Triệu Từ Truyền - Dòng thơ giữa
đôi bờ tri thức và tâm thức
Triệu Từ Truyền - 50 năm cho cuộc hành trình lịch sử và thơ -
hành trình ứa lệ máu khát vọng nhân văn. 50 năm và giờ anh đang “trước đèn” ở
Thụ triết trang hay đang lang bạt dọc đường gió bụi phù sinh? Nhưng chắc hẳn một
điều rằng những “hồng cầu thơ” vẫn lặng thầm sinh nở từng giây, từng khắc trong
tâm thức anh… (Nguyễn Nguyên Phượng)
1. Cầm tập văn trên tay, “Dòng thơ giữa đôi bờ tri thức
và tâm thức” dậy lên trong tôi nhiều xúc cảm khó tả. Một thoáng đời
mà đã hơn bốn mươi năm. Một buổi chiều bức bối, ngột ngạt ở một xóm nghèo
Phú Nhuận - Sài Gòn năm 69 của thế kỉ trước trên chiếc đi-văng sờn gỗ trong căn
nhà của gia đình thuê lại, anh đọc tôi nghe mấy bài thơ trong tập “Đêm lên
cơn dài” với bút danh Triệu Cung Tinh. Tôi trở thành bạn thơ của anh
từ buổi chiều đó. Do thời cuộc và sinh kế cũng như khoảng cách địa lý, chúng
tôi ít gặp lại nhau. Nhưng qua thông tin bè bạn, cho dù ở cương vị lãnh đạo cấp
quận thuộc thành phố nhất là từ khi về lại với cõi đi về (Trịnh Công Sơn)anh
vẫn làm thơ, cho in nhiều tập thơ với bút danh mới Triệu Từ Truyền.
Thật là tuyệt, hóa ra anh vẫn nồng nàn hết mực với người tình thơ, tiếp tục sáng
tạo và làm mới thơ ca của mình.
Anh đã chọn Thơ hay Thơ đã chọn anh? Một đời làm thơ và
tập Bình Luận về thơ anh, Triệu Cung Tinh – Triệu Từ Truyền đã có lời
đáp. Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc cũng đã nói về anh như thế “… hai lần nhập cuộc
chơi đã chọn…” kiên định bằng bản lĩnh của một tài năng đẫm “khí chất
lãng mạn.” (Nhập cuộc với chính mình, báo Tuổi trẻ - 3/5/1994). Còn nhà
thơ Đoàn Vị Thượng khi viết Lời tựa cho Tuyển thơ song ngữ (Nxb Trẻ
- 2010) của anh khi trích một đoạn cuối ở bài “Cát Tiên ca”, đã viết: “Ứng
vào anh, con đường thơ của Triệu Từ Truyền cũng: Bắt đầu sinh sôi và kết thúc
cũng sinh sôi? Người thơ này không có tuổi”.
Tất nhiên ta cũng hiểu được đây không phải là tính đếm tháng
năm đời người sinh hạ trong cõi nhân gian mà muốn nói đến con đường thơ - hành trình thơ của Triệu Từ Truyền, hành trình tâm thức suốt dọc một
đời thơ của anh. Tính đến nay đang băng đến ngưỡng “thất thập” (sinh tháng
4/1947), Triệu Từ Truyền đã gởi đến bạn đọc 11 tác phẩm, gồm thơ, tản văn – tiểu
luận, truyện dài và nhiều bài viết mang đậm thể cách, tư tưởng khó nhầm lẫn với
những cây bút khác trên các báo viết, báo mạng có uy tín trong và ngoài nước.
Đó là chưa kể hoạt động sôi nổi làm báo, chủ biên nhiều tạp chí văn học, thơ
ca… của anh.
2. Đánh giá sự nghiệp văn học của một tác gia, các nhà nghiên
cứu, phê bình văn học thường nói đến số lượng cùng tư tưởng,
thông điệp tác phẩm mà người sáng tác cống hiến cho đời, cho nhân loại.
Văn xuôi có đến hàng chục, vài mươi, vài trăm tác phẩm. Thơ có đến hàng trăm đến
hàng nghìn bài, tập thơ đếm từ 2, 3 con số trở lên… Làm sao mà không thán phục.
Bởi đó tim chảy, óc vắt đến kiệt cùng của tài năng sáng tạo, những
người tự nguyện làm nô - lệ - tự - do(chữ dùng của nhà văn Ma Văn Kháng)
cho văn học. Nhưng luật “kiểm định” nghiệt ngã củaThời Gian và Bạn Đọc - Công
Chúng Văn Học nhất là Bạn Đọc, người đồng sáng tạo với tác giả lại đòi hỏi tinh
thể văn chương lắng sâu lâu dài trong con tim, tâm tưởng của họ. Và khi ấy
mới thực sự tỏa sáng những Mặt Trời, những Tùng Bách vĩnh cửu xanh tươi.
Điều đó cho thấy thước đo“ chất lượng” sản phẩm văn học nghiêm ngặt nhất vẫn là “quý
hồ tinh bất quý hồ đa”. Trong chiều hướng ấy ta hãy đến với Tập bình luận về
6 tập thơ, số lượng khiêm tốn nếu không nói là ít ỏi của Triệu Cung Tinh –
Triệu Từ Truyền.
3. Tìm hiểu về cuộc đời của nhà thơ Triệu Cung Tinh – Triệu Từ
Truyền những người yêu thơ anh và các cây bút phê bình văn học đều có chung một
nhìn nhận: “li kì” và dám bứt phá trong đời và cả trong
thơ. Triệu Từ Truyền tên khai sinh là Triệu Công Tinh Trung, sinh ngày
9.4.1947, Sa Đéc - Đồng Tháp. Anh làm thơ và tham gia hoạt động cách mạng ở độ
tuổi còn rất trẻ, 15 - 16 tuổi. Hai lần (năm 1966 và 1971) trải qua chốn địa ngục
trần gian, nhà tù Côn Đảo. Năm 1975, hòa bình lập lại đang làm việc ở cương vị
lãnh đạo cấp quận chưa tròn mười năm (1975 - 1983) thì anh đột ngột “dứt áo
quan trường” để phiêu bồng với thơ, sống chết với thơ!
Nói cuộc đời anh “li kì” có vẻ như mang màu sắc trinh thám mà
phải nói sát hợp hơn là “dữ dội’ như nhà văn Phùng Quán viết về “tuổi thơ dữ dội”
của mình. Từ lúc chào đời, tuổi thơ anh đã nếm trải gian nan. Ấn tượng khó phôi
phai trong tâm trí, tình cảm là chiếc xuồng tam bản dập dềnh trên sông nước. Bởi
ba mẹ anh đều là nhà giáo, tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ chở
theo. Bao bọc tâm hồn trẻ thơ anh là những vần thơ yêu nước, yêu người của Phan
Văn Trị, Tản Đà, Xuân Diệu… và nhất là “không khí anh hùng ca, sống
trong khói bom, đạn pháo và chết chóc ở bưng biền cho đến khi Hiệp định Genève
được ký kết”.(Trả lời phỏng vấn báo Vietnamnet ngày 21.3.2009). Sự tàn khốc
của chiến tranh phi nghĩa, ám ảnh anh ghê gớm, hằn sâu thành nhận thức,
thành ý thức tự nguyện đến với Cách mạng, với phong trào đấu tranh của HS,
SV Sài Gòn, Gia Định ngay khi còn học lớp đệ Tam, đệ Nhị (lớp 10, lớp 11 bây giờ).
Tất nhiên trong anh có dòng chảy dạt dào của truyền thống một dân tộc anh hùng,
của mẹ cha yêu nước, kháng chiến nên đã đặt tên anh theo một câu thơ cổ “tinh
trung báo quốc”. Anh mang tuổi thanh xuân hiến nguyện cho Cách mạng hòa
vào cuộc đấu tranh sục sôi của tuổi trẻ đô thị giữa những dòng kẽm gai, ma trắc,
lựu đạn cay... Anh trải qua những tháng năm đen tối đọa đày trong nhà ngục Chí
Hòa, Tân Hiệp… 6 năm “bầu bạn” với “Hạt trắng hộp sọ bãi Hàng dương Côn đảo”
(Sài Gòn – tôi, Triệu Từ Truyền). Song hành trên bước đường làm Cách mạng
anh vẫn sáng tác thơ ca, vẫn in thơ, vẫn làm báo. Vì nhiệm vụ được giao cũng
có, nhưng thẳm sâu ở anh là tình yêu Thơ ca, niềm đam mê sáng tạo văn học, khát
khao đổi mới văn học. Có đến hai con người trong anh chăng? Khi hồi tưởng về
cái thời anh và bạn “trúng bùa của thi ca”anh cũng từng nói: “… Không
hiểu sao trong tôi chưa bao giờ xung khắc giữa đam mê văn học và hoạt động cách
mạng…” (Tiếc nhớ Nguyễn Tôn Nhan – Triệu Từ Truyền). Nhưng Nguyễn Tôn
Nhan, tức Trần Hồng Nhan được đề cập trên, bạn tri âm của anh và
cũng là người đồng sáng lập nhóm Bộ Lạc Mới năm 1966 lại viết: “…Triệu
Cung Tinh sớm có những hoạt động cách mạng từ những ngày còn học Trung học. Anh
luôn băn khoăn về số phận của đất nước lúc ấy đầy tràn những bóng lính Mỹ. Có lẽ
từ lòng yêu thơ, yêu cái đẹp mà càng ngày Triệu Cung Tinh càng tiến đến gần
cách mạng giải phóng dân tộc chăng? (Chút kỷ niệm thơ với Triệu Cung Tinh - Sài
gòn 7/1991).
Yêu Cái Đẹp, yêu Thơ, tôi cho rằng từ mẩu tâm tình của Nguyễn
Tôn Nhan giúp chúng ta có một nhìn nhận đầy đủ về anh, Tư Truyền - bí
danh thời hoạt động máu lửa “… làm cách mạng luôn là nhiệt huyết tuổi
thanh xuân…” trong lòng địch cùng đồng đội “… chống quân phiệt
đòi dân chủ, thiết lập chính quyền dân sự và đòi quân đội Hoa Kỳ rút quân…”
(Bài phỏng vấn đã dẫn) khỏi miền Nam giành lại Hòa bình, Độc Lập, Tự do
cho Dân Tộc. Anh yêu và chiến đấu vì Tự Do cho con người trong đó có hàng triệu,
hàng triệu đồng bào nghèo khổ của mình, Hòa Bình cho dải đất chữ S mến
yêu là khí trời, tinh túy của Cái Đẹp mà nhân loại trên hành tinh này
đều muốn thụ hưởng. Tôi cho rằng đó là cảm thức nhân văn đã được đắp
nền ở anh, một chủ thể sáng tạo ngày càng vững chắc trên bước đường kiên định
thực hiện hành vi sáng tạo xã hội, hành vi dữ dội (Những chữ qua cầu tâm linh -
Triệu Từ Truyền) trong đời mình: làm cách mạng, chiến đấu vì Cái Đẹp
- Tự Do, Hòa Bình.
4. Năm 1966, anh và những người bạn đã đưa ra tuyên ngôn
trong bài “Ý thức Thơ Bộ Lạc Mới” khá sớm lúc 19 tuổi: “Thơ
là những ngôn-ngữ-cử-động, chứ không phải như ngôn từ xuất phát từ triệu cửa miệng
hàng ngày. Ngôn-ngữ-cử-động có thể chất chứa ý nghĩa hoặc tự nó xuất hiện ý
nghĩa trong tâm trí con người...”. Trên hành trình cầm bút của mình, anh nhọc
nhằn kiên trì sáng tạo thơ ca, làm mới thơ ca chứ không chỉ phát sáng nhất
thời. Nhà văn Cung Tích Biền, một trong những cây bút tiếng tăm của Văn học niền
Nam trước 1975 từng đọc thơ anh viết từ năm 18 tuổi đã vui mừng, sau ba mươi
năm chờ đợi đã tìm thấy nơi anh “một dòng thơ khác”: “… Triệu Từ Truyền đã
ý thức vươn tới, luôn khắc khoải làm mới để triệt để từ bỏ mình, tự hủy để hóa
thân cùng chữ nghĩa…” (Tình trí, thực mộng một cách hồn nhiên thổn thức). Và
tất nhiên ở anh còn có cả một chủ kiến trong công việc sáng tác văn học, đặc
biệt là sáng tác thơ ca. Bằng vốn tri thức phong phú, một chặng đời dài sống
hết mình và cũng viết hết mình (Từ Kế Tường). Anh nghiền ngẫm, vận dụng
có chủ đích kiến thức triết học Đông Phương, Tây Phương, kiến thức Vật lý học
đương đại trình bày chủ kiến về mối tương tác giữa năng lượng tâm linh và
sáng tạo thơ ca qua 21 bài viết trong tập Tản văn và tiểu luận “Những chữ
qua cầu tâm linh”trong mười bảy năm ròng (1991 – 2008). Tiếp nhận, đồng thuận kể
cả phản biện những kinh nghiệm có tính hệ thống này (có thể xem là quan
niệm sáng tác được chăng?) ở giới cầm bút, các nhà nghiên cứu văn học, hoạt động
lý luận văn học nước nhà... xem ra anh và chúng ta phải còn kiên lòng chờ đợi.
Nhưng dù sao đây là nỗ lực tâm huyết đáng trân trọng.
5. Tập văn này với nhiều góc nhìn khác nhau. Những con mắt
xanh của những người yêu thơ anh, những nhà phê bình văn học, những
thi hữu đã thành danh hoặc có vị thế trên văn đàn Việt. Trong đó không ít
người cầm bút đã từng đồng hành qua những thác ghềnh cuộc đời, cùng hít thở “bầu
khí quyển văn nghệ Sài Gòn trong trẻo và hấp dẫn” (Tiếc nhớ Nguyễn Tôn Nhan –
bài viết của Triệu Từ Truyền) đắm say sáng tạo và yêu thích những bài thơ
đầu tiên mấy mươi năm trước của anh cho đến những dòng năng lượng tâm linh
( Sách đã dẫn - Triệu Từ Truyền)chảy thành những câu, chữ - những linh
tự trong những bài thơ, tập thơ mới nhất hôm nay. Mỗi con mắt xanh là
một góc nhìn đồng điệu tri âm. Còn tôi chỉ là một bạn thơ gắn bó với anh bằng mối duyên
tình văn chương bất chợt, chỉ nói thêm đôi điều:
- Ở buổi đầu làm thơ, xúc cảm thơ ở anh đã manh nha một khát
vọng nhân văn như trong bài “Quê hương” anh viết năm 15 tuổi: “…
Chiều chinh chiến ngủ trong lòng/ màu than nhuộm đỏ mấy dòng nước xưa/ mộ con đất
lấp chưa vừa/ nhà hiu quạnh dọn cơm thừa ẩm thiu/ người em mắt rã trong chiều/
người du mục dựng vẹo xiêu mái lều…”
Cảm thức ấy càng lắng sâu, không thôi day dứt trong tập thơ “Đêm
lên cơn dài”. Đương thời, Như Trị người giữ vườn thơ của tuần báo “Văn Nghệ Tiền
Phong” Sài Gòn, số 217 tháng 9 năm 1963 đã nhận ra nỗi ám đó: “...
Những vần thơ chua xót, gợi sầu, thể hiện được tất cả những băn khoăn của tuổi
trẻ giữa thế giới u ám ngày nay”. Ở một người viết khác, nhà thơ Từ Kế Tường (bộ
ba chủ lực của nhóm Bộ Lạc Mới) năm 1966 với cái tên Cung Nhự Thức đã viết một
bài giới thiệu “nồng nhiệt, trang trọng” trên tờ Nghệ Thuật Sài Gòn, đáng chú ý
là đoạn viết về tờ bìa tập thơ thôi cũng gợi ra nhiều điều. “Tập
thơ ra đời trong thiếu hụt chạy bén gót nằm tràn lan để rồi tỉnh bơ khi ra mắt
với cái bìa vội vàng của Trần Hồng Nhan, một gương mặt bầu dục hai cánh tay
xương xẩu với những giọt nước mắt. Bao nhiêu đó có đủ để nói một cái gì đó
không? Hiển nhiên là không…”. (Về một tập thơ bị bỏ quên – Đêm lên cơn dài của
Triệu Cung Tinh). Cũng phải nói đến Nguyễn Lệ
Tuân trên tuần báo Hồn Trẻ - Sài Gòn năm 1967 đã nhiệt tình đồng
cảm với tiếng thơ anh khi đọc các bài thơ “hai tôi”, “tâm trạng”, “nước mắt”:
“… Tôi nằm xuống và lắng nghe hơi thở trong lòng đất: - nước mắt vẫn chảy đều
thành suối, thành sông, thành biển cả. Tôi hình dung Triệu Cung Tinh đi ngược
dòng nước lũ qua thi phẩm Đêm lên cơn dài – một sự thật bi thảm được thể hiện
trong thơ tiếng nói ước vọng của tuổi trẻ một phần đất tang thương”. Và ở cuối
bài viết: “… Tập thơ Đêm lên cơn dài mang hành trang vì đã thắp sáng dồn nén
trong bóng tối…”.
Những dòng cảm xúc của những tác giả của thời xa xưa, những
người cùng độ tuổi 18 - 20 đang sống ở giai đoạn phần đất tang thương – miền
Nam đang ngập tràn bóng tối là những cảm nhận chân thực về thơ anh. Tiếng
thơ anh là tiếng thơ tranh đấu trải dài trong tập Đêm lên cơn
dài, nhất là thi phẩm Bài thơ bắt đầu được viết nên bởi một thanh
niên đang nhiệt huyết dấn mình trong lửa đỏ đấu tranh cách mạng với cách thể hiện
rất riêng, rất mới.
- Nhưng phải chăng nên tìm đến căn cơ tâm thức của
chủ thể sáng tạo, đó là cảm thức nhân văn bên cạnh tinh thần
tranh đấu trong thơ Triệu Từ Truyền thời ấy. Bởi ở bài thơ Bé thơ Sơn
Mỹ, bài thơ viết về cuộc thảm sát hàng trăm đồng bào ta do một trung đội lính Mỹ
gây ra ngày 16/3/1968 tại làng Sơn Mỹ, Quảng Ngãi, ký tên Lê Dân đăng trên tuyển
tập thơ “Ta đã lớn lên bên này Châu Á” (Triệu Từ Truyền, người viết
bài thơ Sơn Mỹ - Nhà báo Lê Văn Nuôi). Uất nghẹn hờn căm và thúc giục kêu
gọi hành động, mà phải hành động ngay là lẽ đương nhiên: “Sơn Mỹ, vết
thương đau nhức từng giây/ Ta không đợi một giờ hay chiều tiếp/ Phải hành động
ngay mới còn cứu kịp/ Những mẹ già, em nhỏ phút giây này”. Tuy vậy vẫn
khác rõ với kiểu giọng thơ khẩu hiệu mà ở đây ẩn chứa nỗi đau đớn trước những
mầm sinh linh bị hủy diệt bên cạnh những xác mẹ, xác bà. Tội ác và bản
chất phi nghĩa bị phơi bày đến tận cùng qua một loạt hình ảnh chạm đáy tình
người cả những người Mỹ tiến bộ lúc đó trên đất nước có tượng
đài Nữ thần Tự do sừng sững cũng phải lên tiếng nói! (một năm sau, bài “Bé
thơ Sơn Mỹ” đã được dịch ra tiếng Anh với tựa “Child of My Lai” đăng
trong tuyển tập thơ “We Promise one another” (Chúng tôi cùng ước nguyện),
được xuất bản tại Mỹ bởi The Indochina Mobile Education Project-Wasshington, D.C.-1971) (
Bđd – nhà báo Lê Văn Nuôi)
“… Bé sinh ra như mới được trổ mầm/ Nhờ nhựa sống của thân
cây dân tộc/ Bé nào biết ông cha là rễ gốc/ Nào có hay bà mẹ là nhựa đường/… Bé
có ngờ đâu mấy chục triệu người thương/ Chúng giết bé như diệt mầm cổ thụ...”.
“… Lời vĩnh biệt, nhưng không là lời sau hết/ Vì các bé
sẽ sinh nhiều nữa, nhiều hơn/ Sẽ lớn lên như Phù Đổng để trả ơn/ Cho cả dân tộc
không sờn lòng nuôi bé/ Như cổ thụ muôn đời sừng sững thế/ Những mầm xanh sẽ trổ
rậm trên cành…”
Trở lại với tập thơ Đêm lên cơn dài, nhiều tác giả trong
tập bình luận gặp nhau ở điểm chung chọn, trích dẫn những bài thơ mà anh bày tỏ
những ưu tư đầy dằn vặt về thân phận tuổi trẻ “bị lưu đày trên chính quê
hương mình” (Thơ và sự lương thiện – Nguyễn Miên Thảo), đang tồn tại một
kiếp người tang thương, không mùa xuân, không mặt trời, hiện tại, tương lai bị
đánh cắp… (bài thơ cho hôm nay, người và thành phố, xứ nóng, chưa tới, tâm trạng,
nghĩ tới em, hai tôi, khóc, nước mắt, tù 1, 2, 3…). Cảm thức nhân văn, khát vọng
nhân văn là dòng cảm xúc chủ đạo của tập thơ, ngay cả khi anh thể hiện chủ
đề tình ái, tình yêu. (chia xa, em sang năm, tỏ tình, dòng tóc, khu vườn,
mưa, hoang mang…)
… tôi không muốn gieo điêu tàn sỏi đá
nên nỗi buồn tuyệt vọng đã sinh sôi
thành mặc cảm giữa lòng đời man trá
chỉ tình yêu còn biết thở trong tôi…
(khu
vườn)
… khuất em trong mắt đuối mềm
hay tình yêu rụng đầy thềm hoang vu
cánh hoa máu giữa mịt mù
anh xuôi thân thế hoài u tủi hờn
(hoang mang)
… anh đấu tranh giữa giọt sáng trong mây
thì xương máu thì em thành con nước
đất mềm dẻo mọc tóc rừng xanh mướt
phải không em mưa nắng của miền nam
(tỏ tình)
và còn nhiều nữa…
- Năm 2011, trong hồi ức về bài “Bài thơ bắt đầu” mà
anh tặng năm 1969, một kỷ niệm nhỏ, đẹp và khó quên, tôi có nhận xét
về thơ của anh, “… Thơ phải đến với đời bằng một diện mạo mới, lắng sâu
giá trị nhân văn trong tứ thơ, trong từng con chữ sản sinh từ hồn thơ ray rứt,
đau đáu với đời không thôi”. (Triệu Từ Truyền và Bài thơ bắt đầu, Nguyễn Nguyên
Phượng). Cảm nhận này chắc hẳn chưa bao quát con người thơ, một tư
duy sáng tạo thơ chưa bao giờ thôi tiến về phía mời gọi của nghệ thuật thi ca.
Hay nói về anh một cách chí tình như “cô gái Huế”, bạn thơ đồng niên thời được
gởi tặng tạp chí Bộ Lạc Mới năm 1965, “... thơ là hơi thở của anh, không
có thơ Truyền chết. Thơ đã bức tử anh để cho anh một cuộc sống khác đầy hân
hoan, thống khổ trong hạnh phúc.
Nếu không có thơ, không mê đắm thơ, anh phải đi con đường khác không lối quay về…” (Bđd- Nguyễn Miên Thảo). Và tôi cũng rất thích cách dùng chữ của nhà thơ Đoàn Vị Thượng khi lấy điều sở nguyện bi tráng của Boris Pasternak để nói về hành trình thơ của anh, Triệu Từ Truyền, “Làm thơ đến tận cùng đâu phải chuyện chơi” (Bđd). Định vị từ tập Đêm lên cơn dài (1965) anh gởi đến người yêu thơ các thi phẩm Bên dòng Măng Thít (1986), Dật dờ trong sương (1990), Mảnh vỡ hồn nhiên (1994), Va chạm hư không (1999), hai tập Tuyển thơ song ngữ (2001 và 2010) và mới đây là Lục bát Triệu Từ Truyền. Nếu tính từ năm 1962, sáng tác bài thơ “Quê hương”, anh đã trải đời, đắm hồn vào cõi huyền hoặc thi ca 50 năm!
Nếu không có thơ, không mê đắm thơ, anh phải đi con đường khác không lối quay về…” (Bđd- Nguyễn Miên Thảo). Và tôi cũng rất thích cách dùng chữ của nhà thơ Đoàn Vị Thượng khi lấy điều sở nguyện bi tráng của Boris Pasternak để nói về hành trình thơ của anh, Triệu Từ Truyền, “Làm thơ đến tận cùng đâu phải chuyện chơi” (Bđd). Định vị từ tập Đêm lên cơn dài (1965) anh gởi đến người yêu thơ các thi phẩm Bên dòng Măng Thít (1986), Dật dờ trong sương (1990), Mảnh vỡ hồn nhiên (1994), Va chạm hư không (1999), hai tập Tuyển thơ song ngữ (2001 và 2010) và mới đây là Lục bát Triệu Từ Truyền. Nếu tính từ năm 1962, sáng tác bài thơ “Quê hương”, anh đã trải đời, đắm hồn vào cõi huyền hoặc thi ca 50 năm!
50 năm cho cuộc hành trình lịch sử và thơ - hành trình ứa lệ
máu khát vọng nhân văn. 50 năm và giờ anh đang “trước đèn” ở Thụ
triết trang hay đang lang bạt dọc đường gió bụi phù sinh? Nhưng chắc
hẳn một điều rằng những “hồng cầu thơ” vẫn lặng thầm sinh nở từng
giây, từng khắc trong tâm thức anh. “Bằng tài năng và liên tục sáng tạo
ngôn ngữ bằng tâm thức, bằng chính nghiệp thơ của mỗi người được dòng năng lượng
tâm linh chuyển tải…” (Sđd - Triệu Từ Truyền), anh vẫn “chiến đấu” vì
Chủ nghĩa Nhân văn mang hồn cốt minh triết phương Đông cho nền Văn học Việt
Nam.
6. Tập bình luận Triệu Từ Truyền - Dòng thơ giữa
đôi bờ tri thức và tâm thức đầy đặn với hơn 30 bài viết của những cây bút có
tầm và có tâm gần xa các vùng miền đất nước, yêu mến soi rọi từ nhiều phía
tri thức, nhiều chiều thấu cảm về 50 năm - hành trình thơ Triệu
Cung Tinh - Triệu Từ Truyền.
Còn tôi chỉ là một người bạn thơ, yêu thích thơ anh từ 40 năm
về trước và giờ đây, muốn là “con mắt xanh” khi đến với thơ anh, một
đời thơ luôn bỏng cháy khát vọng đổi mới thơ mình và truyền lửa đổi mới
Thi ca.“… Thơ là luôn lập kỷ lục mới, là tinh thể kim cương, thơ còn tỏa sương
sớm bao quanh độc giả. Hơi sương ấy có thấm vào da thịt nhiều ít là tùy lớp áo
dày mỏng của khách thăm vườn thơ” (Sđd - Triệu Từ Truyền).
Chỉ mong tôi và nhiều, có thêm nhiều khách thăm vườn thơ
thấm vào tâm hồn hơi sương đồng điệu theo cách nói khá lý thú của anh về mối
quan hệ tri âm giữa bạn đọc và thơ ca. Mong là được như vậy…
TT Gia Ray - TP.HCM, đầu năm 2013
NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét