Phải chăng đã đến lúc xem việc sử dụng thuần thục một nhạc cụ
như một tiêu chuẩn bắt buộc của việc sáng tác?
Khi sáng tác, mỗi cầm thủ đều không nhiều thì ít, đem những “vết” của nhạc cụ mình sở trường vào ca khúc. Dĩ nhiên, ở những người không biết chơi bất kỳ nhạc cụ nào - trường hợp hy hữu có lẽ chỉ thấy ở Việt Nam - thì không cách gì tìm được vết, hay nói cách khác, sáng tác của họ, những người không-là-cầm-thủ, cũng mang dấu hiệu dễ nhận ra: xộc xệch về bố cục câu đoạn và có vấn đề về tổ chức hòa âm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin nêu ra những mối liên hệ giữa sở trường nhạc cụ của một người với tác phẩm ca khúc của người đó. Ở Việt Nam, có lẽ dấu vết rõ nhất được tìm thấy là ở Đoàn Chuẩn. Ông là một cầm thủ đàn Hạ Uy Di (Hawaiian guitar) có hạng, từng mở lớp dạy nhiều học trò. Đặc trưng nổi bật của nhạc cụ này là khả năng diễn tấu các nốt nhảy quãng xa (từ quãng 8 trở lên) một cách thoải mái, vì chỉ cần dùng cần vuốt (slide) kéo cho trượt trên dây. Bởi thế, khi viết ca khúc, Đoàn Chuẩn đã tư duy bằng chính nhạc cụ “ruột” của ông, kết quả là hầu như toàn bộ bài hát của ông đều có giai điệu nhảy quãng xa.
Người thứ hai được “phát hiện” có những dấu vết nhạc cụ rất rõ là nhạc sĩ Đan Thọ. Violinist này đã xem ca khúc như một cách thao dượt kỹ thuật violin của mình.
Ngô Thụy Miên, một vĩ cầm thủ khác thuộc lớp sau, cũng đưa nhiều sở trường của violin vào cách kiến tạo giai điệu. Như trong bài “Riêng Một Góc Trời”Hoặc “Dấu Tình Sầu”:
Vì phạm vi hẹp của bài viết, lại không phải là một báo cáo khoa học, nên chỉ xin đơn cử vài ví dụ. Những trường hợp khác xin miễn dẫn chứng. Xin kể tiếp về nhạc sĩ Châu Đăng Khoa, người chơi guitar cổ điển nổi tiếng. Anh xem ca khúc là những romance mà phần đệm được soạn công phu cho một hoặc hai guitar diễn tấu. Một người khác, ít nổi tiếng hơn, là Nguyễn Tri (Cần Thơ), cũng để dấu ấn classical guitar hiện rõ trong ca khúc của anh.
Thật ra, không hẳn những nhạc thủ nhất thiết tư duy bằng nhạc cụ mình sở trường, mà chính quá trình tương tác với cây đàn trong một thời gian đủ dài đã tạo cho anh ta một nếp nghĩ, một cách tổ chức tác phẩm đặc biệt mà những người chơi nhạc cụ khác, hoặc không biết nhạc cụ nào, không thể có được. Nhờ chơi nhạc cụ, người sáng tác hiểu âm nhạc hơn, thẩm âm tốt hơn, thiết kế và tổ chức tác phẩm hợp lý hơn. Điển hình của những pianist là giỏi tư duy hòa âm, vì nhạc cụ này vốn “giàu” hòa thanh nhất. Những nhạc thủ chơi nhạc cụ giai điệu (đàn dây, kèn, sáo) thì luôn luôn để “vết” tính năng nhạc cụ trong tác phẩm.
Điều này được tìm thấy không chỉ ở Việt Nam. Jon Anderson, cựu thành viên Jethro Tull và là một flutist thượng thặng, viết ca khúc hệt như một khúc đối âm giữa giọng hát và flute. Geddy Lee chơi bass và hát cho nhóm Rush cũng biến ca khúc thành bản đối âm giữa giọng của chính anh và cây đàn bass. Dân guitar viết ca khúc dễ nhận biết, nhất là ở những người học cổ điển: luôn luôn có âm hưởng những étude trong tác phẩm của họ - xin kể thêm tên Vũ Ngọc Giao, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Bình vào danh sách guitarists có ca khúc phổ biến. Trên thực tế, vẫn có những “ca khúc gia” không hề để lộ ảnh hưởng từ nhạc cụ mình chơi, như Lê Quang (bass) hay Vĩnh Tâm (guitar cổ điển). Nhưng trong những ca khúc phổ thông, Lê Quang lại không đạt được sự sáng giá như khi anh viết rock; cũng như Vĩnh Tâm chưa thể đặt chân được đến mảnh đất chuyên nghiệp của công việc tác khúc. Những trường hợp ấy không nên bàn thêm.
Quốc Dũng có lẽ là nhạc sĩ có tư duy cầm thủ rõ rệt và bền bỉ nhất. Học mandolin rồi guitar rồi chuyển sang đàn phím, Quốc Dũng tiếp thu cách bố cục giai điệu/hòa âm/tiết tấu chặt chẽ, cổ điển và chân phương. Nhờ đó, ca khúc của anh có giai điệu vừa đẹp vừa rất dễ thuộc.
Cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà tư duy ca khúc theo những mẫu đã thành kinh điển của hai nhóm The Beatles và Simon & Garfunkel. Đức Huy cũng thế. Phương Uyên sau này cũng vậy. Thật sai lầm khi đánh giá thấp khả năng sáng tác của các nhạc thủ (xin miễn cho từ “nhạc công”, hàm ý coi thường) để đề cao kiểu “nhạc sĩ bẩm sinh”. Chẳng thể nào trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp được khi không biết chơi đàn. Và với tư cách một người soạn hòa âm, tôi nghiệm ra rằng chỉ những “ca khúc gia” không biết chơi đàn mới viết ca khúc lẻ nhịp và lệch mẫu tiết tấu (khi ở phách mạnh, khi ở phách yếu) mà thôi.
Đã đến lúc nên xem việc sử dụng thuần thục một nhạc cụ (Tây phương) như một tiêu chuẩn bắt buộc của việc sáng tác.
Khi sáng tác, mỗi cầm thủ đều không nhiều thì ít, đem những “vết” của nhạc cụ mình sở trường vào ca khúc. Dĩ nhiên, ở những người không biết chơi bất kỳ nhạc cụ nào - trường hợp hy hữu có lẽ chỉ thấy ở Việt Nam - thì không cách gì tìm được vết, hay nói cách khác, sáng tác của họ, những người không-là-cầm-thủ, cũng mang dấu hiệu dễ nhận ra: xộc xệch về bố cục câu đoạn và có vấn đề về tổ chức hòa âm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin nêu ra những mối liên hệ giữa sở trường nhạc cụ của một người với tác phẩm ca khúc của người đó. Ở Việt Nam, có lẽ dấu vết rõ nhất được tìm thấy là ở Đoàn Chuẩn. Ông là một cầm thủ đàn Hạ Uy Di (Hawaiian guitar) có hạng, từng mở lớp dạy nhiều học trò. Đặc trưng nổi bật của nhạc cụ này là khả năng diễn tấu các nốt nhảy quãng xa (từ quãng 8 trở lên) một cách thoải mái, vì chỉ cần dùng cần vuốt (slide) kéo cho trượt trên dây. Bởi thế, khi viết ca khúc, Đoàn Chuẩn đã tư duy bằng chính nhạc cụ “ruột” của ông, kết quả là hầu như toàn bộ bài hát của ông đều có giai điệu nhảy quãng xa.
Người thứ hai được “phát hiện” có những dấu vết nhạc cụ rất rõ là nhạc sĩ Đan Thọ. Violinist này đã xem ca khúc như một cách thao dượt kỹ thuật violin của mình.
Ngô Thụy Miên, một vĩ cầm thủ khác thuộc lớp sau, cũng đưa nhiều sở trường của violin vào cách kiến tạo giai điệu. Như trong bài “Riêng Một Góc Trời”Hoặc “Dấu Tình Sầu”:
Vì phạm vi hẹp của bài viết, lại không phải là một báo cáo khoa học, nên chỉ xin đơn cử vài ví dụ. Những trường hợp khác xin miễn dẫn chứng. Xin kể tiếp về nhạc sĩ Châu Đăng Khoa, người chơi guitar cổ điển nổi tiếng. Anh xem ca khúc là những romance mà phần đệm được soạn công phu cho một hoặc hai guitar diễn tấu. Một người khác, ít nổi tiếng hơn, là Nguyễn Tri (Cần Thơ), cũng để dấu ấn classical guitar hiện rõ trong ca khúc của anh.
Thật ra, không hẳn những nhạc thủ nhất thiết tư duy bằng nhạc cụ mình sở trường, mà chính quá trình tương tác với cây đàn trong một thời gian đủ dài đã tạo cho anh ta một nếp nghĩ, một cách tổ chức tác phẩm đặc biệt mà những người chơi nhạc cụ khác, hoặc không biết nhạc cụ nào, không thể có được. Nhờ chơi nhạc cụ, người sáng tác hiểu âm nhạc hơn, thẩm âm tốt hơn, thiết kế và tổ chức tác phẩm hợp lý hơn. Điển hình của những pianist là giỏi tư duy hòa âm, vì nhạc cụ này vốn “giàu” hòa thanh nhất. Những nhạc thủ chơi nhạc cụ giai điệu (đàn dây, kèn, sáo) thì luôn luôn để “vết” tính năng nhạc cụ trong tác phẩm.
Điều này được tìm thấy không chỉ ở Việt Nam. Jon Anderson, cựu thành viên Jethro Tull và là một flutist thượng thặng, viết ca khúc hệt như một khúc đối âm giữa giọng hát và flute. Geddy Lee chơi bass và hát cho nhóm Rush cũng biến ca khúc thành bản đối âm giữa giọng của chính anh và cây đàn bass. Dân guitar viết ca khúc dễ nhận biết, nhất là ở những người học cổ điển: luôn luôn có âm hưởng những étude trong tác phẩm của họ - xin kể thêm tên Vũ Ngọc Giao, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Bình vào danh sách guitarists có ca khúc phổ biến. Trên thực tế, vẫn có những “ca khúc gia” không hề để lộ ảnh hưởng từ nhạc cụ mình chơi, như Lê Quang (bass) hay Vĩnh Tâm (guitar cổ điển). Nhưng trong những ca khúc phổ thông, Lê Quang lại không đạt được sự sáng giá như khi anh viết rock; cũng như Vĩnh Tâm chưa thể đặt chân được đến mảnh đất chuyên nghiệp của công việc tác khúc. Những trường hợp ấy không nên bàn thêm.
Quốc Dũng có lẽ là nhạc sĩ có tư duy cầm thủ rõ rệt và bền bỉ nhất. Học mandolin rồi guitar rồi chuyển sang đàn phím, Quốc Dũng tiếp thu cách bố cục giai điệu/hòa âm/tiết tấu chặt chẽ, cổ điển và chân phương. Nhờ đó, ca khúc của anh có giai điệu vừa đẹp vừa rất dễ thuộc.
Cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà tư duy ca khúc theo những mẫu đã thành kinh điển của hai nhóm The Beatles và Simon & Garfunkel. Đức Huy cũng thế. Phương Uyên sau này cũng vậy. Thật sai lầm khi đánh giá thấp khả năng sáng tác của các nhạc thủ (xin miễn cho từ “nhạc công”, hàm ý coi thường) để đề cao kiểu “nhạc sĩ bẩm sinh”. Chẳng thể nào trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp được khi không biết chơi đàn. Và với tư cách một người soạn hòa âm, tôi nghiệm ra rằng chỉ những “ca khúc gia” không biết chơi đàn mới viết ca khúc lẻ nhịp và lệch mẫu tiết tấu (khi ở phách mạnh, khi ở phách yếu) mà thôi.
Đã đến lúc nên xem việc sử dụng thuần thục một nhạc cụ (Tây phương) như một tiêu chuẩn bắt buộc của việc sáng tác.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét