Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc trong văn xuôi
dân tộc
thiểu số đương đại
Bước sang thế kỷ XXI, đất nước, dân tộc Việt Nam đứng
trước những cơ hội cùng những thách thức lớn, đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá.
Văn hóa dân tộc với truyền thống và giá trị của nó như là “tấm căn cước” của
dân tộc để hội nhập vào thế giới. Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam ngày nay cần thể
hiện được những giá trị văn hóa chung, phổ quát của nhân loại nhưng cũng cần khẳng
định được sự sáng tạo riêng của dân tộc mình góp phần làm phong phú, sâu sắc những
giá trị đó. Vừa bảo vệ, kế thừa, làm giàu có truyền thống, nhưng đồng thời cũng
phải chủ động hội nhập, chủ động lựa chọn, để tiếp thu được tinh hoa của văn
hoá thế giới vốn đa dạng, nhiều giá trị tiên tiến.
Bản lĩnh bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế là một giá trị quan trọng của văn học nghệ thuật nói chung, văn xuôi dân tộc và miền núi nói riêng trong hệ giá trị văn học nghệ thuật hiện thời. Văn học bằng cách riêng, góp phần xây dựng con người mới và tạo nên tâm thức cộng đồng và duy trì sức mạnh của nền văn hóa dân tộc. Văn học trở thành tài liệu lưu giữ kho tàng văn hoá dân tộc. Việc giúp bảo tồn, phát huy, lưu truyền, giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc chính là một trong các giá trị quan trọng của văn học dân tộc thiểu số đương đại, góp phần tạo nên hệ giá trị văn học – nghệ thuật dân tộc và hiện đại.
Nói về tầm quan trọng của bản sắc dân tộc trong sáng tác của
các nhà văn dân tộc thiểu số, nhà nghiên cứu Phong Lê nhấn mạnh: “Thiếu cái đó
– bản sắc dân tộc – tức là chưa có gì đáng nói cả, tức là chưa có cái để phân
biệt họ với các nhà văn thuộc các dân tộc khác” [12; 220]. Có thể thấy, trong
hai thập kỉ qua, số lượng tác giả văn xuôi ngày càng đông đảo, khiến cho bức
tranh văn hóa các dân tộc thiểu số trong văn xuôi hiện lên trong các tác
phẩm ngày càng đa dạng, phong phú. Trong tác phẩm văn học, bản sắc dân tộc
không chỉ nằm ở đề tài, chủ đề mà nằm ở hầu hết mọi yếu tố cấu thành tác phẩm
như: cảm hứng nghệ thuật, ngôn ngữ, cốt truyện, nhân vật, giọng điệu…Tuy nhiên,
bản sắc dân tộc trong văn học chỉ có giá trị thực sự khi nó được viết ra bởi những
tình yêu mãnh liệt của nhà văn với vốn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện sinh động qua việc phản
ánh các phong tục, tập quán, những sinh hoạt văn hoá, tinh thần của đồng bào
các dân tộc.
Có thể nói, qua sáng tác của nhiều nhà văn về dân tộc và
miền núi đương đại, bức tranh về văn hoá các dân tộc thiểu số được mở ra sinh động
và chân thực. Trong bức tranh ấy, các lễ hội, phong tục, nghi lễ vòng đời: từ
chào đón một em bé ra đời, đầy tháng, cấp sắc – trưởng thành, lấy vợ đến việc
đưa tiễn một người về với tổ tiên được thể hiện rõ nét.
Người ta thường nói, nhìn vào một cái chợ là biết cuộc sống
sinh hoạt của vùng đất ấy. Ở đây, chợ phiên không chỉ cho biết đời sống vật chất
mà còn thể hiện giá trị văn hoá, tinh thần đậm nét của người dân miền núi. Những
phiên chợ tình – đặc trưng văn hoá của miền cao được miêu tả thú vị trong nhiều
tác phẩm. Chợ tình Âu Lâm một năm chỉ họp một lần vào duy nhất một ngày: “Một
năm một phiên chợ tình tìm đến nhau để ngồi thầm thì bao chuyện xưa và cả chuyện
nay”;“Chợ ở đây không tranh mua tranh bán, không đuổi đánh nhau vì ghen hay thù
oán. Đến đây mọi bực dọc đều đã khoả dưới song, mọi toan tính đều đã được cởi bỏ
trên đường, chỉ đem đến đây con tim bồi hồi và những lời thầm thì ái ân tìm vào
tai người xưa.” (Chợ tình – Cao Duy Sơn). Chợ hai bảy trong Tiếng đàn
môi sau bờ rào đá – Đỗ Bích Thúy “Ai cũng biết mang rượu đi chợ hai bảy để
người bán người mua uống cùng với nhau. Uống cho say rồi người mua không nhớ trả
tiền cũng được mà nhớ nhưng trong túi chỉ còn vài đồng không đủ mua túi muối,
mang ra trả cũng được… Ở chợ, mọi người ta hồ chơi, tha hồ uống rượu. Đàn ông
quên dao, quên nỏ, đàn bà quên chảo cám, quên cái đũa cả, chẳng ai chê cười”.
Chợ tình – nơi những người yêu cũ không lấy được nhau gặp lại nhau, nơi những
đôi trai gái trẻ mặc áo váy sặc sỡ đến để tìm đôi.
Nghi lễ hôn nhân là văn hoá quan trọng trong cố kết cộng đồng,
duy trì nòi giống. Qua các tác phẩm văn học, có những phong tục về cưới hỏi đa
dạng của các dân tộc thiểu số. Dân tộc Mông có cổ tục bắt vợ, người Thái
đi ở rể: “Đúng mùa cây ban rụng hạt, Sừa giục bố mẹ nhờ ông mối đem một đôi rượu,
một đôi gà đến xin phép bố mẹ Tươn làm lễ “Pay Khươi” để Sừa đến nằm ở Quản” (Hồn
Piêu – Kiều Duy Khánh); người Tày để lấy được một cô dâu về cần sính lễ
cho nhà gái “bao nhiêu gia sản dồn hết cho đám cưới ” (Đường quê –
Nông Quang Khiêm); những cô gái gán nợ cưới trong Bao nhiêu một đứa đàn bà –
Chu Thị Minh Huệ. Những cổ tục này là nguyên cớ của những hôn nhân không tự
nguyện, không tình yêu, đẩy con người (cả phụ nữ, cả đàn ông) vào cuộc sống trớ
trêu, bế tắc, phiền muộn: “Vợ nhìn hắn như nhìn bắp ngô treo trên gác bếp.
Trong mắt nó có hờn giận, có thờ ơ, trống trải và bao điều khó hiểu tích nén suốt
nhiều năm nhưng lại không có thứ mà hắn trông đợi” (Hồn xưa lưu lạc – Tống
Ngọc Hân)…
Người phụ nữ lấy chồng phải trọn vẹn bổn phận làm vợ, làm
dâu. Người miền núi vẫn còn nặng nề trọng nam khinh nữ. Người phụ nữ lấy chồng,
nhất định phải sinh con, mà là con trai. Người phụ nữ nào khi làm dâu cũng áp lực:
“Làm dâu mà không làm mẹ thì chỉ là cái cục đá kê chân cột nhà chồng thôi. Ở
hai mươi, ba mươi năm, ở đến lúc chết cũng chỉ là cục đá kê cột thôi…”. (Tiếng
đàn môi sau bờ rào đá – Đỗ Bích Thuý); “Mình tìm thêm cho bố nó một người
vợ nữa. Phải đẻ một đứa con trai bố nó à, mình đã hứa với tổ tiên rồi, bằng mọi
giá phải có một đứa con trai để sau này còn có người thờ cúng, có người giữ đất”
(Gió không ngừng thổi – Đỗ Bích Thuý); “Mỗi lần mẹ đẻ một chị gái là bố lại
chém vào cột nhà một nhát, đến khi có Phù cây cột không bị chém nữa” (Bóng của
cây sồi – Đỗ Bích Thuý).
Những tín ngưỡng trong thờ cúng cũng được thể hiện
sinh động trong nhiều tác phẩm: “Lễ cúng báo ma nhà về việc đi bắt vợ: “ma
ông bà ăn con gà chưa biết đi trống, ma bố mẹ uống bát rượu ngô lấy lần đầu để
nhận mặt đứa dâu mới… cho dâu mới nó bước vào cửa gỗ chính, sẽ sinh cho nhà họ
Bàng đứa trai khỏe như cây gỗ Cò Chìa trên núi đá…” (Hoa Sàng Jàng – Kiều
Duy Khánh). Các nghi thức ma chay cũng được phản ánh trong nhiều tác phẩm… Tất
cả những câu chuyện về nghi lễ, tập tục đó, đều có tác động mạnh mẽ tới số phận,
cuộc đời, tâm trạng của nhân vật. Tục tảo hôn, hôn nhân cận huyết… vẫn
diễn ra, gây ra bao số phận khổ đau cho người phụ nữ: “Cứ một mùa
xuân, Sài Cang lại có đến năm, sáu đám tảo hôn”. Ở đây “Chồng chồng vợ vợ,
thông gia chồng chéo, quẩn quanh có trăm nóc nhà, rối tinh rối mù” (Dải vải
chàm bịt mắt – Tống Ngọc Hân)… Những lễ nghi tốn kém khiến con người đã khốn
khó càng rơi vào bi kịch: “cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá,
trả mãi không hết” (Lặng yên dưới vực sâu – Đỗ Bích Thuý); “Tôi chỉ nghe
được tiếng thở dài nén rất nặng trong lồng ngực mỏng manh của mẹ.
Sau khi làm hai đám ma, trong nhà tôi hầu như không còn gì. Bò, dê, gà,
lợn mổ để thầy mo cúng lễ hết, ngô lúa cũng hết” (Sau những mùa
trăng – Đỗ Bích Thúy). Những hủ tục ấy ảnh hưởng đến cả tình duyên
của chàng trai trẻ, dù “Súa thương Vừ, đồng ý để Vừ bắt về. Đỡ cho Vừ một ít bạc
trắng” vậy mà cũng không thành đôi; cô gái Dao xinh đẹp “Dưới chân núi Sủng Nhỉ”
vì bị ép lấy chồng trẻ con, để có những đồng bạc trắng trả món nợ cưới xin,
tang ma của gia đình mà hoá điên (Nguyễn Trần Bé); “Nợ cưới vợ chồng chất
thêm nợ đám ma ông nội, bà nội, nợ cưới hai anh trai rồi nợ ngân hàng
mua nương thảo quả mất mùa” (Hồn xưa lưu lạc – Tống Ngọc Hân) khiến người
đàn ông Mông đành cắn răng bán hết những vật dụng gia đình, cùng với đó là những
kỉ vật, những giá trị tinh thần từ đời cha ông để lại. Hắn bán cây khèn đại –
thứ quý nhất trong các nhạc cụ người Mông, cây khèn mà hồn hắn, hồn vợ con
hắn, hồn ba đời nhà hắn đều trú ngụ êm ái, thân thiết trong ấy.
Nhiều nhà văn bằng ngòi bút, đã lên án gay gắt những hủ tục,
mê tín dị đoan. Vì “chẳng biết từ bao giờ, người Mông vùng này lại sinh
ra cái thói kiêng kị là không cưới con dâu tuổi hổ cho con trai tuổi lợn, tuổi
khỉ” (Con đường chưa đi – Tống Ngọc Hân) cho nên đêm Dín lấy
vợ là đêm Dín vĩnh viễn mất một con mắt. Do dân trí chưa cao, những người
dân vùng sâu vùng xa, coi thầy cúng là có thể giải quyết mọi khó
khăn của đời sống mà họ gặp phải. Nhưng nhà văn cũng lật tẩy ra
rằng: “Thầy cúng về cúng đất mới. Cúng một trâu, nước vẫn chưa về khe. Cúng
hai trâu, trẻ con vẫn ốm, khóc ngằn ngặt. Cúng mãi đất mới vẫn chưa thành đất
quen. Cúng mãi chưa hết mộng mị. Cúng mãi người vẫn chưa về. Cúng hết lợn, hết
gạo, hết rượu rồi. Điện vẫn chưa thấy”. (Núi vỡ – Tống Ngọc Hân)…
Tóm lại, những hủ tục lạc hậu vẫn đang tồn tại và đè nén
lên thân phận con người, nhất là đối với người phụ nữ dân tộc. Ngày nay, xã hội
đã hiện đại, tân tiến, nhưng người phụ nữ dân tộc luôn rất thiệt thòi, họ không
được học hành, ít hiểu biết, ít cơ hội thể hiện năng lực, giải phóng bản thân…
Có những lời oán than như tiếng thở dài tràn qua nhiều tác phẩm: “Đàn bà như
cái cây nơi cổng trời. Bao nhiêu gió đi qua, đi lại, muốn táp, muốn dội vào hay
quật ngã cũng được. Cây chẳng thể nào chống đỡ” (Bao nhiêu một đứa đàn bà –
Chu Thị Minh Huệ); “Chị căm thù cái nhà này, nhưng đi đâu cũng không được… làm
ma nhà họ Tráng rồi… thành ra cứ làm hòn đá kê chân cột thôi, làm con trâu, con
ngựa, không được nói, chỉ phải làm” (Cuộc đời ngang qua cuộc đời – Chu Thị
Minh Huệ); số phận của người phụ nữ Mông như “thìa gỗ nhà đám” “ai thích cầm
thì cầm, thích đút đâu thì đút, thích ném đâu thì ném”. Đã lấy chồng, họ
sống làm dâu nhà chồng, chết làm ma nhà chồng, chồng có chết cũng
không được đi lấy người khác phải nén lòng trước tiếng khèn lá hàng
đêm của người trai khác” (Sau những mùa trăng – Đỗ Bích Thuý)…
Nói chung, cuộc chiến giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ là một hành trình
khó khăn, không thể ngày một ngày hai. Văn học thêm một tiếng nói bên
cạnh những chế tài văn hóa: “Cuộc chiến đấu giữa con người với tập tục
mà thần linh và tổ tiên quy ước, thật không dễ dàng” (Tống Ngọc Hân).
Tuy nhiên, dù có viết những những nghèo khó quẩn
quanh, về những hủ tục lạc hậu nhưng những trang viết vẫn lấp lánh
niềm hi vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn, về cái tình giữa con người
với nhau.
***
Lễ hội là nơi thể hiện đặc sắc văn hoá dân tộc.
Các lễ hội như Gầu Tào chơi núi đầu xuân, hội Lồng tồng, hội
Tung còn, hội giã cốm, đêm Hạn Khuống, những điệu múa, bài hát then, hát sli,
hát lượn, những trò chơi dân gian, ném còn, ném pao… xuất hiện trong nhiều tác
phẩm, là cái nền cho sự kiện cốt truyện, là không gian nghệ thuật để nhân vật
xuất hiện. Có thể nói, tất cả những nét riêng trong bản sắc văn hóa dân tộc đều
được đề cập đến trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số ở những mức độ
khác nhau. Các lễ hội này là những sinh hoạt văn hoá, tinh thần của đồng bào,
thể hiện rõ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều tác phẩm qua việc làm dậy lên âm
thanh, sắc màu, không khí cuộc sống sinh hoạt, lao động, văn hoá, con người của
núi rừng dường như là tấm thổ cẩm hứng dệt được căn cước văn hóa, cá tính, vô
thức tập thể đặc trưng của tộc người.
Đối với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, bằng
tình yêu tha thiết, các nhà văn dân tộc thiểu số luôn thể hiện niềm tự hào,
trân trọng, ngợi ca các phong tục tập quán đẹp, bên cạnh sự lên tiếng về việc
thay đổi, xoá bỏ những hủ tục không còn phù hợp, tác động tiêu cực đến thân phận,
khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Vì suy cho cùng, văn học hướng đến
xây dựng cuộc sống, con người tốt đẹp hơn. Cùng với đó, nhiều tác phẩm còn là
tiếng nói đau đớn, xót xa và suy tư trăn trở trước dự cảm âu lo về sự suy tàn,
mai một, mong manh của các giá trị văn hóa truyền thống trước sức tấn công của
đời sống hiện đại.
Có một thực tế, khi bị tác động của nền kinh tế thị trường,
giao lưu, tiếp biến văn hoá, mai một văn hoá truyền thống thì văn học cũng thể
hiện những biểu hiện đó: từ hình thức như giới trẻ không còn thích mặc trang phục
dân tộc, thay vào đó là quần bò áo phông (Núi vỡ – Tống Ngọc Hân),
không còn thích nghề truyền thống (Rọ Tôm – Nông Quang Khiêm)… đến những
biến đổi về “chất” người như: không hiếu kính với người lớn tuổi trong gia đình
(Lửa khóc lửa cười – Tống Ngọc Hân), những cô gái dân tộc xinh đẹp
như hoa của núi rừng mà thành cô gái hành nghề mát – xa, bán hoa (Ra phố –
Du An, Ngõ trăng – Tống Ngọc Hân…); tình thầy – trò bị giải thiêng
khi những cô học trò dân tộc xinh đẹp mỗi tối bị gọi lên phòng riêng của thầy
giáo (Lứa không về – Du An)… Có những người đàn ông đáng tuổi ông như ông
Tham hiếp dâm rồi giết chết một đứa cháu gái nhỏ trong xóm nghèo (Đá đắng –
Phạm Thị Thuý Quỳnh); những người phụ nữ dân tộc có thể trở thành nạn nhân của
buôn bán người (Dẻ trong Bông dẻ đẫm sương – Chu Thị Minh Huệ, Sênh
trong Núi vỡ – Tống Ngọc Hân, Hoa trong Hoa bay – Chu Thanh
Hương, Pà trong Đường về Sai Chản – Phan Đức Lộc)… Quả thực, nền kinh
tế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã có tác động rất lớn đến đời sống
: “Cái thuỷ điện vẫn chưa cho điện mà đã lấy đi của San Hồ quá nhiều thứ. Lấy
đi cái nết na chăm chỉ, chịu thương chịu khó của con gái San Hồ. Lấy đi cái ấm
áp trong tình chồng nghĩa vợ. Những thứ ấy, không ai nhìn thấy” (Núi vỡ –
Tống Ngọc Hân).
Trước sự tác động của cuộc sống hiện đại, các nhà văn có ý niệm
về sự bảo toàn văn hoá truyền thống dân tộc. Chẳng hạn, Tống Ngọc Hân qua Hồn
xưa lưu lạc thể hiện một nỗi niềm xót xa khi văn hoá truyền thống bị mất
đi, bị cưỡng bức của văn hóa bên ngoài. Do đói nghèo, người đàn ông Mông phải
bán tất cả những thứ đồ dùng cũ kĩ, cả những kỉ vật tình yêu, những báu vật,
linh vật có từ thời cụ kị (như chiếc khèn), những “hồn xưa” sắc tộc cho những
“bảo tàng” nơi miền xuôi, đến tận America, tận đẩu đâu nữa. Mất đi không gian
sinh tồn, người dân “như con bù nhìn sau vụ gặt, chơ vơ trên thang ruộng”.
Những nhân vật như ông Dừn, Lang bà trong Sình ca (Tống Ngọc Hân),
ông già Sẩm Ky trong Đàn trời (Cao Duy Sơn)… là những đại diện
cho con người luôn truyền giữ văn hóa đặc sắc của vùng miền. Sình ca chính là
văn hoá phi vật thể, là “những câu hát đối đáp giao duyên, như kiểu ông bà cụ kỵ
nhà ta ngày xưa hát Xoan, hát Ghẹo”. Ông Dừn và Lang bà đã sẵn sàng vượt qua
khó khăn, định kiến, sự nghiệt ngã của tật bệnh để bảo vệ, gìn giữ, chứng
minh giá trị và sức ảnh hưởng của sình ca. Lão mù Sẩm Ky thổi sáo lưu giữ ký ức
cũ kỹ và xa xưa, mang trong mình mạch nguồn văn hóa vùng miền, như lớp trầm
tích vọng về từ quá khứ đang được nối dài ở hiện tại, vang vọng tới tương lai.
Trân trọng, giữ gìn văn hoá ấy cũng chính là cuộc trở về cội nguồn.
Nói chung, các tác phẩm ở mức độ khác nhau đã giúp lưu giữ, bảo tồn, ngợi ca văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cũng lên tiếng về việc đẩy lùi, xóa bỏ những hủ tục. Văn học còn giúp truyền thông văn hóa đến với cộng đồng độc giả ở vùng miền khác, quốc gia khác; khơi gợi sự hấp dẫn bản sắc văn hóa, kích thích trí tò mò, khám phá du lịch của cộng đồng.
Bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số còn thể hiện ở không gian
sinh tồn của các tộc người.
Các tác phẩm văn xuôi dân tộc miền núi đương đại đã khắc hoạ khá rõ nét bức tranh thiên nhiên miền núi: vừa hùng vĩ, vừa nên thơ, hữu tình, lãng mạn, nhưng cũng có những khắc nghiệt rất riêng, lạ so với các vùng miền khác. Trong không gian sinh tồn ấy, cuộc sống của người vùng cao hiện lên đầy sinh động: cuộc sống lao động thường ngày với những công việc đồi nương, nhuộm vải, trồng lanh, xe sợi, vẽ sáp trên thổ cẩm, thêu thùa, khâu vá, xay ngô, nấu rượu ngô, ăn mèn mén, tắm suối, gội đầu nước gạo: “Mái tóc dài và đen nhỏng nhảnh thơm mùi nước gạo ngâm luôn buông dài… Tươn đội lên mái tóc vẫn “tằng cẩu” nhánh đen. Búi tóc có cái trâm bạc Sừa tặng ngày cưới vẫn còn sáng trắng như mảnh trăng liềm” (Hồn Piêu – Kiều Duy Khánh)…; những căn nhà đất, nhà gỗ, những căn bếp tối, những ô cửa sổ nhỏ từ căn buồng ngủ… Ở ngoài kia, những vạt cải, những cánh đồng hoa tam giác mạch, những cành đào, cành mận, mơ, lê, táo mèo… nở trắng xoá khi mùa xuân đến; đồi núi trập trùng, những con đường quanh co, vực sâu, sương và mây mù bao phủ; những chiếc váy sặc sỡ phơi trên bờ rào đá… Không hiếm gặp một vùng thiên nhiên, không gian sống của người miền núi trong nhiều tác phẩm, như: “Sông Dâng lấp lóa chở cả bầu trời mây bạc như một dòng thiếc”, “phía ấy mặt trời đang lên, từng thửa ruộng bậc thang như vòng tay chồng lên nhau lớp lớp” (Đàn trời – Cao Duy Sơn); Những chân ruộng bậc thang xinh xắn, những nương ngô thoai thoải sườn non, con trâu nghiêng nghiêng cùng người xiết mũi cày liếm vào chân đá… Có tiếng cối nước giã gạo thậm thịch đều đều êm ả, hội cát chăm ngày xuân rộn rã tiếng cười. Tiếng vó ngựa thanh bình dạo trên đường núi loà xoà mây trắng (Lắng lòng quê thương – Hà Phong)… Khung cảnh ấy đẹp yên bình, hoang sơ mà lãng mạn. Lối sống hòa hợp với tự nhiên là truyền thống ứng xử lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số. Cho nên, khi một phần thiên nhiên, quang cảnh ấy mất đi thì các tác giả cũng thể hiện nỗi niềm tiếc nhớ: mỏi mắt tìm khắp các sườn non, vắng hẳn bóng những nương chàm biếc xanh màu lam ngọc, đều tăm tắp như trải thảm. Thiên nhiên rừng núi, không gian sinh tồn đặc trưng, cũng tạo nên nét riêng của miền núi. Cũng không quá khi nói những đoạn văn miêu tả quang cảnh thiên nhiên tạo nên nét hấp dẫn, mới lạ của mảng đề tài văn xuôi dân tộc và miền núi.
Bản sắc văn hoá còn thể hiện ở nhiều yếu tố như những giai điệu
dân tộc, những hoạ tiết, trang phục dân tộc, kiến trúc nhà ở, ẩm thực, y học
cổ truyền…
Các tác giả dân tộc thiểu số viết về đời sống ẩm thực thường
ngày của dân tộc mình trong nhiều tác phẩm: như người Mông thường có món mèn
mén làm từ ngô, nấu và uống rượu ngô, ăn thắng cố, ăn phở chợ phiên; người Thái
thích đồ nướng, thịt treo gác bếp, những người phụ nữ dân tộc thường khéo tay
làm nhiều loại bánh… Ta thấy một niềm tự hào về văn hoá ẩm thực dân tộc mình.
Chẳng hạn, nhà văn Hà Phong (Lai Châu) thường viết về món ăn dân tộc Thái với tất
cả sự nâng niu, không xô bồ, phàm tục. Mỗi món ăn đều được tả chi tiết từ khâu
chuẩn bị công phu, cầu kì; cách làm rồi thành phẩm: vị, hương thơm; cách thưởng
thức… cùng với tình yêu, cảm xúc háo hức, thương mến đối với mỗi món ăn được nấu
bởi mẹ, bởi người thân… Tác giả phân biệt những nét rất riêng của món ăn dân tộc
mình, không lẫn với cái gì na ná: nhân được trộn gia vị của rừng là thảo
quả chứ không phải hạt tiêu, còn hạt gạo thì đã được nhuộm đen nhánh bởi bột
than của cây núc nác (chứ không phải bằng gạo cẩm, hay nhuộm gạo bằng tro
rơm) (Cổ tích bánh chưng đen – Hà Phong). Đến cả không gian ẩm thực
cũng rất đặc trưng Tây Bắc: ra ngồi ngoài “hạn khuống” để vừa ăn vừa ngắm
nhìn trời đất bao la. Rồi uống lẩu kép dưới trăng, cùng nhau chuyện trò râm
ran, cùng uống lẩu kép rồi hát… Có cả một trầm tích văn hoá ẩn chứa dưới những
hương vị đơn sơ – những nguyên liệu đều của mảnh đất ấy, phù sa ấy, núi đồi ấy.
Âm nhạc dân tộc cũng là một yếu tố văn hoá xuất hiện nhiều
trong các tác phẩm văn xuôi dân tộc miền núi đương đại. Những nhạc cụ, những
chàng trai thổi sáo, thổi khèn hay… là những hình ảnh khá quen thuộc: Vừ
trong Lặng yên dưới vực sâu – Đỗ Bích Thuý thổi sáo – những giai điệu
hạnh phúc khi bên Súa, day dứt, buồn thương khi không lấy được người mình yêu;
những điệu khèn hoang sơ, chơi vơi của núi rừng; những tiếng sáo, tiếng kèn
lá, tiếng đàn môi gọi bạn tình suốt đêm… gợi về một vùng cao xa lãng mạn với
văn hoá giao duyên rất đặc trưng. Chử trong Tiếng đàn môi sau bờ rào đá –
Đỗ Bích Thuý xuất hiện với cây đàn môi và âm thanh du dương. “Tiếng đàn ấy
May đã gặp ở mấy phiên chợ rồi, lần nào cũng đuổi sau lưng, May đi nhanh thì
theo nhanh, May đi chậm thì theo chậm, bây giờ lại dám theo về tận nhà người ta
nữa”. Âm điệu réo rắt của tiếng đàn môi khiến tâm hồn của cô gái mới lớn
là May xao động; khiến mẹ già với nỗi hoài niệm về tuổi thanh xuân bị mất
mát bừng lên khát khao hạnh phúc riêng tư… Sừa trong Hồn Piêu của
Kiều Duy Khánh đêm nào “cũng mặc bộ quần áo đẹp nhất, đem cái khèn bè đến dưới
cầu thang nhà Tươn thổi. Tiếng khèn như có lửa khiến đôi má Tươn đã đỏ càng
thêm ửng hồng…”. Dường như, có một người nghệ sĩ trong mỗi chàng trai
miền núi, khi họ đều biết sử dụng nhạc cụ dân tộc, lấy đó để gửi
đi tâm tư của mình.
Những làn điệu dân ca cũng được thêm vào, vừa góp phần thể hiện
không gian nghệ thuật, vừa bộc lộ tâm lí nhân vật trong ngữ cảnh cụ thể. Nhân vật
Xí trong Lặng yên dưới vực sâu – Đỗ Bích Thúy hát “Ngày trước bố mẹ
ăn gì sinh ra anh/ Để em ngắm nhìn đôi má anh/ Lúc nào cũng tươi tắn…” cũng là
lúc con tim biết yêu. Kía hát: Mây nắng bảo anh đi, mây mưa bảo a
về… Anh buông tay em, tay như rụng khi nhớ thương Dí mà không lấy
được nhau (Con dê bốn mắt – Đỗ Bích Thúy). Nông Quang Khiêm ghém
vào Nẻo về một làn điệu “iếu” của người Tày khi cô gái bị ép
duyên: Bao giờ nai lìa rừng mới bỏ/ Lúc nào trâu lìa cỏ mới thôi/ Đổ nước
cho đầy sọt mới lìa/ Đổ nước cho đầy vợt hẵng xa… Là câu dân ca Mông mở đầu tiểu
thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy: Mưa ngâu thấm lên cây/ Gầu
Mông trầm ngâm làm con dâu đường xa…, để thấy những số phận bi kịch bên những cột
đá treo người… Những câu hát như gửi gắm cả tâm sự của nhân vật. Âm nhạc
truyền thống của dân tộc thật sự là văn hóa, là nơi gửi gắm tâm tư,
tình cảm của con người. Và văn học đều nhận diện điều đó.
Trang phục truyền thống dân tộc cũng là một nét
đẹp văn hóa tiềm ẩn, độc đáo được thể hiện trong các tác phẩm văn học.
Phụ nữ dân tộc thường khéo léo thêu thùa trên thổ cẩm, đặc biệt là
người Thái, người Mông. Những cô gái Thái làm khăn piêu, chăn đệm
trước khi lấy chồng; Những cô gái Mông thêu váy áo đẹp đi chợ phiên.
Phụ nữ Mông hay cuốn xà cạp nơi bắp chân, chiếc váy thổ cẩm có thể
cầu kì hay đơn giản nhưng luôn có cái thắt lưng. Tất cả những chi
tiết đó đều đi vào văn học: Bà Kia cũng đã chuẩn bị bộ váy áo đẹp dệt
từ cây lanh đầu vụ. Dâu ngoan mặc bộ váy truyền thống này để ma nhà ưng nhận mặt,
để từ nay biết se sợi lanh không bị đứt, ăn bát mèn mén biết thấy vị ngon” (Hoa
Sàng Jàng – Kiều Duy Khánh); “Mẹ dạy Tươn tập thêu khăn Piêu từ lúc Tươn
còn thấp như cái chõ xôi trên bếp. Cái khăn đầu tiên mẹ bắt phải thêu thật kỹ,
thật đẹp. “Piêu đầu tiên là cái piêu để mọi người biết cái khéo của mày đấy con
gái à. Nó là cái khăn linh thiêng nhất, là “Mặc Piêu” (khăn yêu) vì nó giữ cái
hồn của người con gái đã làm ra nó… Piêu này chỉ để dành tặng cho người con
trai mình hợp mình yêu, muốn cùng chung chăn chung gối. Tặng cái Piêu này cho
người mình ưng thì nó sẽ giữ cái hồn của hai người lại với nhau mãi mãi” (Hồn
Piêu – Kiều Duy Khánh)…
Trang phục liên quan sâu sắc đến tín ngưỡng của dân
tộc. Khi một cô gái lấy chồng ngoại tộc: “Những đứa ấy, nếu không tự may
quần áo mặc, thì chết đi, thần linh cũng không nhận. Nếu muốn được tổ tiên tha
thứ, thì khi chết, phải mặc nguyên đồ trắng và chôn theo một ít lá chàm. Chỉ những
người phụ nữ Dao khi chết mới được mặc bộ quần áo chàm” (Kiều mạch trắng
– Tống Ngọc Hân).
Trang phục không chỉ là vật chứng của giá trị tinh thần, giá trị văn hóa vật chất truyền thống mà còn giúp thể hiện phẩm chất nhân vật, tình cảm giữa con người với nhau. Chiếc thắt lưng thêu trong (Ðợi mùa nắng ấm – Tống Ngọc Hân) vốn là vật quý của người phụ nữ dân tộc Mông. Nhưng vì cần tiền mua thuốc cho mẹ chồng mà Dâu bán đi; nhưng rồi người mẹ chồng đã lẳng lặng bán mớ ngô giống dành cho mùa sau để chuộc lại chiếc thắt lưng thêu ấy lại cho con dâu mình. Trong Chợ tình, đôi giày vải là kỉ vật tình yêu giữa Sinh và Ếm. Đôi giày do mú Ếm đã khâu tặng gần sáu mươi năm về trước. Đôi giày ấy lão đã đem theo bên mình “bằng cả mười lăm đời ngựa”. Đôi giày được lão Sinh hết sức nâng niu, giữ gìn như giữ gìn tình cảm sâu nặng với người con gái yêu mà không lấy được nhau. Lão luôn để đôi giày trong ngực áo, khi “vuốt nhẹ từng đường chỉ khâu, lão cảm giác như đang vuốt lên các ngón tay thon mềm mại của Ếm”, “giày này tay em khâu, anh chỉ đi cho một mình em nhìn thấy” (Chợ tình – Cao Duy Sơn). Hình ảnh đôi giày, câu chuyện về đôi giày vải giúp thể hiện tính cách thủy chung, nghĩa tình của người miền núi.
Bản sắc văn hoá thể hiện ở vẻ đẹp phẩm chất con người miền
núi.
Người miền núi thuần hậu, chất phác, mộc mạc, thẳng thắn,
hồn nhiên như đất trời, như cây cỏ. Họ sống nghĩa tình, cao thượng, chung
thủy trước sau như một. Những điều này đều được thể hiện qua cá
tính, phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn của nhiều nhân vật trong các tiểu
thuyết, truyện ngắn. Con người là nhân tố cốt lõi của văn hóa. Xây
dựng hình tượng con người miền núi với cảm hứng trân trọng, ngợi ca
cũng là một cách thể hiện niềm tự hào về đất và người, bản sắc
văn hóa dân tộc.
Pa Mạc và mú Sắn Pì trong Đàn trời – Cao Duy Sơn
là những hình tượng tiêu biểu cho con người miền núi, chất phác, mộc mạc,
trong lành như nước suối đầu nguồn. Họ là hiện thân của bản mường, cộng đồng,
là đại diện cho lòng nhân ái và sự bao dung. Pa Mạc hiền lành, chất phác, trung
thực và nhân hậu, kiệm lời nhưng rắn rỏi, không bao giờ thất hứa với ai khi nhận
lời, không bao giờ làm phiền ai. Pa Mạc dạy đứa con nuôi là Thức thành người
ngay thẳng, chân thành và cứng cỏi. Mú Sắn Pì, người đàn bà cao lớn, xấu xí, kỳ
dị lại là người yêu thương, bao bọc và bảo vệ đứa trẻ không phải con mình đẻ ra
– là Thức còn hơn cả tính mạng của bản thân. Cũng như người đàn bà xấu
xí trong Đường mưa – Tống Ngọc Hân, sẵn sàng chấp nhận đứa
con riêng của chồng. Ngay cả khi phát hiện ra đứa bé bị hở hàm ếch
ấy không phải con của chồng thì chị cũng dang tay đón nhận. Cũng như
mẹ già Mao trong Tiếng đàn môi sau bờ rào đá – Đỗ Bích Thúy dành cả
tuổi thanh xuân để nuôi hai con riêng của chồng khôn lớn bằng tất cả
tình yêu thương. Thầy Hạc trong Ngôi nhà xưa bên suối – Cao Duy Sơn
là hiện thân của sự hi sinh, tấm lòng cao cả ẩn mình dưới một thân hình bé nhỏ
và thân phận đáng thương.
Người miền núi yêu ghét rạch ròi. Đã yêu thì nghĩa
tình, chung thủy, cả đời không quên. Nhiều mối tình minh chứng cho
điều đó. Trong đó, chuyện tình giữa Sinh và Ếm (Chợ tình – Cao
Duy Sơn) là một câu chuyện cảm động và cũng tiêu biểu cho phẩm chất
này của người dân tộc vùng cao. Sinh và Ếm như nhiều đôi trai gái
khác, yêu nhau không lấy được nhau. Đến tuổi xế chiều, sau khi con cái
trưởng thành, họ mới trở lại chợ tình tìm gặp nhau. Họ đến bên nhau
không phải để hưởng thụ vật chất, cũng không phải để thỏa mãn bản năng, họ
không tham lam, đòi hỏi mà chỉ để chia sẻ với nhau, được ăn với nhau
bữa cơm đạm bạc rồi về. Lão Sinh và Ếm vốn là những người dân miền núi
chân chất, lam lũ nhưng bên trong những chiếc áo chàm bình dị ấy là tâm hồn thật
khoẻ khoắn và giàu có, là trái tim nhân hậu và ấm áp vô cùng. Họ sống và yêu mộc
mạc nhưng nghĩa tình, chung thuỷ; giản dị nhưng nồng nàn, sâu sắc vô bờ bến.
Người miền núi còn mang trong mình tố chất của sức mạnh đại
ngàn. Họ dũng cảm, giàu khả năng chịu đựng, hồi sinh, tái sinh như “khóm ngải
tàn khóm ngải lại lên xanh”. Ở họ có một tình yêu thiết tha không bao giờ vơi cạn
đối với con người và cuộc sống, có niềm tin bất diệt vào ngày mai tươi sáng “hết
đêm sang ngày”. Nhờ sự nâng đỡ của niềm tin ấy, con người có thể chấp nhận những
cay đắng tủi hờn của số phận, lặng lẽ sống trong u ám sương mù để đợi “đến
ngày mặt trời mới lên trên đỉnh đầu ta”. Có thể xem các tác phẩm văn xuôi
dân tộc thiểu số là những bài ca ca ngợi sức sống tiềm tàng của con người miền
núi.
Tóm lại, con người và đời sống ở miền núi đều được
các nhà văn đưa vào tác phẩm của mình qua những câu chuyện, hình ảnh
tiêu biểu giàu tính chân thật, như đời sống vốn vậy. Người đọc, qua
tác phẩm có thêm những hiểu biết về nhiều phương diện của đời sống tộc người,
đồng thời cảm nhận tình yêu thiết tha của các nhà văn khi viết về những vẻ đẹp
văn hóa truyền thống.
Có thể nói, những phong tục tập quán, những hội hè đình đám, những lối ăn lối mặc… đúng là nó mang vác hồn vía, tính cách, thói quen, tâm lí… dân tộc nhưng không phải là cái duy nhất. Tất nhiên, những yếu tố văn hóa mang tính bản sắc, dễ nhận diện thì được chú trọng miêu tả hơn. Tuy nhiên, văn hóa dường như nằm trong mọi yếu tố của đời sống. Bản sắc văn hóa, về bản chất không hoặc ít thay đổi nhưng không phải là một cái gì cố định, bất biến, mà có sự tái cấu trúc liên tục về chất liệu. Văn hóa không phải là cái thuộc về quá khứ. Văn hóa luôn thuộc về thì hiện tại, nó luôn đồng hành với con người, luôn luôn. Văn hóa ăn sâu vào tiềm thức, vô thức của nhà văn qua không gian và thời gian mà họ tồn tại. Và khi nhà văn giải phóng con người cá nhân của mình, dù ở mảng đề tài gì, thì nó vẫn hàm chứa văn hóa. Nói như Cao Duy Sơn “Cái hay nhất vẫn là cái mình chưa viết ra được”. Bởi bản sắc văn hóa vừa là cái được bộc lộ – cái đặc trưng nổi trội, dễ nhận ra, lại vừa là giá trị cốt lõi được ẩn giấu, chỉ có thể nhận diện khi được nghiên cứu rất sâu.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Chính qua ngôn
ngữ, văn hóa được thể hiện. Có thể thấy, ngôn ngữ và giọng điệu
văn chương của nhiều nhà văn đã rất thành công khi mang đặc trưng “người
vùng mình”. Nhà văn có thể không sử dụng tiếng mẹ đẻ để sáng tác,
nhưng cách tư duy, biểu đạt thì bằng lối nghĩ, lối viết của dân tộc, vận
dụng những tinh hoa ngôn ngữ dân tộc mình. Nhà văn dân tộc thiểu số có
thế mạnh trong khi khai thác “chất người miền núi” trong chính con
người mình để thể hiện cội nguồn văn hóa. Do bản thân họ thấm đẫm hồn
cốt, bản sắc của dân tộc mình mà tác giả người Kinh phải học hỏi,
phải nhìn bằng con mắt khách quan. Giáo sư Phong Lê từng khẳng định
rằng: “Không ai là người nói lên được tốt nhất thế giới tâm hồn và khát vọng
của mỗi dân tộc bằng chính người viết của dân tộc mình… Chỉ có người viết
dân tộc mới có khả năng làm ánh lên được những nét riêng trong cảnh sắc sinh hoạt,
trong nét dáng tâm lý và ngôn ngữ con người dân tộc mà thôi”. [13; 264].
Sẽ thật đáng quý, nếu các nhà văn dân tộc thiểu số có thể sáng tác được
song ngữ bằng cả tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong giữ gìn vẻ đẹp của ngôn ngữ
dân tộc, của bản sắc văn hoá. Nhưng nhà văn dân tộc thiểu số cần vượt qua
được giới hạn chủ quan để thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc ra cộng
đồng quốc gia, khu vực, thế giới.
Khi cầm bút, bất kể nhà văn chân chính nào cũng tìm
kiếm một cách thể hiện độc đáo, đổi mới phương thức trần thuật để
tiệm cận đời sống theo ý tưởng sáng tạo của mình, nhằm tạo ra các
tác phẩm có giá trị cả về nội dung và hình thức. Ngày nay, trong
nghệ thuật thể hiện, những yếu tố hiện đại dần nổi trội hơn cho
hợp với thị hiếu, thời đại và nội dung được phản ánh. Tuy nhiên, có
vẻ như với mảng đề tài dân tộc, miền núi, dù nghệ thuật đã được
đổi mới thì yếu tố truyền thống vẫn còn có những giá trị nhất
định. Nhiều nhà văn vẫn khá chung thủy với lối kể chuyện truyền thống
trong kết cấu tác phẩm, điểm nhìn, lời văn trần thuật… mà vẫn tạo nên được
những tác phẩm giá trị. Bởi dường như, những lối kể chuyện quá
hiện đại, phương Tây hóa đi xa tầm đón nhận của người đọc, nhất là người đọc
dân tộc thiếu số, nên khó tạo được sức hấp dẫn và phần nào làm mờ đi bản sắc
dân tộc trong nghệ thuật thể hiện.
Một số tác phẩm mang lại ấn tượng như là “Những câu
chuyện kể nghe như cổ tích” (Cao Duy Sơn) và hình ảnh những con người như
bước ra từ cổ tích. Ngôn ngữ trong văn xuôi dân tộc thiểu số mang vẻ đẹp mộc mạc,
giản dị, tự nhiên như cây cỏ. Họ định nghĩa tổ quốc thật gần gũi và đơn
giản thế này: “Đây là nhà của chúng mình, là tổ quốc của mình. Tổ quốc được
bắt đầu từ chân cầu thang tì dưới mặt đất bắc lên sàn nhà” (Đàn trời –
Cao Duy Sơn). Do sống gần gũi với thiên nhiên nên người miền núi thường so sánh
con người với thiên nhiên và cấp cho thiên nhiên những đặc tính của con người.
So sánh thường có xu hướng cụ thể hóa cái trừu tượng theo lối tư duy trực
giác. Chẳng hạn, “Seo Mây đẹp như con chim công, đẹp cả bộ lông lẫn tiếng
hót” (Hoa mía – Bùi Thị Như Lan). Giọng lão Mạc trong Đàn trời –
Cao Duy Sơn “như mạch nước ngầm trào ra từ lòng núi, đi qua những ghềnh
đá, những vực cao, những rừng sâu đầy những bất trắc rình rập”…
Các nhà văn cũng thường kế thừa, tiếp thu tinh hoa của
thơ ca cổ, truyện thơ cổ, những làn điệu, những bài hát dân ca, vận dụng những
câu thành ngữ, tục ngữ, tiếng của dân tộc mình…, một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn
trong quá trình sáng tác. Những vẻ đẹp ngôn từ này cùng với tình yêu tha
thiết với văn hóa quê hương, với dân tộc đã góp phần thể hiện bản sắc dân
tộc. Từ đó bản sắc dân tộc lên hương lên nhạc, tạo được sự mới lạ và sức hấp
dẫn riêng với người đọc.
Nhà văn trẻ Nông Quang Khiêm để cố gắng giữ gìn vẻ đẹp văn
hoá Tày, không chỉ thể hiện qua nội dung, về sự lưu giữ văn hoá trong quá trình
bị cưỡng bức văn hoá, đô thị hoá… mà còn minh chứng qua vẻ đẹp của ngôn ngữ dân
tộc. Bởi ngôn ngữ luôn gắn liền và ẩn chứa giá trị văn hoá từ ngàn đời. Nông
Quang Khiêm viết giản dị, thẳng thắn, thật thà, tự nhiên như lối nói, lối nghĩ
của người dân tộc, kiểu như: “Đấy! Quả ớt nhìn ngoài thì đẹp, ở trong ăn cay
đúng không” (Gió cuốn mây ngàn); hay lời mẹ già khuyên Xao tái giá “Mình đã từng
lầm lỡ, giờ có người thương thì làm lại cuộc đời con ạ! Bố mẹ già rồi, thịt
xương đã thơm mùi giun đất… con không thể ở mãi thế được” (Tiếng hú trên đỉnh
Pù Cải). Anh còn khéo léo giới thiệu những làn điệu “iếu” (hát đối đáp giao
duyên) của người Tày trong nhiều truyện ngắn. Những câu hát vừa là tâm trạng
nhân vật, vừa góp phần gợi tả không gian diễn xướng: Mừa hâu nạn lìa đông
chắng giá/ Mừa hâu vài lìa nhả cỏi thôi/ Tắc nặm hẩu têm cuôi cỏi piạc/ Tắc nặm
hẩu têm bắc cỏi lìa… (Bao giờ nai lìa rừng mới bỏ/ Lúc nào trâu lìa cỏ mới
thôi/ Đổ nước cho đầy sọt mới lìa/ Đổ nước cho đầy vợt hẵng xa); “Khằm hăn nọc
khảm khắc roọng thương/ Khảm khắc bấu phần tối chắng liệc/ Khảm khắc cụng chứ
điếp bặng làu/ Tê puồn nhằng mì mạy téc chấp/ Pì puôn pay cảu pù síp phương/ Đạo
bạn nghĩa vạ căn thôi nớ/ Noọng pây cách bản vạ cần đai (Đêm nghe chim khảm khắc
vọng thương/ Khảm khắc chẳng đủ đôi than thở/ Khảm khắc cũng buồn nhớ như ta/
Chúng buồn còn cây mà đậu/ Anh buồn đi chín núi mười phương/ Đạo bạn nghĩa từ
nay thôi đoạn/ Em thôi về cách bản cùng người) (Nẻo về)… Những lời hát dân
gian, những lời khấn trong nghi lễ cúng tế, Nông Quang Khiêm thường kèm theo
song ngữ tiếng Tày, thể hiện rõ tính cổ truyền của phong tục, tập quán. Nhà văn
trẻ cũng dùng nhiều đại từ nhân xưng bằng tiếng dân tộc trong tác phẩm: Pó (bố), Ềm (mẹ), Pú
è (ông nát rượu), Bà nải (bà góa), thầy tào (thầy
cúng), nàng Hương (người con gái thắp hương trong lễ hát Pụt). Tất cả
gợi một không khí rất quê hương, bản xử, văn hoá dân tộc rất đậm đà. Tất cả đều
thể hiện niềm tự hào của Nông Quang Khiêm về bản sắc văn hoá, về vẻ đẹp ngôn ngữ
dân tộc Tày.
Những tác phẩm văn xuôi vừa có những cách tân, đổi
mới về nghệ thuật cho phù hợp với thời đại, lại vừa kế thừa được thành
tựu của giai đoạn văn học trước, phát huy được vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc
là một yêu cầu, thách thức với các nhà văn đương đại.
Ngày nay, nhiều tác phẩm văn xuôi dân tộc và miền núi được chọn dịch và giới thiệu ra nước ngoài hoặc một số truyện tiếng Việt lại được đông đảo cộng đồng người Việt ở nước ngoài đón nhận. Điều này giúp mở rộng biên độ tiếp nhận và góp phần tạo nên sự giao lưu văn học, văn hoá. Đồng thời thể hiện sự cố gắng, tự tin hội nhập của các nhà văn Việt Nam với sắc màu và bản lĩnh riêng. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như truyện ngắn Hồn Piêu của Kiều Duy Khánh được dịch sang tiếng Anh và đăng tải trên báo Việt Nam News, tiểu thuyết Chúa đất của Đỗ Bích Thúy được dịch sang tiếng Hàn; tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối của Cao Duy Sơn được nhận Giải thưởng Văn học Asean của Hoàng gia Thái Lan…
Tóm lại, với bản chất linh động và dân chủ của thể loại,
văn xuôi có khả năng lưu giữ cái sinh động, phong phú của những giá trị văn
hóa truyền thống dân tộc ở mọi lĩnh vực, cả văn hóa vật thể và phi vật thể.
Không chỉ lưu giữ, bảo tồn, ngợi ca, tự hào về những giá trị văn hoá truyền thống
tốt đẹp, mà văn học còn là một phương cách hữu hiệu đặc thù trong truyền bá, giới
thiệu văn hoá dân tộc tới cộng đồng thế giới.
Nếu như các công trình văn hóa học, dân tộc học, sử học, nhân
học, Việt Nam học, du lịch văn hoá… thường nghiên cứu bản sắc dân tộc từ góc
nhìn đồng đại hoặc lịch đại với cái nhìn khách quan, không bao hàm thái độ của
tác giả; thì trong tác phẩm văn học, các tri thức văn hóa truyền thống được lồng
vào câu chuyện với các nhân vật và tình huống truyện và nhà văn thường bao giờ
cũng gửi vào đó tình cảm, thái độ của mình dù ở những mức độ đậm nhạt khác
nhau. Đó thường là tình yêu, niềm tự hào, trân quý với các giá trị văn hóa cội
nguồn; hoặc nỗi lo lắng về sự mai một của các giá trị tốt đẹp, về sự hỗn tạp,
lai căng văn hoá, về sự tha hoá, biến chất của con người trong thời đại mới; là
tiếng nói phê phán, bài trừ những yếu tố văn hoá không còn phù hợp, ngăn cản sự
phát triển của xã hội và tiến trình xây dựng con người mới, xây dựng nền văn
hoá tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa hội nhập quốc tế.
Thực tiễn, văn xuôi dân tộc miền núi thế kỉ XXI đã mở rộng
biên độ, thể hiện khá đa dạng, sinh động bản sắc văn hoá dân tộc, tuy nhiên
cũng chưa thể toàn diện. Văn xuôi dường như mới chỉ chú ý những nét bản sắc
văn hóa truyền thống độc đáo, tiêu biểu đã được lưu truyền từ nhiều thế hệ.
Thời kì hội nhập, cuộc sống số và cuộc cách mạng công nghệ đang biến
đổi từng ngày thì những giá trị văn hóa cũng có ít nhiều biến đổi
theo. Những biến đổi tinh vi của đời sống văn hóa, những góc khuất
của đời sống văn hóa thực tiễn miền núi, dù đã được đề cập tới nhưng
chưa được quan tâm nhiều, hoặc có thể văn học chưa kịp thời cập nhật, chưa
khám phá ra hoặc đã chạm tới nhưng chưa “tới hạn”.
Cái đích cuối cùng của văn chương vẫn là truyền tải thật hiệu
quả các vấn đề của cuộc sống đến với người đọc, góp phần xây dựng con người mới,
bao gồm các giá trị nhân cách, tâm hồn mang cốt cách dân tộc trong thời đại mới.
Bởi vậy, văn học phải hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, vừa giữ gìn, phát
huy vừa hội nhập, hội nhập nhưng phải thể hiện bản lĩnh văn hoá dân tộc, không
hoà tan trong sự giao lưu, tiếp biến văn hoá. Trên tinh thần ấy, các nhà văn
để trở thành những “người giữ lửa”, người góp phần bảo tồn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc cần gắn bó, thẩm thấu thật sâu vào cội nguồn truyền
thống để hiểu tận tường đời sống văn hóa dân tộc, phải tìm thấy ở truyền thống
văn hóa dân tộc mình cái hay, cái đẹp, phải yêu và có nhu cầu gìn giữ, phát
huy, phát triển vốn văn hóa ấy qua sáng tạo nghệ thuật thì mới có những
tác phẩm giá trị. “Văn hóa là thứ không thể bịa đặt, người viết không thể hư cấu.
Vậy, để có thể viết được những tác phẩm văn học về dân tộc và miền núi, tác giả
cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và thấm nhuần giá trị văn hóa của dân tộc”. [12]
Nhưng nhà văn cũng cần có cái nhìn rộng mở, làm mới mình trong giao lưu
văn hóa, sẵn sàng chắt lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại, cải biến để
phát triển văn hóa dân tộc, đảm bảo tinh thần hội nhập. Văn hoá nhân loại
luôn có mẫu số chung hướng tới chân – thiện – mĩ. Văn hoá dân tộc là cái riêng,
nhưng không thể đi ra ngoài cái chung. Chỉ có như thế, tác phẩm mới mang
tầm thời đại, và được đón nhận bởi công dân toàn cầu, nhưng trước hết
vẫn phải thể hiện tính dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc “Dù toàn cầu hoá hay quốc
tế hoá mạnh mẽ tới đâu thì về phương diện văn hoá, thế giới không bao giờ chỉ
là “phẳng”. Nếu như quốc tế hoá, toàn cầu hoá làm cho “thế giới phẳng” thì một
xu hướng song trùng, đối trọng là “dân tộc hoá quốc tế” sẽ làm cho thế giới lúc
nào cũng “gồ ghề” và đa dạng”[24].
Trong thời đại ngày nay, trước nhiều ngụy giá trị luôn tồn tại song song với giá trị đích thực, đòi hỏi nhà văn cần có tâm, có tài và bản lĩnh trong ý thức bảo tồn, phát huy, làm đẹp, làm giàu cho bản sắc văn hóa dân tộc mình. Đó chính là con đường phát triển của văn học nói chung, văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng, góp phần thể hiện bản lĩnh văn học, văn xuôi dân tộc trong thời kì mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hoàng Chí Bảo (2009), Hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt
Nam trong đổi mới, Tạp chí Cộng sản số 7 (175) năm 2009.
2. Lê Thanh Bình (2019), Hệ giá trị văn hóa Việt Nam và các
tiêu chí phù hợp trong giai đoạn mới, http://tuyengiao.vn/
3. Hoàng Sông Gianh, Tiếng kêu của bản sắc văn hóa
vùng cao, http://vannghequandoi.com.vn/
4. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, Nxb. Dân trí.
5. Bùi Như Hải (2016), Truyện ngắn Cao Duy Sơn trong mạch nguồn
truyện ngắn dân tộc thiểu số đương đại, https://vanhien.vn/
6. Lương Đình Hải (2009), Những tiêu chí cơ bản của con người
Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, Tạp chí Thông tin Khoa học xã
hội, Số 10 và 11.
7. Chu Thu Hằng (2008),Cả đời tôi chỉ đeo đuổi đề tài về người
miền núi, Báo Văn hóa số 1609 ra ngày 12/11/2008.
8. Dương Thu Hằng – Đào Thủy Nguyên (2011), Văn xuôi các
dân tộc thiểu số Việt Nam trên hành trình hội nhập, http://hcmup.edu.vn/
9. Dương Phú Hiệp (2014), Bảo tồn và phát triển hệ giá trị
văn hóa truyền thống Việt, http://tonvinhvanhoadoc.vn, ngày 12/12/2014.
10. Nguyễn Văn Hiệu (2009), Tiếp cận hệ giá trị văn
hóa Việt Nam từ góc nhìn xuyên văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số
11/2009
11. Ngọc Lan (2006), Inrasara – Viết như một công dân
thế giới, Báo Thế thao – văn hóa, 14-7-2006
12. Nhiều tác giả (1998), Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
13. Nhiều tác giả (1985), 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân
tộc thiểu số Việt Nam (1945 -1975), Nxb Văn hóa, H.
14. Mai Thị Thùy Nhung, Khóc cho những giá trị
đạo đức lụi tàn, http://vannghequandoi.com.vn/
15. Đào Thủy Nguyên, Cội nguồn văn hóa dân tộc trong truyện
ngắn Cao Duy Sơn, http://vienvanhoc.vass.gov.vn
16. Lê Phương (2013), Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập, đổi mới, https://vovworld.vn/
17. Hồ Sĩ Quý (2018), Mấy vấn đề về hệ giá trị văn hóa Việt
Nam hiện nay, http://hdll.vn/
18. Lâm Tiến (2000), Văn học và miền núi, NXB Văn hóa dân tộc
19. Bùi Quang Thắng (2013), Hướng tới sự đa dạng trong hệ thống
giá trị nghệ thuật ở Việt Nam, Tham luận hội thảo “Hệ giá trị văn hóa Việt
nam trong thời kỳ hội nhập” do Tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật tổ chức (tháng 5.
2013)
20. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam, NXB Tp.HCM.
21. Trần Ngọc Thêm (2001): “Bản sắc văn hóa Việt Nam trước ngưỡng
cửa thiên niên kỷ mới” trong Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận (Lê
Ngọc Trà tập hợp, giới thiệu), NXB Giáo dục.
22. Hữu Thỉnh (2009), Bàn về vấn đề giữ gìn,
phát triển bản sắc văn hóa (Hội thảo “Tính dân tộc và tính hiện đại trong
văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay”
23. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hoá vùng và phân vùng
văn hoá ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
24. Ngô Đức Thịnh (2011), Một số vấn đề lý luận nghiên
cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập. Nguồn:
http://vanhoanghean.com.vn/
25. Trần Thị Việt Trung – Cao Thị Hảo (Đồng chủ biên)
(2011), Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc điểm,
Nxb Đại học Thái Nguyên.
17/7/2021
Lê Thùy Giang
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét