Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Mùa thu qua thi ca Việt Nam

Mùa thu qua thi ca Việt Nam
Ai đã từng đọc bài thơ nỗi tiếng "hansons D'automne  của thi- sĩ lừng danh Pháp-quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi-hồi và xúc-động. Không xúc-động sao được khi nhà thơ đa-tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất-hủ sau đây để nức-nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:
"Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte"

"Tiếng đàn ai đó lê-thê
V
ĩ- cm réo-rt ê-ch lòng đau
B
ơ-vơ chuông đổ đồng-h
Lòng nh
ư héo-ht thu tàn năm xưa
Bao k
-nim, theo gió đưa
Cu
n theo l đổ chưa va xót-xa
Bao n
ăm l th xa nhà
Giang-h
phiêu-bt lá vàng t-tơi.."
(Lãng-Du)
Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành, rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.

Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác-đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu, mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẻo đường. "Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về". Ta hãy nghe các thi-nhân Việt Nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.
Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ Tản Ðà:
"Trn gió thu-phong rng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang"

Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạn nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giữa rừng thu qua bài "Tiếng Thu" của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng:
"Em không nghe rng thu
Lá thu kêu xào-x
c
Con nai vàng ng
ơ-ngác
Ð
p trên lá vàng khô"
Không phải chỉ có Tản Ðà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam:
"Sc tri trôi nht dưới khe
Chim
đi, lá rng, cành nghe lnh-lùng"
(Huy-Cận)
"Rng liu đìu-hiu đứng chu tang,
Tóc bu
n buông xung l ngàn hàng
Ðây mùa thu t
i mùa thu ti
V
i aó mơ phai dt lá vàng"
(Xuân-Di
u)
"Ao thu l
nh-lo nước trong veo
M
t chiếc thuyn câu bé to-teo
Sóng bi
ếc theo làn hơi gn tí
Lá vàng tr
ước gió s đưa vèo"
(Nguyễn Khuyến)
"Ai đâu tr li mùa thu trước
Nh
t ly cho tôi nhng lá vàng"
(Chế lan Viên)
"Chng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá nh
ư sương!
Ta v
nht ly hoa thu rng
Ð
ng gi bên lòng ni nh thương"
(Thái Can)
"Gió vàng hiu-ht cnh tiêu-sơ
L
-t bên tri bóng nhn thưa
Gi
ếng ngc sen tàn bông hết thm
R
ng phong lá rng tiếng như mưa"
(Ngô chi Lan)
"Ðêm thu khc lu canh tàn
Gió cây trút lá tr
ăng ngàn ngm sương"
(Nguyễn Du)
Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo. Nói đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh-vắng là một sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu.

Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo-não gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.
Nếu thi-sĩ Thượng Quan- Nghi đời Ðường bên Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:
"Thước phi sơn nguyt th
Thuy
n táo đã phong thu"
"S
ườn non trăng sáng chim bay
Ð
ng thu gió lng, ve say nhc su"
(Chi-Ðiền dịch)
Thì tại Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài "Tiếng thu" của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì toàn bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu:
"Em không nghe mùa thu
D
ưới trăng m thn-thc"
Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:
"Thnh thoảng nàng trăng t ngn-ngơ
Non xa kh
i s nht sương m
Ðã nghe rét m
ướt lun trong gió
Ðã v
ng người sang nhng chuyến đò"
Tuy nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Mặc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng:
"Bóng nguyt leo song s-sm gi
Gió thu l
t ca c mài chăn"
hay là:
"Ô kìa bóng nguyt trn trung tm
L
cái khuôn vàng dưới đáy khe"
Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân-Diệu ra, ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi nhân đã ca tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại:
"Lòng anh giếng ngt trong veo
Tr
ăng thu trong vt, bin chiu trong xanh
Lòng em nh
ư bi kinh-thành
Ða-
đoan vó nga chung-tình bánh xe"
(Nguyễn-Bính)
"Nước biếc trông như tng khói ph
Song th
ưa để mc bóng trăng vào"
(Nguyễn Khuyến)
"Ðêm thu bun lm ch Hng ơi!
Tr
n thế em nay chán na ri"
(Tản-Ðà)
"Mt trăng t thường soi bên gi,
B
ng mt trông sương gi cành ngô
L
nh-lùng thay, by chiu thu,
Gió may hiu-h
t trên đầu tường vôi"
Ðặng Trần Côn (Ðoàn thị Ðiểm địch)
"Vi lô san-sát heo may
M
t tri thu để riêng ai mt người
D
m khuya ngt tnh mù khơi
Th
y trăng mà thn nhng li non sông
R
ng thu tng biếc chen hng
Nghe chim nh
ư nhc tm lòng thn hôn!"
(Nguyễn-Du)
"Ðêm thu gió lt sông đào
N
a vành trăng khuyết, ba sao gia tri "
(Nguyễn- Du)
"Hoa xuân n, còn phong nn nh,
Nguy
t thu kia, chưa hé hàn-quang"
(Ôn như Hầu)
Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Ði dưới nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lâng lâng, nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc chiều tà.

Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:
"Chao ôi! thu đã ti ri sao?
Thu tr
ước va qua mi độ nào
M
i độ nào đây hoa rn v
N
ng hng choàng p dãy bàng cao"
Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời:
"Ô hay bun vương cây ngô đồng
Vàng r
ơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông"
Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.

Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình:
"Nõn-nà sương ngc quanh thm dâu.
N
ng nh bâng-khuâng chiu l thì"
Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xao-xuyến bâng khuâng:
"Tôi đứng bên ny b dĩ-vãng
Th
ương v con nước ngi-ngùng xuôi
Nh
ng người con gái bên kia y
Ai bi
ết chiu nay có nh tôi
Tôi mu
n hôn bng môi ca em
Mùa thu tha-thi
ết nng hoe thm"
Ngoài ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn:
"Chiu nay nng nht luyến chân đồi
H
ơi lnh tàn thu gic lá rơi
S
ương xung chiu đi lòng vng v
Thê-l
ương thêm bn khúc ly hoài"
hay là:
"Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên s
ườn non mc-t cưỡi trâu v
N
ng chiu rây vàng bt xung dân quê
Lúa chín
đỏ theo gió nm sp mái"
(Nam-Trân Nguyễn học Sỹ)
Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi, là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng, và nắng chiều thu trong buổi hoàng hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo, u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.
Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngoài bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Ðặng thế Phong đã xúc-động rồi sáng tác ngay bản nhạc "Giọt mưa thu." trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly: "Ngoài hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ "
Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Ðọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:
"Thánh-thót tàu tiêu my ht mưa
Khen ai khéo v
cnh tiêu-sơ
Xanh um c
-th tròn xoe tán
Tr
ng xóa tràng giang phng-lng t"
Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn:
"Gió thm, mây lng, dáng thu xa
M
i tnh mưa trưa chiu đã tà"
Tuy nhiên nếu trăng thu, nắng thu, mưa thu, là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ, nhạc-sĩ lấy đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan trọng để các thi-nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn, đều trông thấy những giọt sương đọng trên cành cây, ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay, rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đoạn văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về cảnh sương thu: "Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp." Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ "Sương rơi". Ðó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu:
"Sương rơi Ri ht Rơi sương
N
ng trĩu Sương trong Cành dương
Trên cành Tan-tác Li
u ngã
D
ương-liu Trong lòng Gió mưa
Nh
ưng hơi T-tơi Tơi-t
T
ng git
Gió b
c Em ơi ! Thánh-thót
L
nh-lùng Tng git Tng git
Hiu-h
t Thánh-thót Tơi-bi
Th
m vào Tng git Mưa rơi,
Em
ơi Ðiêu-tàn Gió rơi;
Trong lòng Trên n
m Lá rơi,
H
t sương M hoang !.. Em ơi ! .. "
Thành m
t vết thương !..
Nguyễn-Vỹ
Như đã được trình bày ở trên, mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác, có trăng thu mờ ảo giữa đêm buồn, có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Ðã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng, luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc loài, như biệt-ly hiu-quạnh. Vì thế mà nhiều người đã cho rằng, mùa thu là mùa của biệt-ly, của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhung-nhớ, là nói đến ngăn-cách xa nhau, là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn đời để rồi "Nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười"
Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly, sự nhung nhớ cũng như những nỗi u-buồn giữa mùa thu:
"Mây vn tng không chim bay đi
Khí tr
i u-ut, hn chia-ly
Ít nhi
u thiếu-n bun không nói
T
a cưả nhìn xa nghĩ-ngi gì "
(Xuân-Diệu)
Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u, tiêu-điều của Huy-Cận;
"Non xanh ngây c bun chiu
Nhân-gian e c
ũng tiêu-điu dưới kia"
Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:
"Chao ôi! mong nh! ôi mong nh
M
t cánh chim thu lc cui ngàn."
(Chế lan Viên)
Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ:
"Em không nghe ro-rc
Hình
nh k chinh-phu
Trong lòng ng
ười cô-ph."
(Lưu trọng Lư)
Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân:
"Chng được như hoa vướng gót nàng,
Cõi lòng man- mác giá nh
ư sương!
Ta v
nht ly hoa thu rng
Ð
ng gi bên lòng ni nh thương "
(Thái-Can)
Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thoại trong thi-ca Việt Nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở những điệp-khúc tình thu sau đây:
"Anh , tháng ngày xa quá nh?
M
t mùa thu cũ mt lòng đau
Ba n
ăm ví biết anh còn nh
Em
đã câm li có còn đâu!"
hay là:
"Tôi vn đi bên cnh cuc đời
Ái-ân l
t-lo ca chng tôi
Mà t
ng thu chết tng thu chết
V
n giu trong tim mt bóng người.
Tóm lại qua thi ca Việt-Nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly, bi-thảm v.v.. Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách, của ly-biệt, là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt Nam không ai mà không xúc-động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy, qua thi-ca Việt-Nam, ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ-tình bất-hủ về mùa thu.

TÌNH THU
Ngoài kia LÁ ĐỖ MUÔN CHIỀU (1)
Nghe THU QUYẾN RŨ (2) hồn xiêu trăng thề
THU VÀNG (3) như trãi cơn mê
Từ ly MẤY ĐỘ THU VỀ (4) nhớ nhau
LÁ THƯ (5) ấp ủ ngàn sau
Bài THU CA (6) khóc nỗi đau dịu dàng
HOÀI THU (7) cách trở quan san
MỘT CHIỀU THU (8) điểm sắc vàng mông lung
Trơ vơ CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG (9)
MÙA THU KHÔNG TRỞ LẠI (10) cung tơ chùng
VÀO THU (11) sương khói lạnh lùng
Thương MÙA THU CHẾT (12) trong vùng mong manh
TIẾC THU (13) gom lá xây thành
NGÀN THU ÁO TÍM (14) long lanh mây trời
Êm êm THU HÁT CHO NGƯỜI (15)
THU SẦU (16) giai điệu chơi vơi não nề
BUỒN GA NHỎ (17) cách sơn khê
TÀ ÁO XANH (18) đã đi về thiên thu
CON THUYỀN KHÔNG BẾN (19) mịt mù
Lá THƯ TÌNH CUỐI MÙA THU (20) giã từ

1,2,5,18 Đoàn Chuẩn
3 Cung Tiến
4,17 Minh Kỳ
6 Phạm mạnh Cương
7 Văn Trí
8 Nhật Bằng
9 Tuấn Khanh
10 Phạm trọng Cầu
11,14 Hoàng Trọng
12 Phạm Duy ( phổ thơ Appolinaire)
13 Thanh Trang
15 Vũ Đức Sao Biển
16 Lam Phương
19 Đặng Thế Phong

20 Phan Huỳnh Điểu.
Dương Viết Điền
Theo http://forum.trungtamasia.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...