Sang thu - Khúc giao mùa quyến rũ
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh cuốn hút người đọc ở nhịp giọng
hay cách sử dụng từ ngữ? Sự quan sát tỉ mỉ? Ở sự cảm nhận tinh tế? Có lẽ ở tất
cả những điều đó chăng.
Thông thường nói về thu, các thi sĩ thường mượn măng trúc, hoa cúc, mây xanh, trời cao, lá vàng, nước trong… để diễn tả. Nhưng với Hữu Thỉnh, tác giả chọn thời điểm giao hòa, quấn quýt, lưỡng lự của hai mùa để dồn nén cảm nhận của mình. Mở đầu bài thơ tác giả viết: Bỗng nhận ra hương ổi. Ngạc nhiên khi nhận ra hương ổi chín? Chính hương ổi đem lại cho gió se một màu mới mang một tính chất mới khác hẳn với các loại gió khác. Và ngược lại gió se của đầu thu mang hương ổi chín vào khứu giác của con người nhanh hơn, mạnh hơn. Vì thế nhà thơ mới nhìn thấy tốc độ phả của hương ổi. Nhà thơ khắc in vào thời điểm giao mùa một nét đặc biệt mang tính đặc trưng của gió đầu thu. Từ đây mùa thu lại có một dấu hiệu riêng nữa đầy quyến rũ đó là hương ổi chín ngấm đậm trong gió se. Bình thường sẽ nói tỏa, bay chứ không phải phả. Phả vừa bao hàm nghĩa của tỏa, của bay vừa khiến người đọc như nhìn thấy, như sờ thấy một chuỗi làn hương của ổi chín cùng một lúc đồng thời ùa ngấm vào làn gió. Có thế mới gây nên, mới tạo ra trạng huống bỗng trong nhà thơ.
Thông thường nói về thu, các thi sĩ thường mượn măng trúc, hoa cúc, mây xanh, trời cao, lá vàng, nước trong… để diễn tả. Nhưng với Hữu Thỉnh, tác giả chọn thời điểm giao hòa, quấn quýt, lưỡng lự của hai mùa để dồn nén cảm nhận của mình. Mở đầu bài thơ tác giả viết: Bỗng nhận ra hương ổi. Ngạc nhiên khi nhận ra hương ổi chín? Chính hương ổi đem lại cho gió se một màu mới mang một tính chất mới khác hẳn với các loại gió khác. Và ngược lại gió se của đầu thu mang hương ổi chín vào khứu giác của con người nhanh hơn, mạnh hơn. Vì thế nhà thơ mới nhìn thấy tốc độ phả của hương ổi. Nhà thơ khắc in vào thời điểm giao mùa một nét đặc biệt mang tính đặc trưng của gió đầu thu. Từ đây mùa thu lại có một dấu hiệu riêng nữa đầy quyến rũ đó là hương ổi chín ngấm đậm trong gió se. Bình thường sẽ nói tỏa, bay chứ không phải phả. Phả vừa bao hàm nghĩa của tỏa, của bay vừa khiến người đọc như nhìn thấy, như sờ thấy một chuỗi làn hương của ổi chín cùng một lúc đồng thời ùa ngấm vào làn gió. Có thế mới gây nên, mới tạo ra trạng huống bỗng trong nhà thơ.
Hà Nội vào thu
|
Cảm thấy, nhìn thấy tốc độ của làn hương ổi chín không lý gì nhà thơ lại
không nhìn thấy: Sương chùng chình qua ngõ. Một buổi sớm giao mùa của đầu thu,
không gian trong lành, thinh lặng nên chỉ có hương ổi, có gió se, có sương mờ
giăng giăng bảng lảng trước ngõ nhỏ. Nhà thơ như nghe thấy, như nhìn thấy bước
di chuyển của làn sương: nhè nhẹ, chầm chậm như lưỡng lự, như nuối tiếc…
Tất cả điều đó được gói trong từ láy tượng hình rất sinh động: chùng chình. Hai
thanh huyền của từ láy cho phép người đọc tưởng tượng ra ngay hình thế, vị trí,
dáng dấp của làn sương thu buổi sớm. Làn sương không cao, không thấp, cứ là là,
uốn lượn, mênh mang, dịu dàng, và mỏng manh. Như thế, hương ổi chín cùng với
gió se quyện vào sương thu tạo nên một lát cắt giao mùa rất gợi, rất đẹp, rất
quyến rũ. Nó vừa hữu hình vừa vô hình tạo cảm giác lâng lâng, thanh khiết,
quyến luyến. Rõ ràng thu đã về chứ đâu còn hình như nữa? Cái hay của từ hình
như không phải tạo ra nội dung ý nghĩa mà hay ở sự tạo cảm giác mông lung, ảo
huyền hư thực xen lẫn.
Cái cảm giác vừa có vừa không, lưỡng lự, quyến luyến, như còn tiếc nuối tiếp tục được tác giả đẩy lên một nấc thang mới: Sông được lúc dềnh dàng/ Chim bắt đầu vội vã/ Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Thấy được dáng hình thảnh thơi, bình thản của sông, thấy được nhịp gấp gáp vội vàng của cánh chim trời đã khó, tác giả còn bắt được động thái chuyển mình của làn mây vắt nửa mình trên bầu trời cao kia thì thực là tinh nhạy. Nào ai phân biệt được trên bầu trời cao kia, một nửa của đám mây là màu của mùa hạ, một nửa kia đang mang chút sắc của chớm thu về. Ranh giới giao mùa giống như ranh giới thời gian của cái kim giây bé nhỏ chỉ cần tích tắc là đã di chuyển sang thời khắc khác. Nhà thơ đã chụp được thời khắc giao mùa ấy bằng tổng hòa các giác quan nhạy cảm của mình.
Sự giao mùa đã níu dòng sông lại, như người bộ hành gặp nơi ngơi nghỉ một chút để lặng ngắm cảnh vật xung quanh với một phong thái nhàn nhã. Biện pháp nhân hóa ở đây vừa cho thấy rõ đặc tính, mức độ của cử động, vừa cho thấy sắc thái toát ra từ cái dài rộng mênh mang của dòng sông sắp về với cửa bể. Dòng cảm xúc ngập tràn từ thấp dâng lên cao, từ dòng sông hướng lên cánh chim rồi hòa vào đám mây đang vắt nửa mình qua ranh giới giao mùa rất mỏng. Có thể nhà thơ nhìn qua tấm gương của dòng sông mà soi thấu, cũng có thể từ mặt nước lững lờ thoải mái mà chợt ngẩng lên. Dù thế nào người đọc cũng nhận ra bước chuyển cảm giác rất tài tình, chuyển từ thị giác, thính giác sang xúc giác, chuyển từ cụ thể sang mơ hồ từ hữu hình tới vô hình.
Quả thật Sang thu là lát cắt rất gợi được lọc qua cảm xúc tinh nhạy. Sang thu – một khúc giao mùa đầy quyến rũ.
Cái cảm giác vừa có vừa không, lưỡng lự, quyến luyến, như còn tiếc nuối tiếp tục được tác giả đẩy lên một nấc thang mới: Sông được lúc dềnh dàng/ Chim bắt đầu vội vã/ Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Thấy được dáng hình thảnh thơi, bình thản của sông, thấy được nhịp gấp gáp vội vàng của cánh chim trời đã khó, tác giả còn bắt được động thái chuyển mình của làn mây vắt nửa mình trên bầu trời cao kia thì thực là tinh nhạy. Nào ai phân biệt được trên bầu trời cao kia, một nửa của đám mây là màu của mùa hạ, một nửa kia đang mang chút sắc của chớm thu về. Ranh giới giao mùa giống như ranh giới thời gian của cái kim giây bé nhỏ chỉ cần tích tắc là đã di chuyển sang thời khắc khác. Nhà thơ đã chụp được thời khắc giao mùa ấy bằng tổng hòa các giác quan nhạy cảm của mình.
Sự giao mùa đã níu dòng sông lại, như người bộ hành gặp nơi ngơi nghỉ một chút để lặng ngắm cảnh vật xung quanh với một phong thái nhàn nhã. Biện pháp nhân hóa ở đây vừa cho thấy rõ đặc tính, mức độ của cử động, vừa cho thấy sắc thái toát ra từ cái dài rộng mênh mang của dòng sông sắp về với cửa bể. Dòng cảm xúc ngập tràn từ thấp dâng lên cao, từ dòng sông hướng lên cánh chim rồi hòa vào đám mây đang vắt nửa mình qua ranh giới giao mùa rất mỏng. Có thể nhà thơ nhìn qua tấm gương của dòng sông mà soi thấu, cũng có thể từ mặt nước lững lờ thoải mái mà chợt ngẩng lên. Dù thế nào người đọc cũng nhận ra bước chuyển cảm giác rất tài tình, chuyển từ thị giác, thính giác sang xúc giác, chuyển từ cụ thể sang mơ hồ từ hữu hình tới vô hình.
Quả thật Sang thu là lát cắt rất gợi được lọc qua cảm xúc tinh nhạy. Sang thu – một khúc giao mùa đầy quyến rũ.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét