Dương Từ, đến bến, tính ra tiền đò.
Ngư rằng: Lòng chẳng bo bo,
Phòng tham tiền bạc so đo với người.
Trót đà làm phải trên đời,
Ngàn vàng chẳng báu, một lời rất sang.
Từ rằng: Ta tiếc cho chàng,
Chẳng phen lương đống, cũng trang anh hùng.
430.- Nghe rằng nước Tấn chinh đông,
Cầu đặng võ sĩ ra công can thành.
Cớ sao chẳng xuống Tây kinh,
Phò vua giúp nước, lập danh để đời?
Cá tôm đặng mấy mươi lời,
Theo nghề chài lưới, quên nơi sang giàu?
Ngư rằng lời khéo phỉnh nhau,
Ai từng khát nước gối đầu bờ ao?
Người nay có khác xưa nào,
Đất dày thăm thẳm, trời cao mù mù.
435.- Bốn mùa thành quách làm xâu,
Dân gầy, nước ốm, mỡ, dầu, cũng khô,
Thấy đời danh lợi biến phô,
Khác nào con chấu nhảy vô vòng đèn.
Từ rằng: Xưa sách còn khen,
Công thành danh toại, ai bèn chi ai?
Ngư rằng: Xưa đấng hiền tài,
Lập thân há chẳng biết tài bảo thân.
Dầu vinh cũng tiếng nhân thần
Trâu cày ngựa cỡi, cái thân ra gì?
440.- Chớ ăn lộc nước đời suy,
Bẫy chim, lưới thỏ, e khi mắc nàn.
Trối ai ra sức muông săn,
Một mai hết thỏ, chúng ăn tới mình.
Sao bằng một cõi an sanh,
Sông sâu vực thẳm, ai giành chi đây?
Sẵn dòng chèo quế một cây,
Thuyền mang một chiếc, đỡ ngày hôm mai.
Theo sông khúc vắn khúc dài,
Năm ba sợi nhợ, một vài cần tre.
445.- Đêm trăng ngày gió, bạn bè,
Vui câu hát xướng, buồn ve rượu đào.
Thả trôi gành hạc, bãi ngao,
Thú vui non nước, mặc dầu nghinh ngang.
Cá tôm sẵn lộc trời ban,
Phận đà no đủ, còn màng của chi?
Nói rồi thong thả chèo đi,
Dương Từ khen đó tính ky lâu dài.
Than rằng: Thương đứng anh tài,
Sanh không gặp thuở, khó nài thân sau:
450.- Hỡi ai lộc trọng quyền cao!
Thú hèn cũng có anh hào, chớ khinh.
Họ Dương từ thuở đăng trình,
Trải chơi non nước sự tình biết bao.
Đi hơn nửa tháng lao đao,
Đến nay mới thấy đường vào Thiên thai,
Thiên thai một cảnh an bài,
Dương Từ mới tới, ở ngoài động môn
Lúc nầy người ở động môn,
Tên là Hà Mậu, trí khôn, người hiền.
455.- Theo cùng ông Lý tri Niên,
Từ non Tùng lãnh vào miền Thiên thai
Đi đà hơn nửa tháng dài,
Phút đâu lố thấy gần ngoài động môn.
Tri Niên, lừa thả bên non,
Cùng ngươi Hà Mậu đều lòn cửa hang,
Hai người ra khỏi cửa hang,
Đến nơi động khẩu gặp chàng họ Dương.
Họ Hà, họ Lý, họ Dương,
Ba người gặp hỏi, mới tường tánh danh.
460.- Niên rằng: Tiên cảnh rất linh,
Họ Dương ngươi hãy ở đành lại đây.
Chờ ta tới trước am mây,
Lên chùa Linh diệu thăm thầy Lão nhan.
Dương Từ nghe nói vội vàng,
Thưa rằng xin đó đem đàng ta đi.
Niên rằng: ngươi vốn thiền sư,
Tới nơi tiên cảnh cầu chi chăng là?
Từ rằng: nghe tiếng đồn xa,
Rằng chùa Linh diệu một toà ở đây.
465.- Niên rằng: Linh diệu chùa này,
Vốn không thờ Phật mà lây tới thiền.
Từ rằng không Phật, có Tiên,
Xin cho đặng thấy, phỉ nguyền chơi mây.
Niên rằng: Hai gã ở đây,
Để ta tới trước Động Mây một giờ.
Lâu, mau, sao vậy cũng chờ,
Cho tin xuống rước kịp giờ sẽ hay.
Niên rằng: Đường lên trên thầy,
Mây tuôn mù mịt đá vầy nhỏ to.
470.- Dương Từ Hà Mậu đều lo,
Ngồi trong cửa động lò mò hỏi nhau.
Mậu rằng: Tiếc đó đi tu,
E khi cửa Phật công phu lỡ làng.
Ta nghe Phật ở Tây phang,
Vốn người mọi rợ, luân thường chẳng ưa.
Lại nghe tam đại đời xưa,
Dân an, nước trị, Phật chưa bày hình,
Đến năm đời Hán Vĩnh Bình,
Sứ qua Thiên Trúc rước kinh Phật về,
475.- Tới sau Lương Vũ rất mê,
Lập chùa tượng cốt, chuyên nghề sử trai.
Ngụy, Trần,Tề, Tống đến nay,
Đời đời nào cũng trọng thầy sa môn.
Trên vua đến dưới dân thôn,
Đua nhau kính trọng một môn phù đồ,
Quì hương, chẩn tế, nam mô.
Tới lui tăng đạo, ra vô Phật đường,
Bao nhiêu theo đạo Tây phương.
Phước lành chưa thấy, tai ương tới mình,
480.- Trên thời nghiêng nước nghiêng thành,
Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao!
Phật linh mấy cứu ai nào,
Người nay sao hãy lòn vào Thích gia?
Từ rằng: Ngươi chớ giấu ta,
Đạo nào nên trọng, nói mà nghe chơi?
Mậu rằng; Ta trọng đạo Trời,
Tới nay đã đặng năm đời Gia tô.
(Lược)
Chú thích:
Bá Đạo: tên tự của đăng Du, người đời tấn, thời Kiến hưng làm thái thú Hà đông. Gặp buổi Thạch Lặc Làm loạn (năm 314 tây nguyên) Bá Đạo chạy trốn, đem theo vợ con và một đứa cháu, là con của em trai mình. Dọc đường gặp giặc, kế khon lưỡng toàn; nghĩ em mình mất sớm, chỉ có một con nối dòng, bèn khuyên vợ bỏ con ruột mình. Vợ khóc mà vâng lời. Đứa nhỏ,bỏ mai chiều lại gặp.Bá Đạo phải bắt trói vào côi cây. Từ khi bỏ con rồi vợ Bá Đạo khong thai dựng nữa. Bá Đạo cưới thiếp, rất yêu người thiếp,chẳng ngờ hỏi ra là cháu của mình. Bá Đạo từ đấy không nạp thiếp. Chết không người kế tự.
Đường Hàn tử Xương Lê: Hàn Xương Lê: Hàn Dũ, có dâng biểu bác đạo phật,
huyễn: Chữ huyễn quen đọc là ảo.
cúng dường: chữ cung dưỡng đọc khác giọng.
tang trung: Trong đám dâu.
Đường đi ba ngã người Châu khóc;
Tơ trắng hai màu gã Địch than: Dương Châu, Mặc Địch.
Cặp ngà vô dụng: Đây là câu văn nghĩ nghị, có ngầm một chữ "nếu" ở đầu câu.
Tấm da vô dụng: Đây là câu văn nghĩ nghị, có ngầm một chữ "nếu" ở đầu câu.
Chớ lo đạo lỗi: Đạo nghĩa là đàng.
so my: Hai chữ "so my" nầy chưa chắc đúng.
Hai người: Ngũ Vi6n và Hạng Vũ. Dương Từ không phải như hai người người xưa ấy.
võ sĩ ra công can thành: Kinh Thi nói: "Công hầu can thành".
Tây kinh: Đời Ngũ Đại, nhà Tấn lấy Lạc Dương làm Tây kinh
hết thỏ, chúng ăn tới mình: Thố tử cẩu phanh. hết thỏ rồi người ta ăn thịt tới con chó (muông) săn.
ky: cơ.
Tri Niên, lừa thả bên non: Lừa của Tri Niên cỡi.
chơi mây: vân du.
Niên rằng: Đường lên trên thầy: Chỗ này chắc có nhảy câu, nên chi mới có chữ "Niên rằng". nếu lý tri niên đương nói luôn vọt, thời không phải lặp lại hai chữ "Niên rằng".
Hán Vĩnh Bình: Năm 65 tây nguyên, đời hán Vĩnh bình vua sai sứ bộ Thái Âm qua Ấn độ cầu Phật pháp. năm 67 sứ bộ về đến Trung quốc.
sa môn: cramana dịch âm sa môn (thầy chùa).
phù đồ: dịch âm chữ Buddha (Phật).
Tiếp Theo
502.- Họ Hà đương gẫm lời hay,
Phút đâu chim hạc lại bay xuống liền.
Hóa ra đồng tử có duyên,
Tay cầm hai trái đào tiên, miệng cười.
Bảo rằng: Hai trái, hai người,
Ăn rồi mới biết là người dại khôn.
505.- Ngày nay đã tới hoàng hôn,
Hai người đi khỏi động môn hành trình.
Theo ta tới Bích phong Đình,
Ở trong hang đá nghỉ mình một đêm.
Rạng mai có kẻ xuống tìm,
Đem lên Vân động, mựa hiềm đợi trông.
Tiểu đồng dạy bảo vừa xong,
Hóa ra chim hạc, thinh không bay về.
Hai người mắt thấy lòng ghê,
Khen rằng: Tiên đạo có bề thần linh.
510.- Phỏng chừng đương lúc sơ canh,
Ngó ra thấy bóng trăng thanh bên trời.
Băng luân một tấm lộng khơi,
Non sông muôn nước bóng ngời lòng soi.
Hai người lẳng lặng ngồi coi,
Ngó ra cửa động, bóng soi như ngày.
Vẳng nghe có tiếng vang dầy,
Rần rần ngựa gió, xe mây chật đàng,
Trước đi kiệu bạc, tán vàng,
Trong che phủ phất, ngoài giàn quạt tiêu.
515.- Đèn ngân, đuốc ngọc, rất nhiều,
loà nơi cửa động, hương thiêu nực nồng.
Ngỡ là Thiên tử ngự phong,
Gẫm trong nghi vệ, cũng đồng thần tiên.
Họ Hà xem thấy sợ liền,
Than rằng: Mối đạo linh thiêng như vầy!
Anh tu cũng tiếng ông thầy,
Theo làm tôi Phật, bấy chầy thấy không?
Từ rằng: Cốt mộc, cốt đồng,
Tượng hình, đúc tượng, ngồi không trên bàn.
520.- Ta thường sớm tối đèn nhang,
Thấy ma, thấy qủy, chàng ràng trêu ngươi.
Phật không thấy nói thấy cười,
Thấy không đi đứng cùng người thế gian.
Chạnh lòng ta mới hỏi chàng:
Lâu nay về đạo Hoà lan thấy gì?
523.- Mậu rằng thấy bức ảnh ghi...
(Lược)
526.- Trót đà bị chúng chê cười,
Vậy nên phải tới gặp người tiên tri.
Từ rằng: Gặp kẻ tiên tri,
Ta xin hỏi đạo từ bi cho tường.
Hai người ngồi hãy đương bàn,
Nghe chùa Linh diệu chuông vàng sớn rung.
Xảy vừa tới lúc hừng đông,
Tri Niên đã xuống Bích Phong Đình rồi.
530.- Nói rằng gặp tiết giao bôi,
Chư tiên hội yến vào hồi canh ba.
Mậu rằng: Chiều bữa hôm qua,
Có người đồng tử cho ta ăn đào.
Chẳng hay duyên cớ làm sao,
Khiến ta ăn đào, tránh chốn động môn.
Niên rằng: Nơi cửa động môn,
Ngày lành, tháng tốt, để: buồn, tiên chơi.
Hai người lòng dục chưa rời,
Còn con mắt tục, dòm người chẳng linh.
535.- Có ăn hai trái đào xinh,
Rửa lòng nhân dục, trong mình mới an.
Chư tiên nay đã hồi loan,
Ta xin dẫn lộ hai chàng đi lên.
Dương Từ Hà Mậu đi liền,
Tới nên Vân động ngửa lên xem trời,
Thấy ngươi đồng tử truyền lời,
Rằng: Ba người hãy tạm nơi động này.
Tôn sư giấc mộng đương say,
Chờ khi thức dậy, mới hay lẽ nào.
540.- Hai người ở động mây cao,
Nhìn xem cảnh vật biết bao nhiêu tình.
Kỳ hoa, thoại thảo, xanh xanh,
Châu cầm ngọc thú, rập rình vui thay!
Nền chùa cao quá vầng mây,
Bên thềm đá gấm, bóng cây im lìm.
Ngó vô mấy bức châu liêm,
Mấy từng thơ họa, trang nghiêm muôn phần.
Ngó ra non núi mấy từng,
Hình long dạng phụng, bên chưn đứng chầu,
545.- Đông, tây, son đỏ hai lầu,
Chuông vàng, khánh bạc, giàn hầu rất ngoa.
Cúi xem về cõi giới ba,
Một bầu trời đất giống là nửa châu.
Từ rằng: Có chí vân du,
Đến đây mới đặng khỏi hầu bụi nhơ.
Niên rằng: Ta thuở ấu thơ,
Có lòng tầm đạo bây giờ thảnh thơi,
Phút đâu đồng tử ra mời,
Rằng: Tôn sư dậy, ngồi nơi hiên đào.
550.- Ba người khép nép bước vào,
Tới nơi hiên đào nghe tiếng ngâm thi,
Thi Rằng
Dốc tầm đạo, phải ở đâu xa?
Gội tấm lòng người, có giải ra,
Theo nghĩa; bao đành làm phản nước?
Có nhân: nào nỡ phụ tình nhà?
Xưa nay đều chuộng đường trung hiếu,
Sách vở còn ghi lẽ chánh tà.
Năm phẩm rừng Nho săn sóc lấy,
Ấy là đạo vị ở lòng ta.
Ba người nghe tiếng ngâm rồi,
Vào trước chỗ ngồi, quì xuống vòng tay.
Tri Niên lạy trước, lời bày,
Thưa rằng: Ngây dại xin thầy dạy phô.
Lão Nhan biết lũ mê đồ,
Hỏi rằng: Hà Mậu nói phô việc gì?
Mậu rằng: Tôi thật ngu si,
Chẳng hay đời trước có chi lầm đàng?
555.- Thầy rằng: mê đạo Hòa lan,
Trong tấm lòng chàng ước việc gì nên!
Mậu rằng: Lòng chẳng dám quên,
Một lời sau thác đặng lên Thiên đàng.
Lão Nhan giẹp chuyện hòa lan,
Hỏi rằng: Kìa gã họ Dương thưa gì?
Mấy năm học đạo từ bi,
Vân du đã chán, việc gì đến đây?
Từ rằng: Vì việc chơi mây,
Mang lời phải quấy, thêm ngầy trong tai.
560.- kiếp sau là kiếp lâu dài,
Biết theo đạo Phật trọn bài cùng chăng?
Sư rằng: Kinh Phật, trọng tăng,
Tấc dạ nằng nằng tin tưởng việc chi?
Từ rằng: Theo đạo từ bi,
Nhớ ngày sau thác, đặng kỳ siêu thăng.
Lão nhan ngồi ngẫm nghĩ rằng;
Hai đường đều muốn chữ "thăng lên trời".
Ta nay nói cũng uổng lời,
Chi bằng cho thấy lẽ trời mới tin.
565.- Dặn rằng: Hai gã lòng bền,
Đều mong sau thác đặng lên nhà trời.
Chùa đây có ngõ lên trời.
Chi bằng bước tới xem chơi một hồi.
Hai người nghe nói mừng vui,
Phút quên mình sống, còn ngồi dương gian,
Thưa rằng: Đây có Thiên đàng,
Hai tôi xin tới du quan vài giờ.
Sư rằng: Hồn sạch phách nhơ,
Xác phàm còn sống, khó mơ lên trời.
570.- Ta nghe trong phép chúa Trời,
Cầu hồn cũng đặng về nơi Thiên đàng.
Lại nghe có phép Địa Tạng Vương,
Siêu hồn sãi vãi về phương tây trời.
Hai ngươi nay muốn lên chơi,
Xác phàm ở lại, hồn dời mới xong.
Ta đây có phép thần thông,
Xuất hồn rồi lại ra công hoàn hồn.
Hai ngươi lại trước đài môn,
Giờ lành ta sẽ xuất hồn cho thăng.
575.- Lại kêu ông Lý dặn rằng:
Rừng y gắn vó chi bằng cổ nhân,
Hôm nay là bữa lương thần,
Sửa sang vị thuốc, lo phần luyện đan,
Tri Niên việc thuốc đã an,
Ở chùa Linh diệu thanh nhàn coi chơi.
Dương Từ, Hà Mậu vâng lời,
Theo người đồng tử tới nơi Dương Đài.
Dương Đài có tấm bia bài,
Đề câu "Thiên thượng khả giai rõ ràng.
580.- Hai chàng bước tới xem tường,
Từng từng mây giợn bốn phương trên trời
Mậu rằng: Theo đạo chúa Trời,
Thiên đàng đành dể trọn đời mới lên.
Phen này hồn sống đặng lên,
Tìm ông cha trước, cầu xin đem về.
Đặng cho thiên hạ thấy ghê,
Còn chi người tục nói nghề phải chăng.
Từ rằng: Giận tiếng lăng nhăng,
Nó chê ông Phật là thằng man di.
585.- Lên trời dầu thác cũng đi,
Tìm cho thấy Phật xin trừ phép linh.
Phép chi đặng phá miễu linh,
Bắt người đạo sĩ mới đành dạ ta.
Phút đâu đồng tử bưng ra,
Mâm đào lại với bình trà dâng cho.
Bảo rằng ăn uống cho no,
Xuống khe tắm gội, rồi cho lên trời.
Hai người đều phải nghe lời,
Ăn no tắm mát, ngồi chơi nửa giờ.
590.- Tôn sư coi đã gần giờ,
Tới đài, cầm viết vẽ tờ bùa linh.
Dạy rằng: Giờ ngọ, chữ canh,
Mộng sàng hai gã đem mình nằm an,
Kim đan cho uống hai hoàn,
Linh phù hai đạo, sứ mang theo mình.
Tôn sư đốt lá bùa linh,
Hoàng cân Lực sĩ hiện hình chờ sai.
Lại biên một cái tín bài,
Đề rồi tên họ của hai người phàm.
Dạy rằng: Chờ hết canh tam,
Chín trời đi khắp, rồi đam trở về.
Tín bài đã có phù đề,
Cầm đưa các cửa đặng bề đi thông.
Các lời dạy bảo vừa xong,
Hai chàng Lực sĩ thinh không tàng hình,
Tôn sư lại niệm chú linh,
Cấp như luật lịnh âm binh đứng hầu.
Mây đen, khói mịt, ngút mù,
Gió, mưa, sấm, sét, giây lâu mới tàn.
600.- Hai người nằm lại mông sàng,
Thiu thiu nhắm mắt ngủ an một buồng,
Tôn sư đã đốt phù giồn,
Dương Từ, Hà Mậu, xuất hồn ra đi,
Hai người đều xuất hồn đi,
Đều theo Lực sĩ một khi lên trời.
Hai ngươi hồn đến cõi trời,
Thấy trong cảnh vật khác nơi cõi người.
Trời đông một cửa xanh ngời,
Có tấm biển trời, hai chữ "Thanh Thiên".
605.- Hai cung Chấn, Tốn, đoàn viên,
Mộc Tinh, các phủ, đóng liền, giăng giăng.
Đi đường Giáp, ất, thẳng băng,
Có thần gìn giữ, tên rằng Thanh Long.
Hai chàng trình tín bài xong,
Đem nhau tìm kiếm, hỏi dòng họ xưa.
Áo xanh quân đóng như mưa,
Cầm cờ xuân lịnh rước đưa Thành Hoàng.
Mới hay thứ nhất Thiên đàng,
Thật vua Thanh đế, ngôi vàng chánh đông.
610.- Giữ gìn muôn việc hóa công,
Nhờ ơn gây dựng, vun trồng mùa xuân.
Hai chàng vội vã dời chân,
Trời đông chẳng thấy, qua tầng trời nam.
Trời nam một cõi ly tam,
"Xích Thiên" hai chữ, bảng đam rõ ràng.
Cung Ly rực rỡ nghiêm trang,
Hỏa tinh các phủ sửa sang chói lòa.
Bính, Đinh, hai ngã vào ra,
Có thần Châu tước hỏi tra ngăn ngừa.
615.- Hai chàng đem tín bài thưa,
Hỏi thăm tin tức, cũng chưa thấy gì.
Quân hầu áo đỏ giàn đi,
Cầm cờ hạ Lịnh oai nghi rõ ràng.
Mới hay thứ nhị Thiên đàng,
Phần vua Xích Đế sửa sang mùa hè.
Trời nam tìm dấu vắng hoe,
Đem nhau một bè, qua chốn trời tây.
Trời tây hai cửa dầy dầy,
"Bạch Thiên" hai chữ, bảng vầy treo ra.
620.- Kiều, Đoài, hai cửa chói lòa,
Kim Tinh các phủ vô ra rần rần.
Tới lui trong cửa Canh, Tân,
Có thần Bạch Hổ giữ phần cấm ngăn.
Hai chàng đi tới trình bằng.
Cứ theo việc trước, hỏi phăng đi tìm.
Thấy quân trắng áo, trắng xiêm,
Cầm cờ Thu Lịnh bài nghiêm các tòa.
Mới hay là cõi thứ ba,
Phần vua Bạch đế, ở tòa tây thiên.
625.- Đem nhau vội vã đi liền,
Trời tây khỏi miền, trời bắc lại đi.
Bắc thiên một cửa đen sì,
"Hắc Thiên" hai chữ, bảng ghi chẳng lầm.
Một tòa cung Khảm tối tăm,
Thủy tinh các phủ ở sâm si cùng.
Hướng đi Nhâm, Quí, nhiều sông,
Có thần Huyền Vũ tuần phòng đứa gian.
Hai chàng thưa gởi đã an,
Đi qua khỏi cửa tìm đàng người quen.
630.- Thấy quân mặc áo màu đen,
Cầm cờ Đông Lịnh đua chen đầy đường.
Thứ tư đây thật Thiên đường,
Phần vua Hắc đế sửa sang việc trời.
Trót đà tìm khắp mọi nơi,
Ông cha chẳng thấy, lại đời trung thiên.
"Trung Thiên" hai chữ bảng vàng,
Chói lòa một cửa, bốn phang đều hầu,
Hai cung Khôn, Cấn, làu làu,
Thổ Tinh các phủ liền nhau một vàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét