Tiếng Đàn Trên Sông
(Tỳ Bà Hành - Bạch Cư Dị) - Phần 3-4
Tiếng đàn Tỳ Bà đã tạo nên những âm thanh huyền diệu, ăm ắp nhạc
tính, tràn trề nhịp điệu trong một một số thi ca Việt Nam . Bài Tỳ Bà của Bích
Khê, lời thơ dạt dào chất nhạc, thơ là nhạc, nhạc là thơ. Bài thơ đầy thanh
bằng đã tạo nên những nhịp rung êm ái nhẹ nhàng du dương làm chùng
lòng người nghe . Hàn Mạc Tử đã nhận định về thơ Bích Khê : “ Thi sĩ Bích Khê
là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ
thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu …” .
Cái huyền diệu đó đã làm tuôn trào những cảm xúc lãng mạn xao xuyến, đã mỹ hóa
những ngôn từ tha thiết , chất ngất thanh âm quyến rũ, chất thơ ướt đẫm nhạc
qua những tiếng tỳ bà rung nhẹ đã “gây đê mê” , làm người “chơi vơi” , cho tình
“du dương” , cho hồn “phiêu diêu”, giữa một khung trời “thu mênh mông” chất
ngất, mơ hồ và huyền ảo và lúc đó không còn phân biệt hư thực, mà chỉ còn biết
: “ Cây đàn yêu đương làm bằng thơ , Cây đàn yêu đương run trong mơ …” và
tiếng đàn du dương theo bàn tay êm ái của màn đêm đang giăng mềm trên muôn phím
tơ vàng …
Tỳ Bà (Bích Khê )
Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi ! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
Tôi qua tìm nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô ! Hay buồn vương cây ngô đồng
Trong bài thơ thi vị chan chứa nhạc điệu một cách đặc biệt mà người
đọc khi đọc lên có cảm giác lành lạnh xen lấn vào tận xương tủy, phải nói đến
bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu . Bài thơ đã tạo nên những làn sóng âm thanh rung
động muôn chiều, những tiết tấu nghệ thuật mỹ cảm đa dạng, đã truyền đạt quyến
rũ dẫn dắt người nghe lâng lâng đi vào quỹ đạo vô hình , xa vời hiện thực, ở đó
lấp lánh lung linh sáng chói những vì sao siêu linh biểu tượng hồn nhạc trầm
buồn man mác trong những vần thơ hoài cảm xao xuyến , thấm thía khi lặng yên
“Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê “
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân …
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi !
Long lanh tiếng hận vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người .
Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
(Xuân Diệu 1944 – Nguyệt
Cầm )
Mường tượng đến tiếng đàn xưa, nghĩ đến cái tâm tình hoàn cảnh éo
le của người kỳ nữ trên bến nước Tầm Dương đã tạo nên mối cảm hoài bâng khuâng,
cho người thơ liên tưởng đến cái buồn ray rức tiếc nuối , một cái buồn rười
rượi, một cảm giác khắc khoải nao lòng, để người thơ phải trở gối
thao thức suốt đêm trường lúc nào không hay :
Nghe Hát (Vũ Hoàng
Chương)
Phách ngọt, đàn say, nệm khói êm
Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
”Canh khuya đưa khách …” . Lời reo ngọc .
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm
Ai lạ nghìn thu, xa tám cõi ,
Sen vàng như động phía châu liêm
Nao nao khói biếc hài thương nữ ;
Trở gối, hoa lê rụng trắng thềm .
Âm nhạc và nhịp điệu man mác tình tứ, chan chứa những giọng điệu buồn bã thương
cảm và lưu luyến của người kỹ nữ trên bến sông Tầm Giang . Giọng điệu thơ chan
hòa màu sắc tha thiết, mong mỏi tìm sự chia sẻ, cảm thông một nỗi buồn sâu thẳm
từ một khung trời dĩ vãng xa xăm nào đó, khi nỗi nhớ gọi về …
Nguyệt chẳng phải tỳ không càng không cầm với sắt
Tai
dẫu nghe mà lạ tiếng tre
Cung
Sế lẫn cung Hồ dìu dặt
Mình
tơ réo rắt
Hồn
trúc đê mê
Những
thanh âm nhạc điệu chửa từng nghe
Như
đưa vẳng tự vô cùng xanh ngắt
Tiếng đàn trên sông trong đêm khuya khoắt, ôi não nùng làm sao … nỉ non, đê mê,
nức nở.. Đó là “tiếng ngậm-ngùi muôn thủa của thời-gian”, âm vang còn rơi rớt
đọng lại như nhắc nhở “Thiên tình sử não nùng xưa” . Người thơ đã có những cảm
giác vướng víu, phân vân, trống trải, cô đơn, lạnh lẽo trong hoài niệm bâng
khuâng về một thoáng tình đã trôi qua, sự đợi chờ mòn mỏi vô định … Phải chăng
nhà thơ có con tim cùng chung nhịp điệu với người kỹ nữ trên bến Tầm Dương ….
Đàn
Nguyệt (Thế Lữ )
(Trên
sông Hương một đêm trăng)
Lòng
ta hỡi! Thôi đừng lên tiếng nữa!
Lặng
mà nghe đờn nẩy khúc sầu thương.
Ngón
tay rung, rung động cả đêm sương.
Khiến
trăng nước đắm mơ hồ ly-biệt,
Khiến
trong gió ngưng đọng niềm thống-thiết
Của
bao nhiêu người đẹp khát tình duyên
Ôm
nhớ nhung còn nức nở bên đèn.
Đêm
khuya vắng thêm gợi thời xa vắng,
Tiếng
bi-ai như vẽ hình cay đắng
Của
chia-phôi, cùng thương tiếc đợi chờ
Trong
bao thiên tình sử não nùng xưa.
Thấy
chăng ai? trên sông khuya im sóng
Bâng-khuâng
trôi một con thuyền mơ mộng,
Thuyền
lênh đênh gieo giữa cõi sương tan
Tiếng
ngậm-ngùi muôn thủa của thời-gian.
Biết
chăng ai? bao nhiêu điều cực-khổ
Với
bao nỗi hờn oan trong vũ-trụ
Cùng
hẹn-hò thu lại một đêm nay,
Đương
nỉ non thánh thót ở trên giây,
Theo
ngón đê-mê của bàn tay nghệ-sĩ.
Thuốc
độc êm đềm, ôi! giọng đàn kiều-mị,
Bởi
vì đâu gieo xuống mãi lòng ta
Hàn Mạc Tử cũng đã có lần đi thuyền trên sông trăng , và cũng đã được nghe một
tiếng đàn ai oán của một người ca nữ nào đó và cũng có lẽ cũng đã thăm hỏi …
Câu hỏi sững sờ của Hàn Mạc Tử cũng là câu trả lời đơn giản nói lên cái tâm
trạng chua xót của người mang kiếp cầm ca trên bến sông .. trong cơn mê hay
tỉnh, nào ai hay biết, chỉ biết trầm mình vào những phím đàn nỉ non tê tái cho
thân phận mình , để tìm quên , mê mệt trong “Mười khúc đoạn trường say chửa
tỉnh ..”
Đàn Nguyệt (Hàn Mặc Tử )
Hỏi
chơ mấy tuổi? Đáp mười lăm
Non
nước từng phen nổi tiếng tăm
Bạc
mạng đàn chơi đau nửa kiếp
Đồng
tâm tơ buộc chặt quanh năm
Chường
mình trước án trông đầy đặn
Nép
mặt trông hoa nói thỉ thầm
Mười
khúc đoạn trường say chửa tỉnh
Thuyền
ai thấp thỏm muốn ôm cầm.
Chàng Tư Mã Giang Châu đã gặp người kỹ nữ như là tri âm tri kỷ, như Tử Kỳ-Bá
Nha “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” vẫn mãi là giai thoại đẹp muôn
đời . ”Một đêm đàn lạnh trên sông Huế . Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh” .. một
vạt áo xanh đã đẫm ướt không phải vì sương lạnh hay những giọt mưa đêm lất
phất, mà chính là những giọt lệ sầu tê tái muôn thuở .. Hình ảnh của người kỹ
nữ trên sông có thể chỉ là một ẩn dụ, mà cây đàn là biểu tượng để nói lên tiếng
lòng của người thơ .. “Này em hát khúc tương tư nhé “ …”Sao đàn u hoài gì mùa
thu ? “ Người thơ đã sống thực của đời thường hay đã đắm chìm trong cõi mộng ảo
lúc nào chẳng hay, để mà âm thầm luyến tiếc những giây phút thơ mộng một thời
yêu dấu đã đi vào dĩ vãng ..
Văn
Cao là một nhạc sĩ thì khỏi phải nói những ý nghĩ và tứ thơ của ông phong phú,
tràn trề nhạc tính, và man mác không gian Đường Thi …“Tà tà trăng lặn hiu
hiu gió …Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi …Tay nhấn tơ chùng đã ngấm sương “ … làm
người đọc liên tưởng đến một bến sông thu ở Phong Kiều Dạ Bạc “ Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ, Cầu phong đốm
lửa giấc sầu mơ …” mà thay vì
tiếng chuông làm sững sờ khách thơ, mà lại là tiếng đàn lạnh trên sông Huế làm
ngơ ngẩn thuyền khách … quyến luyến một chút gì hoa lệ vàng son đã khuất xa …
chỉ còn là bóng sao mờ dần.. “Em cạn lời thôi anh dứt nhạc …Biệt ly đôi
phách ngó đàn tranh …” . Con thuyền ấy đã đưa khách về đâu ? đã chở tiếng
đàn ấy về đâu ? phải chăng về một khung trời vạn cổ xa xăm nào đó …
Một Đêm Đàn Lạnh Trên Sông Huế (Văn Cao )
Nẩy
nẩy tơ đồng nhịp nhịp đôi
Lòng
nâng ngòn ngọt lại đầu môi
Này
em hát khúc tương tư nhé
Ngâm
khẽ em ơi nhẹ nhẹ lời
Sao
đàn u hoài gì mùa thu?
Sao
đàn u hoài gì mùa thu?
Tri
âm nghe thử dây đồng vọng
Lạc
lõng đêm vàng khi nhạc ru
Như
Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha
Em
nghe anh dạo khúc thu xa
Thuyền
xuôi về bến mô thuyền bỉ
Sông
trắng bờ xa lộ bóng nhà
Giọng
hát sầu chi phấn nữ ơi
Từng
canh trời điểm một sao rơi
Tà
tà trăng lặn hiu hiu gió
Ánh
lửa chài xa thấp thoáng trôi
Tay
nhấn tơ chùng đã ngấm sương
Hò
ngân cung Bắc lướt cung Thương
Đầy nhớ thương tha thiết gọi ta về
(Tối Tân Hôn – Vũ Hoàng
Chương)
Dòng
Tiêu Kim Thủy gà xao xác
Ngẩng
thấy kinh kỳ khói vấn vương
Em
cạn lời thôi anh dứt nhạc
Biệt
ly đôi phách ngó đàn tranh
Một
đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
Cái tâm trạng của người kỹ nữ với chiếc đàn tỳ bà trên bến nước Tầm Dương có lẽ
cũng ngậm ngùi đau đớn, chua xót không kém gì cô gái mang kiếp cầm ca trong bài
thơ “Lời Kỹ Nữ “ của Xuân Diệu . Cái nội tâm dày vò, dằn vặt, thương
xót và tủi nghẹn cho cái thân phận không may mắn trong cuộc đời thật là lớn lao
.. ”Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn (XD) . Cái tuyệt vọng của cô đơn, cái nỗi
chán chường xót xa, càng thấm thía buốt nhói như “Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt
xương da” (XD) … Và khi lời ca, âm nhạc, tiếng đàn chấm dứt , khi những hình
ảnh chập chờn xa dần của “ Trăng từ viễn xứ .. đi khoan thai lên ngự đỉnh trời
tròn “ .. cũng là lúc mắt lệ rưng rưng , lòng buồn vời vợi, nỗi cô đơn trống
vắng, tê điếng rụng rời, chan hòa với cái lạnh giá lan tỏa của vầng
trăng mộng mị, trên sóng nước chập chùng trôi xa về một bến bờ triền miên vô
định :
”Xao
xác tiếng gà . Trăng ngà lạnh buốt
Mắt
run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách đi – Du khách đã đi rồi … “
Lời Kỹ Nữ (Xuân Diệu)
Thử xem Bạch Cư Dị đã diễn tả tiếng đàn như thế nào? một cách
say sưa, có ma lực ám ảnh trí tưởng tượng và chiếm lĩnh trái tim của người đọc
dù chưa nghe qua tiếng đàn . Tiếng đàn đã thay đổi theo từng biến chuyển từng
giây từng phút, lúc thì như tiếng mưa tỉ tê thánh thót làm lòng người muốn tê
tái ủ rũ, lúc thì ào ào như suối đổ, chung hưởng cái ngây ngất mừng reo vui
sướng, lúc não nùng réo rắt như vỡ tuôn dòng nước, lúc thì ân hận buồn bực vỡ
oà lên khi tiếng tơ lạnh ngắt, và đủ âm thanh cung bực đẫn dắt người nghe giao
động bồi hồi hoang mang lạc lẫm từ cảm giác nầy qua cảm giác khác khó lòng mà
gỡ rối tìm đường ra …
“Dây
to nhường đổ mưa rào
Nỉ
non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng
cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm
ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong
hoa oanh ríu rít nhau
Nước
tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh
Nước
suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Ngừng
đứt nên phút bật tiếng tơ
Ôm
sầu, mang giận ngẩn ngơ
Tiếng
tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay
Bình
bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa
sắt giong, xô xát tiếng đao
Cung
đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng
buông xé lựa, lưạ vào bốn dây”
Phan
Huy Vịnh dịch
Tiếng đàn đã chấm dứt, nhưng Bạch Cư Dị đã dùng đôi mắt nghệ sĩ tinh tế của
mình từ khung cảnh thiên nhiên mênh mông vô tận để chắt lọc những nét chấm phá
thủy mạc tiêu biểu nhất hầu ghi nhận lại những âm thanh huyền diệu lắng đọng
hình như còn lãng đãng rơi rớt đâu đây :
Đông
thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
(Thuyền
bè đông tây lặng im không một tiếng nói
Thấy giữa lòng sông một vầng trăng thu vằng vặc)
Bàn về
tiếng đàn trong truyện Kiều , Nguyễn Du đã dùng những ý tưởng sinh động và gợi
cảm của bài Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn để miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều khi hội
ngộ cùng Kim Trọng , nhưng tiếng đàn ở đây không ảo não ai oán thê thiết như
người kỹ nữ trên bến Tầm Dương, nhưng ta thấy những tiếng
đàn mà Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe không thấm đượm vẽ lâm ly, ai oán não
nùng vì đây là nỗi mừng vui của hội ngộ đoàn viên với người tình xưa Kim Trọng
. Tưởng cũng nên nhắc lại “cẩm sắt” thường được dịch là đàn gấm hay đàn sắt, là
loại đàn lớn, làm bằng gỗ cây ngô đồng có chạm trổ. Tiếng đàn của Thúy Kiều
biểu lộ sự sung sướng, thỏa mãn như “đầm ấm dương hòa”, “êm ái xuân tình”, “ấm
sao hạt ngọc” … nhưng tại sao lại có sự đối chọi “tiếng nào là chẳng não nùng
xôn xao “… Phải chăng Nguyễn Du muốn ám chỉ : “ vui là vui gượng kẻo là”
” Phím đàn dìu dặt tay tiên
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh ?
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên ?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông !
Lọt tai nghe suốt năm cung
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao .”
Nguyễn Du (Truyện Kiều)
Tưởng
cũng ghi lại lại đây bài thơ nguyên tác Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn để tìm sự liên
hệ đồng cảm về ý tưởng mà Nguyễn Du mà muốn vay mượn để diễn tả tiếng đàn của
Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm ly cách :
Cẩm Sắt
Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
Thưng hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên.
Thử tình khả đãi thành truy ức,
Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên.
Lý Thương Ẩn
Đàn Gấm
Đàn gấm vì sao năm chục dây
Mỗi dây thầm nhớ tuổi hoa bay
Sớm mơ hóa bướm Trang sinh đó
Xuân mộng lời quyên Vọng đế nầy
Trăng biển long lanh hàng lệ biếc
Ngọc Lam nồng ấm khói vờn mây
Tình xưa gợi nhớ trang hoài niệm
Duyên cũ chơi vơi luống đọa đày
Hải Đà phỏng dịch
Còn thêm một tiếng đàn khác với muôn vàn cung điệu được diễn tả một
cách rất tài tình bởi một thi sĩ đời Đường mà thiên hạ thường gọi là Thi Quỷ Lý
Hạ, là một thiên tài đã bị lãng quên. Lý Hạ là một hiện tượng kỳ dị trong nền
thi ca Trung Quốc, thơ của ông được truyền tụng là “Thi trung hữu quỷ “ (trong
thơ có quỷ ), nghe thật là quái đãng làm sao! Thơ của ông ảo não, ai oán, bi
hận, vương vấn cõi âm mờ mịt, gây ấn tượng kỳ lạ trong lòng người đọc … Ông đã
lận đận trên đường công danh sự nghiệp, bị người đương thời ti tiện dèm pha
ganh ghét … như Lý Hạ đã từng uất hận thổ lộ tâm tình “ hai mươi tuổi mà chưa
hề đắc ý , tấm lòng sầu tựa cánh lan khô “ (Ngã đương nhị thập bất đắc ý , Nhất
tâm sầu tạ như khô lan ) . Bài thơ cảm hứng từ lời ca tiếng nhạc của Lý Hạ được
nhiều người biết đến là bài “ Lý Bằng Không Hầu Dẫn “ – bài ca về tiếng đàn
“không hầu” của Lý Bằng , là loại đàn xưa gồm 25 dây dùng ngón tay búng mà phát
ra âm thanh . Theo tác giả Huỳnh Ngọc Chiến tuyển dịch và bình chú :“ Chơi
đàn là một nghệ thuật, nghe đàn lại là một nghệ thuật khác không kém . Thơ ca
Trung Quốc và Việt Nam thường có nhiều bài thơ nói về tiếng đàn. Nghe nhạc đến
mức như Lý Hạ đã là bậc thượng thừa . Nhà thơ phải nhờ vào những cái tượng hình
để diễn tả thanh âm, phải thác vào những cái không phải nhạc để nói lên nhạc,
nên bài thơ dễ trở thành sáo rỗng . Nhưng những thi sĩ chân tài khi đem cái tài
hoa của mình để trộn lẫn vào cái sáo rỗng thì cái sáo rỗng cũng trở nên bay bướm
thanh tao . Thử hỏi tiếng ngọc vỡ hay tiếng phượng hoàng hót thì nói được gì về
âm nhạc ? Giả sử có kẻ tài tử nào đó trong đời đem tiền muôn bạc vạn mua ngọc
về đập vỡ để nghe được tiếng ngọc tan, vì thói cuồng ngông một thuở , thì cái
đó cũng chỉ được trong muôn một . Nào phù dung khóc sương mai, nào hương lan hé
nụ, nào những dư ba vang động đến chín tầng trời … cũng đều là sự biểu hiệu của
tâm hồn trong một tiếng tơ “(HNC – Lý Hạ Quỷ Tài Quỷ Thi)
Lý Bằng Không Hầu Dẫn
Ngô ti Thục đồng trường cao thu
Không sơn ngưng vân đồi bất lưu
Nữ Oa đề trúc, Tố Nữ khấp
Lý Bằng Trung Quốc đàn không hầu
Côn Sơn ngọc toái phượng hoàng khiếu
Phù dung khấp lộ hương lan tiếu
Nhị thập môn tiền dung lãnh quang
Nhị thập tam ti động Tử hoàng
Nữ Oa luyện thạch bổ thiên xứ
Thạch phá thiên kinh đậu thu vũ
Mộng nhập thần sơn giáo Thần ẩu
Lão ngư khiêu ba sấu giao vũ
Ngô Chất bất miên ỷ quải thọ
Lộ cước tà phi thấp hàn thố
Lý Hạ (789-816)
Tiếng Đàn Không Hầu của Lý Bằng
Tơ Ngô gỗ Thục cung đàn
Mây thu đứng lặng, núi ngàn quạnh hiu
Tiếng ai khóc trúc tiêu điều
Lý Bằng dạo khúc cô liêu ngỡ ngàng
Tiếng như phượng hót ca vang
Xót xa ngọc vỡ núi ngàn mênh mang
Phù dung nức nở sương tàn
Tiếng đưa hương ngát hoa lan mỉm cười..
Cổng đình rực sáng reo vui
Hăm ba dây động tơ trời chơi vơi
Tiếng như luyện đá vá trời
Mưa thu ngưng đọng rã rời thanh âm
Tiếng đàn ru giấc mộng thần
Giao long nhảy múa rập rờn cá bay
Người xưa thức trắng đêm dài
Trăng khuya thấm ướt gót hài đẫm sương
Hải Đà phỏng dịch
(bài thơ có nhiều điển cố nên tác giả chỉ xin phỏng dịch)
Tiếng đàn đã biểu lộ những tình cảm biến thiên của con người, nhưng tiếng đàn
cũng cảm hóa lòng người, mang sự thanh thoát nhẹ nhàng để khai ngộ, như một bài
thơ của Lý Bạch hàm chứa một triết lý sâu xa về cuộc đời khi diễn tả tiếng đàn
của Thục Tăng Tuấn, một ẩn sĩ thiền tu ở núi Nga My .. Tiếng đàn ngân vang khi
ráng chiều buông phủ, sương trắng mờ ẩn hiện ...nghe như tùng reo vang trong
khe suối, như tiếng nước chảy róc rách rửa sạch mọi ưu phiền tục lụy trong cuộc
sống đời thường, với tiếng chuông văng vẳng đâu đây để người thơ thấu suốt sự
lý, liễu ngộ trần tục .. Tiếng đàn của Thục Tăng đã đem đem lại sự vi diệu của
trí huệ, triển khai cuộc sống con người đến thế giới lâng lâng siêu thoát của thiền
thi và đạo pháp.
Thính Thục Tăng Tuấn Đàn Cầm
Thục tăng bão lục ỷ
Tây hạ Nga My phong
Vị ngã nhất huy thủ
Như thính vạn hác tùng
Khách tâm tẩy lưu thủy
Dư hưởng nhập sương chung
Bất giác bích sơn mộ
Thu vân ám kỷ trùng
Nghe Sư Thục Gảy Đàn Cầm
Thục Tăng ôm chiếc đàn
cầm
Từ phương Tây xuống đến gần Nga My
Vì ta gảy khúc trúc ty
Nghe như tùng bách thầm thì dưới khe
Nước trôi rũ sạch lòng mê
Sương rơi huyền ảo vọng về tiếng chuông
Núi xanh phủ bóng chiều buông
Mây thu lớp lớp chập chùng mênh mang
Hải Đà phỏng dịch
Bài thơ Đàn Cầm và U Cầm của Lưu Trường Khanh đã diễn tả tiếng đàn thanh trong,
dìu dặt , êm ái , dịu dàng như hơi gió lành lạnh thoảng qua làm rung nhẹ những
ngọn thông vi vút … giống như khúc “Phong nhập tùng” (Gió thổi cành thông) mà
người xưa đã gửi gắm tâm tình qua tiếng đàn trầm bổng ngân rung .. Bài thơ của
Lưu Trường Khanh đã muốn nói lên cái tâm sự tiếc thương nhung nhớ khúc đàn xưa
êm ái, tức là đàn cầm thường hay xử dụng vào thời Hán ngụy, Lục triều … đến khi
qua đời Đường thì người ta lại thích gảy đàn Tì bà hơn .
Đàn Cầm
Lãnh lãnh thất huyền
thượng
Tịnh thính tùng phong hàn
Cổ điệu tuy tự ái
Kim nhân đa bất đàn
Lưu Trường Khanh
Gảy Đàn Cầm
Bảy dây thánh thót đàn
rung
Lắng nghe hơi lạnh gió tùng đong đưa
Tuy rằng ta thích điệu xưa
Ngày nay chẳng mấy ai ưa gảy đàn …
Hải Đà phỏng dịch
U Cầm
Nguyệt sắc mãn hiên
bạch
Cầm thanh nghi dạ lan
Lưu lưu thanh ti thượng
Tịnh thính tùng phong hàn
Cổ điệu tuy tự ái
Kim nhân đa bất đàn
Hướng quân đầu thử khúc
Sở quý tri âm nan
Lưu Trường Khanh
Đàn Buồn
Ngoài hiên trăng tỏ
trắng ngần
Đêm nghe trầm bổng tiếng đàn nhẹ bay
Dây tơ dìu dặt ngất ngây
Lắng nghe gió lạnh lắt lay thông ngàn
Đàn xưa ta thích vô vàn
Ngày nay mấy kẻ thích đàn .. than ơi !
Đàn đây.. gảy khúc tặng người
Tri âm muốn gặp trên đời khó thay !
Hải Đà phỏng dịch
Thi sĩ Lạc Thủy Đỗ Quý Bái là người rất có lòng mến mộ Đường Thi từ khi còn
trẻ. Ông cũng đã chịu ảnh hưởng nhiều về bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Sau
Tết Mậu Thân, vào thời điểm thương phế binh đã hy sinh một phần thân thể của mình,
nhưng không được chính quyền quan tâm giúp đỡ, đã phải "kiếm đất cắm
dùi" dành quyền sống, nhà thơ Lạc Thủy đã xúc động trước hoàn cảnh thương
tâm bi đát của xã hội, và thêm vào đó Ông cũng cảm thấy đau lòng trước sự mất
mát, ra đi vĩnh viễn của người bạn hiền thân thiết, một bạn đồng song
có lương tâm của Ông là BS Phạm Đình Bách đã bị pháo kích và tử thương trong
cuộc chiến, nên thi sĩ Lạc Thủy đã xúc động sáng tác bài trường thi "Đoạn
Trường Ngâm Khúc", cũng theo thể song thất lục bát. Bài thơ này cũng được
tác giả đặt tên là "Bài Ca Trên Bến Sông" cùng mang một hoài cảm, cấu
trúc, và thể điệu như bài Tỳ Bà Hành, mà âm thanh huyền diệu đem lại sự rung
động xao xuyến trong bài thơ là tiếng sáo đồng thay vì tiếng đàn tỳ bà. Bài thơ
đã thể hiện được sự tương giao mật thiết giữa đời sống nội tâm, xã hội chung
quanh, và nỗi niềm nhân thế. Qua sự diễn tả tiếng sáo vi vút trầm bổng, thê
lương não nuột, tê tái bi phẫn, len thấm vào tâm hồn người đọc, vang vọng khôn
nguôi, tác giả chỉ ước vọng dùng : "Bút cùn ghi đoạn tràng một khúc .
Mong thế nhân trong đục tỉnh say. Soi gương tự ngắm mặt mày. Sao cho dân Việt
đỡ cay đắng lòng … LT- ĐQB"
Nếu khách chẳng chê
rằng rầu rĩ
Cũng xin chiều nhã ý vài hơi
Tay thần rung vuốt nhặt lơi
Không gian phút chốc ngập lời oán than
Nghe chua xót bào gan xé ruột
Nghe thảm sầu tê buốt óc tim
Nước cau mày lệ im lìm
Trăng tà ảm đạm khuất chìm trời tây
Gió gây gay cho đầy nuối tiếc
Mây bàng hoàng đặc sệt hờn căm
Trầm như ma khóc cõi âm
Cao như trời thẳm bặt tăm phi thuyền
Giốc, chủy rũ ré lên nức nở
Đồ rê mi rung vỡ sao khuya
Trắng sông sương muối ủ ê
Ngàn dừa hiu quạnh lê thê dâng sầu
Ai ngăn nổi rầu rầu nét mặt
Khi điệu buồn lan khắp sơn khê
Tiêu điều như đọan như chia
Chủ nhân gác sáo tái tê thở dài
Đoạn Trường Ngâm Khúc / Bài ca Trên Bến Sông
(Lạc Thủy- Đỗ Quý Bái)
Bài thơ "Đoạn Trường Ngâm Khúc" là một bản giao hưởng đầy màu sắc và
âm điệu Đường Thi, đã biểu lộ được sự phong phú mẫn cảm của tâm hồn, phản chiếu
những tình cảm tinh tế của con người, đầy trắc ẩn nhân tình, giọng điệu thơ
trang nhã và thẩm mỹ, mang cốt cách thi nhân cổ điển. Tiếng sáo ngân vang réo
rắt muôn cung điệu trong bài thơ , đã phản ảnh thực tại của đời sống, cũng
chính là tiếng lòng riêng tư thầm kín mà tác giả muốn bộc bạch một cách thuần
hậu chân tình . Phải chăng Thơ để hóa giải nỗi lòng khắc khoải, niềm đau thương
tê tái và uẩn khúc ưu thời của thi nhân ?
Thật phức tạp khó lòng
mô tả
Giá được như Tư Mã Giang Châu
Lắng tai nghe trọn niềm sầu
Ắt là hợp ý tâm đầu cũng nên
(Lạc Thủy – Đỗ Quý Bái)
Chu Mạnh Trinh trong tập thơ Vịnh Kiều với ý tứ cảm động và lời lẽ nhẹ nhàng,
đã bày tỏ nỗi niềm tâm can với tất cả chân tình dạt dào cảm xúc, đã bênh vực
cho số kiếp hồng nhan bạc mệnh, phải chăng ông đã muốn mượn hình ảnh của người
ca kỹ trên bến Tầm Dương dể ngụ ý nói lên cái thuyết tài mệnh tương đố của
người phụ nữ có tài sắc bị ba chìm bảy nổi trong biển khổ trầm luân : “
Than ôi! Một bước phong trần mấy phen chìm nổi, trời tình mờ mịt, bể giận mênh
mông . Sợi tơ mành theo gió đưa đi ; cánh hoa rụng chọn gì đất sạch . Ai dư
nước mắt khóc người đời xưa, thế mà giống đa tình luống những sầu chung, hạt lệ
Tầm Dương chan chứa …“ (Bài Tựa Truyện Kiều- CMT – Đoàn Qui dịch) ..
Cái buồn rười rượi trong những dòng thơ cảm xúc nhân thế, ngậm ngùi
cho cõi nhân sinh, mang nỗi thống thiết, buồn đau kim cổ, qua hình ảnh của
người xưa, vọng lên từ đáy hồn sâu thẳm của người thơ. Cái thân phận bèo dạt
hoa trôi của người ca kỹ bến nước Tầm Dương hình như mơ hồ ám ảnh trong nhiều
bài thơ của Vũ Hoàng Chương :
Thuyền buộc sông mưa
Ngựa dừng trăng khuyết
Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt
Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu
(Dâng Tình - Vũ Hoàng
Chương)
Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ
Có lẽ ngàn xưa là đáy sông
Đêm đêm giọt lệ gái xa chồng
Đè theo đôi tiếng Tỳ hư ảo
Dâng tới thuyền ai ngủ bến không …
(Đà Giang – Vũ Hoàng Chương)
Đàn rưng rưng lệ phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa
Bụi nhuốm Thiên Thai
nhòa hứng rượu
Đời sau say giúp mấy cho vừa
Cô đơn men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa
Nhịp đổ càng mau nghe ríu rít
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa
Bây giờ chúng ta hãy nghe
Vũ Hoàng Chương diễn tả ý đàn , tức là cái hồn của tiếng đàn … Tiếng đàn ngân
vang đã ca tụng cái niềm thi vị hoan lạc của thế gian .. “sóng đàn ngây nhịp
chèo thơ “, chuỗi âm thanh êm ả, trong trẻo như “lòng hoa nghiêng dáng
cầm trăng”, những tiếng đàn làm dày vò trí nhớ, như một bản năng khao khát
và mãnh liệt, ám ảnh đưa người thơ gợi
nhớ một chiều xưa nào đó trên bến sông “ hững hờ nước trôi “ . Một tiếng đàn, một âm thanh, một hình ảnh rất tình cờ, cảm nhận
và khởi phát từ một vô thức đột ngột nào đó, như một mạch ngầm tuôn chảy hồn
nhiên, bỗng trở nên xao xuyến tình tứ lung linh, đã gây một sự chấn động hồn
thơ, vọt trào cảm hứng, gây sự thôi thúc nội tâm người thơ, quằn quại trong một
thế giới mông lung khó hiểu của thơ và nhạc quyện vào nhau : “Tiếng cầm chưa tắt dư ba . Nao nao nguồn máu lời ca vọng về …”
Ý Đàn (Vũ Hoàng Chương)
Mơ xanh đắng vị thu già
Sắt vàng chen, ngón tay ngà
gió mưa
Chiều nay gợi nhớ chiều xưa
Bao giờ quên phút bây giờ
cho chăng
Lòng hoa nghiêng dáng cầm
trăng
Phím dây bừng thức cung
Hằng áo xiêm
Lắng tai càng vẩn nỗi niềm
Thoắt dồn mau thoắt buông
chìm tiếng tơ
Sóng đàn ngây nhịp chèo thơ
Mà bên thuyền chỉ hững hờ
nước trôi
Một cung Lưu thủy ngậm ngùi
Men thiêng hồ dễ say người
được sao
Lỡ nhau mùa chớm bông đào
Gặp nhau thà giấc chiêm bao
trước đèn
Tỉnh thôi gối lệ đầm hoen
Tiệc tan bèo nước sầu lên
hôn hoàng
Chơ vơ một đảo lòng hoang
Chiếu câm màu biển tường
loang sắc trời
Quanh mình phấn rụng hương
rơi
Cánh phiêu lưu chợt rã rời
bướm hoa
Tiếng cầm chưa tắt dư ba
Nao nao nguồn máu lời ca
vọng về
Rối tung hai mái tóc thề
Mây trời cỏ đất lê thê bóng
chiều
Hội nhập trong tiếng đàn của
Vũ Hoàng Chương là những “màu sắc” hài hòa trong thơ (Chiếu câm màu biển tường
loang sắc trời ), phảng phất những “mùi hương” lãng đãng (Quanh mình phấn rụng
hương rơi), những âm điệu nồng nàn quyến rũ mê li (phím dây bừng thức cung Hằng
áo xiêm) , làm ta liên tưởng đến những ý tưởng lạ lùng trong bài thơ Huyền Diệu
của Xuân Diệu :
Này lắng nghe em hát khúc
nhạc thơm
Say người như rượu tối tân
hôn
Như hương thấm tận qua
xương tủy
Âm điệu thần tiên thấm tận
hồn
Hãy tự buông cho khúc nhạc
hường
Dần vào thế giới của du
dương
Ngừng hơi thở lại, xem
trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất
hương …
Hãy nghe lẫn lộn ghé bên
tai
Giọng suối, lời chim, tiếng
khóc ngươì;
Hãy uống thơ tan trong khúc
nhạc
Ngọt ngào than gọi thuở xa
khơi …
Rồi khi khúc nhạc đã ngừng
im,
Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái
tim
Còn cứ run hoài như chiếc
lá
Sau khi trận gió đã im lìm
Xuân Diệu (Huyền Diệu)
Ở trong cái cái thế giới âm
nhạc đó, người đọc sẽ cảm nhận được “hương thơm, màu sắc và thanh âm tương ứng
với nhau” ( Les parfums, les couleurs et les sons se répondent ) như lời của
thi-sĩ Charles Baudelaire, người thơ của chán chường và tuyệt vọng đã diễn tả
:
Comme
de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et
profonde unité,
Vaste comme la nuit et
comme la clarté,
Les parfums, les couleurs
et les sons se répondent.
Correspondances – Charles
Baudelaire
Như
tiếng vọng từ xa xăm lẫn lộn
Trong không gian sâu thẳm bóng đen dày
Mênh mông quá đêm dài và
ánh sáng
Giữa thanh âm tương ứng sắc
hương đầy
(Hải
Đà)
Ý đàn buông lơi của Vũ Hoàng
Chương như những sợi tóc tơ mềm mại đã tạo ra những hình ảnh hoài niệm diễm
tuyệt và những xúc
động lạ lùng cám dỗ ngấm sâu vào nội tâm …để cùng “rợn ý say” như một tâm trạng
của Bích Khê :
Tóc xõa đàn tơ rơi lướt
thướt
Hồn thu đã hiện khóc thu
gầy
Tôi nhìn đôi mắt rưng rưng
lệ
Cả mảnh hồn thơ rợn ý say
Người kỹ nữ đó đã đánh
mất tuổi thanh xuân , có còn chăng chỉ là tiếng đàn tỳ bà chan chứa lệ, đẫm ướt
vạt áo xanh của chàng Tư Mã Giang Châu … Có lẽ trong chiều sâu ý tưởng của
người thơ luống tuổi về chiều xúc động với những âm đàn tha thiết của người kỹ
nữ trên bến nước Tầm Dương có những ý nghĩ thầm kín, cất dấu thăm thẳm trong
lòng, chẳng
bao giờ muốn bộc bộ cùng ai:
Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với
anh
Những khi chiều vàng phơ
phất đến
Anh đàn em hát níu xuân
xanh.
Có mây bàng bạc gây thương
nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc
mơ
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc Xuân
xưa.
Nhưng thuyền em buộc trên
sông Hận
Anh chẳng quay về với trúc
tơ
Ngày tháng tỳ bà vương ánh
nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi
chờ.
Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến Thu xa
Thì đôi mái tóc không còn
xanh nữa
Mây bạc trăng vàng vẫn
thướt tha..
Kết Luận: Trong thế giới huyền ảo của
nghệ thuật âm nhạc, tiếng đàn tuyệt diệu chính là tiếng hát của con tim mẫn
cảm, tác động tâm hồn và khêu gợi hình ảnh, tạo những nhịp đập cảm xúc mãnh
liệt, những chuỗi liên tưởng gợi hình , đó là những âm thanh hữu tình nhờ năng
lực huyền nhiệm của thi ca mà chấp cánh bay lượn trong khung trời cảm xúc vô
biên . Tỳ Bà Hành là một nghệ thuật thơ siêu việt, đã gây mãi những ấn tượng
cực kỳ sâu sắc, lắng đọng vào chiều sâu của tâm tưởng và trí tuệ . Bài thơ là
sự kết hợp tài tình nhuần nhuyễn giữa ý từ , ngôn ngữ và âm thanh, giống như
một bản hòa âm huyền diệu biến chuyển nhịp nhàng, mỗi điệp khúc là một hình
tượng diễn cảm đặc biệt dẫn dắt người đọc đi hụt hẫng giữa mộng và mơ, giữa
thực và ảo, không bến bờ, triền miên vô tận . Ý từ diệu vợi, phong vận tuyệt
vời, ngôn ngữ gợi cảm và âm hưởng kỳ lạ của Bài Tỳ Bà Hành thắm đượm tình
người, man mác ngậm ngùi cho cảnh đời dâu bể, đã kích động nguồn cảm ứng tự
nhiên của tác giả. Người viết xin mạo muội gửi đến bạn dọc những cảm nghĩ riêng
tư qua bài thơ Vô Đề 5:
Vô Đề 5
Gió thổi hắt tơ tình tung
vạn hướng
Mắt sầu thu huyễn mộng tận
phương nào
Thuyền long đong ngậm ngùi
đêm tĩnh lự
Hồn ly hương quanh quất
giữa ngàn sao
Từ thuở đó có bao giờ nghe
lại
Tỳ bà xưa khe khẽ khúc cô
liêu
Sương khói tỏa sa mù trên
sông lạnh
Trái tim người hiu hắt phủ
xanh rêu
Mưa sướt mướt xói mòn đêm ủ
rũ
Lời hư không đồng vọng khúc
bi trầm
Trăng cảm ứng từ trời cao
bất tận
Cung bậc sầu tri ngộ với
tao nhân
Khơi tro lạnh giữa dòng đời
lưu lạc
Tìm men nồng trong rượu
đắng nhân sinh
Khúc nhạc trỗi ân tình đêm
quyến luyến
Mà sông trăng nước chảy vẫn
vô tình
Đàn, sông lạnh cùng người
không ước hẹn
Ngẫu nhiên sao che dấu một
lời thề
Âm vang mãi muôn đời tình
vĩnh cửu
Có đi xa ngàn dặm vẫn quay
về …
Cung Đàn và Tình Thơ
Tay gầy từng nhánh xanh xao
Khẽ rung phiếm mỏng ngọt
ngào điệu ru
Cung nào trầm bổng phiêu du
Đong đưa cánh nhạn tít mù xa
khơi
Âm đàn luyến láy chơi vơi
Tiếng xao xuyến nhẹ ru đời
chiêm bao
Cung nào dồn dập xôn xao
Đầu non suối đổ lệ trào biển
dâu
Dây dưa một khúc tơ sầu
Dạ tê tái dạ, lòng đau đớn
lòng
Triều dâng sóng bạc phiêu
bồng
Trăm năm gió hút cuốn dòng
sông xa
Cung nào man dại kiêu sa
Đôi bờ viễn mộng nở hoa ân
tình
Gió đưa thuyền nhẹ lênh đênh
Chơi vơi cung thủy dập dềnh
nổi trôi
Cung nào bạt gió lẻ loi
Sụt sùi mắt lệ khóc đời cô
liêu
Nguyệt tà réo rắt thanh tiêu
Lắt lay cành trúc quạnh hiu
canh trường
Ẩn tình vọng khúc quê hương
Mênh mang sóng nước vô
thường dạt trôi
Cung nào nức nở hồn soi
Sông hồ lưu lạc lạnh đời ly
hương
Ai về phơi bóng tà dương
Ngàn thu tịch mịch sầu vương
mấy bờ
Lời ru từ thuở nguyên sơ
Vườn trăng rơi rụng tiếng
thơ bàng hoàng
Cung nào thỏ thẻ oanh vàng
Giữa đêm đàn nguyệt gió ngàn
đẫm hương
Cung nào ánh mắt em thương
Tiếng thơ dìu dặt du dương
phím đàn …
.jpg)















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét