Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác

Nguyễn Huy Thiệp và
một chiến lược kể chuyện khác

Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc xoáy bốc lên cao, mở ra một nghệ thuật mới, làm choáng váng, ngất ngây độc giả.
Nguyễn Huy Thiệp không hoàn toàn là con đẻ của Đổi mới, mà Đổi mới chỉ là ngọn gió nâng cánh Thiệp lên cao. Nhưng, công bằng mà nói, đôi cánh Thiệp cũng quạt gió trở lại, góp phần làm cho Đổi mới thành một phong trào. Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc xoáy bốc lên cao, mở ra một nghệ thuật mới, làm choáng váng, ngất ngây độc giả. Bí quyết đó nằm ở một chiến lược kể chuyện khác, mà 10 năm nằm ở Tây Bắc anh đã thai nghén, chờ đến khi về Hà Nội thì sinh đẻ.
Chiến lược kể chuyện cũ, đang thống ngự xã hội, là sự đối lập giữa hai thế giới: một đang suy tàn, mạt thế và một vừa ra đời, khởi nguyên. Từ đó, như một hệ quả, nảy sinh những “đối lập con” như xưa – nay, cũ – mới, xấu – tốt, ác – thiện, kẻ gian ác – người anh hùng, kẻ thù – người đồng chí… Từ đó, câu chuyện kể phải có đầu có đuôi, mang tính nguyên vẹn, nhân vật được kể phải trắng đen rõ ràng, thậm chí nhất phiến cũng được. Từ đó hình thành “nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”. Nguyên lý sáng tác này bành trướng và chiếm hữu toàn bộ thực tại làm cho văn học trở nên nghèo nàn. Câu chuyện có thể khác nhau, cách kể có thể khác nhau, nhưng nếu tinh ý đều có thể quy về một chiến lược kể chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng cứ kể nữa đi.
Câu chuyện của Nguyễn Huy Thiệp không còn nguyên vẹn nữa, mà là một tập hợp những mảnh vỡ. Có sự xáo trộn giữa xưa – nay, huyền thoại – đời thường, xấu – tốt, thật – giả, quỷ ở với người, nửa ma nửa người… Bởi vậy phần lớn các nhân vật của Thiệp đều nhòe mờ, khó phân biệt tốt xấu, chính diện phản diện. Họ đều mang sắc độ trung gian, ở giữa các ranh giới, sắp vượt qua một giới hạn nào đó, tóm lại là đang – là.
Có thể thấy, chiến lược kể chuyện này trong vĩ mô tổng thể truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, như các truyện cổ tích Những ngọn gió Hua Tát, truyện huyền thoại Con gái Thủy thần, Chảy đi sông ơi, truyện giả lịch sử Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ, truyện đương đại như Những bài học nông thôn, Huyền thoại phố phường, Không có vua, Tướng về hưu… cũng như vi mô từng truyện ngắn của anh. Ở đây, để làm rõ điểm này, xin phân tích sâu một đôi nét trong Tướng về hưu và Vàng lửa.
Tướng về hưu kể câu chuyện tướng Thuấn, cả đời sống trong binh nghiệp, quen với mọi giá trị quân nhân, nay về hưu sống trong gia đình đông đúc đang thay đổi theo kinh tế thị trường. Không chỉ xung đột ngôi thứ, tôn ti trật tự trong nhà, mà cả xung đột giá trị. Xin dẫn ra đây một ví dụ. Đây là cảnh tướng Thuấn tặng quà cho mọi người trong mắt của con trai và con dâu: Cha tôi cho mỗi người trong nhà bốn mét vải lính. Ông Cơ và cô Lài (bố con người giúp việc – ĐLT) cũng thế. Tôi cười: “Cha bình quân!”. Cha tôi bảo: “Đấy là lẽ sống”. Vợ tôi bảo: “Cả nhà đồng phục thì thành doanh trại”. Mọi người cười ồ.
Trong cái thời buổi “loạn cờ” (chữ của Nguyễn Huy Thiệp – ĐLT) ấy, con người bị tha hóa đến mức không còn biết mình có là người nữa không. Ở một đoạn, ông Bổng (em trai tướng Thuấn) nói với chị dâu: “Chị ơi, chị có nhận ra em không?”. Mẹ tôi bảo: “Có”. Lại hỏi: “Thế em là ai?”. Mẹ tôi bảo: “Là người”. Ông Bổng khóc òa lên: “Thế là chị thương em nhất. Cả làng họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Ông Bổng được xem là người dở người. Chỉ có người dở người mới dám trung thực đến mức trơ trẽn với bản thân như vậy.
Không thích nghi nổi với cuộc sống đời thường, ông Thuấn bỏ nhà ra đi, trở về với đời sống quân ngũ: Trước khi lên xe, cha tôi lấy trong ba lô ra một quyển vở học sinh. Ông đưa cho tôi. Ông bảo: “Trong này cha có ghi chép ít  điều, con đọc thử xem”. Hai đứa con gái nhỏ của người con, với sự ngây thơ của đứa trẻ trong truyện cổ Bộ quần áo của hoàng đế của Andersen đã bóc trần cái sự thật mà người lớn ai cũng biết nhưng không nói ra. Cái Mi, cái Vi chào ông. Cái Mi hỏi: “Ông đi ra trận hả ông”. Cha tôi bảo: “Ừ”. Cái Vi hỏi: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông?”. Cha tôi chửi “Mẹ mày! Láo!”
Tướng về hưu gây một chấn động lớn. Được dựng thành phim. Nhưng trước đó đã bị Đào Vũ vứt vào sọt rác, sau được Nguyên Ngọc moi ra. Đọc xong truyện này, Nguyễn Khải muốn đánh đổi cả đời viết của mình để có được một Tướng về hưu. Thay đổi chiến lược kể chuyện tuy không phải là không thể, nhưng phải trả giá, có khi bằng cả cái tướng về hưu của mình.
Vàng lửa là sự đối lập giữa hai nhân vật Nguyễn Du và Gia Long. Họ đều là những khối nguyên liệu vô giá, những bảo vật quốc gia, Nguyễn Huy Thiệp mượn lời của Phăng để đánh giá họ. Nguyễn Du nổi bật ở lòng tốt và nhân cách, yêu nhân dân mình, không đứng cao hơn họ, không hưởng thụ cao hơn họ. Nhưng đứng trước ngã rẽ lịch sử thì lòng tốt của ông là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai. Còn nhân cách ấy thì có giá trị gì khi cuộc đời thực của ông xúi xó, túng kiết. Trong khi ấy thì Gia Long là một khối cô đơn khổng lồ, bởi ông đứng cao hơn cộng đồng của mình do tiếp xúc trực tiếp với người Tây, với kỹ thuật châu Âu, với người Thái Lan đang quá trình Âu hóa. Bởi thế Gia Long hiểu cộng đồng của mình, đời sống cộng sinh của họ, đóng trò rất giỏi trong triều đình và sẵn sàng mang đất nước của mình ra làm sàn diễn.
Sau khi chiến thắng Tây Sơn, thống nhất được đất nước, Gia Long đứng trước cơ hội cách tân theo con đường của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản. Bởi, ông có rất nhiều nhân vật kỹ trị phương Tây đi theo, có lực lượng tham gia người Hoa, người Việt ủng hộ, có tầng lớp dân chủ Nam bộ chống lưng. Nhưng nhà vua chọn lựa trở lại con đường truyền thống, phục hưng Nho giáo bảo thủ cực đoan của nhà Thanh. Như vậy, Gia Long là người có khả năng thay đổi đất nước thì ông đã không làm vì bảo vệ lợi ích của bản thân và dòng tộc. Trong khi đó những người yêu dân, yêu nước như Nguyễn Du muốn làm nhưng lại không có thực lực. Điều này gây ra một bi kịch thời đại: người có thể thì không làm, người muốn làm thì không thể. Và hình như mỗi một khúc quanh xã hội thì bi kịch ấy lại tái diễn như một hằng số lịch sử.
Ngay khi ra đời, Vàng lửa đã gây ra một cuộc tranh luận về sự khác nhau của văn và sử giữa nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân và nhà sử học Tạ Ngọc Liễn. Người này cho rằng đó là tác phẩm văn học, người kia – tác phẩm sử học. Cả hai không nhớ rằng đây là một truyện giả lịch sử, tức vừa là văn học vừa là lịch sử (dù là sử giả), theo nguyên lý bao hàm, chứ không phải hoặc là… hoặc là theo nguyên lý loại trừ. Nhưng quan trọng hơn cả trong Vàng lửa, hay vàng trong lửa, chính là dự cảm lịch sử thiên tài nói trên của Nguyễn Huy Thiệp.
Như vậy, chiến lược kể chuyện của Nguyễn Huy Thiệp không đơn thuần là kỹ thuật, mà chính là nghệ thuật, đúng hơn một cái nhìn nghệ thuật và qua đó, một cái nhìn thế giới. Sâu sắc và mới mẻ, nó làm cho truyện ngắn của Thiệp tồn tại mãi mãi với người Việt Nam hôm nay như một tượng đài nghệ thuật ngôn từ. Kể cả khi ông đã ra đi.
17/5/2021
Đỗ Lai Thúy
Theo https://vanvn.vn/

Dòng văn học hoang tàn của Đức

Dòng văn học hoang tàn của Đức

Dòng Văn học hoang tàn (Trümmerliteratur, tiếng Đức) là một dòng văn học riêng có của một nền văn học lớn – văn học Đức, với 12 nhà văn được nhận Giải Nobel Văn chương. Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn (1945-1950), nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong nền văn chương Đức đương đại.
Các tác giả của dòng Văn học hoang tàn phần lớn là những người lính trẻ bị giam giữ trong các trại tù binh sau chiến tranh hoặc đã trở về quê hương. Vì thế những tác phẩm đầu tiên của dòng văn học này cũng có ở trong các tạp chí của các trại tù binh chiến tranh (ví dụ như tạp chí Tiếng gọi). Thời kỳ văn học đặc trưng này của Đức đã không phát triển từ những truyền thống văn học Đức trước đây, mà tìm những hình mẫu của nó trong các truyện ngắn Mỹ và trong thuyết hiện sinh Pháp. Ban đầu, phần lớn các tác giả trẻ của thế hệ thanh niên này mới bắt đầu sáng tác văn chương và không tiếp tục truyền thống của các mảng Văn học Quốc xã, Văn học di cư nội địa và Văn học lưu vong.
Dòng Văn học hoang tàn kết thúc vào đầu những năm 50, khi nước Đức bắt đầu với công cuộc xây dựng lại và dần dần giành lại chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ (ngày 7.9.1949 Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập và vào ngày 7.10 năm ấy Hiến pháp của Cộng hòa Dân chủ Đức được ban hành), cùng với sự vững mạnh lên của người Đức trong nguồn lực tài chính và xã hội. Ngoài ra cũng phải nhắc đến sự ra đời của Nhóm 47, tiếp đến là nền văn học của Cộng hòa Dân chủ Đức. Từ quãng thời gian này nền văn học hậu chiến Đức để lại dấu ấn chủ yếu qua các nhà văn lớn như Heinrich Böll, Günter Grass, Arno Schmidt và thay thế dòng Văn học hoang tàn.
Đề tài và mô típ của dòng Văn học hoang tàn:
Bọn Quốc xã đã sử dụng tiếng Đức vào việc tuyên truyền và kích động quần chúng. Đồng thời chúng khuếch trương tư tưởng trong ngôn ngữ, vì một số từ nhất định không còn chứa đựng sự cắt nghĩa trung lập được dùng để tuyên truyền cho các giá trị đạo đức quốc xã. Vì thế những từ như “kiêu hãnh”,”dân tộc” hoặc “thuần chủng” bị lạm dụng cho những mục đích tuyên truyền, để việc sử dụng những từ này chỉ còn chứa đựng ý nghĩa quốc xã. Ngoài ra bọn Quốc xã sử dụng những từ mới để tô vẽ, để che giấu và để ca ngợi chuỗi hành động tàn bạo không thể tưởng tượng nổi của chúng. Một ví dụ cho sự tạo ra từ mới của bọn Quốc xã là cụm từ “giải pháp cuối cùng”. Tuy nhiên, cụm từ mới đầu nghe như là vô hại này biểu thị một trong những sự tàn ác xấu xa nhất ở Đế chế Thứ ba (Đức Quốc xã) – cụm từ lóng hàm ý chỉ sự tận diệt người Do Thái – và sau này ở trong các trại tập trung tại châu Âu. Lên án, đả phá ý thức ngôn ngữ này của bọn Quốc xã các tác giả của dòng Văn học hoang tàn muốn đạt được thành tựu cùng với mối quan hệ cũ giữa ngôn ngữ và văn chương. Qua quá trình thanh lọc ngôn ngữ (quá trình thủ tiêu chủ nghĩa Quốc xã) ngôn ngữ đã cần được giải phóng bởi hệ tư tưởng. Cả trên phương diện hình thức lẫn trên phương diện nội dung người ta muốn định ranh giới với những truyền thống văn học cũ và muốn bắt đầu một sự khởi đầu mới. Người ta muốn lịch sử nước Đức bắt đầu lại từ con số 0. Dòng Văn học hoang tàn phản ánh điều kiện sống của con người ở trong các trại tù nhân chiến tranh, trong các thành phố đổ nát và trong các vùng chiếm đóng. Tình cảnh không quê hương, sự phiêu bạt trong một thế giới bị tàn phá và sự sụp đổ của các giá trị đạo đức trước đó là các mô típ của dòng văn học này. Ngoài ra tội lỗi tập thể của người Đức trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai và trong việc tàn sát người Do Thái là đề tài chủ yếu. Trong chiến tranh, bản thân nhiều tác giả là lính Đức và là công dân của Đế chế Thứ ba. Việc viết và mổ xẻ sự luận tội ấy cho thấy quyết tâm của người Đức, không bao giờ cho phép quá khứ ấy lại xuất hiện hoặc làm sống lại.
Bút pháp và thể loại của dòng Văn học hoang tàn:
Các truyền thuyết anh hùng Đức, các thiên sử thi và nền văn học tuyên truyền được coi là những kẻ gọt giũa văn hóa trong Đế chế Thứ ba và là bảo bối. Tuy thế, đến thời kỳ của dòng Văn học hoang tàn phong cách bút pháp dựa vào văn học cổ điển khi thể hiện cũng ít được hoan nghênh, như thể văn thống thiết là phương tiện thuyết phục của lời nói trong thuật hùng biện Hy Lạp. Thực tế cho thấy, văn học nổi trội trước hết qua sự cô đọng, qua lối hành văn sắc sảo và qua một phong cách ngôn ngữ giản dị. Cái gọi là thừa nhận sự thật đòi hỏi ở dòng Văn học hoang tàn là nó phải tả thực và chân thực. Những tác phẩm của dòng văn học này không chú trọng vào việc mổ xẻ tâm lí, và phần lớn bỏ qua việc cắt nghĩa hay đánh giá sự việc. Một thể loại được yêu thích của dòng văn học này là truyện ngắn, vì nó đặc trưng cho một sự khởi đầu tự do, là một sự kết thúc mở và thích hợp cho những cách nhìn từng lớp và chủ quan vào cuộc sống thường nhật của người dân Đức ở thời kỳ này.
Một số nhà văn tiêu biểu của dòng Văn học hoang tàn:
1- Wolfgang Borchert (1921 – 1947). Sự nghiệp sáng tác tuy tương đối ngắn ngủi của ông, bao gồm các truyện ngắn, thơ, kịch nhưng đã làm cho ông trở thành một trong những tác giả nổi tiếng nhất của dòng Văn học hoang tàn.
2- Heinrich Böll, tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 – 1985) là nhà văn và một dịch giả Đức. Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học.
Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
3- Hans Bender (1919 – 2015) là nhà văn Đức và nhà xuất bản. Ông là lính Đức bị bắt làm tù binh ở Liên xô trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2. Sau khi được trả tự do trở về Đức ông bắt đầu con đường văn chương của mình bằng việc sáng tác thơ và truyện ngắn cũng như cho xuất bản cuốn Tạp chí Văn học Konturen, Tạp chí Akzente. Ông cũng là biên tập viên văn học cho Tạp chí Magnum và tờ báo Deutsche Zeitung.
4- Wolfdietrich Schnurre (1920- 1989) là nhà thơ trữ tình và nhà văn lớn của nền văn học Tây Đức thời hậu chiến, ông đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ và đã nhận được nhiều giải thưởng văn học của Đức.
Từ 1950 ông là nhà văn tự do. Năm 1947 ông là đồng sáng lập viên của Nhóm 47 và là thành viên của PEN (là chữ viết tắt gồm những mẫu tự đầu tiên của Poets, Essayists và Novelists (các nhà thơ, nhà viết tiểu luận và tiểu thuyết gia)).
5- Elisabeth Langässer (1899 – 1950) là một nữ nhà văn Đức. Bà thuộc về những nữ nhà văn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Cơ đốc giáo. Một trong những đề tài sáng tác chính của bà là sự xung đột giữa việc sống bản năng giống như quỷ Satan và việc sống giống như các thiên thần. Bà trở nên nổi tiếng trước hết là nhờ những bài thơ trữ tình, các truyện vừa và truyện ngắn của mình.
6- Heiner Müller (sinh ngày 9.1.1929 tại làng Eppen, bang Sachsen; mất ngày 30.12.1995 tại Berlin) được coi là một trong những nhà viết kịch nổi tiếng người Đức của nửa sau của thế kỷ 20. Ngoài ra ông còn là nhà văn, nhà thơ trữ tình, đạo diễn, giám đốc nhà hát và chủ tịch Viện Hàn lâm Nghệ thuật Berlin (Đông Berlin).
18/5/2021
Phạm Đức Hùng
Theo https://vanvn.vn/

Cá nhân phản tỉnh trong trường ca Trần Anh Thái

Cá nhân phản tỉnh
trong trường ca Trần Anh Thái

Tìm kiếm ánh sáng thuần khiết trong tâm hồn chính là nét chủ đạo giúp đưa con người cá nhân phản tỉnh vượt qua bóng tối u uẩn, vươn tới ánh sáng, tự do minh triết. Toàn bộ tinh thần của trường ca Trần Anh Thái, thông qua hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh, vì thế đã khởi cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong luồng ánh sáng có nhiều khúc đoạn thăng trầm, nhiều khi nhuốm màu hoang hoải, thâm u của bóng tối. Trên tất cả, nó vẫn là luồng ánh sáng nâng niu qua nỗi khổ đau của “Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang tan trong làn sương”…
I. Điểm nhìn suy tưởng.
GS Trần Đình Sử, trong tiểu luận Tản mạn về trường ca, viết: “… Mặc dù các nhà thơ Việt Nam đã kiên trì chiếm lĩnh trận địa thơ ca, luôn tìm tòi, sau đợt trường ca năm 70 – 80 với các tên tuổi Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu… đầu thế kỉ XXI lại xuất hiện các tên tuổi mới như Thi Hoàng, Hoàng Trần Cương và gần đây nổi bật lên bộ ba trường ca của Trần Anh Thái. Nhưng nhìn chung, trường ca của chúng ta vẫn còn khá đơn điệu trong hình thức sử thi độc thoại và xâu chuỗi. Tính cách nhân vật trữ tình nội dung cũng đơn điệu, thường là người lính, người chứng kiến chiến tranh, đau thương, mất mát, người yêu Tổ quốc. tư tưởng nhìn chung vẫn tin tưởng, lạc quan, ít có gì gây ấn tượng mới mẻ. Có lẽ chỉ có trường ca của Trần Anh Thái là mới chớm có tình cảm lo âu, bối rối, buồn rầu, thất vọng, mặc dù vẫn giữ niềm tin vào sự sống con người. Có lẽ đó là lần đầu xuất hiện tư tưởng buồn rầu, thất vọng, tự giễu mình trong một nền thơ tràn trề niềm tin và hy vọng chắc nịch…”
Đọc trường ca Trần Anh Thái, mỗi người bằng suy cảm của mình tiếp nhận nó theo những phương thức khác nhau. Xuyên suốt các tập trường ca của anh là điểm nhìn của con người cá nhân luôn tự vấn, tự khơi mở, kiếm tìm Chân giá trị. Nói như chính nhà thơ thì:  Trường ca hiện nay đã bước sang một giai đoạn khác. Nó đào sâu và phát triển vào mọi ngõ ngách của đời sống con người. Nó đa dạng, phức tạp và liên tục biến đổi, nhưng vẫn giữ được mạch ngầm chủ đạo và nhất quán. Trường ca hiện đại hạn chế tối đa cách kể và tả câu chuyện hay sự kiện. Nó tránh mọi sự giải thích dài dòng. Nó cố gắng đi sâu vào đời sống bên trong của con người, tiến sâu vào sự tự nhận thức bản thân; chối bỏ việc phản ánh giản đơn những kinh nghiệm bề mặt,  cái bên ngoài, những diễn biến khách quan. Nó thể hiện rõ tinh thần tự phản biện và nhận thức lại, tìm kiếm bản chất Người, tìm kiếm cái bên trong của con người. Nó là qúa trình phát triển tự thân của nhận thức và nhu cầu sáng tạo.
Tiếp nhận bốn tập trường ca đã in, người đọc đều thống nhất với nhau ở một nhận định: Dấu ấn riêng trường ca Trần Anh Thái trước tiên là ở những suy tư, lý giải về con người. Đó tuyệt nhiên không phải là con người bước ra từ khúc hoan ca chiến thắng, mang vóc dáng lẫm liệt của sử thi, thần thoại. Nhân vật trong trường ca của anh là những con người bình dị của đồng, của đất, của cuộc khẩn hoang, lấn biển, của nỗi bất hạnh trong chiến tranh. Để rồi từ những phận người cụ thể, bé nhỏ, yếu đuối nơi làng biển nghèo, từ gan ruột, trải nghiệm và đau đáu của chính mình mà nhận Chân, kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống. Một nhân vật, một cá nhân được khắc họa với những nỗi đau giằng xé là một câu hỏi, một lời truy vấn về con người, về ý nghĩa  của sự tồn tại, hòng tới gần hơn với bản thể Người.
Chúng ta thường thấy, các tác giả trường ca trước đây hướng về lịch sử bằng cái nhìn sử thi. Trần Anh Thái không theo lối này. Anh dồn hết bút lực vào việc xây dựng cái tôi trữ tình mang đậm cảm hứng đời tư, chứa đựng chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc. Chiến tranh cùng sự hủy diệt đàn áp lên số phận con người, được nói ra bằng ngôn ngữ thơ giàu sức lay động nhất, mang chiều sâu nhân bản: “Xác quân thù, xác bạn gục vào nhau”…
Cấu thành tác phẩm của mình, Trần Anh Thái đã chọn điểm nhìn của người lính kinh qua chiến tranh, gian khổ, chết chóc. Nhưng, cảm nhận về chiến tranh, về cái chết, tác giả không phân biệt, rạch ròi địch/ ta, đồng đội / kẻ thù mà bày tỏ suy tư về sự sống, về tính Người. Điểm nhìn hướng tới tính nhân loại đưa tác phẩm vượt ra khỏi hạn định của thể chế chính trị mà vươn tới chiều sâu nhân bản cao cả.
Vì lí do đó, chúng tôi đưa ra cảm nhận về điểm nhìn khi tiếp nhận trường ca Trần Anh Thái thay cho lí do khai mở vấn đề. Từ điểm nhìn , chúng ta mở ra tác phẩm.
II. Cá nhân phản tỉnh
Hình tượng con người được khắc họa đậm nét và xuyên suốt các tập trường ca của anh là con người độc lập –  những cá nhân tự khai mở, thoát khỏi lối mòn nhận thức. Bằng chính số phận mình cùng hi vọng, nỗi đau, thất vọng, không ngừng tìm kiếm ánh sáng anh minh. Con người trong trường ca Trần Anh Thái nỗ lực không ngừng để tiến gần hơn tới việc xác lập, nhận Chân giá trị của cuộc sống, hòng đi sâu tìm hiểu bản ngã của chính mình. Khảo sát, kiến giải bộ bốn trường ca của Trần Anh Thái gồm: Đổ bóng xuống mặt trời, Trên đường, Ngày đang mở sáng, Mỗi loài hoa một mặt trời cho chúng ta thấy rõ nhất hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh cùng thông điệp tác giả truyền tải qua hình ảnh này.
Xét nội hàm văn bản có thể thấy con người cá nhân phản tỉnh trong trường ca Trần Anh Thái được khắc họa với diễn tiến của hành trình nhận thức để tới gần hơn với tính Người.
Con người đi tìm Chân giá trị
Khái niệm con người cá nhân phản tỉnh mà chúng tôi đưa ra ở đây được hiểu theo nghĩa: con người nhận thức lại các giá trị trong cuộc sống, xác lập lại những căn cốt trước đây anh ta coi như một chuẩn mực, như giá trị thiêng liêng phải được tuân thủ, tôn thờ. Nhưng với sự phát triển ngày càng cao của nhận thức, con người tự giải mã lại những gì đã được xác lập trước đó, phản tỉnh để nhìn nhận đúng bản chất của những hiện tượng mà lâu nay còn nhiều khuất lấp.
Chúng tôi chia sẻ với nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn trong bài viết bàn về trường ca rằng: “.. Chúng ta có những trường ca hay, sôi động về chiến tranh cách mạng, nhưng thiếu những trường ca suy tưởng trầm lắng về quá trình khai sáng của dân tộc Việt với những hành trình vượt qua khổ đau, bất hạnh, tối tăm.  Sáng tác của nhà thơ Trần Anh Thái ( cụ thể là bản trường ca Ngày đang mở sáng), không chỉ là bản huyền ca về thân phận cộng đồng trong dòng chảy khốc liệt của lịch sử khai sáng mà còn là bản huyền ca cảm động, ngợi ca niềm khao khát văn minh văn hóa hằng cháy đốt ngàn năm trong thẳm sâu tâm thức Việt”. Cùng  với nhận xét trên, đọc trường ca Trần Anh Thái, không thể không khẳng định rằng chân dung con người cá nhân phản tỉnh được khắc họa rõ nét, mang chiều sâu nhân bản. Đó là những con người đã trải qua biết bao thăng trầm của cuộc sống, bước ra từ trong chiến tranh, sống những ngày đầu tiên nước ta đổi mới, rồi chứng kiến sự phát triển của cuộc sống  vật chất cũng như mặt trái của nó. Họ – những con người đi qua cuộc chiến, trải nghiệm nhiều hi sinh, mất mát đang nhìn lại mình, lí giải chính mình.
Nhận thức về chiến tranh, giải mã ý nghĩa của sự tồn tại, sự sống và cái chết. Bằng ngôn ngữ, hình ảnh thơ, tác giả đã khắc tạc rõ nét hình tượng con người cá nhân dịch chuyển vừa đớn đau, vừa minh triết cùng sự vận động của ánh sáng (ở đây là chiều kích văn minh, văn hóa). Ánh sáng, nỗi đau đớn, thức tỉnh tràn qua bóng tối của thân phận cộng đồng, thứ bóng tối bí ẩn và u uẩn trong đền thiêng, cõi lặng. Nỗi ám ảnh về chiến tranh là âm hưởng chủ đạo, đè nặng lên thân phận cá nhân phản tỉnh. Tất cả nhằm sáng rõ khẳng định rằng: Chiến tranh không phải là sự thúc đẩy tiến trình xã hội. Nói một cách xác đáng nhất thì  chiến tranh chính là mồ chôn cuộc sống.
Nói cá nhân phản tỉnh nhưng anh ta không hiện diện như một cá thể đơn lẻ, dị biệt. Anh ta đại diện cho một thế hệ ở vào thời điểm không thể quên trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Đó là những người lính nông dân ra đi từ làng quê nghèo ven biển. Khối tình cảm nguyên sơ, trong trẻo, đẹp đẽ với con người, với làng quê, với đất nước được họ mang theo trong hành trang nhập ngũ. Nơi chiến trường ác liệt, chứng kiến máu chảy, cái chết, họ nhận  rõ hơn ai hết sự vô nghĩa của chiến tranh. Nhưng, không chỉ có vậy, với một cá nhân trong những năm tháng khốc liệt thì để nhận Chân sự thật là một hành trình nhiều màu sắc mà gam màu trầm buồn chiếm dung lượng áp đảo.
Cá nhân phản tỉnh – anh lính nông dân trước chiến tranh  mang tâm trạng phơi phới lạc quan ra trận. Với con người ấy, dấn thân vào chiến trường là sự xông pha, là nhiệt huyết của tuổi trẻ: “Tuổi mười bảy mộng mơ trích máu cổ tay dạt vào cuộc chiến/ Giấc mơ đi làm Người/ Đất nước như vầng trăng đầu thu ru mình bên biển biếc”. Nhưng, hiện thực bên dưới vầng trăng thu không êm đềm chỉ có “Người đổ sấp/ Mặt bạn tôi bê bết máu chiến hào” .Hiện thực tàn khốc tự kéo theo nó câu hỏi đòi được trả lời chân xác: “Ai hoan ca, ai mỗi ngày gióng lên điệu khèn trên mỗi xác người”.  Hỏi, đáp để tự vấn, tự soát xét: Bao con người, bao số phận bị đẩy tới lò lửa chiến tranh? Không tham chiến, không gián tiếp hay trực tiếp gây ra cái chết cho một đồng loại khác, họ liệu có thể trở về?
Khép lại trang thơ, tự trong chúng ta cùng nảy sinh câu hỏi: Có hay không sự lựa chọn khác trong chiến tranh? Câu hỏi vang lên và được giải đáp ngay sau đó. Chiến tranh là cuộc đấu chỉ có hai con đường,  “chiến tranh không có con đường thứ ba”. Hoặc sống, hoặc chết nên ai cũng cố giành giật sự sống về cho mình. Dù xuất phát điểm khác nhau thì tới lúc này, họ cũng nhận ra  bất luận vì lí do gì thì chiến tranh cũng chỉ mang đến hủy diệt, nhấn chìm thế giới trong trạng huống bi thương “Nhân loại đau buồn trong mọi cuộc chiến tranh”
Nhận thức đó được minh chứng từng giây, từng phút trước cá nhân phản tỉnh. Tham chiến, tận mắt chứng kiến đồng đội hy sinh, chứng kiến cái chết của cả những con người phía bên kia chiến tuyến, nhiệt huyết ngày đầu tòng quân ít nhiều nguôi vợi. “..Bây giờ trung đội về nơi tập kết / Cơn mơ mê sảng/  Có đứa khóc cười / Có đứa gọi nhầm tên đồng đội / Đứa thức ngồi ôm mặt khóc dưới cây. ( Đổ bóng xuống mặt trời)
Sự thay đổi cảm xúc, tâm thế của con người trước và trong chiến tranh được khắc họa thông qua điểm nhìn, qua quá trình nhận thức của người lính trẻ. Đối mặt với thực tế, cá nhân đó đã nhận thức ra nỗi đau mà chiến tranh để lại không chỉ riêng cho mình mà còn cho cả nhân loại là không thể xóa bỏ.. Nó là những vết thương không bao giờ lành đối với những người đã từng sống và chiến đấu trong những tháng ngày đó. Bước ra khỏi chiến tranh, con người cá nhân không thể trở về vẹn nguyên. Độ lùi của thời gian, trả giá của hi sinh, mất mát càng giúp anh ta nhìn nhận rõ mình hơn.
“Ngày ấy chúng ta đi ước vọng tràn trề/ Khát tự do như người khát khô trên sa mạc/ Tuổi mười bảy mơ hồ trung thực/ Ước một khoảng trời bình yên che chở mẹ ta/ Bông cúc dại cánh đồng ngày ấy nở vàng hoa/ Tia nắng nhẹ miên man hương đất/ Chúng ta đi trong tình yêu niềm hoan ca có thật/ Không do dự chần chừ không toan tính/ Số phận nhọc nhằn năm tháng thương đau”
Nếm trải mất mát, khốc liệt của chiến tranh. Nhân sinh quan nơi con người cá nhân mở rộng khỏi biên giới ta – địch. Máu đổ, cái chết, những con người hai bên chiến tuyến đối diện với nhau, với chính mình, nghĩa là đối diện với quan hệ sống – chết của con người  với con người. Chính trong ứng xử với thế giới đồng đẳng ( người với người) này, cá nhân phản tỉnh được nghĩ, được nói tiếng nói của mình – tiếng nói của bản ngã, của tính Người không vụ lợi, toan tính.
Đối diện với thân phận cá nhân, trường ca Trần Anh Thái vì thế không là bài ca hân hoan với chiến thắng, không là trang văn đanh thép, lên án, hằn thù mang danh giai cấp, lợi ích. Trên tất cả, nó là nỗi truy vấn, lí giải về sự vô nghĩa  của chiến tranh – thảm họa do chính con người gieo giắc lên cuộc sống của mình mà chưa hề có dấu hiệu thuyên giảm. Nhiều câu thơ, đoạn thơ xuất thần như những lời thì thầm từ vô thức chất chứa bao đớn đau.
“Cái chết/ Bom vùi lấp mặt/ Mặt trời lấp mặt/ Xác quân thù xác bạn gục vào nhau” “ Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết xếp hàng cái chết tiễn đưa nhau” “ Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước/ Kéo hoàng hôn rã rời/ Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Nước mắt tạc vào gió thổi ngàn sau”…
Dù kẻ chiến thắng hay kẻ thất trận, tạm ngưng tiếng súng, nơi chiến trường khốc liệt, họ hơn ai hết cảm nhận sâu sắc về sự tối nghĩa của chiến tranh, về thương tích chiến tranh “ tạc vào gió thổi ngàn sau”
Hòa bình, trở lại làng quê nơi mình đã ra đi, người lính không tìm về được chốn bình yên, xoa dịu. Trái lại, anh ta chạm vào muôn tầng đớn đau khác:
Hàng xóm khăn tang đứng nép góc đườngHàng xóm mái nhà sương rơi ướt đẫm / Bão không về sao áo gối nhàu ra/  Hoa vô cớ rụng giữa ngày chẳng gió?Trăng sáng chi vằng vặc chỗ không người ? Giấc ngủ tôi quay vào bóng tối/ Những chiếc gai đinh găm phía đầu giường…
Ngay trong ngày trở về cùng tiếng khèn chiến thắng, người lính gặp  không khí tang tóc bao trùm làng xóm. Nỗi đau chồng lấp nỗi đau. Không khí tang tóc nơi làng quê yêu dấu khác nào không khí , cảnh tượng nơi chiến trường họ đã chứng kiến. (Nhập nhoạng người / Nhập nhoạng trắng / Những thân hình bó trắng / xác  chết chồng xác chết đợi ngày mai ) – Ngày đang mở sáng –
Không phải là cái nhìn tự vấn của những cựu binh sau cuộc chiến, càng không phải bản nhạc trong dàn thanh âm của lời kêu gọi xóa nhòa mọi thù hận. Cao hơn tất cả, nó là sự trưởng thành của cái tôi phản tỉnh, của tư duy thi ca tuân theo sự dẫn dắt của chiều sâu nhân bản. Người lính, cá nhân trong bản trường ca không mơ hồ về sứ mệnh của chính mình trong cuộc chiến. Anh ta hiểu một cách sâu sắc rằng “chiến tranh không có con đường thứ ba”. Trước sinh mệnh cá nhân, mọi cuộc chiến đều trở nên vô nghĩa.
Ở một khía cạnh khác, tiếp nhận tác phẩm trường ca Trần Anh Thái, người đọc còn nhận ra tinh thần giải thiêng. Giải thiêng là để nhận thức lại một qui luật phổ biến và là một việc làm đương nhiên của mọi thời đại dựa trên cơ sở lịch sử xã hội… Xuyên suốt bốn tập trường ca, tinh thần này vang lên, bật ra từ cõi thẳm sâu trong tâm hồn nhà thơ: “ Làng trước biển sóng rền bão tố/ Người đứng lên đổ bóng xuống mặt trời” “ Không có vùng sáng nào độc quyền/ Chúng ta bị dối lừa trong lời tụng ca rối rắm, giấc mơ vấy đục/ Gã hề lăng xăng sàn diễn u mê “ Không ai độc chiếm hào quang/ Những sinh linh bé bỏng yếu mềm dựng lên gương mặt trần gian/ Chúng ta bước lên kiêu hãnh” “Những ảo vọng cuồng mê ý chí uy quyền?/ Gió than thở cây rừng vật vã/ Về cái chết sinh linh những người vô tội/ Tên họ cao hơn mọi tôn giáo lễ nghi!” “ Hãy cởi bỏ áo khăn màu mè niềm tin giả dối/ Và thắp sáng tình yêu thuần khiết con Người”…
Tinh thần giải thiêng được cảm nhận ở đây không phải được tác giả chủ định triển khai hòng tạo hiệu ứng lạ hóa cho tác phẩm. Cùng với sự vận động mang tính logic trong tư duy, cá nhân phản tỉnh không tìm được câu trả lời có ý nghĩa cho sự tồn tại của chính mình. Sự thôi thúc, khao khát kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống khiến anh ta hướng sự vận động tư duy ra phía ngoài mình, hướng tới mối quan hệ với thế giới siêu đẳng ( con người với thế giới tâm linh, thần thánh). Vì thế mà liên tiếp các câu hỏi nảy sinh.
“Phật ở đâu gương mặt xanh xao đứa bé đánh giày”/ “Phật ở đâu giữa cõi chúng sinh/ Nơi cuộc sống lầm than chua xót”
Câu hỏi vang lên đầy nhức nhối, Phật ở đâu? Đấng linh thiêng tối cao ở đâu khi những con người lầm than cơ cực kia đang phải chịu đói rét đau khổ, khi mà họ cần được người chở che bao bọc nhất. Hỏi để khẳng định: Phật không ở đâu khác, không phải ở tàn hương khói tỏa, cũng không phải ở đỉnh trời xa hút, Phật ở  ngay trong ta, ở chính mỗi con người. “Phật ở đây tàn hương khói tỏa mờ/ Trên pho tượng đỉnh trời xa hút/ Phật ở đôi mắt người trong suốt/ Người ở trong ta ta ở trong người”
Tinh thần giải thiêng nảy sinh nhằm mục đích gì? Câu hỏi đưa chúng ta vòng trở lại các bản trường ca. Cùng với sự phát triển tư duy của cá nhân phản tỉnh, hình ảnh độc giả bắt gặp nhiều hơn cả chính là hình ảnh về một con đường. Khảo sát riêng tác phẩm Ngày đang mở sáng, chúng ta đã bắt gặp hình ảnh: con đường không tên ; con đường ký ức ; con đường kiệt sức ; con đường đêm tối ; con đường mất dấu ; con đường đầy bất trắc ; con đường nhọc nhằn gai bụi ; đường quành quèo dốc đứng ;  máu khô đường mòn….vv
Có thể nói, cùng với suy nghiệm về con người, cá nhân phản tỉnh đi tìm Chân giá trị. Tất cả theo cảm hứng tìm kiếm con đường mới, đợi chờ ánh sáng khi bản thân cá nhân đó từng có lúc sa lầy trong  tăm tối, hẫng hụt, đau đớn thể xác, tinh thần đã giúp sáng tác của Trần Anh Thái trở nên khác biệt. Toàn bộ trường ca của trần Anh Thái, nói theo cách nói của Đỗ Minh Tuấn chính là dòng cảm hứng, dòng ý thức truy nguyên, băng qua đầm lầy kí ức của cộng đồng để khai phá một lối đi tâm linh cho sự tái hiện lịch sử cộng đồng qua tâm trạng cá nhân. Hiện thực tàn khốc cùng vùng văn hóa tâm linh khiến trường ca Trần Anh Thái mang nhiều dư vang.
Con người giải mã chính mình
Truy nguyên nguồn cội và giải mã chính mình là đặc điểm của cá nhân phản tỉnh. Các nhân vật trữ tình trong bốn trường ca này cũng không ngoại lệ. Bằng chính cuộc sống, âu lo và mất mát, không ngừng đi tìm lại mình, giải mã chính mình. Vì thế, trong trường ca Trần Anh Thái, bên cạnh thế giới hiện thực được tái hiện theo chiều dài lịch sử của buổi dựng làng, tiến biển, mở đất rồi chiến tranh, loạn lạc còn một thế giới khác của tâm tưởng. Ứng xử của con người với thế giới  siêu nhiên được khắc họa, mang theo nó những ẩn dụ sâu xa. Những cá nhân – nhân vật trữ tình đặc biệt đi sâu, tìm về bản thể.
Càng tìm kiếm, càng lý giải thì càng đưa con người cá nhân trở về với hiện thực. Toàn bộ tinh thần của anh ta vì thế mà đi sâu vào từng ngóc ngách nỗi đau, nhu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân. Đó là nỗi đau của người cha, người mẹ khi mất đi những đứa con thân yêu nhất của mình: “Mẹ như chiếc áo nhàu rơm/ Cha không còn sức đưa em về nghĩa trang dòng họ/ Mẹ mấy năm liền nước mắt gối đêm”.    Hiện thực và huyền ảo là hai yếu tố tương hỗ nhau trong trường ca Trần Anh Thái. Cảm quan về lịch sử, về những suy nghiệm cuộc sống con người  đã trở thành đặc điểm cuốn hút trong sáng tác của anh.
Vây bủa con người cá nhân là nỗi đau. Nỗi đau sinh ra từ chiến tranh, đeo bám anh ta cả khi hòa bình. Buông cây súng nhưng không thể  buông bỏ nỗi ám ảnh về nó. Với thương tổn tinh thần, người lính sau chiến tranh đối diện với mặt trận khác. Mặt trận của những mưu sinh tủn mủn, với nỗi lo lắng cơm áo gạo tiền:  “Con thơ đói sữa/ Nắn túi quay đi/ Ròng ròng nước mắt/ Bầu trời cong hình một lưỡi câu”/ Nỗi đau ấy chỉ biết giấu vào đêm:“Hòa bình lánh mặt / Nước mắt giấu đêm”
Chủ thể nhận thức với chồng chất cô đơn, với tâm trạng hoài nghi, hoang mang, bất an, mộng mị, càng cố minh định những bí ẩn của cuộc sống quanh mình thì càng rơi vào bế tắc. Nhưng, cá nhân đó không ngừng đối thoại, không ngừng kiếm tìm ánh sáng của cuộc sống – thứ ánh sáng đưa anh ta tới gần hơn với tính nhân loại, tính Người. Vì thế mà trong khoảng sinh hữu hạn của mình, cá nhân ấy đã không hoài, không uổng phí. Ý nghĩa của sự nhận Chân phải trả giá bằng mất mát, tổn thương, hy sinh nằm ở chỗ : Bằng vào nhận thức, vượt lên nỗi đau, cá nhân phản tỉnh đã nỗ lực để có thể chạm tay vào vùng sáng anh minh của chiều sâu nhân bản. Thứ ánh sáng giúp họ tự đưa mình ra hỏi bóng tối hoang hoải, thâm u.
Nỗi buồn, sự cô đơn là cảm xúc chủ đạo nơi cá nhân phản tỉnh. Nhưng, nỗi buồn ấy, sự cô đơn ấy không chỉ là nỗi niềm khép kín của nhân vật trong bản trường ca. Nó được mở rộng về phía nhân loại nói chung trên hành trình khám phá chính mình. Ánh sáng thuần khiết của chiều sâu nhân bản không lụi tắt, ngay cả khi đối diện với sự thật : “ Không có gì là tôi nơi đây, không có gì thuộc về tôi ở thế giới này…”  
Hành trình nhận thức của cá nhân phản tỉnh cũng chính là sự mới mẻ về nhận thức, lý giải con người trong các trường ca của Trần Anh Thái. Nó được coi là điểm dấu mốc, là nét gạch đầu tiên, đặt nền móng cho sự chuyển mình, đổi mới của thể loại trường ca khi đi sâu khai thác những tầng ẩn sâu trong đời sống con người. Tiếp nhận trường ca Trần Anh Thái vì thế người đọc không nhất thiết phải bám vào tác phẩm theo mạch chuyện từ đầu chí  cuối. Mở ra một trang sách, hòa nhập vào thế giới ưu tư của cá nhân phản tỉnh ở bất kì cung đoạn nào trên hành trình nhận thức về chiến tranh, bạn cũng gặp những tư tưởng mang giá trị căn cốt.
Con người giải mã cuộc sống
Cùng với nhu cầu giải mã chính mình đã nảy sinh nhu cầu tìm hiểu, lí giải, nhận thức cuộc sống xung quanh. Con người cá nhân đó đã thấy gì sau hào quang thắng trận? Ngoài nỗi đau, thương tích của chính mình, anh ta còn chứng kiến nỗi đau của những chị, những mẹ nơi hậu phương đã im tiếng súng: “Má Mừng về quê cũ/ Nhà không đất không/ Cánh đồng ẩn đầy bất trắc/ Sông Vệ nhòa nhòa sương/ Gương mặt chồng và năm đứa con/Tàn nhang rơi lạnh”.
Nỗi ám ảnh của chiến trang hiện hữu trong đời sống thực và không buông tha cá nhân phản tỉnh dù anh ta ở chiều kích nào của không gian, thời gian. Nó ám ảnh, giày vò trong cả những giấc mơ: “Đêm mơ/ Người lính Bắc năm xưa chập chờn xanh rớt/ Chị bóc hộp đường phèn/ Cổ khô nấc nghẹn/ Anh vẫy tay bước đi/ Rất xa…/Rất xa…/Rất xa…”
Giấc mơ trở đi trở lại trong các bản trường ca. Giấc mơ nâng đỡ, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cá nhân phản tỉnh. Nó không chỉ điểm mặt, gọi tên nỗi ám ảnh thường trực trong đời sống tinh thần. Nó còn hiển lộ kỳ vọng. Vì thế mà dù xuất hiện trong cõi ảo mộng, nó vẫn khắc họa rõ nét hình ảnh mang tính biểu tượng của tiềm thức. Chính nó, cái giấc mơ đẹp đẽ, cái giấc mơ đau đớn, đầy ám ảnh lại là sợi dây bền vững đưa cá nhân đó tới tự do. Tự do được hiểu theo nghĩa xác lập ý nghĩa của sự tồn tại, sự sống. Chính nó giúp cho con người không chai lì, trơ đá khi đối diện với hiện thực mưu sinh, với nhân tình thế thái muôn màu, nhiều góc khuất: “ Tôi phóng túng thả những con tàu cất giấu trong mơ / Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.”
Chiến tranh lùi xa, sống trong thời bình, nghĩ về chiến tranh, cá nhân phản tỉnh nhìn đâu cũng thấy những ẩn ức tinh thần: “.. Người ta mua hương hoa viếng người thân trong nghĩa trang liệt sĩ / Nén nhang chị thắp trời không..”
Nếm trải nỗi đau của mình, của người, con người cá nhân với thân thể, trái tim mang đầy thương tích, bước lơ ngơ trong cuộc hòa nhập vào cuộc sống thường. Với thương tích găm sâu ấy, anh ta vẫn phải tồn tại, vẫn phải tiếp tục bước vào cuộc chiến hòa nhập để sống, để mưu cầu hạnh phúc. Nhưng, cuộc chiến không tiếng súng xem ra không hề dễ dàng, đơn giản: “Bán buôn lóng ngóng/ Cơm bữa ăn đong/ Ao vườn ruộng sản/ Đóng khung giữa trời” (Ngày đang mở sáng)
Chứng kiến sự đổi thay của xã hội, lóng ngóng hòa nhập với nó và chua chát nhận ra sự phụ thuộc, bất lực của con người trước sức mạnh của đồng tiền. Tiền làm nên công lí, tiền làm nên quyền uy cho con người. Không chỉ vậy, tiền còn làm khuấy đảo cả cõi tâm linh. Tiền trở thành thứ quyền uy vạn năng: “Tiền u uẩn cõi người tiền tàng hình trong công đường nhà sếp/ Tiền chen chân tinh quái chiếc ghế bọc nhung/ Đồng tiền uốn gập lưng trước uy quyền ngông ngạo/ Tiền ẩn giữa giọng người tiền hóa âm thanh ngữ điệu/ Tiền khuấy động tâm linh phủ mờ tượng Phật/ Tiền trò chơi dơ bẩn nhóm, phe…” (Mỗi loài hoa một mặt trời)
Tồn tại, mưu sinh, đối diện với các mối quan hệ, anh ta gặm nhấm sự bất ngờ, đau đớn khi đồng tiền làm tha hóa nhân cách của con người. Một người đau ốm, với những “đồng tiền rách rưới tựa vào nhau” được đưa vào viện chẳng ai đoái hoài. Địa phận của từ đức, cứu người chỉ có “gương mặt lạnh/ Tiếng la hét và lời nguyền rủa”   Nét phác họa mảnh, nhỏ đã hoàn tất nhiệm vụ của nó khi biểu đạt suy cảm của cá nhân phản tỉnh trong cuộc sống sau chiến tranh.
Trong hành trình phát triển nhận thức, băng qua chuỗi ký ức tràn ngập bóng tối của thân phận cộng đồng, một cách tự nhiên nhất, con người với thân thể và trái tim mang nhiều thương tich ấy vẫn cảm nhận được thật rõ ràng “sự sống sinh ra sau cái chết già/ Không có đại lộ trần gian/Không có bữa tiệc nào dọn sẵn/ Ánh sáng nâng niu qua nỗi khổ đau”
Xây dựng hình ảnh cá nhân phản tỉnh đau đáu nỗi niềm chiến tranh, đau đáu nỗi niềm trước sự vô cảm của con người trong đời sống kinh tế thị trường là sự chảy trôi cảm xúc, sự thúc đẩy quá trình nhận thức của nhân vật mà trong bản trường ca và trong chính tư duy người sáng tác.. Nhân vật trong  trường ca Trần Anh Thái vì thế nhiều khi hoang mang, vô vọng trước  việc kiếm tìm hạnh phúc cũng như xác lập ý nghĩa của sự tồn tại, sự sống “ Hạnh phúc thật con người? / Mơ hồ đêm tối ..” ( Ngày đang mở sáng).
Nhưng, dù có lạc lõng, bơ vơ, chìm trong đêm tối mơ hồ thì cá nhân ấy vẫn nỗ lực không ngừng hòng đi tới miền ánh sáng . Ở tận cùng đớn đau, anh ta không ngừng tự đưa ra khuyến dụ minh triết dành cho chính mình: “Hãy bước ra con ơi!/ Biển trước  mặt con tàu đi vô hạn/ Sấm sét giông rền sóng ngầm lốc xoáy/ Thì con ơi!Có thể tàu con sẽ lẫn trong đêm tối/ Nhưng  hãy tin ở cánh tay mình và chớ  ngả nghiêng cần lái…/ Ở nơi tận cùng ánh sáng hừng lên” (Mỗi loài hoa một mặt trời)
Khắc họa chân dung cá nhân phản tỉnh, mang sự vận động mạnh khỏe trong ý thức, hướng tới giá trị nhân bản  bằng cái nhìn siêu thoát, chính là mấu chốt làm nên thành công của trường ca Trần Anh Thái cũng như dấu ấn sáng tạo riêng anh.
III. Dấu ấn riêng của trường ca Trần Anh Thái
Trải nghiệm với tạp văn, truyện ngắn , tiểu thuyết…vv trước khi đến với trường ca.. Hành trình sáng tác của Trần Anh Thái cũng chính là hành trình kiếm tìm và khai  mở chính mình. Với anh, viết là đi về phía Con Người. Là Trên đường đi vào cùng tận cõi lòng, chiều sâu thân phận Con Người. Người nghệ sĩ trong hành trình sáng tác đi tìm lời giải đáp về ý nghĩa của cuộc sống là điều không mới mẻ. Cũng đi tìm ý nghĩa  của sự tồn tại, của con người trong thế giới của các mối quan hệ, nhưng Trần Anh Thái trong các bản trường ca không phát triển mạch cảm xúc theo các thân phận để từ đó khắc họa, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất thuộc về tính Người. Con người phản tỉnh trong trường ca Trần Anh Thái không chăm chăm nương vào các sự kiện lớn hòng đưa ra một phát ngôn đại diện cho lớp người thuộc cùng thế hệ, cậy vào thực tế mà mình đã kinh qua.
Sự khác  biệt nằm ở chỗ nhà thơ trong cách nhìn, cách đánh giá, lý giải về con người, về lịch sử luôn đặt cán cân đối trọng ở cả hai phương diện: con người cá nhân – con người nhân loại. Nhờ thế mà tiếp nhận nó, người đọc nhận ra tính phổ quát thuộc về Con Người. Bi kịch cá nhân song hành cùng bi kịch lịch sử. Thông qua số phận của người lính, của con người cụ thể với thân phận nhỏ nhoi nơi làng biển Đồng Châu là bóng hình của thời đại, của nhân loại trong hành trình sinh tồn, không ngừng vận động từ tăm tối tới ánh sáng của hi vọng, của tự do, của sự sống. Nói một cách rõ ràng thì trong các sáng tác của mình, Trần Anh Thái luôn hướng tri thức của ngòi bút về việc giải mã tính Người. Vì lẽ đó, mọi mưu toan tiếp nhận thơ ca bằng cách đưa về các khái niệm hiện thực, nhân đạo hay yêu nước một cách thuần túy đều dẫn đến những kiến giải sai khác.
Thơ trường thiên vẫn được người sáng tác hiểu với tư  cách của một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự hoành tráng. Trường ca Trần Anh Thái có theo lối này? Ghi nhận đóng góp của Trần Anh Thái cho thể loại trường ca, chúng ta có thể chỉ ra rất rõ những dấu ấn cụ thể ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
Đổi mới về nghệ thuật:
Vượt ra khỏi khuôn mẫu, hạn định chật hẹp, trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời”,  “Trên Đường”,  “Ngày đang mở sáng” hay “ Mỗi loài hoa một mặt trời “ đều được thể hiện tổng hợp của nhiều hình thức diễn đạt khác nhau. Khi thì là câu thơ, khi là một giấc mơ, khi là một đoạn văn xuôi, khi là những đoạn đối thoại ngắn như một đoạn đối thoại của kịch. Nghĩa là, một cách thể hiện đa thanh, đa sắc.
Người đọc, bằng nội hàm văn bản, có thể thâu tóm trình tự thời gian được triển khai trong trường ca Trần Anh Thái theo diễn tiến của bố cục trước, trong và sau chiến tranh. Nhưng, thời gian tuyến tính đó không nương bám vào các biến cố trọng đại, nó nương bám vào dòng kí ức. Ở đây là những kí ức của đời thường với những nỗi niềm rất nhân bản mà chính anh đã tham gia. Cái kí ức rớm máu trong trái tim người đang chịu đựng nó. Vì thế, chiều dài, bề sâu của bản trường ca là chiều dài và bề sâu tâm trạng, tư duy mang đầy tính phản tỉnh. Phản tỉnh để thức tỉnh, để tránh cho chính mình không rơi vào hào quang vô cảm: “.. Vô cảm tiếng cười, vô cảm ánh nhìn nhau…”
Như vậy, đóng góp mới về mặt nghệ thuật của trường ca Trần Anh Thái nằm ở chỗ:  Trường ca cũ thường viết theo kiểu kể và tả câu chuyện có đầu cuối, lớp lang, chú trọng vào yếu tố tự sự, trong đó có sự kết hợp nhiều thể loại thơ truyền thống như lục bát, ngũ ngôn, thơ bốn câu…
Trong các trường ca của Trần Anh Thái,  người đọc có thể dễ dàng nhận thấy rất rõ lối viết chủ yếu dựa vào tri giác với những trải nghiệm của chính cá nhân tác giả cùng những tưởng tượng và ký ức… Các trường ca của anh chối từ cách kể câu chuyện theo kiểu lớp lang rù rì cùng các biến cố lịch sử trọng đại. Cấu trúc trường ca của anh thường đan xen giữa hiện thực và huyền ảo, giữa hiện tại và quá khứ, không tuân theo một khuôn khổ có sẵn.
Đọc trường ca Trần Anh Thái (tác phẩm Ngày đang mở sáng), PGS-TS Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét xác đáng: “… Đóng góp thực sự của Trần Anh Thái đối với thể loại trường ca nằm trong cách tổ chức cấu trúc bề sâu. Nhà thơ như loại bỏ hầu hết các yếu tố kể, tả để ưu tiên cho tâm trạng dẫn đường. Đến với Ngày đang mở sáng, người đọc bị dẫn dụ vào một thế giới đầy khắc khoải, nhiều lúc thâm u…… Ngôn ngữ thơ Trần Anh Thái được chọn lọc kĩ càng nhưng vẫn hết sức tự nhiên bởi đó là những con chữ chân thực nhất của một trái tim nhạy cảm đầy suy tư. Trước Trần Anh Thái, các tác giả khác như Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo… cũng có những đoạn miêu tả tâm trạng sâu sắc. Tuy nhiên, trong Đường tới thành phố hay Mặt đường khát vọng… tâm trạng thường gắn liền với sự kiện. Còn trong Ngày đang mở sáng, Trần Anh Thái đã lấy tâm trạng để miêu tả tâm trạng”.
Với cả bốn tác phẩm của mình, Trần Anh Thái sử dụng duy nhất là thể thơ tự do, đồng thời đan xen nhiều đoạn thơ văn xuôi, nhiều đoạn độc thoại, đối thoại, thậm chí là những đoạn đối thoại như kịch, nhưng cuốn hút, không nhàm chán do có cách viết , cách thể hiện thơ tự do và thơ văn xuôi hiệu quả, tạo ấn tượng mạnh. Về ngôn ngữ, Trần Anh Thái đã sử dụng biện pháp phá vỡ cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt, nhằm tạo hiệu quả cảm xúc cao : Ngọn lửa xa xôi đôi mắt con thơ/ Người tựa vào đôi mắt ấy dò tìm / Run rẩy vịn qua tháng năm gầy mòn yếu ớt  (Ngày đang mở sáng)
Đọc trường ca Trần Anh Thái, chúng ta đều thấy rất rõ  sự khổ công tìm tòi về ngôn ngữ khiến cho những hình ảnh thơ vừa mới thoáng ngân lên đã lưu bám trong tâm trí độc giả. Xin được đưa ra hình ảnh “ nụ cười bươm tả” làm dẫn chứng cho nhận định này. Theo phân tích của tác giả Kiều Nga  thì: “Trần Anh Thái đã ghép hai tính từ “rách bươm” và “tơi tả” để tạo nên tính từ kép “bươm tả”. Bản thân “rách bươm” và “tơi tả”, nếu đứng độc lập đã gợi hình ảnh đến gai người, đến kinh ngạc. Nó làm cho người ta liên tưởng tới sự nghèo hèn, khổ hạnh, tan tác và tuyệt vọng: đôi khi chỉ cần nghe qua đã thấy nổi da gà, xa xót về một nỗi niềm đau thương mất mát. Từ ghép “Bươm tả” kết hợp ghép từ, ghép nghĩa thì  nó đã cho người đọc một mỹ cảm mới. Nó không chỉ là sự khổ công trong sáng tạo nghệ thuật, thái độ không chịu chấp nhận thói quen nhàm cũ mà giá trị thực sự của văn học còn là khả năng làm ra cái mới, cái chưa ai làm. Ở đây cụm từ “Bươm tả” đã cho người đọc một thay đổi, trong cách tiếp xúc với những loại văn bản có nhiều dụng công tìm tòi, một cách hiểu mới về nghĩa của từ”.
Đổi mới về nội dung:
Chiến tranh và những hệ lụy luôn ám ảnh và chi phối trong các sáng tác của Trần Anh Thái. Viết về chiến tranh, các tác giả trước anh thường bày tỏ niềm hân hoan, kiêu hãnh và đôi khi là sự háo hức, lạc quan quá đà của người ra trận chỉ biết có xông tới và chiến thắng. Nhân vật trong trường ca Trần Anh Thái khi là những con người cụ thể, khi là những con người vô danh. Người lính trong “Đổ bóng xuống mặt trời” khi trở về sau chiến tranh không là những khúc hoan ca mà là “ Giấc ngủ tôi quay vào bóng tối/ Những chiếc gai đinh găm phía đầu giường/Có gì đó như đang vỡ/ Tiếng bom rơi xé rít chân trời… Là người em gái khóc đẫm tà nước mắt, là hàng xóm khăn tang đứng nép góc đường. Là ngọn đèn kỳ vặn nhỏ và câu chuyện rầm rì của người làng. Là người chị héo hon đi tìm hài cốt chồng, là giỗ tết đi mua hương hoa về thắp trời không vì không biết ngày tháng anh hy sinh. Là ông Hác thương binh ba lần sinh con ra đều chết yểu. Tấm huy chương của ông Tạng cất vào ba lô thi thoảng lấy ra xem như người ngớ ngẩn, sống dở chết dở, điên khùng…Ngay cả trong tập trường ca có tên gọi chứa đầy niềm hân hoan là “Ngày đang mở sáng”, tác giả đã không chỉ viết về những con người ở “ Phía bên này cuộc chiến” mà còn viết cả những nhân vật ở “ Phía bên kia cuộc chiến”. Viết về thân phận họ, về cái chết của họ và những nỗi bất hạnh, mất mát, đau thương mà những người thân yêu của họ phải gánh chịu. Điều này cho thấy, tính Người trong trường ca Trần Anh Thái  luôn hướng đến giá trị nhân bản, tuyệt không phải là một khái niệm cao siêu, trừu tượng.
Các tác giả trường ca trước đây rất ít viết về những người “ bên kia cuộc chiến”… Nếu có thì dứt khoát là “Ta tốt địch xấu” một mô típ khá quen thuộc, một chiều… Hướng đến ứng xử nhân bản của con người với nhau, trong các sáng tác của Trần Anh Thái, vì thế, hướng tới sự tôn vinh những con người giản dị bình thường. Cá nhân phản tỉnh đi tìm chân giá trị, giải mã chính mình và giải mã cuộc sống. Anh ta bắt đầu từ không gian đầu tiên mà mình xuất hiện – không gian làng. Không gian làng cùng hành trình đi tìm Chân giá trị, giải mã chính mình và giải mã cuộc sống nơi cá nhân phản tỉnh khiến sáng tác của Trần Anh Thái vì thế không là những khúc hoan ca, không là những lời hô hào, khoa trương nhân danh cộng đồng ở khía  cạnh chung chung. Đi sâu vào chiều tâm linh, tìm kiếm bản thể, tìm kiếm cõi Người. Nhân vật trữ tình đối thoại với chính mình , với sinh tử để nhận ra sự chua xót của hiện thực chiến tranh tàn khốc: “Những cái chết mơ hồ/ Những cái chết chẳng thể nào cất lên tiếng nói/ Những cái chết muôn đời thua cuộc/ Trong trò chơi tạo hóa đặt bày (Mỗi loài hoa một mặt trời)…
Bằng các sáng tác, nhà thơ Trần Anh Thái đã tuân thủ tuyên ngôn nghệ thuật mà mình đặt ra và lấy nó làm kim chỉ  nam cho hoạt động sáng tạo:  Trường ca  là tiếng nói của chủ thể, của tự do thuần khiết, của bản chất Người chứ không phải là tiếng nói của một phía. Ở đây con người hiện diện và được nhìn nhận, soi chiếu dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau chứ không phải con người chỉ được phác họa từ một điểm nhìn duy nhất…. Kết luận về dấu ấn riêng của trường ca Trần Anh Thái có thể gói trong nhận định rằng: Nhân vật trữ tình trong các bản trường ca trước Trần Anh Thái, là những con người bình thường được tôi luyện trong chiến công, kỳ tích phi thường mà trở thành Thánh nhân. Nhân vật trữ tình trong trường ca Trần Anh Thái là những con người bình thường trải nghiệm trong đớn đau, trong luồng ánh sáng tự do trong suốt để trở về với con người bản thể…
IV. Khi sáng tác chạm tới cõi Người
Đọc bộ bốn trường ca, người đọc đều  cảm nhận rất rõ cảm hứng chủ đạo chính là cảm hứng Trên đường, là khát vọng kếm tìm và khai mở. Song song với tâm thế kiếm tìm, khai mở của nhân vật trữ tình – cá nhân phản tỉnh là tâm thế của chính tác giả. Cùng chung nhận định với chúng tôi, nhà thơ Dương Kiều Minh từng khẳng định: Bắt đầu từ khát vọng ra đi tìm kiếm nguồn cội, chân lý đến sự bừng thức. Tất cả được xây dựng với tâm thế an nhiên, tự tại. Rồi từ đó, cảm hứng trường ca đột nhiên vút lên, bứt khỏi những riêng tư, đời thường, hữu hạn để vươn tới cái tuyệt đối, vĩnh hằng. Tâm thế Trên đường là tâm thế có tính đại diện chung cho con người trên hành trình tìm về bản thể, giải đáp những câu hỏi về số phận, về cuộc đời. Mạch tự sự vì thế cũng trở nên gọn gàng, thoáng đãng hơn, đem tới cho người đọc một cảm giác nhẹ nhõm. Đấy là cái nhẹ nhõm của xúc cảm siêu thoát, ở giây phút đốn ngộ chân lý sau hành trình nỗ lực đi và kiếm tìm.
Nói về thể loại trường ca mà mình đã lựa chọn như một sự phù hợp với tạng tính sáng tác, nhà thơ Trần Anh Thái chia sẻ: Trường ca Việt Nam từ Đẻ đất đẻ nước cho tới nay vẫn là một dòng chảy kéo dài không ngưng nghỉ. Và tôi nghĩ, con đường của nó sẽ là vô tận vô cùng, không có dấu hiệu ngưng nghỉ và mãi mãi không ngưng nghỉ, bởi khi con người còn tồn tại thì thơ ca – trường ca còn tồn tại. Chỉ có sự khác nhau trong  cách thể hiện, bởi thời đại khác đi đương nhiên hình thức và nội dung cũng khác đi, nhưng bản chất thì bất di bất dịch: Đó là hướng tới đời sống tinh thần thuần túy của con người.
Đi vào chính mình, tìm kiếm bản ngã trong nỗi ám ảnh về con người chính là yếu tố làm nên diện mạo thi ca Trần Anh Thái. Nói như tiến sĩ Đỗ Thu Thủy thì: …Từ trước tới nay chưa có trường ca nào nỗi day dứt về con người lại ám ảnh thường trực như trong các trường ca của anh. Từ những thân phận bé nhỏ, cụ thể, yếu đuối, lam lũ trong hành trình dựng làng, khởi đất (Đổ bóng xuống mặt trời) đến những số phận, cuộc đời trong hành trình kiếm tìm và giải mã về số phận người lúc Trên đường, cho tới những con người đang hướng về Ngày đang mở sáng, với những dáng vẻ khác nhau… thảy đều hướng tới cõi Người. Có thể thấy ở những trường ca này, những bi kịch cá nhân luôn tồn tại song hành cùng bi kịch lịch sử. Thông qua những số phận ấy, người ta thấy hiện lên dáng vẻ, bóng hình của dân tộc, của thời đại, của nhân loại nói chung trong hành trình tồn sinh và không ngừng khai sáng.
Khắc họa rõ nét chân dung con người cá nhân phản tỉnh với nhiều nỗi niềm, ưu tư về mình, về giá trị của cuộc sống, mà trên hết là tính nhân văn cao cả với nghệ thuật nhiều tìm tòi, đổi mới là những gì chúng ta ghi nhận ở trường ca Trần Anh Thái. Nhưng, khổ công tìm tòi, đổi mới không hẳn là đích đến cao nhất. Trong một trao đổi về thơ, Trần Anh Thái bày tỏ: “… Với tôi, tự do thuần khiết chính là bản chất của thơ… Chúng ta sinh ra và lầm lũi đi trên con đường có niềm vui sướng tận cùng và nỗi đau khổ lắng sâu. Chúng ta bị cuộc sống ép buộc. Trên con đường ấy, đôi khi ta bắt gặp một vài mảnh vỡ của Thiên đường nhưng ngay sau đó lại là vực thẳm. Chúng ta càng đi càng bước vào mê cung lầm lẫn nhiều khổ đau và không ít khi tuyệt vọng. Chính trong những khoảnh khắc hạnh phúc tận cùng và nỗi đau khổ tận cùng ta có được sự tĩnh tâm. Chỉ ở trạng thái này ta có được tự do thuần khiết. Khi bạn nhìn bầu trời vào một sáng mùa thu trong suốt không một gợn mây, bạn sẽ thấy bầu trời sâu và cao như nó vốn có, nhưng nếu bạn nhìn bầu trời vào một ngày có nhiều mây, bạn sẽ thấy bầu trời chật hẹp, thấp và gần hơn. Ở đây có một cái gì rất gần với sự sáng tạo. Nếu ở trạng thái trong suốt, trạng thái của tự do thuần khiến, người sáng tạo có nhiều cơ hội để đến được với bản chất của sự vật, đến được với bản thân mình, đến được với thơ. Tất cả chúng ta phải thừa nhận rằng, khi văn học nói được những điều thẳm sâu nhất của con người, thì nó trở thành sản phẩm quí giá…
Tìm kiếm ánh sáng thuần khiết trong tâm hồn chính là nét chủ đạo giúp đưa con người cá nhân phản tỉnh vượt qua bóng tối u uẩn, vươn tới ánh sáng, tự do minh triết. Toàn bộ tinh thần của trường ca Trần Anh Thái, thông qua hình ảnh con người cá nhân phản tỉnh, vì thế đã khởi cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong luồng ánh sáng có nhiều khúc đoạn thăng trầm, nhiều khi nhuốm màu hoang hoải, thâm u của bóng tối. Trên tất cả, nó vẫn là luồng ánh sáng nâng niu qua nỗi khổ đau của “Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phía mặt trời đang tan trong làn sương”. Nói một cách rõ ràng hơn thì tinh thần trường ca Trần Anh Thái được kiến tạo từ trong chính bản thể hướng tới tính Người trong luồng ánh sáng của tự do trong suốt. Ánh sáng đó giúp cá nhân phản tỉnh dịch thoát ra khỏi hiện thực giản đơn, tầm thường mà chạm tới tầng ẩn sâu nơi bản thể Người. Đây cũng chính là quy chuẩn làm nên sức nặng của trường ca Trần Anh Thái.
19/5/2021
Nguyễn Hồng Nhung
Theo https://vanvn.vn/

Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận

Cảm thức cô đơn trong
Lửa thiêng của Huy Cận

Cô đơn như một phương cách để thi nhân có thể gặp gỡ và lắng nghe tiếng Con Người luôn hiện diện trong cõi sâu thẳm của tâm linh,  cô đơn để tìm về hoà hợp trong mối giây tương quan và liên đới với nhân loại, và rộng hơn, cao hơn cô đơn để nối sợi dây giao cảm cùng vũ trụ vô biên, vĩnh hằng, tìm về miền thanh tịnh…
1. Sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhiều biến động, cũ mới giao thời, trắng đen lẫn lộn, nhiều giá trị bị đánh tráo, thân phận con người bị coi rẻ như bèo bọt, nổi trôi… xuất phát từ những niềm đau nhức nhối tâm can, chàng Huy Cận khi đó “đang ở giữa độ măng trẻ của đời người” (Xuân Diệu) đã phát tiết tinh hoa trong Lửa thiêng (1940) với những dòng thơ như những giọt buồn khôn dứt. Chỉ từ những điều bình thường, giản dị, người thi sĩ tài hoa đem “đúc” thành “châu ngọc” để chia sẻ cùng nhân thế, âu đó cũng là một hệ giá trị văn hóa mà Huy Cận dâng tặng cuộc đời.
Trước nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu phê bình (Hà Như Chi, Uyên Thao, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Tấn Long, Sông Thai, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp…), luận bàn về “khối sầu thiên cổ” trong thơ Huy Cận nhưng quả thật “khối sầu” đó, trải qua thời gian, cho dù được nhìn từ góc nào vẫn tỏa ánh sáng thâm u, huyền diệu bí ẩn, như chính tác giả viết: một chiếc linh hồn nhỏ/ mang mang thiên cổ sầu (Ê chề). Đọc Lửa thiêng của Huy Cận, chúng ta có thể cảm nhận rõ trong thơ Huy Cận song song nỗi “buồn điệp điệp” bao giờ cũng là sự khắc khoải về nỗi cô đơn ám ảnh tâm cảm thi nhân. Đã có nhiều luận giải về nỗi buồn – một phương diện thẩm mỹ mang giá trị như là một biểu hiện niềm đau thân phận của kiếp lưu đày, nhưng cảm thức cô đơn trong thơ Huy Cận vẫn là một vấn đề còn nhiều bỏ ngỏ. Chúng tôi cho rằng cô đơn có thể coi như một yếu tính, một phương diện thẩm mỹ không thể không nói đến, nó góp phần không nhỏ làm nên sự độc đáo, hấp dẫn trong nhiều áng thơ còn lại với thời gian trong Lửa thiêng của Huy Cận. Tìm hiểu Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận có thể nhận diện chiều sâu trong tư duy nghệ thuật của một trong những gương mặt tiêu biểu của cuộc cách mạng thơ trong quá trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc, đó là phong trào Thơ mới.
2. Cô đơn hay sự cô đơn (Loneliness) là một trạng thái cảm xúc phức tạp của con người nhằm đáp ứng lại với sự cách ly của bản thân với xã hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo âu, suy tư, trăn trở… về sự trống vắng của con người bởi sự thiếu hụt tình cảm, không cảm nhận được sự kết nối cảm xúc giữa con người với con người và vạn vật của thế giới. Sự cô đơn có thể cảm nhận ngay cả khi con người được bao quanh bởi nhiều người, nhiều lúc sống giữa “đám đông” mà lòng vẫn tràn đầy cảm giác cô đơn, thậm chí con người cô đơn ngay chính ngôi nhà của mình. Các nhà hiện sinh chủ nghĩa quan niệm cô đơn là yếu tính của bản thể. Cô đơn mang tính phổ quát và tồn tại trong xã hội loài người như một phẩm tính người. Vì thế cô đơn luôn hiện hữu ở mọi thời đại, mọi dân tộc, và in dấu rõ nét trong nhiều tác phẩm văn chương đông tây kim cổ của nhân loại là một điều tất yếu …
Đọc Lửa thiêng của Huy Cận, cảm thức cô đơn như một mạch ngầm xuyên suốt hồn thơ, với nhiều cung bậc, thanh âm, hoặc sâu đậm, hoặc mờ nhòe, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thể hiện trong hầu hết các bài thơ: Bi ca, Bình yên, Buồn đêm mưa, Cầu khẩn, Cách xa, Chết, Chiều xưa,Chiều xuân, Dấu chân bên đường, Đẹp xưa, Đi giữa đường thơm,Điệu buồn,Giấc ngủ chiều, Hồn xa, Hồn xuân, Khung tình, Lời dịu, Mai sau, Mưa, Quanh quẩn, Thu, Thu rừng, Tiễn đưa, Tình mất, Tình tự, Trò chuyện, Trông lên, Xuân, Xuân ý,  Ê chề, Họa điệu, Tràng giang, Thuyền đi, Thu rừng, Nhạc sầu, Ngậm ngùi, Vạn lý tình … Cô đơn bao phủ không gian, thời gian, cô đơn hiện hữu trên từng lá cây, ngọn cỏ, cánh bèo, đám mây, dòng sông, con thuyền, cơn mưa, làn gió, cánh chim trời… Căn nguyên nào khiến cô đơn trở thành âm hưởng chủ đạo chi phối ý thức kiến tạo thi giới nghệ thuật của Lửa thiêng? Nữ văn sĩ Marguerite Duras có lý khi cho rằng “cô đơn như là hư không, cả một rỗng tuếch mênh mông, cần phải lấp đầy”, và từ ý kiến này có thể thấy cô đơn phủ đầy thi giới của Huy Cận bởi trong cảm nhận của ông mọi cái thuộc thế giới hiện hữu từng giây phút quanh ông đều lạnh lùng, xa lạ,ngoài tầm kiềm soát của con người, bức tường thành phi lý lúc vô hình, lúc hữu hình bủa vây, ngăn cách tứ phía, cuộc sống của con người chỉ là một sự tồn tại vô nghĩa. Khoảng hư không rỗng tuếch bao la tưởng đến vô cùng trong tâm hồn thi nhân chỉ còn có thể được lấp đầy bằng thi ca. Và cô đơn như một phương cách để thi nhân có thể gặp gỡ và lắng nghe tiếng Con Người luôn hiện diện trong cõi sâu thẳm của tâm linh cô đơn để tìm về hoà hợp trong mối giây tương quan và liên đới với nhân loại, và rộng hơn, cao hơn cô đơn để nối sợi dây giao cảm cùng vũ trụ vô biên, vĩnh hằng, tìm về miền thanh tịnh. Dùng cô đơn để vượt thoát cô đơn, để được sống là chính mình – “Tôi tồn tại” chỉ thực sự có ý nghĩa khi cái tôi này tự tách ra khỏi tồn tại; Và đây là căn nguyên sâu xa nhất để có thể luận giải vì sao cô đơn lại trở thành âm hưởng chính trong Lửa thiêng của Huy Cận. Từ trạng thái cô đơn tỏa ra “buồn điệp điệp”, “sầu muôn ngả”…cô đơn như nguồn cội của mọi nỗi sầu, buồn – đó là tiếng thở dài mang âm hưởng của thời đại, “là một phản ứng thời đại”1.
Trong đời sống, con người thường rơi vào trạng thái khổ tâm nhất, khi cảm nhận nỗi lẻ loi, đơn chiếc, không thể có một sợi dây kết nối yêu thương cùng người có thể sẻ chia buồn vui cay đắng cùng mình. Huy Cận thấu hiểu điều đó và thi nhân cũng cảm nhận rất rõ, trong cõi nhân gian đi tìm người tri âm, tri kỷ để gắn kết thật khó lắm thay! Tri nhận ra khoảng cách xa vời, lạnh lùng giữa con người với con người trong cuộc sống nơi trần thế đã khiến cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận thấm đẫm màu bi thương.
Không ít lần trong Lửa thiêng chúng ta gặp Huy Cận thảng thốt, xót xa tiếc nuối trước những cuộc chia lìa, giã biệt: Tới ngã ba sông, nước bốn bề/ Nửa chiều gà lạ gáy bên đê/ Làng xa lặng lẽ sau tre trúc/ Bến cũ thuyền em sắp ghé về (Em về nhà); Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng/ Có ai tiễn biệt nơi xa ấy/ Xui bước chân đây cũng ngại ngùng…(Nhớ hờ). Thôi đã tan rồi vạn gót hương/ Của người đẹp tới tự trăm phương/ Tan rồi những bước không hò hẹn/ Đã bước trùng nhau một ngả đường (Dấu chân trên đường). Vì ta đợi cho nên người chẳng đến/ Người xa ta, xa từ thuở sơ sinh (…) Nhưng chân đẹp vội rẽ đường trăm lối / Gió bay qua thôi đưa tiếng cười chào / Rồi một bữa đứng chờ người chẳng tới (Bi ca).  Hoài Thanh từng xác quyết: “cái buồn của Lửa thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh”2. Quả đúng là vậy, cảm thức cô đơn dường như xuất phát từ những ám ảnh thuở “sơ sinh”, của ký ức, cô đơn tụ hợp, kết đọng trong tiềm thức thi nhân, cô đơn đúc thành “sợi sợi buồn” sâu lắng, da diết, thao thiết chảy trong giọng điệu thơ Huy Cận. Dẫu đương thời khi viết những câu thơ trong Lửa thiêng thi nhân mới chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi, nhưng với trái tim dạt dào cảm xúc và tâm hồn nhạy bén, ngần đó cũng đủ nghiệm sinh để thấu hiểu cô đơn là mong muốn cho đi mà không có người nhận, là muốn nhận mà “chờ mãi” chẳng có ai cho, cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ đợi chẳng bao giờ đến, cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt, không phải cách biệt của không gian mà là cách biệt của cõi lòng…
Trong cô đơn, cảm xúc của Huy Cận thật tinh tế, thi nhân nhận thấy sâu thẳm trong lòng đang “run” lên bởi “nỗi hàn bao la” dâng trong lòng, cái lạnh giá của ngoại cảnh đã đánh thức, cộng hưởng cùng cái lạnh vốn thấm sâu nơi vô thức khiến lòng người càng thêm khắc khoải trong một đêm mưa: Nghe đi rời rạc trong hồn/ Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi… /Rơi rơi… dìu dịu rơi rơi…/Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ… /Tương tư hướng lạc phương mờ…/Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe /Gió về, lòng rộng không che/ Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư…(Buồn đêm mưa). Con người không chỉ cô đơn trong không gian mà còn cô đơn trong thời gian. Đếm mưa rơi như đếm từng giọt thời gian đang rơi rơi hòa tan vào mênh mang vũ trụ… một mình trong cái khoảnh khắc hiện tại, xa cách quá khứ, đối diện với tương lai bấp bênh, mờ mịt, con người không chỉ xa lạ, “lạc hướng phương mờ” với môi trường sống của mình mà còn xa lạ với chính mình, xa lạ với quá khứ và của tương lai của mình. Tìm kiếm đâu hơi ấm, cái nhìn và lời nói ân tình của tha nhân? Khi xung quanh nhiều lúc sự bất công, thói đời phản bội, đen bạc, lòng người lạnh lùng, vô cảm như xé nát trái tim ta, khiến ta khi đối diện với tha nhân chỉ cảm thấy mình bị vây hãm và tổn thương sâu sắc? Đó là nỗi cô đơn kinh hoàng bởi sự vô tâm và lòng dạ hiểm ác của con người gây ra đối với con người…
Cái tôi trữ tình bất an trong từng giây phút hiện hữu, có lúc cuống quýt “chạy trốn” nhưng càng chạy trốn càng lâm vào bi kịch của trạng thái cô đơn:  Trốn tránh bơ vơ chạy ngủ lang,Hồn ơi! Có nhớ giấc trần gian/ Nệm là hơi thở, da: chăn ấm/ Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn ?(Ngủ chung) ; Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế! Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường; Phố đìu hiu màu đá cũ lên sương, Sương hay chính bụi phai tàn lả tả?(Nhạc sầu);  Tai dưới đất để nghe chừng tiếng sóng/ Ở trên đời, đầu ấy ngửng lên cao/ Sẽ nằm im! Ôi đau đớn chừng nào/ Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí (Chết). Khi chỉ còn cách “xương cọ vào xương bớt nỗi hàn” và nghĩ về cái “chết, mồ côi, bụi phai tàn…” là khi con người đã sống tận cùng của cảm giác cô đơn. Một hồn đau, một đời lạnh khiến con người vốn dĩ đã cô đơn lại càng trở nên cô đơn hơn bao giờ hết. Chiều sâu cảm xúc cho thấy tầm vóc, nội lực của nhà thơ, vì thế là người hiểu Huy Cận hơn ai hết, khi viết tựa cho Lửa thiêng,  Xuân Diệu đã có phát hiện khá tinh tế: “Huy Cận nói hộ cho ta đó, những giọt nước mắt thường đến quanh mi rồi ngừng. Huy Cận vì đã vì ta mà rơi xuống má; cái linh hồn ấy bơ vơ không kể hết, kiếp người lang thang, đất trời trôi nổi, lạnh lắm nhân gian ơi!”3. Nhận xét của Xuân Diệu cho thấy, nỗi cô đơn thân phận được cảm nhận từ tâm linh sâu thẳm đã đem đến cho thơ Huy Cận chất lượng thẩm mỹ mà không phải người làm thơ nào cũng dễ dàng có được; Giọt nước mắt tràn mi “rơi xuống má”để rồi chảy dài mãi của thi nhân chính là giọt nước mắt “thanh lọc” tâm hồn, giọt nước mắt của niềm đau vượt qua sự than vãn, bi lụy yếu đuối của cá nhân để vươn đến nỗi đau cho muôn kiếp người trong cõi nhân sinh. Cảm thức cô đơn bởi sự xa cách, lạnh lùng giữa con người với con người giữa cõi trần ai được đẩy đến độ cao trào nhất, nó ám ảnh như lời nhắc nhở bạn đọc qua nhiều thế hệ, ở mọi thời đại, ý thức sâu sắc hơn về thân phận hẩm hiu, mong manh của kiếp người trên “cõi tạm”. Để từ nỗi âu lo này, mỗi người tự nhủ hãy sống có một trái tim biết cảm thương, một tấm lòng biết trắc ẩn, một tâm hồn biết mở rộng và dám ra vượt khỏi “khung tình” ích kỷ của mình để gặp gỡ, chia sẻ, trao tặng những gì mình có thể, để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau trong cuộc đời. Thông điệp vang lên đằng sau câu chữ của Lửa thiêng đã thắp lên ngọn lửa thiêng trong tâm hồn người đọc, từ đó gợi suy nghĩ về việc giữ gìn phẩm tính Người trong mỗi chúng ta, nhất là trong thời đại mà sự phát triển của kỹ thuật số chi phối đến từng hoạt động, bao phủ khắp không gian trú ngụ của con người.
Bên cạnh cảm thức cô đơn bởi sự thiếu vắng hơi ấm của con người, giữa mênh mang bao la vũ trụ, đối với Huy Cận con người và vạn vật sinh linh chỉ là một hạt bụi nhỏ nhoi. Thiên nhiên, vũ trụ càng bao la, con người càng trở nên bé nhỏ, mong manh – đó là căn nguyên khiến thơ Huy Cận mang nặng nỗi cô đơn, niềm âu lo chỉ có thể diễn tả được bằng độ sâu của Trời và chiều rộng của Đất; Cô đơn của Huy Cận trong Lửa thiêng còn là cô đơn của nghìn năm xưa vọng lại – đó là nỗi cô đơn của “linh hồn nhỏ”, đối diện cùng vũ trụ của hồn xa, hồn xưa…Song, để chống lại định mệnh, chống lại một thế giới mà con người đang bị nhấn chìm vào sự lãng quên bởi thời gian và không gian vô định, Huy Cận dám chấp nhận độc hành, dấn thân Đi hết thời gian không nhớ thương (Hồn xa) để đối diện cùng cỏ cây, mây, trời, sông, nước… Có thể bắt gặp trong thơ Huy Cận nhiều câu thơ mà nỗi cô đơn như thấm sâu, lan tỏa trong từng chuyển động hỗn loạn của thiên nhiên, vũ trụ: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu(…) Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mang không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… (Tràng giang); Tôi luồn tay nhỏ hứng không gian/ Với gió xa xôi lạnh lẽo ngàn (Mưa);  Lâng lâng chiều nhẹ ghé muôn tai/ Trong bóng chiều như mờ tiếng ai/ Thổi lạc hương rừng cơn gió đến/ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài… (Nhớ hờ) Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm/ Vạn lý sầu lên núi tiếp mây (Vạn lý tình);  Trăng lên trong lúc đang chiều/ Gió về trong lúc ngọn triều mới lên/ Thuyền đi, sông nước ưu phiền/ Buồm treo ráng đỏ rong miền viễn khơi/ Canh khuya tạnh vắng bên cồn,Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang (Thuyền đi).
Có lẽ cũng là bởi thi nhân thức nhận rõ một quy luật bất khả kháng: con người đã sinh ra trên đời là phải “họa điệu” cùng cô đơn. Cô đơn ám ảnh, thao thức khôn nguôi, trở đi trở lại, cô đơn chi phối toàn bộ cái nhìn của tác giả trong quá trình kiến tạo thi giới. Những bài thơ như Họa điệu, Tràng giang, Thuyền đi, Thu rừng, Nhạc sầu, Ngậm ngùi, Vạn lý tình Chiều xưa,Chiều xuân, Dấu chân bên đường, Đẹp xưa, Đi giữa đường thơm, Điệu buồn,Giấc ngủ chiều, Hồn xa, Hồn xuân…ít nhiều đều cho thấy trong ý thức nghệ thuật của mình Huy Cận luôn coi cô đơn như một phương tiện đắc dụng nhất để bộc bạch nỗi niềm của thi nhân về cõi nhân sinh với bao thân phận con người nhỏ bé, nổi chìm theo dòng chảy thời gian vô thủy vô chung cùng bao biến thiên dâu bể của cuộc đời…
Các nhà hiện sinh đã khẳng định cô đơn là một yếu tính của thân phận con người. Nếu chối bỏ, không thừa nhận sự cô đơn chính là đã vô tình tước bỏ những phẩm tính Người trong mỗi Con Người. Do đó, thực chất của cô đơn là tập trung năng lực để sáng tạo, cô đơn được coi như một giá trị tinh thần. Đó là những giây phút tĩnh lặng như một điều kiện để khám phá bản thân sâu rộng hơn qua những gì mình đã, đang sống và cảm nhận. Chiêm nghiệm thơ Huy Cận chúng ta thấy cảm thức cô đơn không nằm ngoài những giá trị nhân văn trên. Huy Cận đã không trốn chạy cô đơn, cô đơn được thi nhân được xem như một sức mạnh để chống lại định mệnh, cô đơn vượt lên trên bi lụy, nó mang lại cho con người niềm tin để sáng tạo và hướng về phía trước với hy vọng tương lai, cô đơn nhưng  không đánh mất đi bản thể Người mà cô đơn là để nhận chân chính bản thân, để khẳng định nhân vị của mình; Và điều này cũng luận giải vì sao cảm thức cô đơn là phẩm tính, là mạch ngầm chủ đạo xuyên suốt thơ Huy Cận nhưng dư âm neo lại trong lòng bạn đọc khi tiếp nhận Lửa thiêng không phải là sự yếu đuối, bi lụy, khóc than, rẫu rĩ cho thân phận “lạc loài”, mà chỉ là nỗi buồn thăm thẳm. Đằng sau “mặt nạ” buồn là lòng yêu đời, khát sống của thi nhân, cho nên đây đó trong Lửa thiêng còn có những dòng thơ trong trẻo, “mang ngầm sinh lực như men ủ nắng” (chữ dùng của Xuân Diệu), ngày nay chúng ta đọc lại vẫn không hề thấy lạc lõng: Trong giấc đẹp sẽ thấy trời mở rộng/ Không gian hồng, đời nhuộm màu hy vọng/ Tôi sẽ giơ tay để đón rước Đời (Lời dịu). Thời khắc đang đi nhịp thái bình(…) Ngoài đường buổi sáng thơm hương mới/ Thú sống thơm mùi cỏ mới lên (Bình yên). Đúng như Xuân Diệu xác quyết trong lời tựa tập Lửa Thiêng: “Cái tiếc sớm, cái thương ngừa ấy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống”4.
3. Xét trên bình diện phổ quát, cảm thức cô đơn cũng là vấn đề thường gặp trong văn chương của nhiều thi nhân mà tên tuổi đã trở nên gắn bó với nền văn hóa dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính…; cũng là một đề tài thường gặp trong thơ của nhiều thi nhân nổi tiếng trên thế giới như: Lý Bạch, Thôi Hiệu, J.Goethe, A.Rimbaud, C.Baudelaire, P.Valéry, G.Apollinaire, S.Mallarmé, A.Puskin, M.Lermontov, S.Yesenin, Onga Becgon… Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận không nằm ngoài quỹ đạo của tư duy thơ mang tính phổ quát toàn nhân loại. Do vậy, sự hiện hữu cái tôi cô đơn bản thể trong thơ Huy Cận là giá trị chứng tỏ tư duy thơ của ông đã bắt kịp với dòng chảy của tư duy thơ nhân loại. Tám mươi năm đã qua, kể từ khi Lửa thiêng ra đời, thi phẩm của Huy Cận đã được kiểm chứng bởi thời gian, và nó đã chứng tỏ “Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan”. Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng có thể coi như một chất ngọc trong “khối sầu thiên cổ” của một thi sĩ mà suốt đời đau đáu tâm niệm: Người biết đấy, lòng tôi trong trắng lắm/ Người cho sao tôi giữ vậy, như gương/ Mặt trời đẹp, sắc đời đua nở thắm/ Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương (Trình bày).
Xin mượn lời Xuân Diệu – người bạn tâm giao, tri kỷ một đời của Huy Cận trong lời tựa tập thơ Lửa Thiêng để tưởng nhớ về Huy Cận – thi sĩ của hôm qua, hôm nay và đến muôn sau: “Chúng tôi khuây khỏa trong chuyện đời, ráng lấp cho đầy cái khoảng trống trong linh hồn…chúng tôi sợ sầu, nên làm ngơ với nhớ thương dằng dặc. Nay người nói ra, chúng tôi càng nhớ lại; chúng tôi ngước mắt nhìn lên cõi trời, để hình ảnh hồn chúng tôi. Chúng tôi cũng bơ vơ, mỗi hồn người là một cõi bơ vơ, chúng ta đồng một bơ vơ với nhau, vậy thì người cũng bớt bơ vơ một chút” 5.
Chú thích:
1. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên (tập 3), Quốc học Tùng thư xuất bản, SG, 1965, tr.579.
2. Hoài Thanh , Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr.135
3. 4, 5 Huy Cận, Lửa Thiêng, Đại học Văn khoa, tái bản, Sài Gòn, 1967, tr.10,9,11.
20/5/2021
Cao Thị Hồng
Theo https://vanvn.vn/

Tâm thức biển của người Việt: Một cái nhìn văn hóa - Lịch sử

Tâm thức biển của người Việt: Một
cái nhìn văn hóa - Lịch sử

Biển với người Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng và sẽ ngày càng quan trọng hơn. Nhưng tâm thức biển thì tùy từng giai đoạn mà đậm nhạt khác nhau.
1. Trong kỷ Băng hà, cách đây 12.000 – 7.000 năm, khi Trái đất nóng lên, băng ở hai cực tan chảy, nước biển dâng lên gọi là biển tiến; còn khi Trái đất lạnh đi, băng đóng lại ở hai cực, nước biển rút xuống gọi là biển lùi.
Khi biển tiến thì cư dân ven biển và đồng bằng chạy nước lên vùng núi và cao nguyên. Từ chỗ làm nông/ngư nghiệp, họ thoái lùi, hay hoang hóa, trở thành những người hái lượm, săn bắt. Khi biển lùi thì họ lại xuống đồng bằng rồi tiến ra biển, làm nông nghiệp lúa nước và đánh bắt cá dọc sông ven biển. Lúc bấy giờ thềm lục địa nổi lên, cư dân có thể dùng bè di chuyển từ đảo này sang đảo khác ở khu vực Nam Thái Bình Dương, thậm chí sang tận Mỹ châu.
Nhịp biển tiến – lùi như vậy không chỉ diễn ra có một lần và trong một thời gian ngắn. Dấu tích vật chất còn lưu lại ở nhiều nơi. Các hòn đảo đá vôi ở vịnh Hạ Long còn ghi dấu những ngấn sóng cách mặt nước hiện nay hàng mét. Núi Yên Tử, trên lối lên chùa Đồng, người hành hương ngạc nhiên bắt gặp hóa thạch của những con ốc biển. Nhưng, có lẽ dấu vết của những cơn đại hồng thủy còn dễ thấy hơn ở các mảnh vỡ huyền thoại, truyền thuyết, truyện cổ. Như truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh của người Kinh, Sự tích hồ Ba Bể của người Tày, trường ca Khảm hải/Vượt biển cũng của người Tày, đề tài cá trong truyện cổ Ba Na và hoa văn trang trí trên thổ cẩm của nhiều tộc người Tây Nguyên.
Như vậy, người Việt Nam tự trong bản thân mình, từ xa xưa, đã có văn hóa đất và văn hóa biển, sau này theo các luồng di cư theo chiều Đông Tây và Tây Đông thì có cả văn hóa Đông Nam Á lục địa và hải đảo.
2. Khi mực nước biển xấp xỉ như mực nước hiện nay, vào thời kỳ cuối Đá mới sang Đồng, thì trên lãnh thổ Việt Nam xuất hiện các văn hóa cổ như Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo. Đây là thời kỳ tâm thức biển đậm. Trống đồng Đông Sơn có mặt ở nhiều nước Đông Nam Á có thể do cư dân Đông Sơn khi di cư mang theo, hoặc do buôn bán trao đổi.
Tại di tích của nền văn hóa Sa Huỳnh, phát hiện các đồng tiền Ngũ Thủ và Vương Mãng, các gương đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán, chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa thủ công cùng với sự giao thương buôn bán tương đối phát triển.
Còn khi khai quật di chỉ Óc Eo, các nhà khảo cổ tìm thấy những đồng tiền in hình hoàng đế La Mã, chứng tỏ bấy giờ buôn bán không chỉ quẩn quanh Đông Nam Á, Nam Á mà đã viễn dương sang châu Âu. Như vậy, bấy giờ, phương tiện giao thông, buôn bán chủ yếu bằng đường sông, biển. Người Việt Nam, do vậy, cũng rất giỏi chế tạo những chiếc bè tre vượt biển và đóng thuyền chiến. Hai trận thắng lớn trên sông Bạch Đằng và trận đánh chiếm đoàn thuyền chở quân lương của nhà Nguyên trên vịnh Hạ Long, đã nói lên điều đó.
Con thuyền, như vậy, đã trở thành biểu tượng cho văn hóa Việt Nam, đối lập với cỗ xe ngựa, hoặc con ngựa biểu tượng cho văn hóa phương Bắc. Thuyền, thậm chí còn là biểu tượng tình yêu trai gái như thuyền và bến, thuyền và biển…
Ngày nay, khi giao thông đường sông không còn quan trọng nữa mà đường biển còn quanh quẩn ven bờ thì đường bộ với những chiếc ô tô thay thế vai trò của đường thủy, hình ảnh thuyền bắt đầu nhạt dần. Theo đà đó, các từ chỉ giao thông sông, biển cũng chẳng còn. Nhưng nếu ai làm khảo cổ học ngôn từ, thì thấy đâu đâu cũng còn những hóa thạch ngôn ngữ nằm trong các địa danh sông nước như chợ búa (búa là bến, nên chợ búa là chợ bến/sông), bến Bình Than (than cũng là bến), là Ngọc Than (quê tôi thì là làng bến ngọc), Vạn Lai Triều ở phố Hiến là bến chờ để vào triều/chầu Thăng Long chứ không phải “đến đây từ vạn dặm sông” như Hữu Ngọc dịch, làng vạn chài là làng bến thuyền của cư dân đánh cá trên sông biển…
3. Tâm thức nhạt biển xa rừng có thể bắt đầu từ thời Lê sơ. Bấy giờ đồng bằng Bắc bộ được phù sa bồi lắp tương đối bằng phẳng, chỉ còn sót lại một vài vùng trũng, như Phú Xuyên (Hà Tây), Hà Nam “cầu tõm”. Lương thực được đảm bảo. Số lượng ruộng tư ngang với ruộng công. Sự ra đời của gia đình hạt nhân và hạt nhân mở rộng cày cấy trên những mảnh ruộng nhỏ của riêng mình.
Lúc này cũng là khi Tống nho phát triển ở Việt Nam, chủ yếu là hình nhi hạ, tức phần nghi lễ, nghi thức, đạo đức. Tống nho hình nhi hạ chủ trương an bần lạc đạo, chống lại thương nghiệp vì sợ mất sự ổn định của cộng đồng. Việt Nam dần rơi vào chủ nghĩa tam nông: nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Làng xã xuất hiện như một đơn vị tự cung tự cấp. Người ta không cần phải ra khỏi lũy tre làng đã tự đầy đủ. Người tiểu nông ra đời. Thiết chế làng xã phân biệt chính cư và ngụ cư, trong đó dân chính cư được hưởng mọi quyền lợi thành viên của làng, còn dân ngụ cư thì chỉ có nghĩa vụ phục dịch. Chế độ ruộng công chỉ phân bổ cho các suất đinh sống ở làng khiến người dân không dám bỏ làng đi xa. Họ bám chặt đất làng, ruộng làng, ngại mọi chuyện phiêu lưu. Từ đó hình thành tâm lý xa rừng nhạt biển.
Đặc biệt là từ khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, với máy móc cơ giới, họ mở mang hanh thông đường bộ thì giao thông thủy càng bị thu hẹp. Những chuyến tàu thủy cuối cùng đi trên sông Hồng là của Bạch Thái Bưởi. Cảng sông Vị Hoàng doanh xưa với thuyền bè tấp nập nay nhường chỗ cho cảng biển Hải Phòng của người Pháp…
4. Việt Nam có hàng ngàn cây số bờ biển, là bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương, nhưng chưa phải là vương quốc biển, do tâm lý bám ruộng bám làng, sợ phiêu lưu của người nông dân, hay người có căn tính nông dân. Từ khi nhạt biển, Việt Nam không có ngoại thương đúng nghĩa. Các cuộc hải trình đi Indonesia, Singapore thời Nguyễn như các chuyến đi của Phan Huy Chú, Cao Bá Quát, Phạm Phú Thứ… chỉ là mua sắm hàng tiêu dùng cho vua. Còn hàng hóa chủ yếu “xuất khẩu tại chỗ”, mà về sau cũng “bế quan tỏa cảng”. Bởi vậy, không có nhiều thành phố ven biển. Ngư dân thì đánh bắt quanh bờ, không có tàu thuyền lớn để ra khơi. Vì thế, ý thức về lãnh hải (thềm lục địa và hải đảo) của người dân, và cả lãnh đạo, còn rất yếu ớt, lờ mờ.
Trước đây nghiên cứu văn hóa Việt Nam chịu sự thống trị của cái nhìn từ đồng bằng. Đó là cơ sở của Việt tâm luận. Gần đây, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà Việt Nam học người Úc – Li Tana đã đưa ra một cái nhìn từ biển. Bà chứng minh rằng Việt Nam trong quá khứ cũng là một quốc gia biển, nhất là ở xứ Đàng Trong. Bởi vậy, làm sao khôi phục lại được tâm thức biển thời đậm là một bài toán khả giải, đòi hỏi sự chung tay góp óc toàn dân, nhất là giới lãnh đạo và các trí thức độc lập có tâm, có tầm.
5. Viết đến đây, tôi bỗng nhớ tới tiểu thuyết Tàu Tôtem Sói của Khương Nhung, kể về cuộc đấu tranh sinh tồn giữa một đàn sói và những người chăn cừu ở thảo nguyên Nội Mông. Những người chăn cừu, do học được từ bầy sói, nhiều mưu mẹo không kém nhưng chỉ để đối phó nhằm kiểm soát sói, chứ không phải tiêu diệt. Nhưng rồi những người trồng trọt đến, họ vỡ hoang, trồng lúa mì và tiêu diệt bầy sói. Đàn cừu không còn cuộc sống tự nhiên, tức không bị sói săn đuổi nữa, nhiễm bệnh, chết dần. Khương Nhung nêu rõ tính ưu việt của du mục so với nông nghiệp.
Ông còn cho biết trong lịch sử Trung Hoa, những nhân vật lịch sử lớn đều xuất thân du mục hoặc có nguồn gốc du mục: Dương Kiên, Dương Quảng nhà Tùy; Võ Tắc Thiên nhà Đường; Hốt Tất Liệt nhà Nguyên; Khang Hy nhà Thanh…
Tinh thần du mục bây giờ không còn nữa, phải tìm tinh thần khác thay thế. Khương Nhung đề xuất lấy tinh thần hải thương của Trịnh Hòa (người Duy Ngô Nhĩ) đời Minh. Đó chính là hướng biển và làm chủ biển. Trung Quốc đã và đang hiện thực hóa tư tưởng này. Việt Nam muốn bảo vệ biển đảo của mình phải học Tàu để chống lại Tàu – đó là thành lập lực lượng hải quân, phát triển hải thương, đặc biệt là xây dựng các cảng biển, các thành phố ven biển.
Tài liệu tham khảo chính:
1. S. Oppenheimer (2004), Địa đàng ở phương Đông, Lê Sỹ Giảng, Hoàng Thị Hà dịch, NXB Lao Động
2. Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ
3. Nguyễn Thanh Nhã (2013), Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, Nguyễn Nghị dịch, NXB Trí Thức
4. Đỗ Thị Thùy Lan (2016), Hệ thống cảng thị sông Đàng Ngoài (Lịch sử ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII), NXB Đại học Quốc gia
5. Nguyễn Văn Kim (2014), Vân Đồn – thương cảng quốc tế của Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia.
23/5/2021
Đỗ Lai Thúy
Theo https://vanvn.vn/

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc...