Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu

Những áng văn chương 
toàn bích ca ngợi mùa thu
Trời mấy hôm nay mới thực sự đã vào thu. Buổi sáng sương vấn khăn trên hàng cây, buổi chiều mây bàng bạc u ám cả bầu trời. Mưa giăng trên thành phố. Một chút gió heo may đã thổi về đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương. Dẫu không nhìn thấy đâu đây “Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về” (Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu). Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa. Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ. Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi quốc gia khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động nghệ thuật của mùa thu. Khi địa vị của dòng thơ Đường được đánh giá tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, đã khai mở từ thời Sơ Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên đến thời kỳ Vãn Đường dưới thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường Thi lên đến cả ngàn năm. Tuy nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lý Bạch, Vương Duy, Lưu Vũ Tích, Giả Đảo, Thôi Hiệu, Vương Hàn, Đỗ Phủ... cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận cái thâm hậu, kỳ tuyệt cao khiết biết dường nào. Đêm thu, trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã viết nên bài thơ để đời:
Nguyt lc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ng
ư ha đối su miên
Cô Tô thành ngo
i Hàn San t
D
bán chung thanh đáo khách thuyn
(Phong Kiều Dạ Bạc)
Trăng tà, tiếng qu kêu sương
L
a chài, cây bến su vương gic h
Thuy
n ai đậu bến Cô Tô
N
a đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Tản Đà)

Một cảm tác về đêm trăng mùa thu bơi thuyền ở Hồ Động Đình của Lý Bạch:
Động Đình H tây thu nguyt huy Tiêu,
T
ương giang Bc to hng phi
Túy khách mãn thuy
n ca Bch tr
B
t tri sương l nhp thu y
Tr
ăng thu soi sáng Động Đình Tiêu,
T
ương mt gii, chim hng sm bay
Đầy thuyn khách hát như say
B
ng quên áo thm sương đầy móc thu
(Chi Điền)
Những thi văn tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây Phương thường được nhắc nhở đến nhiều nhất là Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France... đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm, đối với các thi sĩ Việt Nam như trường hợp của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Đình Liên… tạo thành văn học sử của trường phái thơ mới ở thời điểm tiền chiến. Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ tả cảnh thu của Huy Cận:
Nai cao gót ln trong mù
Xu
ng rng no thuc nhìn thu mi v
S
c tri trôi nht dưới khe
Chim
đi, lá rng cành nghe lnh lùng
S
u thu lên vút song song
V
i cây hiu ht, vi lòng qunh hiu
Mùa thu đã thực sự vực dậy trong tiềm thức chúng ta những kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ. Những con phố tịch liêu. Những tháp cổ rêu phong. Những am mây sầu thảm. Những tiền kiếp u trầm có nhau. Những tảng đá xanh trầm mặc. Những hàng cây tĩnh tâm khoác áo sương mù. Những ngọn đỉnh gió hú hoang tịch ngàn năm. Trong cuộc trường chinh ngôn ngữ hiện hữu với bao nhiêu thăng trầm theo mệnh số, chúng ta đã bao nhiêu lần gọi thu về đuổi nắng chói chang đi. Những buổi chiều thu đẫm ướt nỗi buồn vơ vẩn, cám dỗ ta bằng nỗi quạnh hiu, bằng những chiếc lá vàng rơi trên lối về lẻ loi như cánh hạc xa bầy:
Em không nghe mùa thu
D
ưới trăng m thn thc?
Em không nghe r
o rc
Hình
nh k chinh phu
Trong lòng ng
ười cô ph?
Em không nghe r
ng thu
Lá thu kêu xào x
c
Con nai vàng ng
ơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư)
Trong Thi Nhân Việt Nam xuất bản từ năm 1941, Hoài Thanh – Hoài Chân đã nhận định về nhà thơ Lưu Trọng Lư: “… Lưu Trong Lư có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta…”
Không phải chỉ có nước Trung Hoa cổ là một mùa thu bát ngát, ở xứ Việt Nam mùa thu vẫn tạo nên những cảnh trí thật mơ màng quyến rũ đấy chứ. Bằng chứng đối với văn nhân thi sĩ nước ta trong suốt cuộc hành trình phát huy văn hóa dân tộc, đề tài mùa thu vẫn ghi nhận vượt trội hơn những cảm hứng so với số lượng sáng tác những mùa khác trong năm. Với cảnh trời thu man mác thơ mộng, sương khói lãng đãng giăng khắp núi đồi, đã thoáng hiện não nề trong Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du, trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Vô Danh Thị,...trong những bài Thu Ẩm, Thu Điếu của Tam Nguyên Yên Đỗ, trong thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chan chứa những nỗi niềm thu bi thiết:

Ngn gió thu phong rng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang
Vàng bay m
y lá năm già na
H
hng ai xui thiếp ph chàng
Ng
n gió thu phong rng lá hng
Lá bay t
ường bc lá sang đông
Vàng bay m
y lá năm h hết
Th
ơ thn kìa ai vn đứng trông
(Gió Thu)
Xuân Diệu, một trong những nhân vật tiên phong của phái thơ mới, chống lại những khuôn mòn sáo cũ, câu nệ quá đáng vào niêm luật tù túng không tạo cho hồn và ý thơ bay bổng lên đỉnh cao của nghệ thuật. Nếu nói đến thơ tình thì Xuân Diệu được công nhận trải qua thời gian vài thập niên ông vẫn giữ địa vị đặc thù trên thi đàn Việt Nam. Tuy nhiên, về cảm xúc sáng tác từ gợi ý mùa thu, Xuân Diệu cũng tạo nên những thành tích đáng kể qua những thi phẩm như: Nguyệt Cầm, Nhị Hồ, Ý Thu… và Đây Mùa Thu Tới:

Rng liu đìu hiu đứng chu tang
Tóc bu
n buông xung l ngàn hàng
Đây mùa thu ti mùa thu ti
V
i áo mơ phai dt lá vàng
H
ơn mt loài hoa đã rng cành
Trong v
ườn sc đỏ ra màu xanh
Nh
ng lung run ry rung rinh lá
Đôi nhánh khô gy xương mng manh
Th
nh thong nàng trăng t ngn ngơ
Non xa kh
i s nht sương m
Đã nghe rét mướt lun trong gió
Đã vng người sang nhng chuyến đò…
Mây v
n tng không, chim bay đi
Khí tr
i u ut hn chia ly
Ít nhi
u thiếu n bun không nói
T
a ca nhìn xa, nghĩ ngi gì?
Từ khi tuổi vừa chớm yêu đương, tôi đã có những nỗi buồn vu vơ khi tiết trời se sắt lạnh, lá bàng rơi trên lối đi về trong thành phố mái rêu phong cổ kính chứng tích của một thuở “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương” (Bà Huyện Thanh Quan).
Trong thơ Chế Lan Viên, ông vẽ nên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thuở vàng son, oanh liệt ngày xưa. Ông có trí tưởng tượng phong phú, tuy nhiên, những chữ ông diễn tả giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét thơ mộng bất ngờ. Chúng ta hãy lắng nghe những lời than thở của tâm trạng não nề đón thu sang:

Chao ôi! Thu đã ti ri sao?
Thu tr
ước va qua mi độ nào!
M
i độ nào đây, hoa rn v
N
ng hng choàng p dãy bàng cao
C
ũng mi độ nào trong gió lng
N
ến lau bng sáng núi lau xanh
B
ướm vàng, nhè nh bay ngang bóng
Nh
ng khóm tre cao rũ trước mành
Thu
đến đây! Ch, mi nói răng?
Ch
đây, bun gin biết bao ngăn?
Tìm cho nh
ng cánh hoa đang rng
Tôi ki
ếm trong hoa chút sc tàn!
(Thu - Chế Lan Viên)
Qua đến câu chuyện tình thu buồn của T.T.KH với những tâm sự não nề ẩn chứa một cách xót xa cay đắng trong những bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Đan Áo Cho Chồng, Bài Thơ Cuối Cùng… đã hơn một thời gây nhiều xúc động trong giới văn học:
…T đấy, thu ri, thu li thu
Lòng tôi còn giá
đến bao gi
Ch
ng tôi vn biết tôi thương nh
Ng
ười y, cho nên vn hng h
…Tôi v
n đi bên cnh cuc đời
Ái ân l
nh lo ca chng tôi
Mà t
ng thu chết, tng thu chết
V
n giu trong tim bóng mt người
…N
ếu biết rng tôi đã ly chng
Tr
i ơi! Người y có bun không?
Có th
m nghĩ ti loài hoa v
T
a trái tim phai ta máu hng?
Tất cả vật chất hiện hữu trong thế gian này sẽ hủy hoại qua thời gian. Chỉ có thế giới siêu tưởng mới là nơi chốn thi nhân hy vọng gởi gấm ít nhiều khổ đau miên viễn. Như trường hợp thi sĩ Đinh Hùng đã đào sâu trong huyệt mộ dĩ vãng, để tìm lại bóng hình yêu dấu của người tình muôn thuở:
…Tri cui thu ri Em đâu?
N
m bên đất lnh chc em su
Thu
ơi! Đánh thc hn ma dy
Ta mu
n vào thăm nm m sâu!
…Em m
ng v đâu
Em m
t v đâu
T
ng đêm tôi nguyn, tôi cu
Đây màu hương khói là màu mt xưa
(Gửi Người Dưới Mộ)
Bốn bề bát ngát buồn hiu hắt, những cành khô khẳng khiu in trên nền trời trắng đục chẳng khác nào bức tranh thủy mạc của thiên nhiên quá tuyệt vời, chỉ có mắt nhìn của nghệ sĩ mới khám phá ra từ ngàn năm tác phẩm vĩ đại đó. Chúng ta không ngạc nhiên đã thẩm thấu trong tâm hồn những nhà văn nhà thơ Thanh Tịnh, Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Thâm Tâm… Và mãi cho đến thời kỳ hậu chiến, chúng ta khám phá càng nhiều hơn những tác phẩm lừng lẫy của thi đàn văn học miền Nam.
Trong cái thế giới ngôn ngữ thi ca đầy mê hoặc của Bùi Giáng, ông đã tạo nên cái sắc thái hòa hợp đầy kỳ ảo thần tình của hai dòng văn học uyên bác Đông Tây trong những thi tập Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Đêm Ngắm Trăng… và hơn hàng ngàn bài thơ ông sáng tác gần nửa thế kỷ, ông như một biểu tượng thiên tài lỗi lạc của văn học hiện đại. Trong số lượng thơ mênh mông đó, mùa thu cũng đã khiêm nhượng xuất hiện bàng bạc trong tâm hồn thi sĩ:

…Phi là nguyt gia đêm rm?
Nguyên Tiêu lãng
đãng lá nm ngn ngơ
K
t hng thy ban sơ?
K
t sơ thy v t v trang?
K
t thu t lên đàng?
R
ng phong thu đã quan san nhum màu?
Ph
i rng đó trước kia sau?
Hay là sau tr
ước còn tao ng gì?
Bước vào cái không khí đầy ảo giác mơ hồ, trữ tình của Nguyên Sa. Thơ tình của ông đã thoát khỏi những băn khoăn, siêu hình. Tình yêu hiển lộng thánh hóa trong một phối cảnh thiên nhiên tuyệt vời của mùa thu kiều diễm:
Tôi đã gp em t bao gi
K
t nguyt bch xung đêm khuya
K
t gió thi trong vng tóc
Hay lúc thu v
cánh nhn kia?
Có ph
i em mang trên áo bay
Hai ph
n gió thi, mt phn mây
Hay là em gói mây trong áo
R
i th cho làn áo trng bay?
Có ph
i mùa thu sp sa v
Hay là gió l
nh lúc đêm khuya
Hay là em ch
n sai màu áo
Để nng thu vàng gia li đi?
Có ph
i rng tôi chưa được quen
Làm sao bu
i sáng đợi ch em
Hay t
ng hơi th là âm nhc
Đàn xung cung trm, mt nh thương
Bu
i ti tôi ngi nghe sao khuya
Đi v bng nhng ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào gi
c mng
Vành nón nghiêng bu
n trong gió đưa
Tôi không bi
ết rng l hay quen
Ch
biết em mang theo nghê thường
Cho nên c
p mt m hư o
C
bn chân tri ch có em
(Tương Tư)
Trong sinh hoạt thi ca ở hải ngoại… Du Tử Lê, nhà thơ được công nhận như một thi sĩ hàng đầu viết về tình yêu hiện nay. Ông có sức sáng tạo phong phú, xuất sắc với nhiều bài thơ ca ngợi mùa thu tình ái, ngôn ngữ mới lạ, phù thủy, lôi cuốn và mê hoặc. Chúng tôi yêu nhất “Bài Nhân Gian Tháng Tám” của ông:

Bui chiu xám ch ngi tôi tháng tám
Em dung nhan nh
ư mt vết dao
Trong trí nh
ca mt người khánh tn
Núi sông ng
ười thoáng chc cũng hư hao
Em m
ười by bước chân vào tháng chp
Hàng cây khô vai g
i lá hai hàng
Đâu s tht cnh đời tôi đã xế
Em
đi qua, ch thc dy điêu tàn
Đêm cao c bàn tay bun, mt lng
Gió m
ưa đi tít tn tri nào
Môi tháng sáu bao dung h
n phiêu bt
Em tin không? Tôi ch
ết ngt ngào
Em b
ước xung cuc đời tôi m đạm
V
i bình minh, mười by vết son tươi
K
khánh tn, cui cùng soi trí nh
Trong bài th
ơ tháng by đã chia hai
N
ếu em biết có ln tôi đã hi
Tôi
đợi ai cui cuc chơi này?
Nh
ư tháng tám đi qua người s khut
Riêng v
ết son còn đỏ nu môi cười
Bài th
ơ nh gói ni su vô hn
Đường chim đi, nghìn dm có ai tìm
Em không th
thì thôi đừng nng, gió
C
i than riêng, tôi đốt mt mình
Đêm tháng tám, ch ngi tôi la cháy
Đến lúc tình yêu được quan niệm sâu xa hơn, vượt thoát ra khỏi những trăn trở khổ đau của định mệnh. Tình thương mới đích thực rộng lớn thăng hoa giữa con người với con người. Đó mới là giây phút hạnh phúc, sứ mệnh giác tha độ lượng của người nghệ sĩ, luôn luôn muốn đề cao cái đẹp vĩnh cửu của tâm hồn.
Giữa cảnh trí tiêu điều mùa thu, một người ở tù nhiều năm trở về thăm lại làng xưa, nhà thơ Tô Thùy Yên đã giữ được tâm bình lặng không gợn chút hận thù vì tâm đã ngộ, chỉ có tình thương mới hóa giải hận thù. Ông đã thẩm thấu triết lý sâu sắc của người phương Đông.

…Ta v cúi mái đầu sương đim
Nghe n
ng t tâm lượng đất tri
Cám
ơn hoa đã vì ta n
Th
ế gii vui t mi l loi
…Ta v
như lá rng v ci
B
ếp la nhân qun m ti nay
Chút r
ượu hng đây, xin rưới xung
Gi
i oan cho cuc bin dâu ny
…Ta v
như hc vàng thương nh
M
t thu trn gian bay lướt qua
Ta ti
ếc đời ta sao hu hn
Đành không tri hết được lòng ta
(Ta Về – Tô Thùy Yên)
Mang tâm trạng của kẻ xa quê hương lúc nào cũng nhớ về cố xứ thân yêu. Nhà thơ Tuệ Nga đã biểu hiện nỗi niềm nhớ nhung trong những thi phẩm. Không ngô đồng mà cũng vọng tưởng như “ngô đồng lác đác” trong lòng khi trời hiu hắt thu sang:
Ngô đồng lác đác báo Thu sang
V
ườn cũ hoa xưa có đim vàng
Khói lo
n bn phương su ngút ngút
Gió cu
ng tám hướng hn mang mang
M
c hoen lòng giy tình ngăn li
Bút
đọng nim thương l vàng?
S
ương tuyết nht nhòa Trăng c độ
Nghe chi
u thế s sóng âm vang…
(Thu Sơ)
Hàng đêm chúng ta nhìn lên bầu trời lấp lánh hàng muôn triệu vì sao, đâu có biết những thiên hà xinh đẹp thơ mộng đó, xa cách chúng ta hàng chục tỉ năm ánh sáng, có nhiều thiên hà đã mất hút từ lâu, hôm nay chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng. Những biến thiên của vũ trụ cũng chỉ là những hiện tượng sắc không, nên thời tiết mùa thu của mỗi năm thường thay đổi. Tuy nhiên, những tác phẩm ca ngợi mùa thu thì vĩnh cửu, vượt thời gian.
Cứ mỗi năm, khi bước chân trẻ thơ rộn rã trên đường đến lớp học hay reo vui với nhịp trống múa lân giữa muôn sắc màu lộng lẫy, của những chiếc lồng đèn thắp sáng mừng đón Tiết Trung Thu, theo truyền thống dân tộc, tâm hồn người xa quê hương cũng xao xuyến bâng khuâng, tưởng nhớ đến những chuỗi ngày thơ ấu trên quê hương Việt Nam thanh bình.
Con đường quen thuộc, buổi sáng đi qua, buổi chiều trở lại như nhịp đập buồn bã của trái tim người lữ khách già nơi nghìn dặm quê người. Giữa những hàng cây thay lá gần hai mươi năm qua ròng rã, miệt mài, thầm lặng. Cũng như sáng hôm nay, chính ta khám phá mùa thu đã hiên ngang trở về, thong thả, bình an theo mây trời hạ xuống nhân gian, từng bước lụa là êm ả đầy quyến rũ trữ tình. Lòng ta cũng rạo rực yêu với thu. Nói thầm với thu sao mà dễ thương quá như thuở ban đầu tỏ tình với em hồn nhiên và trong sáng như hoa cỏ trong khu vườn dấu yêu, nơi một góc trời Đà Nẵng đầy thơ mộng.
Nếu hiểu được thời gian và không gian là khoảnh khắc vô thường, thì ta đang ở phương trời nào khác, mùa thu vẫn không bội phản từ trong tâm thức thủy chung với nỗi đau của đất trời nơi cố quận thân thương.

Nhật Tâm
Theo http://forum.trungtamasia.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...