Thơ chữ Hán giữ một vai trò quan
trọng trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du, bởi nó vừa là nhật ký tâm
trạng, vừa là nhật ký có tính hành trình của chính đại thi hào trong suốt một
thời kỳ dài. Đó là mảng thơ ông sáng tác gần như trọn đời (khoảng trên dưới 30
năm), qua nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. Thậm chí, căn cứ vào các địa danh
trong tập thơ Bắc hành tạp lục (1813 – 1814), người ta đã vẽ
lại con đường đi sứ của Nguyễn Du từ trấn Nam Quan đến tận Yên Kinh (Bắc Kinh).
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du dường như đã ghi lại một cách trung thành và khá đầy
đủ những buồn vui trong suốt cuộc đời của nhà thơ từ lúc rời nhà đến lúc rời
nước đi làm nhiệm vụ mà triều đình giao phó. Những buồn vui đó thể hiện
qua những điều trông thấy ở trên quê hương ông đến những điều
trông thấy ở quê người. Nói là những buồn vui nhưng buồn vẫn là chủ yếu. Buồn
vì tóc bạc, buồn vì bệnh tật, ốm đau không có thuốc thang, buồn vì thời thế
loạn ly…nhưng sâu sắc nhất, bao trùm nhất, xuyên suốt nhất vẫn là nỗi
buồn tha hương, nỗi truân chuyên, chìm nổi của cuộc đời tưởng như vô định.
Đọc toàn
bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta như cùng nhà thơ tham gia vào một cuộc đi, một
hành trình dài. Hành trình đó, bắt đầu từ những ngày đang tuổi thanh xuân thì
gia đình đã phải ly tán, anh em lưu lạc. Bài thơ được đánh số 1 trong Thanh Hiên thi tập (Nguyễn Du toàn tập) 1 là bàiQuỳnh
Hải nguyên tiêu, có câu: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (Chốn quê Hồng Lĩnh không còn nhà, anh
em tan tác). Nguyễn Du lúc này đang “tỵ cư” ở nhà anh vợ tại Quỳnh
Côi (Thái Bình). Bài thơ số 2 sau đó (Xuân nhật ngẫu hứng) lại có câu:
“Tha hương nhân dữ khứ niên biệt” (Chốn
tha hương, người từ biệt năm cũ). Trong bài thứ 3, nhà thơ như tiên
nghiệm được cái gian truân lưu lạc ấy là do bản mệnh, do tướng mạo của mình:
“Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng”. Nên nhà thơ đã hỏi: Cớ sao “càn khôn” lại
đố kỵ với kẻ làm văn chương, trong khi đáng lẽ phải giúp người làm văn thay đổi
số phận (Bản vô văn tự năng tăng mệnh/Hà sự càn khôn thác đố nhân? Tự
thán)
Cái mặc
cảm tha hương, lưu lạc đó cứ đeo đẳng nhà thơ suốt cả cuộc hành trình, xuyên
thấm qua mọi bài thơ từ Thanh
Hiên thi tập, qua Nam
trung tạp ngâm đến Bắc
hành tạp lục. Có thể nói sự xuất hiện của các câu thơ nói về cảm
giác lưu lạc, tha hương là khá đậm đặc: Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ (Một tấm lòng nhớ quê dưới ánh trăng/ (Sơn
cư mạn hứng); Lưu lạc bạch đầu thành để sự (Bạc đầu chìm nổi vô tích sự, (U cư I),
Thập tải phong trần khứ quốc xa (Mười
năm gió bụi rời thành đi xa, (U cư II), Dao ức gia
hương thiên lý ngoại (Xa nhớ
quê hương ngoài ngàn dặm, (Mạn hứng); Gia hương thiên lý
nguyệt trung tâm (Ngàn dặm
nhớ quê lòng theo trăng, (Xuân dạ). Với tấm lòng da diết nhớ
quê như vậy, khi tiễn một người bạn có tên là Nguyễn Sĩ Hữu về nam, cũng là về
quê làm việc, nhà thơ đã mừng cho bạn và buồn cho mình. Buồn cho mình là bạc đầu
rồi vẫn chưa về được quê, mừng cho bạn sớm được về quê Hồng Lĩnh, nơi trăng
trong gió mát, không còn canh cánh nhớ mong, nhìn về chân trời: “Bạch đầu vô
lại bất hoàn gia,…Qui khứ cố hương hảo phong nguyệt /Ngọ song vô mộng đáo thiên
nha” (Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam qui).
Nỗi buồn
nhân thế là một cảm hứng chủ đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Hầu hết các công
trình nghiên cứu về thơ chữ Hán đã khẳng định điều này. Nguyễn Lộc cho rằng tâm
sự của Nguyễn Du “lúc nào cũng buồn, cũng day dứt”, ngay cả khi ra làm quan với
nhà Nguyễn cũng “chẳng vui vẻ gì hơn” (Nguyễn Lộc)2; Mai Quốc Liên giải thích nguyên nhân nỗi buồn
trong tâm trạng Nguyễn Du là do thời cuộc: “Nhưng cái buồn của Nguyễn Du, sự
thất vọng, tuyệt vọng của Nguyễn Du …không phải chỉ là cái buồn của thân thế,
nó còn là cái buồn trước đất nước và thời cuộc” 3. Nguyễn Hữu Sơn cho rằng Thanh Hiên thi tập là
“tập thơ bộc lộ nỗi niềm Nguyễn Du trong những tháng năm sống long đong, mất
phương hướng, mất lòng tin, thậm chí cả tâm trạng hoang mang, vô vọng với rất
nhiều những xót xa về thân phận "chân trời góc bể "… 4.
Cho đến
những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khẳng định âm hưởng buồn
đau trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Trần Nho Thìn trong Văn học Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ
XIX(2012) đã nhận xét về mảng thơ mang cảm hứng chính trị - xã hội
là “Nguyễn Du không quan tâm tổng kết nguyên nhân thành/bại, hưng/vong mà ông
gửi gắm nỗi u hoài về cuộc đời trăm năm ngắn ngủi, về những cuộc bể dâu, rồi
tất cả sẽ rơi vào hư vô” 5 .
Nguyễn Thị Nguyệt khẳng định: “Bước đường quan san, gió bụi, tha hương, chân
trời góc biển, ốm đau bệnh tật, trăng thu, đêm thu, gió thu lạnh, mùa xuân
lạnh, mái tóc bạc, nỗi nhớ quê hương ngoài nghìn dặm, nỗi sầu thế cuộc...tất cả
trở đi trở lại, thành nỗi niềm man mác trong suốt cả tập thơ” 6. Phạm Quang
Ái còn bổ sung thêm nỗi đau “thất cước”: “Nỗi đau thất cước, nỗi xót xa thân
phận, niềm bi phẫn vì cuộc đời bế tắc, tấm lòng ưu thời mẫn thế, điếu cổ thương
kim,..Tất cả, như một dàn hợp xướng nhiều bè cùng tấu lên trong suốt 249 bài
thơ của ba tập thơ…” 7. Và còn rất nhiều bài viết khác nữa đã nói đến nỗi
buồn đau trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du mà ở đây chúng tôi không có điều kiện
kể hết.
Căn nguyên
của nỗi “đau đớn lòng” ấy cũng đã được nhiều người giải thích. Nguyên nhân từ
hai phía, phía khách quan, là hoàn cảnh xã hội, là lịch sử đất nước thời bấy
giờ. Đây là hướng giải thích chủ yếu, khi muốn nhấn mạnh ý nghĩa tố cáo xã hội
phong kiến của thơ Nguyễn Du. Hướng giải thích thứ hai là từ phía chủ quan của
nhà thơ.
Nào là hoàn cảnh gia đình, nào là bản thân bệnh tật, nào là thái độ chính trị không mặn mà đối với triều Nguyễn, luyến tiếc thời Lê và kinh đô cũ Thăng Long…Cũng có nhiều ý kiến đã kết hợp cả hai loại nguyên nhân là vừa chủ quan vừa khách quan. Như vậy, qua các ý kiến trên, ta thấy có một sự nhất trí khá cao trong việc khẳng định âm hưởng chung của trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là nỗi buồn, nỗi đau. Đó là một cảm xúc mạnh mẽ, bao trùm. Có thể coi những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã thể hiện một nỗi buồn đau có tính tập hợp, tính cộng hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó, có nỗi buồn do cảm giác lưu lạc, ly tán đem lại.Ở đây, chúng tôi hoàn toàn thống nhất về cách nhìn đa chiều, phối hợp các yếu tố chủ quan và khách quan, và nhấn mạnh thêm về thủ pháp nghệ thuật hay là phương pháp tư duy và thi pháp của thơ trung đại, thơ truyền thống.
Nào là hoàn cảnh gia đình, nào là bản thân bệnh tật, nào là thái độ chính trị không mặn mà đối với triều Nguyễn, luyến tiếc thời Lê và kinh đô cũ Thăng Long…Cũng có nhiều ý kiến đã kết hợp cả hai loại nguyên nhân là vừa chủ quan vừa khách quan. Như vậy, qua các ý kiến trên, ta thấy có một sự nhất trí khá cao trong việc khẳng định âm hưởng chung của trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là nỗi buồn, nỗi đau. Đó là một cảm xúc mạnh mẽ, bao trùm. Có thể coi những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã thể hiện một nỗi buồn đau có tính tập hợp, tính cộng hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó, có nỗi buồn do cảm giác lưu lạc, ly tán đem lại.Ở đây, chúng tôi hoàn toàn thống nhất về cách nhìn đa chiều, phối hợp các yếu tố chủ quan và khách quan, và nhấn mạnh thêm về thủ pháp nghệ thuật hay là phương pháp tư duy và thi pháp của thơ trung đại, thơ truyền thống.
Nỗi buồn
vì ly tán và cảm xúc lưu lạc được thể hiện trong một biểu tượng đặc sắc mà
nhà thơ gọi là “đoạn bồng nhất phiến”: Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp/Tất
cánh phiêu linh hà xứ quy (Cỏ
bồng một nhánh bay trong gió, Cuối cùng rồi sẽ dạt về đâu, (Tự
thán I). Giống như một nhánh cỏ bị đứt rễ, lá lìa khỏi cội, gió bão sẽ
cuốn nó bay đi lang thang vô định, chưa biết đến chân trời nào. Hình ảnh ngọn
cỏ khô ấy là biểu trưng cho một con người tha hương. Đến bài Mạn hứng II,
ta thấy rõ hơn cái ngụ ý biểu trưng của nhánh cỏ bồng: “Hành cước vô căn nhiệm
chuyển bồng …Lục xích phù sinh thiên địa trung” (Như ngọn cỏ bồng không rễ chuyển dời bất định …Tấm thân
sáu thước sống nổi trôi giữa đất trời). Xuyên suốt cả ba tập thơ,
mà rõ rệt nhất là trong Thanh
Hiên thi tập, là hình ảnh một con người không an cư, sống gần như
vô định, “nay đây mai đó”, trong gió bụi, trong trời đất, lấy trăng sao, sông
núi làm bạn. Độc thoại với chính mình, với các cô hồn, các vong linh, các nhân
vật quá khứ, chia tay với bạn bè, anh em rồi mỗi người lại đi về phía chân trời
góc bể (Hải giác thiên nhai), để lại một nỗi sầu thương…là những dạng thức chủ
yếu của chủ thể trữ tình.
Cả hai
biểu tượng, ánh trăng
quê và nhất
phiến đoạn bồng trên đây đều mang tính ẩn dụ. Ẩn dụ này ta đã
gặp trong thơ đời Đường (Trung Quốc).Trước Nguyễn Du một ngàn năm, nhà thơ lớn
của Trung Quốc, Lý Bạch (701 – 762) cũng đã sử dụng ánh trăng và cỏ bồng để nói
lên những năm tháng lưu lạc của mình: “Cử đầu vọng minh nguyệt/Đê đầu tư cố
hương” (Tĩnh dạ tư) 8, “Cô bồng
vạn lý chinh” (Tống hữu nhân) 9.
Chúng ta
không nhấn mạnh tính đặc thù của cái cảm giác không gian vô tận trong thơ
Nguyễn Du, bởi nó như là đặc trưng chung của thi pháp thơ cổ, của tư duy nghệ
thuật trong thơ chữ Hán nói chung. Chỉ trong một bài thơ Hoàng Hạc lâu của
Thôi Hiệu (704 – 754) cũng đã có đủ ba yếu tố mà chúng ta đang nói tới: thiên tải, hương quan, sầu:
“Bạch vân thiên tải không du du…Nhật mộ hương quan hà xứ thị,Yên ba giang
thượng sử nhân sầu” 10. Như
vậy, cái cách cảm nhận không gian và thời gian trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du
là sự kế thừa cách cảm nhận của thơ ca cổ phương Đông. Trước ông hàng ngàn năm,
thơ ca đời Đường cũng đã nói về cái thiên lý, thiên niên ấy rồi. Đó chính là sự
phản ánh điều kiện lịch sử xã hội của thời trung đại, khi các phương tiện giao
thông và liên lạc còn rất hạn chế, rất lạc hậu. Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi,
ta cũng đã bắt gặp cái cảm xúc tha hương tương tự: Cùng là khách ngàn dặm -
Đồng vi thiên lý khách (Tặng hữu nhân); Thu về đất lạ lòng nhiều cảm xúc - Thu
việt tha hương cảm khách đa (Loạn hậu cảm tác); Mười năm xiêu dạt ngán bồng bình –
Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình (Quy Côn Sơn chu trung tác);
…Nguyễn Trãi còn nói rõ là Giang
hồ lưu lạc mấy mươi niên (Nhất biệt giang hồ sổ thập niên
– Hải khẩu dạ bạc hữu cảm)11.
Tuy vậy, trong thơ Nguyễn Trãi nhiều bài nói đến biên thùy vô sự, nói
đến văn trị,
(Văn trị chung tu trí thái bình), nói đến quốc thù (Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ
- Rửa nhục quốc thù ngàn năm sạch), chỉnh
đốn càn khôn (Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu)…và tâm thế của Nguyễn Trãi là
tâm thế của một bậc khai quốc công thần, một vị quân sư, nên âm hưởng thơ có
phần hào sảng hơn. Nghĩa là trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi có thêm cái nhìn
của một kẻ kinh bang (trị nước) mà trong thơ Nguyễn Du không có.
Điều đáng
chú ý là Nguyễn Du có cái nhìn của một kẻ bị động, một thân phận bị xô đẩy. Ông
đã sử dụng những biểu tượng “đoạn bồng nhất phiến” đi đôi với Tây phong, Thu
phong, Đông phong …Rất nhiều gió và bụi (phong trần) trong cả ba tập thơ chữ
Hán. Cái thân phận bé nhỏ của con người trước vũ trụ, càn khôn càng trở nên ám
ảnh khi khoảng cách thời gian và không gian được nâng lên vô hạn. Cảm xúc tha
hương, nỗi niềm lưu lạc ấy như được nhân lên nhiều lần khi nhà thơ sử dụng các
khái niệm “thiên lý”, “thiên niên”… để nói về tâm trạng nhớ quê “Thiên lý xích
thân vi khách cửu” (Ngàn dặm
xa quê làm khách mãi, (Thu chí); “Đạp biến thiên nha hựu hải
nha”, (Tạp ngâm), “Vạn
lý thu thanh thôi lạc diệp” , (Thu dạ I); “Thiên lý giang sơn
tần trướng vọng”, (Thu dạ II); “Tang tử binh tiền thiên lý lệ”, (Bát
muộn); “Mang mang hải
thủy tiếp thiên khu”, (Dao vọng Càn Hải từ ); “Tứ hải phong trần gia
quốc lệ”, (My trung mạn hứng); “Hương
tứ tại thiên nhai” (Ký Giang Bắc Huyền Hư Tử): “Thiên lý bất tương
kiến” “Thiên lý bất
tương văn” (Biệt Nguyễn đại lang)…Cái tâm trạng một đi không biết bao
giờ về, không biết sẽ dừng chân nơi đâu là khá phổ biến trong các bài thơ chữ
Hán của Nguyễn Du: “Nhất biệt bất tri hà
xứ trú…Hải thiên mang điểu thiên
dư lý” (Ức gia huynh); “Hải giác thiên nhai hà xứ tầm” (Lưu
biệt Nguyễn đại lang). Cái tôi trữ tình trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du là
một cái tôi đi nhiều, một cái tôi lữ hành. Cái cảm giác “dừng lại đâu trong
vòng trời đất thì đó là nhà” là cảm giác thường trực: “Càn khôn tùy tại tức vi
gia” (Tạp ngâm). Con người lữ hành ấy không có đích đến, hay nói đúng
hơn, đó là một cuộc lữ hành vô định, mà khát vọng ở đây là trở về cội nguồn.
Hồng Lĩnh là một nỗi ám ảnh lớn nhất của nhà thơ trong suốt cuộc hành trình.
Cảm xúc
xa nhà, xa quê trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du càng về cuối tập thơ càng trở
nên nhức nhối, mãnh liệt. Mới đầu là tấm lòng theo ánh trăng vời vợi mà về với
quê hương, “Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm (Xuân dạ), về sau, khi
đã xa quê hàng vạn trùng sơn - Cố hương dĩ cách vạn trùng san (Thái Bình
thành hạ văn xuy địch), thì gan ruột nhà thơ như bị cồn cào hơn, day dứt
hơn. Đáng chú ý là trong bài thơ Ký Giang Bắc Huyền Hư Tử, Nguyễn
Du sử dụng hai chữ “hương tứ”:Hương
tứ tại thiên nhai (Lòng quê trời một phương – Ngô Linh Ngọc
dịch), Thuần lô hương
tứ tại thu tiên (Dạ tọa) 12.
Trong bài Sơn cư mạn hứng thì Nguyễn Du sử dụng hai chữ “hương tâm” (Nhất phiến hương tâm). Hương tâm có thể dịch là tấm lòng yêu quê, nhưng hương tứ thì vừa có thể dịch là lòng quê, vừa có thể dịch là trí quê hay quê hương trong tâm tưởng. Trong “hương tứ” của thi nhân, Hồng Lam là một vùng quê tuyệt đẹp, ở đó anh có thể thu lượm được nhiều cảnh tình, nhiều cảm xúc để làm thơ, để ngâm ngợi thanh cao: “Lam thủy Hồng Sơn vô hạn thắng/ Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm” (Phúc Thực Đình). Có thể nói, núi Hồng sông Lam là một vùng quê đủ cho bạn ngâm vịnh: “Lam thủy Hồng Sơn túc vịnh ngâm” (Tặng Thực Đình). Người ta có thể ngủ yên trong mây trời Hồng Lĩnh: “Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân” (Dạ hành). Những vần thơ có được cảm xúc trong sáng và xanh tươi ấy của cảnh đẹp thôn quê hầu hết đã được nhà thơ sáng tác trong thời gian sống ở quê hương. Giấc hương quan cũng là một biểu tượng được nhắc đến mỗi khi xa quê. “Giấc hương quan luống lần mơ canh dài” (dòng 1266 trong Truyện Kiểu) là nói đến nỗi nhớ nhà, nhớ quê của nhân vật Thúy Kiều. Còn khi Nguyễn Du đi xa quê, thì « giấc hương quan” ấy cũng nặng trĩu tâm hồn, mà màu sắc trong giấc hương quan đó thường ảm đạm, tình cảm trong đó thường là sầu bi, và rất nhiều nước mắt. “Bồi hồi chính ức Hồng Sơn dạ” (Sơ nguyệt); “Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng” (Ngẫu hứng II), Mộng trung tùng cúc ức quy dư (Lạng Sơn đạo trung). Mặc dù là so với ngày nay, khoảng cách địa lý mà các bài thơ nói đến so với quê Hồng Lam không phải là vô hạn: Gia Viễn Ninh Bình (Sông Quyết) hay phủ Lạng Sơn thì ngày nay chỉ mất nửa ngày là có thể về tới đất Hồng Lam. Nhưng thời Nguyễn Du có thể phải đi cả tháng trời.
Trong bài Sơn cư mạn hứng thì Nguyễn Du sử dụng hai chữ “hương tâm” (Nhất phiến hương tâm). Hương tâm có thể dịch là tấm lòng yêu quê, nhưng hương tứ thì vừa có thể dịch là lòng quê, vừa có thể dịch là trí quê hay quê hương trong tâm tưởng. Trong “hương tứ” của thi nhân, Hồng Lam là một vùng quê tuyệt đẹp, ở đó anh có thể thu lượm được nhiều cảnh tình, nhiều cảm xúc để làm thơ, để ngâm ngợi thanh cao: “Lam thủy Hồng Sơn vô hạn thắng/ Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm” (Phúc Thực Đình). Có thể nói, núi Hồng sông Lam là một vùng quê đủ cho bạn ngâm vịnh: “Lam thủy Hồng Sơn túc vịnh ngâm” (Tặng Thực Đình). Người ta có thể ngủ yên trong mây trời Hồng Lĩnh: “Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân” (Dạ hành). Những vần thơ có được cảm xúc trong sáng và xanh tươi ấy của cảnh đẹp thôn quê hầu hết đã được nhà thơ sáng tác trong thời gian sống ở quê hương. Giấc hương quan cũng là một biểu tượng được nhắc đến mỗi khi xa quê. “Giấc hương quan luống lần mơ canh dài” (dòng 1266 trong Truyện Kiểu) là nói đến nỗi nhớ nhà, nhớ quê của nhân vật Thúy Kiều. Còn khi Nguyễn Du đi xa quê, thì « giấc hương quan” ấy cũng nặng trĩu tâm hồn, mà màu sắc trong giấc hương quan đó thường ảm đạm, tình cảm trong đó thường là sầu bi, và rất nhiều nước mắt. “Bồi hồi chính ức Hồng Sơn dạ” (Sơ nguyệt); “Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng” (Ngẫu hứng II), Mộng trung tùng cúc ức quy dư (Lạng Sơn đạo trung). Mặc dù là so với ngày nay, khoảng cách địa lý mà các bài thơ nói đến so với quê Hồng Lam không phải là vô hạn: Gia Viễn Ninh Bình (Sông Quyết) hay phủ Lạng Sơn thì ngày nay chỉ mất nửa ngày là có thể về tới đất Hồng Lam. Nhưng thời Nguyễn Du có thể phải đi cả tháng trời.
Cảm xúc
về quê nội Hồng Lam đã xuyên suốt cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Mong ước
lớn nhất của ông là được trở về sống giữa quê hương, mà không cần cái “tiểu
công danh”. Một người tự cho mình mang tướng mạo truân chuyên (truân cốt
tướng), không mang cốt cách vương hầu (Hữu sinh bất đái công hầu cốt – Ký
hữu), nên Nguyễn Du ước được nằm khểnh bên song cửa sổ, làm bạn với núi
rừng, hươu lợn (Vô tử chung tầm thỉ lộc minh) sống “bình cư vô sự”. Nhưng ước
muốn ấy về tận cuối đời vẫn không thực hiện được.
Cảm xúc
về quê nội do đó đã trở thành một mong mỏi, một sự thôi thúc, thu hút tâm tư
của nhà thơ mạnh mẽ đến nỗi trở thành một định hướng trong tư duy nghệ thuật.
Trong Nam trung tạp
ngâm, khi vào Kinh sư nhậm chức, vừa nhìn thấy sông Hương thì nhà
thơ đã liên hệ ngay tới sông Lam: “Hồi
thủ Lam Giang phố” (Quay đầu về bến Lam Giang, Thu chí),
dạo trên thành sông Nhật Lệ (Quảng Bình), nhà thơ ngoảnh nhìn Hoành Sơn, tưởng
tượng quê nội bên kia Đèo Ngang mà cứ thấy xa vời: “Hồi thủ cố hương thu sắc
viễn, Hoành Sơn vân thụ chính thương thương” (Ngoảnh đầu nhìn quê nhà, màu thu xa/Chỉ thấy một màu xanh
xanh của khói mây cây cối trên dãy Hoành Sơn Giang đầu tản
bộ) thường xuyên “Bắc vọng gia hương” mà “thán luân lạc” (Ngóng về phương
Bắc mà than về sự luân lạc, trong Tân thư ngẫu hứng). Từ khi làm
Cai bạ ở Quảng Bình, Nguyễn Du đã thấy nhớ quê nội rồi, và đã quay đầu về
phương Bắc, trông qua dãy Đèo Ngang để vọng cố hương.
Ngược
lại, trong thời kỳ đi sứ phương Bắc, (Bắc
hành tạp lục) cái nhìn của nhà thơ lại hướng về phương Nam nhiều
hơn (nơi quê nội Hồng Lam) để mà thương mà nhớ: “Vạn lý hương tâm hồi thủxứ, Bạch vân Nam hạ
bất thăng đa”. (Mai Quốc Liên dịch là: Cố
hương muôn dặm quay nhìn lại/Bạt ngàn mây trắng chốn trời Nam - Ngẫu
hứng). Điều quan trọng là ở đây hình như hành trình càng dài, càng lâu thì
càng xa quê hương, càng xa anh em bè bạn: “Hồng Lĩnh thân bằng nhật tiệm dao” (Lạng
thành đạo trung). Cho đến khi gặp những người dân địa phương của “Thượng
quốc” (Trung Quốc), thấy họ cười người Nam di: “Hồ tê vi lộ tiếu Nam di (Thương
Ngô trúc chi ca V), thì Nguyễn Du mới giật mình thời gian xa nhà đã
quá lâu, hồ dễ đã quên đường về. Ông mong sao cho luôn luôn nhìn thấy quê nhà,
dù chỉ là trong mộng: “Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ, Nã đắc gia hương nhập
mộng tần” (Tam Giang khẩu đường dạ bạc). Đến Tam Giang (Quảng Tây) thì
cảm thấy như đã quên đường về quê (Thất hoàn hương bộ), nhưng khi đến Hồ Bắc
thì dù có “hồi thủ”, “dao vọng” cũng không còn nhận thấy dấu vết gì của quê
hương, như đã mất quê: “Dao không thất
cố hương” (Tương Giang dạ bạc). Từ đây, quê hương trong tầm
ngóng vọng chỉ còn là một chân trời trống không: “Cố hương không nhất nhai” (Đăng
Nhạc Dương lâu).
Nỗi nhớ
quê của Nguyễn Du không phải chỉ xuất hiện khi ông là “đoạn bồng nhất phiến”,
lưu lạc xa quê, mà ngay cả khi ông về với quê mình thì hình ảnh của quê cũ như
đã biến mất, chỉ còn lại cái khung cảnh cô liêu, hoang phế. Nguyễn Du nhớ lại
thời thơ ấu, trong đó có những kỷ niệm đẹp về một thời phong lưu, hoàng kim của
gia đình khi ông còn nhỏ. Đó là thời điểm thân phụ cáo lão về nghỉ, một cảnh
tượng thật uy nghi, hoành tráng: “Rồng thần rẽ sóng: thuyền tiên lướt/Hạc núi
vờn mây: lọng gấm che” (Tiên chu kích thủy, thần tiên đấu/Bảo cái phù không,
thụy hạc phi - Giang Đình hữu cảm). Nhưng giờ đây những thứ ấy đã
biến đi như một giấc mộng. Một tổ ấm gia đình lớn nay đã tan tác, những đứa con
ông mặt xanh như lá rau, những trận lụt kinh hoàng ở Lam Giang: Bờ sông ầm ầm
lở, sóng lớn như quỷ ma, nhà thơ đã muốn đẩy núi Thiên Nhận để lấp đầy hàng
trăm dặm sông hung dữ (Nghĩ khu Thiên Nhận sơn, Điền bình ngũ bách lý – Lam
Giang).
Tuy vậy,
trên hết và trước hết, Hồng Lam trong tâm tưởng Nguyễn Du là một vùng quê thắng
cảnh, thiên nhiên hung vĩ, sông núi hữu tình, là nơi du ngoạn thưởng lãm, vui
thú của những bậc Bá Di, Thúc Tề muốn xa lánh cuộc đời gió bụi, muốn rũ bỏ áo
mũ công danh. Với ý nghĩa đó, Hồng Lĩnh là nơi Nguyễn Du tha thiết nhớ thương
và mong muốn trở về. Trở về với nơi cội nguồn phát tích, vứt bỏ mọi danh lợi
phù hoa, chấm dứt cái hành trình lưu lạc, “thất cước” mấy chục năm. Bởi vậy, có
thể nói, nếu như trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du có một giấc mộng, thì đó là
giấc mộng lớn Hồng Lam, và giấc mộng đó càng cháy bỏng vì ngày tháng lưu lạc
càng dài, tóc càng bạc thêm. Tóc bạc thường đi đôi với giấc “hương quan” nhà:
“Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng, Bạch đầu thiên lý tẩu
thu phong” (Nhiếp Khẩu đạo trung); Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ
liệp/Bạch đầu túc
tích biến sơn xuyên (Hàm Đan tức sự), Thiên lý ly gia lữ mộng trì (Đại tác
cửu thú tư quy). “Tha hương bạch phát lão bất tử” (Tạp ngâm). “Ngũ
canh tàn mộng tục hương quan” (Thủy Liên đạo trung tảo hành). Khi đã xa
quê tới tám ngàn dặm, sống làm kẻ “dị hương” nơi “thượng quốc” thì dường như
không ai có thể đón xuân: “Du du hương quốc bát thiên lý/…Xuân hà tằng đáo dị
hương nhân” (An Huy đạo trung). Biểu tượng hương quốc được
Nguyễn Du sử dụng khi ra ngoài lãnh thổ quốc gia, qua khỏi biên ải.
Mặc cảm
lưu lạc không phải chỉ có trong thơ chữ Hán, mà thể hiện cả trong Truyện Kiều.
Cả hai nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn và Trần Đình Sử đều nhất trí cho rằng: “Truyện Kiều của
Nguyễn Du là một tiểu thuyết lưu lạc”, “Hoa trôi bèo dạt” là một mẫu gốc được kết
đọng trong tâm hồn người phương Đông, bởi lặp đi lặp lại vô vàn trường hợp con
người bị bứt khỏi gia đình, quê hương, nguồn cội” (Trần Nho Thìn)13. Nhưng như trên đã nói, thơ chữ Hán được sáng
tác gần như trọn đời, mà những bài thơ đầu đời của Nguyễn Du (lúc mới trên dưới
ba mươi tuổi) đã nói về nỗi buồn tha hương và cảm giác lưu lạc. Do vậy, có thể
nói, số phận lưu lạc của nhân vật Thúy Kiều chính là phản ánh thân phận lưu lạc
của chính nhà thơ. Thế là, con người tài hoa như Nguyễn Du đã phải chịu đựng
một số phận khá nghiệt ngã. Tài mệnh tương đố do đó không chỉ có trong triết
lý Truyện Kiềumà
còn biểu hiện cả trong thơ chữ Hán, qua hình ảnh cái tôi trữ tình long đong lận
đận bị dứt khỏi cố hương, như một nhánh cỏ bồng bị tây phong thổi gấp, trôi dạt
khắp chân trời góc bể.
Nhân vật
Thúy Kiều thì có đoạn đoàn viên, sau mười lăm năm lưu lạc, đã có hồi sum họp,
tái hợp. Nhưng chủ thể trữ tình trong thơ chữ Hán Nguyễn Du thì không, và không
phải 15 năm mà đến ba mươi năm, vẫn chưa có hồi đoàn tụ. Ta vẫn thấy ở cuối
cuộc hành trình, một con người đầu bạc, “Đi khắp núi nước Ngô/Qua nhiều non
nước Sở, Đã tận cùng núi xanh mà tính theo “kế trình” thì còn phải đi hàng
tháng nữa mới đến Yên Kinh: “Ngô sơn hành dĩ biến/Sở sơn lai cánh đa/Đáo đắc
thanh sơn tận...Kế trình tại tam nguyệt…” (Hoàng Mai đạo trung). Nghĩa
là cuộc đi công cán “Bắc hành” còn chưa đến nơi thì nói gì đến cuộc trở về đoàn
tụ. Và rồi sau đó, một cuộc Bắc hành lần thứ hai lại vẫn chờ ông. Nhưng sau đó
ông đã về giời mà không kịp “tái Bắc hành”. Một con người tài hoa, thông kim
bác cổ về văn, đã khuyên người ta “Nhân sinh vô bách tải…/Hà sự thiên niên kế”
(Đời người không tăm tuổi/Tính ngàn năm làm gì - Hành lạc từ I);
“Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ/…Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan” (Cổ kim hiền ngu
đều hóa đất/Mời anh chén rượu thả hồn vui - Hành lạc từ II).
Nhưng rồi bản thân ông không sao vui được. Bởi vì cho đến lúc mất, giấc mộng
Hồng Lam vẫn chưa thực hiện được.
Nhưng
cũng vì vậy mà tấm lòng của ông đối với quê hương hình như càng sâu nặng lên
gấp bội, còn đối với sự thăng trầm của thời cuộc thì thật đáng thương: “Thế sự
phù vân chân khả ai”, (Đối tửu).
Chú thích:
1. Nguyễn Du Toàn tập
(T. 1, T 2), Mai Quốc Liên và các dịch giả khác, Nhà xuất bản Văn học và Trung
tâm nghiên cứu Quốc học, H. 1996.
2. Nguyễn
Lộc, Văn học Việt Nam
(nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX), XB GD 2001, 308)
3. Nguyễn Du Toàn
tập, Sđd .T1 tr.9
4.http://se.ctu.edu.vn/bmnv/index.php?option=com_content&;view=article&id=168:th-ch-han-nguyn-du-t-coi-h-vo-nhin-li-kip-ngi...
5. Trần
Nho Thìn, Văn học Việt
Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, H. 2013, tr. 514.
6. Nguyễn
Thị Nguyệt, Hội VHNT Hà Tĩnh, Thơ
chữ Hán
Nguyễn Du - Nhật ký tâm trạng,http://baohatinh.vn/home/truyen-ngan-tho-am-nhac/tho-chu-han-nguyen-du-nhat-ky-tam-trang/
7. Phạm
Quang Ái, Thăng Long và
Hà Tĩnh trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du
8. Thơ Đường, T.II, Nam
Trân tuyển chọn, Trương Chính giới thiệu, Nxb Văn học, in lần thứ 2, H.1987,
tr. 46.
9. Thơ Đường, T.
II Sđd, tr. 53.
10. Thơ Đường, T. I Nam Trân
tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn học, in lần thứ 2, H.1987, tr. 122.
11. Nguyễn Trãi toàn tập,
in lần thứ 2, Nxb KHXH, H.1976, (tr.266 – 346).
12. Nguyễn Du Toàn
tập, T1, tr. 223: Tứ (思) hay tư ở đây vừa là tâm,
vừa là nghĩ suy (tư lự), vừa là hoài niệm (nhớ). 13. Trần Nho Thìn, Sđd,
tr. 525.
Theo PGS TS Nguyễn Bá Thành/ Khoa Văn - Trường
ĐH
KHXH&NV Hà Nội
KHXH&NV Hà Nội
.jpg)








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét