Theo mây đi cùng mây về
Đã gần 1 giờ, đoàn
dừng chân tại điểm dừng Bến Lội, nơi giao điểm giữa Diên Khánh và Khánh Vĩnh
thuộc tỉnh Khánh Hòa. Mùa này (giữa xuân, tháng 2 ÂL) dòng suối Bến Lội gần như
trơ đáy sâu hỏm, chỉ còn thấy phía dưới rất mỏng manh một dòng nước ngoằn ngẻo
1. NHẬN DIỆN
Điểm xuất phát từ Tp.Long Xuyên, bây giờ đã hơn 20 giờ ngày
07/02/Giáp Ngọ, tổng số trong đoàn tham quan và cứu trợ trên dưới 150 người,
trong đó có 10 vị thầy, thầy G.Tín là trưởng đoàn. Xe đến xa lộ Nam Saigon
hướng thẳng cầu Phú Mỹ trong khu vực Quận 7, Tp.HCM, tiếp tục băng qua ngả tư
Cát Lái giao lộ mới tiếp giáp đoạn đến cầu vượt sông Đồng Nai đến thị trấn Long
Thành, hướng về Bình Sơn để trổ ra ngả tư Dầu Dây, rồi trực thẳng Long Khánh,
Phan Thiết.
Dọc theo quốc lộ 1, cận thị xã Phan Thiết, trông những vườn
Thanh Long rực sáng bởi đèn chong để hấp thụ hoa, kích thích mỗi nhánh mỗi hoa,
mỗi hoa là mỗi trái, đây là sự phát minh rất tình cờ của người nông dân bản xứ
nơi ấy. Đến Phan Rí Cửa, trời đã tờ mờ rạng sáng, trời hồng lấp ló cuối biển
xa, mọi hình ảnh mua bán, sinh hoạt đều bắt đầu cho một ngày mới, thế nhưng
trong xe thì còn nghe im ỉm, bởi phần nhiều còn níu lại giấc điệp trong đêm.
Đã hơn 7 giờ sáng rồi,
bãi biển Cà Ná hiện dần phía trước, đối diện là điểm dừng chân rộng thoáng,
lịch sự, đó là Quán Quê Hương. Mọi việc buổi sáng đều xong, phần đông mọi người
đã ngồi vào bàn để chuẩn bị lót dạ buổi sáng.
Từ phía khán đài nhỏ vang ra những giọng trầm ấm truyền cảm, bởi
những âm điệu tình tự, sắc màu quê hương. Không có sự kết thúc qua một định
nghĩa nào về hai chữ quê hương, mà chỉ mang mang vô cùng trong muôn vàn ý tưởng
của mỗi chúng ta. Lời nhạc có lúc lên vút cao, hòa tan trong sương khói mây
ngàn gió núi, có lúc trải dài êm êm trầm buồn, hoài niệm nhớ thương da diết cả
một thời dĩ vãng, để rồi thanh âm lẫn vào bao lớp bụi thời gian, thành một sức
sống trong tim máu của từng lớp người đi qua, như những bản nhạc bất hủ mà
chúng ta thường nghe, như; Miền Trung quê hương tôi, Chuyến đò quê hương, Giã
từ cố đô, Huế buồn, Thương về miền trung, Lá thư miền trung, Thương về xứ Nghệ,
Một chút tâm tình người Hà Tĩnh.v.v…
Tất cả đều toát ra một ý vị quê hương, không phải quê hương chỉ
có miền trung, mà là cả ba miền đất nước. Vì đoàn đang đi trên phần đất miền
trung, nên nói về quê hương miền trung. Nhưng thật ra, đâu cũng là máu thịt quê
hương, đâu cũng là hơi thở nhịp tim của dân tộc.
Chúng ta có thể ngầm hiểu rằng: Quê hương là một dòng ký ức được
thấm đẫm sâu sắc trong máu tim của mỗi con người, nó luôn gắn liền từ tuổi thơ
và có khi suốt cả cuộc đời, từ những hình ảnh núi sông, biển đảo, ruộng vườn,
bờ cau, liếp chuối, lũy tre, phong tục, tập quán lễ nghi, đạo lý, nếp sống cần
cù, chân chất, hiền lành trong sáng.v.v… Cho dù mỗi lúc xã hội có thể đổi thay
phần nào qua sự hối hả tất bật, thực dụng của con người. Nhưng khí chất, ý vị
muôn thuở của quê hương, quốc túy, quốc hồn dân tộc có bao giờ phai nhạt đổi
thay!
Đoàn bắt đầu hướng về Tp.Nha Trang, giả từ Quán Quê Hương, và cả
tiếng hát quê hương, xe chạy được một đoạn xa, băng ghế phía sau có người định
cư ở nước ngoài, họ cùng tham gia trong đoàn theo cuộc hành trình, thoáng nghe
họ tấm tắc, ca tụng, khâm khen không ngớt bao cái đẹp, cái sạch cái hay đủ điều
nơi xứ sở họ đang định cư, nơi những quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Không
ít lời phê phán cách sinh hoạt ứng xử, từ việc ăn, việc ở đến việc sạch đẹp môi
sinh môi trường.v.v… Họ luôn dùng ngôn ngữ Việt mà nói với nhau như vậy.
Không bảo vệ gì những điểm khuyết trên, thế nhưng có điều ta
phải thấy rằng: Không phải xã hội ta lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vây, người
nào cũng vậy. Khi một phương hướng, hay một định hướng chưa thật sự khả thi,
chưa thật sự nhận diện, thì điều ấy vẫn còn là một quá trình…
2. BÀN ĂN CỦA QUÍ THẦY
Từ điểm dừng chân tại bờ biển Cà Ná, còn nằm trong địa phận tỉnh
Bình Thuận - Ninh Thuận, sau khi dùng sáng xong, đoàn tiếp tục cuộc hành trình
hướng về Tp.Nha Trang, bấy giờ đã hơn 8 giờ sáng. Tuy đã sáng rồi, nhưng suốt
đêm qua mọi người hãy còn chập chờn trong giấc ngủ, nên xe chạy được một khoảng
đường, phía sau nghe im lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng ngái của một vài người có
sức ngủ tốt.
Thành phố Nha Trang bây giờ sầm uất hơn xưa nhiều, có những công
ty như vừa mới hoàn thành xong công trình, hoặc đã đi vào sinh hoạt, những qui
hoạch khu dân cư có nơi còn đang thi công, những con đường mới tráng nhựa thẳng
tắp, quán xá người mua bán lao xao.v.v…
Đoàn xe thẳng đến quán chay trong khuôn viên chùa Long Sơn
(Thích Ca Phật Đài, Nha Trang), nơi đây có tượng Phật an tọa uy nghi từ trên
đồi cao nhìn xuống thành phố, như để quan sát, lắng nghe sự sinh hoạt của muôn
người bằng một nguồn từ tâm bất tận, “cụ nhất thiết công đức, từ nhãn thị chúng
sanh…” (Người có đầy đủ những công đức lành, nên thường lấy con mắt từ bi mà
nhìn chúng sinh…)
Trời đã đứng bóng, chúng tôi bước nhanh vào quán, thấy bàn giữa
phía trong như đã tươm tất hình thức, nên không ngần ngại ngồi vào, tất cả 9 vị
thầy, chợt một cô từ bàn điều hành bước đến và nói với chúng tôi rằng; thưa quí
thầy, bàn này là bàn ăn của quí thầy ở Sai Gòn đã đặt trước, nghe vậy, nên cả
chúng tôi phải vời qua bàn ở bên. Liền theo đó, vị thầy trong đoàn đã liên hệ
trước đây với chủ quán, bước vào và xác định đây là quí thầy từ Long Xuyên đã
đặt cách đây mấy hôm, bấy giờ chúng tôi lại phải vời qua trở lại.
Ngồi dùng bữa cơm trưa, mà thầm nghĩ rằng: Nơi đây và bây giờ là
“bàn ăn của quí thầy”, nhưng khi chúng tôi rời khỏi chỗ nầy, nếu có quí cô, quí
ni ở đâu đó cũng có liên hệ đặt bàn, thì khi ấy nó sẽ là bàn ăn của của quí cô,
quí ni, rồi đến lượt quí ông, quí bà hay một nhóm người nào đó cũng liên hệ như
thế, thì bàn ăn ấy sẽ là của… như thế !...
Cứ như vậy mà “của”
từng chập thời gian đi tới, và rồi sẽ qua đi, như để đánh dấu cột móc vô thường
tạm bợ, của từng khoảnh khắc cuốn trôi lặng lẽ theo dòng đời, “của” nó không
dừng lại cho ai, và cũng không bất cứ một ai luôn được dành riêng cho mình một
hình thức sở hữu (danh hay sắc) tồn tại mãi bao giờ ! Như hình ảnh “bàn ăn của
quí thầy” vậy thôi …!
3. TẮM BIỂN
Mới hơn 4g sáng, tiếng gỏ cửa phòng từ phía bên ngoài của mấy vị
thầy trẻ gọi mời đi tắm biển, tiếp theo là nghe tiếng lẹp xẹp của nhiều người
đi về phía đầu cầu thang.
Nhìn qua cửa sổ, thấy từng tốp người hối hả đi ra hướng biển,
trời còn sớm, nên biển vẫn còn im, những cơn gió vẫn nhịp nhàng qua những cành
dừa nghiêng bóng, thỉnh thoảng có một vài lượng sóng con tạt vào bờ cát mịn, lố
nhố những người lặn hụp, nhảy sóng, trường cát, trông ra vẻ thích thú, hào hứng
lắm.
Chúng tôi hỏi: Tắm
biển chi sớm vậy ?
Mấy vị trả lời ngay! Tốt lắm; nào là để xả stress, sóng biển có
tác tụng như là massage nhẹ, nước biển có khả năng cung cấp oxy cho cơ thể, tắm
biển để được cải thiện các hoạt động của mạch máu, ổn định nhịp tim, giảm huyết
áp khi bị cao, tắm biển làm cho các cơ bắp được khỏe, giảm đau nhức các khớp bị
tê thấp,.v.v… những lợi ích ấy do tắm biển.
Nhìn chung, tất cả những tác dụng ấy nhằm giúp ích cho cơ thể
vật chất, đồng thời ít nhiều liên hệ đến đời sống tinh thần trong xã hội, nhứt
là giữa cuộc sống bộn bề hôm nay, trăm sự lo toan, trăm phần đối mặt, tất bật
với bao chuyện áo cơm, nhà cửa, công danh sự nghiệp.
Thế nhưng, cuộc đời vốn là biển pháp mênh mông, tất cả từ nguồn
tâm vô tận, mà các bậc thiện trí thức, các bậc Thánh đức, Hiền đức, cùng chư
Phật, và Bồ tát đều tắm bằng ý thức để được giác ngộ, để được nhận ra sự vật
hiện tượng “không ta, không của ta” để tâm được nhẹ nhàng cao trên trong sáng
an vui của một tâm hồn.
Nếu như vị mặn của nước biển sẽ tạo ra nhiều năng lực cho cơ thể
tiếp thu, để hóa giải những bịnh tật từ nơi thân cần phải được hóa giải, để đem
lại cho một chiếc thân không bịnh. Cùng thế ấy, giáo pháp của Phật có năng lực
giúp cho chúng ta tiêu trừ những ô uế nơi thân và tâm, không còn bị những trói
buộc và phiền não, sạch bẩn bởi những tham - sân - si, không còn bị đọa lạc vào
sự thống khổ. Đó chính là vị giải thoát.
Thiển nghĩ; không có bến hay bãi tắm nào đem lại hạnh phúc thật
sự cho tự thân và tha nhân trong thế gian nầy, một khi chúng ta còn thấm mặn
những bùn dục, những ý tưởng tầm cầu thường tình qua từng lớp sóng phàm tâm,
cho dù có rắn khỏe thân thể nầy, nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn vẫn còn chứa
đầy những bịnh tật, gầy guộc ốm đau giữa những người bịnh hoạn, ta sống bị bịnh
hoạn.
... “Chánh pháp là ao hồ
Giới là bến nuớc tắm
Không cấu uế, trong sạch
Được Thiện nhân tán thán.
Là chỗ bậc có trí
Thường tắm trừ uế tạp
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.”
Kinh Tương Ưng I.
Như vậy, sự tắm rửa của mọi sự tắm rửa bằng ý thức trong sáng,
lành mạnh, đem lại bình an cho mình và người và cho cả cuộc đời, vẫn là quí hơn
mọi sự tắm rửa, là vượt thoát mọi sự tắm rửa…
4. DU THUYỀN HẢI ĐẢO
Nắng đã rót vàng lên những cành dừa lả ngọn nghiêng mình bên bờ
cát phẳng lì, hắt hiu những cơn gió mới mang về từ đỉnh núi xa, từ đại dương
xanh biếc mù khơi, hơi biển và khí núi rừng hội tụ thanh trong tinh khôi thoáng
đã lên màu thanh tân trời đất. Đoàn đã chuẩn bị đâu đó cho buổi sớm mai vừa
xong, đến Bến cảng Cầu đá, tàu du lịch ra vào bến liên tục, khách du lịch chen
chúc lên xuống đông đầy.
Cuộc du thuyền hải đảo bắt đầu, những con tàu rẽ sóng bạc trên
mặt biển xanh, mỗi lúc tàu lẫn trong biển trời, xa khuất bến bờ, chỉ còn thấy
màu mây khói trắng đục ở phía chân trời.
Bãi Sỏi là điểm dừng duy nhất, nơi đây du khách ăn uống, giải
trí, tắm cát, phơi nắng, hoặc nhìn ra xa biển trời cao rộng mà tư duy chiêm
nghiệm .v.v… Tuy có sự ồn náo, nhưng những thanh âm dường như đã bị chìm vào
giữa thinh không bao la, không đủ gây tiếng vang động giữa cõi vô cùng
tận.
Đoàn tiếp tục cuộc hành trình ngang qua từng hòn còn lại
như: Hòn Tằm, Hòn Mun, Hòn Rơm, Bãi Tranh...v.v… Giữa cảnh trời nước mênh mông,
với cây cỏ um tùm, những lối mòn lạnh dấu hoang sương, những tảng đá rêu phong
xanh hồn theo năm tháng, không một bóng người. Cảm tưởng như một thế giới kỳ
tuyệt rất bình yên, như bặt đi những dấu vết ký ức thời gian, như chưa hề có
một ý tưởng nào chạm đến từ thuở cõi nguyên sơ. Thời gian thoáng qua, bến cảng
hiện ra dần, kết thúc chuyến du hành hải đảo.
Thế nhưng, phải đâu chừng ấy cuộc du hành! Một khi con người vẫn
còn bôn ba ngược xuôi giữa muôn vạn nẻo đời gió bụi, lao xao của dòng tâm tưởng
phàm tình, của bao bến đục trong sóng dựng đài mây nhơn ngã. Ta đâu có nghĩ
rằng: du thuyền hải đảo là để lắng nghe, tận hưởng hơi thở của khí đất trời
bình yên, để hòa vào tận nguồn sâu thẳm của tâm hồn, để toát ra bao ý vị muôn
trùng diệu lạc.
Du thuyền hải đảo phải đâu chỉ thoáng chốc thời gian, mà chính
là sự quán chiếu từng phút giây hiện tại, biết nhận diện nơi chính mình, năng
lực ý thức giác ngộ của mình cũng chính là năng lực của Tam bảo. trở về nương
tựa từng niệm tỉnh giác trong mỗi phút giây, là biết trở về với hải đảo tự
thân, đức Phật dạy :
“Hãy tự làm hòn đảo
Tinh cần gấp, sáng suốt
Trừ cấu uế, thanh tịnh
5.- LÀNG CHÀI.
Đoàn không ghé lại Làng Chài, chỉ đi ngang và người hướng dẫn
giới thiệu tóm tắt cho biết sự hình thành, sự hoạt động của nó, ánh nắng ban
trưa khá gắt, vả lại trong đoàn có nhiều thầy và phật tử đều dùng chay, nên
thấy không cần thiết phải ghé vào, mà chỉ nghe người giới thiệu là đủ rồi !
Được biết Làng Chài nầy nằm trong cụm đảo có hồ cá Trí Nguyên và
hồ cá Trí Nguyên nằm trên hòn đảo Bồng Nguyên. Cư dân của Làng Chài không
nhiều, chỉ trên dưới 50 hộ dân, và cũng từ các Tỉnh miền ngoài vào lập nghiệp,
như: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.v.v… sau đó dùng tàu, thuyền đánh bắt cá,
cũng như các loài hải sản và nuôi cá bè.
Nơi đây, du khách đến có thể thưởng thức hương vị của các món
hải sản đã sẵn có trong những ô bè, trong ấy có đủ các loại tôm, cá, mực,
ốc,v,v,,, chế biến tại chỗ. Những loại ấy phải bỏ thời gian đi đánh bắt, lưới,
hoặc câu ngoài xa rồi đem về thả vào bè, nhằm phục vụ cho khách du lịch mỗi khi
tham quan đến Nha Trang.
Nói về có được những loại hải sản ấy, người dân Làng Chài cũng
phải đổi lấy bao nhiêu công sức ngày đêm, chống chọi với bao mưa nắng bảo bùng,
với bao gió sớm sương khuya, với bao rét buốt lạnh lùng, với bao nóng bức gian
nan, mới có được ít nhiều những thành quả, để cho du khách được thỏa thích ngon
miệng, đánh bắt, lưới, câu của người Làng Chài là để có sanh ra của cải, tài
sản, lo cho cuộc sống tự thân và gia đình, đó là công việc, phận sự của
người Làng Chài.
Thế nhưng đối với những người đệ tử Phật, chúng ta cũng sẽ phải
làm một cách giống như thế. Chúng ta sẽ rõ biết, nhận diện các pháp thích hợp
với lẽ chánh thiện, và từ bỏ những điều bất thiện, không ích lợi, không được sự
chấp nhận bởi người có trí, chúng ta sẽ vây lưới, câu lấy những thiện sự, đem
về rọng chứa trong tâm, để được sanh lợi là công đức, phước lành vào trong cuộc
sống và sự sống an bình cho mọi người. Gây tạo niềm tin chánh pháp, hướng tâm
chánh pháp, để hưởng được cảnh giới lành an vui từ nơi phước lực.
Nếu như người dân Làng Chài nổ lực cần mẫn để có được tài sản,
sự sống cho thân, thì chúng ta cũng phải nổ lực cần mẫn để có được các pháp
lành, làm đạo lộ siêu hóa cho tâm, và cho cả mọi người.
Khánh Vĩnh, Khánh Hòa.
Núi đã lở
Giá băng hồn cổ thụ
Cõi hoang sơ, nát lệ mộng mây ngàn !
Đây Bến Lội đìu hiu trời lữ thứ,
Ta lặng nhìn sương khói bóng ngày tan.
Dòng suối nhỏ không đủ người soi bóng
Vực đá hờn không một vết rêu phong.
Giữa hoang mạc tiếng chim còn lạc giọng,
Để nhớ về thuở rừng núi mênh mông.
Dáng đèo nghiêng, dốc tuông ngàn mộng thắm
Đỉnh xa trơ cháy xám gốc cây già.
Chạnh lòng ta bao nỗi niềm thăm thẳm,
Buồn như chiều lên nhánh khói lam xa.
Đây Bến Lội,
Hay bến lòng dặm khách?
Chút sắc hương còn một nhánh lan rừng,
Từ dưỡng khí nơi đất trời tinh sạch,
Sao nghe lòng dâng một nỗi bâng khuâng!
7. XE QUA ĐÈO.
Đã gần 1 giờ, đoàn dừng chân tại điểm dừng Bến Lội, nơi giao
điểm giữa Diên Khánh và Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Mùa này (giữa xuân,
tháng 2 ÂL) dòng suối Bến Lội gần như trơ đáy sâu hỏm, chỉ còn thấy phía dưới
rất mỏng manh một dòng nước ngoằn ngẻo, nặng nề trôi về phía hạ nguồn, thỉnh
thoảng lại nghe tiếng chim lẽ loi từ những đỉnh ngàn xa đâu vọng lại, mây trắng
cũng buồn tênh khi ngang qua cảnh rừng núi hoang sơ.
Ngoài việc giải khát và vệ sinh trong đoàn ra, các tài xế cần
phải kiểm tra lại hệ thống xe với những điều cần thiết, để chuẩn bị việc lên
đẻo cho được an toàn, vì đây là một trong những đường đèo khá dài và có chiều
cao nhứt trong khu vực phía Nam của đất nước ta. Đó là đèo Khánh Vĩnh hay còn
gọi là Khánh Lê.
Theo thông tin du lịch cảnh quan, chúng ta được biết: từ Nha
Trang, tỉnh lộ 652 nối đoạn cuối 723 tiếp với huyện Lạc Dương thuộc tỉnh Lâm
Đồng, Đà Lạt (Cao Nguyên Lâm Viên). Thay vì trước đây, từ Nha Trang phải trở
vào Phan Rang rồi đi QL 27 lên đèo Ngoạn Mục (Xông Pha) đến Đơn Dương, tiếp đó
mới lên đèo Preen Đà Lạt. Thì nay, từ Tp.Nha Trang trực tuyến đến Ngả ba Thành
(H. Diên Khánh) dọc theo dòng sông Cái rồi tiếp đến H. Khánh Vĩnh, hướng theo
đoạn đường này có khoảng 139 – 140km, và đoạn đèo có khoảng 33km, đỉnh cao của
đoạn đèo nầy là 1700m. Đỉnh núi cao nhứt của đoạn đèo nầy là núi Bi Đoup còn
gọi là núi Hòn Giao, cao 2287m, đỉnh núi nầy cũng là ranh giới giữa tỉnh Khánh
Hòa và tỉnh Lâm Đồng.
Tuyến đường nầy còn
được trong giới du lịch khai sinh ra cái tên thật là bát ngát thơ và mộng “cung
đường nối Biển và Hoa” và thật sự đúng như tên đã gọi, vì từ biển tiếp đến bạt
ngàn rừng núi, thông và hoa, mây trắng thắt lưng chừng rừng xanh thẳm biếc,
sương khói đục nhòa lan man khỏa lên màu nhân ảnh, tạo nên sự đắm say, vọng tìm
của những khách lãng du, như những cánh chim giang hồ chưa mỏi cánh.
Cung đường có lúc gấp khúc co quanh, trông rất lãng mạn cho
những tâm hồn thong dong tiêu sái, nhưng cũng không ít nguy hiểm cho những ai
lơ đễnh qua cuộc rong chơi, càng chơi vơi hùng tráng kiêu sa phía trên cao, thì
càng hiểm nguy khổ nạn, bởi những truông vực thăm thẳm hút tận đáy sâu, phía
bên trên như thông lộ nối muôn màu ngàn hoa mộng, phía bên dưới tưởng chừng như
tuyệt lộ phong trần.
Đã hơn 2 giờ đồng hồ trôi đi, trông chiếc xe nặng nề lầm lì leo
đèo với vận tốc 40-50km giờ, những vuôn rẫy xanh màu, những lồng lưới các loại
hoa hiện dần lên phía trước, khí trời nghe mát dịu, như báo hiệu đoàn đã đến
phương trời Đà lạt mộng và thơ, bây giờ là 12 giờ kém.
Đến đây, ta có thể nghĩ rằng : đời như một chuyến xe thời gian
ngược xuôi đưa ta đi về muôn ngả, mà mỗi người ai cũng phải tự chọn cho mình
một trong những nẻo đi về. Có những con đường đèo qua từng kiếp tử sanh, cái
dốc cao danh lợi, giàu sang hay cái truông vực hiểm nguy, nghèo khó khổ đau. Có
những khúc quanh, người ta sẽ được cơ hội thăng hoa thời vận tôn vinh, lại có
những khúc quanh, người ta phải bị khốn quẩn hoang tiêu tài sản cửa nhà. Đó là
những khúc đoạn đời qua của nhân thế. Cái thăm thẳm cao rộng hùng tráng bên
trên là con đường, là tâm hồn thanh thiện, nhưng những vực đáy hiểm sâu, là con
đường, là một tâm hồn đọa xứ, là thế giới khổ đau, lạc thú thường tình.
Ai rồi cũng băng qua những khúc đoạn tử sanh, hạnh phúc và khổ
đau, bình an và đày đọa.v.v… nào phải từ đâu đến, chính do ta tự đến những cung
đường, hạnh phúc bình an và cao rộng luôn ở phía bên trên, đau khổ đọa dày thấp
kém có bao giờ rời xa phía dưới…
Và đời như chuyến xe thời gian, đưa ta đến đi ngược xuôi bao nẻo
khúc đoạn đường, dốc đèo, truông hiểm, để ta chiêm nghiệm và cảm nhận từ đây và
bây giờ.
8. BIỂN, CẢNH GIÁC CHÁY RỪNG.
Dọc theo những tuyến quốc lộ hay tỉnh lộ, và kể cả những khu vực
được cho là vùng sinh thái thiên nhiên, hay bất cứ một tài sản nào từ thiên
nhiên mà những người lảnh đạo đất nước cần phải quyết tâm gìn giữ và bảo tồn.
Và sự quyết tâm ấy phải được nghiêm túc cao từ phía các bậc bề trên, cho đến
mọi từng lớp trong cộng đồng của một quốc gia.
Nếu khu vực đồng bằng Miền Đông, Tây Nam bộ có rừng Ngập Mặn Cần
giờ, Cà Mau có rừng tràm U Minh Thượng, U Minh Hạ, ở An giang có rừng tràm Trà
Sư, ở vùng Đồng Tháp có Vườn quốc gia Tràm Chim, Long An có rừng ngập
ngọt.v.v…tất cả đều phải truyền thông và thực thi kế hoạch bảo vệ. Bởi,
đó được xem là tài sản quí hiếm đã có được từ thiên nhiên của đất trời muôn
thuở.
Trên chiếc xe hướng về đèo Khánh Vĩnh, thoan thoát lướt qua
những đồi rừng đã được tái tạo lại từ những cây tràm, cây dầu, cây sao… còn lẫn
với một vài cụm rừng chồi hoang sơ, mặc dầu nhìn về phía dãy núi xa có những
khu rừng trông còn nguyên sơ tự nhiên, ẩn hiện với núi non xanh biếc bạt ngàn
hùng vĩ. Bất chợt trông bên đường, có một biển báo hình chữ nhựt “…tích cực
phòng chống cháy rừng” được dựng trên phần đất của khu rừng đã bị cháy trồi lên
những gốc đen trơ trọi. Phải chăng, có sự sơ ý hay chưa kịp di vời biển báo đến
chỗ rừng còn xanh?!
Nếu rừng nguyên sinh bị cháy, bị cưa đốn, tàn phá, nó sẽ làm tổn
giảm tài sản danh mộc quí hiếm của quốc gia, mà còn làm mất đi sự thăng bằng,
ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi sinh và môi trường do từ những biến động của
thiên tai, sự sống của các loài động vật và con người sẽ không ít điều nguy
hại…
Điều cần nói ở đây,
không phải chỉ khắc phục những điều phải khắc phục như chỉ là hành động khắc
phục. Mà là phải từ sự nhận biết, ý thức đích thực qua giáo dục toàn diện tự
tính của con người trong mọi từng lớp xã hội, chính nơi đây không cần phải có
sự khắc phục nào!
Nghĩ một cách khác, ta có thể thấy và nhận ra rằng : nếu muốn có
và thực hiện được một đời sống thịnh vượng, an bình từ trong gia đình đến xã
hội, thì tưởng cũng nên cần đến con người có mẫu mực, đức hạnh và trí tuệ.
Chính nó sẽ tạo ra vô số hạt nhân tốt đẹp và khỏe mạnh cho một vùng trời bóng
mát và mầu mỡ. Và trái lại, đất sẽ bị vỡ lì đi làm khô cằn, cạn kiệt những
dưỡng chất, khó và rất khiêm tốn sự có mặt cho những tàng đại thụ (Đức Trí).
Nói một cách khác nữa, nếu tự thân đã bị đốt cháy bởi những ý
niệm ác quấy, thiêu ruội những năng lực hiền thiện, ngòi mọng của những đức
nhân và đức trí, mà lại khuyên và hướng dẫn người phải như thế nầy hoặc như thế
kia. Thì chẳng khác nào như hình thức biển báo “…phòng chống cháy rừng” đã được
dựng trên khu đất rừng đã bị cháy.
Khánh Vĩnh, Nha Trang 2014.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét