Tiếng Đàn Trên Sông
(Tỳ Bà Hành - Bạch Cư Dị)
Phần 1-2
Nhạc Phẩm Tỳ Bà Hành (Thơ
Vương Ngọc Long - Nhạc Mai Đức Vinh)
Bạch Cư Dị , tự Lạc
Thiên, hiệu Hương Sơn Cư Sĩ, người Thiểm Tây , có bản chất thông minh từ nhỏ,
năm 6 tuổi đã bắt đầu học làm thơ . Ông đã lớn lên trong một bối cảnh lịch sử
triền miên khói lửa binh đao, nên ông gần gũi và thông cảm với nỗi khốn khổ,
nghèo khó và cảnh cơ hàn cay đắng của tầng lớp lao động do vương triều phong
kiến gây ra, cũng như ông đã đồng tình với niềm ước vọng và phẫn uất của người
dân lao động. Những sự cảm thụ đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiệp thi ca
của ông. Bạch Cư Dị đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, được bổ làm quan trong triều đình
giữ chức Tả thập di . Ông đã sống trong một thời kỳ đen tối, lúc mà
xã hội Trung Quốc đang trên con đường suy thoái, những mâu thuẫn của các phe
cánh thống trị trong triều đình khó hàn gắn được . Với bản tính trung thực dám
nói thẳng (dù với tinh thần tôn quân), ông đã dám phê phán gay gắt và can đảm
đấu tranh cho chính nghĩa, nên ông đã làm mất lòng vua và các quan đại thần.
Nhiều kẻ nịnh thần căm ghét, dèm pha, và hạch tội ông . Ông bị giáng chức làm
tư mã Giang Châu (815-818) , là một chức vị nhàn rỗi, không có công việc gì làm,
mang một tâm sự buồn bã chán ngán thế thái nhân tình . Trong thời gian nầy ông
sống trong một mái nhà tranh bên ngôi chùa, và dành nhiều thì giờ để tu tiên
học đạo . Bài thơ nổi tiếng Tỳ Bà Hành của ông đã được sáng tác trong giai đoạn
nầy, được phổ biến rộng rãi trong quần chúng bình dân và được xã hội đón tiếp
thưởng thức quí trọng. Đó là bài thơ mang khía cạnh nhân sinh, xã hội, hiện
thực đã được truyền tụng trong nhân gian, gắn liền với tên tuổi của nhà thơ .
Trên bước đường phiêu bạt, ông đã thấy nhiều khách thập phương yêu thơ ông đã
ghi chép lại những bài thơ trên bờ tường của trường làng, chùa chiền, quán trọ,
quán rượu, cũng như dán trên mui thuyền và những hội quán thi phú, tập văn của
các nho sinh . Ông rất vui sướng, lạc quan tin rằng thơ ông gần gũi với dân
chúng và được nhiều người quí trọng và ưa thích. Bạch Cư Dị đại diện cho dòng
thơ hiện thực phê phán vì khi ông đã phải sống qua một giai đoạn lịch sử đen
tối của chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy, Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với
những lời lẽ giản dị thành thực để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi
áp bức, những bất công trong xã hội, cũng như sự bóc lột của bọn quan lại quý
tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng uất nghẹn và nỗi trầm luân thống khổ
của dân chúng trước thế sự thời cuộc ba chìm bảy nổi..
Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thi ca, ông muốn thi ca phải gắn bó
với đời sống, phản ảnh hiện thực xã hội, tràn đầy tư tưởng nhân đạo, nhân văn
. Bạch Cư Dị đã nói “ Làm văn phải vì thời thế mà làm, làm thơ phải
vì thực tại mà viết “ (Văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi
tác ). Thơ Bạch Cư Dị phù hợp chủ nghĩa hiện thực theo con đường “phục cổ để
cách tân”, muốn nói lên những thảm cảnh đen tối, xấu xa ngăn cản bước tiến của
xã hội và đất nước. Bài Trường Hận Ca của ông diễn tả mối tình đẹp của Đường
Minh Hoàng và Dương Quí Phi, nhưng cũng có những ý tưởng sâu sắc thầm kín mỉa
mai …
Bài Tỳ Bà Hành của ông có tình tiết mạch lạc, khúc chiết và sinh
động, theo lối “ thuật hoài” (miêu tả), cảm ngộ, để gửi gắm tâm sự,
nỗi buồn riêng tư thầm kín của tác giả như một người mang số phận hẩm hiu , để
mà thông cảm xót thương như người ca nữ trong câu truyện, gặp nhiều cảnh éo le,
không may mắn trên đường đời . Bài thơ ngân vang một cảm xúc ngậm ngùi, một nỗi
buồn thắm thía …Ông đã nói “ sự việc dẫn dắt ở ngoài, tình lý rung động bên
trong, theo cảm xúc mà diễn đạt ra lời ngâm vịnh …” Đó là
những lời bộc bạch chân tình, nói lên cái tâm huyết của một người trí thức muốn
bày tỏ tấm lòng ưu thời mẫn thế, cũng như nỗi bi phẫn của tác giả bị chèn ép,
bạc đãi trong một xã hội phong kiến đầy dẫy bất công. Bài thơ giàu chất trí
tuệ, sâu sắc cảm động đã gióng lên tiếng chuông cảnh cáo một chế độ phong kiến
đã chà đạp lên nhân phẩm, tình cảm, hạnh phúc, và quyền sống của người phụ nữ . Nhà
thơ đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu, một tương thức tri âm qua người kỹ nữ
gặp trên sông Tầm Dương. Bài thơ có những giao động của nhịp điệu, cái trữ tình
của ngữ điệu, và cái xao xuyến của nhạc điệu, tạo nên một phong cách đặc biệt,
thể hiện cái phong cốt và thần thái của người nghệ sĩ tài hoa, cũng
như quan niệm và thái độ của tác giả về đời sống. Bạch Cư Dị trong một lá
thư gửi người bạn đã nói lên những suy nghĩ sâu sắc về thi ca : “
Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước
được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa .
Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa “
(Nguyễn Khắc Phi dịch) . Bài thơ Tỳ Bà Hành đã tạo nên một phong cách mỹ thuật,
tư duy thâm thúy bằng cách kết hợp đầy đủ các yếu tố : tình cảm, ngôn ngữ, âm
thanh và ý nghĩa .
Năm Nguyên Hòa thứ 10
(815) Bạch Cư Dị bị giáng chức và đổi đi làm Tư Mã Giang Châu, và ông cũng đã
trút niềm tâm sự u uẩn nầy qua bài thơ:
Chu Trung Dạ Vũ
Giang vân ám du du
Giang phong lãnh tu tu
Dạ vũ trích thuyền bối
Dạ lãng đả thuyền đầu
Thuyền trung hữu bệnh khách
Tả giáng hướng Giang Châu
Bạch Cư Dị
Trong Thuyền Đêm Mưa
Mây đen nghịt, nước
sông trôi
Gió sông lạnh ngắt bồi hồi khách thơ
Mui thuyền thánh thót hạt mưa
Bập bềnh sóng vỗ đong đưa mái thuyền
Trong khoang khách bệnh nằm yên
Chẳng may giáng chức về miền Giang Châu
Bài Tỳ Bà Hành được viết vào thời gian nầy (lúc Bạch Cư Dị bị giáng chức làm Tư
mã Giang Châu), bài thơ gồm 616 chữ được sáng tác ngay trên thuyền . Giang Châu
có núi Khuông Lư, bến Tầm Dương đều là nơi danh lam thắng cảnh . Một bữa xuống
thuyền thong dong dạo chơi, trong một đêm trăng thu vằng vặc, sóng nước bập
bềnh, ông nghe một tiếng đàn thánh thót văng vẳng, lúc biến hóa lâm
ly, lúc dạt dào xúc động xao xuyến, lúc ngưng bặt luyến tiếc từ một chiếc
thuyền lơ lửng trôi gần đó . Ông ghé thuyền, và gặp người kỹ nữ đang gảy đàn tỳ
bà. Bạch Cư Dị đã cảm thấy mình đồng cảnh ngộ với người kỹ nữ lưu lạc trên bến
sông đêm thanh vắng .Cô đào đã gảy cho Bạch Cư Dị nghe những khúc đàn tuyệt
hảo, trầm bổng xao động người nghe .Sau đó người kỹ nữ sụt sùi thương tiếc số
phận hồng nhan đa truân và đã bộc bạch thổ lộ tâm tình riêng tư của mình cho
ông nghe . Cảnh và tình hòa hợp . Âm đàn và tâm trạng chan hoà cảm xúc, cảnh
ngộ . Mỗi tiếng đàn ngân lên như nỗi niềm nuối tiếc xốn xang của người ca nữ
hòa mình với nhịp đập bồi hồi thổn thức của con tim người thơ . Chợt có mối
đồng cảm, đồng tình giữa người thơ long đong trên bước đường sự nghiệp công
danh với cuộc đời trôi dạt, bị bỏ rơi quên lãng của người ca nữ đáng thương.
Giữa nguồn cảm xúc lai láng tuôn tràn, Bạch Cư Dị đã tài hoa sáng tác một mạch
bài Tỳ Bà Hành đầy nhừng hình ảnh tâm trạng thực và sinh động, và ông ngâm bài
thơ luôn cho cô nghe. Xúc động trước chân tình tha thiết của nhà thơ, người
nghệ sĩ lại đưa những ngón tay mềm mại lên phím đàn để tạ ơn người viễn khách
trên sông. Trăng vẫn sáng trên sao, sóng nước vẫn bập bềnh, sương khói lãng
đãng che phủ khoan thuyền . Trời không lất phất những hạt mưa ..
nhưng sao mưa vẫn rơi thánh thót gieo vang những âm điệu buồn vời vợi trong
lòng ai
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong quy khách bất phát
Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy ?
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu, tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức, thanh bình tứ
Tự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín thủ tục tục đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi “Nghê thường”, hậu “Lục yêu”
Đại huyền tao tao như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết tuyền lưu thủy há than
Thủy tiền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết
Biệt hữu u tình ám hận sinh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thủy tương bỉnh
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
Tự ngôn: “Bản thị kinh thành nữ
Gia tại Hà Mô lăng hạ trú
Thập tam học đắc tỳ bà hành
Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
Khúc bãi tằng giao Thiện Tài phục
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
Điền đầu ngân tì kích tiết toái
Huyết sắc la quần phiên tửu ố
Kim niên hoan tiếu phục minh niên
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
Đệ tẩu tòng quân, a di tử
Mộ khứ, triêu lai nhan sắc cố
Môn tiền lãnh lạc xa mã hí
Lão đại giá tác thương nhân phụ
Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ ?
Khứ lại giang khẩu thủ không thuyền
Nhiễu thuyền nguyệt minh, giang thủy hàn
Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
Mộng đề trang lệ hồng lan can “
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
”Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành
Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc
Chung tuế bất văn ty trúc thanh
Trú cận Bồn Giang địa đê thấp
Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
Kỳ gian đán mộ văn hà vật
Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
Ẩu á trào triết nan vi thính
Kim dạ văn quân Tỳ bà ngữ
Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
Mạc từ cánh tọa đàn nhất khúc
Vị quân phiên tác tỳ bà hành “
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước tọa xúc huyền, huyền chuyển cấp
Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp
Tọa trung khấp hạ thùy tối đa ?
Giang Châu tư mã thanh sam thấp
Bạch Cư Dị
Bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti
Say những luống ngại khi chia rẽ
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong
Đàn ai nghe vẳng bên sông
Chủ khuây khỏa lại khách dùng dằng xuôi
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay
Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tấm tức bay lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê thường sau thoắt Lục Yêu:
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ
Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao
Cung đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng buông xé lựa, lưạ vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong
Áo xiêm khép nép hầu mong dãi nhời
Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ
Cồn Hà Mô trú ở lân la
Học đàn từ thuở mười ba
Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên
Gã Thiện tài sợ phen dừng khúc
Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi
Năn năm lần lữa vui cười
Mải trăng gió chẳng đoái hoài xuân thu
Buồn em trảy, lại lo dì thác
Sầu hôm mai đổi khác hình dung
Cửa ngoài xe ngựa vắng không
Thân già mới kết duyên cùng khách thương
Khách trọng lợi khinh thường ly cách
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi
Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen
Nghe đàn ta đã trạnh buồn
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy nhời :
” Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm
Sông Bồn gần chốn cát lầm
Lau vàng, trúc võ, âm thầm, quanh hiên
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
Cuốc kêu sầu, vượn nói nỉ non
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng
Há chẳng có ca rừng, địch nội ?
Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe
Tỳ bà nghe dạo canh khuya
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai
Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca“
Đứng lâu dường cảm lời ta
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây
Nghe não nuột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người ?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh
Bản dịch Tỳ Bà Hành của
Phan-Huy-Vịnh được nhiều người công nhận là bản dịch xuất sắc nhất . Bài thơ
nguyên tác chữ Hán gồm 88 câu 7 chữ hay 616 chữ. Phan Huy Vịnh dịch Nôm theo
thể song thất lục bát (7-7-6-8), thành 22 đoạn, giữ nguyên số lượng (616) chữ
.Theo tác giả Trần Thị Băng Thanh (Từ Điển Văn Học – nxb Khoa Học Xã Hội) : “
… cho đến nay, những người yêu thích văn chương biết đến Phan Huy Vịnh là nhờ
bản dịch của bài Tỳ Bà Hành … nguyên tác là của Bạch Cư Dị . Tỳ Bà Hành miêu tả
tâm trạng quan Tư Mã Giang Châu họ Bạch trong đêm nghe người ca nữ đã luống
tuổi ở bến Tầm Dương, đánh đàn tỳ bà và kể chuyện cuộc đời chìm nổi của mình .
Bản dịch gồm 22 khổ thơ song thất lục bát … Đóng góp lớn nhất của Phan Huy Vịnh
là sử dụng tiếng Việt . Cũng là những từ ngữ thông thường, những thủ pháp tu từ
quen thuộc, nhưng sự chọn lọc tinh tế và sắp đặt sáng tạo, đã làm cho tác phẩm
có sức truyền cảm đặc biệt và đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật dịch . Từ lâu bản
dịch Tỳ Bà Hành đã được phổ cập rộng rãi và coi là một tác phẩm văn học xuất
sắc, có đời sống độc lập với nguyên tác. Nó đã chứng minh khả năng diễn đạt và
nhạc tính phong phú của ngôn ngữ Việt Nam “ (TTB)
Cũng theo tác giả Ngô Văn Phú : “Riêng bản dịch Tỳ Bà
Hành của Bạch Cư Dị, sau này là một bài rất thịnh hành để hát ca trù, được các
nhà nho, các quan viên hát ả đào (kể cả thời Tây học) rất yêu thích . Năm 1986,
trong một cuộc tuyển chọn những điệu hát đặc sắc của các quốc gia của UNESCO
thuộc Liên hợp quốc, bài Tỳ Bà Hành (bản dịch) , được nghệ sĩ Quách thị Hồ thể
hiện bằng thể hát nói, đã được tặng giải thưởng cao . Đó cũng là sự phát triễn,
kết hợp tài tình giữa bản dịch thơ (lời) và âm nhạc “.
Cây Tỳ Bà nức nở
Ngón đàn em trăn trở
Vần thơ em buông lửng lơ
Bỏ lại vầng trăng quạnh hiu
Bỏ lại sau lưng khoảng không nham nhở
Em bước xuống vẫn ôm cây Tỳ Bà nức nở
Lang thang cuối đất cùng trời
Tiếng Tỳ Bà gõ cửa
Tiếng Tỳ Bà đòi nợ cho nàng Kiều
Kiếp đoạn trường muôn thuở
Đàn trăn trở thơ buông lửng lơ
Hồn Tỳ Bà ( nhạc sĩ: Ngọc
Khuê)
Câu chuyện trong bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị đã thầm nói lên
một triết lý nhân sinh, cái chua xót ngậm ngùi của cảnh đời dâu bể, ba chìm bảy
nổi, cảnh đoạn trường hưng phế của tạo hóa, mà con người chỉ là một sinh vật
nhỏ nhoi, bất lực trước cuộc đời hư ảo như bóng câu bên cửa sổ, như
thoáng mây bay cuối trời . Chung cái tâm sự hận sầu ray rức được diễn đạt qua
cung điệu đàn, lời ca, tiếng hát đó là bài Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du
. Nguyễn Du trong một bài ca về người gãy đàn đất Long Thành (Long
Thành Cầm Giả Ca), có kể rằng vào tuổi thiếu niên, ông đến kinh đô để thăm
người anh, và có dịp được dự một hội nữ nhạc, trong đó có một thiếu nữ đất Long
Thành, gảy đàn Nguyễn ( tức là đàn Nguyệt, do Nguyễn Hàm, một trong thất hiền
vườn Trúc đời Tấn sáng chế ), rất điêu luyện, đã gảy những khúc đàn hay nhất
trời đất (tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh) tài danh lừng
lẫy, lại hát hay và ăn nói duyên dáng quyến rũ vô cùng . Sau đó Nguyễn Du trở
vào Nam , mãi một thời gian sau ông phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, tạt ngang Long
Thành, bạn bè mở tiệc, khoản đãi ông và có gọi đoàn nữ nhạc đến giúp vui, mà
ông không quen mặt biết tên , và bất chợt gặp lại người kỹ nữ đó .
Sau đây trích một đoạn trong lời tiểu dẫn của Nguyễn Du (Quách Tấn dịch) : “
…Tiệc khởi múa hát.
Kế tiếng đàn trổi lên, nghe trong trẻo khác thường không chút giống thời khúc . Lòng tôi kinh dị . Nhìn người gảy đàn, thì thấy thân gầy, thần khô, mặt đen, sắc trong như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trạng thật khó coi . Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như có quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra là người trước kia đã gặp . Than ôi ! Người ấy sao đến nỗi thế nầy ! Cuối ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn . Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục buồn vui thật không sao lường được ! Sau khi từ biệt , trên đường đi, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gởi hứng : Người Đẹp Đất Long Thành – Long Thành Giai Nhân “ (Nguyễn Du)
Kế tiếng đàn trổi lên, nghe trong trẻo khác thường không chút giống thời khúc . Lòng tôi kinh dị . Nhìn người gảy đàn, thì thấy thân gầy, thần khô, mặt đen, sắc trong như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trạng thật khó coi . Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như có quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra là người trước kia đã gặp . Than ôi ! Người ấy sao đến nỗi thế nầy ! Cuối ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn . Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục buồn vui thật không sao lường được ! Sau khi từ biệt , trên đường đi, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gởi hứng : Người Đẹp Đất Long Thành – Long Thành Giai Nhân “ (Nguyễn Du)
Xin trích dịch một đoạn
cuối của bài ca lúc Nguyễn Du gặp lại người ca kỹ này trong bữa tiệc do bạn bè
đãi ông ở dinh Tuyên Phủ):
…Trong yến tiệc các
nàng đều son trẻ
Duy một người ca kỹ tóc hoa râm
Sắc thần khô gầy guộc đứng âm thầm
Chẳng điểm phấn tô son nhìn hốc hác
Ai biết nàng một thời danh tiếng nhất
Khúc đàn ngân, ta mắt lệ tuôn tràn
Lắng tai nghe mà đau đớn vô vàn
Hai mươi năm vẫn hoài thương nhớ tiếc
Hồ Gươm xưa tưng bừng đêm yến tiệc
Đời phế hưng thành quách đã thay dời
Bãi nương dâu hóa biển sóng trùng khơi
Cả cơ nghiệp Tây Sơn đều suy thoái
Làng ca múa một người còn sót lại
Đời trăm năm một nháy mắt trôi qua
Nhớ chuyện xưa mà áo thấm lệ nhòa
Từ Nam về đầu ta đầy tóc bạc
Trách chi nàng đã tàn phai nhan sắc
Kể chuyện xưa hai mắt xót thương sầu
Giáp mặt nhau mà chẳng nhận ra nhau ….
(trích Long Thành Giai Nhân của Nguyễn Du -
Hải Đà
phỏng dịch)
Đời Đường âm nhạc đã được phát triễn rõ rệt, nhờ hấp thu nhiều giai điệu của
ngoại quốc nhập vào . Ngoài những dụng cụ nhạc cũ tạo âm thanh bằng cách thổi
như tiêu, sáo, kèn, còi v.v.. hoặc gãy như huyền cầm ,thập lục, thất huyền ..
hoặc bằng cách gõ như chiêng, trống, phách, ngọc thạch, mã não. Để làm phong
phú cho dàn nhạc cũ này thì có những nhạc cụ khác Tì bà, Hồ già, Giốc lật,
Khương địch. Bát âm của âm nhạc thời Đường là dựa trên chất liệu của nhạc khí
làm tiêu biểu như : Ti (đàn), Thạch (khánh), Kim (chuông), Trúc (sáo), Mộc ( mõ
gỗ), Thô (trống đất), Bào (vỏ bầu), Cách (trống da) .. Ngũ âm của họ là Cung
(như vua), Thương, Giốc, Chủy (như việc), Vũ (như vật) … Trong những loại đàn
cổ xưa của Trung Quốc phải kể đến đàn sắt và đàn cầm gồm 50 dây (ngũ thập
huyền) .
Theo
truyền thuyết, theo lệnh vua Phục Hy, Tố Nữ gẩy đàn sắt (gồm 50 dây) tế trời .
Nhưng Phục Hy không bằng lòng và ngăn cấm xử dụng vì nghe tiếng đàn quá tê tái
, não nuột bi ai thảm thiết. Vì thấy dân chúng vẫn lén lút xử dụng nên Phục Hy
đành phải ra lệnh sửa đổi đàn sắt chỉ còn lại 25 dây . Đàn tranh
của âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhiều người cho rằng xuất xứ từ cây đàn sắt
của Trung Quốc nhưng chỉ gồm có 16 dây thôi (còn gọi là đàn Thập Lục), giống
như 16 tiếng chim nhạn, âm
nhạc Việt Nam là ngũ cung (mỗi âm giai có tên Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ , so
sánh với Hò, Xự, Xàng, Xê, Cống. 15 nốt chính tạo từ 3 âm giai (mỗi 5 giai là 5
tiếng đàn Hò Xự xàng Xê Cống), cọng thêm một nốt chúa đàn, nên có tất cả là 16
dây .
Đàn Tỳ
Bà (pipa) là loại đàn “luýt” (lute) , nhạc cụ dây, thân có hình trái lê, chơi
bằng cách gảy ngón tay , và gồm có 4 dây (four-stringed lute), được gảy bằng 2
ngón tay . Đời nhà Hán (206-220), đàn Tỳ Bà có 4 dây và 12 phím đàn . Tuyên Phủ
(đời Tấn ) đã viết “ Đàn Tỳ Bà xuất hiện, được dùng nhiều vào cuối đời Tần
(222-207), khi dân chúng bị triều đại phong kiến bắt đi lao động khổ sai để xây
dựng Vạn Lý Trường Thành và họ đã gảy đàn Tỳ Bà để dùng tiếng đàn thê lương ảo
não nói lên sự than oán uất nghẹn trong lòng mà họ không được quyền nói ra bằng
lời “.
Cái kỹ
thuật của đàn Tỳ Bà được diễn tả đòi hỏi khéo léo bằng những ngón tay và trình
độ điêu luyện của người nghệ sĩ. Những âm thanh rung lên kéo dài tạo tiếng vang
rền , hòa lẫn với các đọan nhạc bật (pizzicato), tiếng vỗ nhịp bằng tay, thêm
vào phần hòa âm rung động, với những tiếng động hoặc âm thanh chát chúa của vũ
khí thêm vào âm điệu của bài thơ diễn tả những cảnh chiến trường như những trận
đánh nổi tiếng trong thế kỷ thứ hai BC giữa Sở (Hạng Võ) và Hán (Lưu Bang) như
bài “Thập Diện Mai Phục” .
Tiếng đàn tỳ bà đó cũng thấy trong những bài thơ tả cảnh biên tái, chiến trường
thê lương, diễn tả những cảm xúc hùng tráng hiên ngang của người chiến binh lên
đường, cũng như những tư duy ngậm ngùi thầm kín chấp nhận cho số phận an bài
trước cảnh chia ly não nùng :
Bồ
đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Rượu
ngon thơm ngát chén ngà
Ly chưa cạn, tiếng tỳ bà giục đi
Sa trường say, mỉa làm chi
Xưa nay chinh chiến mấy khi trở về
(Hải Đà phỏng dịch)
Hãn
hải lan can bách trượng băng
Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng
Trung quân trí tửu ấm quy khách
Hồ cầm tì bà dữ Khương địch
(trích Bạch Tuyết – Sầm Tham)
Biển
cát làn băng trắng vạn phương
Mây sầu muôn hướng phủ thê lương
Trại quân bày rượu nâng ly tiễn
Tiếng nhạc Hồ, Tì quyện sáo Khương
(Hải Đà phỏng dịch)
Tỳ Bà cũng là một nhạc cụ được dùng trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam, thuộc
loại “ họ dây” (chordophone) . Những loại đàn cùng họ này như : đàn nguyệt, đàn
tranh, đàn nhị, đàn bầu, đàn đáy, đàn hồ v.v..
” Tỳ Bà
tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt. Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà
xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi
BiWa.Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có
dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối
thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong
có chạm khắc rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi. Nơi đầu đàn
gắn bốn trục gỗ để lên dây.
Toàn
bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94 - 100 cm. Phần cần đàn có gắn 4 miếng
ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương. Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ
gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khác nhau. Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm
rồi đem vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay người ta thay dây tơ bằng dây nilon. Đàn
có 4 dây lên theo 2 quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol -
Đô1 hoặc Sol -Đô1 - Rê1 - Sol1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi
mồi hoặc miếng nhựa .Ở Việt Nam đàn Tỳ Bà có mặt trong các dàn nhạc: Nhã nhạc,
Thi nhạc của cung đình, Thiền nhạc của phật giáo, ban Nhạc tài tử, Phường bát
âm, Dàn nhạc dân tộc tổng hợp. Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác,
nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của
Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc
Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc.
.jpg)









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét