăng Long. Theo bia Sùng Thiện diên linh, vào năm
1121 có múa rối ở kinh thành Thăng Long “hàng ngàn chiếc thuyền trôi giữa dòng
nhanh như chớp, muôn tiếng trống khua hòa nhịp với tiếng nước như sấm động”...
Còn Đại Việt sử ký toàn thư viết: Trò múa rối thường có câu hài hước... Ca
nhạc, xiếc và sân khấu rối có từ lâu trong dân gian, đến thế kỷ thứ XI đã trở
thành nghệ thuật kinh viện diễn trong cung đình. Sau múa rối, sân khấu chèo đã
hình thành ở Thăng Long là trò nhại, một hình thức diễn xướng dân gian từ điệu
chèo Đưa linh và trò Huyết hồ tạo ra nghệ thuật chèo.
Năm 1289 nhà Trần đánh thắng quân Nguyên, bắt Lý Nguyên Cát về
kinh thành dạy hát tuồng cho dân Bắc Kỳ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì: “Lý
Nguyên Cát giỏi hát, các nhà thế gia theo y tập hát điệu phương Bắc. Lý Nguyên
Cát sáng tác các vở tuồng truyện cổ, có tích Tây Vương Mẫu hiến bàn đào. Trong
tuồng có vai quan nhân, chu tử, đán nương, câu nô 12 người mặc áo gấm, áo thêu,
đánh trống, thổi sáo, gẩy đàn”... Đoạn trích trên là tư liệu duy nhất cho thấy,
nghệ thuật tuồng do Lý Nguyên Cát người Trung Hoa truyền vào nước ta. Những tư
liệu sao lục về ca nhạc, Xiếc, Múa rối, Chèo, Ả đào... đều có dấu tích từ dân
gian và các văn bia, sách cổ. Duy tuồng không tìm thấy sự hình thành trong dân
gian, chỉ thấy sách cổ nói do Lý Nguyên Cát dạy cho dân Bắc Việt. Giới nghiên
cứu thường nói Tuồng là của ta, nhưng theo tư liệu lịch sử thì tuồng là của
Trung Quốc, đây là sự tiếp nhận văn hóa sân khấu Trung Hoa vào nước ta, sau đó
biến thành tuồng Việt Nam, giống như kịch nói, điện ảnh, nhạc giao hưởng,
Opera... là tiếp nhận từ phương Tây, nhưng nó đã trở thành nghệ thuật dân tộc
trong nền nghệ thuật văn hiến Việt Nam.
Văn học, nghệ thuật từ triều Lý trên đất Thăng Long phát triển mạnh
có tính chuyên nghiệp, hình thành các loại hình: ca nhạc, sân khấu. Đến đời
Trần, sân khấu ra đời có tính hoàn chỉnh với các tích trò của chèo và tuồng. Âm
nhạc, có âm luật, tổ chức chặt chẽ, có dàn Bát âm thời Lý. Từ năm 1010 đến
1400, dưới thời Lý Trần có các loại nhạc cụ được chế tác: nhạc gõ, đàn dây,
sáo, đàn gẩy, kèn dăm, trống cơm... Những dàn nhạc cung đình thời Trần có dàn
Đại nhạc sử dụng đón tiếp nghi lễ lớn, dàn tiểu nhạc sử dụng trong các nhà quan
và trong dân dã. Vào giữa đời Trần có Tôn Thất Dục người chế tác đàn bầu, được
coi là nhạc khí hay nhất thời bấy giờ. Thời Trần, các loại hình nghệ thuật phát
triển rực rỡ: âm nhạc, xiếc, múa rối, chèo, tuồng... khá hoàn thiện ở đỉnh cao.
Nguyên nhân vì đất nước hòa bình, sau chiến tranh kinh tế ổn định, nhà vua và
các quan lại rất quan tâm tổ chức các cuộc thi ca múa nhạc...
Theo Đại Việt sử
ký toàn thư: “Năm Nhâm Dần 1362 cứ đến mùa xuân tháng giêng lệnh cho các vương
hầu, công chúa dâng các trò tạp hý vua xem xét duyệt trò nào hay thì thưởng cho”.
Năm 1437 Nguyễn Trãi, Lương Đăng dâng tấu định ra quy chế trang
phục cho nhã nhạc, quan điểm của hai người trái ngược nhau, vua thuận ý Lương
Đăng nên Nguyễn Trãi bỏ việc nhã nhạc. Nghe lời nghị của Lương Đăng, vua còn
“... bãi trò chơi hát chèo, không tấu nhạc dâm nữa”. Nhã nhạc do Lương Đăng phụ
trách phỏng theo âm nhạc nhà Minh, nội dung là: Nhạc giao tế, tế trời đất “nhạc
nghi lễ thờ cúng”, nhạc ngoại giao, phong chức và vui chơi ở trong cung. Đến
năm 1497, nhà Lê ra bộ Luật Đồng văn và Nhã nhạc. Hai bộ luật quy định rõ về
biên chế dàn nhạc và hình thức sử dụng. Bộ Đồng văn chuyên tập để hòa nhạc, bộ
Nhã nhạc chuyên chuộng âm thanh, trọng về tiếng, giao cho một quan chức phụ
trách. Âm nhạc trong nhân dân được các giáo phường do các quan Ty quản giữ không
cho Nhạc tục lẫn với Nhã nhạc. Từ năm 1578 hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc chỉ sử
dụng vào dịp tế lễ và những nghi thức trong cung đình. Năm Cảnh Hưng có phường
hát chèo bội mới pha thêm hát tuồng cũng đóng vai, vẽ mặt nạ ra múa và bỡn cợt
không khác gì ở hý trường, nên sau đó bị cấm, đến năm 1790 lại thấy dân gian
bày trò hát bội. Các hình thức hát ở trong cung gọi là hát cửa quyền, giọng hát
uyển chuyển, thanh nhã hơn giọng hát ở ngoài giáo phường, nhưng âm luật không
khác mấy. Vào triều Nguyễn 1802-1945, là giai đoạn chấm dứt chế độ phong kiến
Việt Nam và nghệ thuật ca nhạc trên đất Thăng Long. Từ năm 1928 phong trào tân
nhạc phát triển mạnh ở Hà Nội. Năm 1930 phong trào hát tân nhạc, sáng tác ca
khúc cách mạng xuất hiện ở Hà Nội và trên khắp mọi miền đất nước.
Ca nhạc trên đất Thăng Long hình thành từ dân gian, phát triển lên
chuyên nghiệp, trở thành nghệ thuật kinh viện trong cung cấm. Đó là dòng nghệ
thuật chuyên nghiệp, từ ca nhạc hình thành các hình thức sân khấu, hoặc diễn
cùng với các loại hình nghệ thuật: Xiếc, Nhảy múa, Múa rối, Ả đào, Chèo, Tuồng.
Nghệ thuật ca nhạc đã phát triển hai dòng cùng song song tồn tại là: ca nhạc
dân gian và ca nhạc chuyên nghiệp. Theo dòng thời gian cũng có giai đoạn bị đứt
gẫy, nhưng nó vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét