Nhạc tiền chiến - Nghe lại ngày xưa
1. DƯ ÂM - MỘT THUỞDư Âm - Lệ Quyên | Du Am Le Quyen album nhạc 320kbps
Mỗi người trong đời có chút duyên với nhạc, với đời trong khoảnh khắc đó sự
thăng hoa ngẫu ngộ đã để lại những tác phẩm không bao giờ nhạt phai trong lòng
người. Nguyễn Văn Tý là một nhạc sỹ như vậy.
Xin giới thiệu bài viết của Nghệ sĩ Minh Hiển như một hoài vãng mà ai trong
chúng ta hữu duyên đã từng gặp và thương hoài …. Một thuở … ngày xưa
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Vừa vào Thành phố Hồ Chí Minh, nghe tin anh Nguyễn Văn Tý ốm nằm ở bệnh viện,
tôi và nghệ sĩ sáo Đinh Thìn vội đến thăm anh. Cùng đi với chúng tôi có anh
Đinh Phương, cũng người quê ở Khu 4, một tiến sĩ rất yêu quý nghệ sĩ.
Anh Tý nằm ở khoa tim mạch, anh bị đau tim và rối loạn tuần hoàn mạch máu não.
Gặp nhau chúng tôi rất mừng vì anh không đến nỗi ốm nặng. Tôi giới thiệu các bạn
với anh. Chúng tôi ôn lại những ngày kháng chiến.
Mới cách nhau vài năm mà tóc anh đã bạc trắng, vui câu chuyện tôi đùa: Phải
chăng “nhớ em mấy thuở bạc đầu”? Và cũng do đó đã nhắc đến bài Dư âm.
Nghe nói đến hai chữ Dư âm, anh Tý bỗng im lặng trầm tư.
Đinh Thìn hỏi: Anh Tý sáng tác Dư âm vào năm nào?
Anh Tý ngẩng mặt lên, nhìn về phía xa xăm, không trả lời thẳng câu hỏi mà thong
thả kể, như tự nói với mình:
Hồi đó tôi có người bạn rất thân tên là Thủy, anh ấy rủ tôi về chơi nhà người
chị của anh ấy ở một làng ven biển Quỳnh Lưu, Nghệ An.
Nơi đây gạo trắng nước trong
Chị anh ấy có hai người con gái, cô chị tên là Hà, kém tôi dăm ba tuổi, cô em
là Hoàng đang học lớp 10. Hình như bạn tôi muốn tôi làm quen với cháu anh, cô
Hà. Khi tôi đến, gia đình niềm nở đón tiếp. Hà, một cô gái khá xinh, có đôi má
lúm đồng tiền, đun nước pha chè, thứ chè xanh vừa hái ở vườn, vò nát, chế nước
sôi, uống rất thơm và ngon.
Hà ngồi lại tiếp tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau về văn thơ, về ca nhạc. Hà
yêu cầu tôi hát một số bài của tôi đang thịnh hành và những bài vừa sáng tác.
Hà thông minh, sắc sảo.
Trong lúc đang nói chuyện với Hà, tự nhiên tôi cảm thấy hình như có đôi mắt nào
đó đang nhìn tôi.
Khi Hà đi vào nhà trong pha thêm nước vào chè, như một phản ứng tự nhiên tôi
quay lại đằng sau thì bắt gặp một cặp mắt với bờ mi dài rậm đang chăm chăm nhìn
tôi, đôi mắt của một cô gái, không, của một cô bé khoảng 15 tuổi, đôi mắt như
hai giếng nước trong tĩnh lặng với một chiều sâu thăm thẳm, đôi mắt như biết
xóa đi những ham muốn trần tục, nhưng lại có một cái gì đó thật hấp dẫn, thật
lôi cuốn. Tôi choáng ngợp vì sự hiện diện bất ngờ của cô bé. Đó là Hoàng, em ruột
của Hà.
Vừa lúc đó có tiếng dép của Hà, bờ mi khép lại, đôi mắt biến mất.
Hà đưa tôi xem tập ca dao cô vừa mới sưu tầm, nhờ tôi góp ý sắp xếp. Cô trình
bài ý đồ, tôi chăm chú lắng nghe nhưng thật ra chẳng hiểu gì cả.
Vừa lúc ấy đôi mắt lại xuất hiện, Hoàng bước nhẹ đến sau lưng chị, Hà không để
ý vẫn say sưa nói.
Giữa ánh sáng rực rỡ của chiều tà, Hoàng càng đẹp lộng lẫy hơn, một vẻ đẹp đến
nín thở, khuôn mặt trái xoan, nước da trắng hồng với mái tóc đen nhánh chảy dài
xuống đôi bờ vai đến tận lưng như một giòng suối, và… đặc biệt vẫn là đôi mắt,
bây giờ không tĩnh lặng mà long lanh, lấp lánh như mặt hồ xao động, đôi mắt biết
nói, biết cười, biết giận hờn, biết nuôi khát vọng, biết cầu xin và rõ ràng… biết
yêu. Nhìn vào đôi mắt Hoàng tôi bị phân tâm, tôi không còn hiểu gì, nghe gì thấy
gì nữa.
Hà ngước mắt nhìn tôi, thấy tôi cứ chăm chăm nhìn vào một điểm trên đầu nàng,
nàng vội đưa vuốt tóc, nhưng rồi nàng quay mặt lại và thấy Hoàng, em mình, đang
đứng đằng sau, bốn mắt Hoàng và tôi đang nhìn nhau đắm đuối, Hà chợt hiểu, vùng
vằng bỏ đi.
Tôi như tỉnh cơn mê, còn Hoàng thì bỏ chạy theo chị vào nhà trong.
Mấy tháng sau tôi mới gặp lại Thủy, anh cho tôi biết anh và Hà, hai cậu cháu, đã
cãi nhau. Hà nhất định không đồng ý để cậu Thủy đưa tôi về chơi nhà, còn Thủy
thì cứ muốn đưa bạn về.
Anh trách tôi: Cậu vụng về thế nào để Hà giận ghê thế? Chắc lại chê thơ của nó
chứ gì? Đối với phụ nữ như thế là không được, thiếu tâm lý.
- Không, tôi không hề chê một câu nào.
Thủy ngạc nhiên nhưng rồi như chợt hiểu:
- À, hay cậu khen nó quá lời? Con bé ấy tinh lắm, không dối nó được đâu, nó
ghét nhất là tính dối trá.
- Không, tôi cũng chưa hề khen một câu nào.
- Thế nghĩa là thế nào? Không khen, không chê, cậu nghe xong rồi cứ ngồi im à?
- Vâng.
- Thôi chết! Thế thì còn nặng gấp mấy lần. Như thế là nó cho cậu coi thường tài
năng của nó. May mà cậu chưa khen: chữ viết đẹp và trình bài trang nhã đấy!
Thôi cậu phải đến nhà mình xin lỗi cháu tôi, sau đó phải khen vài câu rồi hãy
góp ý kiến một cách thẳng thắn. Nói thật, mình rất muốn cậu trở thành cháu của
mình, đừng tự ái nhé!
Tôi chân thành trả lời: Vâng, tôi cũng rất muốn trở thành cháu của anh (tất
nhiên với một nghĩa hoàn toàn khác).
Thủy lại đưa tôi về nhà vào một buổi chiều hè. Tiếng sáo diều vi vu trên cánh đồng
êm ả đượm hương thơm mùi cốm.
Anh mời tôi ngồi ở bộ ghế mây đặt tại góc hiên nhà, nhìn ra một sân gạch rộng.
Anh pha chè mời tôi uống, còn anh phải lên phố huyện có tí việc, anh nháy mắt
khuyên tôi hãy kiên trì.
Tôi ngồi đợi mãi chẳng thấy ai ra. Chè đã nhạt nước và hoàng hôn đã buông xuống,
hình như tôi đã bị bỏ quên. Tôi định đứng vậy ra về thì vừa lúc ấy, không phải
Hà mà cô bé Hoàng tóc ướt sũng đang từ trong nhà đi ra sân, đến ngồi trên tường
hoa, quay lưng về phía tôi, mặt hướng về phía chân trời xa, thỉnh thoảng nàng
ngửa đầu rũ rũ tóc để hong gió.
Nàng có biết là tôi đang ngồi trong góc hiên này không? Tôi cũng không hiểu sao
nàng lại gội đầu vào lúc chiều muộn và hương bưởi thoang thoảng không biết có
phải từ mái tóc nàng tỏa ra hay không…
Tôi lặng yên ngồi ngắm nàng trong ánh hoàng hôn, một vẻ đẹp thơ ngây, kỳ diệu,
lung linh, huyền bí.
Tôi, tuy chưa đến tuổi ba mươi, nhưng cũng đã trải qua bao đau khổ ê chề của cuộc
sống; từ lâu tôi đã biết cái gì là thực tế có thể đạt được và cái gì là không
thể được. Cô bé đẹp ngồi kia là một giấc mơ không thể với tới được, mà thậm chí
cũng không dám nghĩ đến nữa, vì tuổi tôi gần gấp đôi tuổi nàng. Mẹ nàng, cậu
nàng, chị nàng và có lẽ cả nàng cũng không bao giờ chấp nhận, vậy thì chớ có dại
dột đuổi theo ảo vọng!
Trăng lên, nàng đi vào nhà và lấy cây đàn ghi ta ra. Nàng gẩy nhẹ dây dạo nhạc
và khe khẽ hát như để riêng cho riêng mình nghe. Ánh trăng trải dài trên suối
tóc. Tiếng hát to dần.
Tôi lắng nghe đến sững sờ giọng hát trong vắt, ngọt ngào mà sâu lắng của cô gái
nhỏ. Tiếng hát nói lên sự khát khao và ước vọng, thương cho người cô lữ đêm
đông không nhà, khóc cho những mối tình thầm kín đã vỡ, những giấc mộng tuổi
thơ đã chết.
Ngồi trong bóng tối mắt tôi ứa lệ, tôi xúc động đến thấy ớn lạnh ở xương sống.
Bỗng tiếng hát cất lên cao vút pha lẫn những tiếng nấc nghẹn ngào.
Tôi chết lặng theo tiếng hát buốt nhói của con tim đau khổ, đầy lòng bác ái, vị
tha. Tôi ngồi đó, lặng yên như hóa đá…
Năm 1950 tôi gia nhập quân đội nhân dân và được cử làm Đoàn trưởng Đoàn văn
công Sư đoàn 304.
Một đêm, sau khi tôi đi kiểm tra đơn vị về, dưới ánh trăng trong, trên cánh đồng
bát ngát dậy hương cốm, những kỷ niệm ở làng ven biển sống lại trong tôi, những
nét nhạc tự nó mang âm vang thôi thúc. Sợ nó biến mất mà không kịp ghi lại, tôi
vội xách cây đèn bão xuống nhà bếp, hạ cái nia xuống đất, lấy tấm cót vây quanh
để che ánh sáng đề phòng máy bay địch tập kích. Tôi chui vào ngồi giữa cái nia
như ngồi trong lòng giếng, gẩy đàn và sáng tác. Có lẽ không phải tôi sáng tác
mà tôi chỉ ghi lại những gì vốn có trong đêm trăng ấy:
“Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ
Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ
Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn sóng
Yêu ai em nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa xôi…”
… và nét nhạc cũng tự thân nó trào ra như một giòng suối uyển chuyển, nhịp
nhàng theo lời ca.
Như vậy là bài hát Dư âm đã được sáng tác chỉ trong một đêm, trên một tấm nia
có tấm cót vây quanh.
Nó là bài hát bỏ túi, riêng tư cho mình và cho các bạn rất thân, nhưng không biết
tự bao giờ nó đã phổ biến.
Năm 1957, công tác ở Hội nhạc sĩ, tôi đi về Vĩnh Yên, Vĩnh Phú sưu tầm dân ca.
Một buổi chiều đang đi trên cánh đồng rộng mênh mông thì trời nổi giông, nhìn
quanh không có nhà cửa, chỉ có một doanh trại bộ đội gần đấy. Tôi vào phòng trực,
đưa giấy tờ định sẽ xin trú lại qua đêm với lời hứa sẽ sáng tác cho bộ đội một
ca khúc.
Tôi lững thững đi vào doanh trại thì có một nữ chiến sĩ dáng cao cao, mặc quân
phục mới, đầu đội mũ cối, quai hạ xuống cằm, đi ra.
Từ xa tôi đã ngờ ngợ thấy một bóng dáng nào đó rất quen. Đến gần chỉ còn độ dăm
bước thì tôi chợt nhận ra Hoàng, chính là Hoàng. Tôi dừng lại, ngỡ ngàng, rồi
quay gót đi nhanh như chạy trốn, ra phòng thường trực xin lại giấy giới thiệu,
bỏ đi dưới trời mưa tầm tã.
Sao tôi lại chạy trốn Hoàng?
- Không, tôi không chạy trốn nàng mà tôi chạy trốn chính những ảo vọng đã bừng
cháy trong tôi, tôi sợ nó tan vỡ. Chỉ có một điều tôi băn khoăn mãi là liệu
nàng có kịp nhận ra tôi không?
Năm 1962, ở Hà Nội, một hôm tôi thấy Hoàng – vẫn mặc áo quần bộ đội nhưng đã trải
màu sương gió – đang đi vào hiệu sách cạnh nhà tôi. Mười ba năm đã trôi qua rồi
còn gì! Tôi quyết định sẽ gặp Hoàng, tôi đứng ở cửa chính để chờ. Rõ ràng có lần
nàng quay lại nhìn tôi, bỗng nàng lách vội qua cửa phụ rồi biến mất.
Đấy, cuộc đời là sự trả giá! Tôi đã chạy trốn nàng thì bây giờ nàng lại tránh mặt
tôi.
Từ bấy đến nay tôi chưa bao giờ gặp lại nàng. Tất cả đã qua đi và cánh cửa quá
khứ đã khép lại. Dư âm chỉ là một mối tình không một lời nói, không một nụ hôn…
và… cũng có thể là một mối tình đơn phương, một ảo ảnh mà thôi.
- Nào tôi có biết!
Lúc này Đinh Phương lên tiếng: Anh Tý ạ, tôi cũng người Quỳnh Lưu đây! Nhà
Hoàng ở cách nhà tôi không xa. Em gái tôi là Diệu Hương học cùng lớp với Hoàng,
hai đứa chơi thân với nhau. Qua Hương, tôi biết Hoàng rất quí mến anh. Khi bài
Dư âm của anh không biết từ đâu lọt về trường, Hoàng là người dám công khai
trình diễn và là người trình diễn đầu tiên. Có lúc cô bé ngồi nhìn bản nhạc một
mình rồi cười khúc khích.
Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, đến học kỳ sau có một điều làm chúng tôi ngạc
nhiên: Hoàng vốn hồn nhiên, nhí nhảnh là vậy, bỗng trở nên trầm tư, ít nói, hay
buồn, hình như có điều gì khắc khoải chờ mong. Hoàng thích sống cô đơn ngay giữa
những người thân: mẹ, chị, cậu, bè bạn…
Có lần Hoàng nhìn bầy ong trong vườn và nói với Hương: Con ong bay đi tìm hoa
hút nhụy về làm mật, rồi sẽ chẳng bao giờ trở lại với đóa hoa ấy nữa. Ai có thể
trách nó là bạc bẽo hay vô tình! Nó hiến dâng đời vị ngọt mà nó đã dùng cả trái
tim mình chắt lọc ra.
Hương cãi lại: Nhưng hoa cũng phải tự hào vì đã được đóng góp sức mình cho những
giọt mật đó.
Hoàng nói với giọng lạnh lùng: Mật có loạt ngọt… mà cũng có loại đắng lắm!
Cũng từ dạo đó Hoàng hầu như không bao giờ hát nữa, hoặc có chăng chỉ hát một
bài… Dư âm.
Tiếng hát của nàng tha thiết:
Đê mê lòng nhớ
đêm qua giấc mơ, môi em hé rung
đêm qua giấc mơ, môi em hé rung
Anh muốn thành mây nương nhờ làn gió
Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây,
muôn kiếp bên nàng”.
muôn kiếp bên nàng”.
Vâng, Hoàng đã đổi chữ “đàn” thành chữ “nàng”. Hoàng cho rằng tác giả đã vô ý
chép sai (?)
Nhưng có một điều trái nghịch mà tôi và em tôi đều thấy: khi hát Dư âm mắt
Hoàng ngấn lệ. Hình như Hoàng đang khóc cho một cái gì rất đẹp, rất cao thượng
đã chết.
Anh Tý như người mất hồn, lẩm bẩm: Lỗi tại tôi! Nàng cho tôi là kẻ vô tình… Từ
giờ đến khi nhắm mắt nhất định tôi phải tìm gặp Hoàng để nói với Hoàng một câu,
chỉ một câu thôi: Không! Anh không phải là người như thế!
Anh lặng đi hồi lâu, ngồi im bất động.
Sợ anh bị ảnh hưởng đến tim, tôi cầm tay anh an ủi:
- Dù sao hôm nay anh cũng biết được một tin vui về Hoàng, đó cũng là niềm an ủi
trong cuộc đời. Tất cả không phải là ảo ảnh mà đã gần với sự thật hơn
Anh Tý buồn rầu nói: Chính vì vậy tôi càng thấy tôi có lỗi lớn hơn biết bao!
Giá chi…
Cuộc đời của mỗi người, nói cho cùng rồi cũng qua đi, còn lại chăng chỉ là dư
âm của một thời dĩ vãng, lắng đọng mãi trong lòng chúng ta.
Dư âm
Nguyễn Văn Tý - Khánh Ly







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét