Nhạc phẩm Đà Nẵng - Xưa và nay
|
Kể từ ngày
26/8/1945, khi cờ đỏ sao vàng tung bay khắp thành phố và trên Tòa Đốc Lý cùng
tiếng hát đồng ca của những đoàn người biểu tình cướp chính quyền tại Đà Nẵng
với những giai điệu Cờ thiêng liêng của La Hối, “Trái đất Việt” của Dương Minh
Ninh … thì có thể nói cũng đồng thời từ đấy, đã qua một vận hội gần 70 năm
người Đà Nẵng hát về thành phố mình cùng bao biến chuyển lịch sử từ ngày Cách
mạng thành công.
Từ ngày ấy, bên
cạnh những bản hành khúc cách mạng của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận … vang
lên trong cả nước, những nhạc sĩ ở Đà Nẵng và Hội An đã có ngay những sáng tác
về thành phố của mình trong đất nước độc lập tự do. Những đoàn tàu Nam tiến
dừng chân tại ga Đà Nẵng với những người lính giải phóng quân tràn đầy sức trẻ
đang hăm hở vào chiến trường Nam Bộ kháng chiến đã trở thành nguồn cảm xúc cho
nhạc sĩ trẻ Phan Huỳnh Điểu viết nên hành khúc “Giải phóng quân” nổi
tiếng mà có lúc ta còn gọi là “Đoàn Vệ Quốc Quân”. Giống như các tác giả
thuộc nhóm Tân nhạc Hội An như La Hối (đã bị Nhật bắn tại núi Phước Tượng vì
tham gia chống phát xít từ đầu năm 1945), Dương Minh Ninh, Lê Trọng Nguyễn …,
Phan Huỳnh Điểu – tác giả của “Trầu cau” đầu tay đã thực sự chuyển
mình trong sự nghiệp âm nhạc nhờ cách mạng, nhờ Đà Nẵng thân yêu. Sau “Giải
phóng quân”, Phan Huỳnh Điểu còn da diết trong “Mùa đông binh sĩ” và sôi
nổi trong “Tuyên truyền xung phong” và trở thành một nhạc sĩ quan
trọng của Đà Nẵng – Khu V những năm kháng chiến chống Pháp. Tầm vóc của ông
sừng sững tới bây giờ. Cái hay của âm nhạc trong “Giải phóng quân” là
cái thần thái của một dân tộc trong đó có người Đà Nẵng dám hy sinh và quan
niệm đúng hy sinh như một người tự do là đồng nghĩa với hạnh phúc chứ không
chịu sống kiếp đời nô lệ nữa.
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Đến khi toàn quốc kháng
chiến, Đà Nẵng cũng chiến đấu ngoan cường như Sài Gòn 23/9/1945 và Hà Nội cùng
ngày 19/12/1946. Nếu ở Hà Nội lúc đó có những tác phẩm của Lương Ngọc Trác như “Thủ
đô huyết thệ”, “Ngày về” … thì ở Đà Nẵng cũng có “Bến Hàn Giang” của
Ngọc Trai. Bài hát “Bến Hàn Giang” được tác giả đề từ thật xúc
cảm.
Đoàn quân từ buổi rời sông lạnh
Ngày tháng mây trôi nước não nề
Trên bờ sông vắng ai ngồi đó
Đợi bóng vinh quang chiến sĩ về
Mang khát vọng ngày về
giải phóng Đà Nẵng, Ngọc Trai đã viết “Bến Hàn Giang” tràn đầy
âm hưởng “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong khi xưa
nhưng lại lấp lánh ước mơ của người chiến thắng.
Bến Hàn Giang bao người chờ mong
Giờ vinh quang đoàn chiến sĩ về
Song tác giả “Bến
Hàn Giang” – người đồng niên với Phan Huỳnh Điểu (Ngọc Trai cũng sinh
năm 1924) đã không còn đến ngày về. Ông đã hy sinh năm 1950.
Đà Nẵng khi thuộc về
chính quyền cách mạng đã được đặt tên là thành phố Thái Phiên. Ngay năm 1949,
khi thành phố Thái Phiên là nơi tạm bị chiếm thì người Đà Nẵng vẫn tin có một
ngày thành phố Thái Phiên sẽ trở thành một thành phố công nghiệp như bây giờ.
Võ Đăng Minh trong “Thái Phiên hoài phố” đã viết như thế:
Thành Thái Phiên mai sau
Một thành phố sao vàng phấp phới
Thành Thái Phiên công nhân say đời sống huy hoàng
…
Đất anh hùng dấu vết khôn phai
Như giục ta gươm súng xây hòa bình.
Và người Đà Nẵng đã nhịp
bước trường chinh cùng cả nước trong kháng chiến trường kỳ. Vừa nhịp bước, họ
vừa hát lên những chiến công vang dội. Vừa nhịp bước họ vừa hát nỗi nhớ về Đà
Nẵng. Ta vừa hùng hồn đi cùng “Trung đoàn 108” của Nguyễn
Trọng Cát để chất ngất “Hải Vân chiến thắng” cùng Hoàng Chi
Lăng và say sưa “Chiến thắng Xuân Đài” cùng Thái Hào Quyền thì
lại chợt tươi vui cùng Huỳnh Tú Mỹ “Dưới nắng xuân” hay Lê
Trọng Nguyễn với “Quán bên đường” và “Đường chiều” của
Dương Minh Ninh rồi trẻ trung như “Sinh quân ca” của Đức Tùng.
Và bỗng nhiên nhớ “Làn sóng mơ” của Vũ Hùng, “Về bên
sông Hàn” cùng Võ Đăng Minh và “Nhớ miền Duyên hải” cùng
Dương Minh Hòa. Năm tháng chống Pháp vừa chộn rộn một tình mới ngất ngây, vừa
dào dạt thương nhớ về Đà Nẵng thành phố qua bao giai điệu.
Một thực tế buồn là sau
ngày kháng chiến chống Pháp, người Đà Nẵng không được về giải phóng thành phố
của mình mà lại chứng kiến những người con của thành phố mình tập kết ra Bắc,
còn thành phố mình thì vẫn sống dưới “chính quyền của đối phương” như lời trong
bài “Quê tôi miền Nam” mà Phan Huỳnh Điểu đã viết.
Những ngày đấu tranh
thống nhất, những nhạc sĩ Đà Nẵng tập kết ra công tác ở Hà Nội đã trăn trở bao
nỗi niềm: “Ban ngày ở miền Bắc - ở miền Nam ban đêm”. Phan Huỳnh Điều sau khi
thảng thống “Liên khu Năm yêu dấu” thì lại mềm mại đến thắt lòng
trong “Quê tôi miền Nam” và day dứt chất liệu hò ba lý trong “Tình
trong lá thiếp”. Văn Cận với phong cách hồn hậu, dân gian từ chống Pháp của “Đắp
kênh Ba Kỳ”, “Đánh giặc tăng gia”đã gửi lòng mình vào “Giữ trọn
tình quê” tính tế và tài hoa. Chàng nhạc sĩ Văn Cận mà tên thật là Võ
Văn Hòa lại một lần nữa đổi tên thành Tân Nam để trở lại miền Nam từ 1966 và đã
hy sinh ngày 24/1/1968 trong Tổng tấn công Mậu Thân, sau khi đã tung ra hành
khúc đầy khát vọng “Giành lấy chính quyền về tay nhân dân”.
Phan Huỳnh Điểu còn trở
lại hoạt động ở vùng ven Đà Nẵng từ Noel năm 1964 với bút danh Huy Quang để khi
tháng 3/1965, quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng là đã có thể thét lên hành khúc “Ra
tiền tuyến” đối kháng lại những giai điệu nhạc rock Mỹ. Cũng ở đó, ông
viết “Tiếng hát từ Đà Nẵng”.
Trương Đình Quang thì
cung như Phan Huỳnh Điểu, Văn Cận, trút nhớ thương vào âm hưởng quê nhà qua “Nhắn
về trong ấy” tha thiết. Để rồi ít năm sau lại “Nhắn về Đà Nẵng
yêu thương”.
Cuộc tổng tấn công Mậu
Thân 1968 đã đem lại cho âm nhạc viết về thành phố Đà Nẵng những tác phẩm hàng
đầu trong toàn bộ phần âm nhạc chính ca viết về cuộc Tổng tấn công này ở khắp
miền Nam. Nên “Người Đà Nẵng” là tiếng gọi của con tim Phan
Ngọc ngay giữa chiến trường thành phố thì “Đà Nẵng rực lửa chiến công” của
Thái Cơ lại là nhịp đập cảm phục của người hậu phương hướng về tiền tuyến. Có
một cuộc cộng hưởng tạo ra một tác phẩm ở trên cả âm nhạc và thơ của hai tác
giả: Cầm Phong và Lưu Trùng Dương. Từ một bài thơ hừng hực thực tế chiến đấu
Mậu Thân của Lưu Trùng Dương, Cầm Phong đã tìm ra được chất rock trong sự phản
kháng vĩ đại, quyết liệt của người Đà Nẵng trước đế quốc Mỹ. Bản tráng ca “Đà
Nẵng thân yêu những ngày bão táp” là một tác phẩm vạm vỡ về thành phố
Đà Nẵng có thể sánh với “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi ở
một thời điểm chiến tranh khác. Những đảo phách, biến phách tả về lửa chiến đấu
đã mở ra không khí chiến trường. Không chỉ cuồn cuộn như “Hà Nội cháy
khói lửa ngập trời – Hà Nội hồng ầm ầm rung sông Hồng reo – bừng cháy các phố
ta đi …” mà là ngọn lửa phần phật của cuộc chiến tranh hiện tại:
Lửa ơi lửa cháy ngút đêm nay Đà Nẵng đứng lên rồi
Cả phố phường hò vui náo nức sóng biển reo hòa cùng khúc hát tự do vang
Lửa ơi lửa cháy ngút đêm nay Đà Nẵng đứng lên rồi
Pháo ơi! Hãy gầm lên nữa gầm lên nữa này pháo ơi ờ ờ …
Sau những đặc tả chiến
đấu, hình tượng lửa lại ngùn ngụt dâng cao một cao trào chất ngất của tâm hồn
người Đà Nẵng trong cuộc “Đi đầu diệt Mỹ” hào hùng:
Lửa ờ ớ ơ ờ Lửa ờ ớ ớ ơ
Ôi thuốc súng căm hờn từ lâu nén chặt
Trong lòng ta nay đã vút bay cao
Ôi đã mấy ngàn đêm mối giận hờn thế kỷ chờ mong
Này súng mác gươm dao
Hỡi Ngũ Hành Sơn đang tiến bước
Hỡi sông Hàn đang cuộn sóng
Thái Phiên ơi! Ơi thành phố kiên trung …
Hình tượng lửa lại khép
tráng ca để mở ra một coda để kết tràn trề lãng mạn như mơ:
Ơi cửa biển nhớ thương ơi
Như trái tim ta đêm ngày sóng vỗ
Lửa chiến thắng
Cả Đà Nẵng sôi lên
Giữa những ngày bão táp.
Trong những ngày Tổng
tấn công Mậu Thân 1968, giọng hát Mạnh Hà đã lai láng “Đà Nẵng thân yêu
những ngày bão táp” trên làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam không ngớt.
Bản tráng ca đã ngấm vào tâm hồn thế hệ thanh niên thời chống Mỹ thật hào hùng.
Rất tiếc, nó đã không được thường xuyên dinh dưỡng trong các thế hệ sau như “Người
Hà Nội” nên đến nay, nhiều thanh niên không biết Đà Nẵng mình lại có
bài hát hay ngang tầm “Người Hà Nội” mà cứ đi tìm mãi ở một
không gian âm nhạc khác mà thành phố chưa tạo ra được ấn tượng mạnh để bật ra
giai điệu như Đà Nẵng thời chiến tranh. Chiến tranh hay thanh bình không quan
trọng. Miễn là giai điệu hay, đi vào lòng người, chan chứa trong lòng người,
thúc giục sâu lòng người như “Đà Nẵng thân yêu những ngày bão táp” là
niềm tự hào của người Đà Nẵng như người Hà Nội tự hào có “Người Hà
Nội”, người Hải Phòng có “Thành phố Hoa phượng đỏ”, người
Huế có “Huế - tình yêu của tôi” … Hy vọng sau khi tuyển tập 60
năm bài hát về Đà Nẵng này ra đời, thanh niên Đà Nẵng sẽ tìm lại cho mình được
niềm tự hào đối với tráng ca “Đà Nẵng thân yêu những ngày bão táp” như
chính tầm vóc vốn có của nó.
Cuộc chiến đấu chống Mỹ
ở Đà Nẵng nhìn từ một góc độ khác, lại có những giai điệu sinh động đặc sắc mà
chẳng thành phố nào có được. Nếu ta đã yêu mến “Bài ca nữ tự vệ Sài
Gòn” của Phạm Minh Tuấn hay “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” của
Lư Nhất Vũ thì ta càng mỉm cười ngỡ ngàng khi hát “Cô du kích Đà Nẵng” của
Thanh Anh:
Bạn gái bảo em: mi là dũng sĩ
Em chỉ cười chưa biết nói chi
Bạn gái hỏi em diệt bao nhiêu Mỹ
Giữa Đà Thành mà Mỹ - ngụy hoang mang
…
Biển Thanh Khê em đã tới
Đường Ngã Năm em đã qua
Về sân bay, chợ Mới, Sơn Trà
Ai biết em là quân du kích
Truyền đơn tung trên đường phố Hùng Vương
Cờ đỏ em treo kìa rực rỡ nắng hồng ...
Âm hưởng đậm chất dân ca
với ca từ chân phác, hồn nhiên, «Cô du kích Đà Nẵng » quả
là « rất Đà Nẵng ».
Ở Đà Nẵng còn có di tích nhà mẹ Nhu. Mẹ là người mẹ già « giặc đến nhà đàn
bà cũng đánh » đã đào bao đường hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, bộ dội, biệt
động thành phố. Cuối 1968, cơ sở hầm bị lộ, 3 tiểu đoàn Mỹ - ngụy đến bao vây,
khủng bố ác liệt. Mẹ Nhu bị tra tấn dã man rồi bị bắn chết ngay miệng hầm bí
mật. Bảy chiến sĩ giải phóng quân đã từ dưới hầm xông lên phản công đánh trả
lại Mỹ ngụy, trả thù cho mẹ Nhu, tiêu diệt sinh lực địch. Đà Nẵng có mẹ Nhu như
Sài Gòn có bà mẹ Bàn Cờ. Giống nhau mà cũng rất khác nhau ở ứng xử chiến tranh.
Bài thơ của Bùi Minh Quốc về mẹ Nhu đã được Hoàng Hiệp thăng hoa thành một ca
khúc độc đáo thời chống Mỹ ở Đà Nẵng « Đất quê ta mênh
mông »:
Mẹ giấu cả sư đoàn dưới đất
Nơi hầm tối là nơi sáng nhất
Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam
Có những đoàn quân từ trong lòng đất
Xông lên bạt vía quân thù
Xung quanh chúng đều là trận địa
Đất quê ta mênh mông
Khi Đà Nẵng được giải
phóng trong Đại thắng mùa Xuân vào ngày 29/3/1975, những bài hát trong dịp này
về Đà Nẵng cũng hay không kém gì những bài hát dịp Tổng tiến công Mậu Thân
1968. Bên cạnh “Đà Nẵng ơi! Chúng con đã về” mà nhạc sĩ Phan
Huỳnh Điểu sử dụng lại nét nhạc mở đầu bài “Giải phóng quân” khi
xưa làm nét nhạc dẫn vào, còn có “Đà Nẵng quê ta giải phóng” rộn
ràng của Nguyễn Đức Toàn và “Đà Nẵng kiên cường, chiến thắng vẻ vang” của
Thuận Yến – một người con Đà Nẵng tên thật là Đoàn Hữu Công nhưng trong chiến
tranh lại hoạt động ở vùng Thừa Thiên – Huế. Mãi đến khi Đà Nẵng giải phóng mới
có dịp viết về thành phố mình. Đặc biệt trong chùm bài hát giải phóng Đà Nẵng
có “Sông Hàn vang tiếng hát” mà Huy Du thăng hoa từ bài thơ
Bùi Minh Quốc viết từ Tổng tiến công Mậu Thân 1968.
Ta đi giữa đất trời giải phóng
Tà áo trắng tung bay như mùa xuân tỏa nắng
Ánh mắt em thơ in cánh sao vàng bay
Tiếng hát câu ca phơi phới trong lòng ta
Đà Nẵng ơi! Đà Nẵng ơi …
Để dựng lên tầm vóc hai thời kỳ đầu vận hội và chiếm thời gian nửa vận hội (30
năm) những người biên soạn và tuyển chọn đã chọn ra 30 bài hát tiêu biểu cho
hai thời kỳ. Thời kỳ cách mạng và phống Pháp: 15 bài. Thời kỳ đấu tranh thống
nhất và chống Mỹ: 15 bài. Trong đó, những bài hát thời kỳ đấu tranh thống nhất
và chống Mỹ về Đà Nẵng đạt tới đỉnh cao như “Giữ trọn tình quê” của
Văn Cận, “Đà Nẵng thân yêu những ngày bão táp” của Cầm Phong
(thơ Lưu Trùng Dương) và “Sông Hàn vang tiếng hát” của Huy Du
(thơ Bùi Minh Quốc). Bên cạnh đấy là những tầm vóc sáng láng như “Đà
Nẵng rực lửa chiến công” của Thái Cơ, “Người Đà Nẵng” của
Phan Ngọc, “Cô du kích Đà Nẵng” của Thanh Anh và “Đất quê
ta mênh mông” của Hoàng Hiệp (thơ Bùi Minh Quốc). Riêng nhạc sĩ Phan
Huỳnh Điểu – người con gắn bó với Đà Nẵng thì ngoài “Tiếng hát từ Đà
Nẵng” có thể kể đến một loạt tác phẩm của ông như: “Quê tôi
miền Nam”, “Tình trong lá thiếp”, “Những ánh sao đêm”, “Ra tiền tuyến”, “Cuộc
đời vẫn đẹp sao”, “Hành khúc ngày và đêm” … đều rất có giá
trị với Đà Nẵng, với cả nước.
Trong thời kỳ đấu tranh
thống nhất và chống Mỹ, để có tính biên niên sử bằng âm nhạc, những người biên
soạn và tuyển chọn đã chú ý đến cả những bài hát viết trong phong trào đấu
tranh của học sinh, sinh viên Huế - Đà Nẵng – Sài Gòn ngày ấy. Ngoài “Người
về thành phố” của Phạm Thế Mỹ làm tiêu biểu, còn có thể nhắc đến những
bài hát như thế của tác giả Nguyễn Duy Khoái như “Trong mưa bom mặt
trời sẽ đến” hay “Xuống đường, giành mùa xuân” với
những khẩu khí âm nhạc thật quyết liệt và thành thực.
Thời kỳ đầu thanh bình
mở ra với những năm vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa khôi phục và bước
đầu xây dựng kinh tế. Thành phố Đà Nẵng cũng đã phải nếm trải những ngày đối
mặt với cơ chế quan liêu bao cấp đầy khó khăn thử thách, nhưng cũng đầy ấp ủ hy
vọng. Những bài hát viết về thành phố thời kỳ này dường như cũng chia sẻ với
cuộc sống những ưu tư kia trên từng giai điệu. Vẫn là dòng sông Hàn chảy giữa
thành phố từ bao đời. Nhưng sông Hàn thời chống Pháp lại có âm vang của sóng
khác với âm vang sông Hàn thời chống Mỹ và đến thời kỳ đầu thanh bình, âm vang
ấy còn trở trăn khác nữa. Nếu xưa kia “Về bên sông Hàn” của Võ
Đăng Minh và “Làn sóng mơ” của Vũ Hùng dập dờn bao nhiêu, rồi
sông Hàn trong giai điệu Cầm Phong hay Huy Du dội trào bao nhiêu, thì giờ đây,
sông Hàn ở Tân Huyền đã được ngẫm nghĩ bấy nhiêu:
Sông Hàn yêu thương
Nắng đã lên rực rỡ lạ thường
…
Sông Hàn yêu thương
Còi tàu âm vang tiễn bạn lên đường
…
Em lại ra đi từ dòng sông Hàn …
Sông Hàn lại chảy trong
giai điệu Hoàng Vân với “Xin mời người đến thăm nơi đây” viết
vào đúng năm 1978 thắt ngặt của đất nước. Vậy mà Hoàng Vân vẫn đầy tin tưởng:
Đà Nẵng đây
Thành phố mới lớn lên từng ngày
Từng đường phố
Từng bến sông
Từng hòn đá
Từng gốc cây
Với bao nhiêu tình thương mến …
Sông Hàn lại chảy trong
giai điệu Trương Quang Lục – Trương Đình Quang qua “Gửi Đà Nẵng” viết
năm 1979: “Sông Hàn êm trôi rộn rịp bóng thuyền cánh buồm ngược xuôi … sông
Hàn xanh càng thắm” và chợt trẻ thơ, tung tăng trong giai điệu Phạm
Tuyên và Trương Xuân Mẫn. Đấy là: “Dòng sông Hàn lên tiếng ca – chào
mùa xuân đã về trên đất Quảng quê ta” (Trương Xuân Mẫn – “Mùa
xuân Đà Nẵng”) hay “Nắng lấp lánh trên dòng sông Hàn – Thành phố em
xinh đẹp vô vàn …” (Phạm Tuyên – “Khăn quàng đỏ bên sông Hàn”).
Hình như lúc thanh bình,
con người bắt đầu có thời gian nhiều hơn để vừa sống, vừa nhận ra vẻ đẹp của
thành phố mình. Ở Ngô Quốc Tính, Đà Nẵng được giai duyên thành “Đà Nẵng
của đôi ta”, mà khi bên nhau trong đêm mùa thu bên sông Hàn, họ đã thấy:
Đà Nẵng! Đà Nẵng!
Ngôi sao, ngôi sao của miền Trung
Lấp lánh lấp lánh bờ biển Đông
Với Thuận Yến thì “Đà
Nẵng trong tôi” được nhận ra như một ngọn lửa cháy bên “Sông
Hàn sóng vỗ khúc dân ca, một ngọn lửa chân thành của con tim:
Đà Nẵng thành khúc tình ca
Đà Nẵng thành ngọn lửa cháy
Lửa cháy trong tim tôi
Xanh thắm mãi lòng tôi
Ngay từ 1985, một người
tuyển chọn và biên soạn tập bài hát này cũng đã thật tự nhiên mà thốt lên giai
điệu “Đà nẵng – Thành phố lên cao”, vì hình như cũng cảm nhận rằng
ở thành phố giữa đất nước này, có vị thế không thể mãi mãi nhỏ bé và nghèo nàn
được:
Thành phố đang lên cao
Giữa nắng in bóng xuống sông Hàn
Mọi miền đất nước
Có Đà Nẵng trong hình dáng mỗi tòa cao
Và ngoài khơi xa
Đoàn tàu ra đi
Là Đà Nẵng giữa đại dương vươn tới …
Và nhịp bước của Đà Nẵng
cuối thời kỳ đầy nhạy cảm này đã tạo ra nhịp hành khúc mới của thành phố. Một
nhịp hành khúc như hồi xuân của thời gian:
Viền sóng biếc tỏa về nơi đâu
Làn gió mát dập dềnh trên sông phượng đỏ
Nhạc sĩ Trần Hinh và nhà
thơ Thanh Thảo đã bắt gặp nhịp bước này như trong giấc mơ trẻ thơ:
Cháy mặt trời lấp ló
Gối bến lơ mơ
Những con tàu như trẻ thơ
…
Tầm vóc mới nơi nơi tươi mãi
Từ con tàu người bốc vác với dòng sông.
Dòng sông Hàn lại quành
về giai điệu Vĩnh An thật dịu dàng bất ngờ: “con sông Hàn quê em chảy
dài ra biển lớn – Nơi đảo xa anh đứng có con sóng vỗ về bờ - mang âm điệu dân
ca – ngọt ngào của quê mẹ”, “Có phải không anh” là tâm tình của Vĩnh
An với những người dân người lính nơi đảo xa thuộc thành phố Đà Nẵng với quan
niệm thật gần gũi:
Có phải không anh
Đảo xa mà không xa
Anh mãi là con sóng
Sóng chao về đất liền
Giai điệu Vĩnh An cũng
đã khép lại một thập niên thời kỳ đầu thành hình trong tuyển tập này.
Những bài hát được tuyển
chọn trong phần thời kỳ mở cửa và đổi mới được cấu trúc với nhau tạo thành một
bức tranh âm thanh đầy màu sắc, tiết tấu tượng hình lên một Đà Nẵng trẻ trung,
đổi sắc thay da đến không ngờ, mà giờ đây đang hiển hiện như một sự thực đầy
huyền thoại. Có cảm giác từ trên máy bay đang hạ dần độ cao để dần dà nhìn rõ
Tiên Sa, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn … rồi đến cây cầu treo bắc ngang sông Hàn khi
hát lên giai điệu “Bay giữa quê nhà” của Từ Huy:
Tôi bay lơ lửng qua Sơn Trà
Bay qua Bà Nà là đà níu mây
Gió cuốn lên cho tình căng đầy
Đà Nẵng cũng bay trong lòng tôi say.
Nhận ra ở sự đổi mới này
những giai điệu của những nhạc sĩ đàn anh mà người bền bỉ nhất là nhạc sĩ Phan
Huỳnh Điểu. Trong rất nhiều bài hát viết về Đà Nẵng thời thanh bình đều rất hay
thì “Về với sông Hàn” đã cho ta cảm giác như Phan Huỳnh Điểu
đang muốn đọng lại trong người nghe một cái gì đó về thành phố quê hương đã
được chiêm nghiệm tới mức thanh lọc như cách Xê-lô Ê-vích-xê-đôi đến Mát-xcơ-va bằng
“Chiều ngoại ô Mát-x cơ-va”. Trần Hoàn và Trần Hồng cũng trải lòng mình
trong “Chiều Đà Nẵng” và “Ngũ Hành Sơn quê tôi”.
Phan Ngọc và Thanh Anh đã ghi dấu ấn thời kỳ đấu tranh thống nhất và chống Mỹ
thì giờ đây cũng tự đổi mới mình trong luồng gió trẻ hóa của thành phố. Với
Phan Ngọc là “Chuyện tình Tiên Sa”. Với Thanh Anh là“Đà Nẵng –
thành phố tôi yêu” – một tựa đề mà những người tuyển chọn và biên tập
soạn tập bài hát 60 năm thành phố Đà Nẵng này đã chọn làm tựa đề của toàn tập.
Trong khi Trọng Bằng
đang thả hồn theo “Bà Nà mây bay” thì Hoàng Vân đột ngột nhói
lên một nỗi nhớ“Nhớ Hoàng Sa”. Hoàng Sa là một quần đảo của Việt Nam đã
từng được cha ông gọi là “bãi cát vàng”. Từ tháng 1/1997, quần đảo Hoàng Sa trở
thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng. Tình cảm của Hoàng Vân trong
nỗi nhớ này thật đáng trân trọng:
Nhớ Hoàng Sa không chỉ là nỗi nhớ
Một khoảng trời Tổ quốc một vùng biển quê hương
Nhớ Hoàng Sa như một vết đau nhức nhói
Một vết thương chảy máu chưa cầm.
Như đứa con xa sẽ trở về với mẹ
Bãi san hô và ghềnh đá Hoàng Sa
Sẽ trở về đất tổ quê cha
Tôi sẽ về Hoàng Sa cho ngày vui trọn vẹn
Tôi sẽ về Hoàng Sa như tình yêu đã hẹn
Suốt một vận hội 60 năm
hát về thành phố Đà Nẵng, có một điều thú vị đặc biệt là giữa các nam nhạc sĩ,
có duy nhất một nữ nhạc sĩ. Đó là nghệ sĩ nhân dân Tường Vy. Ngay từ những ngày
ở miền Bắc tập kết, Tường Vy đã từng đoạt giải thưởng sáng tác bài hát như “Quê
hương anh là biển cả”, “Theo ngôi sao sáng” và đã có một bài hát rất
hay về không quân – “Phi đội ta xuất kích”. Trong tuyển tập này,
Tường Vy xuất hiện với bài hát “Tâm tình với biển” phổ thơ Vũ Kim Thông. Người
con gái của Đà Nẵng, người nữ nhạc sĩ của quê hương đã biết bao xúc cảm khi hát
lên những tâm tình về thành phố biển của mình:
Anh đi bên em giữa ngư trường
Chiều nay biển lặng gió đưa hương
Kìa làn tóc trắng bay trong nắng
Biển với lòng người tựa đại dương
…
Nhìn về Sơn Trà nắng tung tăng …
Sông Hàn chợt trẻ lại
đến kỳ lạ bởi những bút pháp trẻ trung hào hoa của Vũ Đức Sao Biển, An Thuyên
và đặc biệt là Minh Khang. Ông thày dạy sáng tác của Nhạc viện Hà Nội này đã vớ
được của quý. Đấy là bài thơ“Sông Hàn tuổi mười tám” của Bùi Công
Minh. Sau “Hành khúc ngày và đêm” do Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc,“Trên
những tuyến đường quan họ” do Đoàn Nhương phổ nhạc, thì lần này, thơ
Bùi Công Minh lại được cất cánh bởi giai điệu của Minh Khang:
Ta có một sông Hàn mười tám tuổi
Như em sáng nay duyên dáng áo học trò
Sông mở cửa đưa cánh buồm theo gió
Sóng mang hồn thành phố đến khơi xa
Rồi một ngày nhịp cầu mới bắc qua
Đường Bạch Đằng sóng đôi cùng sông Hàn tình tự
Những ngôi nhà vút cao bên dòng sông tư lự
Ta vẫn muốn trong mình một sông Hàn mười tám tuổi thơ ngây …
Điều đặc biệt cần nói về
bức tranh âm thanh này là về những nhạc sĩ trưởng thành từ Đà Nẵng sau mùa xuân
đại thắng 1975. Suốt 30 năm, cùng sự lớn dậy của thành phố, các anh đã tự tu
nghiệp ngoài những năm tháng tu nghiệp ở trường, để có thể tự tìm ra bút pháp
riêng của mình khi viết về thành phố mình. Các anh đã tạo ra một không gian âm
nhạc rất riêng của Đà Nẵng mà nếu không có không gian ấy, bức tranh toàn cảnh
này sẽ rất hạn hẹp và thiếu hơi thở hừng hực của miền đất này. Đấy là “Đà
Nẵng trong tôi” của Thái Nghĩa, “Thành phố đầu biển cuối sông” của
Minh Đức (thơ Nguyễn Văn Soong), “Nhịp điệu thành phố” của
Trần Ái Nghĩa, “Đà Nẵng tình người” của Đình Thậm (thơ Ngân
Vịnh), “Đà Nẵng câu hát thời gian” của Nguyễn Duy Khoái, “Đà
Nẵng – thành phố tuổi thơ tôi” của Trương Duy Huyến và “Đà
Nẵng thành phố tuổi thơ tôi” của Hoàng Dũng … Diện mạo của tuyển tập
bài hát 60 năm thành phố Đà Nẵng này còn có thêm nét chấm phá của một người Đà
Nẵng xa xứ (hiện cư trú tại Canada) là nhạc sĩ Lâm Hoàng với “Đà Nẵng
quê tôi” như một gợi mở cho tương lai của những tuyển tập sau.
Nhìn lại toàn bộ tuyển
tập, thấy đứng lên vững chãi một hồn cốt bài hát thành phố Đà Nẵng qua một vận
đội đầy giông gió và biến động. Một hồn cốt mà không phải địa phương nào, thành
phố nào cũng có được. Đấy là điều đáng mừng do chính thành phách xứ sở này tạo
nên.
Đà Nẵng đang trên đường
phát triển ở thế kỷ mới. Một sự phát triển nhảy vọt khiến ta luôn bất ngờ và
rưng rưng cảm kích. Hơn thành phố nào hết, thành phố Đà Nẵng muốn có bài hát
hay về thành phố mình mang tầm cỡ như “Người Hà Nội”, “Thành phố hoa
phượng đỏ” … Thiết nghĩ, muốn có cái mới hay và thu phục lòng người
thì rất cần tới sự tôn vinh những cái cũ đã hay mà ta còn xao lãng, chưa lắng
lại để cảm nhận. Bên cạnh đấy cũng phải chiêu hiền đãi sĩ ở bốn phương trời hội
tụ về Đà Nẵng để viết những Đà Nẵng ca. Trong nhiều năm nay, có rất nhiều nhạc
sĩ nổi tiếng như Trần Tiến, Nguyễn Cường, Vũ Thiết, Đỗ Hồng Quân, Quỳnh Hợp …
đã đến Đà Nẵng và đã để lại rất nhiều giai điệu đẹp cho Đà Nẵng hôm nay. Ngay
trong thành phố cũng có những cuộc vận động sáng tác được hưởng ứng khá nhiệt
tình. Đầu tháng 9.2011, với ý nghĩa chào mừng “Ngày âm nhạc Việt Nam
2011”, Hội âm nhạc Đà Nẵng đã mở trại sáng tác âm nhạc Đà Nẵng. Đã có 77 ca
khúc của hội viên và nhiều nhạc sĩ khắp nơi gởi về hưởng ứng trại. Xem ra, khát
vọng về một “Đà Nẵng ca” ngày càng chín hơn và sôi sục hơn
trong làng nhạc Đà Nẵng nói riêng và nhạc sĩ sáng tác nói chung. Và điều đó
được nhận ra ngay trong các tác phẩm.
Lão tướng Thanh Anh từng
rất nổi tiếng với “Cô du kích Đà Nẵng” thời chống Mỹ, giờ với
phong độ ấy thêm chất ngẫm nghĩ của tuổi già, đã đưa âm hưởng dân ca xứ Quảng
vào “Về thăm thành phố quê hương” (thơ Vạn Lộc) rất tinh tế và
ngọt ngào. Vẫn cách như thế với “Dòng sông tôi yêu” tác giả
Trần Bình với nhịp điệu trẻ trung trong “Đà Nẵng yêu thương”. Nhịp
điệu trẻ trung, chất ngất trong “Biển phố tình yêu” của tác
giả Trưỡng Sỹ Linh, trong “Đà Nẵng bên em” và “Nhớ
anh” (thơ Vạn Lộc) của Thái Phá. Ông bạn già “Tám xòa” của tôi – tác
giả Nguyễn Văn Tám lúc nào cũng hồn nhiên như thuở thanh xuân đưa ra bộ tứ bình “Đà
Nẵng, nơi tôi về”, “Dòng sông tuổi thơ”, “Thành phố bên sông Hàn”,
“Chiều cửa biển” đầy trữ tình và lãng mạn. Tác giả Trịnh Tuấn Khanh
lại tự sự sâu lắng, da diết trong “Ký ức vùng ven”. Tác giả Trần Ái
Nghĩa vẫn mạnh mẽ, sôi động trong “Hải Châu viên ngọc biển” và
dịu dàng Boléro trong “Lời yêu trên đỉnh Bà Nà”. “Bến đợi” của
tác giả Nguyễn Thanh Tố phổ thơ Trần Nhật Tân tuy không có chữ Đà Nẵng nào
trong ca từ nhưng vẫn gợi ra những bến bờ Đà Nẵng và ca khúc “Thành phố
biển xanh và cát trắng” cũng chỉ có từ Đà Nẵng ở câu kết cuối cùng.
Tác giả Phương Tài với giọng ca trầm ấm hình như viết “Khúc hát tâm
tình” và “Liên Chiểu quê tôi” là để dành cho chính
mình suy tư và ngẫm ngợi. Tác giả Trần Phước Khiêm cũng đầy tâm trạng trong “Hoa
nở bên dòng sông”, “Như chưa hề có cuộc chia ly” (thơ Việt An). Tác
giả Minh Đức tinh tế trong thơ Thuận Hữu để viết ra “Thành phố và em”. Điệu
thức chủ La thứ luôn luôn muốn cựa quậy sang Đô trưởng. Tác giả Nguyễn Bá Sĩ
thổ lộ chân thành, nhẹ nhàng trong nhịp 3/8 ở “Hãy hát về thành phố
tôi”. Tác giả Phan Thanh Trường có vẻ là một “fan” cứng của nhạc Trịnh
trong “Bên tượng đài người mẹ”. Tác giả Phạm Quang Trung đưa ta trở về với ký
ức hào hùng ngày giải phóng qua “Chào mừng Đà Nẵng ngày quê hưởng giải
phóng” (thơ Trường Sơn). Nữ tác giả Nguyễn Thị Thanh Hiền có vẻ vẫn
chưa muốn rời bỏ cấu trúc ca khúc Pháp từ xửa xưa trong “Sông Hàn khúc
hát mùa xuân”. Cũng là sự thổ lộ đáng trân trọng bằng hơi thở Boléro “Đà
Nẵng sông Hàn bến mơ” như một tâm sự dài không cần cao trào. Tác giả
Mai Danh tỏ ra rất vui mừng trước ngày hội bắn pháo hoa Đà Nẵng qua “Mang
tình yêu Đà Nẵng đến muôn người”. Tác giả Mạnh Hùng mong muốn vươn tới một
tác phẩm hoành tráng về sông Hàn qua “Sử thi sông Hàn”. Tác giả
Trịnh Mạnh Hùng tỏ ra đa dạng trong bộ ba “Một thời để nhớ” (thơ
Phùng Ngọc), “Trường Sa sóng hát”, “Lời nguyền” (thơ Thuận
Tĩnh). Tác giả Hướng Dương nhìn chữ viết có lẽ là con gái vì tư duy rất thanh
thoát, vấn đề rất giản dị trong “Dịu dàng con phố xanh”, “Chợt nhớ” (thơ
Lê Huy Hạnh), “Lửa cho con” (thơ Văn Luân), “Đà Nẵng
trong tôi” (thơ Võ Đức Hưng), “Về nghe mẹ hát” (thơ
Văn Luân). Cũng lạ khi tác giả Trương Xuân Hùng định nghĩa lại Đà Nẵng qua “Thành
phố hoa” (thường dùng cho Đà Lạt) và đầy thiết tha qua “Thu về
trên sông Hàn”, “Nối nhịp cầu mơ”. Tác giả Trương Duy Huyến vẫn chung thủy
với những giai điệu thiếu nhi qua“Vũ khúc dưới trăng”, “Non nước vào thu”.
Tác giả Phạm Quang Thức chợt có bước lùi quãng bảy rất lạ trong“Bài ca Đà
Nẵng” (thơ Thùy Nga – Phạm Quang Thức). Tác giả Nguyễn Đức vẫn đầy hồ
hởi, mới mẻ trong“Thành phố bên bờ biển xanh”. Tác giả Nguyễn Duy Khoái
đầy tự tin trong “Thành phố niềm tin”. Tác giả Huỳnh Ngọc Hải hình
như đã tìm được sự dùng dằng trên đường Đà Nẵng bởi những biến phách đuôi ô
nhịp 4/4 qua“Bài thơ Đà Nẵng”. Tác giả Đỗ Xuân Đồng – cán bộ Ngân hàng
Công thương mê văn nghệ, cũng gửi lòng mình vào giai điệu qua “Chiều về
trên sông Hàn”, “Đêm hoa đăng, Đà Nẵng gọi ta về”. Tác giả Kim Hùng cũng
trút xúc động và “ngũ tử” tác phẩm “Đà Nẵng quê anh” nhịp
slow-rock điệu thức si trưởng (5 dấu # ở hóa biểu), “Về thăm Đà Nẵng”,
“Mãi là mùa xuân”, “Nét xưa” ở điệu thức rê giáng trưởng (5 dấu b ở
hóa biểu) và dễ thương với “Mùa pháo hoa kỷ niệm” chép tay bản
thảo rất ngộ. Tác giả Cao Tâm mộc mạc trong “Thương lắm Đà Nẵng yên
bình”(thơ Lê Thanh Minh). Cũng mộc mạc không kém, tác giả Trương Công Ảnh ở
công ty điện lạnh khu công nghiệp Hòa Khánh với “Đà Nẵng xưa và nay”,
“Trường Định – khúc ru hời”, “Biển hát mãi lời ru của mẹ”. Tác giả
Phạm Anh Cường gửi tâm hồn qua “Chuyến phà dĩ vãng”, “Thành phố hạnh
phúc”. Cặp bài trùng Đình Thậm và Ngân Vịnh lần này lại thẩm thấu Đà Nẵng
bằng nỗi nhớ qua “Nhớ Đà Nẵng” với tiết nhịp bossanova uyển
chuyển. Thực ra, “Hát cùng dòng sông” của Trương Quang Thành
cũng chỉ là ca khúc hai đoạn đơn, nhưng tác giả rất linh động đã khoác cho nó
chiếc áo hợp xướng bởi lòng nhiệt tình với thành phố của mình. Khác với Trương
Quang Thành, bậc thày Phan Ngọc lại gọi “Tình yêu Hoàng Sa” của
mình là một trường ca với ba phần “Tình yêu Hoàng Sa”, “Ra khơi”, “Cát
vang”. Các phần đều chung điệu thức la thứ, đều viết ở thể hai đoạn đơn
nhưng sử dụng bè, các thủ pháp hát đuổi, hát nổi các giọng nam nữ. Có thể gọi “Tình
yêu Hoàng Sa” là một liên ca khúc mang hình thức hợp xướng được chăng?
Tác giả Xuân Minh lâu nay đã được biết đến với những giải thưởng Hội nhạc sĩ
Việt Nam. Trong lần dự trại này, Xuân Minh muốn mang tới một cảm nhận mới về Đà
Nẵng qua “Nhịp sống thành phố”. Nhịp sống này được nhấn bằng những
biến phách thường xuyên, hình như để gửi gắm một sức sống chưa biết dừng lại
của Đà Nẵng. Sự tươi vui của Đà Nẵng mới qua những tươi vui khác lạ. Tác giả
Thái Nghĩa, mặc dù rất bận bịu với công tác phong trào và các hoạt động âm nhạc
khác của Hội âm nhạc Đà Nẵng, vẫn phối hợp với nhà thơ Lê Thị Thu Sinh để có
bài hát bất chợt “Cảm tác ngũ hành sơn”, một địa danh nổi tiếng với
thắng cảnh và chiến tích, đã và đang được thành phố Đà Nẵng quy hoạch thành khu
du lịch tâm linh.
Trại sáng tác Đà Nẵng
còn nhận thêm được những tác phẩm của các tác giả ngoại tỉnh, nhiệt tình gửi về
góp lửa. Tác giả Lê Anh của Huế thật lạ trong thiết tấu ở “Bài thơ trên
cao” (thơ Nguyễn Ngọc Hanh). Tác giả Huỳnh Tú Mỹ ngoại bát tuần ở Hội
An lại rất trẻ khi đưa ra “Đà Nẵng khúc hoan ca” bằng tiết
điệu cha cha cha. Cũng thế, tác giả Phan Văn Minh ở Thăng Bình (Quảng Nam) lại
qua “Thành phố những cánh diều”. Tác giả Hoàng Bích tuy đã về công
tác với Quảng Nam những vẫn thủy chung tình nghĩa giữa Quảng Nam – Đà Nẵng với
bài “Quảng Nam – Đà Nẵng một khúc ca” và nghĩ về một Đà Nẵng
là nghĩ đến sự tươi tắn, năng động, thân thiện qua bài “Đà Nẵng thành
phố triệu nụ cười” giống như một câu thơ: “Em nắng gió trong
phiêu lãng của ta- Nếu nụ cười có thể tách được ra- Ta sẽ đền em triệu bông
hồng thắm- Nhưng em và Đà Nẵng- Sẽ ra sao khi thiếu nụ cười”, tên bài
hát này có thể lấy làm tên của tuyển tập bài hát về Đà Nẵng hôm nay. Tác giả
Trần Hồng tuy ở Đà Nẵng nhưng quê ở Quảng Ngãi và một nửa tác phẩm “Trăng
hoa biển” là thơ của Thanh Thảo – nhà thơ ở Quảng Ngãi, có lẽ cũng nên
tặng thêm Quảng Ngãi một xuất góp lửa cho vui cùng “Đà Nẵng – xưa và
nay” của Nguyễn Hoàng và “Bà Nà nhớ”, “Đà Nẵng thành phố biển
quê hương” cũng là các tác giả Quảng Ngãi. Tố Hải Nha Trang cũng góp
lửa qua “Tình ca gửi sông Hàn” (thơ Nguyễn Nhã Tiên), “Thành
phố ước mơ xanh”, “Đà Nẵng một tình ca”. Tác giả Bùi Nguyên Lâm thành phố
Hồ Chí Minh cũng nhiệt tình góp lửa qua “Lung linh sắc hoa”, “Thành phố
muôn sắc hoa”, “Biển xanh yêu thương”. Tác giả Vũ Viết Đắc ở văn phòng UBND
tỉnh Bắc Ninh cũng qua thơ Nguyễn Đức Hiền mà gửi gắm vào “Gửi thành
phố sông Hàn”. Tác phẩm viết ở điệu thức đô trưởng xuống quá trầm (nốt mì
ngoài dòng kẻ). Có thể tăng lên điệu thức mi giáng trưởng thì sẽ hợp cho giọng
hát hơn. Hà Nội cũng có hai tác giả góp lửa là Nguyễn Hằng Giang – chắc là nữ
tác giả, qua “Đà Nẵng quê hương tôi” và Vũ Thiết với “Nồng
say Đà Nẵng”, “Đà Nẵng của tôi” đều rất say sưa và kỹ lưỡng.
Bằng nhiệt huyết với Đà
Nẵng, bằng khát vọng về một “Đà Nẵng ca”, các tác giả đã cho thấy
sự nỗ lực lao động nghệ thuật của mình qua từng tác phẩm. Ở đâu cũng thấy những
cảm xúc dễ thương.
Đối với riêng tôi, Đà
Nẵng đã đi vào tâm tưởng từ thời chiến tranh khi công tác ở chiến trường khu V.
Nhưng phải đến sau giải phóng mười năm, năm 1985 khi mục kích những mầm mống
phát triển của Đà Nẵng, tôi mới có thể viết được một ca khúc đầu tiên về Đà
Nẵng mang tên “Đà Nẵng – thành phố lên cao” với một nhịp điệu
trẻ trung, sôi nổi. Trong sự đổi sắc thay da của Đà Nẵng thế kỷ mới, năm 2005,
tôi viết tiếp một ca khúc thứ hai về Đà Nẵng mang tên “Người Đà Nẵng”.
Ca khúc đã được ca sĩ Minh Huyền – người Đà Nẵng – thể hiện và được đưa vào CD
“Miền yêu dấu” của tôi ra mắt vào cuối năm 2009. Mùa thu 2012, tôi lại trở về
Đà Nẵng, trong suốt một tuần thăm thú, nghiền ngẫm về sự phát triển của thành
phố, tôi đã viết được ca khúc thứ ba “Lung linh đêm Đà Nẵng”, với
sự thể hiện đầu tiên bằng phần đệm guitar và giọng hát của ca sĩ – nhạc sĩ Đình
Thậm.
Trên con đường đi
tìm “Đà Nẵng ca”. Có thể vẫn phải dùng chiến lược ba mũi giáp công: đặt hàng,
lập trại, khai thác tự nhiên. Nhưng “lòng thành cảm kích trời đất”. Biết đâu
vào dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng Đà Nẵng, lại có một “Đà Nẵng ca” xuất hiện
nghiêng ngửa chẳng kém gì “Hà Nội ca”, “Hải Phòng ca”, “Sài Gòn ca” … Hãy vừa
sáng tạo, vừa hy vọng.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét