100. Kiến ngãi (nghĩa)bất vi: thấy việc nghĩa không làm. Sách Luận ngữ có câu: "Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã", nghĩa là thấy việc nghĩa không làm, không phải là người mạnh vậy.
101.Phi anh hùng: chẳng phải anh hùng.
102.Thanh tao: trong trẻo
103.Phôi pha: nhạt đi, phai đi, kém vẻ đằm thấm, nhạt nhẽo lãnh đạm
104.Lục thị: họ Lục
105.Thuyền quyên: cái trạng thái tốt đẹp dễ coi, nói chung cả người và vật (như hoa, cây, trăng v.v...). Ta thường dùng để chỉ người "phụ nữ đẹp" hay người "phụ nữ" nói chung
106.Tri âm: hiểu biết tiếng đàn. Nghĩa rộng là người biết mình, hiểu rõ mình, người bạn chí tình.
107.Thìn: tiếng miền Nam cũng như giữ gìn.
Câu 200 - 399
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành Vân Tiên khó nỗi làm thinh Chữ ân đã buộc, chữ tình lây đây Than rằng: Ðó khéo trêu đây Ơn kia đã mấy của này rất sang Gặp nhau đang lúc giữa đàng Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai. Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài Nào ai chịu lấy của ai làm gì. Thưa rằng: Chút phận nữ nhi Vốn chưa biết lẽ, có khi mích lòng Ai dè những đấng anh hùng Thấy trâm thôi lại thẹn cùng cây trâm Riêng than: Trâm hỡi là trâm Vô duyên chi bấy, ai cầm mà mơ Ðưa trâm chàng đã làm ngơ Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ. Vân Tiên ngó lại rằng: ừ Làm thơ cho kịp chừ chừ chờ lâu Nguyệt Nga ứng tiếng xin hầu Xuống tay liền tả tám câu năm vần Thơ rồi này thiếp xin dâng Ngửa trông lượng rộng văn nhân thể nào. Vân Tiên xem thấy ngạt ngào Ai dè sức gái tài cao bực này Ðã mau mà lại thêm hay Chẳng phen Tạ Nữ, cũng tày Từ Phi Thơ ngâm dũ xuất dũ kỳ Cho hay tài kém gì tài trai Như vầy ai nhẫn thua ai Vân Tiên họa lại một bài trao ra Xem thơ biết ý xa Mai hòa vận điệu, điệu hòa vận mai Có câu xúc cảnh hứng hoài Ðường xa vòi vọi, dặm dài vơi vơi Ai ai cũng ở trong trời Gặp nhau ta đã cạn lời thì thôi. Vân Tiên từ giã phản hồi Nguyệt Nga than thở: "Tình ơi là tình!" Nghĩ mình mà ngán cho mình Nỗi ân chưa trả, nỗi tình lại vương. Nặng nề hai chữ uyên ương Dây sầu ai khéo vấn vương vào lòng Vái cùng Nguyệt Lão hỡi ông Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an. Hữu tình chi bấy Ngưu Lang Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng. Thôi thôi em hỡi Kim Liên Ðẩy xe cho chị qua miền Hà-Khê Trải qua dấu thỏ đàng dê Chim kêu vượn hú, tứ bề nước non Vái trời cho đặng vuông tròn Trăm năm cho vẹn lòng son với chàng Phút đâu đã tới phủ đàng Kiều công xem thấy lòng càng sinh nghi Hỏi rằng: Nào trẻ tùy nhi Cớ sao nên nỗi ra đi một mình? Nguyệt Nga thưa việc tiền trình Kiều công tưởng nỗi sự tình chẳng vui. Nguyệt Nga dạ hãy ngùi ngùi Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi dòi cơn Lao đao phận trẻ chi sờn No nao trả đặng công ơn chi chàng. Kiều công nghe nói liền can Dạy rằng: Con hãy nghỉ an mình vàng Khi nào cha rãnh việc quan Cho quân quan đó mời chàng sang đây Sao sao chẳng kíp thi chầy Cha nguyền trả đặng ơn này thì thôi Hữu đường con khá tạm lui Làm khuây dạ trẻ cho vui lòng già. Tây lầu trống điểm sang ba Nguyệt Nga còn hãy xót xa phận mình Dời chân ra chốn hoa đình Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhơn Than rằng: Lưu thụy cao sơn Ngày nào nghe đặng tiếng đàn tri âm Chữ tình càng tưởng càng thâm Muốn pha khó lợt, muốn dầm khôn phai Vơi vơi đất rộng trời dài Hỡi ai nỡ để cho ai đeo phiền Trở vào bèn lấy bút nghiên Ðặt bàn hương án chúc nguyền thần linh Làu làu một tấm lòng thành Họa ra một bức tượng hình Vân Tiên. Than rằng: Ngàn dặm sơn xuyên Chữ ân để dạ, chữ duyên nhuốm sầu. Truyện nàng sau hãy còn lâu Truyện chàng xin kể thứ đầu chép ra Vân Tiên từ cách Nguyệt Nga Giữa đường lại gặp người ra kinh kỳ Xa xem mặt mũi đen sì Mình cao đồ sộ dị kỳ rất hung Nhớ câu bình thủy tương phùng Anh hùng lại gặp anh hùng một khi. Chẳng hay danh tính là chi Một mình mang gói ra đi chuyện gì? Ðáp rằng ta cũng xuống thi Hớn Minh tính tự, Ô-mi quê nhà. Vân Tiên biết lẽ chính tà Hễ người dị tướng ắt là tài cao Chữ rằng bằng hữu chi giao Tình kia đã gặp lẽ nào làm khuây? Nên rừng há dễ một cây Muốn cho có đó cùng đây luôn vần. Kia nơi võ miếu hầu gần Ðôi ta vào đó nghỉ chân một hồi. Cùng nhau bày tỏ tên rồi Hai chàng từ tạ đều lui ra đường Hớn Minh đi trước tựu trường Vân Tiên còn hãy hồi hương thăm nhà. Mừng rằng: Nay con thấy ta Cha già những tưởng, mẹ già những trông Bấy lâu đèn sách gia công Con đà nên chữ tang bồng cùng chăng? Vân Tiên quỳ lạy thưa rằng: Chẳng hơn người cổ cũng bằng người câm (kim) Dám xin cha mẹ yên tâm Ðặng con trả nợ thanh khâm cho rồi Mẹ cha thấy nói thêm vui Lại lo non nước xa xôi nghìn trùng Cho theo một gã tiểu đồng Viết một bức dặn cùng Vân Tiên Xưa đà định chữ lương duyên Cùng quan hưu trí ở miền Hàn Giang Con người là Võ Thệ Loan Tuổi vừa hai bảy dung nhan mặn mà Chữ rằng Hồ Việt nhất gia Con đi tới đó trao qua thư này Con dầu bước đặng thanh mây Dưới chân đã sẵn một dây tơ hồng Song thân dạy bảo vừa xong Vân Tiên cùng gã tiểu đồng dời chân Ra đi tách dặm băng chừng Gió Nam rày đã đưa xuân qua hè Lại xem dặm liễu đường hòe Tin ong ngơ ngác, tiếng ve vang dầy. Vui xem nước nọ non này Nước sao sóng dợn, non vầy đà cao Màn trời gấm trải biết bao Trên nhành chim nói, dưới ao cá cười Quận thành nhắm kiểng coi người Kiểng xinh như vẽ, người tươi như giồi Hàn-Giang phút đã tới nơi Vân Tiên ra mắt một hồi trình thư. Võ công lấy đọc bây giờ Mừng duyên cầm sắt mối tơ đặng liền Liếc coi tường mạo Vân Tiên Khá khen họ Lục phước hiền sinh con Mày tằm, mắt phụng, môi son, Mười phân cốt cách vuông tròn mười phân Những e kẻ Tấn người Tần Nào hay chữ ngẫu đặng gần chữ giai Nhắm đà đẹp đẽ hòa hai Kìa dâu nam giản, nọ trai đông sàng Công rằng: Ngãi tế mới sang Muốn lo việc nước hãy toan việc nhà. Tiên rằng: Nhờ lượng nhạc gia Ðại khoa dầu đặng, tiểu khoa lo gì Công rằng: Con dốc xuống thi Sao không kết bạn mà đi tựu trường Gần đây có một họ Vương Tên là Tứ Trực văn chương tốt đời Cha đà sang trẻ qua mời Ðặng con cùng gã thử chơi một bài 365. Thấp cao, cao thấp biết tài Vầy sau trước (trúc) bạn cùng mai mới màu. Phút đầu Tử Trực tới hầu Võ công sẵn đặt một bầu rượu ngon. Công rằng: Này bớ hai con Thơ hay làm đặng rượu ngon thưởng liền Muốn cho Trực sánh cùng Tiên Lấy câu "bình thủy hữu duyên" làm đề. Song song hai gã giao kề Lục, Vương hai họ đua nghề một khi Cho hay kỳ lại gặp kỳ Bạch Hàm há dễ kém chi Như Hoành Công rằng: Ðơn quế hai nhành Bảng vàng, thẻ bạc đã đành làm nêu Như chuông chẳng đánh sao kêu Ngọn đèn rạng tỏ trước khêu bởi mình Thiệt trang lương đống đã đành Khá khen hai họ tài lành hòa hai. Trực rằng: Tiên vốn cao tài Dám đâu én hộc sánh vai một bầy Tình cờ mà gặp nhau đây Trực này xin nhượng Tiên rày làm anh Nay đà nên nghĩa đệ huynh Xin về mai sẽ thượng trình cùng nhau. Xảy đâu trăng đã đứng đầu Vân Tiên vào chốn thư lầu nghỉ an. Võ công trở lại hậu đàng Ðêm khuya dạy bảo Thể Loan mọi lời Ngày mai vừa rạng chân trời Tiểu nhi trang điểm ra nơi lê đình Gọi là chút nghĩa tống tình Phòng sau cho khỏi bất bình cùng nhau, Bóng trăng vừa lộ nhành dâu Vân Tiên vào tạ dây lâu xuất hành. Ra đi từ thuở bình minh
Chú thích: 1.Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai: câu này đại là giữa đường gặp nhau, nếu lấy tình nghĩa, thì một lời nói, cũng đủ ghi nhớ mãi mãi, dù đem ngàn vàng nữa, cũng không làm phai lạt được. 2.Ai dè...Thấy trâm...Hai câu này nói: dà đâu gặp người anh hùng, cho sự nhìn cây trâm là không chính đáng, nên có ngượng ngùng mà ngơ mặt đì. 3.Chừ: giờ, bây giờ (tiếng miền Nam). Chừ chừ: một loại "tiếng đôi" mà tác giờ hay dùng trong truyện để nhấn mạnh lời nói rõ thêm. 4.Hầu: xin vâng làm thơ hầu Vân Tiên 5.Xuống tay: do chữ Hán "hạ thủ', nghĩa là bắt tay làm một việc gì. Ðây nói xuống tay làm thơ chép ra giấy. 6.Tám câu năm vần: theo qui tắc thơ Ðường, mỗi bài thể "luật" ngũ ngôn (năm chữ) hay thất ngôn (bảy chữ) đều có tám câu và năm vần. 7.Ngạt ngào: mùi thơm nức lên. Nói lời và tứ thơ, sực nức như mùi hoa thơm, nghĩa là hay lắm. 8.Tạ nữ: Tạ Ðao Uốn, một phụ nữ có thi tài đời Tần. Nàng có câu thơ tả "tuyết" (ví bông tuyết như những bông tơ liễu gặp gió tung lên) được truyền tụng ở đời. 9.Từ phi: Từ Huệ phi vợ Ðường Duệ Tông, giỏi văn chương lên 8 tuổi đã biết làm văn, bà có bài Tiểu-Sơn soạn theo thể Ly-Tao của Khuất Nguyên, có so tài mình với tài cổ nhân. 10.Dũ xuất dũ kỳ: càng phát ra càng hay lạ. 11.Nhẫn: chịu. Vân Tiên thấy Nguyệt Nga làm thơ hay, ý muốn nói trổ tài họa lại, không chịu thua kém (chữ cổ). 12.Mai: cây mơ, Ðiểu: chim. Mai điểu là bức tranh thể hiện sự phân phối hợp, đẹp đẽ của hoa với chim. tác giả khen hai bài thơ xướng họa rất xứng với nhau. 13.Xúc cảnh hứng hoài: xúc cảm trước cảnh mà động lòng thơ. 14.Vơi vơi: thăm thẳm (tác giả dùng theo tiếng miền Nam, xem chú thích ở câu 88) 15.Phản hồi: trở lại, trở về. 16.Uyên ương: một loài chim nước, con đực gọi là uyên, con cái gọi là ương, hai con không rời nhau, lúc nào cũng đi thành đôi... Hình ảnh vợ chồng hòa thuận thương yêu nhau. Ðây nói tình yêu Nguyệt Nga với Vân Tiên. 17. Nguyệt lão: tức "Nguyệt hạ lão nhân", ông già dưới trăng, một vị thần giữ việc xe duyên vợ chồng (ông tơ). Người ta cũng gọi người làm mối vợ chồng là Nguyệt lão. 18.Vẹn chữ tòng: vẹn đạo làm vợ. Do chữ Hán tam tòng; tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) Ðây nói chữ tòng đối với chồng. 19. Ngưu lang: tức Khiên ngưu lang, chàng chăn trâu (chàng Ngưu). Chức nữ: nàng dệt vải (ả Chức). Theo sách Kinh sở tuế thời kỳ: Chức nữ là con trời (có sách chép là cháu trời) ở bên Ðông sông Ngân hà là nghề dệt vải rất siêng năng. Trời thương cảnh nàng cô độc gả cho Khiên ngưu lang làm nghề chăn trâu ở bên Tây sông Ngân Hà. Từ khi Chức nữ về với Ngưu lang ham mê đường tình ái, chạnh mảng việc canh cửi, Trời phạt, lại bắt về bên Ðông sông Ngân hà, mỗi năm chỉ được qua sông gặp nhau một lần, tức đêm mồng bảy tháng bảy âm lịch (chữ Hán gọi là "thất tịch"). Theo thiên văn của ta thì Khiên ngưu, Chức nữ là hai ngôi sao bên bờ sông Ngân hà, mỗi ngôi một bên thường ở cách xa nhau hoặc có khi thấy sao này mà không thấy sao kia, chỉ có đêm mồng bảy mới thấy hai sao gần nhau 20. Dấu thỏ đầng dê: những đường lối khúc khuỷu khó đi (Ðường dê do chữ Hán dương trường": đường ruột dê, nói đường chật hẹp quanh co như ruột dê) 21. Phủ đàng: phủ đường, dinh thự của tri phủ. 22. Tùy nhi: bọn theo hầu Nguyệt Nga 23. Chi sờn: Không sợ, không ngại 24. No nao: tiếng cổ miền Nam, chưa biết lúc nào 25. Sao sao: Làm sao, làm thế nào (xem chú thích ở câu 218). 26. Tây lầu: tây lầu, lầu phía Tây. Thời xưa trong cung vua hay nhà quan, nam giới thường ở phía Ðông (Ðông cung thái tử) nữ giới thường ở phía Tây (Tây cung thái hậu) 27. Hoa đình: có hai nghĩa: 1.sân có trồng hoa; 2. nhà xây ở giữa vườn để ngồi mát chơi hoa 28. Cố nhân: người cũ, bạn cũ. Cũng dùng chỉ "chồng cũ" "vợ cũ" 29. Lưu thủy cao sơn: xem chú thích ở câu 193. Hai câu này ngụ nói: cái tâm tình lưu thủy cao sơn của mình, bao giờ được người tri âm biết đến, bao giờ được lại gặp nhau và hiểu nỗi lòng nhau. 30. Làu làu: rất trong sạch 31. Sơn xuyên: núi sông, 32. Thứ: (tiếng miền Nam) lớp tuồng, lớp truyện. Thứ đầu: lớp truyện kỳ đầu, nói kỳ nói chép truyện kỳ đầu, 33. Kinh kỳ: nói chung kinh đô và cả khu đất kế cận chung quanh hàng nghìn dặm. Ðây chỉ kinh đô, thủ đô. 34. Dị kỳ rất hung: nói tướng mạo lạ lùng trông đáng sợ. 35. Bình thủy tương phùng: bèo nước gặp nhau, nói sự gặp gỡ ngẫu nhiên, như bèo trôi theo nước, không định chỗ nào. 36. Tính tự: họ và tên 37. Ô-mi: ở Trung-Quốc và ở nước ta đều không có địa danh này nhưng tỉnh An-Giang (Châu-Ðốc) có cù lao Ô-Châu, có sông Ô-Môn và có làng đánh cá Ô-Môn. 38. Bằng hữu chi giao: cái tình giao kết giữa bạn bè với nhau 39. Võ miếu: miếu thờ một vị thần quan võ 40. Tựu trường: đến nơi thi 41. Tang bồng: do chữ "tang hồ bồng thỉ", là cung gỗ dâu, tên cỏ bồng. Tục xưa, khi đẻ con trai thì làm cung bằng gỗ dâu, để ngụ ý người con trai sau này phải giúp nước giúp đời. Tang bồng tiêu biểu cho chí nam nhi. 42. Người câm (kim): người nay- chữ "kim" chính âm là chữ "câm", ở đây nên đọc đúng âm, cho có vần với hai câu dưới. 43. Thanh khâm: áo cổ xanh, học trò Trung-quốc ngày xưa mặc áo cổ xanh. Trả nợ thanh khâm: trả nợ bút nghiên, tức là đi thi đỗ đạt 44. Lương duyên: nhân duyên tốt lành Hưu trí: làm việc công vì tuổi già sức yếu 45. Hàn-Giang: tên một con sông ở tỉnh Phúc Kiến và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc); ở tỉnh Ðịnh Tường cũ (Nam Kỳ) cũng có có sông Hàn Giang. 46. Hai bảy: 14 tuổi 47. Hồ Việt nhất gia: người Hồ người Việt ở cùng một nhà. nói: người xa thành người gần, tình sơ thành tình thân. Ðây chỉ tình thân hai gia đình. 48. Thang mây: do chữ Hán là vân thê, chữ có hai nghĩa: 1)Một khí cụ bằng gỗ, dưới như hình cái xe, trên đặt hai cái thang thật dài, khi chiến trận, dùng để nhòm vào trong thành giặc, vì nó cao như sát với mây, nên gọi là thang mây; 2)Chỉ sự thi đỗ bước lên con đường công danh, có địa vị cao. 49. Tơ hồng: do chữ Hán "xích thắng", dây xe duyên. 50. Băng chừng: chừng đồng nghĩa với dặm. Băng chừng còn có nghĩa là lướt chân theo chừng dặm đường. 51. Non vầy: vầy là họp,như nghĩa "sum vầy" (sum họp) 52. Giồi: trau giồi, như nghĩa dồi phấn. 53. Cầm, sắt: hai thứ đàn người ta thường gảy để hòa nhịp với nhau, tiêu biểu tình vợ chồng hòa hợp. Duyên cầm sắt: như nói duyên vợ chồng. 54. Tấn Tần: hai nước ở đời Xuân Thu bên Trung-quốc. Kẻ Tấn người Tần: mỗi người một xứ khác nhau. 55. Ngẫu: một đôi, một lứa. Giai: tốt đẹp. "Chữ ngẫu gần chữ giai" tức là hai chữ này ghép lại với nhau, thành một danh từ "giai ngẫu", một lối nói bóng trong văn chương (Truyện Nhị độ Mai: "Chữ tư để dưới chữ tương ngày nay", nói bóng danh từ "tương tư"). Võ công nói: ai ngờ con mình với Vân Tiên lại kết thành "giai ngẫu", nghĩa là một lứa đôi tốt đẹp"). 56. Nam giản: dòng suối (khe) phía Nam. Thơ Thái Tần Kinh Thi tả người phụ nữ cần lao thanh thiết, đi hái rau tần (một thứ rau nước) ở dòng suối phía Nam đưa về làm lễ dâng cúng tổ tiên. 57. Ðông sàng: giường bên Ðông. Khích Giám (có sách chép là Hi Giám) đời Tấn, sai người nhà đến Vương Ðạo kén rễ, các con cháu họ Vương nghe tin, ai cũng làm ra vẻ đứng đắn nghiêm chỉnh, chỉ có Vương Hi Chi là nằm ưỡn bụng trên tấm giường bên Ðông mà ăn bánh ngọt một cách tự nhiên, như không hay biết gì, Khích Giám là người giỏi bèn gả con cho Hi Chi (sau Hi Chi thành một nhà văn, và chữ viết rất tốt, có "thiếp Lan Ðình" cùng một số bút tích lưu truyền đời sau). Do đó, người ta gọi là con rễ "đông sàng". 58. Ngãi (nghĩa) tế: con rễ có nghĩa. 59. Nhạc gia: gia đình bố mẹ vợ. 60. Ðại khoa: đại đăng khoa là thi đỗ. Tiểu khoa: đăng khoa là cưới vợ (cưới vợ cũng là một việc mừng như thi đỗ). 61.Trúc, mai: hai thứ cây quý về đức tính, cốt cách thanh cao. ýnói: về sau kết bạn cùng nhau rất tốt. 62. Bình thủy hữu duyên: bèo nước có duyên. nói: gặp gỡ nên duyên, trong sự bèo nước tình cờ (như bèo trôi theo nước không định chỗ nào), cũng như "Bình thủy tương phùng. 63. Kỳ: người lạ thường nói tài giỏi. 64. Bạch Hàm: Yến Bạch Hạm (chữ này chính âm là hạm tác giả đặt âm hàm cho dễ đọc). Như Hoành (hành): Binh Như Hành. Hai nhân vật nổi tài thi sĩ trong truyện "Bình Sơn Lãnh Yến". 65. Ðơn (đan)quế: cây quế đỏ (da đỏ). Ðậu Vũ Quân đời Tống, có năm con đều thi đỗ hiển đạt người ta khen là năm nhành đan quế. Ðây nói Vân Tiên và Tử Trực là hai người con tài giỏi của hai nhà họ Lục và họ Vương. 66. Lương đống: rường cột. Nói người tài cao đức cả giúp được việc nước. 67. én hộc: chim én và chim hộc (ngỗng trời), én là loài chim nhỏ, bay thấp, hộc và loài chim to, bay cao. Ðây là Tử Trực tự khiêm, nói mình tài kém, không sánh được với Vân Tiên là người tài cao. 68. Trăng đã đứng đầu: nửa đêm 69. Thư lầu: thư lâu, lầu đọc sách 70. Lê đình: sân có trồng cây lê 71. Tống tình: tình tiễn biệt
Câu 400 - 599
Thể Loan đứng trước lê đình liễm dung Thưa rằng: Quân tử phó công Xin thương bồ liễu chữ tòng ngây thơ Tấm lòng thương nhớ gió mưa Ðường xa ngàn dặm xin đưa một lời Ngày nay thánh chúa trị đời Nguyền cho linh phụng gặp nơi ngô đồng Quản bao chút phận má hồng Phòng khuê vò võ đợi trông khôn lường Chàng dầu cung quế, xuyên dương Thiếp xin hai chữ tào khương cho bằng Xin đừng tham đó bỏ đăng Chơi lê quân lựu, chơi trăng quên đèn. Tiên rằng: Như lửa mới nhen Dễ trông một bếp mà chen mấy lò May duyên rủi nợ dễ phô Chớ nghi Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần Thể Loan vội vã lùi chân Vân Tiên từ biệt trông chừng Trường An Xa xa vừa mấy dặm đường Gặp Vương Tử Trực vầy đoàn đều đi. Trải qua thủy tú sơn kỳ Phỉ lòng cá nhảy gặp thì rồng bay Người hay lại gặp kiểng hay Khác nào tiên tử chơi rầy Bồng Lai Cùng nhau tả chút tình hoài Năm ba chén rượu một vài câu thơ Công danh ai chẳng ước mơ Ba tầng cửa Võ một giờ nhảy qua Cùng nhau bàn bạc gần xa Chữ tài chữ mệnh xưa hòa ghét nhau Trực rằng: Rồng xuống vực sâu Mặc dầu giỡn sóng mặc dầu chơi mây Tiên rằng: Hồng hộc đều bay E khi mỏi cánh lạc bầy về sau Mảng còn trò chuyện với nhau Trông chừng kinh địa đã hầu tới nơi. Chênh lệch vừa xé mặt trời Hai người tìm quán nghỉ ngơi đợi kỳ Phút đầy gặp bạn cố tri Ðều bày tên họ một khi đăng tường. Một người ở quận Phan-Dương Tên Hâm họ Trịnh tầm thường nghề văn Một người ở phủ Dương-Xuân Họ Bùi tên Kiệm tác chừng đôi mươi. Hai người kại gặp hai người Ðều vào một quán vui cười ngả nghiêng, Kiệm rằng: Nghe tiếng anh Tiên Nay đà thấy mặt phỉ nguyền ước ao. Hâm rằng: Chưa biết thấp cao Làm thơ mới rõ bậc nào tài năng Bèn kêu ông quán nói rằng: Khá toan sắm sửa đồ ăn cho bề Quán rằng: Thịt cá ê hề Khô lân, chả phụng bộn bề thiếu đâu. Kìa là thuốc lá ướp ngâu Trà ve tuyết điểm, rượu bầu cúc hương Ðể khi đãi khách giàu sang Ðãi người văn vật, đãi tranh anh hùng. Bĩ bàng trà rượu đã xong Bốn người ngồi lại một vòng làm thơ Kiệm, Hâm còn hãy ngẩn ngơ Phút thơ Tiên, Trực, một giờ đều xong. Kiệm, Hâm xem thấy lạ lùng Gẫm nghi Tiên, Trực viết tùng cổ thi Chẳng hay ông quán cười chi Vỗ tay xuống chiếu một khi cười dài. Tiên rằng: Ông quán cười ai? Quán rằng: Cười kẻ bất tài đồ thơ Cười người Tôn Tẫn không lừa Trước đà thấy máy, chẳng ngừa Bàng Quyên. Trực rằng: Lời nói hữu duyên Thế trông Kinh sử có tuyền cùng chăng? Quán rằng: Kinh sử đã từng Coi rồi lại khiến lòng hằng xót xa Hỏi thời ta phải nói ra Vì chưng hay ghét cũng là hay thương Tiên rằng: Trong đục chưa tường Chẳng hay thương ghét ghét thương lẽ nào? Quán rằng: Ghét việc tầm phào Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Ghét đời Kiệt, Trụ, mê dâm Ðể dân đến nỗi sa hầm sảy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ Bá phân vân Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn Ghét đời Thúc Quý phân băc Sớm đầu, tối đánh, lằng nhằng rối dân. Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông Thương thầy Nhan Tử dở dang Ba mươi mốt tuổi, tách đàng công danh. Thương ông Gia Cát tài lành Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha Thương thầy Ðổng Tử cao xa Chí đà có chí, ngôi mà không ngôi Thương người Nguyên lượng ngùi ngùi Lỡ bề giúp nước, lại lui về cày Thương ông Hàn Dũ chẳng may Sớm dâng lời biểu tối đầy đi xa Thương thầy Liêm, Lạc đã ra Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân Xem qua kinh sử mấy lần Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương. Trực rằng: Chùa rách phật vàng Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân Thương dân sao chẳng lập thân Ðể khi nắng hạ toan phần làm ma Quán rằng: Nghiêu Thuấn thủa xưa Khó khăn Sào Phủ, khôn ngừa Hứa Do Di, Tề chẳng khứng giúp Châu Một mình một núi ai hầu chi ai Ông Y, ông Phó ôm tài Kẻ cày người cuốc đoái hoài chi đâu Thái Công xưa một cần câu Hôm mai sông Vị mặc dầu vui chơi Nghiêm Lăng đã mấy đua bơi Cày mây cầu nguyệt tả tơi ao cầu Trần Ðoàn chẳng phút lo âu Gió trăng một túi, công hầu chiêm bao Người nay có khác xưa nào Muốn ra ai cấm, muốn vào ai ngăn Hâm rằng: Lão quán nói nhăng Dẫu cho trải việc cũng thằng bán cơm Gối rơm theo phận gối rơm Có đâu ở thảo mà chồm lên cao. Quán rằng: Sấm chớp mưa rào Ếnh nằm đáy giếng thấy bao năm trời Sông trong cá lội thảnh thơi Xem hai con mắt sáng ngời như châu Uổng thay đàn gảy tai trâu Nước xao đầu vịt nghĩ lâu nực cười. Tiên rằng: Ông quán chớ cười Ðây là nhờ đặng bảy người Trước lâm Cùng nhau kết bạn đồng tâm Khi cờ, khi rượu, khi cầm, khi thi Công danh phú quý màng chi Sao bằng thong thả thả mặc khi vui lòng Rừng như biển thánh mênh mông 540.Dễ ai lặn lội cho cùng vậy vay Quán rằng: Ðó biết ý đây Lời kia đã cạn lời này thưởng cho. Kiệm, Hân là đứa so đo Thấy Tiên dường ấy thêm lo trong lòng Khoa này Tiên ắt đầu công Hâm dầu có đậu cũng không ra gì. Mảng còn bàn bạc thị phi Xảy nghe trống điểm một khi nhập trường Kẻ hòm, người tráp đầy đường Lao xao đoàn bảy, chàng ràng lũ ba. Vân Tiên vừa bước chân ra Bỗng đâu xẩy gặp tin nhà gửi thư Khai phong mới tỏ sự cơ Mình gieo xuống đất dật dờ hồn hoa. Hai hàng lụy ngọc nhỏ sa Trời Nam đất Bắc xót xa đoạn tràng Anh em ai nấy đều thương Trời ơi! Há nỡ lấp đường công danh Những lăm công toại thành danh Nào hay từ mẫu u minh sớm rời Gắng nào trong quán yên nơi Tớ thầy than thở liệu lời qui lai Tiểu đồng thở vắn than dài Trời ơi trời nỡ phụ tài người ngay Trực rằng: Ðã đến nỗi này Tiểu đồng bậu hãy làm khuây chớ phiền Sớm hôm thang thuốc giữ gìn Chờ ta vài bữa ra tràng sẽ hay Bây giờ kíp rước thợ may Sắm đồ tang phục nội ngày cho xong Dây rơm mũ bạc áo thùng Cứ theo trong sách Văn công mà làm. Tiên rằng; Con Bắc mẹ Nam Nước non vòi vọi đã cam lỗi nghì Trong mình không cánh không vi Lấy chi lướt dặm, lấy chi tách đàng Nhập tràng phút lại gặp tang Ngẩn ngơ người ở, ngỡ ngàng kẻ đi. Việc trong trời đất biết chi Sao dời, vật đổi còn gì mà trông Hai hàng lụy ngọc ròng ròng Tưởng bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu Cánh buồm bao quản gió xiêu Ngàn trùng biển rộng, chín chiều ruột đau. Thương thay chín chữ cù lao Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình Quán rằng: Trời đất thình lình Gió mưa đâu phút gãy nhành thiên hương Ai ai trông thấy cũng thương Lỡ bề báo hiếu, lỡ đường lập thân Dẫu cho chước quỷ mưu thần Phong trần ai cũng phong trần như ai Éo le ai khéo đặt bày Chữ tài liền với chữ tai một vần. Ðường đi một tháng chẳng gần Khi qua khi lại mấy lần xông pha Xảy đâu bạn tác vừa ra Trực cùng Hâm, Kiệm xúm cùng đưa Tiên. Hâm rằng: Anh chớ ưu phiền
Chú thích: 1.Lê đình: sân có trồng cây lê 2. Tống tình: tình tiễn biệt 3.Liễm dung: nghiêm chỉnh dáng điệu để tỏ lòng kính trọng 4.Phó công: đi công việc, nói đang việc, 5.Bồ liễu: tức cây thủy dương, nó thuộc giống dương liễu, nên gọi là bồ liễu hay bồ dương (nhiều người giải là cỏ bồ và cây liễu là sai), thể chất yếu ớt, ngày xưa ví với phụ nữ. 6.Linh phụng: chim phượng khôn thiêng 7.Ngô đồng: một loại cây cao lớn đẹp đẽ, thuyết cao cổ, chim phượng thường đậu cây này. "Phượng hoàng đậu cây ngô đồng" tượng trưng người tài giỏi ở một địa vị xứng đáng. Ðây Thể Loan mong Lục Vân Tiên lập được công danh xứng được với tài của mình. 8.Cung quế: cung trăng. Người xưa bảo trên cung trăng có cây đan quế (quế đỏ), và thường ví sự khi thi đỗ như bẻ quế cung trăng. Xuyên dương: bắn thủng lá dương liễu. Dưỡng Do Cơ người nước Sở (đời Xuân Thu), bắn rất giỏi, từng đứng xa trăm bước bắn vào lá cây dương liễu (lá nhỏ lắm) trăm phát trúng cả trăm. Tích Xuyên dương này thường mượn dùng để chỉ sự thi đỗ, vì người học giỏi như người bắn giỏi vậy. 9.Tào khương: là bã rượi và cám gạo, thức ăn xấu, người nghèo thường dùng. Tống Hoằng đời Ðông Hán, làm chức Ðại Tư Không, là người có uy đức trong đám quần thần, vua Quang Vũ muốn ông bỏ vợ để lấy chị gái mình là Hồi Dương công chúa, ông trả lời rằng: "Tào khang chi thê, bất khả hạ dường" (người vợ đã cùng ăn ở kham khổ với mình, không thể ruồng rẫy được). Câu nói này được người sau truyền tụng và nhân gọi vợ là người "tào khang" 10.Ðó, đăng: hai dụng cụ là bằng tre nứa để bắt cá 11.Nhen: nhóm 12.Phô: nói ra, bày ra. nói: may thì gặp duyên, rủi thì gặp nợ, tức như làm hay thì gặp hay, làm dở thì gặp dở, lẽ đó bày ra rành rày 13.Ngô Khởi: người nước Vệ, giỏi binh pháp, khi nước Tề đánh nước Lỗ, Lỗ muốn dùng Khởi là tướng quân chống Tề, nhưng có ý nghi ngại, vì Tề là nước quê của vợ Khởi, Khởi nghe biết, bèn giết chết vợ để tỏ mình không vị gì nước Tề. Người thời ấy bảo Khởi "giết vợ để cầu làm tướng" (sát thê cầu tướng) thật là con người phụ bạc tàn ác. 14.Mãi Thần: họ Chu, người đời Hán, nhà nghèo mà ham học, vừa đi kiếm củi vừa đọc sách nghêu ngao ở dọc đường, vợ lấy làm xấu hổ, và cũng không kham nổi cảnh nghèo khổ của Mãi Thần, bỏ đi lấy người khác, sau Mãi Thần hiển đạt vợ lại xin về, Mãi Thần lấy bát nước đổ xuống đất, bảo vợ hốt đầy lại được thì sẽ xum họp, vợ hổ thẹn thắt cổ chết. Ý nói câu này: chớ ngờ tôi như Ngô Khởi và nàng cũng nên nghĩ đến việc vợ Mãi Thần. 15.Trường An: tên kinh đô đời nhà Hán, về sau kinh đô nói chung 16.Vầy đoàn: họp thành đoàn 17.Thủy tú sơn kỳ: nước đẹp, núi lạ, nói cảnh đẹp. 18.Cá nhảy, rồng bay: cá vượt Vũ-Môn hóa rồng. Rồng bay lên mây làm mưa làm gió. Chỉ sự trổ tài đua sức người thư sinh. 19.Tiên tử: người tiên. 20.Bồng Lai: chỗ tiên ở. Theo thần thoại, ba hòn núi ở ngoài bể Bột (bể phía Ðông) gọi là Bồng Lai. Phương-trượng và Doanh-châu, có các tiên ở và nhiều thuốc trường sinh bất tử. 21.Tình hoài: tình và lòng, cũng như nói tâm tình (Hoài là cái ôm ấp ở trong lòng, chữ này sóng đôi với chữ tình, thuộc nghĩa danh từ chứ không thuộc nghĩa động từ). 22 Cửa Võ: Vũ-môn, tức Long-môn, Long-môn là hai nhỏm núi đá đứng sững hai bên bờ trên một khúc sông Hoàng-Hà (Trung-Quốc), như hình cái cửa, cửa này nguyên trước chật hẹp, khi ông Hạ Vũ trị thủy có đục phá cho rộng thêm ra, nên gọi là Vũ-Môn (cửa ông Vũ). Sách Tam Tần-ký nói: Long-Môn là nơi dữ sóng, cá khó vượt qua, nếu vượt qua được thì sẽ hóa rồng, Sách Thủy-Kinh nói: tiết tháng ba, cá chép vượt qua được Long Môn hóa rồng; người đời Ðường bảo những sĩ tử thi đỗ là "nhảy qua Long-Môn". Theo sách Ðại Nam Nhất Thống Chí thì nước ta cũng có Vũ-Môn, ở dãy núi Khai-Trướng (Giăng-Màn) thuộc huyện Hương-Khê, tỉnh Hà-Tĩnh, là một dòng suối ba bậc, tương truyền: mỗi năm đến tháng tư, mưa to, có nước nguồn thì cá chép ngược dòng "vượt Vũ-Môn để hóa rồng", ca dao đã nói: "Tháng ba cá đi ăn thề, tháng tư cá về, cá vượt Vũ-Môn". Truyền thuyết này rất phổ biến trong văn thơ, cũng như trong dân gian. 23.Tài, mệnh ghét nhau: thuyết cũ cho rằng người có tài thì không có phận. 24.Giỡn sóng, chơi mây: Nói con rồng khi ở vực sâu thì giỡn sóng, khi lên trời cao thì chơi mây, mặc sức vẫy vùng. Hai câu này đại: dù hiển đạt ra giúp nước hay chưa hiển đạt còn ở nhà, tùy hoàn cảnh mà thi thố chí mình, chỉ cần có tài, bất chấp số mệnh (muốn phản lại thuyết tài mệnh ghét nhau ở trên ) 25.Hồng hộc: chim hồng, chim hộc, tức là vịt trời và ngỗng trời, loại chim bay xa và bay cao. 26.Kinh địa: đất kinh đô. 27.Cố tri: người bạn quen biết đã lâu nay, bạn cũ. ở đây nói xa nhau lâu ngày nên quên mặt. 28.Tác chừng: tuổi chừng. 29. Cho bề: cho nhiều, như nghĩa "bề bộn". Bề bề: nhiều lắm, tục ngữ: "Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay ". 30.Khô lân: nem làm bằng thịt con kỳ lân, một loài thú tưởng tượng. 31.Ướp ngâu: ướp hoa ngâu, thứ hoa bé nhỏ như hạt kê, màu vàng rất thơm. 32.Ve: bình nhỏ 33.Tuyết điểm: không rõ nghĩa. Có lẽ chè có lấm tấm trắng, hoặc phơn phớt màu trắng. 34.Cúc hương: hương thơm mùi cúc. 35.Văn vật: có học tức văn hóa, hay có nhiều nhân tài và chế độ hay, như nói: người văn vật, đất văn vật. 36.Bĩ bàng: đầy đủ, sung túc (tiếng miền Nam) 37.Viết tùng cổ thi: viết theo thơ cổ. nói "cóp" của người xưa cổ. 38.Ðồ thư tức đồ thư: sách vở câu này nói: con người chẳng có tài gì về sách vở (chẳng biết sách vở gì cả, vô học). Có người giải: Ðồ thơ tức đồ thi: bôi thơ, nói không biết làm thơ, như người bôi vẽ ra giấy, nhưng theo văm phạm chữ Hán, chưa thấy lối đặt như thế. 39.Tôn Tẫn, Bàng Quyên: hai tướng tài thời Chiến quốc. Hai người cùng học Quỉ Cốc tử, kết nghĩa với nhau, nhưng về sau Bàng Quyên làm tướng nước Ngụy, lập mưu cắt xương đầu gối của Tôn Tẫn (có sách chép là cắt chân). Không lừa: không chọn lọc, nói không biết chọn bạn. Trước đà thấy máy: máy là máy trời; nói Quỉ Cốc tử đã bảo trước Tôn Tẫn nên phòng ngừa Bàng Quyên, nhưng Tôn Tẫn vẫn hững hờ không lưu, nên bị Bàng Quyên lừa hại. Hai câu này nói: chơi bạn nên để ý tới tình bạn, kẻo xảy ra ta nạn như việc Tôn Tẫn, Bàng Quyên. 40.Tuyền: toàn: trọn vẹn. nói những việc trong kinh sử, có hay có dở, không thể nào toàn được. 41.Tầm phào: không có nghĩa lý, vu vơ, hão huyền, tiếng thường dùng ở miền Nam. 42.Kiệt, Trụ: Vua Kiệt đời Hạ, vua Trụ đời Thương. Hai vua tàn ác có tiếng, bị nhân dân oán ghét mà mất ngôi. Mê dâm: mê là trong lòng mê ám, dâm là việc tà dâm (càn bậy) 43.U, Lệ: U vương và Lệ vương hai vua đời nhà Chu, làm nhiều việc bạo ngược vô đạo. 44.Ða đoan: nhiều mối, lôi thôi, nhiều việc. 45.Ngũ Bá: năm vua Bá. Cuối đời nhà Chu (đời Xuân thu), năm vua chư hầu mạnh lớn, tức Tề Hoàn công. Tấn Văn công, Tống Tương công, Trần Mục công, Sở Trang vương, kế tiếp nhau nổi lên làm bá chủ nhất thời, gọi là "Ngũ bá". Ngũ bá đều dựa trên uy lực, giả dối nhân nghĩa, kéo bè nước này đánh nước kia, gây chiến tranh hại dân. 46.Thúc quí: đời suy loạn nói chung. Bài phú "Bạch lộc động" của Chu Hi đời Tống, trong có chữ "Thúc qui", tuy tác giả dùng chỉ chung đời suy loạn, nhưng cái thời gian xảy ra mà tác giả thuật đó, vẫn là thời gian "Ngũ quí", vậy 'Thúc quí" cũng có thể giải là đời suy loạn "Ngũ quí" được "Ngũ quí" tức "Ngũ đại", năm triều đại khởi lên cuối đời Ðường, hồi ấy nước Trung-Quốc bị chia cắt nghiêng đổ (phân băng), dân rất khổ vì chiến tranh liên miên. 47.Ðầu: đầu hàng 48.Ðức thánh nhân: Tức Khổng Tử, ông đi khắp các nước Tống, Vệ, Trần, Khuông, để tìm cách đạo hành của mình mà không được. 49.Nhan Tử: tức Nhan Uyên, học trò Khổng Tử thông minh và hiếu học, đức hạnh vào bậc nhất, nhưng chết sớm, năm chết mới 32 tuổi (đây nói 31 tuổi, có lẽ chép nhầm), thày và bạn rất thương tiếc. 50.Gia Cát: chữ này chính âm là Chư Cát (họ hai chữ), Chư Cát Lượng tên tự Khổng Minh, người đời Tam quốc, có tài chính trị, nhất là binh pháp làm quân sư cho Lưu Bị, chỉ muốn khôi phục cơ nghiệp nhà Hán, nhưng khi Khổng Minh chết, nước vẫn còn bị chia ba. 51.Hán mạt: cuối đời Hán, tức đời Tam quốc (Thục, Ngụy, Ngô, ba nước phân tranh) 52.Ðổng Tử: Ðổng Trọng Thư, một nhà đại nho đời Hán, có tài đức hơn người vua Hán cử làm Giang Ðô tướng, nhưng rồi lại giáng chức và có lần bị bắt giam, sau ông cáo quan về. 53.Nguyên Lượng: Ðào Tiêm, tên tự là Nguyên Lượng một nhà cao ẩn đời Tấn. Trước có làm quan Lệnh (tri huyện), huyện Bành Trạch, vì không chịu quỵ lụy quan trên, ông treo ấn bỏ quan về ở ẩn, có làm bài thơ "Quy khứ lai từ" (Về đi thôi) để tỏ chí mình. 54.Hàn Dũ: Người đời Ðường, đỗ tiến sĩ, làm đến chức Lại Bộ Thị Lang. Vì làm biểu can vua Ðường đừng mê tín đạo Phật (vua rước xương Phật vào trong cung để cúng lễ), nên bị giáng chức và đầy đi xa. Ông là người đạo đức văn chương nổi tiếng, có nhiều tác phẩm hay truyền lại, các học giả coi ông như Thái Sơn (ngọn núi cao hơn các núi khác) Bắc đẩu (chòm sao sáng hơn các sao) 55.Liêm, lạc: Chu Ðôn Di ở Liêm Khê và học trò là hai anh em Trinh Hiệu, Trinh Di ở Lạc Dương, ba người là nhà triết học nổi tiếng đời Tống, có ra làm quan nhưng không đắc dụng, lại trở về dạy học. 56.Giáo dân: dạy dỗ chúng dân 57.Chùa rách Phật vàng: Tục ngữ "Chùa đất phật vàng", chùa xấu mà bụng tốt. nói nhân tài sinh ở chỗ nghèo hèn. 58.Kinh luân: khi làm tơ kéo từng mối ra mà chia gọi là kinh, so các sợi mà hợp lại gọi là luân; nghĩa bóng: sự sửa sang xắp đặt khéo. Có tài kinh luân là có tài tổ chức, tài trị nước. 59.Làm mưa: Kinh thư có câu: "Nhược tuế đại hạn, dụng nhữ tác lâm vũ", nghĩa là như năm đại hạn, dùng người là trận mưa rào, nói người hiền tài ra cứu dân giúp nước, cũng như trận mưa giải cơn hạn vậy. nói hai câu này: ông quán thương dân khổ (nắng hạ) sao không ra giúp dân (làm mưa)? 60.Nghiêu, Thuấn: hai vua đời cổ Trung-Quốc, có đức tính tốt chính hay, dân nước được thái bình thịnh vượng, làm tiêu biểu cho các vua hiền đời sau. Thời ấy, Nghiêu, Thuấn đã có quan niệm: nước là của chung nhân dân, và trị nước phải người có tài đức, nên đều không truyền ngôi cho con mà truyền cho người hiền. 61.Sào phủ, Hứa Do: hai nhà hiền triết thời vua Nghiêu, ở ẩn, cày ruộng tự túc. Vua Nghiêu nhường ngôi cho Hứa Do. Do không nhận trốn lên núi Cơ-Sơn. Sau vua Nghiêu lại sai người đến mời ra làm Cửu Châu Trưởng. Do không muốn nghe, cho lời nói đó làm bẩn tai mình, bèn xuống sông Ðĩnh-Thủy rửa tai. Vừa lúc ấy thì Sào Phủ cho trâu xuống uống nước, Hứa Do kể chuyện cho bạn nghe, Sào Phủ liền dắt trâu lên trên dòng cho trâu uống, vì sợ uống nước ngay chỗ bẩn đó làm bẩn miệng trâu. Câu này nói: giỏi như Nghiêu, Thuấn thuở xưa cũng không thể đem phu quí mà thay đổi hai nhà hiền triết. 62.Di Tề: Bá Di, Thúc Tề, hai con vua nước Cô-Trúc, chư hầu nhà Thương. Bá Di là con cả, Thúc Tề là con thứ ba, khi cha mất dặn lập Thúc Tề lên ngôi, nhưng Thúc Tề nhường ngôi Bá Di, vì Bá Di là trưởng. Bá Di không nghe, bảo phải theo mệnh cha, rồi bỏ trốn đi. Thúc Tề cũng không nhận ngôi mà bỏ đi, người trong nước lập con trai thứ hai làm vua. Khi Vũ Vương đánh Trụ (vua nhà Thương), Di, Tề dằng cương ngựa mà can ngăn, bảo tôi đánh vua là lỗi đạo (Vũ Vương là chư hầu, Trụ là thiên tử). Sau Vũ Vương thắng được Trụ, diệt nhà Thương lập nên nhà Chu. Di, Tề không thèm ăn gạo thóc của nhà Chu, lên ẩn núi Thủ-Dương, kiếm rau vi mà ăn, rồi chết đói ở đó. 63. Châu (nhà Chu): chữ này thường đọc là Chu, nhưng chính âm là Châu, và chữ Do (Hứa Do) ở câu trên cũng chính là âm Dâu, vậy cả hai chữ đều nên đọc là theo âm chính cho có vần. 64.Ai hầu chi ai: nói khổ.Ai hầu chi ai: 65.Y, phó: Y Doãn và Phó Duyệt, hai nhà hiền tướng đời Thương, trước đều ôm tài đi ở ẩn. Y Doãn cày ruộng kiếm ăn, vua Thang ba lần mời ra làm tướng, mãi ông mới chịu ra, giúp Thang gây dựng cơ nghiệp nhà Thương. Phó Duyệt là nghề đắp tường thuê, vua Cao Tông nhà Ân (tức nhà Thương) sai người đi cầu về, lập làm tướng, có chính sự hay, nước trị dân yên. 66. Thái Công: ông chính họ Khương, tên Thượng, tên tự là Tử Nha, tổ tiên đời trước có công được phong đất Lã, nên theo đất phong cũng gọi là Lã Thượng. Bậc đại hiền tài cuối đời Thương, tuổi đã hơn tám mươi, thường ngồi câu cá trên sông Vị. Văn Vương (tổ nhà Chu) đi săn, gặp ông, rước về, nói: "Ngô Thái Công vọng tử cửu hĩ", nghĩa là cha tôi mong ông đã lâu (trước cha Văn Vương thường mong có bậc thánh nhân đến giúp nhà Chu, nay được Thái Công, quả như điều mong muốn đó), nhân gọi ông là Thái Công Vọng (sau chuyển ra Lã Vọng), rồi lập làm Quân Sư, tôn làm Thái Công (cha), làm Thượng Phụ (người kính trọng ngang với cha). Thái Công đã giúp Văn Vương và con là Vũ Vương lập nên nghiệp lớn nhà Chu. 67.Nghiêm Lăng: Nghiêm Quang, tên tử là Tử Lăng, một ẩn sĩ đời Hán, bạn thân với Lưu Tú (dòng dõi vua Hán), Khi Tú dẹp được loạn Vương Mãng (Mãng cướp ngôi nhà Hán), lên làm vua tức là Quang Vũ, Tử Lăng đổi họ tên đi ẩn náu, Quang Vũ sai người tìm kiếm mãi mới thấy ông mặc áo cừu ngồi câu cá trên một cái đầm ở nước Tề. Quang Vũ mời ra làm quan, mấy lần Tử Lăng đều kiên quyết từ chối. Sau cùng, Quang Vũ khẩn khoản mãi, Tử Lăng có ra chuyện trò với Quang Vũ mấy ngày (Tử Lăng nằm cùng giường với vua, gác chân lên bụng vua) rồi lại về, trọn đời cày ruộng nơi Phú Xuân và câu cá ở bến sông Ðồng-Giang gần bên núi. Ðã mấy đua bơi: ý nói đã bao lâu vẫy vùng nơi sông núi mình ở. 68.Cày mây câu nguyệt: cày trong mây (trong núi), câu dưới trăng. Nói cày ruộng câu cá với cảnh mây trăng thanh cao ẩn dật. -Tả tơ áo cầu: cầu (chữ này ta thường đọc là "cừu", nhưng chính âm là "cầu") là áo làm bằng da thú (như dê, cừu, cáo...). nói Tử Lăng ngồi câu lâu năm, áo cừu đã rách náo...). 69.Trần Ðoàn: tên tư là Ðồ Nam, hiệu Hi Di, người đời Tống, ẩn núi Hoa-Sơn, tinh môn học Dịch, tài đoán số mệnh, tu luyện đạo tiên, không ăn cơm gạo, giấc ngủ thường trăm ngày chưa dậy. Vua Thái Tông nhà Tống mấy lần mời ra làm quan, Trần Ðoàn không nhận, có bài tạ biểu lời lẻ rất kiên quyết. 70.Công hầu chiêm bao: coi chừng công hầu như giấc chiêm bao. 71.Ra vào: ra giúp nước hay đi ở ẩn. 72.Ếch nắm dưới đáy giếng thấy bao lăm trời: do chữ Hán "tỉnh đế oa": ếch đáy giếng, và "tọa tỉnh quan thiên": ngồi trong giếng xem trời, dùng chỉ những người kiến thức nhỏ hẹp. Hai câu này nói: Trịnh Hâm là kẻ kiến thức hẹp hòi, như ếch ngồi đáy giếng, chỉ trông thấy một khoảng trời nhỏ bé, còn biết gì đến những trạng thái biến động, sấm chớp mưa rào trên cái bầu trời bao la rộng lớn kia. 73.Xem hai con mắt sáng ngời như châu: mắt chỉ mắt cá, châu là ngọc châu (ngọc trai), do câu chữ Hán "ngu mục hỗn châu": mắt cá lẫn ngọc châu (cái giả tráo lộn với cái thực). Hai câu này đại ý: người ở đời, tốt xấu hay dở, thường mập mờ hay lừa dối, cũng như cá lội trong nước, hai mắt trông sáng như ngọc châu, nó chỉ là cái mắt cá đó thôi. Ðây chỉ Kiệm, Hâm bề ngoài coi như vẻ người ăn học, thế mà lại là kẻ dốt nát ngu ngốc. 74.Ðàn gảy tai trâu, nước xao đầu vịt: do hai câu tục ngữ (xao là dội), ý nói: người ngu dốt không hiểu lời nói hay, như trâu không biết nghe đàn; người ngoan cố không thu lẽ phải, như đầu vịt truội lông không thấm được nước. 75.Trước lâm: rừng trúc. Do điển cũ: "Trúc lâm thất hiền": bảy người hiền ở rừng trúc, tức Kê Khang, Nguyễn Tịch, Nguyễn Hàm, Sơn Ðào, Hướng Tú, Vương Nhung, Lưu Linh) (cùng người đời Tấn). Bảy ông này tính tình phóng đạt, thường họp nhau chơi bời ở rừng trúc, đàm luận học thuyết Lão, Trang, uồng rượu quên đời. Ðây nói ông quán cũng là hạng người ẩn dật như bảy ông Trúc lâm. 76.Khi cầm khi thi: cầm là đàn, thi là thơ. 77.Rừng nhu: rừng nho (chữ "nho" chính là âm "nhu"). Rừng nho biển thánh: nói đạo học cao rộng như Khổng tử. 78.So đo: tâm địa chật hẹp, tén mén. 79.Ðầu công: thành công bực nhất. 80.Thị phi: những lời phải trái trong khi bàn luận. 81.Chàng ràng: dàng dênh, dênh dang. 82.Khai phong: mở thứ gì bọc kín. ở đây là mở thư. 83.Dật dờ: tâm hồn bị xúc động mạnh nên chập chờn như nửa tỉnh nửa mê. 84.Ðoạn tràng: đứt ruột 85.Công toại danh thành: toại là nên, cũng như nghĩa chữ thành. nói vừa nên sự nghiệp vừa có danh vọng. 86.U minh: tối tăm (minh: mờ), đây chỉ cõi chết. 87.Qui lai: Trở lại, quay về. 99. Dây lưng: bằng rơm. Mũ bạc: mũ trắng. áo thùng: áo thụng, áo tộng tay. 88.Sách Văn Công: sách Gia Lễ của Chu Văn Công tức Chu Hy đời Tống, dạy lễ nghi về tang chế, cưới xin v.v... 89.Không cánh không vi: nói mình không mọc được cánh như chim, mọc được vi (vẩy) như cá để bay thẳng hay bơi thẳng về nhà một mạch cho nhanh chóng 90.Sao dời, vật đổi: do câu chữ Hán "vật hoán di tinh": vật đổi sao dời, nói cảnh đổi thay, thời tiết cũng chuyển dời ("sao" là chỉ thời tiết, người xưa thường tính thời tiết theo cái vòng chuyển vần của 28 vì sao trên trời). Một thành ngữ chỉ sự biến đổi nói chung. 91.Chín chiều ruột đau: do câu văn của Tư-Mã Thiên: "Trường nhất nhật nhi cửu hồi": ruột quặn chín trong vòng một ngày, nói người ta mỗi khi có sự đau thương, ruột thường bị quặn lại nhiều vòng (chín vòng chỉ là nói nhiều vòng thôi). Câu "Quặn đau chín khúc" ở phần dưới đây (câu 1-182) cũng nghĩa là quặn đau chín vòng chứ không phải chín đoạn ruột. 92.Chín chữ cù lao (cửu tự cù lao): tức chín chữ: sinh (sinh đẻ ra), cúc (nuôi nấng nói chung), phủ (vỗ về, vuốt ve), xúc (giữ gìn, xem xét), trưởng (chăm nuôi cho lớn), dục (dây dỗ cho nên người), cố (quay lại nhìn con, quyến luyến mỗi khi đi ra), phục (đi ra rồi lại trở lại, quấn quít không nỡ rời bỏ), phúc (bế ẵm, ấp ủ) ở thơ Lục-Nga Kinh Thi nói chín cái công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi con. 93.Ba năm nhũ bộ (tam thiên nhũ bộ): ba năm bú mớm (cho bú sữa, mớm cơm) 94.Thiên hương: hương trời. "Thiên hương" và "quốc sắc" là những danh từ dùng để chỉ người đàn bà có tài sắc, ở đây không rõ nghĩa, có lẽ tác giả định nói mẹ hiền của Lục Vân Tiên. 95.Phong trần: gió bụi, chỉ sự gian khổ ở đời. 96.Bạn tác: bạn cùng lứa cùng tuổi.
Câu 600 - 799
Khoa này chẳng gặp ta nguyền khoa sau Thấy nhau khó nỗi giúp nhau Một vừng mây bạc, dàu dàu khá thương Vân Tiên cất gánh lên đường Trịnh Hâm ngó lại đôi hàng lụy sa. Ði vừa một dặm xa xa Phút đâu ông quán bôn ba theo cùng Quán rằng: Thương đấng anh hùng Ðưa ba hườn thuốc để phòng hộ thân Chẳng may gặp lúc gian truân Ðương đi quá đói thuốc thần cũng no Tiên rằng: Cúi đợi ơn trên Tấm lòng ngài ngại hãy lo xa gần Ta?? cũng bâng khuâng Thấy vầy nên mới tị trần đến đây Non xanh nước bích vui vầy Khi đêm rượu cúc, khi ngày trà lan Dấn thân vào chốn an nhàn Thoát vòng danh lợi, lánh đàng thị phi Nói rồi quày quả ra đi Vân Tiên xem thấy càng nghi trong lòng Trông chừng dặm cũ thẳng xông Nghĩ đòi cơn lại não nùng đòi cơn Nên hư chút phận chi sờn Nhớ câu dưỡng dục, lo ơn sinh thành Mang câu bất hiếu đã đành Nghĩ mình mà thẹn cho mình làm con Trọn đời một tấm lòng son Chí lăm trả nợ nước non cho rồi Nào hay nước chảy hoa trôi Nào hay phận bạc như vôi thế này Một mình ngơ ngẩn đường mây Khác nào chiếc nhạn lạc bầy kêu sương Ðến nay lâm việc mới tường Hèn chi thày dạy khoa trường còn xa Tiểu đồng thấy vậy thưa qua Gẫm đây chi đến quê nhà còn lâu Thầy sao chẳng ngớt cơn sầu Mình đã đi mỏi, dòng châu thêm nhuần E khi mang bệnh nửa chừng Trong non khó liệu, giữa rừng khôn toan. Tiên rằng: Khô héo lá gan Ôi thôi con mắt đã mang lấy sầu Mịt mù nào thấy chi đâu Chân đi đã mỏi, mình đau như dần Có thân phải khổ vì thân Than ôi! Thân biết mấy lần chẳng may. Ðồng rằng: Trời đất có hay Ra đi chưa đặng mấy ngày lại đau Một mình nhắm trước xem sau 650.Xanh xanh bờ cõi, dàu dàu cỏ cây Vốn không làng xóm chi đây Xin lần tới đó tìm thấy thuốc thang. Vừa may gặp khách qua đàng Người người đều chỉ vào làng Ðồng Văn Dắt nhau khi ấy hỏi phăng Gặp thầy làm thuốc hiệu rằng Thầy Ngang Ngang rằng: Khá tạm nghỉ an Rạng ngày coi mạch đầu thang mới đành Gặp ta bệnh ấy ắt lành Bạc tiền trong gói sẵn dàng bao nhiêu? Ðồng rằng: Tiền bạc chẳng nhiều: Xin thầy nghĩ lượng đặng điều thuốc thang, May mà bệnh ấy đặng an Bạc còn hai lượng trao sang cho thày Ngang rằng: Ta ở chốn này Ba đời nối nghiệp làm thày vừa ba Sách chi cũng đũ trong nhà Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm mầu Trước xem Y học làm đầu Sau coi Thọ thế, thứ cầu Ðông y Gẫm trong Ngân hải tinh vi Cùng là Cang Mục, thua gì Thanh Nang Gẫm trong Tập nghiệm lương phang Cùng là Ngự toản trải đàng Hồi xuân Vị chi sẵn đặt quân thân Thuốc thời bào chế mười phần nỏ nan Mạch thời đọc phú Lư san Ðặt vào tay bệnh đàng tử sinh. Lục quân, tứ vật thanh danh Thập toàn, bát vị, sẵn dành nội thương Lại thông bát trận tân phương Lâm nhằm ngoại cảm đầu thang ngũ sài Ðồng rằng: Thầy thiệt có tài Xin vào coi mạch luật bài thuốc chi. Ngang rằng: Lục bộ đều suy Bộ quan bên tả, mạch đi phù hồng Cứ trong Kinh lạc mà thông Mạng môn tướng hỏa đã xông lên đầu Tam tiêu, tích nguyệt đã lâu Muốn cho giáng hỏa phải đầu tư âm Huỳnh liên, Huỳnh bá, Huỳnh cầm Gia vào cho bội nhiệt tâm mới bình Ngoài thời cho điểm vạn linh Trong thời cho uống hoàn tình mới xong Khá trao hai lượng vàng ròng Bổ thêm vị thuốc để phòng đầu thang Chẳng qua làm phúc cho chàng Nào ai đòi cuộc, đòi đàn chi ai Tiểu đồng những ngỡ thiệt tài Vội vàng mở gói, chẳng nài tiền trao Mười ngày chẳng bớt chút nào Thêm đau trong dạ như bào như xoi Ðồng rằng: Vào đó thầy coi Bệnh thời không giảm thầy đòi tiền thêm. Ngang rằng: Nằm thấy khi đêm Tiên sư mách bảo một điềm chiêm bao Quỉ thần người ở trên cao E khi đường sá lẽ nào biết đâu Tiểu đồng ngươi khá qua cầu Cùng ông thày bói ở đầu Tây Viên Tiạu đồng nghe nói đi liền Gặp ông thầy bói đặt tiền mà coi Bói rằng: Ta bói hẳn hoi Bói hay đã dậy, ngươi coi đã đầy Ta đây nào phải các thày Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm Ôn nhuần Châu Diệc mấy năm Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào Huỳnh kim, Dã hạc sách cao Lục nhâm, Lục giáp chỗ nào chẳng hay Can chi đều ở trong tay Ðã thông trời đất, lại hay việc người Ðặt tiền quan mốt bốn mươi Khay trầu, chén rượu cho tươi mới thành Thày bèn gieo quẻ đặng linh Chiêm tên tuổi ấy lộ trình mắc chi Ứng vào rùa với cỏ thi Rồi thày coi quẻ một khi mới tường Ðồng rằng: Người ở Ðông phương Nhân đi buôn bán giữa đường chẳng an. Con nhà họ Lục là chàng Tuổi vừa hai tám, còn đàng thơ ngây. Bói rằng: Ðinh Mão năm nay Hàn chi Giáp tí ngày rầy chẳng an Mạng kim lại ở cung càn Tuổi này là tuổi giàu sang trên đời Cầu tài quẻ ấy xa vời Khen người khéo nói những lời phỉnh ta Cầm tiền gieo xuống xem qua Một giao, hai sách, lại ba Hào trùng Trang thành là quẻ lục xung Thấy hào phụ mẫu khắc cùng tử tôn Hóa ra làm kẻ du hồn Lại thêm thế động khắc dồn hào quan Cứ trông quẻ ấy mà bàn Tuổi này mới chịu mẫu tang trong mình Xui nên phát bịnh thình lình Vì chưng ma quỉ lộ trình rất thiêng Muốn cho bệnh ấy đặng yên Phải tìm thày Pháp chữa chuyên ít ngày Ðồng rằng: Pháp ở đâu đây Bói rằng: Cũng ở chốn này bước ra. Pháp hay dậy tiếng đồn xa Tên là Ðạo sĩ ở Trà Hương thôn Tiểu đồng mới chạy bôn bôn Hỏi thăm đạo sĩ Hương thôn chốn nào Chợ đông buôn bán lao xao Người ta chỉ vào nhà ở chẳng xa, Ðồng đi một buổi tới nhà Ðạo sĩ xem thấy, lòng mà mừng thay Ðồng rằng: Nghe tiếng thày đây Trừ ma, ếm quỉ, phép thày rất hay Pháp rằng: ấn đã cao tay Lại thêm phù chú xưa nay ai bì Qua sông cá thấy xếp vi Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa Pháp hay gió hú kêu mưa Sai chim, khiến vượn, đuổi lừa, vật trâu Pháp hay miệng niệm một câu Tóm thâu muôn vật vào bầu hồ linh Phép hay sái đậu thành binh Bện hình làm tướng phá thành Diêm Vương Phép hay đạo hỏa phó thang Ngồi gươm, đứng giáo khai đàng thiên hoang Có ba lượng bạc trao sang Ðặng thày sắm sửa lập chữa cho Ðồng rằng: Tôi chẳng so đo Khuyên thày ra sức chớ lo kho giàu Bấy lâu thày tớ theo nhau Bạc dành hai lượng phòng sau đi đàng Chữa chuyên bệnh ấy đặng an Rồi tôi sẽ lấy đem sang cho thầy Pháp rằng: Về lấy sang đây Cho thầy toan liệu lập đàn bày ra Ðồng rằng: Tôi đã lo xa Cực vì người bệnh ở nhà chẳng yên Xin thày gắng sức chịu phiền Ra công bùa chú chữa chuyên cách nào, Pháp rằng: Có khó chi sao Người nằm ta chữa rồi trao phù về Ðồng rằng: Tôi vốn thằng hề Bệnh chi mà khiến chịu bề chữa chuyên? Pháp rằng: Ta biết kinh quyền Ðau Nam chữa Bắc mà thuyên mới tài Tiểu đồng nghe lọt vào tai Lòng mừng vội vã nằm dài chữa chuyên Pháp bàn cất tiếng hét lên Mời ông Bàn cổ tọa tiền chứng miêng Thỉnh ông Ðại thánh Tề thiên
Chú thích: 1.Mây bạc: Ðịnh Nhân Kiệt đời Ðường, khi đi làm quan xa, thường hay nhớ cha mẹ, một hôm lên núi Thái-Hàng trông về quê hương, thấy đám mây trắng bay lững lờ, ông bùi ngùi nói: "Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây kia". Do đó, danh từ "mây bạc". Do đó, danh từ "mây bạc" (mây trắng) được dùng để chỉ sự mong nhớ cha mẹ. 3.Bôn ba: nghĩa chính: làn sóng chảy mạnh (chảy xiết); nghĩa bóng: chạy đuổi theo vất vả làm một việc gì hoặc có cầu cạnh điều gì 4.Câu này: nói lòng này còn lo ngại, chưa biết việc biến đổi như thế nào. 5.Tị trần: tránh bụi, tức tránh cuộc đời huyên náo, xấu xa. 6.Thị phi: phải trái, lời khen chê. 7.Quầy quả: vội vã. 8.Dưỡng dục sinh thành: công cha mẹ sinh ra, nuôi lớn, dạy dỗ nên người. 9.Phận bạc: Phận mỏng. Tiếng bạc ở đây không phải là trắng nhưng khi dùng tiếng này thì liên tưởng đến bạc là trắng nên đem ví với vôi. Truyện Kiều: "Phận sao bạc như vôi". 10.Ðường mây: con đường ở trên mây, tức đường công danh (được lên địa vị cao, nên gọi là mây). 11.Lâm việc: tới khi vó việc (lâm là tới) 12.Thêm nhuần: ướt thêm. Nói mình đã mỏi mệt mà lại thêm khóc mãi. 13.Ðã lấy mang sầu: nói mắt đã bị bệnh. 14.Ðồng Văn: ở tỉnh Biên-Hòa, huyện Phước-Chánh xưa có cái chợ Ðồng-Văn. 15.Ðầu thang: cho uống thuốc. 16.Ðiều: 1)điều hòa: dùng thuốc thang được đúng mức đúng phép. 2) điều trị: dùng thuốc thang để chữa trị bệnh (điều trị bằng thuốc thang). Hai nghĩa cùng được cả. 17.Nội kinh: một pho sách thuốc cổ nhất, dạy về nguyên lý căn bản và phép châm cứu của Ðông y. 18.Ngoại khoa: những sách thuốc dạy chữa các bệnh ở thân thể bên ngoài. 19.Y học: tức Y học nhập môn, sách thuốc của Ly Duyên đời Minh, những người làm thuốc nước ta trước đây, thường bắt đầu đọc sách này trước. 20.Thọ Thế: Thọ Thế Bảo Nguyên, sách thuốc của Cung Ðình Hiển đời Minh. 21.Ðông y: Ðông y bảo giám, do Hứa Tuấn nước Triều Tiên thâu thái những lý luận và phương pháp của các sách thuốc Trung quốc mà soạn ra. 22.Ngân hải tinh vi: tên một sách thuốc nói về chữa bệnh đau mắt của Tôn Tử Mạc đời Ðường. Ngân hải: bể bạc, tức là con mắt. 23.Cang mục: tức Bản thảo cương mục của Lý Thì Trân đời Minh, sách nói về tính chất các vị thuốc (dược tính). 24.Thanh nang: túi xanh. Hoa Ðà đời Hán, có pho sách ghi chép những bí quyết chữa bệnh, thường đựng trong túi xanh, nên gọi là Thanh nang, nhưng sách này khi Hoa Ðà bị Tào Tháo giết, vợ Ðà ở nhà tức giận, đã đem đốt đi mất. 25.Tập nghiệm lương phan: sách tập hợp lại những phương thuốc hay đã kinh nghiệm 26.Ngự toản, Hồi xuân: - Ngự toản: tức sách Ngự toản y tông kim giám đời Kiển long nhà Thanh, do tòa Thái y viện phụng mệnh vua thâu thái các sách thuốc cổ kim và sưu tầm các sách cùng phương thuốc bí truyền của dân gian mà soạn nên (Ngự toản: vua làm, sách này không phải vua làm, nhưng theo lối phong kiến, để tên sách như thế, để tôn sùng và qui công cho vua). - Hồi xuân: Vạn bệnh hồi xuân, sách thuốc của Cung Ðình Hiển đời Minh, cũng như Thọ thế bảo nguyên. 27.Vị: vị thuốc. 28.Quân thần: vua tôi. Các vị thuốc theo tính chất và công dụng của nó, chia ra vị và vua, vị là tôi, vị là người giúp việc, vị là người liên lạc (quân,thần, tá, sứ), một đơn thuốc cũng như một tập thể, phải đủ thành phần mới có công dụng. 29.Nỏ nan (nang): nói thuốc khô, không ẩm ướt. 30.Lư san: bài phú Lư san nói về phép xem mạch (Lư san mạch phú). 31.Lục quân, tứ vật: hai bài thuốc căn bản để chữa khí và huyết. Thanh danh: tên bài thuốc. 32.Thập toàn, bát vị: hai bài thuốc bổ căn bản để chữa bệnh nội thương, nghĩa là bổ tạng phủ suy yếu. 33.Bát trận tân phương: Trương Giới Tân hiệu Cảnh Nhạc, một danh y đời Minh, có lập ra các phương thuốc mới, chia là tám loại đội ngũ, gọi là "Tân phương bát trận" (tám trận phương mới). Chữ bát trận này có nhắc lại "Bát trận đồ" của Khổng Minh. Tác giả cho việc dùng thuốc chữa bệnh cũng như dùng binh đánh giặc. 34.Ngoại cảm: mắc bệnh vì khí hậu thời tiết ở ngoài, như gió, mưa, nóng, lạnh, ẩm thấp. Lúc mới lâm bệnh, nên cho uống thang "ngũ sài" một thang thuốc trong Tân phương bát trận có vị 'sát hồ" giải cảm. 35.Lục bộ: sáu bộ mạch. Ðông y nghe mạch ở chỗ cổ tay, chia bên trái và bên phải, mỗi bên có ba bộ "thốn", "quan", "xích", hai bên thành sáu bộ. 36.Bộ quan bên tả: có mạch gan, mật. 37.Phù hồng: mạch đi nổi và bốc lên. 38.Kinh lạc: các đường truyền dẫn khí huyết trong thân người, đường dọc là kinh, đường ngang là lạc. 39.Mạng môn tướng hỏa: theo thuyết Ðông y thời trước, mạng môn là một điểm ở giữa hai quả thận, cấp dương khi (ôn độ) cho người cả. 40.Tam tiêu: thượng tiêu ở khoảng bụng trên, chủ về phổi, tim; trung tiêu ở khoảng bụng giữa, chủ về tì, vị; hạ tiêu ở khoảng bụng dưới, chủ về gan, thận. Thích nhiệt: chứa chất khí nóng. 41.Giáng hỏa: dẹp hỏa (khí nóng) xuống. Tư âm: làm cho âm (như các chất nước, huyết, tân dịch...) sinh ra nhiều. Cổ phương có bài "tư âm giang hóa" làm cho âm sinh nhiều để dẹp hỏa xuống. 42.Huỳnh liên, huỳnh bá, huỳnh cầm: ba vị thuốc mát để chữa nóng. Nói phải dùng gấp bội ba vị này để chữa nóng. 43.Vạn linh, hoàn tinh: hai phương thuốc chữa đau mắt: vạn linh để điểm vào mắt, hoàn tình để uống cho sáng mắt. 44.Ðàn: đặt đàn cho thầy thuốc: chủ bệnh đưa trước một số tiền, thầy thuốc cam đoan sẽ hoàn lại nếu không chữa lành. Ðòi cuộc đòi đàn: đòi chủ bệnh phải đặt cuộc đàn với thầy. 45.Thật tài: gốc chữ Hán, có nghĩa là thực tài, có tài thực sự. 46.Cầu: nhờ làm một việc gì đó. Qua cầu: đến nhờ giúp việc. 47.Bói hay đã dậy: dậy là nổi tiếng. 48.Nói nhây: nói dai dẳng, nói dai như đỉa, như rẻ rách. 49.Ôn nhuần: xem đi xem lại cho thấm. Châu Diệc: Chu Dịch đọc chệnh. Kinh dịch đời nhà Chu, sách triết học rất cổ của Trung Quốc. Sách có tám quẻ chính (bát quái), mỗi quẻ nguyên có ba hào (ba vạch), sau chồng lên thành sáu hào. Tám quẻ có sáu hào này, lại giao đổi với nhau, thành 64 quẻ, 384 hào. Thể hiện sự biến chuyển của vũ trụ và xã hội loài người. 50.Huỳnh kim, Dã hạc: hai sách nói về thuật bói toán. 51.Lục nhâm, Lục giáp: hai môn thuật số bói toán. Lục nhâm có sách "Lục nhâm đại toàn" nói về cách xem "nhâm". Lục giáp có sách "Kỳ môn độn giáp" nói về cách xem "độn". 52.Can, chi: can là thập can (mười can), tức: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí; chi là thập nhị chi (mười hai chi), tức: tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Thập can là mười dấu hiệu thuộc về trời (thiên can) hợp với thập nhị chi là mười dấu hiệu thuộc về đất (địa chi) để chỉ ngày giờ tháng năm. Ví dụ năm giáp tí, năm đầu tiên của can chi, rồi lại đến ất sửu... cứ như thế luân chuyển trong 60 năm lại quay trở lại. Can chi còn phối hợp với "ngũ hành": thủy, hỏa, thổ, mộc, kim, theo tính chất của nó. Ðây nói: trong tay nắm vững qui luật can chi, tính toán được ngày giờ và ngũ hành sinh khắc, nên việc trời đất, việc người đều tỏ cả. 53.Chiêm: bói xem. 54.Lộ trình: khoảng đường đi; trong lúc đi đường. 55.Rùa, thi: mai rùa và cỏ thi, hai thứ dùng để bói toán. 56.Ðinh Mão: năm vận hạn của Vân Tiên, gặp ngày Giáp tý là ngày xung nên mắc bệnh (nguyên tắc về bói toán ). 57.Mạng kim: bản mệnh thuộc kim (vàng), một trong ngũ hành. Cung càn (kiền, cung thuộc quẻ (kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, li, khôn, đoái), thuộc về kim. Mệnh kim ở cung là đắc địa (ở được chỗ hay), nên số sẽ giàu sang. 58.Cầu tài quẻ ấy xa vời: nói quẻ này không phải ứng vào người đi buôn bán (cầu tài). 59.Phỉnh: lừa dối. (theo nghĩa miền Nam) 60.Giao, sách, trùng: cách bói Dã-bạc (bói Dịch), cầm ba đồng tiền gieo xuống cái đĩa, một đồng sấp là "sách", ba đồng sấp là "trùng", ba đồng cùng ngửa là "giao". Mỗi lần gieo tiền sấp ngửa như thế, ghi làm một hào, gieo đủ sáu lần là sáu hào thành một quẻ, sẽ theo tính chất mỗi hào trong một quẻ mà đoán sự việc. Quẻ bói ở đây, lần thứ nhất gieo được hào giao (ba ngửa), lần thứ hai hào sách, lần thứ ba hào trùng... 61.Trang: sắp đặt ra, trình bày ra. "Trang quẻ, trang lá số": trình bày nội dung cái quẻ, lá số. 62.Lục xung: sáu hào trong quẻ bói đều xung khắc với nhau. 63.Phụ mẫu, tử tôn: theo sách bói Dã-hạc: sáu hào trong quẻ bói, mỗi hào chủ về một sự việc, nên có nhưng tên hào: phụ mẫu (cha mẹ), huynh đệ (anh em), thê tài (vợ và tiền của-gọi tắt là hào "tài"), tử tôn (con cái), quan quỉ (quan sự và quỉ thần-gọi tắt là hào "quan"), trong đó lại có một hào đại biểu cho bản thân gọi là "thế", một hào đại biểu cho người hay việc bên ngoài trực tiếp quan hệ đến bản thân gọi là "ứng". Những hào này, theo ngũ hành, có tính chất tương sinh hay tương khắc nhau. ở đây, hào phụ mẫu khắc hào tử tôn, ứng vào việc cha mẹ gặp nạn mà con cháu đau thương. 64.Du hồn: tên quẻ bói (hồn đi chơi vẩn vơ). Quẻ bói hóa ra quẻ du hồn, chỉ việc Vân Tiên bị long đong bệnh hoạn nơi đường xa đất khách. 65.Thế động: hào"thế" tức hào bản thân bị xung động. Hào quan: tức hào "quan quỉ" gọi tắt, quan chỉ chung những sự việc: thi cử, công danh, văn thư, kiện tụng. Thế động khắc hào quan, chỉ cuộc đời của mình bị biến chuyển mà công danh trắc trở. 66.Mẫu tang: tang mẹ. 67.Thày pháp: pháp sư, thày phù thủy. 68.Bôn bôn: bon bon. 69.ấn: phù phép của thày pháp để bắt ma, trừ tà. 70.Phù chú: lá bùa và câu chú. 71.Hồ linh: bầu thiêng liêng. 72.Sái đậu thành binh: rảy hạt đậu thành binh lính đi đánh trận được 73.Diêm vương: vua ở âm phủ. Hai câu này nói: sai được âm binh bằng đậu, bằng rơm xuống phá thành vua âm phủ. 74.Ðạo hỏa phó thang: Dẫm chân lên lửa cháy, dấn mình vào nước sôi. 75.Ngồi gươm, đứng giáo: ngồi trên gươm, đứng trên giáo. Khai đàng thiên hoang: mở lối đi ở cõi trời xa vắng chưa có ai tới. 76.So đo: có nghĩa là suy hơn tính thiệt. 77.Hề: người theo hầu, như nói "hề đồng": chú bé theo hầu. 78.Kinh quyền: hành sự theo lẽ thường là kính, theo lẽ biến là quyền. Hai chữ này thường dùng chung là một danh từ để chỉ sự hành động biết tùy thời, không cố chấp câu nệ. 79.Thuyên: bớt đau, khỏi bệnh. 81.Bàn cổ: theo truyền thuyết Trung-quốc. Tọa niền chứng miêng (minh): chứng tỏ trước bàn thờ 82.Ðại thánh Tề thiên: tức Tôn Ngộ Không, một nhân vật chính trong chuyện Tây Du Ký. Ngộ Không nguyên là một con khỉ đá tinh quái, đi cầu tiên học đạo, có nhiều phép lạ, từng xuống thủy cung yêu sách Long vương, và xuống âm cung xóa sổ Diêm vương, Trời vời lên làm Bật Mã Ôn (chức coi ngựa nhà Trời), Ngộ Không bất mãn, làm náo động thiên cung rồi bỏ về, mấy tướng nhà Trời xuống bắt, đều bị Ngộ Không đánh bại, Trời phải phong y là Tề thiên đại thánh (thánh to bằng trời). Sau Ngộ Không qui Phật, theo Ðường Tam Tạng sang Tây trúc lấy kinh. Nhân vật Tề thiên đại thánh ngày này được coi tượng trưng cho sức mạnh vô địch của nhân dân.
Câu 800 - 999
Thỉnh bà Vũ Hậu đều liền đắn đây Thỉnh ông Nguyên soái Chinh Tây Cùng bà Vương mẫu sum vầy một khi Thỉnh ông Phật tổ A Di Thập phương chư Phật phù trì giúp ông Lại mời công chúa Ngũ Long Bình Nam ngũ hổ hội đồng an dinh Thỉnh trong thiên tướng, thiên binh Cùng là tam phủ Ðộng-Ðình xích lân Thỉnh trong khắp hết quỉ thần Cũng đều xuống chốn dương trần vui chơi Cho người ba đạo phù trời Uống vào khoẽ mạnh như lời chẳng sai, Tiểu đồng vâng lĩnh theo lời Lấy phù trợ lại toan bài thuốc thang Vào nhà thưa với thầy Ngang Pháp phù đã đũ thày toan phương nào? Ngang rằng còn bạc trong bao Thời ngươi khá lấy mà trao cho thày Ðồng rằng: Tôi hãy ở đây Bệnh kia dầu khá mình này bán đi Triệu Ngang biết chẳng còn chi Kiếm lời tráo chác đuổi đi khỏi vòng Ở đâu hàng xóm khó lòng E khi mưa nắng ai phòng đỡ che Ðồng rằng: Trong gói vắng hoe Bởi tin nên mắc, bởi lo nên lầm Những lo chạy hết một trăm Một ve khô xép, ruột tằm héo don Thương thay tiền mất tật còn Bơ vơ đất khách thon von thế này Thôi thôi gắng gượng khỏi đây Tôi đi khuyên giáo đỡ ngày gạo rau Vân Tiên chi xiết nỗi sầu Tiểu đồng dìu dắt qua cầu Lá Buôn Ðương khi mưa gió luông tuồng Người buồn lại gặp cảnh buồn khá thương Xiết bao ăn tuyết nằm sương Màn trời chiếu đất dặm trường lao đao Dẫu cho tài trí bậc nào Gặp cơn nguy biến biết sao cho thường Bơ vơ lạ khách tha hương Nhân tình nào biết ai thương mà nhờ Tiên rằng: đi đã ngất ngơ Tìm cây cối bụi bờ nghỉ chân Ðồng rằng: Chốc nữa khỏi rừng Tìm nơi quán xá sẽ dừng nghỉ ngơi Non Tây vừa khuất mặt trời Tớ thày dìu dắt tới nơi Ðại đề Trường thi một lũ vừa về Trịnh Hâm xem lại thấy kề hỏi thăm Anh về nay đã hai rằm Cớ sao mang bệnh còn nằm nơi đây Tiên rằng:Tôi vốn chẳng may Chẳng hay chư hữu khoa này thể nao? Hâm rằng: Tử Trực đỗ cao Tôi cùng Bùi Kiệm đều vào cử nhân Một tôi về trước viếng thân Hai người trở việc có lần đi sau Ðương cơn hoạn nạn gặp nhau Người lành nỡ bỏ người đau sao đành Từ đây tới quận Ðông thành Trong mình có bệnh bộ hành sao xong Lần hồi đến chốn giang trung Tìm thuyền ta sẽ tháp tùng với nhau Tiên rằng: Tình trước ngãi sau Có thương xin khá giúp nhau phen này Hâm rằng: Anh tạm ngồi đây Tiểu đồng ngươi tới trước này cùng ta Vào rừng kiếm thuốc ngoại khoa Phòng khi sóng biển phong ba bất kỳ Tiểu đồng vội vã ra đi Muốn cho đặng việc quản gì lao đao Trịnh Hâm trong dạ gươm đao Bắt người đồng tử trói vào gốc cây Trước cho hùm cọp ăn mày Hại Tiên phải dụng mưu này mới xong Vân Tiên ngồi những đợi trông Trịnh Hâm về nói tiểu đồng cọp ăn Vân Tiên than khóc nằm lăn Có đâu điạ hãm thiên băng thình lình Bấy lâu đất khách lưu linh Một thày một tớ lộ trình nuôi nhau Này đà hai ngã phân nhau Còn ai nâng trước, đỡ sau cho mình Hâm rằng: Anh chớ ngại tình Tôi xin đưa tới Ðông thành thời thôi Vân Tiên chi xiết lụy rơi Buồm đà theo gió chạy xuôi một bề Tiểu đồng bị trói khôn về Kêu la chẳng thấu bốn bề rừng hoang Phần mình còn mất chi màng Cám thương họ Lục suối vàng bơ vơ Xiết bao nhưng nỗi vật vờ Ðò giang nào biết, bụi bờ nào hay Vân Tiên hồn có linh rày Ðem tôi theo với đỡ chân tay cùng Vái rồi lụy nhỏ ròng ròng Ðêm khuya ngồi dựa cội tòng ngủ quên Sơn quân ghé lại một bên Cắn dây mở trói cõng lên ra đàng Tiểu đồng thức dậy mơ màng Xem qua dấu vết ràng ràng mới hay Nửa mừng nửa lại sợ thay Chạy ra chốn cũ kiếm thầy Vân Tiên Mặt trời vừa khỏi mái hiên Người buôn kẻ bán chợ phiên rộn ràng Hỏi thăm bà quán giữa đàng Bữa qua có mấy người tang chăng là? Quán rằng: Thôi đã ra ma Khi mai xóm làng người đà đi chôn Tiểu đồng nghe nói kinh hồn Hỏi rằng biết chỗ nào chôn chỉ chừng Tay lau nước mắt rưng rưng Xẩy nghe tiếng nói đầu rừng lao xao Tiểu đồng vội vã bước vào Xóm làng mới hỏi: Thằng nào tới đây? Ðồng rằng tớ tới kiếm thầy Chẳng hay người thác mả này là ai? Người rằng: Một gã con trai Ở đâu khôn biết, lạc loài tới đây Chân tay, mặt mũi tốt thay Ðau chi nên nỗi nước này khá thương. Tiểu đồng chẳng kịp hỏi han Nằm lăn bên mả khóc than một hồi Người người xem thấy thương ôi Kêu nhau vác cuốc đều lui ra đàng Tiểu đồng nằm giữa rừng hoang Che chòi giữ mả lòng toan trọn bề Một mình ở đất Ðại Ðề Sớm đi khuyên giáo, tối về quảy đơm Dốc lòng trả nợ áo cơm Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền Thứ này đến thứ Vân Tiên Năm canh ngồi dựa be thuyền thở than Trong khăn lụy nhỏ be thuyền thở than Cám thương phận tớ mắc nàn khi không Lênh đênh thuyền giữa biển Ðông Riêng than một tấm cô bồng ngẩn ngơ Ðêm khuya lặng lẽ như tờ Nghênh ngang sao mọc, mịt mờ sương bay Trịnh Hâm khi ấy ra tay Vân Tiên bị ngã xô ngay xuống vời Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời Cho người thức dậy lấy lời phôi pha Trong thuyền ai nấy kêu la Ðều thương họ Lục, xót xa tấm lòng Vân Tiên mình lụy giữa dòng Giao long dìu đỡ vào trong bãi rầy Vừa may trời đã sáng ngày Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ Hối con vầy lửa một giờ Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày Vân Tiên vừa ấm chân tay Ngìn ngơ hồn phách như say mới rồi Ngỡ là mình phải nước trôi Hay đâu còn hãy đặng ngồi dương gian Ngư ông khi ấy hỏi han Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa Ngư rằng: Người ở cùng ta Hôm mai hẩm hút một nhà cho vui Tiên rằng: Ông lấy chi nuôi Thân tôi như thể trái mùi trên cây May mà trôi nổi đến đây Không chi báo đáp, mình này trơ trơ Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn Nước trong rửa ruột sạch trơn Một câu danh lợi chi sờn lòng đây Rày doi mai vịnh vui vầy Ngày kia hứng gió, đêm này chơi trăng Một mình thong thả làm ăn Khoẻ quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm Nghêu ngao nay chích mai dầm Một bầu trời đất vui thầm ai hay Kinh luân đã sẵn trong tay Thung dung dưới thế, vui say trong trời Thuyền nan một chiếc ở đời Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang Tiên rằng: Vậy cũng một làng Võ công người ở gần đàng đây chăng? Ngư rằng: Nhà ở cũng gần Khỏi ba khúc vịnh thời lần đến nơi Tiên rằng: Xưa đã gá lời Sui gia bao nỡ đổi dời chẳng thương Vợ chồng là đạo tào khương Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình Trăm năm muốn trọn ân tình Ðương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau Chút nhờ cứu tử ơn sâu Xin đưa tới đó trước sau cho tròn. Ngư rằng: Làm đạo rạ con Cũng như sợi chỉ mà lòn trôn kim Sợ bay mà mỏi cánh chim Bơ vơ cảnh lạ khôn tìm cây xua E khi chậm bước tới trưa Chớ tin sông cũ bến xưa mà lầm Mấy ai ở đặng hảo tâm Nắng đun chóp nón mưa dầm áo tơi Mấy ai hay nghĩ sự đời
Chú thích: 1.Vũ Hậu: Vũ Chiếu, vợ Ðường Cao Tông, Cao Tông chết, con là Trung Tông lên kế ngôi, được mấy tháng, bà phế con tự lập làm vua, đổi hiệu nhà Ðường là nhà Chu. Sau bọn Trương Giản Chi phù Trung Tông phục lại ngôi vua, tôn hiệu bà là Tắc Thiên đại thánh hoàng đế, người sau nhân gọi là Vũ Tắc Thiên. 2.Nguyên soái Chinh Tây: theo chính sử, Tiết Nhân Quí, một tướng tài đời Ðường Thái Tông, thường đánh Ðông dẹp Tây, phá được các nước Cao-Ly, Khiết-Ðan, Ðột-khuyết. Người sau đã nhân sự tích náy diễn thành tiểu thuyết Chinh Ðông chinh Tây. 3.Vương mẫu: tức Tây Vương mẫu, cũng là gọi là Kim mẫu, một bà tiên lãnh đạo tất cả các nữ tiên, ở cõi Dao trì (nơi Vương mẫu ở có ao ngọc gọi là Dao trì), thường có nhiều chuyện giao thiệp với trần gian. 4.A Di: tức A Di Ðà, tên hiệu vị Phật tổ chí tôn ở thế giới cực lạc phương Tây. Di Ðà nguyên là một quốc vương xuất gia, sau khi mãn quả thành phật, do công đức tu hành, Di Ðà đã tạo được một cõi quảng đại trang nghiêm, trong đó chỉ có vui sướng không có khổ sở, gọi là thế giới cực lạc, những chúng sinh ở thập phương, người nào nhất tâm niệm phật, tu phật, đều được Di Ðà tiếp dẫn về thế giới ấy. 5. Công chúa Ngũ Long: tức Thành Long, Hắc Long, Bạch Long, Xích Long, Hoàng Long, năm vị công chúa (năm con gái Long vương) trong truyện "Thuyết Ðường", năm vị này tu tiên ở núi Ngũ-long, có nhiều phép lạ, từng bày ngũ trận "Ngũ hành" giúp nước Tây phiên đánh nhau với quân nhà Ðường. 6.Bình Nam ngũ hổ: năm tướng mạnh như hổ đi đánh phương Nam trong tiểu thuyết "Ngũ Hổ Bình Nam". An dinh: đóng yên dinh trại, nói đến tụ họp nơi bàn dinh 7.Tam phủ: Thiên phủ, Ðịa phủ, Thủy phủ. 8.Ðộng Ðình: tên một cái hồ lớn đẹp có tiếng ở tỉnh Hồ-Nam Trung-Quốc. Xích lân: không rõ tác giả tác giả dùng điển gì. Xích lân: nguyên nghĩa là vẩy đỏ, có lẽ chỉ thần "rồng" hay "cá" có vẩy đỏ, một vị thủy thần ở Ðộng-Ðình, mà phải thỉnh vị thần gì ở hồ ấy. 9.Dương trần: cõi dương bụi bặm, tức cõi đời. 10.Pháp phù:phép và bùa để chữa bệnh 11.Tráo chác: trở tráo, đổi chác, tức là lừa dối, trở mặt. 12.Vắng hoe: ở đây là cạn hết tiền. 13.Khuyên giáo: đi quyên tiền, đi xin. 14.Cầu Lá buôn: buôn (có chỗ viết là buôm) là một thứ cây gồi, cây cọ ở miền Nam, lá dùng làm nón và áo tơi. Trung-quốc thì không có địa danh Lá Buôn, nhưng ở tỉnh Biên Hòa, có cái rạch (sông nhỏ) gọi là rạch Lá Buôn, trên có một các cầu gọi là cầu Lá Buôn, đường quan lộ từ Huế vào Gia Ðịnh đi qua cái cầu này. (Theo Gia định Thống chí của Trịnh Hoài Ðức). 15.Hai rằm: hai tháng. 16.Chư hữu: các bạn 17.Viếng thân: thăm cha mẹ. 18.Trở việc: bận việc 19.Giang trung: giữa sông tức là nơi có sóng nước, nơi bến đò. 20.Tháp tùng: chữ "tháp" chính âm là "đáp", nói đáp thuyền mà đi cùng. Tiếng này rất phổ biến ở Nam bộ. 21.Trong dạ gươm đao: do câu chữ Hán "Phúc trung hữu kiếm": trong bụng có gươm, nói tâm địa bất nhân, hiểm ác. 22.Ðịa hãm thiên băng: đất sụp trời sụp. Tai biến rất lớn. 23.Lưu linh: trôi nổi lạc loài, nay đây mai đó. 24.Suồi vàng: do chữ Hán "hoàng tuyền", tức cõi chết. Ðây nói tiểu đồng nghĩ thương cho Vân Tiên không ai dìu dắt nuôi nấng chắc đã chết rồi. 25.Ðò giang nào biết, bụi bờ nào hay: nói hồn Vân Tiên - cái hồn mù mắt - vật vờ không biết lối mà đi. 26.Cội tòng: gốc cây thông 27.Sơn quân: vua núi, tức là cọp. 28.Ràng ràng: rõ ràng. 29.Người tang: người mặc quần áo tang, chỉ Vân Tiên. 30.Quảy đơm: cúng lễ 31.Be thuyền: mạn thuyền 32.Mắc nàn khi không: bỗng dưng mắc nạn 33.Cô bồng: cô: lẻ loi, bồng: mui thuyền. Nói chiếc thuyền lẻ loi một mình. 34.Vời: khoảng nước rộng. 35.Phôi pha: chữ phôi pha dùng ở câu này có nghĩa: làm cho nhẹ chuyện đi, che lấp việc đi. 36.Giao long: con rồng nước, rồng bể, có tính hung tơn hay gây sóng gió. Vân Tiên và tiểu đồng đều là người rất tốt, nên giao long hay sơn quân cũng cảm thông mà đến cứu giúp. Sông Cửu-long có nhiều cá sấu, cũng gọi là giao long. 37.Bãi rầy: bãi này. 38.Hối: giục vội. Vầy lửa như nghĩa nhóm lửa 39.Nước trôi: nói chết bị nước cuốn đi. 40.Hẩm hút: hẩm: hư hỏng, biến chất (gạo hẩm, đường hẩm). Hút: (tiếng miền Nam, nói về gạo) không trắng, không ngon. Danh từ hẩm hút dùng để chỉ thứ gạo xấu, thức ăn người nghèo, cũng như nói rau cháo. Câu này nói: tuy nhà nghèo, nhưng thây mật vui vẽ. 41.Trái mùi: trái chím lắm. Vân Tiên nói: trái cây chín mùi, tất phải rụng, cũng như thân mình, bệnh hoạn ốm yắu nhiều, tất phải chết, sẽ phụ cả công ơn của ngư ông. 42.Doi: dải đất thòi ra ngoài bể, ngoài sông (doi bể, doi sông). 43.Chích: cái hồ, cái đầm. 44.Kinh luân: ông ngư nói: ông có tài chài lưới, cũng chẳng kém gì người trị nước có tài kinh luân. 45.Dưới thế: dưới đời 46.Tắm mưa chải gió: tắm mình bằng mưa, chải đầu bằng gió. Do câu chữ Hán "Trất phong mộc vũ": chải gió gội mưa, chỉ sự cần lao dầu dãi ở ngoài trời. 47.Gá lời: như nói hứa lời. 48.Sui gia: thân gia, dâu gia, hai nhà gả con cho nhau. 49.Cứu tử: cứu cho khỏi chết. 50.Sợi chỉ lòn trôn kim: lòn tức là luồn. nói: sợi chỉ phải vừa với trôn kim, cũng như con rạ phải hợp với nhà vợ. Ông ngư sợ rằng: ngày nay Vân Tiên đã tang tóc sa sút lại đeo tật bệnh, chắc sẽ bị nhà vợ ruồng rẫy mà không nhận nữa. 51.Nắng đun: đun: nung đốt, nắng đun cũng như nói nắng nung. Chóp nón: hai chữ này có lẽ là "nón chóp" chép lộn đi. ở dưới đặt chữ "áo tơi", thì đây phải đặt chữ "nón chóp", văn mới sóng nhau, vậy nên đổi làm "nón chóp" cho được đúng nghĩa, đúng văn. Nón chóp là thứ nón lá hình chóp, hình chum chúp.
Câu 1000 - 1199.
Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu Ðã ba thứ tóc trên đầu Gẫm trong sự thể thêm âu cho đời Vân Tiên thưa đã hết lời Ngư ông chẳng đã tách rời đưa sang Dắt Tiên vào trước tiền đàng Vũ công xem thấy lòng càng hổ ngươi Chẳng qua sợ thế gian cười Một lòng gượng gạo chào người ngày xưa Ngư ông đã có công đưa Tới ngày sau sẽ lo lừa đền ơn Ngư rằng lòng lão chẳng sờn Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng Nhớ xưa trong núi Lư san Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ viên Tới sau đình trưởng đỗ thuyền Giúp ngươi Hạng Võ qua miền Ô-giang Xưa còn thương kẻ mắc nàn Huống nay ai đã quên đàng ngãi nhân Một lời gắng giúp keo sơn Ngư ông từ giã lui chân xuống thuyền Võ công không ngớt lòng phiền Ân tình, thế lợi khó tuyền đặng vay Dạy Tiên: Ngươi hãy ngồi đây Cho ta trở lại sau này lo toan Công rằng: Hỡi mụ Quỳnh Trang Dò lòng ái nữ Thể Loan thế nào Mặc bay toan liệu làm sao Vốn không ép vợ, nỡ nào ép con Loan rằng: Gót đỏ như son Xưa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn Ai cho sen muống một bồn Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê Thà không trót chịu một bề Nỡ đem mình ngọc dựa kề thất phu Dốc lòng chờ đợi danh nhu Rễ đâu có rễ đui mù thể nay Ðã nghe người nói hội này Rằng Vương Tử Trực đậu rày thủ khoa Ta dầu muốn kết sui gia Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh Công rằng: Muốn trọn việc mình Phải toan một chước dứt tình mới xong Nghe rằng trong núi Thương tòng Có hang thăm thẳm bịt bùng khôn ra Ðông thành ngàn dặm còn xa Ðem chàng bỏ đó ai mà biết đâu Phút vừa trăng đã đứng đầu Vân Tiên ngồi trước nhà cầu thở than Võ công ra đó dỗ chàng Xuống thuyền rồi sẽ đưa sang Ðông thành Ra đi đương lúc tam canh Dắt vào hang tối bỏ đành Vân Tiên Bỏ rồi rón rén bước liền Xuồng gay chèo quế dời thuyền tách xa Tiên rằng: Các chú đưa ta Xin đưa cho tới quê nhà sẽ hay Ghi lòng dốc trọn thảo ngay Một phen mà khỏi, ngàn ngày chẳng quên Lặng nghe văng vẳng hai bên Tay lần hang tối đá trên chập chờn Vân Tiên khi ấy hãi hùng Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình Nực cười con tạo trớ trinh Chữ duyên tráo chác, chữ tình lãng xao Nghĩ mình tai nạn xiết bao Mới lên khỏi biển, lại vào trong hang Dây sầu ai khéo vương mang Tránh nơi lưới thỏ gặp đàng bẫy cheo Trong hang sau trước quạnh hiu Muốn ra cho khỏi ai dìu dắt đi Oan gia nợ đã khéo gây Ôi thôi thân thể còn gì mà toan Ðã đành xa cõi nhân gian Dựa mình vào chồn thạch bàn nằm co Ðêm khuya ngọn gió thổi lò Sương sa lác đác, mưa tro lạnh lùng Năm ngày nhịn đói khát ròng Nhờ ba hườn thuốc đỡ lòng hôm mai Du thần xem thấy ai hoài Xét trong mình gã có bài phù tiên Mới hay là LụcVân Tiên Cùng nhau dìu dắt đều liền đem ra Khỏi hang một dặm vừa xa Ðến nơi đại lộc trời đà hửng đông Du thần trở lại sơn trung Vân Tiên còn hãy giấc nồng mê man Lão tiều cơm gói sẵn sàng Sớm mai sách búa đi ngang qua rừng Tới đường đại lộc là chừng Xẩy nghe có tiếng trong rừng thở than Hay là yêu quái tà gian Rung cây nhát lão làm đường hại nhân Lão tiều liền bước lại gần Thiệt là một gã văn nhân mắc nàn Chi bằng lên tiếng hỏi han Nhân sao mắc việc tai nàn thế nay? Vân Tiên nghe tiếng mừng thay Vội vàng gượng dậy trình bày trước sau Lão tiều nghe nói giờ lâu Gẫm trong thế sự lắc đầu thở than ít người trong tuyết đưa than Khó ngồi giữa chợ, ai màng đoái thương Vân Tiên nghe nói mới tường Cũng trang ẩn dật biết đường thảo ngay Ngửa trông lượng cả cao dày Cứu trong một thuở ơn đầy tái sinh Mai sau về tới Ðông thành Ðền ơn cứu khổ mới đành dạ tôi Lão tiều mới nói thôi thôi Làm ơn mà lại trông hồi sao hay Già hay thương kẻ thảo ngay Này thôi để lão dắt nay về nhà Tiên rằng: Trong dạ xót xa Nay đà sáu bữa không hòa mùi chi Lại thêm rũ liệt tứ chi Muốn đi theo đó mà đi khôn rồi Lão tiều này ngỡ nực cười Mở cơm trong gói miệng mời Vân Tiên Gắng mà ăn uống cho yên Lão ra sức lão cõng Tiên về nhà Khỏi ra rừng tới ngã ba May đâu gặp một chàng là Hớn Minh Lão tiều lật đật bôn trình Hớn Minh theo hỏi sự tình một khi Vân Tiên nghe nói cố tri Vội mừng bạn cũ còn nghi nỗi mình Minh rằng: Dám hỏi nhân huynh Cớ sao nên nỗi thân hình thế ni? Tiên rằng: Chẳng xiết nói chi Thân này nào có khác gì cây trôi Lênh đênh gió dập sóng giồi Rồi đây mai đó, khôn rồi gian nan Minh rằng: Ðây khó hỏi han Xin vào chùa sẽ luận bàn cùng nhau Tiều rằng: Chẳng dám ngồi lâu Vào rừng đốn củi bán chầu chợ phiên Hớn Minh quỳ gối lạy liều Ơn ông cứu đặng Vân Tiên bạn lành Nay hai lạng bạc trong mình Tôi xin báo đáp chút tình cho ông Tiều rằng: Lão vốn tay không Một mình ngẩn ngơ non tòng hôm mai Tấm lòng chẳng muốn của ai Lánh nơi danh lợi chông gai cực lòng Kìa non nọ nước thong dong Trăng thanh gió mát, bạn cùng hươu nai Công hầu phú quí mặc ai Lộc rừng gánh vác hai vai tháng ngày Vân Tiên nghe biết người ngay Hỏi thăm tên họ phòng ngày đền ơn Lão tiều trở lại lâm sơn Tiên, Minh vội vã phản hoàn am mây Tiên rằng: Ðã gặp khoa này Cớ sao ngọc hữu ở đây làm gì? Minh rằng: Xưa dốc xuống thi Gặp nơi miếu võ cùng đi một lần Anh thì trở lại viếng thân Tôi thì mang gói trước lần xuống kinh Ði vừa tới phủ Ô Minh Gặp con quan huyện Ðặng Sinh là chàng Giàu sang ỷ thế dọc ngang Gặp con gái tốt cưỡng gian không nghì Tôi bèn nổi giận một khi Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò Mình làm nỡ để ai lo Bó tay chịu trói nộp cho huyện đàng. Án đày ra quận Sóc phang Tôi bèn vượt ngục lánh đàng đến đây Vừa may lại gặp chùa này Mai danh ẩn tích bấy chầy náu nương Vân Tiên nghe nói thảm thương Lại bày mọi khúc tai ương phận mình Minh nghe Tiên nói động tình Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng Tiên rằng: Thương cội thung huyên Tuổi cao tác lớn chịu phiền lao đao Trông con như hạn trông dào Mình này trôi nổi phương nào biết đâu Vầng mây giăng bạc trên đầu Ba năm chưa trọn một câu sinh thành Hữu tam bất hiếu đã đành Tiểu đồng trước đã vì mình thác oan Tưởng thôi như cắt ruột gan Quặn đau chín khúc, chứa chan mấy lần. Minh rằng: Người ở trong trần Có khi phú quí, có lần gian nan Thấp cao vàng biết tuổi vàng Gặp khi lửa đỏ màu càng thêm xuê Thôi thôi anh chớ vội về Ở đây nương náu toan bề thuốc thang Bao giờ hết lúc tai nàn Ðem nhau ta sẽ lập đàng công danh Cam La sớm gặp cũng xinh Muộn mà Khương tử cũng vinh một đời Nên hư có số ở trời Bôn chôn sao khỏi, đổi dời sao xong Vân Tiên khi ấy an lòng ở nơi am tự bạn cùng Hớn Minh Võ công làm việc trớ trinh
Chú thích: 1.Ba thứ tóc trên đầu: đầu đã đốm bạc, có ba thứ tóc đen, vàng (dở đen dở trắng) và trắng. 2.Âu: âm chính của chữ "ưu": lo 3.Lo lừa: lo tính, mưu làm một việc gì. 4.Lư-san: một núi có nhiều thắng cảnh ở tỉnh Giang-Tây, Trung-Quốc, đời Ân, Chu, anh em Khuôn Tục làm nhà ở ẩn trên núi này, nên cũng gọi là núi Khuông-Lư. 5. Ngũ viên: tên tự là Tử Tư, một tướng tài đời Xuân Thu, người nước Sở, cha và anh bị Sở Bình Vương giết, Tử Tư chạy trốn sang Ngô. Ðến một dòng sông, gặp ngư phủ, ngư phủ thấy Tử Tư đói, đi kiếm cơm cho ăn, và chở qua cứu thoát nạn. Sau Tử Tư giúp Ngô đánh phá Sở, báo thù cho cha anh. 6.Ðình trưởng: đời Tần, Hán, cứ mười lý đặt làm một đình, có đình trưởng coi giữ trộm cướp, Ðình còn gọi là nhưng quán nghỉ lập dọc đường, năm dặm một "đoản đình", mười dặm một "trường đình". 7.Hạng Võ (Vũ): một tướng tài có sức mạnh phi thường, đã đánh phá nhà Tần, lập nên cơ nghiệp nước Sở, tự xưng là Tây Sở Bá vương, giành thiên hạ với Lưu Bang tức Cao Hán Tổ, nổi tiếng bách chiến bách thắng trong cuộc "Hán Sở tranh hùng". Sau cùng, Hạng Vũ lại thua to, chạy đến sông Ô-Giang giáp đất Giang-đông, xứ sở của Vũ. Một người đình trưởng biết Vũ, chào thuyền mời Vũ qua sông để về Giang-Ðông. Vũ nghĩ thẹn với đồng bào và xứ sở của mình, không chịu về và lấy gươm tự tử. 8.Ân tình thế lợi khó tuyền đặng vay: một bên là ân tình, một bên là lợ thế (quyền thế, tài lợi), mâu thuẫn nhau, khó trọn vẹn được cả hai. 9.Ai cho sen muống một bồn: không ai trồng cây sen và rau muống trong một chậu 10.Phồn: tiếng miền Nam, có nghĩa là hạng người, như ta nói quân này, quân kia. 11.Thà không chót chịu một bề: thà không chồng mà ở một mình còn hơn. 12.Danh nhu (nho): người học trò nổi tiếng 13.Thủ khoa: người đậu đầu trong khoa thi hương. 14.Nhà cầu: cái nhà ngang nối nhà trước với nhà sau. 15.Tam canh: Canh ba (một đêm có năm canh) 16.Gay: buộc mái chào vào cọc chào, sửa soạn bơi thuyền đi. 17.Trớ trinh: tráo trở, đành hanh, trêu ngươi. 18.Cheo: tên một con thú, thuộc loài sóc. 19.Oan gia: chính chữ là "oán gia", tục (tiếng tục Trung-quốc), gọi trại là oan gia, chỉ kẻ oán thù với mình hay sự oán thù nói chung. Ðây là Vân Tiên nói có lẽ kiếp trước mình có nợ oán thù gì với Võ công, nên mới bị hãm hại như thế này (nói theo thuyết nhà Phật). 20.Thạch bàn: bàn đá, tảng đá lớn và phẳng. 21.Mưa tro: (tiếng miền Nam) mưa bụi, mưa phùn. 22.Du thần: vị thần đi dạo các nơi để xem xét nhân gian 23.Phù tiên: bùa tiên để giữ mình, tức đạo bùa của thầy Vân Tiên cho khi Vân Tiên đi thi. 24.Ðại lộc: lộc là chân núi, đại lộc tức dưới chân núi lớn (theo Kinh thư). 25.Sơn trung: trong núi. 26.Tới đường đại lộc là chừng: chừng: mức độ ấy, khoảng ấy, nói ông tiều qua rừng tới khoảng đường chân núi thì nghe thấy tiếng Vân Tiên ở quanh nơi đấy. Chữ "đại lộc" ở đây cũng như chữ "đại lộc" trên kia, nhiều bản chép là đại lộ (đường cái), xét ra không đúng nghĩa chỗ này. Du thần chỉ đưa Vân Tiên ra khỏi hang một dặm tới dưới chân núi trong rừng thôi, chứ không đưa ra ngoài đường cái, vì câu dưới nói: "Có tiếng trong rừng thở than", và mãi tới dưới nữa lại có câu: "Khỏi rừng ra tới ngã ba", rõ là Vân Tiên trước còn ở trong rừng, mãi sau ông tiều mới cõng ra đường cái. 27.Nhát (hoặc nát): dọa cho người ta sợ 28.Trong tuyết đưa than (hoặc cho than): do thành ngữ chữ Hán "Tuyết trung tống thán": cho than để sưởi ấm khi trời tuyết. Tống Thái Tông nhân tiết mưa tuyết, trời rét lắm, sai cho những người già yếu nghèo khổ than sưởi và gạo ăn. Nhân đó, người ta thường dùng chữ "Tuyết trung tống thán" để chỉ sự giúp đỡ người khi cần kíp cùng quẫn. 29.Khó ngồi giữa chợ, ai màng đoái thương: do câu thơ chữ Hán: "Bần cư nào thị vô nhân vần. Phú tại thâm sơn hữu khách tầm" nghĩa là người nghèo ở ngay giữa chợ búa nhộn nhịp không ai hỏi han, giàu ở tận trong núi sâu cũng có kẻ tìm đến. 30.Ẩn dật: ở ẩn không theo thế tục. 31.Hồi: trả lại, đền lại. Nói làm ơn mà trông báo đáp lại sao nên. 32.Bôn trình: đi vội trên đường, như nói rảo bước. 33.Còn nghi nỗi mình: Vân Tiên đã bị Trịnh Hâm và Võ công tráo trở hãm hại, nên tuy mừng gặp bạn cũ, nhưng vẫn còn nghi ngại nỗi mình. 34.Nhân huynh: người anh tốt, tiếng xưng hô. 35.Bán chầu: bán vào buổi ấy. 36.Non tòng: núi có nhiều cây thông. 37.Lộc rừng: lộc của rừng cho (đây là củi) 38.Lâm sơn: rừng núi. 39.Phản hoàn: quay trở về. Am mây: chùa trong mây, tức chùa trong núi. Ðây là ngôi chùa ở nơi vắng vẻ. 40.Ngọc hữu: bạn ngọc, bạn quí như ngọc 41.Viếng thân: thăm cha mẹ 42.Cưỡng gian không nghì: lấy sức mạnh mà hãm hiếp phụ nữ 43.Bẻ đi một giò: bẽ gãy một chân 44.Huyện đàng (đường ): dinh quan huyện 45.Sóc phang (phương): cũng như Bắc phương, nói quận ở phương Bắc. 46.Mai danh, ẩn tích: vùi tên, giấu tích, không cho ai biét đến mình. 47.Dào: mưa dào, mưa to. 48.Sinh thành: đẻ ra và nuôi dạy nên người, chỉ công ơn cha mẹ 49.Hữu tam bất hiếu: rút ra ở câu chữ Hán: "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" nghĩa là bất hiếu có ba điều, không có con là điều nặng nhất. Ðây nói: mình phải bỏ cuộc thi, chưa lập được công danh, để báo đáp công ơn cha mẹ, lại đeo tật bệnh, chưa lập được gia đình, để nối dõi dòng giống, thật là điều bất hiếu to lớn. 50.Tiểu đồng trước đã vì mình đã thác oan: câu này nối câu trên nói: đã không vẹn đạo con với cha mẹ, lại không vẹn tình thầy với trò, Vân Tiên cảm thấy vô cùng chua xót. 51.Cam La: người nước Tần thời Chiến quốc, sớm có tài mưu lược, mười hai tuổi đã đi sứ sang nước Triệu, vua Triệu thân ra đón tận ngoại thành và phải nhượng đất cho Tần, khi thành công về nước, được phong là chức Thượng Khanh. 52.Khương tử: ông họ Khương ("tử" là tiếng xưng hô chung về nam giới của Trung-quốc, như ta nói ông, chàng, gã v.v...), tức Khương tử Nha, xem chú thích ở câu 515. Hai câu này nói: công danh được sớm như Cam La (mười hai tuổi) càng hay, mà dù muộn như Khương tử (hơn tám mười tuổi) cũy vẫn vẽ vang. 53.Bôn chôn: vội vàng, hấp tấp, nóng ruột. 54.Am tự: am, chùa, chùa chiền.
Câu 1200 - 1399.
Dứt tình họ Lục, mến tình họ Vương. Kể từ định chước hại chàng Thể Loan hớn hở lòng càng thêm vui Ngày ngày trang điểm phấn giồi Phòng khi gặp gỡ đứng ngồi cho xuê Xẩy đâu Tử Trực vừa về Vào nhà họ Võ thăm bề Vân Tiên Công rằng: Chớ hỏi thêm phiền Trước đà lâm bệnh huỳnh tuyền xa chơi Thương chàng phận bạc ở đời Cũng vì Nguyệt Lão xe lơi mối hồng Nghe qua Tử Trực chạnh lòng Hai hàng nước mắt ròng ròng như mưa Than rằng: Chạnh nhớ linh xưa Nghĩa đà kết nghĩa, tình chưa phỉ tình Trời sao nỡ phụ tài lành Bảng vàng chưa thấy ngày xanh đã mòn Cùng nhau chưa đặng vuông tròn Người đà sớm thác ta còn làm chi Trong đời mấy bậc cố tri Mấy trang đồng đạo, mấy người đồng tâm Công rằng: Lão cũng thương thầm Tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang Thôi thôi khuyên chớ thở than Lão đà tính đặng một đàng rất hay Tới đây thì ở lại đây Cùng con gái lão sum vầy thất gia Phòng khi hôm sớm vào ra Thấy Vương Tử Trực cũng là thấy Tiên Trực rằng: Ngòi viết đĩa nghiên 1230.Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau Vợ Tiên là Trực chị dâu Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì Chẳng hay người học sách chi Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe Hay là học thói nước Tề Vợ người Tử Củ đưa về Hoàn Công Hay là học thói Ðường cung Vợ người Tiểu Lạc sánh cùng Thế Dân Người nay nào phải người Tần Bất Vi gả vợ Dị Nhân lấy lầm Nói sao chẳng biết hổ thầm Người ta há phải là cầm thú sao Võ công hổ thẹn biết bao Ngồi trân khôn cãi lẽ nào cho qua Thể Loan trong trướng bước ra Miệng cháo: Thày Cử tân khoa mới về Thiếp đà chẳng trọn lời thề Lỡ bề sửa tráp lỗi bề nâng khăn Tiếc thay dạ thỏ nằng nằng Ðêm thu chờ đợi bóng trăng bấy chầy Chẳng ưng thì cũng làm khuây Nỡ buông lời nói chẳng vì, chẳng kiêng Trực rằng: Ai Lữ Phụng Tiên Hòng toan đem thói Ðiêu Thuyền trêu ngươi Mồ chồng ngọn cỏ còn tươi Lòng nào mà lỡ buông lời nguyệt hoa Hổ hang vậy cũng người ta So loài cầm thú vậy mà khác chi Vân Tiên anh hỡi cố tri Suối vàng có biết sự ni chăng là Tay lau nước mắt trở ra Về nhà sắm sửa tìm qua Ðông thành Võ công hổ thẹn trong mình Năm ngày nhuốm bệnh thất tình chết oan Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang Mẹ con đóng cửa cư tang trong nhà Ðoạn này đến thứ Nguyệt Nga Hà khê phủ ấy theo cha học hành Kiều công lên chức Thái khanh Chỉ sai ra quận Ðông thành chăn dân Ra tờ khắp hết xa gần Hỏi thăm họ Lục tìm lần đến nơi Khiến quân đem bức thư mời Lục ông vâng lệnh tới nơi dinh tiền Kiều công hỏi truyện Vân Tiên Lục ông nhớ đến bỗng liền khóc than Thưa rằng: Nghe tiếng đồn vang Con tôi nhuốm bệnh giữa đàng bỏ thây Biệt tin từ ấy nhẫn nay Phút nghe người hỏi dạ này xốn xang Kiều công trong dạ bàng hoàng Trở vào thuật lại cùng nàng Nguyệt Nga Lục ông người nói cùng cha Duyên con rày đã trôi hoa dạt bào Riêng than chút phận tơ điều Hán giang chưa gặp, Ô kiều lại rơi Nàng rằng quả thiệt như lời Xin cha sai kẻ mời người vào trong Nguyệt Nga đứng dựa bên phòng Tay ôm bức tượng khóc ròng như mưa Công rằng: Nào bức tượng xưa Nguyệt Nga con khá đem đưa người nhìn Lục ông một buổi ngồi nhìn Tay chân mặt mũi giống y con mình Nguyệt Nga lạy gửi phân minh Lục ông khi ấy sự tình mới hay Thương con phận bạc lắm thay Nguyền xưa còn đó, con rày đi đâu Nguyệt Nga chi xiết nỗi sầu Lục ông thấy vậy càng đau gan vàng Kiếm lời khuyên giải với nàng Giải cơn phiền não kẻo mang lấy sầu Người đời như bóng phù du Sớm còn tối mất công phu lỡ làng Cũng như đống tịch đồng sàng Cũng chưa nên nghĩa tào khang đâu mà Cũng như cửa sổ ngựa qua Nghĩ nào mà ủ mặt hoa cho phiền Nàng rằng: Trước đã trọn nguyền Dẫu thay mái tóc phải nhìn mối tơ Công rằng: Ơn trước ngãi xưa Liền đem vàng bạc tạ đưa cho người Lục ông cáo tạ xin lui Tôi đâu dám chịu của người làm chi Ngỡ là con trẻ mất đi Hay đâu cốt cách còn ghi tượng này Bây giờ con lại thấy đây Tấm lòng thương nhớ dễ khuây đặng nào? Ngửa than: Ðất rộng trời cao Tre còn măng mất, lẽ nào cho cân Lục ông tạ từ lui chân Kiều công sai kẻ gia thần đưa sang Nguyệt Nga nhuốm bệnh thở than Năm canh lụy ngọc, xốn xang lòng vàng Nhớ khi thề thốt giữa đàng Chưa nguôi nỗi thảm, lại vương lấy sầu Công đà chờ đợi bấy lâu Thà không cho gặp buổi đầu thì thôi Biết nhau chưa đặng mấy hồi Kẻ còn người mất trời ơi là trời Thề xưa tạc dạ ghi lời Thương người quân tử biết đời nào phai Tiếc thay một bậc anh tài Nghề văn, nghệp võ nào ai dám bì Thương vì đèn sách lòng ghi Uổng công nào thấy tiếng là gì đâu Thương vì hai tám trên đầu Người đời như bóng phù du lỡ làng Thương vì chưa đặng hiển vang Nước trôi sự nghiệp, hoa tàn công danh Thương vì đôi lứa chẳng thành Vùa hương, bát nước ai dành ngày sau Năm canh chẳng ngớt giọt châu Mặt nhìn bức tượng ruột đau như dần Dương gian nay chẳng đặng gần Âm cung biết có thành thân chăng là Kiều công thức dậy bước ra Nghe con than khóc, xót xa lòng vàng Khuyên rằng: Con chớ cưu mang Gẫm trong còn mất là đường xưa nay Ðàn cầm ai nỡ dứt dây Chẳng qua con tạo đổi xây không thường Nàng rằng: Khôn xiết nỗi thương Khi không gẫy gánh giữa đường chẳng hay 1Nay đà loan phụng rẽ bầy Nêm nghiêng, gối chính phận này đã cam Trăm năm thề chẳng lòng phàm Sông Ngân đưa bạn, cầu Lam rước người Thân con còn đứng giữa trời Xin thờ bức tượng trọn đời thời thôi Kiều công trong dạ chẳng vui: "Con đành giữ tiết trọn đời hay sao?" Có người sang cả, ngôi cao Thái sư chức trọng trong trào sắc phong Nghe đồn con gái Kiều công Tuổi vừa hai tám, tơ hồng chưa xăng Thái sư dùng lễ vật sang Mượn người mai chước kết đàng sui gia Kiều công khôn ép Nguyệt Nga Lễ nghi đưa lại về nhà Thái sư Thái sư chẳng biết rộng suy Ðem điều oán giận sớm ghi vào lòng Xẩy đâu giặc mọi làm hung Ô-qua quốc hiệu, binh nhung dấy loàn Ðánh vào tới cửa Ðồng-Quan Sở vương phán hỏi lưỡng ban quần thần Sao cho vững nước an dân Các quan ai biết mưu thần bày ra Thái sư sẵn có cừu nhà Vội vàng quỳ gối tâu qua ngai vàng Thuở xưa giặc mọi dấy loàn Cũng vì tham sắc phá tàn Trung Hoa Muốn cho an giặc Ô-qua Ðưa con gái tốt giao hòa thì xong .Nguyệt Nga là gái Kiều công Tuổi vừa hai tám má hồng đương xinh Nàng đã sắc khuynh thành Lại thêm rất bậc tài tình hào hoa Ðưa nàng về nước Ô-qua Phiên vương ưng dạ ắt là bãi binh Sở vương nghe tấu thuận tình Châu phê khiến sứ ra dinh Ðông-thành Sắc phong Kiều Lão Thái Khanh Việc trong nhà nước, trẫm đành cậy ngươi Nguyệt Nga nàng ấy nên người Lựa ngày tháng chín, hai mươi cống Hồ Kiều công vâng lệnh nhà vua Lẽ nào mà dám nói phô điều nào Nguyệt Nga trong dạ như bào
Chú thích: 1.Huỳnh tuyền (hoàng tuyền): suối vàng, cõi chết. Nói Vân Tiên đã bị bệnh chết rồi 2.Xe lơi: xe lỡ, xe dở dang. 3.Linh: tiếng dùng để chỉ người đã chết rồi. 4.Ðồng đạo: cùng theo một đạo lý. Ðồng tâm: cùng chung một lòng. 5.Thất gia: nhà cửa (như nói gia đình), tức vợ chồng 6.Ngòi viết, đĩa nghiên: bút nghiên, hình tượng này được dùng để chỉ tình bằng hữu thân thiết trong việc học hành. 7.Vợ Tiên là Trực chị dâu: Trực chị dâu tức là chị dâu Trực, tác giả theo cú pháp chữ Hán. Người Trung-quốc thường coi người bạn thân hơn tuổi như anh ruột, và coi vợ bạn như chị dâu. 8.Tử Củ: con Hi Công nước Tề. Hi Công chết anh Tử Củ là Tương Công lên kế ngôi, chính sự rối nát, bị bầy tôi là Vô Tri giết chết. Khi ấy Tử Củ chạy sang nước Lỗ, em là Tiểu Bạch chạy sang nước Cử. Sau Tiểu Bạch về nước trước, lên làm vua (tức là Hoàn công) sai người nói với vua Lỗ giắt Tử Củ và lại lấy vợ Tử Củ. 9.Ðường cung: cung nha Ðường (618-907) 10.Thế Dân: Lý Thắ Dân, tức Ðường Thái Tông. Thế Dân giết em là Tiểu Lạc và lấy vợ em. Tích này trong Ðường sử chép lại là Nguyên Cát, đây nói là Tiểu Lạc, có lẽ sai. 11.Bất Vi: Lã Bất Vi, người nước Tần, một lái buôn giàu có và xảo quyệt. Khi Bất Vi đến nước Triệu, thấy cháu vua Tần là Dị Nhân đang làm con tin ở đó, y nói: "Người này là món hàng quí có thể tích trữ đầu cơ được" (Kỳ hóa khả cư), rồi y mưu mô cho Dị Nhân được về nước lên kế ngôi làm vua, và y làm Tể Tướng. Bất Vi còn lấy một người thiếp rất đẹp, khi có thai, đem gán cho Dị Nhân, ít lâu sau sinh được người con trai, Dị Nhân vẫn tưởng là con mình, nên được kế ngôi, tức Tần Thủy Hoàng. Sau Bất Vi vì thông tinh với thái hậu (mẹ Thủy Hoàng, tức người thiếp của y trước), việc tiết lộ, bị đày vào Tứ-Xuyên, rồi y uống thuốc độc tự tử. 12. Dạ thỏ: lòng con thỏ, Thể Loan ví với lòng mình. Người xưa bảo cung trăng có con thỏ, -lại bảo con thỏ trông bóng trăng mà chửa. Hai câu này: giải theo thuyết trên thì nghĩa là: ôm nặng tấm lòng, như con thỏ ngồi trong bóng trăng mà chờ đợi, hay theo thuyết dưới, thì... con thỏ trông lên bóng trăng mà chờ đợi, nhưng theo thuyết dưới thuận nghĩa hơn. Thể Loan nói có lòng chờ đợi Tử Trực. 13.Lữ Phụng Tiên: Lã Phụng Tiên. Lữ Bố, một võ tướng đời Tam quốc, con nuôi và chân tay của Ðổng Trác. Trác mưu cướp ngôi nhà Hán. Vương Doãn, một trung thần nhà Hán, có người con gái hát trong nhà (ca cơ) tên là Ðiêu Thuyền, sắc đẹp, bàn dùng kế ly gián: trước hứa gả cho Lữ Bố, sau lại đem hiến cho Ðổng Trác. 14.Thất tình: bị việc gì trái mình mà uất ức phiền não trong lòng. 15.Cư tang: đạ tang, chịu tang 16.Thái khanh: một chức quan to 17.Chăn dân: do chữ Hán "mục dân": trị dân. 18.Dinh tiền: trước dinh. 19.Xốn xang: xôn xao, thổn thức, (tiắng miền Nam) 20.Hán giang: có bản chép là Hàn giang, xét ra không đúng nghĩa. Hàn giang tức là sông Hán (sông Ngân) trên trời; theo chữ Hán, sông này có nhiều tên: Thiên hà, Thiên hán, Ngân hà, Ngân hán, Vân hán, Hà hán. 21.Ô kiều: cầu Ô. Theo các sách Hoài Nam và Phong tục ký: Ðêm thất tịnh (đêm mồng bảy tháng bảy âm lịch) chim ô thước (quạ và vẹt) sắp hàng làm cầu bắc qua sông Ngân cho vợ chồng Ngâu gặp nhau. Câu này nói: Nguyệt Nga chưa được gặp Vân Tiên mà nhân duyên lỡ dở, cũng như vợ chồng Ngâu chưa được gặp nhau trên sông Ngân, mà nhịp cầu Ô đã long mất, rơi mất rồi. 22.Phù du: con vờ, một thứ trùng có cánh, hay bay trên mặt nước, sống một thời gian rất ngắn. nói đời ngước, sống một đời người ngắn ngủi. 23.Ðồng tịch đồng sàng: cùng giường cùng chiếu, chỉ vợ chồng. 24.Cửa sổ ngựa qua: nói đời người chóng qua như bóng ngựa chạy qua cửa sổ 25.Dẫu thay mái tóc phải nhìn qua mối tơ: dẫu tóc bạc tuổi già cũng phải giữ lấy mối tơ. 26.Cáo tạ: cũng như cáo từ, từ tạ với chủ nhân đạ xin về. 27.Dám chịu: dám nhận 28.Tre còn măng mất: nói cha già thì còn, con trẻ thì đã chết. 29.Gia thần: người hầu hạ trong nhà quan. 30.Ðèn sách ghi lòng: ký chú việc đèn sách. 31.Vùa hương: bình hương 32.Dương gian: khoảng có mặt trời chiếu tức cõi sống. 33.Âm cung: âm phủ, chỗ toàn bóng tối, tức cõi chết. 34 Thành thân: nên vợ nên chồng, nói: sống không lấy được nhau, không biết chết xuống cõi âm có được thành vợ thành chồng không? 35.Cưu mang: ôm ấp, bận bịu, lo ngại. 36.Loan phụng: hai chữ chim thường dùng để tượng trưng cho vợ chồng đôi lứa tốt đẹp 37.Gối chích: gối chếch (lệch). Nệm nghiêng gối chích: nói loan phụng phải rẽ nhau, tình cảm đổi xây đột ngột nệm gối như bị xô lộn mà nghiêng lệch đi. Chữ Hán cũng dùng: khi trầm (gối nghiêng). 38.Sông Ngân: xem chú thích ở câu 245, 246. 39.Cầu Lam: chữ Hán Lam kiều, tức cầu trên ngòi Lam (Lam Khê) ở huyện Lam-Ðiền tỉnh Thiểm-Tây (Trung-quốc). Theo sách Thái-Bình quảng ký. Bùi Hàng đời Ðường gặp bà tiên Vân Kiều cho bài thơ, trong có chữ Lam Kiều, sau Hàng đến trạm Lam-kiều, khát nước, vào xin một bà lão gần đấy, được Vân Anh, con gái bà đưa nước ngọc dịch (thứ nước tiên) cho uống. Hàng thấy Vân Tiên tuyệt đẹp, muốn lấy, bà lão bảo: bà cần dùng cối ngọc và chầy ngọc để gia (luyện) thuốc huyền sương (thứ thuốc tiên) nếu có những thứ ấy làm sính lễ thì gả cho. Hàng về tìm được cối chầy ngọc đưa đến lại ở đấy giã thuốc tiên cho bà một trăm ngày, rồi Hàng lấy Vân Anh và hai vợ chồng cùng thành tiên (Truyện Kiều: "Chầy sương chưa nệm cầu Lam", sương tức thuốc huyền sương. 40.Tiết: xem chú thích ở câu 6 và câu 164 41.Thái sư: chức quan to nhất triều đình 42.Xăng: xe chặt, gắn bó 43.Mai chước (mối chước): người làm mối trong việc lấy vợ, lấy chồng 44.Lễ nghi: các cuộc lễ có nghi thức chương trình, cũng có nghĩa là các lễ vật. Ðây là các lễ vật mà Thái sư đưa đến để hỏi vợ cho con. 45.Ô-qua: Theo Gia định Thông chí thì ở miền Châu-Ðốc Hà-Tiên trước kia thường có giặc Qua Oa ở ngoài bể vào cướp phá. Quân Miến-Ðiện xưa, còn gọi là Ô-đỗ cũng hay đe dọa miền Hà-Tây, Châu-Ðốc. Có thể là Nguyễn Ðình Chiểu đã nhớ lại những giặc xâm lược này mà đặt tên nước Ô-qua chăng. 46.Binh nhung: binh sĩ, cũng có nghĩa là khí giới. Ðây chỉ binh sĩ. Dấy loàn: làm loạn. Nói nước Ô-qua đem quân quẫy nhiễu cõi biên. 47.Ðồng-Quan: một cửa ải hiểm yếu ở biên giới Hán Hồ. 48.Lưỡng ban: hai ban văn võ. Quân thần: bầy tôi trong một triều đình 49.Cừu: thù hằn 50.Khuynh thành: nghiêng thành. Lý Diên Niên đời Hán có câu ca: "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc" (có bản chép là "Nhất tiếu"... "tái tiếu"...), nghĩa là một cái nhìn làm nghiêng thành, hai cái nhìn làm nghiêng nước (hay một cái cười... hai cái cười...), nói: cái nhìn (hay cái cười) của người con gái đẹp khiến vua chúa phải say mê đến nỗi mất thành mất nước. Do đó, người ta thường dùng danh từ "khuynh thành" "khuynh quốc" để chỉ những người con gái có sắc đẹp. 51.Hào hoa: hào là khí phách khác người, hoa là văn vẻ tỏ dạng. 52.Châu phê: vua hạ bút son phê vào tờ chiếu chỉ (châu: son) 53.Cống Hồ: đem dâng cho nước Hồ (tức nước Hung-nô ở phía Bắc Trung-quốc, người Trung-quốc thường gọi là nước Hồ)
Câu 1400 - 1599
Canh chày chẳng ngủ những thao thức hoài Thất tình trâm nọ biếng cài Dựa mành bỏ xõa tóc dài ngồi lo Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ Bởi người Diên Thọ họa đồ gây nên Hanh Ngươn sau cũng chẳng yên Vì người Lư Kỷ cựu hiềm còn ghi Hai nàng chẳng đã phải đi Một vì ngay chúa, một vì thảo cha Chiêu Quân nhảy xuống giang hà Thương vua nhà Hán, nàng đà quyên sinh Hạnh Ngươn nhảy xuống Trì-linh Thương người Lương Ngọc duyên lành phôi pha Ðến nay phận bạc là ta Nguyện cùng bức tượng trót đà chung thân 1415.Tình phu phụ nghĩa quần thần Nghĩa xa cũng trọn, ơn gần cũng nên Nghĩa tình nặng cả hai bên Nếu ngay cùng chúa lại quên ơn chồng Sao sao một thác thời xong Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu Kiều công nương gối đang lo Nghe con than thở mấy câu thêm phiền Kêu vào ngồi dựa trướng tiền Lấy lời dạy dỗ cho tuyền thân danh Chẳng qua là việc triều đình Nào cho có muốn ép tình con chi Nàng rằng: Con kể chi con Bơ vơ chút phận, mất còn quản bao Thương cha tuổi tác đã cao E khi ấm lạnh buổi nào biết đâu Tuổi già bóng xế nhành dâu Sớm xem tối xét, ai hầu cho cha Công rằng: Chi xá việc nhà Hãy an dạ trẻ mà qua nước người Hôm nay đã tới mồng mười Khá toan sắm sửa hai mươi tống hành Nàng rằng: Việc ấy đã đành Còn lo hai chữ ân tình chưa xong Con xin sang lạy Lục ông Làm chay bảy bữa trọn cùng Vân Tiên Ngõ cho nhân nghĩa vẹn tuyền Phòng sau xuống chốn huỳnh tuyền gặp nhau Kiều công biết nghĩ trước sau Dạy đem tiền bạc cấp hầu đưa đi Lục ông ra rước một khi Nguyệt Nga vào đặt lễ nghi sẵn sàng Ngày lành giờ ngọ đăng đàn Ăn chay nằm đất cho chàng Vân Tiên Mở ra bức tượng treo lên Trong nhà cho tới láng giềng đều thương Nguyệt Nga cất tiếng khóc than Vân Tiên anh hỡi suối vàng có hay Bảy ngày rồi việc làm chay Bàn đem tiền bạc tạ rày Lục ông 1455.Trông chồng mà chẳng thấy chồng Ðã đành một chữ má hồng vô duyên Rày vua gả thiềp về Phiên Quyết lòng xuống chốn cửu tuyền thấy nhau Chẳng chi cũng gọi là dâu 1460.Muốn lo việc nước, phải âu việc nhà Một ngày một bước một xa Của này để lại cho cha dưỡng già. Lạy rồi nước mắt nhỏ sa Ngùi ngùi từ giã bước ra trở về Các quan xe giá bộn bề Năm mươi thể nữ hầu kề chân tay Hai mươi nay đã đến ngày Các quan bảo hộ đưa ngay xuống thuyền Nguyệt Nga vội khiến Kim Liên Lên mời thân phụ xuống thuyền xem qua Công rằng: Dạ đã xót xa Con đừng dùn thẳng cho cha thảm sầu Nàng rằng: Nước non cao sâu Từ đây xa cách khôn hầu thấy cha Thân con về đất Ô-qua Ðã đành một nỗi làm ma đất người Hai phương Nam Bắc cách vời Con xin gửi lại một lời làm khuây Hiu hiu gió thổi ngọn cây Ấy là hồn trẻ về rày thăm cha Kiều công lụy ngọc nhỏ sa Các quan ai nấy đều thương Chẳng qua việc ở quân vương Cho nên phụ tử hai đường xa xuôi Buồm trương thuyền vội tách vời Các quan đưa đón ngùi ngùi đứng trông Mười ngày đã tới ải Ðồng Mênh mông biển rộng đùng đùng sóng xao Ðêm nay chẳng biết đêm nào Bóng trăng vặc vặc, bóng sao mờ mờ Trời trên lặng lẽ như tờ Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn Than rằng: Nọ nước kìa non Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu Quân hầu đều ngủ đã lâu Lui ra một bức rèm châu một mình Vắng người có bóng trăng thanh Trăm năm xin gửi chút tình lại đây Vân Tiên anh hỡi có hay Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng Than rồi lấy tượng vai mang Nhằm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay Kim Liên thức dậy hoảng thay Cùng quân thạ nữ một bầy đều lo Cùng nhau đều chẳng dám hô Thầm toan mưu kế chẳng lo lậu tình Việc này là việc triều đình Ðốc quan hay đặng ắt mình thác oan Muốn cho cẩn nhiệm trăm đàng Kim Liên thế lấy làm nàng Nguyệt Nga Trá hôn về nước Ô qua Ai mà vạch lá, ai mà tìm sâu Tính rồi xong xả chước mầu Phút đâu thuyền đã đến đầu ải quan Ðốc quan xe giá sửa sang Kiệu trương long phụng, rước nàng về Phiên Ai hay tì tất Kim Liên Ðặng làm hoàng hậu nước Phiên trọn đời Nguyệt Nga nhảy xuống giữa vời 1Sóng thần đưa đẩy vào nơi bãi rày Bóng trăng vừa khuất ngọn cây Nguyệt Nga hồn hãy chơi rày âm cung Xiết bao sương tuyết đêm đông Mình nằm giữa bãi lạnh lùng ai hay Quan âm thương gái thảo ngay Bèn đem làng lại để rày vườn hoa Dăn rằng: Nàng hỡi Nguyệt Nga Tìm nơi nương náu cho qua tháng ngày Ðôi ba năm nữa gần đây Vợ chồng sau sẽ xum vầy một nơi Nguyệt Nga giây phút tỉnh hơi Ðịnh hồn mới nghĩ mấy lời chiêm bao Thiệt hư chưa biết làm sao Bây giờ biết kiếm nơi nào gửi thân Một mình luống những bâng khuâng Phút đâu trời đã rạng hừng vừng đông Một mình mang bức tượng chồng Xẩy đâu lại gặp Bùi ông dạo vườn Ông rằng: Nàng ở hà phương Việc chi mà tới trong vườn hoa ta Nàng rằng: Trận gió hôm qua Chìm thuyền nên nỗi mình ra thế này Tối tăm sẩy bước tới đây Xin soi xét tới thơ ngây lạc đường Bùi ông đứng ngắm tướng nàng Chẳng tranh đài các cũng hàng trâm anh Ðầu đuôi han hỏi sự tình Nàng bàn lời thiệt việc mình bày qua Bùi ông mừng rước về nhà Thay đổi xiêm áo nuôi mà làm con Rằng: Ta sinh đặng chồi non Tên là Bùi Kiệm hãy còn ở kinh Trong nhà không gái hậu sinh Ngày nay lại gặp minh linh phước trời Nguyệt Nga ở đã an nơi Ðêm đêm nghĩ lượng sự đời gần xa Một lo về nước Ô-qua E vua bắt tội cha già rất oan Hai lo phận gái hồng nhan Sợ khi bảo dưỡng mưu toan lẽ gì Nguyệt Nga luống những sầu bi Xẩy đâu Bùi Kiệm tới khi về nhà Từ ngày thấy mặt Nguyệt Nga. Ðêm đêm trằn trọc phòng hoa mấy lần Thấy nàng thờ bức tượng nhân Nghiệm trong tình ý dần lân hỏi liền Tượng này sao giống Vân Tiên Bấy lâu thờ có linh thiêng điều gì? Nàng rằng: Làm phận nữ nhi Một câu chánh tiết phải ghi vào lòng Trăm năm cho trọn đạo tòng Sống sao thác vậy, một chồng mà thôi Kiệm rằng: Nàng nói sai rồi Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa Làm người trong cõi gió mưa Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào Chúa xuân còn ở vườn đào Ong qua bướm lại biết bao nhiêu lần Chúa xuân ra khỏi vườn xuân Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang Ở đời ai cậy sang giàu Ba xuân dẫu hết ngàn vàng khôn mua Hay chi như vãi ở chùa Một căn cửa khép, bốn mùa lạnh tanh Lênh đênh một chiếc thuyền tình Mười hai bến nước gửi mình vào đâu Ai từng mặc áo không bâu Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau Nàng sao chẳng nghĩ trước sau Giữ ôm bức tượng bấy lâu thiệt mình, Nàng rằng: Tằng đọc sử kinh Làm thân con gái chữ trinh làm đầu Chẳng phen thói nước Trịnh đâu Hẹn người tới giữa vườn dâu tự tình Kiệm rằng: Ðã biết sử kinh Sao không suy xét để nằm không Hồ Dương xưa mới góa chồng Còn mơ nhan sắc Tống công cũng vừa Hạ cơ lớn nhỏ đều ưa
Chú thích: 1.Chiêu Quân: Vương Tường tự là Chiêu Quân, một cung nhân của Nguyễn đế nhà Hán, sau bị gã cho vua Hung-Nô. Ði thuyền vào quá nội địa Hung-Nô, Chiêu Quân nhảy xuống sông Hắc-Hà tự tử. "Chiêu Quân cống Hồ" một đề tài thường được các nhà thơ văn xưa nay ca ngợi thương tiắc. 2.Hạnh Ngươn (Nguyên): một nhân vật trong truyện Nhị Ðộ Mai. Cũng như Chiêu Quân, Hạnh Nguyên bị bắt đi cống Hồ và cũng tự tử nhưng có người cứu vớt. 3.Cựu hiềm: thù cũ 4.Ngay chúa: trung với vua. Thảo cha: hiếu với cha. Nói một đằng Chiêu Quân, một đằng Hạnh Nguyên theo mệnh cha, hai người phải trọng đạo trung với đạo hiắu mà đành đi hiến thân cho nước Hồ. 5.Quyên sinh: vứt bỏ cái mạng sống, tự tử 6.Chung thân: trọn đời, đến khi chết 7.Nghĩa xa cũng trọn, ơn gần cũng nên: nói nghĩa vua tôi cũng như ơn (tình) vợ chồng cùng phải giử cho trọn vẹn. 8.Sự phu: thờ chồng. nói: chết đi thì mới có thể được cả hai bề: báo chúa, thờ chồng. 9.Trướng tiền: trước màn 10.Thân danh: thân mình và danh dự 11.ấm lạnh buổi nào biết đâu: nói không biết lúc nào khoẻ lúc nào ốm. 47.Bóng xế nhành dâu: như nói bóng xế về Tây. Sách Hoài Nam Tử nói: mặt trời xế về Tây, gác bóng trên ngọn cây, gọi là "tang du" (tang: cây dâu, du: một loài cây cao, gỗ bền chắc, thường dùng chế khí cụ). Người sau mượn dùng hai chữ "tang du" này để chỉ phương Tây hay ví với tuổi già. 12.Tống hành: tiễn người lên đường. 13. Ðăng đàn: lên đàn tế lễ. 14. Bức tượng: đây là bức tranh truyền thần. 15.Cửu tuyền: chín suối, chỉ dưới đất sâu, tức cõi chết, cũng như nói "hoàng tuyền" (suối vàng). 16.Xe giá: xe dùng cho vua, gia đình vua, hoặc các bậc vương hầu. Ðây Nguyệt Nga được coi là vợ vua Phiên, nên các quan đưa xe giá đến đón một cách rộn rịp. 17.Thể nữ (con gái):con gái hầu trong cung vua, tức cung nữ. Ðây Nguyệt Nga đã coi là hoàng hậu phi, nên con gái đưa đến hầu nàng, cũng gọi là thể nữ. 18.Bảo hộ: giữ gìn hộ vệ. 19.ải Ðồng: cửa ải Ðồng-Quan, xem chú thích câu 1375 20.Tóc tơ: kết tóc xe tơ, tức tình nghĩa vợ chồng. 21.Rèm châu: chính nghĩa là một thứ rèm bện bằng ngọc châu, sau thường dùng để chỉ chung những thứ rèm quí. 22.Lậu tình: tiết lộ tình hình để cho người ngoài biết chuyện. 23.Ðốc quan: chức quan đôn đốc việc Nguyệt Nga đi cống Phiên. 24.Cẩn nhiệm: cẩn thận bí mật. 25.Trá hôn: giả mạo trong công việc cưới gả, nghĩa là không đúng người đã đính ước. 26.Long phụng: lọng che vẽ hình chim phượng. 27.Âm cung: âm phủ, cõi chết. nói Nguyệt Nga còn mê mệt chưa tĩnh. 28.Quân âm: tức Quan Thế Âm, tên một vị Phật, quan là nghe xem, thế âm là âm thanh của người đời, vị Phật này thường nghe xem những tiếng kêu khổ nạn của người đời mà tìm đến chỗ giải cứu cho, nên gọi như thế. 29.Ðịnh hồn: tỉnh lại, hồn được yên định lại 30.Hà phương: phương nào, nơi nào? 31.Ðài các: dinh thự và lầu gác, chỉ nơi quan chức quyền quí. Trâm anh: cái gài tóc và cái dải mũ, chỉ hạng người sang cả. 32.Minh linh: một loại sâu (sau hóa bướm) thường cuộn tổ ở lá lúa, lá rau mà cắn hại. Kinh Thi có câu: "Minh linh hữu tử, quả lõa phụ chi", nghĩa là minh linh có con, tò vò cõng về nuôi, do đó, tục gọi "con nuôi" là: "minh linh". Việt nam cũng có câu: "Tò vò mà nuôi con nhện...". Nhưng người xưa đã không xét kỹ, tò vò bắt minh linh hay nhện đưa về, là để làm thức ăn nuôi con nó, chứ không phải để nuôi làm con. 33Nghĩ lượng: nghĩ ngợi suy tính. 34.Bảo dưỡng: giữ gìn và nuôi nấng. Nguyệt Nga sợ rằng: Bùi ông bảo dưỡng mình là có mưu toan gì chăng? 35.Phòng hoa: căn phòng trang trí đẹp đẽ, văn vẻ. 36Tượng nhân: hình người vẽ 37.Dần lân: lân la dần dần 38.Chánh tiết: điều trinh tiết chủ yếu. 39.Bán đắt: tiếng miền Nam là đắt hàng. nói: bán đắt hàng sao không bán ngay mà lại ngồi chợ trưa nghĩa là có nhan sắc như Nguyệt Nga, ai chả say mê, việc chi mà ngồi đợi. 40.Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào: do câu thơ của Ðỗ Phủ đời Ðường. Nhân sinh thất thập cổ lai hy, nghĩa là đời người ta, xưa nay ít ai sống được bảy mươi tuổi. 41.Mười hai bến nước: có lẽ là một thành ngữ chỉ con số cửa sông hoặc cửa biển của nước ta thời xưa. Bài thơ của Lê Quát đời Trần có câu: "Hải môn thập nhi ngã hoàn sơn", nghĩa là: một vùng mười hai cửa biển, ta về núi ẩn". Ðây nói số phận đàn bà lênh đênh, không biết rõ đâu là bờ bến. 42.Bâu: cổ áo. Câu này là một câu ca dao có sẵn 43.Thói nước Trịnh: nước Trịnh đời Xuân thu, có tiếng là một nước nhiều thói phóng đãng, trai gái thường tụ trên sông Trăn sông Vị, cùng nhau tặng hoa thược dược mà đùa bỡn, còn những chuyện trèo tường, đón ngõ, hẹn nhau ngoài nội cỏ, thì rất phổ biến ở trong nước. 44.Vườn dâu: đời Xuân Thu còn có nước Vệ cũng dâm tục như nước Trịnh, trai gái thường hẹn hò nhau ở trên sông Bộc hoặc trong vườn dâu. 45.Hồ Dương: theo Hậu Hán thư: Hồ Dương công chúa, chị gái vua Hán Quang Vũ, góa chồng được ít lâu muốn lấy Tống Hoằng (Tống công) một đại thần của Quang Vũ. Hoằng không chịu lấy, quyết giữ trọn tình nghĩa với người vợ "tào khang" của mình (Xem chú thích ở câu 410). 46.Hạ Cơ: một người đàn bà đẹp nhưng đa dâm, là con gái Trịnh Mục Công (đời Xuân thu), lấy Ngự Thúc, quan nước Trần, Ngự Thúc chết, thông tình với Trần Linh Công và các quan triều là Khổng Ninh, Nghi Hành Phủ. Sau Sở diệt Trần, lại lấy Liên Doãn Tương Lão (Liên Doãn là họ). Tương Lão chết, lại lấy Thân Công Vu Thần nước Sở
Câu 1600 - 1799
Sớm đưa Doãn Phủ, tối ngừa Trần Quân Hán xưa Lữ hậu thanh xuân Còn vua Cao tổ mấy dừng Dị Ky Ðường xưa Võ hậu thiệt gì Di Tông khi trẻ, Tam Tư lúc già Cứ trong sách vở nói ra Một đời sung sướng cũng qua một đời Ai ai cũng ở trong đời Chính chuyên, trắc nết chết thời cũng ma Người ta chẳng lấy người ta Người ta đâu lấy những là tượng nhân Cho nên tiếc phận hồng nhan Học đòi Như ý vẽ chàng Văn Quâ Nguyệt Nga biết đứa tiểu nhân Làm thinh toan chước thoát thân cho rồi Bùi ông ngon ngọt trau dồi Dỗ nàng cho đặng sánh đôi con mình Làm người chấp nhất sao đành Hễ là lịch sự, có kinh có quyền Tới đây duyên đã bén duyên Trăng thanh gió mát cắm thuyền đợi ai Nhớ câu: Xuân bất tái lai Ngày nay hoa nở, e mai hoa tàn Làm chi thiệt phận hồng nhan Năm canh gối phụng màn loan lạnh lùng Vọng phu xưa cũng trông chồng Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha Thôi thôi khuyên chớ thở ra Vầy cùng con lão một nhà cho xuôi Nguyệt Nga giả dạng mừng vui Thưa rằng:Người có công nuôi bấy chầy Tôi xin dám gửi lời này Hãy tua chậm chậm sẽ vầy nhân duyên Tôi xin lạy tạ Vân Tiên Làm chay bảy bữa cho tuyền thủy chung Cha con nghe nói mừng thầm Dọn nhà sửa chỗ động phòng cho xuê Chiếu hoa gối sách bốn bề Cỗ đồ bát bửu chỉnh tề chưng ra Xẩy vừa tới lúc canh ba Nguyệt Nga lấy bút đề vài câu thơ Dán trên vách phấn một tờ Vai mang bức tượng kịp giờ ra đi Hai bên bờ bụi rậm rì Ðêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ Lạ chừng đường sá bơ vơ Có bầy đom đóm sáng nhờ đi theo Qua truông rồi lại lên đèo Dế kêu giăng giỏi, sương gieo lạnh lùng Giầy sành đạp sỏi thẳng xông Vừa may trời đã vừng đông ló đầu Nguyệt Nga đi đặng hồi lâu Tìm nơi bàn thạch ngõ hầu nghỉ chân Người ngay trời phật cũng vưng Lão bà chống gậy trong rừng bước ra Hỏi rằng: Nàng phải Nguyệt Nga Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta Khi đêm nằm thất Phật bà Người đà mách bảo nên đà tới đây Nguyệt Nga bán tín bán nghi Ðành liều nhắm mắt theo đi về nhà Bước vào thấy những đàn bà Làm nghề bô vải lụa là mà thôi Nguyệt Nga đành dạ ở rồi Từ đây mới hết nổi trôi chốn nào Hỏi thăm qua chốn Ô sào Quan san mấy dặm đi vào tới nơi Ðoạn này tới thứ ra đời Vân Tiên thuở ấy ở nơi chùa chiền Nửa đêm nằm thấy ông tiên Ðem cho linh dược mắt liền sáng ra Kể từ nhuốm bệnh đường xa Tháng ngày thấm thoát kể đà sáu năm Tuổi cha rầy đã năm lăm Chạnh lòng nhớ tới đầm đầm châu sa Vân Tiên trở lại quê nhà Hớn Minh đưa khỏi năm ba dặm đường Tiên rằng: Ta lại hồi hương Ơn nhau sau gặp khoa trường sẽ hay Minh rằng: Em chẳng vốn may Ngày xưa mắc phải án đày chốn đi Dám đâu bày mặt ra thi Ðã đành hai chữ qui y chùa này Tiên rằng: Phước gặp khoa này Sao sao cũng tính sum vầy, cùng nhau Mấy năm hẩm hút tương rau Khó nghèo nỡ phụ, sang giàu đâu quên Lúc hư còn có lúc nên Khuyên người giữ dạ cho bền thảo ngay Hớn Minh trở lại am mây Vân Tiên về một tháng chầy tới nơi Lục ông nước mắt tuôn rơi Ai dè con sống trên đời thấy cha Xóm giềng cô bác gần xa Ðều mừng chạy tới chật nhà hỏi thăm Ông rằng: Kể đã mấy năm Con mang tật bệnh ăn nằm nơi nào Tiên rằng: Hoạn nạn xiết bao Mẹ tôi phần mộ, nơi nào viếng an Ðặt bày lễ vật nghiêm trang Ðọc bài văn tế trước bàn minh sinh Suối vàng hồn mẹ có linh Chứng cho con trẻ lòng thành ngày nay Tưởng bề nguồn nước cội cây Công cao ngàn trượng, ngãi dày chín trăng Suy trang nằm giá khóc măng Hai mươi bốn thảo chẳng bằng thời xưa Vân Tiên nước mắt như mưa Tế rồi hỏi việc khi xưa ở nhà Ông rằng: Có nàng Nguyệt Nga Bạc vàng mang giúp, cửa nhà đặng xuê. Nhờ nàng nên mới ra bề Chẳng chi khó đói bỏ quê đi rồi Vân Tiên nghe nói hỡi ơi Chạnh lòng nghĩ lại một hồi giây lâu Hỏi rằng nàng ấy ở đâu Ðặng con đến đó đáp câu ân tình Lục ông thuật việc triều đình Ðầu đuôi chuyện vãn tỏ tình cùng Tiên Kiều công rày ở Tây-xuyên Cũng vì mắc nịnh biếm quyền đuổi ra Tiên rằng: Cám nghĩa Nguyệt Nga Tôi xin qua đó thăm cha nàng cùng Tây-Xuyên ngàn dặm thẳng xông Ðến nơi ra mắt, Kiều công khóc liền Nguyệt Nga rày ở Tây phiên Biết sao cho đặng đoàn viên cùng chàng Mấy thu Hồ Việt đôi phang Cũng vì máy tạo, én nhàn rẽ nhau Thấy chàng dạ lại thêm đau Ðất trời bao nỡ chia bâu cho đành Hẹp hòi đặng chút nữ sinh Trông cho chồi quế trổ nhành mẫu đơn Nói rồi lụy nhỏ đòi cơn Cũng vì một sự oán hờn nên gây Thôi con ở lại bên này Hôm mai thấy mặt cho khuây lòng già Vân Tiên từ đấy lân la Ôn nhuần kinh sử chờ khoa ứng kỳ Năm sau lệnh mở khoa thi Vân Tiên vào tạ xin đi tựu trường Trở về thưa với xuân đường Kinh sư ngàn dặm một đường thẳng ra Vân Tiên dự trúng khôi khoa Hẳn suy nhâm tí thiệt là năm nay Nhớ lời thầy nói thật hay Bắc phương gặp chuột con rày nên danh Vân Tiên vào tạ triều đình Lệnh ban y mão hiển vinh về nhà Xẩy nghe tin giặc Ô-qua Phủ vây quan ải binh ba bốn ngàn Sở vương phán trước ngai vàng Chỉ sai quốc trạng dẹp loàn bầy ong Trạng nguyên tấu trước bệ rồng: Xin dâng một tướng anh hùng đề binh Có người họ Hớn tên Minh Sức đương Hạng Vũ, mạnh kình Trương Phi Ngàn xưa mắc án trốn đi Phải về nương náu từ bi ẩn mình Chỉ sai tha tội Hớn Minh đòi về Sắc phong phó tướng bình di Tiên, Minh tương hội xiết gì mừng vui Nhất thinh phấn phát oai lôi Tiên phong hậu tập trống hồi tấn binh Quan sơn ngàn dặm đăng trình Lãnh cờ binh tặc phá thành Ô qua Làm trai ơn nước nợ nhà Thảo cha ngay chúa mới là tài danh Phút đâu binh đáo quan thành Ô-qua xem thấy xuất thành cự đang Tướng phiên hai gã đường đường Một chàng Hỏa Hổ, một chàng Thần Long Lại thêm Cốt Ðột nguyên nhung Mắt hùm râu đỏ tướng hung lạ lùng Hớn Minh ra sức tiên phong Ðánh cùng Hỏa Hổ, Thần Long một hồi Hớn Minh đánh xuống một roi Hai chàng đều bị một hồi mạng vong Nguyên nhung Cốt Ðột nổi xung Hai tay xách búa đánh cùng Hớn Minh Hớn Minh sức chẳng dám kinh Thấy chàng hóa phép thoát mình trở lui Vân Tiên đầu đội kim khôi Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô Một mình nhắm trận xông vô Thấy người Cốt Ðột biến đồ yêu ma Vội vàng trở ngựa lui ra Truyền đem máu chó đều thoa ngọn cờ Ba quân gươm giáo đẳu giơ Yêu ma xem thấy một giờ vỡ tan Sa cơ Cốt Ðột chạy hoang Vân Tiên giục ngựa băng ngàn đuổi theo Ðuổi qua khỏi đặng bảy đào Khá thương Cốt Ðột vận nghèo nài bao Chạy qua ngang núi Ô-sào Phút đâu con ngựa sa hào thương ôi Vân Tiên chém Cốt Ðột rồi Ðầu treo cổ ngựa phản hồi bổn quân Ôi thôi bốn phía đều rừng
Chú thích: 3.Doãn Phủ: hai chữ này nghi có sách chép sai. Hạ Cơ thông tình với Nghi Hành Phủ và lấy Liên Doãn Tương Lão, vậy hai chữ này phải là Hành Phủ, vì theo nghĩa của câu văn, dưới đặt chữ Trần Quân (vua Trần, tức Linh công), thì trên nên đặt là Hành Phủ, hai người cùng thông tình, mà lại đồng thời. 4.Lữ hậu: Lã hậu (chữ Lã chính âm là Lữ), tức Lã Trĩ, vợ Hán Cao Tổ (Lưu Bang). Lã Hậu tư thông với Thẩm Dị Ky, người này trước là quan hậu cận Lã hậu, sau có công đánh giặc, được phong tước hầu, khi Cao Tổ chết, Lã hậu thường giấu giếm Dị Ky ở nơi cung cấm và yêu đương tin dùng, cử làm Thừa Tướng. 5.Võ hậu: xem chú thích ở câu 800. Khi Vũ hậu làm vua, tin dùng bọn gian nịnh và thông tình với anh em Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi, hai người cùng đẹp trai, nguyên trước cử vào hầu hạ trong cung, sau được Vũ hậu yêu đương cho làm quan chức ở triều. 6.Di Tông, Tam Tư: bốn chữ này ghi cũng chép sai. Theo Ðường sử. Vũ hậu thông tình với Xương Tông và Dịch Chi, chứ không với Tam Tư, tức Vũ Tam Tư, cháu gọi Vũ hậu là cô. 7.Trắc nết: hư nết, xấu nết. Câu này phỏng theo câu ca dao: "Chính chuyên chết cũng ra ma, lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng". 8.Như Ý: một nhân vật chính trong một vở tuồng Tả Sự gặp gỡ của Như Ý và Văn Quân. Như Ý giúp Văn Quân, một chàng thanh niên tài giỏi, trốn tránh được khỏi tay quân thù. Về sau hai người lấy nhau. 9.Chấp nhất: câu nệ, khăng khăng giữ một 10.Lịch sự: chính nghĩa là trải (thông thạo) việc đời. Ta thường dùng để chỉ những tác phong, cử chỉ, ăn nói, ăn mặc có tính cách chững chạc, trang nhã, chỉnh tề, đẹp đẽ. 11.Xuân bất tái lai: xuân không trở lại lần nữa. nói: một tuổi một già đi. 12.Vọng phu: trông chồng. Ðây là một tích cũ đã phổ biến ở Trung-quốc cũng như ở Việt-nam. Hai câu này nói: tội gì mà làm người vọng phu cho uổng một đời người trẻ đẹp. 13.Thở ra: cũng như nói ra. 14.Tua: nên, phải. Do chữ Hán tu nói chệch ra. 15.Thủy chung: trước sau như một. 16.Ðộng phòng: có hai nghĩa: 1) căn phòng sâu kín nói chung; 2) căn phòng dành cho việc tân hôn của đôi vợ chồng. Ðây dùng nghĩa thứ hai. 17.Gối sách: gối gấp như chồng sách. 18.Bát bửu: (Bát bảo): tám thứ vật quí. Cỗ đồ bát bửu đây là các thứ gươm, giáo, chùy, búa... làm bằng đồng, bạc để bày trong nhà sách cho sang trọng. 19.Vách phấn: tường vôi 20.Trăng lờ: trăng tối, tức là không có trăng, vì đêm tối không trăng nên dưới nói đi nhớ ánh sáng đom đóm. 21.Truông: vùng đất bỏ hoang, cây cỏ mọc thành bụi thấp. 22.Bàn thạch: tảng đá lớn và phẳng. 23.Vưng: bảo hộ, phủ trì. 24.Bô vải: bô do chữ bố và vải. Bô vải như nói vải sồi. 25.Quan san: cửa ải và núi non. Chỉ những nơi cách trở xa xôi. 26.Thứ ra đời: lớp chuyện kể một nhân vật đang sống ẩn mình nay "ra đời" hoạt động. Ðây nói Lục Vân Tiên "ra đời" 27.Linh dược: thuốc màu nhiệm, chỉ thuốc tiên. 28.Qui y: đi tu, quy là hướng theo, y là nương tựa, nói đem cả thân thể, tâm chí hướng tựa vào đạo Phật. 29.Hư, nên: như nói có khi cùng khốn nhưng cũng có lúc vinh quang. 30.Phần mộ: mồ mả. Viếng an: do chữ Hán vấn an, thăm viếng xem có được bình an mạnh khoẻ không. ở đây là đi viếng mộ. 31.Minh sinh: minh tinh, tức mảnh lụa hay vải dài có viết họ tên, chức tước của người chết để rước đi lúc đưa ma. ở đây treo lên bàn ở chỗ cúng. 32.Nguồn nước cội cây: nguồn của nước, cội (gốc) của cây. Ðây dùng chỉ cha mẹ. 33.Chín trăng: chín tháng. nói mang thai chín tháng. 34.Nằm giá: Vương Tường đời Tấn, khi mùa Ðông, nước đóng thành băng, mẹ già thèm ăn cá, ông ra nằm trên băng để tìm kiếm, băng tan, hai con có chép nhảy lên, ông bắt về dâng mẹ. Khóc măng: Mạnh Tông người nước Ngô đời Tam quốc, mẹ già thèm ăn măng, nhưng mùa Ðông không có, ông vào rừng tre khóc lóc cầu khẩn, rồi được măng mọc đưa về. Ðây là hai sự tích trong sách "Nhị thập tứ hiếu" của Quách Cư Nghiệp (có sách là Quách Cư Kinh) đời Nguyên. 35.Ra bề: ra bề thế. 36.Biếm quyền: hạ quyền xuống, giáng chức quan. Nói Kiều công vì bọn nịnh thần mà bị tước quyền đuổi về. 37.Ðoàn viên: chỉ sự tụ họp sum vầy của vợ chồng hay gia đình, thân thuộc. 38.Hồ Việt: danh từ này thường dùng để chỉ sự xa cách nhau, mỗi người một nơi, như hai nước Hồ Việt, một ở tận phương Bắc, một ở tận phương Nam. 39.én nhàn: én nhạn. 40.Chia bâu: chia rẽ, phân ly. 41.Nữ sinh: con gái, cũng như nói "nữ nhi" (khác với "nữ sinh" là học sinh con gái). 42.Ôn nhuần: ôn tập lại cho thấm nhuần thêm. 43.ứng kỳ: theo kỳ thi mà đi thi. 44.Kinh sư: kinh đô. 45.Khôi khoa: đỗ đầu khoa, ở đây là đỗ trạng nguyên. 46.Y mão (mạo): áo mũ của vua ban. 47.Hiển vinh về nhà: lệ thi thời xưa, những người thi đỗ tiến sĩ, sau khi đỗ, nhà vua có ban mũ, áo, cờ và tấm biển khắc bốn chữ "Ân tứ vinh qui", nghĩa là ơn vua cho được vẻ vang trở về. 48.Quan ải: cửa ải nước nọ sang nước kia. 49.Chỉ: lệnh của vua. 50.Quốc trạng: trạng nguyên của cả nước. 51.Dẹp loàn: dẹp loạn 52.Ðề binh: đem binh đi đánh giặc. 53.Kình: đối địch lại (kình địch). Trương Phi: một danh tướng đời Tam quốc, có sức mạnh, giỏi đánh trận, kết nghĩa anh em với Lưu Bị. 54.Từ bi: yêu đương và thương xót người, tiêu biểu của đạo Phật. Ở đây là cửa Phật 55.Tương hội: gặp nhau, sum họp cùng nhau. 56.Nhất thinh (thanh) phấn phát oai lôi: lôi là sấm, một tiếng truyền lệnh, oai hùng như sấm, làm phấn khởi mọi người. 57.Tiên phong: toán quân xông trận ở mặt nước. Hậu tập: toán quân tiếp ứng và đánh bọc phía sau. Tấn binh: tiến binh (chữ tiến chính âm là tấn). Nói các toán quân tiên phong hậu tập nghe lệnh truyền trống đánh, đều phấn khởi mà tiến lên. 58.Binh tặc: dẹp giặc. 59.Binh đáo quan thành: binh đến trước thành cửa quan. 60.Cự đang (đương): chống địch lại. 61.Nguyên nhung: nguyên soái chỉ huy toàn quân. 62.Hóa phép: dùng phép yêu quái để đánh trận. Hai câu này nói: Hớn Minh thấy Cốt Ðột hóa phủp, sức không địch được, phải thoát mìy nóy 63.Kim khôi: khôi là thứ mũ dùng khi ra trận, đời cổ chế bằng da, đời sau chế bằng sắt, và cũng chế bằng đồng hay dát vàng gọi là kim khôi. 64.Phản hồi bổn quân: trở về toán quân của mình
Câu 1800 - 2080
Trời đà tối mịt, lạc chừng gần xa Một mình lạc nẻo, vào ra Lần theo đàng núi, phút đà tam canh Một mình trong chốn non xanh Biết ai mà hỏi lộ trình trở ra Ðoạn này tới thứ Nguyệt Nga Ở đây tính đã hơn ba năm rồi Ðêm khuya chong ngọn đèn ngồi Chẳng hay trong dạ bồi hồi việc chi Quan âm thuở trước nói chi Éo le phỉnh thiếp lòng ghi nhớ hoài Ðã đành đá nát vàng phai Cũng nguyẳn xuống chốn dạ đài gặp nhau Khôn trông mồng bảy đêm thâu Khôn trông bầy quạ đội cầu đưa sao Phải chi hỏi đặng Nam Tào Ðêm nay cho đến đêm nào gặp nhau Nguyệt Nga gượng giãi cơn sầu Xảy nghe nhạc ngựa ở đâu tới nhà Kêu rằng: Ai ở trong nhà? Ðường về quan ải chỉ ra cho cùng Nguyệt Nga ngồi sợ hãi hùng Vân Tiên xuống ngựa thẳng xông bước vào Lão bà lật đật hỏi chào Ở đâu mà tới rừng cao một mình? Vân Tiên mới nói sự tình Tôi là quốc trạng triều đình sai ra Ðem binh dẹp giặc Ô-qua Lạc đường đến hỏi thăm nhà bà đây Lão bà nghe nói sợ thay Xin ông chớ chấp tôi nay mụ già Vân Tiên ngồi ngắm Nguyệt Nga Lại xem bức tượng lòng đà sinh nghi Hỏi rằng: Bức ấy tượng chi Khen ai vẽ dung nghi giống mình Ðầu đuôi chưa rõ sự tình Lão bà khá nói tính danh cho tường Lão bà chẳng dám lời gian Tượng này vốn thiệt chồng nàng ngồi đây Tiên rằng: Nàng xách lại đây Nói trong tên họ tượng này ta nghe Nguyệt Nga lòng rất kiêng dè Mặt thời giống mặt, còn e lạ người Ngồi che tay áo hổ ngươi Vân Tiên thấy vậy mỉm cười một khi Rằng: Sao nàng chẳng nói đi Hay là ta hỏi động chi chăng là Nguyệt Nga khép nép thưa qua: Người trong bức tượng tên là Vân Tiên Chàng đà về chốn cửu tuyền Thiếp làm trọn đạo, lánh miền gió trăng Vân Tiên nghe nói hỏi phăn Chồng là tên ấy, vợ rằng tên chi? Nàng bàn tỏ thiệt một khi Vân Tiên vội vã xuống quì vòng tay: Thưa rằng: Nay gặp nàng đây Xin đền ba lạy, sẽ bày nguồn cơn Ðể lời thệ hải minh sơn Mang ơn trước phải đền ơn cho rồi Vân Tiên vốn thiệt là tôi Gặp nhau nay đã phỉ rồi ước mơ Nguyệt Nga bảng lảng bơ lơ Nửa tin rằng bạn, nửa ngờ rằng ai Thưa rằng: Ðã thiệt là ngài Khúc nôi xin cứ đầu bài quân ra Vân Tiên dẫn tích xưa ra Nguyệt Nga khi ấy khóc òa như mưa Ân tình càng kể càng ưa Mảng còn bịn rịn trời vừa sáng ngay Xảy nghe quân ó vang vầy Bốn bề rừng bụi khắp bày can qua Vân Tiên lên ngựa trở ra Thấy cờ đề chữ hiệu là Hớn Minh Hớn Minh khi ấy dừng binh Anh em mừng rỡ tỏ tình cùng nhau Minh rằng: Tẩu tẩu ở đâu Cho em ra mắt chị dâu thế nào Vân Tiên đem Hớn Minh vào Nguyệt Nga đứng dậy miệng chào có duyên Minh rằng: Tưởng chị ở Phiên Quyết đem binh mã sang miền Ô-qua Mừng rày sum họp một nhà Giặc đà an giặc, khải ca hồi trào Tiên rằng: Nàng tính thế nào? Nàng rằng: Anh hãy về trào tâu lên Ngỏ nhờ lượng cả bề trên Lệnh tha tội trước mới nên về nhà Trạng nguyên từ giã lão bà Dặn dò gửi lại Nguyệt Nga ít ngày Tôi về đem bức tượng này Tâu cho khỏi tội, rước ngay về nhà Tiên, Minh lên ngựa trở ra Ðem binh trở lại trào ca đề huề Sở vương nghe trạng nguyên về Sai quân tiếp rước vào kề bên ngai Sở vương bước xuống kim giai Tay bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên Phán rằng: Trẫm sợ nước Phiên Có người Cố Ðột phép tiên lạ lùng Nay đà trừ Cốt Ðột xong Thật trời sinh trạng giúp trong nước nhà Phải chi sớm có trạng ra Làm chi nên nỗi Nguyệt Nga cống Hồ Lệnh truyền mở yến trà đô Rày mừng trừ đặng giặc Ô-qua rồi Trạng nguyên quỳ tấu trước ngôi Nguyệt Nga các việc khúc nôi rõ ràng Sở vương nghe tấu ngỡ ngàng Phán rằng: Trẫm tưởng rằng nàng ở Phiên Chẳng ngờ nàng với trạng nguyên Cùng nhau trước có nhân duyên thuở đầu Thái sư trước bệ quỳ tâu Ô-qua dấy động qua mâu cũng vì Trá hôn oán ấy gây nên Nguyệt Nga nàng thiệt tội thì khi quân Trạng Nguyên mặt đỏ phừng phừng Bèn đem bức tượng quỳ dưng làm bằng Sở vương xem tượng phán rằng: Nguyệt Nga trinh tiết ví bằng người xưa Thái sư trước chẳng lo lừa Thiếu chưa dân thứ phải đưa tới nàng Dầu cho nhật nguyệt rõ ràng Khôn soi chậu úp cũng mang tiếng đời Ngay gian sao cũng có trời Việc này vì trẫm nghe lời nên oan Trạng nguyên tâu trước trào đàng Thái sư trữ dưỡng tôi gian trong nhà Trịnh Hâm là kẻ gian tà Hại tôi buổi trước cũng đà ghe phen Sở vương phán trước bệ tiền Những ngờ tướng ngỏ tôi hiền mà thôi Vậy cũng đạo chúa nghĩa tôi Thái sư muốn cướp ngôi chín trùng Hán xưa có gã Ðổng công Nuôi dòng Lã Bố cướp dòng nhà Lưu Ðời xưa tôi nịnh biết bao Thái sư nay cũng khác nào đời xưa Thấy người trung chính chẳng ưa Rắp ranh kế độc, lập lừa mưu sâu Trịnh Hâm tội đáng chém đầu Ấy là mới hết người sau gian tà Sở vương phán trước trào ca Thái sư cách chức về nhà làm dân Trịnh Hâm là đứa bạo thần Giao cho quốc trạng xử phân pháp hình Nguyệt Nga là gái tiết trinh Sắc phong quận chúa hiển vinh rỡ ràng Kiều công xưa mắc tội oan Trẫm cho phục chức làm quan Ðông-thành Trạng nguyên dẹp giặc đã bình Kiểu vàng tán bạc hiển vinh về nhà Bãi chầu chư tướng trở ra Trạng nguyên mời hết đều qua dinh ngồi Họ Vương, họ Hớn, họ Bùi Cùng nhau uống rượu đều vui, đều cười Trạng nguyên mới hỏi một lời Trịnh Hâm tội ấy các người tính sao Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào Mặt nhìn khắp hết, miệng chào các anh Minh rằng: Ai mượn kêu anh Trước đà đem thói chẳng lành thời thôi Kéo ra chém quách cho rồi Ðể chi gai mắt, đứng ngồi căm gan Trực rằng: Minh nóng nói ngang Giết ruồi đâu xứng gươm vàng làm chi Xưa nay mấy đứa vô nghì Dẫu cho có sống làm gì nên thân Hâm rằng: Nhờ lượng cố nhân Vốn tôi mới dại một lần xin dung Trạng rằng: Hễ đấng anh hùng Nào ai có giết đứa cùng làm chi Thôi thôi ta cũng rộng suy Truyền quân mở trói đuổi đi cho rồi Hâm mừng khỏi thác rất vui Vội vàng cúi lạy chân lui ra về Còn ngươi Bùi Kiệm máu dê Ngồi chề bề mặt như sề thịt trâu Hớn Minh, Tử Trực vào tâu Xin đưa Quốc trạng kịp chầu vinh qui Một ngươi Bùi Kiệm chẳng đi Trong lòng hổ thẹn cũng vì máu dê Trạng nguyên xe giá chỉnh tề Sai quân hộ vệ rước về Nguyệt Nga Bạc vàng đem tạ lão bà Nguyệt Nga từ tạ thẳng qua Ðông-thành Võng điều, gươm bạc, lọng xanh Trạng nguyên, Tử Trực, Hớn Minh lên đàng Trịnh Hâm về tới Hàn Giang Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay. Trịnh Hâm bị cá nuốt vây Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng Thấy vầy nên dửng dừng dưng Làm người ai, nấy thì đừng bất nhân Tiểu đồng trước giữ mộ phần Ngày qua tháng lại đã gần ba năm Của đi khuyến giáo mấy năm Tính đem hài cốt về thăm quê nhà Hiềm chưa thuê đặng người ta Còn đương thơ thẩn vào ra Ðại Ðề Trạng nguyên khi ấy đi về Truyền quân bày tiệc lo bề tế riêng Tiểu đồng hồn bậu có thiêng Thỏa tình thày tớ lòng thiềng ngày nay Ðọc văn nhớ tới chau mày Ðôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng Người ngay trời phật động lòng Phút đâu ngó thấy tiểu đồng đến coi Trạng nguyên còn hãy sụt sùi Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền Tiểu đồng nhắm ngửa, nhìn nghiêng Ông này sao giống Vân Tiên cũng kỳ Ông nào mất xuống âm ty Ông nào còn sống nay thì làm quan? Trạng nguyên khi ấy hỏi chàng Phải người đồng tử mắc nàn chốn ni Mấy năm tớ mới gặp thầy Cúng nhau kể nỗi đắng cay từ ngằn Ai dà còn thấy bổn quan Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi Trạng nguyên khi ấy mừng vui Tớ thầy sum họp tại nơi Ðại Ðề Ðoạn thôi xe giở ra về Tuần du phút đã gần kề Hàn Giang Võ công từ xuống suối vàng Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang đeo sầu Mẹ con những mảng lo âu Nghe Vân Tiên sống gặp chầu công danh Cùng ta xưa có ân tình Phải ra đón rước lộ trình họa may Loan rằng: Mình ở chẳng hay E ngưòi còn nhớ những ngày trong hanh Trang rằng: Con có hồng nhan Cho chàng thấy mặt thời chàng ắt ưa Ví dầu còn nhớ tích xưa Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công Cùng nhau bàn luận đã xong Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên Nay đà tới thứ Trạng nguyên Hàn giang đã tới, bỗng liền đóng quân Bạc vàng châu báu áo quần Trạng nguyên đem tạ đáp ân ngư tiều Ngư tiều nay đặng danh biêu Ơn ra một buổi của nhiều trăm xe Trạng nguyên chưa kịp trở về Thấy Quỳnh Trang đã đừng kề trong quân Trang rằng: Tưởng chữ hôn nhân Mẹ con tôi đến lễ mừng Trạng nguyên Võ công đã xuống huỳnh tuyền Xin thương lấy chút thuyền quyên phận này Trạng rằng: Bưng nước bát đầy Ðổ ngay xuống đất hớt rày sao xong Oan gia nợ ấy trả xong Thiếu chi nên nỗi mà mong tới đòi Hớn Minh, Tử Trực đứng coi Cười rằng: Hoa khéo làm mồi trêu ong Khen cho lòng chẳng thẹn lòng Còn mang mặt đến đèo bòng nỗi chi Ca ca sao chẳng chịu đi Về cho tẩu tẩu để khi xách giày Mẹ con đương thẹn thùng thay Vội vàng cúi lạy chân quày bước ra Trở về chưa kịp tới nhà Thấy hai ông cọp chạy ra đón đường Thảy đều bắt mẹ con nàng Ðem vào lại bỏ trong hang Thương-tòng Bốn bề đá lấp bịt bùng Mẹ con than khóc khôn trông ra rồi Trời kia quả báo mấy hồi Tiếc công trang điểm phấn giồi bấy lâu Làm người cho biết ngãi sâu Gặp cơn hoạn nạn cùng nhau cho tròn Ðừng đừng theo thói mẹ con Thác đà mất kiếp, tiếng còn bia danh Trạng nguyên về tới Ðông-thành Lục ông trước đã xây dinh đầu làng Bày ra sáu lễ sẵn sàng Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga Sui gia đã xứng xui gia Rày mừng hai họ một nhà thành thân Trăm năm biết mấy tinh thần Sinh con sau nối gót lân đời đời
Hết Chú thích: 1.Phản hồi bổn quân: trở về toán quân của mình 2.Dạ đài: lâu đài đêm, đêm có nghĩa là tối tăm, chỉ nơi tối tăm của người chết. "Dạ đài" cũng như "tuyền đài" (đài suối vàng, tức là lâu đài dưới đất), nghĩa chính là "cái mả", mà nghĩa bóng là nói cõi âm, cõi chết. 3.Mồng bảy đêm thâu (thu): đêm mồng bảy tháng bảy mùa thu. Bầy quạ đội cầu đưa sao: sao chỉ hai sao Khiên ngưu và Chức nữ. (Xem chú thích ở các câu 245, 246 và 1248). Nguyệt Nga nói, mình với Vân Tiên, khôn mong gặp nhau như Chức nữ gặp Ngư 1248). 4.Nam Tào: theo thần thoại. Nam Tào và Bắc Ðẩu là hai vị thần giữ sổ sinh tử của trần gian. 5.Dung nghi: dáng điệu 6.Tính danh: họ tên 7.Kiêng dè: dè dặt, thận trọng 8.Gió trăng: chỉ thói dâm tà xấu xa 9.Phăn: lần (phăn mối chỉ). Hỏi phăn: hỏi lần cho biết 10.Thệ hải minh sơn: thề bể hẹn non, tức là chỉ bể chỉ núi mà thề: lời nói của mình bền vững như núi như bể. 11.Khúc nôi: hay khúc nhôi, những chi tiết của sự việc, lai lịch khúc chiết. Ðầu bài: như nói câu chuyện. nói câu chuyện lai lịch thế nào, xin bàytỏ cho biết. 12.Quân ó vang vầy: quân thét vang lừng. 13.Can qua: mộc và mác, đồ binh khí. nói: quân gia kéo đến chung quanh rừng, la liệt những binh khí. 14.Tẩu tẩu: chị dâu, dùng theo tiếng bạch thoại Trung Quốc. Ðây Hớn Minh coi Nguyệt Nga như chị dâu, nên xưng hô như thế. (Xem chú thích ở câu 1229) 15.Khải ca hồi trào: hát khúc ca thắng trận trở về triều. 16.Trào ca: triều đình, triều ban. 17.Ðề huề: dắt tay nhau cùng đi. Nghĩa bóng là thân thiện mà dìu dắt nhau. 18.Kim giai: thềm vàng 19.Trà đô: nơi đô thị có triều đình. 20.Qua mâu: giáo mác. Dấy động qua mâu: dấy binh xâm phạm 21.Khi quân: dối vua, lừa vua. Tội khi quân là tội to thời xưa 22.Dân thứ: cũng như dân chúng. nói: thiếu gì con gái nhân dân mà lại phải dùng đến nàng. 23.Chậu úp: do chữ Hán "phú bồn", sách Bảo phác tử có câu "Tam quan bất chiếu phú bồn chi nội", nghĩa là ánh tam quang (mặt trời, mặt trăng và các vì sao) không soi vào được trong lòng cái chậu úp. Người ta thường nói: "Phú bồn chi oan": cái oan chậu úp, là chỉ sự oan ức không giải bày được. nói hai câu này: dù sáng suốt như mặt trời mặt trăng mà không xét đến nỗi oan tối tăm thì cũng mang tiếng xấu với đời. 24.Trữ dưỡng: chứa chấp và nuôi nấng. 25.Ghe phen: (tiếng miền Nam) nhiều phen, có phen. 26.Tướng ngỏ: ngỏ có nghĩa là trung, giải bày cả tấm lòng thành thực với vua. 27.Chín trùng: do chữ "cửu trùng": chín trùng cửa. Sở-từ có câu: Quân chi môn dĩ cửu trùng", nghĩa là cửa nhà vua những chín trùng, nói vua ở một nơi sâu thẳm. Nhân thế người ta gọi nơi vua ở hay bản thân vua là "cửu trùng". Ðây nói: thái sư muốn cướp ngôi vua. 28.Ðổng công: Ðổng Trác. (Xem chú thích ở câu 1251) 29.Nhà Lưu: nhà họ Lưu, tức nhà Hán. 30.Bạo thần: kẻ bày tôi tàn ác 31.Xử phân pháp hình: Theo hình phép nhà nước mà trị tội. 32.Giết ruồi đâu xứng gươm vàng: nói người quân tử không thàm giết kẻ tiểu nhân, cũng như gươm vàng không đáng đem mà giết ruồi cho bẩn gươm. Câu này do câu ca dao: "Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi". 33.Vô nghì: phi nghĩa, bạc ác. 34.Dung: tha cho 35.Chề bề: một từ ngữ hình dung cái bộ mặt ê chệ khi bị nhơ nhuốc. 36.Sề: một thứ rổ, đan bằng tre nứa, dùng đựng đồ vật. Sề thịt trâu: nói như cái rổ thịt trâu trông nhầy nhụa ê chệ. 37.Vinh qui: vẻ vang trở về. Thời xưa, những người thi đỗ tiến sĩ, được vua ban mũ áo, cờ biển cho vẻ vang mà trở về, và được nhân dân tổ chức cuộc đón rước long trọng. Kịp chầu vinh qui: kịp thời (buổi, lúc) vinh qui. Trước đây Vân Tiên thi đỗ xong, chưa được vinh qui, phải đi đánh giặc ngay, nên nay mới xin vua cho kịp thời trở về. 38.Rước về Nguyệt Nga: tức là rước Nguyệt Nga về. Câu này cũng như câu: "Vợ Tiên là chị Trực" ở phần trên, đảo ngữ gò ép để cho có vần. 39.Báo ứng: giả lại xứng đáng những việc mình làm. Theo thuyết nhà Phật: làm điều thiện thì gặp thiện, làm điều ác thì gặp ác, đó là lẽ báo ứng. Rất ưng: rất phải, rất đúng. 40.Mộ phần: mồ mã, cũng như phần một. 41.Hài cốt: xương người chết. Tiểu đồng đi khuyên giáo được một số tiền, định thuê người đưa hài cốt chủ (người chết mà tiểu đồng nhận nhầm là Vân Tiên) về chôn ở quê nhà. 42.Thiềng: do tiắng "thành" đọc chệch. 43.Bài vị: mảnh gỗ hay giấy có đề tên tuổi người chết để thờ cúng. 44.Từ ngằn: từ độ ấy đến nay. 45.Bổn quan: bản quan, cũng như bản chức, tiếng tự xưng hô của người làm quan thời trước. ở đây là tiếng của tiểu đồng xưng Vân Tiên. 46.Tuần du: đi chơi để xem xét. Chữ "tuần" nguyên trước chỉ nghĩa là đi mà xem xét, như nói "tuần du" "tuần thú" (sự đi xem xét các nước chư hầu của thiên tử thời xưa), sau lại dùng thêm nghĩa: đi qua lại mà xem xét, như nói "tuần tiễu" (về quân sự), "tuần cảnh" (về cảnh sát). 47.Hồng nhan: sắc đẹp. 48.Ðổ thừa Võ công: đổ cả việc hãm hại Vân Tiên cho Võ công. 49.Ra phòng rước duyên: phòng là chờ, hòng, nói Thể Loan trang điểm xong, ra nơi lộ trình của Vân Tiên để hòng đón rước mối duyên. 50.Biêu: do chữ "tiêu" là nêu đọc chệch đi. Có bản chép là "bêu", cũng do chữ "tiêu" mà ra, nhưng tác giả dùng tiếng miền Nam với nghĩa tốt của nó (nêu), chứ không dùng theo nghĩa xấu (bày ra một cách nhơ nhuốc) ở miền Bắc, như nói: bêu đầu, bêu xấu, bán bêu. 51.Huỳnh tuyền: hoàng tuyền (xem chú thích ở câu 1206) 52.Bưng bát nước đầy, Ðổ ngay...: nói tình duyên đã dứt, không thể nối lại, cũng như bát nước đã đổ xuống đất, không thể hốt lại đầy được nữa. Dùng tích vợ Chu Mãi Thần (xem chú thích ở câu 416). 53.Oan gia: xem chú thích ở câu 1069. Vân Tiên cho việc mình bị nhà Võ công hãm hại là cái nợ oan gia, nên bảo rằng: oan gia nợ ấy tôi đã giả xong rồi, sao lại còn tới đòi hỏi? 54.Ca ca: anh (chữ này ta thường đọc là kha, nhưng chính âm là ca). Chịu đi: ưng thuận đi. 55.Tẩu tẩu: chỉ Nguyệt Nga. Hớn Minh và Tử Trực bảo Vân Tiên sao không ưng thuận, cho Thạ Loan về để xách giày cho Nguyệt Nga. 56.Thương-tòng: cái hang mà Võ công đã bỏ Vân Tiên trước đây 57.Quả báo: tiếng nhà Phật, chỉ cái kết quả đền lại, giả lại nhưng việc mình đã làm (nói chung cả việc thiện lẫn việc ác) 58.Xấu còn bia danh: tiếng xấu còn lưu lại như tạc bia, để cho người đời chê cười mỉa mai 59.Sáu lễ: sáu lễ trong việc cưới xin thời xưa, tức: nạp thái (đưa lễ kén chọn), vấn danh (hỏi tên tuổi), nạp cát (đưa điềm tốt), nạp trương (đưa sính lễ), thỉnh kỳ (xin ngày cưới), thân nghinh (đón dâu). 60.Gót lân: do chữ Hán "lân chi" là chân con kỳ lân, một loài thú tượng trưng cho đức tính nhân hậu (người xưa bảo con kỳ lân không dẫm chân lên các sinh vật bé nhỏ và làn cỏ xanh tươi). Thơ "Lân chi" ở Kinh thi khen ngơi con cháu và họ hàng của Văn vương (vua tổ nhà Chu) là nhưng người sang cả mà có đức tốt, nhân lấy con lân ví với cha mẹ (Văn vương) và chân của nó ví với con cái. Do đó, người ta gọi người con hiền, con quí là "lân chi". Ðây nói Vân Tiên lại sinh được con hay, lập nên công danh, nối dõi nghiệp cha lâu dài.
Nguyễn Đình Chiểu
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét