Thi ca bình dân Việt Nam 3
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN
1. Ai ăn cau cưới thì đền,
Tuổi em còn bé, chưa nên lấy chồng.
2. Ai ơi ! đừng lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Ngày thì cắp sách đi rong,
Tối về lại giữ đèn chong một
mình.
3. Ai chồng, ai vợ mặc ai,
Bao giờ ra bảng, ra bài sẽ hay.
Bao giờ tiền cưới trao tay,
Tiền cheo rấp nước, mới hay vợ chồng.
4. Anh khôn nhưng vợ anh đần,
Lấy ai lo liệu xa gần cho anh.
5. Anh cũng đã hay :
Tôi ngay phò chúa thánh,
Gái chẳng lấy hai chồng,
Biết em buông mối chỉ hồng,
Tiếc anh đi chậm nên đứng ngoài
phòng bơ vơ.
6. Anh về thắt rế kim cang,
Vót đôi đũa bếp cưới nàng còn dư.
Anh về bán ruộng cây đa,
Bán đôi trâu già chẳng cưới đặng
em.
Ruộng cây đa anh cấp phần hương
quả,
Đôi trâu già ta chả bán chi,
Anh về xách áo ra đi,
Bán rồi mới cưới nữ nhi chốn nầy.
7. Ăn mày nơi cả thế,
Làm rể nơi nhiều con.
8. Ăn xin cho đáng ăn xin,
Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ
dưa.
9. Ăn đong cho đáng ăn đong,
Lấy chồng cho đáng tấm chồng hẳn
hoi.
10. Ăn đua cho đáng ăn đua,
Lấy chồng cho đáng việc vua, việc
làng.
11. Ăn cam ngồi gốc cây cam,
Lấy anh thì lấy về Nam không về.
12. Ấu với sen trồng lộn một
bồn
Hai đứa mình chồng vợ, ai đồn mặc
ai.
13. Ba bốn nơi đến nói không
màng,
Chờ cho chết vợ, sẵn sàng qui mô.
14. Ba năm ở với người đần,
Chẳng bằng một lúc ghé gần người
khôn.
15. Ba vợ bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng
chổi.
16. Bảo cho những khách má hồng,
Thà hầu quân tử, còn hơn chồng ngốc
ngu.
17. Bắc thang thử hỏi trăng
già,
Phải rằng phận gái mưa sa giữa trời.
18. Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông Nguyệt-lão đánh mười cẳng
tay.
Đánh thôi, lại trói vào đây,
Hỏi ông Nguyệt-lão nào dây tơ hồng
?
19. Bắc cầu cho kiến leo
qua,
Cho con ông xã tới nhà mà chơi.
20. Bố mẹ là vớ cọc chèo,
Mẹ vợ là bèo trôi sông,
Chàng rể là ông Ba-vì.
21. Bố chồng là lông con lợn,
Mẹ chồng là trợn mắt lên,
Nàng dâu mới về là bà hoàng hậu.
22. Bốn màu bông cúc nở xây,
Để coi trời khiến duyên nầy về
ai.
23. Buồn chẳng muốn nói, gọi
chẳng muốn trông,
Tưởng sự lấy chồng tỉnh như con
sáo.
24. Cái cóc ăn trầu đỏ môi,
Có ai làm lẽ chồng tôi thì làm.
25. Cái cóc lặn lội bờ sông,
Muốn lấy vợ đẹp nhưng không có tiền.
26. Cái cóc lặn lội qua
ngòi,
Lấy sống lấy chết, ta ưng lấy
mình.
27. Căn duyên gặp gỡ giữa trời,
Ông tơ dìu dắt, ông trời khiến
nên.
28. Có trầu mà chẳng có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm.
29. Có phúc lấy được dâu hiền,
Vô duyên lấy phải dâu dại.
30. Có cưới mà chẳng có
cheo,
Nhân duyên trắc trở như kèo không
đanh.
31. Có con mà gả chồng gần,
Có bát canh cần nó cũng mang cho,
Hoài con mà gả chồng xa,
Một là mất giỗ, hai là mất con.
32. Có duyên lấy được chồng
già,
Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương.
33. Con gái có hai bến nước,
Bến đục thì chịu, bến trong thì
nhờ.
34. Con ơi chớ lấy vợ giàu,
Cơm ăn chê hẩm, cá kho bầu nó chê
tanh.
35. Con ơi gia cảnh mình
nghèo,
Ham chi vợ đẹp vợ giàu cho nó
khinh.
36. Con gái là con người ta,
Con dâu mới thực mẹ cha mua về.
37. Con cá đối nằm trong cối
đá,
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy
chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm bát nước bộ kỷ trà ai
bưng ?
38. Còn duyên kẻ đón người
đưa,
Hết duyên vắng ngắt như chùa bà
Đanh.
39. Còn duyên anh cưới ba
heo,
Hết duyên anh cưới con mèo cụt
đuôi.
40. Còn duyên như tượng tô
vàng,
Hết duyên như tổ ong tàn ngày
mưa.
41. Cô kia nước lọ cơm niêu,
Chồng con chả có, nằm liều nuôi
thân.
- Chồng con là cái nợ nần,
Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.
42. Cô thỉ cô thi,
Cô đang đương thì, cô kẹo với ai.
Cô tú kẽo kẹt cô cai,
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới
sông.
Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng,
Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một
nơi.
Mâm thịt kẽo với mâm xôi,
Thịt bùi xôi dẻo, kẽo nơi bà già.
Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa,
Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.
Nồi cơm kẽo với nồi canh,
Quả bí trên nhành kẽo với tôm he.
Bánh rán kẽo với nước chè,
Cô kia cò kè kẽo với anh đây.
Bà cốt kẽo với ông thầy,
Con chim loan phượng kẽo cây ngô
đồng.
43. Cơm trắng ăn với chả
chim,
Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà
no.
Cơm hẩm ăn với cà kho,
Chồng xấu, vợ xấu những lo mà gầy.
44. Của rẻ ấy là của tôi,
Lấy phải vợ dại khốn tôi trăm đường.
45. Củi mục lành đun,
Chồng đần dễ khiến, chồng khôn
khó chiều.
46. Củi tre dễ nấu, chồng xấu
dễ xài,
Ham chi bóng sắc, hành hài tấm
thân.
47. Cực chẳng đã mới gả cho
vua,
Gả cho vua thì thua nhiều nỗi.
48. Cực chẳng đã mới gả con
cho chệt,
Biết ngày nào hết mệt con tôi.
49. Cha mẹ đòi ăn cá thu,
Gả con xuống biển mù mù, tăm tăm.
50. Chẳng tham ruộng cả ao
sâu,
Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
51. Chẳng tham nhà ngói ba
tòa,
Tham về một nỗi mẹ cha hiền lành.
52. Chẳng tham nhà ngói bức
màn,
Trái duyên như thể một gian chuồng
gà.
Ba gia nhà rạ lòa xòa,
Phải duyên coi tựa chín tòa nhà
lim.
53. Chim khôn đậu nóc nhà
quan,
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm
chồng.
Chim khôn lót ổ lựa chỗ nhiều
nhành,
Gái như em kiếm chỗ trai lành gởi
thân.
54. Chim khôn lựa nhánh lựa
cành,
Gái khôn lựa chốn trai lành gởi
thân.
55. Chim manh manh bay quanh
vòng cỏ,
Qua với nàng hiểu rõ mấy năm,
Tình yêu vẫn giữ âm thầm,
Đợi quyền cha mẹ sắt cầm định
phân.
56. Chim đa đa đậu nhánh đa
đa,
Chồng gần không lấy mà lấy chồng
xa.
Một mai cha yếu mẹ già,
Bát cơm ai xới, kỷ trà ai bưng ?
57. Chốn ước mơ lất lơ mà hỏng,
Nơi tình cờ mà đóng nhân duyên.
58. Chồng thấp mà lấy vợ
cao,
Nồi tròn vung méo úp sao cho vừa.
59. Chồng già vợ trẻ là
tiên,
Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.
60. Chồng con là cái nợ nần,
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.
61. Chồng khôn thì nổi cơ đồ,
Chồng dại luống tốn công phu nhọc
mình.
62. Ví dầu chồng thấp vợ
cao,
Như đôi đũa lệch biết bao giờ bằng.
63. Chồng khôn vợ được đi
hài,
Vợ khôn chồng được nhiều bài cậy
trông.
64. Chồng lớn vợ bé thì
xinh,
Chồng bé vợ lớn ra tình chị em.
65. Chồng chèo thì vợ cũng
chèo,
Hai đàng đã nghèo lại đụng lấy
nhau.
66. Chồng rồi ! chồng rồi,
nghĩ rằng chị em đã có chồng rồi.
Sao em chửa có đứng ngồi vân vi,
Ới thầy mẹ ơi ! cấm đoán em chi,
Mười lăm, mười tám sao chưa cho
đi lấy chồng,
Ới ông Trời ơi ! Sao ông ở không
công,
Duyên em đã lỗi, em trách ông
Tơ-hồng
Sao ông khéo trêu ngươi,
Cứ đêm đêm tôi nằm, tôi vuốt bụng,
tôi gọi trời.
Xin ông thí bỏ cho tôi chút chồng.
Tôi về làm lễ tế ông,
Mổ con bò béo, ông cho tôi lấy được
anh chồng cho nó to.
Bõ công tôi mượn chú lái đi mổ
bò.
67. Chồng ta áo rách ta
thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc
người.
68. Chớ thấy duyên muộn mà
phiền,
Tuy rằng duyên muộn, có tiên đợi
chờ.
69. Chớ nghe quân tử nói
dòn,
Mà rồi có lúc ẵm con một mình.
70. Chớ chê em xấu em đen,
Em như nước đục đánh phèn lại
trong.
71. Chớ tham ngồi mũi thuyền
rồng,
Tuy rằng tốt đẹp nhưng chồng người
ta.
Chớ tham vóc lĩnh chiếu hoa,
Lấy chồng làm lẻ người ta giày
vò.
72. Chuồn chuồn có cánh thì
bay,
Kẻo thằng ỏng bụng bắt mày đem
chôn.
73. Chuồn chuồn có cánh thì
bay,
Kẻo thằng bé nhỏ thò tay bắt mày.
74. Chuồn chuồn mắc phải nhện
vương,
Đã trót quấn quít thì thương nhau
cùng.
75. Chửa chồng nón thúng
quai thao,
Chồng rồi nón rách, quai nào thì
quai.
Chửa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.
76. Dốc một lòng lấy chồng
hay chữ,
Để ra vào kinh sử mà nghe.
77. Dốc một lòng lấy chồng dốt
nát,
Để ra vào rửa bát nấu cơm.
78. Dù em lấy được chồng
khôn,
Như lọ vàng cốm đem chôn đầu giường.
79. Đã sanh làm phận nữ
nhân,
Nữ sanh ngoại tộc bỏ phần mẹ cha.
80. Đàn bà như hạt mưa sa,
Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài
đồng.
81. Đào tơ sen ngó xanh
xanh,
Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp
duyên.
82. Đắng khổ qua, chua là
chanh giấy,
Ngọt thứ mấy cũng tiếng cam sành.
Đôi ta duyên nợ không thành,
Cũng do Nguyệt-lão chỉ mành xe
lơi.
83. Đấy mây, đây cũng song
già,
Đấy quan Tổng-đốc, đây bà Quận-công.
84. Đèn chong phòng hạnh biếng
xem,
Phải chi trời định anh với em vợ
chồng.
85. Đêm đông trường, em nghe
con vượn cầm canh.
Nghe chim khuyên tổ, nghe anh
khuyên nàng.
Giàu giữa làng, trái duyên khôn
ép,
Khó nước người phải kiếp tìm đi,
Tiền trăm, bạc chục kể chi.
86. Đêm nằm nghĩ lại mà coi,
Lấy chồng đánh bạc như voi phá
nhà.
87. Đêm năm canh, năm vợ ngồi
hầu,
Vợ cả pha nước, têm trầu chàng
xơi,
Vợ hai trải chiếu chia bài,
Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà
trong.
Vợ tư trải chiếu quạt mùng,
Vợ năm thức dậy trong lòng xót
xa.
Chè thang, cháo đậu bưng ra,
Chàng xơi một bát kẻo mà công
lênh.
88. Đến đây thủ lễ nghiêng
mình,
Dầu không đặng vợ cũng tình mẹ
cha.
89. Đó trai đây cũng là
trai,
Mặc tình người nghĩa đành ai thì
đành.
90. Đôi ta lấm tấm hoa nhài,
Chồng đây, vợ đấy kém ai trên đời.
Muốn cho gần chợ ta chơi,
Gần xong tắm mát, gần nơi đi về.
91. Đôi ta là nợ, là tình,
Là duyên, là kiếp đôi mình kết
giao.
Em như hoa mận, hoa đào,
Cái gì là ngãi tương giao hỡi
nàng ?
92. Đôi ta như thể con bài,
Đã quyết thì đánh, đừng nài thấp
cao.
Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào thì
quen.
93. Đôi ta như lúa phơi màu,
Đẹp duyên thì lấy, tham giàu làm
chi.
Đường đi những lách cùng lau,
Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên
con,
Đường dài ngựa chạy biệt tăm,
Người thương có nghĩa mấy năm
cũng chờ.
94. Đồn rằng kẻ Lạng vui
thay,
Đi ba bốn ngày kể đã lắm công.
Bên dưới có sông, bên trên có chợ.
Anh lấy em về làm vợ nên chăng.
Tre già để gốc mọc măng.
- Em như cây quế trong rừng.
Thơm cay ai biết, ngát lừng ai
hay.
Anh như cây phướn Nhà Chay,
Em như chiếc đũa sánh bày sao
nên.
95. Đời xưa kén những con
dòng,
Đời nay ấm cật, no lòng thời
thôi.
96. Đường xa đi gấp lại gần,
Mẹ đi lấy vợ Thanh-thần cho tôi.
97. Em có chồng như ngựa đủ
yên,
Anh chưa có vợ như chiếc thuyền
nghiêng giữa vời.
98. Em ơi chớ khá bôn hành,
Duyên đâu nợ đó ai giành em lo.
99. Em về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo.
Đầu lợn lớn hơn đầu mèo,
Làng ăn không hết, làng treo cột
đình.
Ông xã đánh trống thình thình,
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.
100. Em về thưa mẹ cùng thầy,
Có cho anh cưới tháng nầy anh ra.
- Anh về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang
sêu,
Chắc như lời ấy không sai,
Tháng giêng đẵn gỗ, tháng hai làm
nhà.
Tháng ba ăn cưới đôi ta.
101. Em đây chỉ mến người
tài,
Đánh đông đông thắng, dẹp đoài
đoài tan.
102. Em về hỏi mẹ cùng thầy,
Có cho em lấy chồng xa hay đừng.
103. Gà khôn gà chẳng đá
lang,
Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái
đi.
104. Gái không chồng như
thuyền không lái,
Trai không vợ như ngựa không
cương.
105. Gái có chồng như gông
đeo cổ,
Trai có vợ như nhợ buộc chân.
106. Gái có chồng như rồng
có vây,
Gái không chồng như cối xay chết
ngõng.
107. Gái có con như bồ hòn
có rễ,
Gái không con như bè gỗ trôi
sông.
108. Gánh nặng mà đi đường
vòng,
Tuy rằng không gánh nhưng lòng
cũng thương.
Gánh nặng mà đi đường dài,
Để anh gánh đỡ một vai nên chồng.
- Gánh thì chị lại trả công,
Mặt em chả đáng là chồng chị đâu
!
109. Gập ghềnh hòn đá cheo
leo,
Biết đâu quân tử mà gieo mình
vào.
110. Giáp, Ất, Bính là tam bất
hạp,
Dần, Thân, Tị, Hợi tứ hành xung,
Khuyên anh hãy xét lại cùng,
Hiệp hôn giá thú em sợ trùng
không nên.
111. Giàu trong làng trái
duyên khôn ép,
Khó nước người phải kiếp cũng
theo.
112. Gió đưa gió đẩy, mây
mưa,
Gặp đâu hay đó kén lừa mà chi.
113. Giường lèo mà trải chiếu
mây,
Làm trai hai vợ như mây buộc
mình.
114. Hỏi vợ thì cưới liền
tay,
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.
115. Hỡi cô thắt giải lưng
xanh,
Ngày ngày thấp thoáng bên mành
trông ai ?
Trước cùng xe ngựa bời bời,
Bụi hồng mờ mịt ai người mắt
xanh.
116. Hỡi cô cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang
đây.
Sang đây anh nắm cổ tay,
Hỏi rằng duyên ấy tình nầy làm
sao ?
Cái gì là mận, là đào,
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi
nàng ?
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng.
117. Kể từ ngày tôi lấy anh,
Anh bảo tôi rằng : chẳng biết chữ
gì.
Tôi chỉ biết một tiếng « phán sì
» là củ khoai lang.
118. Kềnh nghê vui thú kềnh
nghê,
Cá tôm thì lại vui bề cá tôm.
119. Kiếm nơi cha thảo mẹ hiền,
Gửi thân khuya sớm, bạc tiền
không ham.
120. Khuyên anh đi lính cho
ngoan,
Cho dân được cậy, cho quan được
nhờ.
Bao giờ nên đội, nên cơ,
Thì em sẽ quyết đợi chờ cùng anh.
121. Làm trai chí ở cho bền,
Chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn
con.
122. Làm trai lấy vợ
Sơn-đông,
Thịt xôi chẳng có, tiền chồng như
non.
123. Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được món
ngon.
124. Lạy cha ba lạy một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm
hồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi ! nhớ bấy nhiêu lời.
125. Lâm chữ nghèo ít kẻ
vãng lai,
Không ai mà cậy làm mai nói nàng.
126. Lập đông gió lạnh như đồng,
Lạnh thì chịu lạnh, lấy chồng
cũng không.
Trai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng nuôi con,
Ơn vua xem trọng bằng non,
Ơn chồng như đức tổ tôn ghi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của
ngon.
127. Lấy chồng làm lẻ khỏi
lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
128. Lấy chồng cờ bạc là
tiên,
Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.
129. Lấy lính thì được ăn
lương,
Lấy thầy ăn óc, ăn xương gì thầy
?
Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh-binh, Thống-chế, Tam-dinh một
dòng.
130. Lên rừng hóa hổ, về đồng
nội hóa long.
Trời xui đất khiến hai đứa con
dòng gặp nhau.
131. Liệu cơm em gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng
đi.
Nữa mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng
thông.
132. Liệu bề đát đặng thì
đươn,
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm
hồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi ! nhớ bấy nhiêu lời.
125. Lâm chữ nghèo ít kẻ
vãng lai,
Không ai mà cậy làm mai nói nàng.
126. Lập đông gió lạnh như đồng,
Lạnh thì chịu lạnh, lấy chồng
cũng không.
Trai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng nuôi con,
Ơn vua xem trọng bằng non,
Ơn chồng như đức tổ tôn ghi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của
ngon.
127. Lấy chồng làm lẻ khỏi
lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
128. Lấy chồng cờ bạc là
tiên,
Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.
129. Lấy lính thì được ăn
lương,
Lấy thầy ăn óc, ăn xương gì thầy
?
Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh-binh, Thống-chế, Tam-dinh một
dòng.
130. Lên rừng hóa hổ, về đồng
nội hóa long.
Trời xui đất khiến hai đứa con
dòng gặp nhau.
131. Liệu cơm em gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng
đi.
Nữa mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng
thông.
132. Liệu bề đát đặng thì
đươn,
Đừng gầy mà bỏ thói thường cười
chê.
Muốn cho tốt rể tốt dâu,
Xin anh bỏ lễ trầu cau cho tròn.
133. Linh đinh một chiếc
thuyền tình,
Mười hai bến nước biết gởi mình về
đâu.
134. Linh đinh chiếc bách giữa
dòng,
Thương thân góa bụa phòng không lỡ
thì.
Gió đưa cây trúc ngã quì,
Ba năm trực tiết còn gì là xuân ?
135. Lọng vàng che nải chuối
xanh,
Tiếc con chim phượng đậu nhành
tre khô.
136. Lộc còn ẩn bóng cây
tùng,
Thuyền không đợi khách anh hùng
vãng lai.
137. Lửa nhen vừa mới bén trầm,
Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên
con.
138. Lựa được con dâu sâu
con mắt,
Mua heo lựa nái, mua gái chọn
dòng.
139. Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ,
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy
nhau.
140. Mấy năm trời qua tưởng
xa em,
Nào hay trời định em với anh cang
thường.
142. Mẹ già như chuối chín
cây,
Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu
cùng.
143. Mẹ cha chi rứa mẹ cha,
Nơi xa không gả, nơi xa đem vào.
144. Mẹ mong gả thiếp về giồng,
Ăn bông bí luộc, dưa hồng nấu
canh.
145. Mẹ sắm cho em cái yếm
nhất phẩm hồng,
Thắt lưng đũi tím, nhẫn đồng đeo
tay.
146. Mẹ em cấm đoán em chi,
Để em sắm sửa, em đi lấy chồng,
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng
đen.
147. Mẹ ơi con chẳng lấy
dân,
Dù xa dù gần lấy khách mà thôi.
Lấy khách được mặc áo đôi,
Được đi giày đỏ, được ngồi ghế
cao.
- Thà rằng ăn cá diếc chôi,
Chẳng thà lấy khách có đuôi trên
đầu.
148. Mình rằng : mình chỉ lấy
ta,
Ta đi xuống chợ mua gà xem chân.
Một chân xem cửa, xem nhà,
Một chân xem lứa bạn ta thế nào.
149. Một cành tre, năm bảy
cành tre,
Lấy ai thì lấy chớ nghe họ hàng.
150. Một cành dâu, năm bảy
cành dâu,
Bên tài, bên sắc lấy nhau cũng vừa.
151. Một ngày đứng mũi thuyền
rồng,
Còn hơn chín tháng ở trong thuyền
chài.
152. Một là em lấy chồng
quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng
dân.
Nhưng em không chịu lấy thằng đần,
Về nhà cha mẹ chửi, ra đường
chúng bạn khinh.
153. Một trăng là mấy Cuội
ngồi,
Một gương Tư-mã mấy người soi
chung ?
Một đôi cho đáng một đôi,
Anh thì sứt mũi, chị tôi lẹm cằm.
154. Một năm chưa dễ máy
xuân,
Gái kia chưa dễ mấy lần đưa dâu.
Chẳng tham ruộng cả, ao sâu,
Tham về anh tú lắm râu mà hiền.
Chẳng tham ruộng cả, ao liền,
Tham về cái bút cái nghiên anh đồ.
155. Một đời được mấy anh
hùng,
Một nước được mấy đức ông trị vì.
Anh đừng cợt ghẹo em chi,
Em đang chắp chỉ chọn ngày cải
hoa.
Tin lên Thiên-thượng, Hằng-nga,
Cậy ông Nguyệt-lão với bà
Tơ-vương.
Chăn loan, gối phượng sẵn sàng,
Màn đào rủ dọc, lầu hồng dãi
ngang.
Còn đang chọn đá thử vàng,
Ngọc lành ai quảy ra đàng bán
rao.
Quan quan bốn tiếng thư cưu,
Mong người quân tử hảo cầu kết
duyên.
Phấn son cho phỉ tấm nguyền,
Anh hùng sánh với thuyền quyên mới
tình.
Phạt-kha thơ ấy rành rành,
Phỉ-môi bất đắc xin anh liệu tường.
156. Một mình lo bảy, lo ba.
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên.
157. Một vũng nước trong năm
bảy dòng nước đục,
Một trăm người tục một chục người
thanh.
Biết đâu nhơn đạo hiền lành,
Trao thân gởi phận mới đành dạ
em.
158. Mua cau chọn những buồng
sai,
Mua trầu chọn những trăm hai lá
vàng.
Cau tiện ngang, trầu vàng ngắt ngọn,
Thời buổi nầy kén chọn làm chi,
Sao em chẳng lấy chồng đi.
159. Mua cá thì phải coi
mang,
Mua bầu xem cuống mới toan không
nhầm.
160. Mua cam thì chọn lấy
cam,
Lấy chồng thì chọn trưởng nam cho
giàu.
161. Muôn nghìn chớ lấy kẻ
La,
Cái tương thì thối, cái cà thì
thâm.
162. Muốn cho no vợ đủ chồng,
Để mà kết tóc trông mong ở đời.
163. Muốn cho gần bến gần
thuyền,
Gần bác, gần mẹ, nhân duyên cũng
gần.
164. Mưa lâm râm ướt đầm lá
hẹ,
Tôi thương một người có mẹ, có
cha.
165. Mười giờ ông Chánh về
tây,
Cô ba ở lại lấy thầy Thông-ngôn.
- Thông-ngôn, ký lục bạc chục
không thèm màng,
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ
tay.
166. Nay mừng anh chị tốt
đôi,
Mong cho có cháu để tôi cho vòng.
167. Năm voi anh đúc năm
chuông,
Năm cô anh đóng năm giường bình
phong.
Còn một cô bé chửa chồng,
Lại đây anh kén cho bằng lòng cô.
Một là ông Cống, ông Đồ,
Hai là ông Bát, ông Cửu, ông Đô
cũng vừa.
Giả ơn bà Nguyệt, ông Tơ,
Sớm đi cầu Thước, tối mơ mộng
hùng.
Cho mau cửa lại treo cung,
Để cho cô bế, cô bồng, cô ru.
Cô ru rằng :
Con lẫy, con bò, con chững, con
đi.
Ngày sau con cả lớn khôn,
Con học, con thi, nhảy ba tầng
sóng kinh kỳ khai nhan.
168. Nắm tóc ngôi, tóc ngôi
dài,
Nắm tóc mai, tóc mai cụt.
Cầu trời, khẩn bụt cho tóc mai
dài.
Bao giờ tóc chấm ngang vai,
Thì ta kết ngãi làm hai vợ chồng.
169. Nuôi con những tưởng về
sau,
Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải
nơi.
Mực đen vô giấy khó chùi,
Vợ chồng chồng vợ việc đời trăm
năm.
170. Nuôi lợn thì phải vớt
bèo,
Lấy chồng thì phải nộp cheo cho
làng.
171. Nước đứng mà đựng chậu
thau,
Cái mâm chữ triện đựng rau thài
lài.
Tiếc thay con người da trắng tóc
dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu,
Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu nặng
mình.
172. Nước lên cuốn sáo nhổ
đăng,
Trong tay em có ngọc cũng không bằng
có anh.
173. Nước trong veo, bao giờ
có cá,
Nàng lỡ thời tại má với cha.
Kén sui kén rể lọc lừa,
Nên em hiu quạnh cũng vừa phần
duyên.
174. Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế nầy.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước
ao.
175. Nghìn muôn chớ lấy học
trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
- Hay nằm thì có võng đào,
Dài lưng thì có áo trào nhà Vua.
Hay ăn thì có thóc kho,
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm.
176. Người ta câu bể, câu
sông,
Tôi đây câu lấy con ông cháu bà.
Có chồng thời nhả mồi ra,
Không chồng em cắn em tha lấy mồi.
177. Người ta lên núi thì
vui,
Sao tôi lên núi những chui cùng
trèo.
Gập ghềnh hòn đá cheo leo,
Biết đâu quân tử mà gieo mình
vào.
178. Người ta chọn cá nấu
canh,
Em đây chỉ chọn một anh tượng đồng.
179. Nhà ta ba bốn chị em,
Mẹ ta còn thèm một chú rể xa.
Ta về ta bảo mẹ ta,
Rể gần cho ruộng, rể xa cho tiền.
180. Nhà tôi có dãy vườn hoa,
Có ba dãy nhãn, có ba dãy vườn,
Dù anh đi sớm về trưa,
Sao anh chẳng nghĩ dãy dừa nhà
tôi.
Sao anh chẳng đứng, chẳng ngồi,
Hay là anh phải duyên ai anh buồn.
Anh buồn anh lại đi buôn,
Còn tiền lấy vợ anh buồn làm chi
?
181. Như anh có muốn gần em,
Mâm trầu hũ rượu khá đem tới nhà.
182. Ở đời ba bảy đường chồng,
Miễn sao chọn được một lòng là
hơn.
183. Phải duyên hương lửa
cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.
184. Phải duyên Hồ-Việt cũng
gần,
Trái duyên Tần Tấn dẫu gần cũng
xa.
185. Phải duyên áo rách cũng
màng,
Chẳng phải duyên, áo nhiễu nút
vàng không ham.
186. Phải chi anh chưa vợ,
Hãy còn nợ còn duyên,
Em cũng cậy yên như thuyền cậy
lái.
Ai ngờ phận gái như lái nghịch
chèo.
Thôi anh phải giữ lấy lèo,
Đừng ham thả lỏng hiểm nghèo có
khi.
187. Phận gái bến nước mười
hai,
Gặp nơi trong đục may ai nấy nhờ.
188. Phụ mẫu em không có con
trai,
Kiếm nơi rể thảo một mai phượng
thờ.
Không con trai thời có cháu trai,
Phận anh là rể đứng ngoài ngó vô.
189. Quyết lòng chờ đợi trò
thi,
Dầu ba mươi tuổi lỡ thì cũng ưng.
190. Rồi đây ta kiện ông Tơ,
Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi
nào.
191. Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy chọn đừng chờ uổng
công.
192. Rượu lưu ly chân quì
tay rót,
Cha mẹ uống rồi, dời gót theo
anh.
193. Rượu hồng đào trút nhào
vô nhạo,
Kiếm nơi nào nhơn đạo hơn anh.
194. Sáng trăng suông, sáng
cả bờ sông,
Ta được cô ấy, ta bồng ta chơi.
Ta bồng, ta tếch lên trời,
Hỏi ông Nguyệt-lão tốt đôi chăng
là ?
195. Sông sâu nước đục lờ đờ,
Cắm sào mà đợi bao giờ cho trong.
196. Sông sâu cá lội biệt
tăm,
Chín tháng cũng đợi, mười năm
cũng chờ.
197. Sông bao nhiêu nước
cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng
lòng.
198. Sông sâu lối hiểm như vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh,
Đào tơ sen ngó xanh xanh,
Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp
duyên.
Cho hay tiên lại kiếm tiên,
Phượng hoàng chẳng chịu đứng chen
đàn gà.
199. Sông sâu cá lặn vào bờ,
Lấy ai thì lấy đợi chờ nhau chi.
200. Sông dài cá lội biệt
tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng
chờ.
201. Sớm mai đi chợ Gò-vấp,
Mua một xấp vải,
Đem về con hai nó cắt,
Con ba nó may,
Con tư nó đột,
Con năm nó viền,
Con sáu đơm nút,
Con bảy vắt khuy,
Anh bước cẳng ra đi,
Con tám níu, con chín trì,
Ớ mười ơi, sao em để vậy còn gì
áo anh ?
202. Tài trai lấy năm, lấy bảy,
Gái chín chuyên chỉ lấy một chồng.
203. Tại chim điểu nó biểu
chim quỳnh,
Biểu to, biểu nhỏ, biểu mình
thương tui.
204. Tay cầm nhành dứa, lụy ứa
đôi hàng,
Thuở xuân xanh không gặp để hoa
tàn gặp em.
205. Tiếc thay cây quế giữa
rừng,
Để cho thằng Mán thằng Mường nó
leo.
206. Tiếc thay hột gạo trắng
ngần,
Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm.
207.Tình thương quán cũng như
nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói
xây.
208. Tốt số lấy được chồng
chung,
Lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi
may.
209.Thà rằng làm lẽ thứ mười,
Còn hơn chánh thất những người đần
ngu.
210. Thắp hương vái với ông
bà,
Đôi ta kết ngãi đến già an cư.
211. Thân em chẳng đáng mấy
tiền,
Vì tình em nặng, mấy nghìn cũng
mua.
212. Thân em như hạt mưa
rào,
Hạt sa bãi cát, hạt vào vườn hoa.
Thân em như hạt mưa sa.
Hạt vào đồng nội, hạt ra vũng lầy.
213. Thẩn thơ đứng gốc mai
già,
Hỏi thăm ông Nguyệt có nhà hay
không ?
214. Thấy anh em cũng muốn
theo,
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.
Lấy anh em biết ăn gì,
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.
215. Thôi đừng lấy chú biện
tuần,
Tuy lòng bóng bẩy, nợ nần chứa
chan.
Thà rằng lấy chú xẩm xoan,
Công nợ chẳng có, hát dàn cung
mây.
216. Thờ cha kính mẹ đã
đành,
Theo đôi, theo lối mới thành thất
gia.
217. Thuyền em lựa bến cắm
sào,
Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ
hay.
218. Thứ nhất cung voi ra
na,
Thứ nhì đất đỏ, thứ ba khoa
tràng,
Rủ nhau lên núi đốt than.
Anh trèo Tam-điệp em mang nón
giành.
Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Lấy anh thì lấy, về Thanh không về.
219. Trai có tài nào lo ế vợ,
Gái có sắc nào sợ ế chồng,
Xin em giữ phận cho đồng,
Tình duyên dầu đứt, em chẳng hề
nhớ thương.
220. Trai tứ chiếng, gái
giang hồ,
Gặp nhau ta nổi cơ đồ từ đây.
221. Trai làm nên năm thê, bảy
thiếp,
Gái làm nên thủ tiết thờ chồng.
222. Trai chê vợ, mất của
tay không,
Gái chê chồng, một đồng thành bốn.
223. Trai giỏi giắn dễ lo ế
vợ,
Gái lịch xinh chẳng sợ ế chồng.
Khuyên em giữ phận cho đồng,
Chọn nơi phải đạo chỉ hồng sẽ xe.
224. Trai anh hùng gái thuyền
quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên
cỡi rồng.
225. Trai anh hùng gái thuyền
quyên,
Ví như Lữ-Bố Điêu-Thuyền gặp
nhau.
226. Trai làng ở góa còn
đông,
Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư.
- Ngụ cư có thóc cho vay,
Có lụa bán đầy, em lấy ngụ cư.
227. Trăm năm trăm tuổi may
rủi một chồng,
Dù ai thêu phượng vẽ rồng đừng
ham.
228. Trăm năm tính cuộc
vuông tròn,
Phải dò cho hết ngọn ngành lạch
sông.
229. Trăm năm xe sợi chỉ hồng,
Bắt người tài sắc buộc trong
khuôn trời.
Bao giờ tài sắc có lời,
Thì ta lại cỡi khuôn trời cho ra.
230. Trăm năm, trăm tuổi,
trăm chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng trên tay.
Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng,
Đẹp duyên thì lấy chẳng ông tơ hồng
nào xe.
231. Trắng như bông lòng anh
không chuộng,
Đen tợ than hồng lòng muốn dạ
ưng.
232. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ khi nào có con.
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không
buồng.
Cau không buồng ra tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi.
233. Trầu vàng ăn với cau
sâu,
Lấy chồng thua bạn thêm sầu mà
hư.
234. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không
buồng.
Cau không buồng như tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi.
Người ta đi bốn về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một mình.
235. Trầu vàng còn để trong
cơi,
Anh kia đũa móc chớ chòi mâm son.
Trầu vàng đâu ở mãi trong cơi,
Sợ mai trầu héo, trầu ơi là trầu
!
236. Trầu đà có đây, cau đã
có đây.
Nhân duyên chửa định trầu nầy ai
ăn.
Trầu này, trầu túi, trầu khăn,
Cùng trầu giải yếm, anh ăn trầu
nào ?
237. Trèo lên Ba-dội tôi
coi,
Bốn dội tôi ngồi, năm dội tôi
trông.
Nồi đồng lại úp vung đồng,
Con gái xứ Huế lấy chồng Đồng-nai,
Giậm chân xuống đất kêu trời,
Lấy chồng trong Quảng biết đời
nào ra.
238. Trên trời băm sáu vì
sao,
Vì thấp là vợ vì cao là chồng.
Cô kia gái lớn ngồng ngồng ?
Hỏi thăm cô đã có chồng hay chưa
?
239. Trên rừng băm sáu thứ
chim,
Thiếu gì chim phượng đi tìm quạ
khoang.
Quạ khoang có của có công,
Tuy rằng chim phượng nhưng không
có gì ?
240. Trong làng bà tú, bà
cai,
Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng.
241. Tròng trành như nón
không quai,
Như thuyền không lái, như ai
không chồng.
Gái có chồng như gông đeo vào cổ,
Trai không vợ như phản gỗ long
đanh.
Gái không chồng chạy ngược chạy
xuôi.
Không chồng khổ lắm chị em ơi !
242. Trời mưa nước chảy qua
sân,
Em lấy chồng ông lão qua lần thì
thôi.
Bao giờ ông lão chầu trời,
Thì em lại kiếm một người trai
tơ.
243. Ước gì cho Bắc họp
Đông,
Cho chim loan phượng ngô đồng
sánh đôi.
244. Vái trời cưới được cô
năm,
Làm chay bảy ngọ mười lăm ông thầy.
245. Vái ông tơ một dĩa bánh
bò bông,
Cùng bà Nguyệt-lão gắng công xe
giùm.
246. Vắn tay vói chẳng tới
kèo,
Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng
em.
247. Vì dây thiên lý ngang
trời,
Để cho tài tử gặp người giai
nhân.
248. Ví dầu nhà dột cột
xiêu,
Anh đi cưới vợ phải chiều ông
mai.
249. Vô duyên mới lấy chồng
khòm,
Mai sau nó chết cái hòm khum
khum.
250. Vừa đi, vừa gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời
xoay đất vần.
251. Vườn em đã có choẻn
cau,
Nhà anh có chiếc cơi son đợi chờ.
Anh về thưa mẹ với thầy,
Anh sang làm rể tết nầy là xong.
252. Xấu tre uốn chẳng nên cần,
Xấu mai nên chẳng đặng gần với
em.
253. Xấu dao xắt chẳng mỏng
gừng,
Xấu người mai chước lỡ chừng đôi
ta.
254. Xưa nay những bạn má hồng,
Thà hầu quân tử hơn chồng đần
ngu.
c) TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG
CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜI
Trước đây, chúng ta đã xác định sự
luyến ái là tính chất con người, mà quan niệm hôn nhân là bước đường cá nhân từ
con người đi vào xã hội. Ngược lại, xã hội cũng ảnh hưởng vào đời sống con người
trước nhất từ quan niệm hôn nhân, tức là ý thức cấu tạo gia đình, lần lần đưa
con người vào nhịp sống hòa hợp trong guồng máy tập thể.
Tuy nhiên, quan niệm hôn nhân
cũng chỉ mới là phần ý thức, chịu ảnh hưởng sự phân hóa giữa con người và xã hội
chứ chưa phải là phần thực trạng của sự phân hóa ấy. Phần thực trạng của sự
phân hóa chính là cuộc đời.
Vậy cuộc đời là gì ?
Nói một cách vắn tắt thì nó là trạng
thái mâu thuẫn giữa con người với con người trong tâm tư cũng như ngoài hành động.
Sự mâu thuẫn ấy chằn chịt muôn mặt, và phát sinh đủ mọi biến thái. Nhưng, nếu
chúng ta truy nguyên thì nguồn gốc phát sinh vẫn là sự mâu thuẫn giữa con người
và cuộc sống.
Vậy, tại sao con người lại phải
mâu thuẫn với cuộc sống con người ? Muốn phân định điều này, chúng ta phải bước
vào lãnh vực triết học. Ở đây, vì là quyển sách khảo cứu văn học, không cho
phép chúng ta vượt quá xa trong phạm vi tham luận. Nhưng nếu chúng ta buông lửng
vấn đề thì chúng ta phải gặp trở ngại khi khảo sát đến tâm tư con người và mọi
hiện tượng của sinh hoạt con người trong lẽ sống. Để có một ý niệm làm căn bản
cho chiều hướng suy cứu, chúng ta thử đặt ở đây một khái niệm tổng quát.
Xưa nay, không phải chỉ những nhà
triết học mới quan niệm con người là thân phận bi đát, mà chính những người
bình dân sống trong đồng không mông quạnh, bên lũy tre xanh, bên dòng suối bạc,
vẫn thấy đời người là một kiếp sống khổ cực về thể xác mà cả đến tâm hồn, chẳng
bao giờ được thỏa mãn. Sở dĩ họ cảm thấy như vậy là vì từ lúc họ sinh ra cho đến
lúc họ chết đi, lúc nào những ưu tư cũng đè nặng trên tâm hồn họ, mà trước mặt
họ, đối với mọi người cũng thế, ngoài những cảnh giành giựt nhau để mà sống, cướp
đoạt nhau để mà thụ hưởng thì chẳng có gì là cao đẹp. Thế thì họ bảo thân phận
con người là bi đát, cuộc đời là bể khổ tưởng không phải vô lý.
Tuy nhiên, đó là họ đứng trong
con người mà nhìn xã hội con người. Nếu họ bước ra ngoài phạm vi con người, và
đừng đặt con người trước vũ trụ, mà đặt con người trong vũ trụ thì họ sẽ thấy
chẳng phải chỉ có cuộc sống con người là bi đát, mà tất cả muôn loài, vạn vật đều
chịu chung ảnh hưởng của vũ trụ. Vũ trụ là một hiện tượng mâu thuẫn, trong đó
bao gồm con người và sinh hoạt của con người. Con người không thể đặt mình ra
ngoài vũ trụ, thì sự mâu thuẫn giữa con người và xã hội con người là việc tất yếu.
Sở dĩ chúng ta cảm thấy đau khổ chỉ vì chúng ta là con người, một sinh vật có
tâm tư.
Tiếng nói đau khổ của tâm tư tràn
ra mọi lãnh vực trong cuộc sống, nối tiếp thành một vòng lịch sử tâm tư của
nhân loại. Tuy nhiên, nếu trở về với căn nguyên thì cũng chỉ là sự mâu thuẫn
trên hai dòng lịch sử con người và xã hội con người.
Nguồn gốc mâu thuẫn trong tâm tư
con người đi vào xã hội khởi đầu từ luyến ái đến hôn nhân, rồi từ hôn nhân biến
thành những thực trạng xã hội tức là cuộc đời.
Trong phần này chúng ta khảo sát
tính chất hờn dỗi, ghen tương của con người bình dân thời xưa tức là chúng ta mổ
xẻ những mâu thuẫn căn bản trong tâm tư con người khi bước vào thực trạng của lẽ
sống.
Hờn dỗi, ghen tương là trạng thái
phản ứng đầu tiên để đi dần đến bất mãn và hành động, nó phát xuất từ ý thức tự
ái, tự kỷ.
Nhưng thế nào là tự ái, tự kỷ.
Con người cũng như mọi sinh vật
khác đều ảnh hưởng vào qui luật tất yếu là mỗi cá thể đều vươn lên để tranh đấu
tự tồn.
Con muỗi, con kiến, con ong đốt
chúng ta không phải vì thù oán, mà chính vì quy luật tranh đấu tự tồn. Chúng ta
thương một người nào, hoặc ghét một người nào cũng không phải tự nhiên mà có,
nó phát xuất ở bản tính thiên nhiên, tức là sự mong muốn đi tìm một sức sống.
Chúng ta không thể vui với một
mùa đông gió mưa tầm tã, cũng như không thể không cảm hứng trước một cảnh đẹp
huy hoàng. Bản chất tự ái, tự kỷ gắn liền với ngoại cảnh, với mọi sinh hoạt
chung quanh ta. Những sinh hoạt ấy ảnh hưởng vào tâm hồn chúng ta
không phải ít. Tuy nhiên, chúng ta lại thấy có những ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp.
Trong lãnh vực hôn nhân và luyến
ái cũng vậy, bản chất ghen tương hờn dỗi luôn luôn là những trạng thái bênh vực
lẽ sống của cá nhân mình, của tâm tư mình, mà mỗi cá nhân, mỗi tâm tư khi đã bị
đời sống xã hội chi phối thì trở thành cách biệt và tương phản.
Chúng ta cầm một đồng bạc cho người
ăn mày, đừng tưởng chúng ta thương người ăn mày ấy, mà chính chúng ta đã tự
thương mình. Bởi vì tình thương chúng ta đối với người ăn mày phát xuất trước
tiên bằng một cảm giác so sánh. Chúng ta nhìn người ăn mày, chúng ta nghĩ đến
thân mình, tuy rằng cảm giác so sánh ấy biểu hiện không rõ rệt trong đầu óc
chúng ta do một thói quen về cử chỉ từ thiện.
Và, mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi
cảm giác của chúng ta hằng ngày không bao giờ thoát ra ngoài bản chất tự ái, tự
kỷ của con người được. Bản chất ấy cũng là bản chất thương, ghét, giận, hờn của
chúng ta.
Từ ngàn xưa, tiền nhân chúng ta
tuy không biện bạch, nhưng cũng đã quan niệm một cách xác đáng tính chất căn bản
của tình cảm con người trong những câu ca dao :
Ớt nào mà ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vôi nào mà vôi chẳng nồng,
Gái nào là gái có chồng không
ghen ?
Tại sao đàn bà lại phải ghen chồng
? Tại sao tâm trạng người đàn bà lại giống nhau một cách cố định trong lãnh vực
này ?
Thực ra, nếu chúng ta tìm được
căn bản mâu thuẫn của tâm tư con người bắt đầu đi vào đời bằng quan niệm hôn
nhân thì chúng ta không lấy gì làm lạ trước trạng thái cố định ấy.
Ghen là gì ? Phải chăng là cảm
giác bất mãn trên con đường từ luyến ái đến hôn nhân ? Sở dĩ đàn bà ai cũng phải
ghen chồng là vì họ đều là con người. Căn bản của con người không khác gì cả.
Căn bản ấy va chạm với cuộc sống trở thành một hiện tượng mâu thuẫn, con người
vẫn giống nhau, tức là ai cũng yêu và ghen.
Ghen mới chỉ là cảm giác chứ chưa
phát lộ ra tâm tư. Cũng như mâu thuẫn chỉ mới là trạng thái tự nhiên của lẽ sống
chứ chưa phát lộ ngoài sinh hoạt. Từ cảm giác đi đến tâm tư, từ trạng thái mâu
thuẫn tự nhiên phát lộ ra sinh hoạt xã hội, thì đó mới là bộ mặt của cuộc đời.
Cho nên tính chất con người thì
ai cũng giống nhau, nhưng tính chất cuộc đời thì không một ai giống nhau. Bởi
vì khi con người đã hòa vào cuộc sống, tính chất con người bị chi phối rất nhiều
mặt, do đó, đứng vào quan điểm xã hội nhìn con người thì giữa con người rất
khác biệt.
Cũng như chúng ta nhìn vào ý thức,
thì trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân không người đàn bà nào khỏi ghen chồng,
nhưng nếu nhìn vào tâm tư thì không có cái ghen của người đàn bà nào giống người
đàn bà nào cả.
Nhưng, người đàn ông và người đàn
bà vẫn là con người, tại sao chỉ có người đàn bà ghen chồng, còn người đàn ông
lại không ghen vợ ư ?
Không ai dám phủ nhận người đàn
ông không ghen vợ. Tình cảm con người vẫn là một, chỉ khác là ở lãnh vực tâm
tư. Người xưa sở dĩ không nói đến đàn ông ghen vợ là vì họ chỉ nhìn vào chiều
hướng tâm tư, tức là bộ mặt của cuộc đời trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái. Ở
lãnh vực này, sự ghen tương của người đàn bà biểu hiện một cách đặc biệt hơn, dễ
thấy hơn do tâm tư họ bị ràng buộc vào tổ chức của guồng máy xã hội phong kiến.
Ở đây, chúng ta khảo sát tính chất
ghen tương, hờn dỗi của người xưa, cũng chỉ khảo sát những tính chất đặt biệt ấy.
Bởi vì chỉ có sự diễn biến tâm tư con người trong cuộc sống mới là điều đáng
nói.
Tâm tư ! Lịch sử tinh thần của
nhân loại ! Nếu tách rời khỏi cuộc sống thì không còn xã hội loài người nữa.
Trong phạm vi hôn nhân và luyến ái, tâm tư con người đi từ ghen tương đến hờn dỗi,
và từ hờn dỗi biến thành nhiều trạng thái của tâm tư, khiến chúng ta không thể
nào ghi trọn vẹn được.
Hỡi bộ óc của loài người ! Ngày
nay chúng ta tự hào là có thể dùng nó để khám phá vũ trụ, nhưng thử hỏi bộ óc
loài người đã làm gì được những cái mà người xưa cho là khó khăn ?
Thì đây, tiền nhân chúng ta đã bảo
cho chúng ta biết :
Dò sông, dò biển dễ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người
!
Ngày nay chúng có những nhà bác học
đang cỡi phi thuyền vượt quả đất lên cung trăng, đang chui vào tiềm thủy đỉnh
du hành khắp đáy đại dương, nhưng thử hỏi các nhà bác học tài năng của thế hệ
chúng ta đã đo được lòng người chưa ? Lòng con người có bao nhiêu chiều sâu,
chiều rộng ?
Ôi ! khi nói đến cõi lòng con người,
nhà bác học của thế hệ chúng ta cũng phải mù tịt ! Bởi vì lòng người không thể
dùng cây thước để đo lường.
Nếu sự tiến bộ của khoa học chúng
ta ngày nay cảm thấy xấu hổ trước một câu nói thường nghiệm của người ngàn xưa,
thì chúng ta cũng chớ nên tự hào đối với bộ óc con người
Chúng ta hãy trở về với tiền
nhân, học hỏi ở tiền nhân trên con người. Tiền nhân chúng ta không ích kỷ, cũng
không tự phụ như chúng ta ngày nay đâu. Điều khó khăn ấy, tiền nhân đã bảo
chúng ta :
Thức đêm mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết ai ai bạc tình.
Lòng người không thể đo bằng cây
thước mà phải tìm hiểu bằng sự cọ xát giữa lòng người với lòng người qua thời
gian. Chỉ có lòng người mới đo lường được lòng người. Nói một cách khác, tâm tư
con người là một trạng thái biến ảo, mà chúng ta muốn hiểu nó, chúng ta phải
dùng tâm tư của chúng ta hòa nhịp với trạng thái biến ảo ấy, không thể đứng
khách quan bên ngoài mà nhận định nổi. Bởi vì tâm tư không còn là cảm giác mà
cũng chưa thành là ý thức. Tâm tư là cái vùng ảnh hưởng giữa cảm giác và ý thức.
Nó mênh mông và vô định. Đem cảm giác mà nói thì cảm giác chưa đạt đến vùng ảnh
hưởng của tâm tư, đem ý thức phân tích thì ý thức lại là sản phẩm của bộ óc, vượt
lên quá tầm ảnh hưởng của cảm giác đã bị chan hòa với lẽ sống. Cho nên chúng ta
chỉ hình dung nó với một hình bóng lờ mờ, mà người xưa gọi là cõi lòng.
Để cắt nghĩa thế nào là cõi lòng,
cổ nhân đã cho chúng ta thấy :
Khó than, khó thở, khó nỗi phân
trần,
Tóc không xe lại rối, ruột không
giần lại đau !
Đấy, hiện tượng của cõi lòng như
vậy. Các nhà bác học thời nay có thể dùng tài khoa học xác định hình bóng của
nó chăng ? Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một trong muôn nghìn hình tượng biến ảo,
mà tầm mắt chúng ta dù có mở rộng đến bực nào cũng chẳng thể thu thập hết.
Người xưa muốn tìm nó, không phải
một sớm một chiều mà nói lên được hiện trạng ấy. Chính họ đã phải xả thân vào
cuộc sống, đúc kết hình bóng của nó qua tâm tư bằng thời gian, không gian. Vậy,
cõi lòng con người cũng chính là kết tinh của thời gian, không gian !
Thực vậy, nếu thời gian và không
gian biến đổi thực chất của con người từ cảm giác qua tâm tư, thì thời gian
cũng chính là đối tượng của cõi lòng. Những ưu tư, những cảm nghĩ của cõi lòng
con người không thể vượt ra ngoài thời gian, không gian được.
Một mối sầu dằng dặc, chìm đắm
trong tâm tư người cô phụ, nếu không thai nghén trong thời gian, không gian làm
gì có những nhớ nhung, phiền muộn :
Nhớ ai em những khóc thầm,
Nằm thân áo vải ướt đầm như mưa !
Nhớ ai, ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?
Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn,
Hồ bưng lấy bát lại dằn xuống mâm
!
Chúng ta làm sao thông cảm được
những nỗi buồn bực nhớ mong ấy nếu không nhờ vào khoảng thời gian không gian của
cuộc đời chúng ta đúc kết trong tâm tư chúng ta một đau buồn tương tư. Vậy chỉ
có lấy đau buồn mà hiểu đau buồn, tức là lấy tâm tư đo lường, thông cảm với tâm
tư.
Một giải trăng suông trong đêm
trường cô tịch, nếu tâm hồn chúng ta suốt một thời gian chung đụng với cuộc sống
không có một lần vương mang mối buồn dưới ánh trăng ấy, thì cũng không thể nào
hiểu nỗi niềm tâm tư của cô gái sầu xuân :
Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn,
Thở than với bóng, giải phiền với
hoa.
Nhưng chúng ta đã thấy rõ tính chất
của tâm tư là một khoảng mung lung, biến ảo, thì chuyện trớ trêu của lòng người
là chuyện dĩ nhiên ! Lòng người trớ trêu để trạng thái tâm tư biến đổi, và trạng
thái tâm tư biến đổi để cho lòng người trớ trêu.
Thời xưa, tiền nhân đã đổ lệ khóc
cho lòng người. Dòng lệ ấy chảy dài đến thế hệ chúng ta mà vẫn chưa thôi. Ở
đây, chúng ta phải trở ngược về nguồn, nhìn lại những chỗ uẩn khúc của dòng tâm
tư, và chỉ có tâm tư chúng ta mới thông cảm một phần nào tâm tư của tiền nhân,
bởi vì chúng ta với tiền nhân tuy xa cách về thời gian, nhưng lại cùng chung một
dòng lịch sử.
*
Giữa một xã hội bình dân, điều kiện
kinh tế cho phép gái trai được gần gũi nhau, tự do luyến ái, lẽ ra tâm tư sầu
muộn của người xưa không sâu sắc lắm, tính chất ghen tương không đến nỗi đậm
đà, thế mà ngược lại, chúng ta vẫn thấy bao giờ cũng như bây giờ, bóng dáng con
người trong lĩnh vực tình ái vẫn luôn luôn khắc khoải ! Điều đó, có lẽ người
xưa cũng quan niệm như vậy, cho nên đã có ý tưởng :
Đã mang lấy cái thân tằm,
Không vương tơ nữa, cũng nằm
trong tơ !
Họ quan niệm tình ái như một yếu
tố hờn dỗi, khổ đau, mà tâm trạng của những người đang yêu bao giờ cũng không
tránh khỏi :
Ai làm cho dạ em buồn,
Cho con bướm lụy, chuồn chuồn lụy
theo.
Ai làm cho một cô gái buồn ! Tất
nhiên là một chàng trai rồi ! Nhưng trong lãnh vực luyến ái, tâm hồn con người
không bao giờ thấy mình được toại nguyện thì con gái cũng như con trai chưa hẳn
ai đã buồn hơn ai.
Nếu người con gái cảm thấy :
Đêm qua em có ngủ đâu,
Em ngồi nghe dế kêu sầu bên tai !
Thì người con trai có khác gì :
Đêm qua hết nhớ lại buồn,
Nhớ buồn nghe dế kêu sương bên
thành.
Những buồn tủi giữa tâm hồn gái
trai như một sự vừa giao cảm vừa mâu thuẫn. Giao cảm khi thấy trong tâm hồn
mình chất chứa niềm luyến ái, và mâu thuẫn khi thấy trong tình luyến ái ấy chất
chứa một sự bất mãn đối với tình yêu. Luyến ái càng tăng thì bất mãn càng nhiều.
Bởi vậy trạng thái ghen tương là một trạng thái mâu thuẫn tương quan, nghĩa là
vừa dung hợp vừa chống đối. Đó cũng chính là quy luật tự nhiên trong hiện tượng
vũ trụ theo triết lý Đông-phương.
Trước đây, chúng ta đã xác định
ghen tương là một tính chất tự ái tự kỷ, thì dù người đàn ông hay đàn bà khi đã
ghen, bao giờ cũng đứng vào tâm trạng ấy, xem đối tượng của tình yêu như là một
phản bội, và tự đặt mình vào thân phận bi đát của ái tình. Nếu họ cảm thấy :
Duyên sao cắc cớ lỡ làng,
Cầm gương gương tối, cầm vàng
vàng phai !
Thì chính họ đã đem đau đớn riêng
của tâm tư gắn vào ngoại cảnh, oán trách ngoại cảnh đã tàn nhẫn đối với thân phận
họ. Nhưng ngoại cảnh bao giờ cũng khách quan, chỉ vì tâm tư họ tự thấy mâu thuẫn
với khách quan mà họ đau khổ.
Một con bướm hút nhụy hoa, đó là
trạng thái tự nhiên của ngoại vật nhưng đối với một kẻ buồn khổ vì tình, khi
nhìn cành hoa và cánh bướm, tính chất của họ đi từ cảm giác đến tâm tư, và họ cảm
thấy đó là chuyện bất công, phi lý, và chính sự bất công, phi lý ấy đang đè nặng
trên thân phận. Họ oán trách :
Khá khen con bướm khôn ngoan,
Hoa tươi bướm đậu, hoa tàn bướm
bay !
Mang tâm trạng vị kỷ ấy, con người
lao mình vào thực trạng xã hội thì thực trạng xã hội lại rất phũ phàng. Bởi vì
thực trạng xã hội là guồng máy chung của loài người, của dân tộc, không còn
tính cách cá nhân nữa, cho dù bản chất cá nhân bị bản chất tập thể phủ nhận.
Dù vậy, tham vọng cá nhân trong
tính chất vị kỷ vẫn luôn luôn đòi hỏi và tranh đoạt những dục vọng cho mình, mà
càng tranh đoạt, cá nhân mình càng cảm thấy mất mát, thiếu thốn.
Một nhà đạo đức học khi xét đến
tâm tư con người đối với xã hội đã phải thở dài than « xã hội không làm cho
lòng người đau khổ mà chính dục vọng cá nhân làm cho lòng người cảm thấy phũ
phàng ».
Dục vọng cá nhân là lòng tham
không đáy của con người, dưới mắt nhà đạo đức học thì dục vọng cá nhân là cái
gì xấu xa, đê tiện, nhưng dưới mắt nhà triết học thì dục vọng cá nhân là ý thức
vươn lên của một cá thể đòi hỏi lẽ sống, nó nằm trong qui luật tất yếu không thể
chối bỏ. Bởi vậy, tự ngàn xưa, con người đã bị phủ lên không biết bao nhiêu lớp
đạo lý, mà con người vẫn tồn tại với ý thức dục vọng ấy.
Mỗi con người trong chúng ta đều
mang tính chất vị kỷ tất nhiên ai cũng muốn hưởng thụ hơn là hy sinh. Mà luật tạo
hóa khi một kẻ hưởng thụ tất phải có một kẻ hy sinh. Cho nên, kẻ bị đau khổ
trong đời là kẻ bị hy sinh, bị tước đoạt tính chất vị kỷ của họ.
Khi người đàn bà phê phán người
đàn ông :
Đàn ông một trăm lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Thì chính người đàn bà đã cảm thấy
dục vọng cá nhân mình bị hy sinh. Họ đòi hỏi một khả năng thụ hưởng mà chính
người đàn ông đã tước đoạt của họ.
Dục vọng cá nhân lại chẳng bao giờ
thỏa mãn khi một cá thể đang vươn lên tìm sức sống ! Nếu chúng ta nhìn vào vũ
trụ, buồn chán trước những cành khô, lá rủ, những cánh hoa tàn, những ống xương
khô đang mục rã qua thời gian, thì chính những dục vọng cá nhân là trạng thái
tương phản, chống lại với những gì đang tàn tạ ! Khi dòng máu còn đang rào rạt
trong huyết quản con người thì không một ảnh hưởng đạo lý nào đủ quyền lực buộc
dòng máu ấy phải dừng lại. Cũng như một con sông, khi dòng nước đã ứ tràn thì
dù bị địa thế cản trở, con sông ấy vẫn phải uốn mình để thoát đi. Đó chỉ là sức
sống !
Chính trong tâm hồn vị kỷ, người
xưa cũng đã cảm thấy sức mạnh của nguồn sống ấy xuyên qua sự hờn dỗi của họ :
Có mới thì nới cũ ra,
Mới để trong nhà, cũ để ngoài sân
!
Hoặc : Nghĩa nhân mỏng dánh
Như cánh chuồn chuồn.
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay !
Tâm tư con người luôn luôn đòi hỏi
những mới lạ, và tìm đến những mới lạ ! Bởi vì mới lạ chính là ý nghĩa của cái
sống !
Một vũng ao tù hằng ngày chúng ta
nhìn nó trong trạng thái cô đọng và cạn dần dưới sức nóng mặt trời, chúng ta
không tìm thấy bên trong một sinh lực. Một mầm non hàng ngày chúng ta săm soi
thấy mỗi sáng lớn thêm lên, chúng ta hình dung được sức phát triển nguồn sống
nó. Thế thì tâm tư con người cũng vậy, khi sức sống đã chứa đựng trong cơ thể
thì tâm tư tất phải ăn nhịp với nguồn sống của thể xác.
Sở dĩ lịch sử loài người không đứng
yên một chỗ chính vì ý thức con người luôn luôn tìm kiếm những mới lạ, và trạng
thái ấy đã đánh dấu sự sống của con người.
Thời xưa, cổ nhân cũng đã tìm thấy
bản chất của ý sống, và gởi gắm vào các câu ca dao như :
Tới đây lạt miệng thèm chanh,
Ở nhà đã có cam sành chín cây.
Cam cũng chua, chanh cũng chua,
nhưng cam không phải là chanh ! Ý thức con người không cắt nghĩa được sự đòi hỏi
của lẽ sống, chỉ có người đang sống, vì chính con người đang sống ấy mới hiểu
được bản chất của họ.
Một cô giá hờn dỗi chế diễu một
chàng trai :
Đũa mun bịt bạc anh chê,
Đũa tre lau cạnh anh mê nỗi gì ?
Hoặc : Cam sành anh chê đắng,
chê hôi,
Hồng rim chê lạt, cháo bồi khen
ngon !
Thì cũng mới chỉ đứng trên quan
điểm của bản chất xã hội mà chưa đứng trên quan điểm bản chất con người. Xã hội
mặc dù thay đổi nhưng thay đổi trên dòng lịch sử giai cấp, nên
quí vật được tôn thờ trên truyền thống, còn đối với sự thay đổi của bản chất
con người không thể đánh giá bằng quí vật của xã hội được.
Chính bản chất con người như vậy,
nên trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân nẩy sinh không biết bao nhiêu cảnh huống
dị thường.
Khi đặt mình vào lãnh vực luyến
ái, không ai nghĩ đến chung thủy. Nhưng chung thủy tức là duy trì, là giữ lại
khả năng phát triển của lẽ sống, mà điều đó, theo qui luật thiên nhiên của bản
chất con người là điều trái ngược. Cho nên ái tình duy lý bị phá vỡ, và những kẻ
nào đứng trên quan điểm ái tình duy lý đều thấy lòng người là một cái gì bội bạc,
phản phúc.
Chúng ta không thể không cảm động
trước một lời rên siết của cô gái xưa :
Nào khi anh bủng anh beo,
Tay bưng chén thuốc, tay đèo muối
chanh.
Bây giờ anh mạnh, anh lành,
Anh ham nhan sắc, anh đành phụ
tôi !
Thật chua chát, đắng cay ! Nếu bảo
con người là một sinh vật có trí khôn, có lý trí, thì tại sao có thể tàn nhẫn
như thế được ! Tại sao tình cảm của họ không gắn liền với muối chanh, với chén
thuốc, với sự săn sóc của người đàn bà đã chịu khổ với họ ! Tuy nhiên, tính chất
của con người đối với sự sống đã làm cho họ không còn giữ được đạo lý ! Họ đã
chạy theo sức sống của con người, mãnh lực của thụ hưởng.
Chẳng những đối với người đàn
ông, người đàn bà cũng không khỏi qui luật tự nhiên ấy :
Có oản em tình phụ xôi,
Có cam phụ quýt, có người phụ ta.
Có quán em phụ cây đa,
Ba năm quán đổ, cây đa hãy còn.
Có mực em tính phụ son,
Có kẻ đẹp dòn, em phụ nhơn duyên.
Có bạc em tính phụ tiền,
Có nhân nghĩa mới quên người tình
xưa !
Hỡi Tạo-Hóa ! Tạo-Hóa đã phú cho
con người có được một tình cảm vô biên, một tinh thần kiêu hãnh trên mọi sinh vật
khác, nhưng Tạo-Hóa cũng lại không cho con người thoát ra ngoài qui luật tất yếu
của muôn loài, và gây cho loài người những mâu thuẫn giữa tâm tư và bản ngã.
Chính con người đã đau khổ trên
chiều hướng mâu thuẫn ấy :
Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Ăn cơm chẳng được, ăn trầu ngậm
hơi.
Nỗi buồn tê tái của con người chẳng
những chất chứa trong tâm hồn mà còn tràn ra cảnh vật để giao cảm với thiên
nhiên.
Đợi chàng không thấy chàng đâu,
Bóng trăng đủng đỉnh ra màu cợt
trêu !
Hoặc : Kiểng xa bồn kiểng lại
không xanh,
Anh rầu người bất nghĩa, cơm canh
bỏ liều !
Những nét buồn tê tái ấy cứ đeo đẳng
mãi trên những hành động của bản ngã, và tâm tư con người đã phải điêu đứng.
Tuy nhiên, con người vốn là một sinh vật có tư tưởng, muốn tránh những trạng
thái khắc khoải vì bản ngã con người trong lẽ sống, nên cố tìm ra một đạo lý để
ngăn chặn mọi dục vọng con người.
Đạo lý buộc con người vào đạo
nghĩa, vận dụng lý trí để kềm hãm bản năng thiên nhiên. Nhưng, nếu đạo lý kềm
hãm được phần nào bản tính con người thì đạo lý cũng bị trở thành đối tượng mâu
thuẫn với bản tính con người.
Ai cũng thừa nhận đạo nghĩa là trọng
trước quan niệm ái tình :
Đạo vợ chồng không phải cá tôm,
Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia !
Tuy nhiên, đạo nghĩa chỉ đem lại
cho tâm tư con người buồn tủi thêm. Bởi vì dục vọng con người không vì đạo
nghĩa mà chịu nằm yên trong trạng thái bất động. Càng bị đè nén, dục vọng càng
chỗi dậy
Đây, chúng hãy nghe tiếng rên
than của một nạn nhân :
Đem em mà bỏ xuống gành,
Kéo neo mà chạy sao đành anh ơi !
Đêm đêm góc biển chân trời,
Một mình em đứng em ngồi em nghe.
Em nghe hết giọng con ve,
Đến lời con cuốc gọi hè tiếc xuân
!
Chẳng biết ngôn ngữ loài người có
đủ sức mạnh gieo vào tình cảm con người những đau thương, để cho dục vọng của bản
năng con người vì thế mà kềm chế chăng ?
Nhưng chắc là không ! Tiếng nói
bi thảm của con người không đủ sức mạnh sửa đổi qui luật vũ trụ. Bởi vậy, mặc
dù tự ngàn xưa, loài người đã vận dụng hết ngôn ngữ nói lên những đau đớn trong
lãnh vực phụ tình, mà vẫn còn tiếp diễn mãi những cảnh :
Khoác mùng ra thấy mùng không,
Gối loan để đó, lệ hồng tuôn rơi
!
Hoặc : Đi đâu bỏ nhện giăng
mùng,
Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh
hiu
Hay : Đi đâu mà chẳng thấy về,
Hay là quần tía dựa kề áo nâu !
Đi đâu mà chẳng thấy về !
Hay là ăn cận ngồi kề với ai ?
Lý trí con người đã không thể
dùng đạo nghĩa chế ngự bản năng, ngôn ngữ con người cũng chẳng đủ sức mạnh kềm
hãm được dục tính, thế thì những đau khổ trong tâm tư đối với những kẻ bị tước
đoạt sức sống trong lãnh vực ái tình phải làm sao ? Hiện tượng mâu thuẫn ấy đã
đưa xã hội loài người đến một phương thức mới, đó là ý thức trả đũa.
Ý thức hờn dỗi, ghen tương bắt đầu
đi vào hành động, và sự đấu tranh về tình ái mang tính chất gay gắt hơn. Những
tiếng rên than biến thành những lời căm hận :
Hồi nào bậu nói với qua,
Bậu không hái lựu bẻ đào :
Lựu đâu bậu bọc, đào nào cầm tay
?
Trăng tròn thì mặc trăng tròn,
Bậu xinh mặc bậu ; bậu xằng anh
chê !
Trống không ai dám đánh thùng,
Bậu không lang chạ, ai dám giở
mùng chun vô.
Từ trạng thái đau buồn đi đến căm
hận, và từ căm hận, ý thức ái tình chung thủy tiến đến chỗ mất tin tưởng :
Vợ ba con anh còn để bỏ.
Huống chi nàng ngọn cỏ phất phơ.
Ngọn cỏ phất phơ, ngọn cờ phơ phất
Nồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi,
Đôi ta duyên mặn tình rồi,
Bậu phân cho phải, lại rồi sẽ đi.
Hoặc : Đánh liều nhợ đứt
phao trôi,
Đánh liều giấy ướt hồ rơi cho rồi.
Nếu lịch sử xã hội loài người là
một chuỗi đấu tranh về bạo lực kết tụ, thì lịch sử hôn nhân và luyến ái của
loài người cũng là một chuỗi đấu tranh về tâm tư đúc kết và biến chuyển không
ngừng.
Cho nên những giọt nước mắt thấm
đọng nơi cô phòng chưa thể làm lịch sử ái tình cho nhân loại, mà phải kể đến
năng lực tranh đấu của ái tình phát hiện trong cuộc sống nữa.
Năng lực ấy đã từ những giọt nước
mắt kia kết tụ lại, biến thành sức chống đối mãnh liệt.
Đây, chúng ta thử nhìn lại ở thế
hệ xa xưa, sức chống đối đã vượt ra ngoài những tiếng rên rỉ :
Đất xấu nắn chẳng nên nồi,
Anh đi lấy vợ thì tôi lấy chồng.
Anh đi lấy vợ cách sông,
Tôi đi lấy chồng giữa ngõ anh ra.
Nước mắt đã biến thành những tia
căm hờn ! Và nếu những kẻ chạy theo dục vọng đã tạo thành những giọt nước mắt
căm hờn kia, thì ngược lại, những kẻ đã đổ lệ lại dùng bản năng dục vọng để chống
đối :
Ông ăn chả thì bà ăn nem,
Đứa ở có thèm mua bánh mà ăn.
Sông sâu nước chảy ngập kiều,
Dù anh có phụ, còn nhiều nơi
thương !
Dứt dây nên gỗ mới chìm,
Bởi anh ở bạc, em tìm nơi xa.
Chưa hết, lòng căm hận trong lịch
sử tình ái còn đi xa hơn nữa. Nếu vì phụ bạc mà trong thế hệ chúng ta đã xảy ra
những vụ đầu độc, giết chồng, đánh ghen thì tự ngàn xưa trạng thái ấy cũng đã
có :
May gối luông bằng nỉ.
May cho kỹ mình nằm,
Tại mình ở bạc, ta đem bằm gối
luông.
Hoặc : May cho mình áo lá,
Châu xá bông tây,
Tại mình ở bạc ngồi xuống đây ta
lột trần.
Hỡi tiền nhân ! Sự đau đớn trong
tâm tư mà xã hội đã gieo rắc cho loài người có lẽ đến ngày nay cũng không khác
mấy ! Yêu đương là nguồn gốc của lẽ sống, nếu nguồn gốc bị mất thì mọi vật cũng
chẳng còn nghĩa lý gì. Quan niệm ấy, chính tiền nhân đã bộc lộ :
Dao phai kề cổ, máu đổ không
màng,
Chết thời chịu chết, buông nàng
không buông.
Hoặc : Chợ Sài-gòn đèn xanh
đèn đỏ,
Anh xem không rõ, anh ngỡ đèn
màu.
Rút gươm đâm họng máu trào,
Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh
!
Thật vậy, còn gì đắng cay hơn khi
xã hội loài người phủ bên ngoài một lớp màu đạo nghĩa, mà bên trong chất chứa
những dục vọng cá nhân.
Đêm nằm bỏ tóc qua mình,
Thề cho bán mạng kẻo lòng anh
nghi !
Như chúng ta đã thấy, sức mạnh đạo
nghĩa không thắng nổi dục vọng yêu đương thì những biến thái của tâm tư con người
cũng chẳng còn là chuyện lạ nữa.
Nếu một cô gái giận chồng tỏ ra
những cử chỉ gần điên dại, như :
Gái đâu có gái lạ lùng,
Chồng chẳng nằm cùng,
Nổi giận đùng đùng ném chó xuống
ao !
Thì đó cũng chỉ là một phản ứng của
tâm tư mà thôi ! Bởi vì nếu không ném chó xuống ao thì họ cũng tìm những cử chỉ
khác để cởi mở lòng bực tức của mình. Chẳng hạn như :
Ngọt canh là bí đao hồng,
Đánh cho một trận xem chồng về ai
!
Tâm tư con người ở ngoài lãnh vực
cảm giác và lý trí, nó hành động theo trạng thái đau khổ, theo dung lượng uất ức
chất chứa trong người, cho nên chúng ta không thể dùng ý thức con người mà nhận
xét. Chính vì vậy mà chúng ta thấy những cử chỉ ghen tương từ xưa đến nay là những
trạng thái mất thăng bằng trong con người.
Nhận thức được điều đó, người xưa
cũng đã châm biếm, chế diễu :
Ao sâu thì lắm ốc nhồi,
Chồng mình lịch sự nửa người nửa
ta.
Ghen lắm thì dứt ruột ra,
Chồng mình thì tới tay ta phen
này.
Em thấy anh em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị cả giắt dao trong
mình,
Đấy giắt dao, đây gươm kề nách,
Thuận nhân tình cất cánh sang
chơi.
Chẳng lấy cũng khuấy cho hôi,
Làm cho bể trách, bể nồi mà chơi.
Tôi đã biết vợ anh rồi,
Quăn quăn tóc trán là người hay
ghen.
Ta rằng ta chẳng có ghen,
Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta
nghiền, ta chơi !
Cái cò trắng bạch như vôi,
Cô kia có lấy chú tôi thì về.
Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,
Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh.
Anh thấy em anh cũng muốn chào,
Sợ anh chồng cũ, hắn đứng bờ rào
hắn trông !
- Hắn trông thì mặc hắn trông,
Đã quyết một lòng, ta quyết lấy
nhau.
Nếu tâm tư người xưa đã đau khổ
nhiều trong lãnh vực luyến ái, và những giọt lệ thâu đêm đã chảy tràn trên gối
mộng thì trái lại tinh thần hài hước của họ cũng chỗi dậy điểm vào đó những nụ
cười hóm hỉnh vô cùng.
Chúng ta không lấy làm lạ trước
trạng thái ấy, bởi vì họ là người bình dân, cuộc sống hằng ngày chung đụng, gần
gũi nhau, tâm hồn họ trao đổi nhau rất dễ dàng, và mọi biến cố của tâm tư đều
là những đề tài được họ mổ xẻ trong niềm vui sống.
Tuy nhiên, những mâu thuẫn của
yêu đương dù khốc liệt đến đâu cũng không thể làm người chùng bước trước sự luyến
ái giữa gái trai. Cũng như gió bão, mưa lụt, hạn hán không tiêu diệt sự nẩy mầm
của cây cối. Tình yêu trong xã hội loài người vẫn huy hoàng. Những đêm trăng
sáng, tiếng chày vẫn khua đều trong câu hát giao duyên. Những buổi bình minh,
giọng hò trữ tình vẫn vang lên bên sườn núi, như khiêu khích những tâm hồn còn
đang nặng trĩu lòng xuân, và chính trong nguồn an ủi ấy họ khuây khỏa phần nào
những nỗi hằn học của tâm tư :
Chồng giận thì vợ làm lành,
Miệng cười hớn hở, rằng anh giận
gì ?
Thưa anh, anh giận em chi ?
Tóm lại, tính chất ghen tương, hờn
dỗi trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái từ xưa đến nay vẫn giống nhau, chỉ khác
một đôi chút về diễn biến của trạng thái tâm tư mà thôi.
Người bình dân Việt-nam thời xưa
sống dưới ách kềm kẹp của chế độ phong kiến, tuy họ được tự do luyến ái, song
quan niệm hôn nhân bị chi phối, thành thử ý thức bình đẳng hôn nhân của họ bị
giáo lý Nho-học phá vỡ. Trong những gia đình bình dân chúng ta thấy quyền lực của
người đàn ông vẫn đè nặng trên người đàn bà như những gia đình quí tộc, gây cho
người đàn bà một áp lực, bắt họ phải chịu đựng.
Áp lực của người đàn ông đối với
người đàn bà trong gia đình người bình dân đã phản ảnh qua các câu ca dao như :
Ví dù tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay ta,
Cái xương bậu nát, cái da bậu
mòn.
Hoặc : Không đánh bậu để bậu
luông tuồng.
Cầm roi đánh bậu cũng buồn dạ
anh.
Dưới áp lực ấy, người đàn bà là kẻ
chịu đựng nhiều nhất. Tâm tư họ bị dồn ép bao nhiêu khổ đau trước bản năng dục
vọng, trước đạo lý bất công, trước năng lực tiền tài. Ngày nay, khi đào sâu vào
tâm tư của họ trong ca dao tục ngữ, chúng ta phải nhìn nhận người phụ nữ bình
dân thời xưa có sức chịu đựng đáng kể. Chỉ vì xã hội bất công và mọi mâu thuẫn
trong luyến ái đã ép họ đến ngộp thở, buộc lòng họ phải bật lên tiếng khóc, tiếng
than, tiếng gào, tiếng rú… khơi nguồn cho dòng lệ tâm tư chảy mãi đến thế hệ ngày
nay.
Trên quan điểm mâu thuẫn chung
trong lãnh vực luyến ái, chúng ta đã bàn đến rồi, ở đây trong phần kết luận,
chúng tôi tưởng không thể bỏ qua một vài đặc tính của xã hội phong kiến thời
xưa, có ảnh hưởng đến tâm tư người bình dân trong lãnh vực luyến ái.
1) Sự hờn dỗi ghen tương của
người bình dân có chịu ảnh hưởng và chế độ phong kiến không ?
Dĩ nhiên không thể tránh được. Chế
độ phong kiến là chế độ giai cấp, ảnh hưởng giai cấp đã chi phối cả quan niệm
luyến ái lẫn hôn nhân, thì sự ghen tương hờn dỗi không thể tách rời ra ngoài.
Cho nên, trong tâm tư người bình dân, chúng ta thấy lúc nào cũng phảng phất một
ý thức chống đối giữa quan niệm giàu nghèo, như :
Tham vàng bỏ ngãi chàng ơi !
Vàng ăn cũng hết, ngãi tôi vẫn
còn.
Bậu chê nước sông, bậu uống nước
bàu,
Chê đây lấy đó lại giàu hơn ai ?
Tính chất người bình dân bao giờ
cũng muốn thủ phận, sống một cuộc sống thanh bần và chung thủy.
2) Ngoài tâm tư bất mãn guồng
máy phong kiến, tính chất ghen tương, hờn dỗi trong xã hội bình dân Việt-nam
còn chống giáo lý phụ quyền của Khổng Mạnh nữa. Sự chống đối ấy phản ảnh trong
các câu ca dao như :
Chàng đành phụ mẫu không đành,
Lá che cây khuất ngọn ngành trời
ơi !
Trách mẹ trách cha, chớ ta không
trách bậu,
Cha mẹ ham giàu gả bán em đi.
Vách thành cao lắm khó dòm,
Nhớ em anh khóc đỏ lòm con ngươi
!
Tiếc công anh lau dĩa chùi bình,
Cậy mai tới nói phụ mẫu nhìn bà
con.
- Trời mưa nhà thiếc bon bon,
Phụ mẫu không thương nói vậy, chớ
bà con đâu mà nhìn.
3) Chẳng những chống phụ quyền
trong giáo lý Khổng Mạnh mà tâm tư người bình dân còn chống cả sự bất công
trong lễ nghi của Nho giáo. Đây, chúng ta hãy nghe lời than của người mệnh phụ
đang xuân :
Vai mang bức tượng thờ chồng,
Thấy trai nhan sắc, nước mắt hồng
tuôn rơi !
Những giọt nước mắt ngắn dài
trong một biến thái của tình yêu đã tuôn chảy tự ngàn xưa, cho mãi đến ngày
nay, và có lẽ không bao giờ dứt khi con người cũng vẫn là con người, một con
người tự ái, tự kỷ và chất chưa đầy dục vọng mà không sao thỏa mãn được.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG
1. Ai về đường ấy hôm nay,
Ngựa hồng ai cỡi, dù tay ai cầm,
- Ngựa hồng đã có tri âm,
Dù tay đã có người cầm thì thôi.
2. Ai làm cho bướm lìa hoa,
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đi muôn dặm non sông,
Đề ai chất chứa sầu đông vơi đầy.
3. Anh khôn nhưng vợ anh đần,
Lấy ai lo liệu xa gần cho anh
4. Ao sâu thì lắm ốc nhồi,
Chồng mình lịch sự nửa người, nửa
ta,
Ghen lắm thì đứt ruột ra,
Chồng mình thì tới tay ta phen nầy.
5. Ăn sao cho được mà mời,
Thương sao cho được vợ người mà
thương.
6. Ba bốn năm nay lòng thiếp
chí thành,
Nữ nhi nan hóa sự tình nam nhi.
Phận đàn bà như hoa nở một thì,
Thiếp xin anh chàng nghĩ lại thiếp
tôi thì đội ơn.
Dù chàng nay trăm giận, nghìn hờn,
Thiếp xin anh chàng sẽ tới đào
tơn chốn này.
Có đàn ông tình phụ liễu tây,
Bơ vơ phận đàn bà con gái thiếp
biết rày làm sao ?
Song quân tử chí cao,
Diệu thường cốt bạch ra vào quyến
ong.
Kể từ khi thiếp tới loan phòng,
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy
loan,
Bởi vì ai cho thiếp tôi phải võ
vàng,
Vì chàng tư lự dạ càng long đong.
7. Bạc sao bạc chẳng vừa
thôi,
Để cho nước chảy hoa trôi lỡ
làng.
Tin sang chẳng thấy người sang,
Hẹn ba bốn hẹn, lòng càng xót xa.
Đoạn tràng phải bước chân ra
Gió sương hiu hắt, sương sa lạnh
lùng
Chăn đơn gối chếch lạnh lùng,
Đôi hàng châu lệ, đôi hàng chứa
chan
Gặp chàng thiếp phải thở than,
Dưới khe nước chảy, trên ngàn
thông reo.
Cơm ăn thất thểu ít nhiều.
8. Bây giờ nàng đã nghe ai,
Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng
chào.
9. Bấy lâu vắng mặt khát
khao,
Bây giờ thấy mặt muốn càu mặt ra.
10. Bên đây sông, em bắc cái
cầu năm mười tấm ván.
Bên kia sông, em lập cái quán năm
bảy từng thương.
Cái quán năm bảy từng thương,
Là để người thương em đi buôn
bán.
Cái cầu năm mười tấm ván,
Là để người thương em đi,
Trách anh sao bạc nghĩa vô nghì,
Bây giờ có đôi bạn không nói tiếng
gì với em.
11. Biết nhau từ thuở buông
thừng,
Trăm chấp nghìn nối xin đừng quên
nhau.
Bởi vì chàng nên chị thiếp phải
chịu hàm oan,
Thân phụ già đánh mắng, thế gian
ta chê cười.
12. Cô kia mà hát đa đoan,
Anh cầm con dao lá trúc anh gạch
lá gan cô mày.
Ruột non anh quấn trên cây,
Ruột già anh vấn làm dây kéo thuyền.
13. Cô kia xách giỏ đi đâu,
Cho tôi gởi trầu cô xách giùm
tôi.
- Trầu anh trầu đắng trầu nồng,
Em không dám nhận sợ chồng em
ghen.
14. Công tôi gánh gánh gồng
gồng,
Giở ra theo chồng, bảy bị còn ba.
Xưa tôi ở cùng mẹ cha,
Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành.
Bây giờ tôi về cùng anh,
Anh tham nhan sắc, anh tình phụ
tôi
Đất rắn nặn chẳng nên nồi,
Anh đi lấy vợ cho tôi lấy chồng
Anh đi lấy vợ cách sông,
Để tôi lấy chồng giữa ngõ anh ra.
15. Cục đá lăn nghiêng lăn
ngửa,
Khen ai khéo sửa cục đá lăn tròn,
Giận thời nói vậy, chớ dạ còn
thương anh.
16. Dậm chân xuống đất cái
bon,
Nay còn ở vậy chồng con đâu nà !
Thôi thôi đừng nói nữa nà !
Con trâu ăn đám mạ dấu mà còn
đây.
17. Dù chàng năm thiếp bảy
thê,
Chàng cũng chẳng bỏ nái sề nầy
đâu.
18. Đã thành gia thất thì
thôi,
Đèo bòng chi lắm tội trời ai
mang.
19. Đã lâu không gặp bạn
vàng,
Nay gặp bạn vàng lòng càng thêm tủi.
Nghĩ đến ân tình gió thoảng, mây
bay,
Kể từ ngày xa cách đến nay,
Lòng ta ngơ ngẩn đắng cay muôn phần.
Còn gì mà thở mà than,
Còn anh qua lại ân cần anh ơi !
Anh có vợ rồi,
Như đũa có đôi,
Bỏ mình em lơ lửng mồ côi một
mình.
20. Đêm qua ngõ cửa chờ ai,
Đêm nay cửa đóng then gài khăng
khăng.
21. Đêm đông lạnh ngắt như đồng,
Mượn ai cho mượn, mượn chồng thì
không.
22. Đêm qua chung bóng chung
hơi,
Bây giờ kẻ ngược người xuôi mặc
lòng.
23. Đến đêm chồng lại lần
vào,
Vội vàng vác sọt đi trao chó về.
24. Đi mô mà nỏ thấy về,
Hay là ai bỏ bùa mê cho chàng.
25. Đôi duyên ta như loan với
phượng,
Nỡ lòng nào để phượng lìa cây,
Muốn cho có đó có đây,
Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi
!
Thà rằng chẳng biết thì thôi,
Biết chi gối chiếc lẻ loi thêm
phiền.
26. Đối địch thì địch lại
đây,
Bên thừng, bên chão xem dây nào bền.
- Nhất bền là dây bồ nâu.
Chị còn giật đứt nữa đầu chúng
em.
27. Canh cải mà nấu với gừng,
Không ăn thời chớ, xin đừng mỉa
mai.
Khuyên chàng đừng ở đơn sai.
Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc
lòng.
28. Cây kiểng đang xanh, sao
anh lại tưới ?
Còn cây kiểng tàn, sao anh lại bỏ
khô ?
29. Có yêu thời nói rằng
yêu,
Chẳng yêu thì nói một điều cho
xong.
Làm chi dở đục, dở trong,
Lờ đờ nước bến cho lòng vẫn
thương.
30. Có nên thì nói rằng nên,
Chẳng nên sao để đấy quên, đây đừng.
Làm chi cho dạ ngập ngừng,
Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.
31. Có ai thêm bận về ai.
Không ai giường rộng chiếu dài dễ
xoay.
32. Có ai ta cũng thế nầy,
Không ai cũng như ngày có ai.
33. Chàng đà bạc nghĩa thì
thôi,
Dù chàng lên ngược xuống xuôi mặc
lòng.
34. Chàng về cho chóng mà
ra,
Kẻo em chờ đợi sương sa lạnh
lùng.
Cơn lạnh còn có cơn nồng,
Cơn đắp áo ngắn, cơn chung áo
dài.
Hay là chàng đã nghe ai,
Áo ngắn chẳng đắp, áo dài không
chung.
Bây giờ sự đã nhạt nhùng,
Giấm thanh mà đổ mấy thùng cho
chua.
35. Chanh chua thì khế cũng
chua,
Chanh bán có mùa, khế bán quanh
năm.
36. Chanh chua cũng thể là
chanh,
Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín
cây.
Chẳng khôn cũng chị lâu ngày,
Chị đái ra váy cũng tày em khôn.
37. Chẳng tư túi, chẳng
trăng hoa,
Cớ sao lại thiết việc nhà người
dưng.
38. Chẳng thơm cũng thể hoa
nhài,
Chẳng lịch cũng thể là người trường
an.
39. Chiếu hoa mà trải sập
vàng,
Điếu ngô xe trúc, sao chàng chẳng
say.
Những nơi chiếu cói võng đay,
Điếu sành, xe sậy chàng say là
đà.
40. Chồng ăn chả, vợ ăn nem,
Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn.
41. Chồng người chẳng mượn
được lâu,
Mượn được hôm trước, hôm sau người
đòi.
42. Chồng giận thì vợ làm
lành,
Miệng cười hớn hở rằng anh giận
gì ?
Thưa anh, anh giận em chi ?
Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho.
43. Chúng chị là con gái
trung vàng,
Đứng trên đỉnh núi thì ngang với
trời.
Chúng chị là hòn đá tảng trên trời.
Chúng em chuột lắt cứ đòi lung
lay.
Cha đời chuột lắt chúng bay !
Hòn đá tảng rơi xuống thì mày gãy
xương.
44. Đồng tiền Vạn-lịch thích
bốn chữ vàng.
Anh tiếc công anh gắn bó với cô
nàng bấy lâu.
Bây giờ cô lấy chồng đâu,
Để anh giúp đỡ trăm cau, nghìn
vàng.
Năm trăm anh đốt cho nàng.
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.
Xưa kia nói nói, thề thề.
45. Đừng chê em xấu em đen,
Kìa như nước đục đánh phèn lại
trong.
46. Đường lên xứ Lạng bao
xa,
Cách một cái núi với ba quãng đồng.
Ai ơi đứng lại mà trông.
Kìa núi thành Lạng, kìa sông
Tam-cờ.
Anh chớ thấy em lắm bạn mà ngờ,
Bụng em vẫn trắng như tờ giấy
phong.
47. Em ơi ! chị bảo em nầy,
Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng.
Nhất cao là núi Tam từng,
Chị còn đạp đổ nữa rừng cỏ may.
Nhất đẹp là núi Sơn-tây,
Chị còn chẳng tiếc nữa dây bìm
bìm.
48. Em thấy anh em cũng muốn
chào,
Sợ anh chồng cũ, hắn đứng bờ rào
hắn trông.
- Hắn trông thì mặc hắn trông,
Đã quyết một lòng ta quyết lấy
nhau.
49. Gái đâu có gái lạ lùng,
Chồng chẳng nằm cùng,
Nổi giận đùng đùng ném chó xuống
ao.
Đến đêm chồng lại lần vào,
Vội vàng vác sọt đi trao chó về.
50. Giàu thì thịt, cá, cơm,
canh.
Khó thì lưng rau, đĩa muối cúng
anh tôi đi lấy chồng.
Hỡi anh chồng cũ tôi ơi,
Anh có khôn thiêng xin anh giở dậy
ăn xôi nghe kèn.
Thôi đã về nghiệp ấy xin anh đừng
ghen,
Anh để người khác cầm quyền thê
nhi,
Miệng em khóc, tay bế ẵm ông thần
vì.
Tay em gạt nước mắt, tay em thì
thắp nén nhang.
Bởi vì đâu mà nên xót nỗi võ
vàng.
51. Giận chồng xách gói ra
đi,
Chồng theo năn nỉ tù ti trở về.
52. Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
53. Gió đưa trăng, trăng
thanh vằng vặc.
Trăng đưa gió, gió mát hiu hiu…
Ngày rày anh được chỗ tấn yêu,
Nghĩa nhơn hồi trước em kêu thấu
trời !
Uổng công em cặn kẽ mời lời,
Uổng công trao thuốc, trao trầu,
Uổng công nóng lạnh nhức đầu em
thăm.
Uổng công em mang tiếng chịu tăm.
54. Khi kia ai ở cùng ai.
Bây giờ đặng chiếc thuyền hai, phụ
đò.
- Khi kia anh ở cùng đò,
Bây giờ thuyền lủng, anh mò thuyền
nguyên.
55. Lấy chồng làm lẽ khỏi
lo,
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
56. Mang bầu tới quán rượu
dâu.
Say hoa đắm nguyệt quên câu ân
tình.
57. Mấy bữa ni anh ăn phở với
cao lầu,
Bữa ni anh ăn một bát canh bầu
cho mát chưn răng.
58. Mình về ta ngóng ta
trông.
Ta về mình chẳng chút công đoái
hoài.
59. Mình về đường ấy hôm
hay,
Giường kia chiếu nọ hôm nay ai nằm
?
60. Mồ cha đẻ mẹ con giơi,
Sao mà ăn nói những lời Hà-đông.
61. Một thuyền một bến chẳng
xong,
Một chĩnh đôi gáo còn nong tay
vào.
62. Một tay đun chín bếp
rơm,
Một tay nạo mướp, chị nhường chồng
cho.
63. Một mai thiếp có xa
chàng,
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp
xin.
64. Một trăm con bướm trắng
nó cắn sợi dây đờn,
Bởi anh thất ngôn lời nói, con bạn
hờn trăm năm.
65. Một trăng được mấy Cuội
ngồi,
Một thuyền chở được mấy người
tình chung.
66. Năm quan tiền tốt bó mo.
Làm tờ ký chỉ, chị cho chuộc chồng.
Măng non nấu với gà đồng,
Chơi nhau một trận xem chồng về
ai.
Già gan cướp được chồng người,
Non gan hết vía rụng rời tay
chân.
67. Non non nước nước khơi
chừng,
Ái ân đôi chữ xin đừng chớ quên.
Tình sâu mong trả, nghĩa đền.
Đừng vui chốn khác mà quên chốn nầy.
Nước vơi rồi nước lại đầy,
Tình kia chưa trả, nghĩa nầy chớ
quên.
68. Ngỡi nhân nay giận mai hờn,
Lòng em ở thẳng như đờn lên dây.
69. Ngựa ô anh không cỡi,
anh cỡi ngựa hồng,
Đường ngay không chạy, chạy vòng
bãi cỏ may.
70. Nhớ ai cơm chẳng buồn
ăn.
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống
mâm.
71. Ớt nào mà ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vôi nào là vôi chẳng nồng.
Gái nào là gái có chồng chẳng
ghen.
72. Phương ngôn câu ví để đời,
Nhường cơm nhường áo, dễ ai nhường
chồng.
73. Qua phân đã cạn lời,
Bậu còn hơi hờn trách,
Để qua nói sách còn có ghi rằng :
Nam trọng tài năng, nữ hằng trinh
tiết.
Bậu dứt qua rồi, bậu tiếc thương
qua.
74. Qua truông anh đạp lấy
gai,
Anh ngồi anh lể trách ai không chờ.
75. Rau răm hái ngọn còn
tươi,
Lặng nghe anh nói mấy lời mà cay.
Kể chi những chuyện trước ngày,
Lòng em còn tưởng núi này non
kia.
76. Rõ ràng giấy trắng mực
đen,
Duyên ai phận nấy chớ ghen mà gầy.
77. Sầu đong trong héo ngoài
tươi.
Vui là vui gượng, cười là cười
khuây.
78. Sông bao nhiêu nước cũng
vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng
lòng.
79. Sông sâu cá lội ngù ngờ,
Biết em có đợi mà chờ uổng công.
80. Ta rằng ta chẳng có
ghen,
Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta
nghiền, ta chơi.
81. Ta thương mình, mình chẳng
thương ta.
Muối kia bỏ bể mặn đà có nơi.
82. Tảng mảng tê mê vì cô
bán rượu,
Liệt chiếu liệt giường vì cô bán
nem.
83. Tiếc công xúc tép nuôi
cò,
Cò ăn cho lớn cò đò cò bay.
84. Tôi đà biết vợ anh rồi.
Quăn quăn tóc trán là người hay
ghen.
85. Tương tư chẳng ốm chẳng
sầu,
Con ruồi đậu mép chẳng đau chẳng
buồn.
86. Thấy anh tôi cũng yêu đời,
Biết rằng vợ cả có rời anh ra.
87. Thiếp toan bồng bế con
sang,
Thấy chàng bạc bẽo thiếp mang con
về.
88. Thức đêm mới biết đêm
dài,
Ở lâu mới biết ai người bạc đen.
89. Trách ai đặng cá quên
nơm,
Đặng chim bẻ ná quên đi hận thù.
90. Trách lòng con nhện lăng
loàn,
Chỉ bao nhiêu sợi, mỗi đàng mỗi
giăng.
91. Trách người quân tử bạc
tình,
Có gương mà để bên mình không
soi.
92. Trồng trầu thì phải khai
mương.
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.
93. Ví dầu cậu giận mợ hờn,
Cháu theo cùng cậu kéo đờn cậu
nghe.
Cậu hờn thì kéo te te,
Ú liêu xang xự, xự xang xê liêu
hò.
94. Vợ ba, vợ bảy, nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu gối đầu bằng
chổi.
95. Xin đừng phụ thiếp làm
chi,
Thiếp như cơm nguội để khi đói
lòng.
96. Xưa kia ăn đâu, ở đâu,
Bây giờ có bí chê bầu rằng hôi.
d) SỰ SI MÊ CÁC THÚ VUI
Các thú vui trong đời sống con
người chúng ta thường gọi là thú ăn chơi.
Nhưng thú ăn chơi là gì ? Nếu xét
về nguồn gốc thì nó là bản năng dục vọng, phát xuất từ ý thức hưởng thụ, tìm
trong nguồn sống chung của xã-hội loài người một nguồn sống riêng cho cá nhân.
Bản năng dục vọng chính là mầm
móng thường xuyên phá vỡ cơ cấu của tổ chức xã hội, ngược lại tổ chức xã hội là
guồng máy kềm hãm bản năng dục vọng con người. Cũng chính vì vậy mà cuộc sống
loài người chất chứa đầy mâu thuẫn.
Các tổ chức xã hội phong kiến thường
mượn giáo lý về đạo học, bắt lý trí chế ngự bản năng con người. Đó là một
phương pháp hữu hiệu nhất, mà loài người từ xưa đến nay đã đạt được ít nhiều kết
quả trong lẽ sống.
Tuy nhiên, đối với bản năng, lý
trí chỉ mới làm được nhiệm vụ kềm hãm chứ không thể nào tận diệt được, vì bản
năng là nguồn gốc của sức sống, phát triển theo nhu cầu bản ngã, luôn luôn đúc
kết thành tiềm lực để phá tung xích xiềng của tổ chức xã hội. Mà đó cũng chính
là mâu thuẫn của căn bản trong xã hội loài người giữa thể chất và tinh thần giữa
cá nhân và tập thể, giữa con người và lẽ sống.
Xã hội Việt-nam từ ngàn xưa đã bị
giáo lý Nho học ràng buộc. Lý thuyết Khổng Mạnh lấy đạo tam can, ngũ thường củng
cố nền chính trị phong kiến, lấy đức cần kiệm liêm chính chế ngự bản năng. Tuy
nhiên cần kiệm liêm chính cũng chỉ là giáo lý được phổ cập trong giai cấp quí tộc,
để dạy cho lớp người thống trị biết tự kềm chế mình, làm gương cho kẻ dưới, thực
ra giáo lý cần kiệm liêm chính của Nho học không có ý giáo dục trực tiếp đối với
lớp người bình dân.
Nho giáo chia xã hội con người
làm nhiều giai cấp : thượng đẳng, trung đẳng và hạ đẳng. Áp dụng vào chính sách
giáo dục thì Nho giáo cho rằng : « Thượng đẳng chi nhơn bất giáo nhi thiện,
Trung đẳng chi nhơn giáo nhi hậu thiện, Hạ đẳng chi nhơn giáo diệc bất thiện »
(lớp người trên không dạy cũng tốt, lớp người thường phải dạy mới tốt, lớp người
dưới dạy vẫn không tốt).
Quan niệm như thế có nghĩa là kẻ
nào lý trí mạnh, không cần trấn áp mà bản năng dục vọng vẫn không nổi dậy được
thì đó là lớp người thượng đẳng. Kẻ nào phải dùng lý trí đàn áp mới thắng được
bản năng dục vọng, thì đó là lớp người trung đẳng, còn kẻ nào lý trí quá
kém dù có vận dụng cũng không đàn áp được bản năng, thì đó là lớp người hạ đẳng.
Quan niệm như thế cũng có nghĩa
là Nho giáo cho rằng lớp người bình dân không thể dùng lý trí trấn áp bản năng,
họ chỉ sống theo dục vọng, cho nên đối với họ không thể đặt vấn đề lý trí, mà
chỉ đem tình cảm sửa đổi họ.
Trong quyển « Kinh thi Việt-nam
», luận về giáo lý Khổng học, ông Trương-Tửu có viết :
« Theo đức Khổng thì tình cảm con
người thiện hay ác là do chính trị tốt hay xấu. Chính trị tốt đối với ngài là
người cầm quyền tốt. Ngài không thể quan niệm được chính trị ngoài một đấng
quân vương. Nếu ông vua là bậc quân tử hiếu đễ nhân nghĩa, biết dùng người hiền
để trị nước, biết chế đúng lễ nhạc để dạy dân thì dân sẽ bắt chước, người trên
mà làm điều thiện, nghĩ điều thiện, cảm điều thiện, nhiên hậu cái tâm của mỗi
người trong dân chúng sẽ cảm nhiễm toàn những điều nhân nghĩa, và cái nền tình
cảm của họ được điều hòa, trong trẻo. Nếu, ông vua là một hôn quân, chỉ chuộng
tư lợi, không nghĩ đến nhân nghĩa, dùng quần thần toàn là những kẻ tiểu nhân xảo
quyệt, pháp chính thì bất công hà khắc, lễ nhạc thì dâm dật, kiêu sa, tất nhiên
dân chúng sẽ theo người trên mà cảm điều ác. Cái tâm tư con người tất phải mờ
ám, tình cảm tất phải rối loạn, không thể nào tránh được.
Tóm lại, Khổng-Tử quan niệm chính
trị như một hiện tượng của luật ảnh hưởng từ cao xuống thấp, trên toàn thể thống
trị (vua quan), dưới toàn thể bị trị (dân). Sự ảnh hưởng ấy được thực hiện nhờ
có một bộ máy nối trên với dưới. Bộ máy này là những cơ quan giáo dục và hành
chính, như : pháp luật, luân lý, lễ nhạc, văn từ… Tùy theo cái chủ não tốt hay
xấu của kẻ trên (vua), bộ máy đó có phận sự truyền nhiễm những cảm xúc và ý kiến
(tốt hay xấu) xuống cho kẻ dưới (dân), bắt kẻ dưới phải hành động theo. Phần bị
sức mạnh của xã hội điều khiển, phần có tính chất bắt buộc toàn thể, cá nhân chỉ
còn là một phản ảnh của những cảm xúc và ý nghĩ công cộng do bộ máy chính trị
truyền từ trên xuống.
Xem vậy, theo đạo Khổng thì chính
trị đẻ ra một hoàn cảnh xã hội tương đương, hoàn cảnh xã hội lại đẻ ra một cá
nhân có những tình cảm tương đương. Tình cảm cá nhân theo chính trị mà tốt xấu
cũng như nước theo chum vại mà vuông hay tròn vậy…
Cho nên, có thể xem cách chính trị
mà biết được tình cảm cá nhân, và ngược lại cũng có thể xem tình cảm cá nhân mà
biết cách chính trị trong một xứ… »
Thực ra, giáo lý trên đây có một
tác động khá mạnh đối với xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa. Tuy nhiên, Nho
giáo cũng chỉ đứng trên quan niệm lý trí và tình cảm để uốn nắn xã hội chứ chưa
kết hợp được ảnh hưởng kinh tế.
Áp dụng phương pháp giáo dục về
lý trí cho giai tầng trên, và phương pháp giáo dục về tình cảm cho giai tầng dưới
tức là Nho giáo đã thừa nhận giữa tình cảm và lý trí con người có sự mâu thuẫn
nhau. Đồng thời, Nho giáo cũng cho rằng giai cấp thống trị là giai cấp của lý
trí, mà giai cấp bị trị là giai cấp của tình cảm, nên đã chủ trương rèn luyện
lý trí cho mạnh (tư tưởng và tư cách của giai cấp trên) để trấn áp bản năng dụcvọng
(tình cảm của giai dưới). Với phương thức ấy, lý trí cá nhân đúc thành một khuôn
mẫu hun đúc cho tình cảm cá nhân trở thành tình cảm tập thể theo khuôn mẫu ấy.
Sự thành công một phần nào của
giáo lý Khổng Mạnh trên xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa, xét ra không phải
hoàn toàn do ảnh hưởng của chủ thuyết nầy.
Nếu bảo rằng người bình dân (hạ đẳng
chi nhơn) không đủ lý trí để trấn áp dục vọng con người thì cũng không đúng. Hoặc
nếu bảo giai cấp quí tộc ngày xưa đã đem giáo lý Khổng Mạnh cảm hóa người bình
dân tạo nên một xã hội duy lý, tiết chế dục vọng con người thì cũng không đúng.
Trong lãnh vực nầy, chúng ta cần
xét soát lại thực trạng của nó.
Trước hết chúng ta phải thấy rằng
xã hội duy lý thời phong kiến tuy có đạt được sự tiết chế dục vọng bản năng,
song không vì thế mà dục vọng bản năng bị tiêu diệt. Ngay trong giai cấp quí tộc
(thượng đẳng chi nhơn) bản năng dục vọng vẫn âm thầm phát xuất trong cửa các lầu
son mà họ đã phải đem cái hình thức lễ nghi, cái giả dối bên ngoài để che đậy.
Thực trạng ấy đã chứng minh rõ
ràng qua sử sách, không một ai có thể phủ nhận được.
Nhưng nếu giai cấp lý trí (thượng
đẳng chi nhơn) đã không đủ nghị lực để tự chế mình, thì làm sao có đủ năng lực
để kềm hãm giai cấp bản năng (hạ đẳng chi nhơn) được.
Thế mà Khổng giáo vẫn không đủ sức
tạo cho giai cấp thượng đẳng một sức mạnh về lý trí, và giai cấp thượng đẳng
cũng không đủ khả năng cảm hóa giai cấp hạ lưu.
Tuy nhiên, chúng ta lại thấy nguồn
sống của xã hội phong kiến thời xưa có một khả năng điều hòa giữa lý trí và bản
năng dục vọng. Vậy, khả năng điều hòa ấy do đâu mà có ?
Thực ra, nếu chúng ta không thừa
nhận tổ chức xã hội duy lý của Khổng Mạnh có tác dụng đối với giai cấp bình dân
thì chúng ta cũng không phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của Nho giáo trong tâm tư
lớp người quí tộc.
Nếu trong lớp người quí tộc vẫn
thường xảy ra trạng thái dao động về dục vọng mà lớp người bình dân đã châm biếm
như :
Tôi là con gái đồng trinh,
Tôi đi bán rượu qua dinh ông
Nghè.
Ông Nghè sai lính ra ve,
Bẩm lậy ông Nghè tôi đã có con.
- Có con thì mặc có con,
Thắt lưng cho dòn theo võng cho
mau.
Thì cũng chính trong lớp người
quí tộc ấy lại nêu được những tấm gương trinh liệt, hoặc anh hùng, bất chấp cả
dục tính cá nhân. Cho nên, những ý thức về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín hoặc cần,
kiệm, liêm chính của tổ chức duy lý quả đã có tác dụng một phần nào trong tâm
tư của lớp người quí tộc.
Còn đối với lớp người bình dân
thì sao ?
Người bình dân có một cuộc sống
điều hòa như lớp người quí tộc. Nếu trong lớp người quí tộc có những kẻ say mê
dục vọng, có những kẻ thoát ra ngoài dục tính thì trong lớp người bình dân cũng
thế. Tuy nhiên, người bình dân không phải chịu ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh,
và cũng không chịu ảnh hưởng giao cảm của lớp người quí tộc. Yếu tố chính đưa họ
vào cuộc sống tiết chế dục vọng là do hoàn cảnh sinh hoạt của xã hội. Họ không
được học hành như lớp người quí tộc, họ không hiểu thế nào là nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín và tại sao lại cần phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mới
nên người. Nhưng trong tâm tư của họ, trong nếp sống của họ chúng ta vẫn thấy họ
có đủ những đức tính ấy.
Sở dĩ họ có lòng nhân chỉ vì họ
là lớp người đau khổ nhiều nhứt. Sự đau khổ của bản thân đã khiến họ xót xa,
thương hại trước mọi sự đau khổ của kẻ khác. Cũng vì sự khổ cực ấy mà họ trở
thành có nghĩa. Họ đối xử với nhau trong tình tương thân tương ái, trong ý
nghĩa thủy chung v.v…
Còn nói về đức cần, kiệm, liêm,
chính của con người theo Nho giáo thì họ cũng không hề biết. Tuy nhiên, họ lại
vẫn có đủ. Bởi vì họ là hạng nghèo khổ, phải đem thực lực ra làm việc để nuôi
thân, dĩ nhiên họ không thể không cần kiệm được. Đến như liêm chính thì họ lại
là kẻ không có địa vị, quyền thế, chịu áp mình dưới pháp luật làm sao không
liêm chính được ? Hoàn cảnh sinh sống của xã hội đã tạo cho họ có đủ điều kiện
để bảo vệ những tánh tốt ấy.
Có phải vì Đức Khổng-Tử đã thông
đạt lẽ sống của người bình dân như vậy, nên không cần đặt vấn đề bắt họ phải vận
dụng lý trí để trấn áp dục vọng bản năng, không cần bắt họ phải đọc sách thánh
hiền chăng ?
Nếu vậy, phải nói họ là những kẻ
« bất giáo nhi thiện » mới đúng. Hay Đức Khổng-Tử phân chia đẳng cấp con người
không căn cứ trên sự nghèo giàu, mà căn cứ trên giá trị bẩm chất, cho rằng người
nghèo không nhất thiết là « hạ đẳng chi nhơn » ?
Thực vậy, nếu Đức Khổng-Tử đã
đánh giá con người trên bẩm chất mà dưới mắt những kẻ giàu có, phong lưu, quí
phái, từng khoe mình là người nho học, lại khinh miệt kẻ nghèo là trái với đạo
thánh hiền. Ý thức ấy chính người bình dân đã mỉa mai :
Mất cơm nghi đứa đói,
Mất gói nghi đứa nghèo !
Tuy vậy, trên đây chúng ta cũng
chỉ luận về trạng thái chung của xã hội ảnh hưởng vào tâm tư con người, kỳ thật,
trong giai cấp quí tộc cũng như giai cấp bình dân nghĩa là từ người nghèo đến
người giàu không có một tầng lớp nào không bị ảnh hưởng dục vọng chi phối.
Tâm tư con người chịu ảnh hưởng
trước cuộc sống, bị ràng buộc vì lẽ sống cũng bị thúc đẩy bởi tham vọng của lẽ
sống. Do đó, trạng thái điều hòa bên ngoài luôn luôn ngầm chứa một sức xao động
của bên trong, và sức xao động của bên trong là năng lực cải biến qui luật điều
hòa bên ngoài.
Xã hội bình dân thời xưa, không
thoát ra ngoài qui lệ ấy. Nếu chúng ta thấy cuộc sống họ cần cù, chất phác, tâm
tư họ ôn hòa, nhẫn nạn thì chúng ta lại cũng thấy nơi họ có những xao động về dục
vọng. Ví như :
Vai mang bầu rượu chiếc nem,
Mảng say quên hết lời em dặn dò.
Rượu nồng, nem chua đẩy cảm giác
của họ vào vòng vui thú của bản ngã, mà tâm tình, sự gắn bó về nhân nghĩa phải
lu mờ.
Bản ngã vốn là đặc tính của cá
nhân. Khi bản ngã vùng dậy thì chính đó là lúc con người và cuộc sống nổi lên
những va chạm. Một cô gái trách một chàng trai không chung tình, một xã hội
khinh rẻ một lớp người xấu xa… thì đó cũng chính là dục vọng cá nhân không dung
hòa với dục vọng của tập thể, chứ chẳng có gì lạ !
Dục vọng cá nhân là lẽ sống con
người, dục vọng tập thể là lẽ sống của xã hội. Cho nên, bất kỳ trong một chế độ
nào, xã hội loài người vẫn có độc tài. Độc tài tức là sức trấn áp những dục vọng
của loài người trong xã hội. Nếu sự trấn áp ấy để bảo vệ dục vọng cho thiểu số
tức là trái nhân đạo, còn để bảo vệ cho cho dục vọng đa số thì hợp với nhân đạo,
bởi nhân đạo thoát thai từ dục vọng của đa số.
Tuy nhiên, dục vọng của tập thể lại
khởi đầu từ dục vọng cá nhân. Không có dục vọng cá nhân thì chẳng có dục vọng tập
thể.
Bởi vậy, đứng vào lãnh vực cá
nhân, chúng ta vẫn tìm thấy trong quan niệm của người bình dân bàng bạc về dục
tính như :
Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương
tơ.
Hoặc : Còn trời, còn nước,
còn non,
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.
Hoặc : Đố ai nằm võng
không đưa,
Ru con không hát, anh chừa nguyệt
hoa.
Dục tính cá nhân đã như thế, dĩ
nhiên phải bộc lộ ra ngoài hành động :
Ai ơi chơi lấy kẻo già,
Măng mọc có lứa, người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già xồng xộc nó thì theo sau.
Tuy nhiên, vì mâu thuẫn giữa dục
vọng cá nhân và dục vọng tập thể luôn luôn chống đối, nên trên con đường hành động,
nghĩa là từ lãnh vực cá nhân biến sang lãnh vực tập thể, rất có nhiều hạn chế.
Sự hạn chế ấy chính là năng lực kềm hãm của xã hội loài người trong ý niệm
chung về dục vọng.
Chúng tôi xin chép ra đây một câu
chuyện tiếu lâm để chứng minh thực trạng đó :
« Anh chàng nọ vợ đẻ, nhà đơn chiếc,
nên cô em vợ đến giúp. Nửa đêm, dục tính nổi dậy, anh chàng lén bò đến giường
cô em vợ. Biết được, cô em vợ vội cất tiếng hát ru cháu để ngăn cản hành động
anh ta :
Nửa đêm gà gáy o o,
Của dì, dì giữ, ai bò mặc ai !
Xấu hổ, anh ta vội lên tiếng chữa
thẹn :
Nửa đêm gà gáy o o,
Tao ngủ không được tao bò tao
chơi. »
Tuy câu chuyện hài hước trong giới
bình dân, song phản ảnh thực trạng của dục tính cá nhân và năng lực chế ngự dục
vọng tập thể.
*
Nhìn chung, xã hội loài người bất
kỳ ở lớp tầng lớp nào, dục tính cá nhân vẫn len lỏi vào cuộc sống. Cái khác biệt
không phải ở con người, mà ở tính chất con người. Nếu dục tính của lớp người
quí tộc nhuốm đậm màu sắc kiêu sa, lãng mạn, thì dục tính của lớp người bình
dân chỉ là thứ dục vọng đơn thuần, chất phác, biểu lộ qui luật tất yếu trong lẽ
sống cá nhân.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO SỰ SI MÊ TRONG THÚ VUI
1. Anh ơi uống rượu thì say,
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai
gieo.
2. Anh nằm cầm ống than với
ngọn đèn hồng,
Tay anh lăn liều nhựa chạnh lòng
nhớ em.
3. Ăn chơi cho thỏa thòa
thoa,
Có năm bức áo xé tà cả năm.
4. Cờ bạc canh đỏ canh đen,
Nào ai có dại mang tiền vứt đi.
5. Cơm ăn một bát sao no,
Kẻ về người ở sao cho đành lòng.
6. Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè.
7. Chiếu hoa mà trải sập
vàng,
Điếu Ngô, xe trúc sao chàng chẳng
say.
Những nơi chiếu cói võng đay,
Điếu sành, xe sậy chàng say la
đà.
8. Chơi cho thủng trống long
bòng,
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập
nghiêm.
Chơi cho thủng trống long chiêng,
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.
9. Đói thì ăn cơm lại no,
Từ ngày có vợ chẳng dò đi đâu.
10. Đố ai chừa được rượu
tăm,
Chừa được thuốc chín, chừa nằm
chung đôi.
11. Đố ai nằm võng không
đưa,
Ru con không hát anh chừa nguyệt
hoa.
12. Đố ai nằm võng không
đưa,
Ru con không hát anh chừa rượu
tăm.
Đố ai chừa được rượu tăm,
Chừa ăn thuốc chín, chừa nằm
chung hơi.
- Có tôi chừa được mà thôi.
Chừa ăn thuốc chín, chung hơi chẳng
chừa.
13. Đồn vui sai thú đi thăm,
Thú đi, thú ở mười năm chẳng về.
14. Gái phải hơi trai như
thài lài phải cứt chó.
Trai phải hơi vợ như cò bợ phải
trời mưa.
15. Hôm qua tới buổi anh
ngáp dài,
Túng tiền mua nhựa, anh thế ngoài
má ba.
16. Lạ lùng anh mới tới đây,
Bồ câu đóng sáu chim bay lạc đàn.
Đồn dây hay hát, hay đàn,
Để ta lặn suối qua ngàn tới nơi.
17. Lúc đêm sương, sương lạnh
trăng mờ,
Canh tàn rượu tỉnh, lúc bấy giờ
em nghĩ thương thân,
Em tiếc thay trong giá trắng ngần,
Nỡ gieo mình vào đám phong trần
mà chơi.
Chốn hang sâu lẩn quất hương trời,
Non xanh nước biếc dễ ai người biết
cho.
Con chim khôn đã mắc phải dò,
Vui gì cái kiếp giang hồ, hỡi chị
em ơi !
Tính đốt tay quá nửa xuân rồi,
Đầu xanh mấy nỗi da mồi tóc
sương.
Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà
thương,
Tài tình chi lắm để mang nợ đời.
Trông con sông mà thẹn với trời,
Khi vui em vui gượng, khi cười em
cười suông.
Ruột con tằm trăm mối tơ vương,
Bên trời góc bể biết gởi can trường
vào đâu.
Ai về nhắn ả Mạc sầu.
18. Mang bầu đến quán rượu
dâu
Say hoa đắm nguyệt quên câu ân
tình.
19. Nước nóng đổ lọ bình
vôi,
Tôi ngồi tôi nghĩ bố tôi, tôi buồn.
Bố tôi dở dại, dở khôn,
Say mê cái l… bỏ mẹ con tôi.
20. Nghề chơi cũng lắm công
phu
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.
21. Nghêu ngao vui thú yên
hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen.
22. Ngộ bần cùng bá lạc,
Ngộ bần tiện chí thông.
Em nay dạo chơi cho biết cái đục
cái trong.
Dầu em có lâm cơ thất vận cũng
đành dạ em.
23. Qua than với bậu qua ghiền,
Thương anh thì em kết ngãi chớ
phiền phận qua.
24. Rắn đến nhà chẳng đánh
thì quái,
Gái đến nhà chẳng chơi cũng thiệt.
25. Say là say nghĩa say
nhân,
Say thơ Lý Bạch, say đờn Bá Nha.
26. Sông bao nhiêu nước cũng
vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng
lòng.
27. Tảng mảng tê mê vì cô
bán rượu,
Liệt chiếu liệt giường vì cô bán
nem.
28. Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Thơm tho ai biết, ngát lừng ai
hay ?
Canh một, canh hai mê mẩn tỉnh
say,
Mồ hôi má phấn đượm đầy áo thâm.
29. Thế gian ba sự khôn chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương
tơ.
30. Thôi thôi tôi biết anh rồi
:
Anh hút á phiện cái môi thâm sì.
31. Vì hoa nên phải tìm hoa,
Vì tình nên phải vào ra với tình.
32. Vị vì một mảnh tình con,
Làm mê tài tử, rút khôn anh hùng.
Thà rằng chẳng biết cho xong,
Biết ra thêm để lắm lòng sầu
riêng.
33. Vui xem hát, nhạt xem
bơi,
Tả tơi xem hội,
Bối rối xem đám ma,
Bỏ cửa bỏ nhà đi xem giảng thập
điều.
34. Yêu nhau quá đỗi nên mê.
Rồi sau mới biết kẻ chê người cười.
e) TÍNH CHẤT CẦN CÙ, NHẪN NẠI, CHẤT
PHÁC
Xưa nay, nhiều nhà nghiên cứu dân
tộc học đã xác nhận dù ở một nước nào, tính chất người bình dân vẫn cần cù, nhẫn
nại, chất phác. Sự kiện đó đã trở thành tất nhiên, ở đây chúng ta không cần phải
xác định thêm một lần nữa. Trong phạm vi bài này chúng ta thử tìm hiểu tại sao
tính chất người bình dân lại cần cù, nhẫn nại, chất phác.
Đặt vấn đề như vậy tất nhiên
chúng ta phải đi trở lại căn bản con người.
Thực ra, đã là con người thì tính
chất căn bản chẳng khác nhau. Các nhà xã hội học đã tìm thấy bản ngã con người
không một ai thoát ra ngoài qui luật tất yếu là đi tìm nguồn sống. Đó chính là
bản năng tự tại. Tuy nhiên, họ cũng tìm thấy nguồn sống xã
hội ảnh hưởng rất mạnh vào tính
chất con người, khiến cho con người tiến dần đến chỗ cá biệt dị đồng. Nguồn sống
con người lại gồm nhiều mặt, không thể đứng trên một quan điểm nào đó mà giải
thích trọn vẹn những ảnh hưởng ấy.
Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới
tìm thấy qui luật ảnh hưởng, mà người bình dân thời xưa cũng đã nói đến tác dụng
ấy. Ví dụ :
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài,
Gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng.
Bây giờ chúng ta dựa trên từng
quan điểm một để nhận định tính chất của họ.
I. QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ
Nói đến chính trị tức là nói đến
chế độ xã hội, nói đến giai cấp thống trị và bị trị. Từ xưa đến nay thế giới
loài người đã trải qua không biết bao nhiêu chế độ, nhưng không một chế độ nào
hoàn toàn đem đến sự bình đẳng cho loài người. Bởi vậy, chế độ chính trị vẫn
luôn luôn là công cụ của một lớp người. Và cũng vì lẽ ấy mà xã hội loài người
luôn luôn có lớp người bình dân. Nói một cách khác, người bình dân là sản phẩm
của guồng máy cai trị, họ thường xuyên phải nhận lấy sự ruồng rẫy, phũ phàng, bất
công do chế độ xã hội gây ra. Do đó, cuộc sống của họ là phải đem hết sức lực dồn
vào con người để chịu đựng.
Nói chung, trước qui luật mâu thuẫn
của thiên nhiên, con người cũng như mọi sinh vật khác, tất cả đều phải có một sức
chịu đựng để tự tồn, nhưng đối với người bình dân thì sức chịu đựng của họ lại
bị dồn nén thêm một lần nữa trước qui luật cạnh tranh của xã hội.
Xã hội bắt buộc họ đem sức lực phụng
sự cho đời sống mọi người, đồng thời lại không cho phép họ đòi hỏi những quyền
lợi của họ. Tuy nhiên, họ vẫn là con người. Họ cần phải sống.
Ảnh hưởng chính trị đã đem đến
cho họ đức tính cần cù, nhẫn nại. Cho nên, họ quan niệm rằng :
Có khó mới có miếng ăn,
Không dưng ai dễ mang phần cho
ai.
Có vất vả mới có thanh nhàn,
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.
Họ dùng sức lao động để tự tồn,
và dùng sức nhẫn nại để chống lại mọi sự bắt nạt, bất công trong đời sống xã hội
con người.
Thật vậy, xã hội loài người lúc
nào cũng tràn đầy những bất công, mà con người muốn chống lại nó chỉ có hai
cách : một là phản đối trực tiếp, hai là nhẫn nại chịu đựng ; mà con người bình
dân chính là kẻ đã chọn phương thức thứ hai. Bởi lẽ, đối với họ, sự khổ cực vật
chất đã quá nhiều, nắng mưa sương gió đã quen với thân xác họ rồi, họ đã từng
rưới những giọt mồ hôi trong lúc đói khát để hoàn thành một luống cày, một thửa
ruộng, cho nên, đối với tinh thần họ trước mọi áp bức, bất công về chính trị
cũng không lấy gì làm đau khổ lắm.
Con người khi đã chịu đựng quen
những đau khổ, dù chồng chất thêm khổ đau, thì đồng thời cũng làm cho bản năng
của họ thêm cường độ chịu đựng. Tính chất chịu đựng hay nhẫn nại một phần lớn ảnh
hưởng vào địa vị xã hội thấp kém của họ, khiến họ trở thành lớp người dễ dãi,
chất phác, vị tha hơn vị kỷ.
Để diễn tả tính chất đặc thù của
người bình dân Việt-nam, ông Toan Ánh có một đoạn trong quyển Làng xóm Việt-nam do
Nam-chi tùng thư xuất bản năm 1968 :
« Đời sống người dân quê vất
vả, cực nhọc, nhưng nhờ sự tương trợ với tinh thần tương thân, tương ái giữa mọi
người, sự vất vả cực nhọc này như giảm bớt được nhiều. Người trong lòng lúc nào
cũng như sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau từ việc nhỏ tới việc lớn, về tinh thần cũng
như về vật chất.
Một nhà đến buổi ăn thiếu chút muối
ư ? Nhà đó có thể xin ngay nhà hàng xóm một cách rất dễ dàng. Có thể nhà đó thiếu
hẳn thức ăn trong một bữa cơm vì không gặp phiên chợ, và trong nhà không có sẵn
đồ ăn dự trữ ! Cũng không sao, một nhà hàng xóm có thể sẵn sàng giúp đỡ mấy quả
cà, dĩa mắm để nhà này dùng tạm trong bữa cơm. Và cũng thế, nếu nhà thiếu muốn,
sang ngay một nhà khác trong xóm, xin mấy cây rau, nhà hàng xóm sẽ vui lòng mời
người thiếu tới vườn rau nhà mình tự nhổ lấy số rau cần thiết cho bữa cơm.
Và nếu một nhà, bố mẹ đi vắng, đến
bữa cơm, các con ở nhà chưa có gạo thổi, nhà hàng xóm biết, họ sẵn sàng cho vay
số gạo cần dùng để các em thổi cơm.
Trong làng, có một nhà có chai mật
ong tốt, có thể chữa được các chứng bệnh cảm của trẻ em, thế là người làng mỗi
khi trong nhà có trẻ bị cam răng, tưa lưỡi, họ đều mang chén tới xin, và nhà có
của không hề bao giờ từ chối. Con người cũng như con mình, mình sẵn có, người
thiếu thốn, tại sao mình lại không giúp.
Đây chỉ nói về những việc nhỏ. Việc
nhỏ giúp nhau được thì việc lớn người ta cũng giúp nhau.
Trong xóm có một người bị cháy
nhà ư ? Cả xóm sẽ cùng xô lại cứu chữa, người xách nước, người dọn đồ, và có thể
nói được rằng sự hôi của chẳng bao giờ xảy ra.
Một nhà có một con lợn sổng chuồng
chạy ra đường ư ? Lập tức có vài người giúp chủ nhà đón bắt ngay con lợn lại.
Một người vô ý bị ngã xuống sông
chăng ? Người làng lập tức hè nhau lội xuống vớt, và khi vớt được lên, mỗi người
một tay, cùng nhau lo cứu chữa nạn nhân.
Và còn rất nhiều trường hợp, sự
giúp đỡ của dân làng bao giờ cũng tận tình, và không hề ai nghĩ đến đền công của
những người được giúp đỡ.
Một người nhận được một giấy quan
đòi, không biết chữ, lập tức có người biết chữ đọc giùm.
Về mặt tinh thần, sự giúp đỡ của
dân làng càng rất đáng quí.
Một người không may bị oan ức một
điều gì, dân làng tìm cách minh oan, và nếu không được thì cũng có sự an ủi
đương nhân.
Sự tương trợ nhiều khi là một sự
đồng lần. Thí dụ, trong dịp Tết đến, nhà nào cũng có gói bánh chưng ăn Tết.
Ngày hôm nay nhà này gói bánh, ba bốn người khác tới giúp. Và ngày mai ngày mốt,
đến nhà người khác gói bánh, thì lại cũng được sự giúp đỡ như vậy, của những
người mình đã giúp và của cả những người khác nữa.
Ở trong làng, nhà này đi vắng, gởi
nhà người hàng xóm là chuyện thường, và người hàng xóm khi đã nhận giữ nhà họ,
thường cho người nhà, hoặc con cái sang trông nhà giúp người đi vắng. Có khi người
ta gởi nhau cả con cái, và người nhận giúp, họ trông nom con cái người như
chính con cái họ.
Tình tương thân tương ái giữa người
làng còn thể hiện trong sự trao biếu lẫn nhau.
Một người đi chơi xa về, có quà
cáp, ngoài việc kính biếu bố mẹ, thường biếu cả hàng xóm láng giềng. Hoặc trong
nhà có cây ăn quả, khi quả chín, người ta thường mang biếu hàng xóm láng giềng.
Và trong dịp lễ bái, có làm xôi,
nấu chè, người ta cũng không quên làng xóm lân cận.
Khi có việc gì có thể có lợi, người
ta đều mách nhau. Tính ích kỷ thật là ít có đối với người dân quê… »
Với bài khảo cứu trên của ông
Toan Ánh về tính chất tương thân tương ái của người bình dân Việt-nam, chúng ta
không lấy gì làm lạ khi họ là lớp người tận cùng trong xã hội, họ cần phải giúp
đỡ nhau, thương mến nhau để sống, để chống lại mọi bất công đang phủ trùm lên đầu
họ. Ai cũng phải công nhận rằng những người cùng một hoàn cảnh, một tâm trạng
thường thương mến hơn. Người bình dân thời xưa đã cảm thấy điều đó. Họ bảo :
Giốc bồ thương kẻ ăn dong,
Vắng chồng thương kẻ nằm không một
mình.
Chỉ có những người đã nếm mùi đắng
cay đau khổ mới thương những kẻ bị đau khổ, đắng cay. Cho nên, lòng thương người
cũng chính là lòng thương mình.
Một vị thầy tu, sở dĩ có lòng bác
ái, vị tha, chẳng những họ thông hiểu nguyên lý về lẽ sống của con người, mà
chính họ cũng là kẻ đã từng bị khổ đau vì lẽ sống.
Một nhà trọc phú không biết
thương kẻ nghèo khó chính vì họ chưa nếm mùi đau khổ, và chính lòng họ cũng chẳng
bao giờ nghĩ rằng mình có thể bị khổ đau như vậy.
Cho nên, lòng tương thân tương ái
là một tình cảm phát xuất trong khổ đau, trong thực trạng đời sống con người.
Các nhà đạo đức học đã dùng nó để phát huy lẽ sống, chống lại dục vọng con người.
2. QUAN ĐIỂM KINH TẾ
Nếu trong lãnh vực chính trị người
bình dân bị áp bức về tinh thần khiến họ phải kiên trì, nhẫn nại, tương thân
tương ái để mà sống, thì trong lãnh vực kinh tế, chính người bình dân lại là lớp
người cực nhọc nhiều hơn ai hết về vật chất. Sự cực nhọc ấy đã hun đúc họ có được
bản tính cần cù, chất phác và chịu đựng mọi gian lao.
Khi một lớp người không có quyền
lực trong tổ chức xã hội thì nguồn sống của họ chỉ còn dựa vào sức lao động.
Đem mồ hôi để đổi lấy chén cơm, manh áo thì con người đâu còn nghĩ đến những
chuyện se sua về hình thức, giả nhân giả nghĩa, những mánh khóe lòe đời để phỉnh
phờ, gạt gẫm thiên hạ. Họ sống cuộc đời với thực chất của ý sống, không pha trộn.
Đó là căn bản phát sinh tính chất cần cù nhẫn nại của người bình dân.
Chúng ta phải nhìn ở họ những cảnh
khổ, như :
Một mình vừa chống vừa chèo,
Không ai tát nước đỡ nghèo một
khi.
Hoàn cảnh lao động thúc bách, vây
phủ, tràn ngập chung quanh cuộc sống mà họ chỉ thốt ra những lời cầu mong vô
tư, êm dịu và đậm tình như thế, sự kiện cho ta thấy rõ cảnh sống của họ không
cho phép họ thiếu bền chí, kiên nhẫn được. Chính hoàn cảnh xã hội tạo nên tâm
trạng và đức tính con người.
Chúng ta bảo họ cần cù ! Phải,
làm thế nào không cần cù được khi đời sống họ dẫy đầy kham khổ :
Chú kia nhổ mạ trên cồn,
Nước non không có, miệng mồm lấm
lem.
Đấy, sự vất vả cực nhọc của họ buộc
họ huy động mọi khả năng để chống chọi với gian lao. Tuy nhiên họ không lấy thế
làm nhục, câu hát trên đây chỉ là một câu trào lộng để diễn tả nỗi cực khổ của
kẻ bình dân. Họ đem những ý tưởng trào lộng phủ lên mọi cực nhọc của họ để làm
vui, để an ủi lấy mình, đồng thời cũng để tự hào bản tính cần cù của họ trong lẽ
sống. Chúng ta đừng tưởng trong cực nhọc, người bình dân sẽ mơ ước những gì cao
sang, đẹp đẽ, lòe loẹt. Không, họ đã cho chúng ta thấy :
Một trăm con gái Thủ,
Một lũ con gái chợ, anh không
màng,
Cảm thương con gái ruộng cơ hàn,
nắng mưa.
Hỡi những người phong lưu đài các
! Trong lúc các người không thích cảnh vất vả, không thích tay lấm chân bùn,
không thích những làn da rám nắng, không thích những gò má đen sạm vì gió sương
thì chính người bình dân cũng lại không màng đến những bàn tay óng chuốt, những
gót sen tơ đỏ chót của các người.
Tại sao ?
Phải chăng vì người bình dân là hạng
nghèo khổ dầu họ muốn có được sắc đẹp như vậy cũng chẳng làm sao có được, nên
phủ nhận ?
Thực ra không phải vậy ! Nếu
chúng ta thừa nhận tâm tư con người là sản phẩm của sinh hoạt xã hội thì chúng
ta lại phải thừa nhận rằng cuộc sống đã làm nẩy nở trong ý thức con người của mỗi
giai cấp một sự khác biệt.
Sỡ dĩ người quí tộc thích cái đẹp
xa hoa, phù phiếm chỉ vì họ đã tách rời cái đẹp vật chất của con người ra khỏi
cái đẹp tinh thần – cái đẹp của tình thương. Cái đẹp của đôi bàn tay óng chuốt,
đôi gót chân son, đôi má ửng hồng trong làn da trắng mịn chỉ là con người biệt
lập với đời sống. Trong lúc đó cái đẹp của đôi tay rám nắng, đôi má đen sạm kia
lại chứa đựng một dấu vết khổ đau của thân phận con người. Nó là cái đẹp của
tình thương, của những tâm hồn đã trộn lẫn với loại tình thương ấy. Như vậy, ý
thức của người bình dân thích cái đẹp của kẻ cơ hàn nắng mưa không phải là chuyện
phi lý. Dưới mắt họ bao giờ cũng chứa đựng một tình thương, và tình thương ấy
xuất phát ở sức lao động, làm nền tảng cho lẽ sống.
Vả lại guồng máy kinh tế của xã hội
phong kiến ảnh hưởng vào sinh kế của gia đình bình dân không phải ít. Gia đình
bình dân không một ai rảnh rỗi ! Tất cả đều phải làm việc, phải lặn lội trong nắng
mưa. Nếu họ là gia đình ngư nghiệp thì :
Cha chài, mẹ lưới, con câu,
Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò.
Hoặc : Chồng chài, vợ lưới,
con câu,
Sống nhờ bọt nước lấy đâu mà
giàu.
Như vậy, nếu cái đẹp đối với họ
không phải là cái đẹp của cần cù thì làm sao chung sống với họ được ? Vả lại, đối
với họ, con người sinh ra không phải để sống nhờ vào sức lực của kẻ khác. Cái
mà họ quí trọng là sự đương đầu với mọi áp lực của thiên nhiên, của con người.
Dù phải ở trong hoàn cảnh :
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng
bông.
Thì họ vẫn tin vào sự bền chí,
kiên nhẫn của họ để đạt lấy sự thành công :
Người đời ai khỏi gian lao,
Gian nan có thuở, thanh nhàn có
khi.
Thanh nhàn đối với họ không có
nghĩa là giàu sang, mà chỉ có nghĩa là giữ được mức thăng bằng với lẽ sống. Họ
không có cao vọng sống trên địa vị xã hội. Bởi vậy họ nhìn đời bằng đôi mắt tự
phụ :
Càng cao, càng gió, càng lay.
Càng cao danh vọng, càng dầy gian
nan.
Lấy kinh nghiệm thực tiễn trong lẽ
sống, chính họ đã thấy rõ sự vật lộn của giai cấp, sự cấu xé của loài người để
ngồi lên một địa vị trong xã hội, để lẩn trốn trách nhiệm lao động cực nhọc, muốn
sống thảnh thơi trên sức làm việc của kẻ khác mà đang tâm tiêu diệt mọi tình
thương đồng loại. Người bình dân cũng đã nhận rõ yếu tố trên là nguồn gốc của
ích kỷ, tham lam, nên họ mỉa mai :
Ma không thương người ốm,
Kẻ trộm không thương nhà nghèo.
Thật vậy, nếu kẻ trộm kia cũng
quan niệm như họ, biết sống bằng sự làm lụng cực nhọc thì kẻ trộm chẳng bao giờ
lấy của nhà nghèo. Theo họ, kẻ lương thiện là kẻ không sống nhờ kẻ khác, và kẻ
nào đã sống nhờ kẻ khác, thì chẳng lương thiện bao giờ.
Quan niệm như vậy, người bình dân
tạo cho mình một tinh thần tự lực tự cường. Họ không ngại gian lao. Tinh thần ấy
được biểu lộ một cách rõ rệt qua những câu hò, câu hát, như :
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi,
Giậm ra ván nát, thuyền thì long
đanh.
Đôi ta lên thác xuống gành,
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Họ bằng lòng gánh vác một cách thản
nhiên mọi trách vụ gian nguy trong đời sống họ với sức kiên nhẫn của con người.
Chiếc thuyền nho nhỏ, ngọn cỏ đìu
hiu :
Nay nước thủy triều, mai lại nước
rươi.
Sông sâu sóng cả em ơi,
Chờ cho sóng lặng, buồm xuôi ta
xuôi cùng.
Trót đem nhau vào kiếp bình bồng,
Xuống ghềnh lên thác quyết một
lòng cho ngoan.
Xem đời người như một con thuyền
trên sóng, bão tố là chuyện tất nhiên, muốn giữ vững con thuyền chỉ có sức người
và trì chí mới là yếu tố quan trọng. Người bình dân sẵn sàng đặt mình trước mọi
việc tất yếu của lẽ sống. Dù ở địa hạt nào, tinh thần chịu đựng của họ cũng
sáng ngời :
Cấy đồng giữa buổi đang trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng
cày.
Thì họ vẫn xem đó là bổn phận làm
người ; đồng thời họ lại nhắn nhủ với nhau chớ thấy cực khổ mà bất mãn với cuộc
sống :
Dù no, dù đói cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo
toan.
Tại sao họ lại bằng lòng với thực
trạng cuộc đời khổ cực của họ mà không hề than thở. Nếu người bình dân không có
tinh thần tự lực tự cường thì chẳng bao giờ đủ sức chịu đựng như vậy ! Sức lao
động quả là một vũ khí chinh phục gian lao, một năng lực bảo vệ đời sống con
người, và cũng là nguồn vinh dự để họ tin tưởng và tự phụ đối với họ ! Mang một
tinh thần mạnh mẽ trong ý thức tự tồn do sức lao động của mình, họ đã khinh thường
những kẻ biếng nhác :
Giàu đâu những kẻ ngủ trưa,
Sang đâu những kẻ say sưa tối
ngày.
2. QUAN ĐIỂM KINH TẾ
Nếu trong lãnh vực chính trị người
bình dân bị áp bức về tinh thần khiến họ phải kiên trì, nhẫn nại, tương thân
tương ái để mà sống, thì trong lãnh vực kinh tế, chính người bình dân lại là lớp
người cực nhọc nhiều hơn ai hết về vật chất. Sự cực nhọc ấy đã hun đúc họ có được
bản tính cần cù, chất phác và chịu đựng mọi gian lao.
Khi một lớp người không có quyền
lực trong tổ chức xã hội thì nguồn sống của họ chỉ còn dựa vào sức lao động.
Đem mồ hôi để đổi lấy chén cơm, manh áo thì con người đâu còn nghĩ đến những
chuyện se sua về hình thức, giả nhân giả nghĩa, những mánh khóe lòe đời để phỉnh
phờ, gạt gẫm thiên hạ. Họ sống cuộc đời với thực chất của ý sống, không pha trộn.
Đó là căn bản phát sinh tính chất cần cù nhẫn nại của người bình dân.
Chúng ta phải nhìn ở họ những cảnh
khổ, như :
Một mình vừa chống vừa chèo,
Không ai tát nước đỡ nghèo một
khi.
Hoàn cảnh lao động thúc bách, vây
phủ, tràn ngập chung quanh cuộc sống mà họ chỉ thốt ra những lời cầu mong vô
tư, êm dịu và đậm tình như thế, sự kiện cho ta thấy rõ cảnh sống của họ không
cho phép họ thiếu bền chí, kiên nhẫn được. Chính hoàn cảnh xã hội tạo nên tâm
trạng và đức tính con người.
Chúng ta bảo họ cần cù ! Phải,
làm thế nào không cần cù được khi đời sống họ dẫy đầy kham khổ :
Chú kia nhổ mạ trên cồn,
Nước non không có, miệng mồm lấm
lem.
Đấy, sự vất vả cực nhọc của họ buộc
họ huy động mọi khả năng để chống chọi với gian lao. Tuy nhiên họ không lấy thế
làm nhục, câu hát trên đây chỉ là một câu trào lộng để diễn tả nỗi cực khổ của
kẻ bình dân. Họ đem những ý tưởng trào lộng phủ lên mọi cực nhọc của họ để làm
vui, để an ủi lấy mình, đồng thời cũng để tự hào bản tính cần cù của họ trong lẽ
sống. Chúng ta đừng tưởng trong cực nhọc, người bình dân sẽ mơ ước những gì cao
sang, đẹp đẽ, lòe loẹt. Không, họ đã cho chúng ta thấy :
Một trăm con gái Thủ,
Một lũ con gái chợ, anh không
màng,
Cảm thương con gái ruộng cơ hàn,
nắng mưa.
Hỡi những người phong lưu đài các
! Trong lúc các người không thích cảnh vất vả, không thích tay lấm chân bùn,
không thích những làn da rám nắng, không thích những gò má đen sạm vì gió sương
thì chính người bình dân cũng lại không màng đến những bàn tay óng chuốt, những
gót sen tơ đỏ chót của các người.
Tại sao ?
Phải chăng vì người bình dân là hạng
nghèo khổ dầu họ muốn có được sắc đẹp như vậy cũng chẳng làm sao có được, nên
phủ nhận ?
Thực ra không phải vậy ! Nếu
chúng ta thừa nhận tâm tư con người là sản phẩm của sinh hoạt xã hội thì chúng
ta lại phải thừa nhận rằng cuộc sống đã làm nẩy nở trong ý thức con người của mỗi
giai cấp một sự khác biệt.
Sỡ dĩ người quí tộc thích cái đẹp
xa hoa, phù phiếm chỉ vì họ đã tách rời cái đẹp vật chất của con người ra khỏi
cái đẹp tinh thần – cái đẹp của tình thương. Cái đẹp của đôi bàn tay óng chuốt,
đôi gót chân son, đôi má ửng hồng trong làn da trắng mịn chỉ là con người biệt
lập với đời sống. Trong lúc đó cái đẹp của đôi tay rám nắng, đôi má đen sạm kia
lại chứa đựng một dấu vết khổ đau của thân phận con người. Nó là cái đẹp của
tình thương, của những tâm hồn đã trộn lẫn với loại tình thương ấy. Như vậy, ý
thức của người bình dân thích cái đẹp của kẻ cơ hàn nắng mưa không phải là chuyện
phi lý. Dưới mắt họ bao giờ cũng chứa đựng một tình thương, và tình thương ấy
xuất phát ở sức lao động, làm nền tảng cho lẽ sống.
Vả lại guồng máy kinh tế của xã hội
phong kiến ảnh hưởng vào sinh kế của gia đình bình dân không phải ít. Gia đình
bình dân không một ai rảnh rỗi ! Tất cả đều phải làm việc, phải lặn lội trong nắng
mưa. Nếu họ là gia đình ngư nghiệp thì :
Cha chài, mẹ lưới, con câu,
Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò.
Hoặc : Chồng chài, vợ lưới,
con câu,
Sống nhờ bọt nước lấy đâu mà
giàu.
Như vậy, nếu cái đẹp đối với họ
không phải là cái đẹp của cần cù thì làm sao chung sống với họ được ? Vả lại, đối
với họ, con người sinh ra không phải để sống nhờ vào sức lực của kẻ khác. Cái
mà họ quí trọng là sự đương đầu với mọi áp lực của thiên nhiên, của con người.
Dù phải ở trong hoàn cảnh :
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng
bông.
Thì họ vẫn tin vào sự bền chí,
kiên nhẫn của họ để đạt lấy sự thành công :
Người đời ai khỏi gian lao,
Gian nan có thuở, thanh nhàn có
khi.
Thanh nhàn đối với họ không có
nghĩa là giàu sang, mà chỉ có nghĩa là giữ được mức thăng bằng với lẽ sống. Họ
không có cao vọng sống trên địa vị xã hội. Bởi vậy họ nhìn đời bằng đôi mắt tự
phụ :
Càng cao, càng gió, càng lay.
Càng cao danh vọng, càng dầy gian
nan.
Lấy kinh nghiệm thực tiễn trong lẽ
sống, chính họ đã thấy rõ sự vật lộn của giai cấp, sự cấu xé của loài người để
ngồi lên một địa vị trong xã hội, để lẩn trốn trách nhiệm lao động cực nhọc, muốn
sống thảnh thơi trên sức làm việc của kẻ khác mà đang tâm tiêu diệt mọi tình
thương đồng loại. Người bình dân cũng đã nhận rõ yếu tố trên là nguồn gốc của
ích kỷ, tham lam, nên họ mỉa mai :
Ma không thương người ốm,
Kẻ trộm không thương nhà nghèo.
Thật vậy, nếu kẻ trộm kia cũng
quan niệm như họ, biết sống bằng sự làm lụng cực nhọc thì kẻ trộm chẳng bao giờ
lấy của nhà nghèo. Theo họ, kẻ lương thiện là kẻ không sống nhờ kẻ khác, và kẻ
nào đã sống nhờ kẻ khác, thì chẳng lương thiện bao giờ.
Quan niệm như vậy, người bình dân
tạo cho mình một tinh thần tự lực tự cường. Họ không ngại gian lao. Tinh thần ấy
được biểu lộ một cách rõ rệt qua những câu hò, câu hát, như :
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi,
Giậm ra ván nát, thuyền thì long
đanh.
Đôi ta lên thác xuống gành,
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Họ bằng lòng gánh vác một cách thản
nhiên mọi trách vụ gian nguy trong đời sống họ với sức kiên nhẫn của con người.
Chiếc thuyền nho nhỏ, ngọn cỏ đìu
hiu :
Nay nước thủy triều, mai lại nước
rươi.
Sông sâu sóng cả em ơi,
Chờ cho sóng lặng, buồm xuôi ta
xuôi cùng.
Trót đem nhau vào kiếp bình bồng,
Xuống ghềnh lên thác quyết một
lòng cho ngoan.
Xem đời người như một con thuyền
trên sóng, bão tố là chuyện tất nhiên, muốn giữ vững con thuyền chỉ có sức người
và trì chí mới là yếu tố quan trọng. Người bình dân sẵn sàng đặt mình trước mọi
việc tất yếu của lẽ sống. Dù ở địa hạt nào, tinh thần chịu đựng của họ cũng
sáng ngời :
Cấy đồng giữa buổi đang trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng
cày.
Thì họ vẫn xem đó là bổn phận làm
người ; đồng thời họ lại nhắn nhủ với nhau chớ thấy cực khổ mà bất mãn với cuộc
sống :
Dù no, dù đói cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bài lo
toan.
Tại sao họ lại bằng lòng với thực
trạng cuộc đời khổ cực của họ mà không hề than thở. Nếu người bình dân không có
tinh thần tự lực tự cường thì chẳng bao giờ đủ sức chịu đựng như vậy ! Sức lao
động quả là một vũ khí chinh phục gian lao, một năng lực bảo vệ đời sống con
người, và cũng là nguồn vinh dự để họ tin tưởng và tự phụ đối với họ ! Mang một
tinh thần mạnh mẽ trong ý thức tự tồn do sức lao động của mình, họ đã khinh thường
những kẻ biếng nhác :
Giàu đâu những kẻ ngủ trưa,
Sang đâu những kẻ say sưa tối
ngày.
Đã sinh ra kiếp nam nhi, tượng
trưng cho sức mạnh, cho khả năng lèo lái con thuyền trước phong ba, thế thì tại
sao lại tránh trách nhiệm ? Không ! Đối với họ, con người không có quyền chối bỏ
năng lực của mình hiện có. Họ bảo :
Đã sanh ra kiếp đàn ông,
Đèo cao, núi thẳm, hang cùng kể
chi ?
Từ ý thức xem sức lao động là
năng lực của thiên nhiên và là bổn phận của con người trước lẽ sống. Giá có ai
khinh khi sức lao động của họ, họ sẽ phản ứng ngay. Những ý thức chống đối bao
giờ cũng hàm chứa trong thanh bạch. Họ bảo :
Giàu thì cũng chẳng có thèm,
Khó khăn ta liệu ta làm ta ăn.
Hoặc : Giàu thì cơm cháo bổ
lao,
Khó thì đánh điếu thuốc lào ngậm
hơi !
Không phải họ chê cái giàu, mà
chính họ khinh khi những kẻ làm giàu trên sức lao động của kẻ khác. Cái giàu ấy
đối với họ là cái giàu bất lương, trái với đạo làm người.
Đạo làm người đối với họ là tự lực
cánh sinh, tức là phải tự mình nuôi lấy thân mình, không nhờ vã ai. Do đó, họ
nêu lên những nghị lực, như :
Muốn ăn lăn vào bếp,
Muốn chết lết ra gò.
Ý thức trên đây quả là tinh thần
bất mãn đối với kẻ ăn gởi nằm nhờ, mua danh chuốc lợi. Và chính sự bất mãn ấy
đưa tâm tư họ đi dần đến chỗ khinh miệt những giá trị bên ngoài của con người
mà họ cho là giã dối :
Hay quần, hay áo, hay hơi,
Mà chẳng hay người là của bỏ đi.
Họ đánh giá con người không phải
bằng những phù phiếm bên ngoài, mà bằng thực chất của con người :
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Bỏ ra bóc trần, ai cũng như ai.
Ý thức thực tiễn trong lẽ sống của
người bình dân đã đưa giá trị con người trở về với bản ngã.
Thực vậy, con người có hai phần
giá trị : giá trị bản ngã và giá trị tâm thức.
Giá trị bản ngã là giá trị thiên
nhiên của mỗi con người thụ hưởng do luật sinh tồn của vũ trụ ; cũng như mỗi
con người đều có một sức lao động để mưu sinh, một khối óc để hiểu biết và một
bản năng chống lại mọi nguy nan. Phần giá trị này ai cũng như ai.
Giá trị tâm thức là phần bản lãnh
của con người trong cuộc sống. Nó là mưu mô, là sự tiếm đoạt, là khả năng chiếm
hữu của con người. Phần này không ai giống ai và biểu lộ bên ngoài bằng nhiều
hình thái.
Người bình dân vốn là kẻ quê mùa,
mộc mạc, cần cù, chất phác. Bản tính của họ xuất phát từ giá trị bản ngã, nên họ
lúc nào cũng đề cao ý thức tự lực tự cường.
Chỉ có ý thức tự lực tự cường mới
đưa con người đến đời sống tự lập và khinh thường lợi danh. Mọi cử chỉ nhân đạo
của con người cũng từ lãnh vực ấy mà phát sinh.
Tuy nhiên, tự lực tự cường mới chỉ
là quan điểm nhân sinh của người bình dân, tức là ý thức để tranh đấu cho lẽ sống,
chứ chưa phải phương thức thực hiện. Phương thức thực hiện của họ vẫn là cần
cù, nhẫn nại. Nếu không cần cù, nhẫn nại thì chẳng bao giờ đạt đến ý hướng tự lực
tự cường được.
Tinh thần nhẫn nại của họ phát hiện
bàng bạc trong các câu ca dao, như :
Ai ơi, đã quyết thì hành,
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây.
Ai ơi, đã quyết thì hành,
Đã đan thì lận tròn vành mới
thôi.
Ai ơi, chẳng chóng thì chầy,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Dĩ nhiên cần cù, nhẫn nại là một
ý thức đấu tranh tích cực trong đời sống con người ! Người đời ai lại không muốn
rảnh rang mà được ăn sung mặc sướng. Nó chính là cái bả mồi để đưa loài người
vào tròng xâu xé, chém giết nhau… Người bình dân muốn tránh cái bả mồi ấy tất
phải dùng tâm tư mình chống lại sự cám dỗ của dục vọng.
Đó là một khó khăn. Tuy nhiên,
người bình dân vốn có phương tiện hơn các từng lớp người khác, vì họ là kẻ cùng
khổ, sống trong cực nhọc đã quen, sự hoành hành của dục vọng không còn có hiệu
lực mạnh mẽ trong bản ngã họ. Cho nên, họ tự phụ là phải :
Dù ai nói đông, nói tây,
Thì ta vẫn vững như cây giữa rừng.
Dù ai nói ngửa nói nghiêng,
Lòng ta vẫn giữ như kiềng ba
chân.
Đây ta như cây trên rừng,
Ai lay không chuyển, ai rung
không sờn.
Với ý thức tự cường, nhẫn nại ấy,
tâm hồn người bình dân trở nên thanh thản trước sóng gió vật chất, và cuộc sống
của họ trở nên thanh nhàn trong đời mộc mạc của họ.
Đây, ta hãy nghe từ tâm tư họ
thoát ra :
Cóc kêu dưới vũng tre ngâm,
Cóc kêu mặc cóc, tre giầm mặc
tre.
Hỡi những con cóc kia ! Tiếng kêu
của các ngươi không làm lay chuyển được vũng tre ngâm, cũng như mồi danh lợi
không làm xao xuyến được lòng người bình dân. Tuy cùng sống chung trong một
dòng đời, nhưng hai bên hình như tách biệt. Chính vì thế mà cuộc sống họ trở
nên ung dung tự tại :
Mặc ai lưới, mặc ai te,
Ta cứ thủng thẳng kéo bè nghinh
ngang.
Phải cho bền chí câu cua,
Mặc ai câu trạnh, câu rùa mặc ai.
Thủng thẳng mà lượm hoa rơi,
Ở cho có chí hơn người trèo cao.
Ai ơi giữ chí cho bền,
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.
Họ không cần thiết đua chen, bay
nhảy, đối với họ, khi đã quan niệm đem sức mình sống với sức mình thì dù có bay
nhảy cũng chỉ bằng thừa. Họ bảo :
Trời sinh voi sinh cỏ.
Nghĩa là trời đã sinh con người
có sức lao động tất nhiên sức lao động ấy là tài sản để nuôi con người. Lòng họ
không quá bận rộn, lo âu về viễn tượng một cuộc sống phù hoa. Vì vậy mà họ, và
chỉ họ mới nói lên được tiếng nói của vũ trụ.
Còn trời còn nước còn mây,
Còn ao rau muống, còn đầy chum
tương.
Dù gặp sóng gió trong đời, họ vẫn
thản nhiên :
Chớ thấy sóng cả mà lo,
Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng.
3. QUAN ĐIỂM XÃ HỘI
Nếu chúng ta quan niệm xã hội
loài người là một bức tranh màu sắc rực rỡ thì những màu sắc ấy chính là những
chứng tích của dục vọng con người.
Dục vọng con người không phải chỉ
âm thầm nằm trong tâm tưởng mà nó luôn luôn phát hiện ra ngoài bằng màu sắc xã
hội.
Sở dĩ ta thấy người bình dân cần
cù, quê mùa, mộc mạc là vì con mắt chúng ta đã thấy những màu sắc xa hoa, phù
phiếm của xã hội.
Ví như, màu sắc của nhà sư là chiếc
áo đà, và chiếc áo đà chỉ có nghĩa tu hành khi trong xã hội có trăm ngàn màu sắc
rực rỡ khác đang nổi bật lên.
Cũng như, nếu bên cạnh xã hội
bình dân không có những cảnh xa hoa, phù phiếm thì xã hội bình dân chẳng còn nằm
trong trạng thái cần cù, chất phác, mộc mạc nữa. Nó sẽ được đồng hóa. Vậy quan
niệm người bình dân cần cù, chất phát, mộc mạc chỉ là quan niệm so sánh, quan
niệm phân tích trước một bức tranh nhiều màu, mà không có giá trị khen chê.
Nếu đem sự phân tích ấy đặt vào
giá trị khen chê thì thật là chuyện lầm lạc. Vì nếu bảo tính chất của họ là tốt
đẹp tại sao xã hội loài người không bắt chước mà lại đua đòi theo màu sắc xa
hoa, bóng bẩy của thời đại ? Còn nếu bảo tính chất của họ xấu xa, lạc hậu thì tại
sao lại xấu xa, lạc hậu, trong lúc sự cần cù chất phác của họ chính là nguồn gốc xây dựng
đạo đức con người, nguồn gốc bảo vệ nhân cách, nguồn gốc của nhân sinh tự tại ?
Ở đây chúng ta không đặt vấn đề
khen chê mà chỉ tìm hiểu tính chất thôi.
Chính người bình dân Việt-nam thời
xưa cũng đã nhận quan điểm của họ trước xã hội loài người. Họ cho cuộc sống
loài người nếu xa rời thực chất con người, thì chỉ còn là ngụy tạo, mà những ngụy
tạo chẳng bao giờ bền.
Mọi cực đoan trong xã hội đều sớm
bị tiêu diệt. Màu sắc càng lòe loẹt càng dễ tàn phai :
Đào thắm thì đào lại phai
Đồ nâu dãi nắng thì mài chẳng đi
Hương thơm càng nức mùi càng mau
hết :
Càng thắm thì lại càng phai,
Thoang thoảng hoa lài thì được
thơm lâu.
Ý thức như vậy cho nên họ từ chối
mọi giá trị của nghệ thuật không chứa đựng tính chất lao động. Nói như thế cũng
có nghĩa là họ đứng ra bênh vực tinh thần cần cù, chất phác của họ, mà chỉ
riêng họ, con người lao động, mới thấy giá trị của nó. Họ bảo :
Đèn trời đèn sáng bốn phương,
Đèn tôi sáng tỏ đầu giường nhà
tôi.
Hoặc : Đèn nhà ai rạng nhà nấy,
Khách qua đường biết đấy là đâu.
Thực vậy, nếu không là một nhà tu
thì khó thấy được mục đích cao cả của kẻ vì đạo. Nếu không là người bình dân
thì không sao phân tích nổi tâm trạng của kẻ không màng lợi danh.
Đời sống của họ là hoạt động, hoạt
động bằng sức làm việc của mình. Kẻ nào đã không dùng hết sức mình trong việc
làm kể như chết đi một phần. Họ bảo :
Đời người chỉ một gang tay,
Ai hay ngủ ngày chỉ được nửa
gang.
Những kẻ đang ngủ không phải là
những kẻ đang sống. Ví như những kẻ ăn không ngồi rồi cũng không phải là những
người đang sống. Khi họ phí mất sức làm việc hoặc không dùng sức làm việc để
nuôi thân họ kể như họ đang chết. Trong cái khoảng một gang tay ấy, người bình
dân đã đem sức lao động để đánh giá giá trị cuộc đời con người.
Quan niệm về cuộc đời họ lại cho
rằng đời người chỉ là một thời gian tạm bợ, thì dù có se sua, lòe loẹt đến đâu,
lúc chết cũng chẳng được gì. Họ bảo :
Một đời đánh sáp đeo hoa,
Một đời ỉa trịn cũng qua một đời.
Cái tốt và cái xấu của thân xác
con người lúc chết vẫn ngang nhau. Giá trị con người không hơn không kém. Vậy
thì giá trị con người ở chỗ nào nếu không phải là giá trị lao động, cái mà con
người đã dùng nó để tự lực tự cường, để nuôi lấy thân mình, làm lợi cho đồng loại.
Bởi vậy, họ không cho cần cù, chất
phác là xấu, là đáng chê. Đời người nếu chưa chết dù phải khổ sở, phiêu bạt
điêu linh đến đâu cũng chẳng mất. Họ tự nhủ :
Đừng có chết mất thì thôi,
Kìa như cái cóc bôi vôi lại về.
4. QUAN ĐIỂM VĂN HÓA
Tính chất cần cù, nhẫn nại, chất
phác cũng chính là nguồn gốc tạo nên tính chất nền văn hóa bình dân.
Người bình dân sống với sức lao động,
dùng sức lao động làm nền tảng cho cuộc sống, tất nhiên tâm hồn họ phải thực tế,
cử chỉ họ phải mộc mạc, hồn nhiên.
Sở dĩ lớp người quí tộc có lời ăn
tiếng nói trang nhã, có những cử chỉ bóng dáng, chỉ vì họ không dùng đến sức
lao động của họ. Họ sống trong nhàn rỗi, tâm tư của họ không chịu ảnh hưởng lao
động, cử chỉ họ thoát ra ngoài vòng ràng buộc của tay chân trong nghề nghiệp.
Ngược lại, người bình dân dù muốn nghĩ khác và làm khác đi cũng không được, bởi
vì thân xác họ phải gánh vác những việc nặng nề, tâm hồn họ dính liền với đời sống
thực tế.
Chúng ta bảo họ quê mùa, mộc mạc
! Được ! Nhưng chúng ta không quyền chê họ. Tại sao chúng ta bắt họ phải có những
cử chỉ trang nhã, ăn nói bóng bẩy, mà những cái đó đối với họ không cần thiết.
Họ nói những lời nói không giấu
lòng họ, làm những cử chỉ không che đậy của họ, như vậy không có gì gọi là thô
bỉ cả.
Tại sao chúng ta không dám nói tiếng
thực tế như họ, ví dụ :
Nhiều phân tốt lúa,
Nhiều lụa tốt l…
Trong lúc những việc thực tế ấy
luôn luôn diễn biến trước mắt chúng ta ?
Chúng ta cho tiếng nói của họ là
nôm na, mách qué ? Không, tiếng nói của họ không bóng bẩy, văn hoa, song là đặc
tính của bình dân. Chúng ta đừng bắt họ phải pha trộn để mất tính chất ấy. Vả lại,
tiếng nói để diễn đạt tâm tư, dù chúng ta có dùng những danh từ bóng bẩy đến
đâu cũng phải làm cho người đối thoại hiểu cái nghĩa chúng ta muốn nói, thế thì
giấu đi để làm gì ?
Người bình dân không cần bóng bẩy
! Cử chỉ và lời nói họ là phản ảnh chân thật, và chỉ có chân thật mới có giá trị
đối với quan niệm nhân sinh của họ.
Bởi vì, nguồn gốc của cử chỉ
trang nhã, của lời bóng bẩy là gì ? Chính nó là phương pháp đấu tranh về xảo
thuật, bắt đối phương phải quan niệm giá trị hiểu biết mình qua lối giao thiệp.
Phương pháp ấy đã đẩy con người vào chỗ lừa dối mình, phỉnh phờ kẻ khác, tạo
thành những lầm lạc về giá trị con người, mà chúng ta cho đó là trình độ văn
minh.
Thực ra, đối với người bình dân,
thì cái văn minh ấy chẳng qua là cái văn minh giả tạo của ý thức con người, chứ
không phải cái văn minh của bản ngã con người. Cái văn minh của bản ngã là cái
văn minh về đạo nghĩa, phải bắt nguồn từ chân thật, mình không lừa dối ai đã
đành, nhưng cũng đừng để cho ai hiểu lầm mình.
Mặt khác, người bình dân là lớp
người thấp kém nhất trong xã hội, họ không cần ai khen chê họ, thì họ cần gì phải
ràng buộc vào một nghi thức phiền toái.
Chính vì yếu tố trên mà người
bình dân có những tính chất khác biệt trong xã hội loài người.
*
Tóm lại, từ xưa đến nay, dù với
thế hệ nào, chúng ta vẫn thừa nhận người bình dân là lớp người cần cù, nhẫn nại,
chất phác. Những đức tính ấy chính là quan niệm nhân sinh của họ. Quan niệm
nhân sinh của họ là đem sức lao động để tự lực tự cường. Và từ chỗ từ lực
tự cường ấy mà họ trở thành con người tự lập, sống bằng sức lực mình, không lừa
đảo, điêu ngoa.
Cũng từ trong hoàn cảnh phải đem
sức lao động cực nhọc để nuôi sống mà họ nẩy sinh ra một tình thương, khiến họ
trở thành con người vị tha nhiều hơn vị kỷ. Lòng bác ái của họ phát xuất từ nguồn
gốc ấy.
Cũng từ đặc chất của bản tính họ
mà họ khinh thường danh vọng, xem nhẹ giàu sang. Họ sống gần gũi với ý thức đạo
nghĩa.
Cho nên, nếu chúng ta đi tìm đạo
nghĩa trong lẽ sống mà chỉ tìm ở các giáo lý, ở các triết thuyết hiện thời mà
không trở về với lẽ sống người bình dân ngàn xưa, tìm hiểu nhân sinh quan của họ
thì thật là chuyện thiếu sót. Tiền nhân chúng ta tuy không có ý thức triết học,
nhưng cuộc sống đúc kết cho họ một quan niệm về chân lý nhân sinh.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO TÍNH CHẤT CẦN CÙ, KIÊN NHẪN, CHẤT PHÁC
1. Ai về đường ấy mặc ai,
Ta về cày ruộng trồng đồi ta ăn.
Đỉnh chung là miếng nợ nần,
Hay chi bó buộc mà lăn lưng vào.
Mưa xuân phơi phới vườn hồng,
Ta về đắp đất mà trồng lấy cây.
Trồng lấy cây mong ngày có quả.
Can chi mà vất vả ai ơi,
Long đong nay ngược mai xuôi.
Đỉnh chung là cạm trên đời hay
chi.
Ai giàu thì mặc ai giàu,
Ta về ta ở hái dâu nuôi tằm.
Ta chăn tằm, lấy tơ ta dệt,
May áo quần khỏi rét ai ơi !
Tham chi tấm áo của người,
Họ cho ta mặc lại đòi lại ngay.
2. Ai về ai ở mặc ai,
Ta như dầu đượm thắp hoài năm
canh.
3. Ai ơi đừng bỏ ruộng
hoang,
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy
nhiêu.
4. Áo Tô-Tần ấm cật, cơm Tử-Lộ
no lòng,
Ăn bận anh dài vắn cho xong,
Kiệm cần dư dả để phòng cưới em.
5. Ăn được ngủ được là tiên,
Không ăn không ngủ là tiền vứt
đi.
6. Ăn cơm với cáy thì ngáy o
o,
Ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy.
7. Bán hàng ăn những chũm
cau,
Chồng con có biết cơ màu này
chăng ?
8. Bậu đừng đòi lãnh đòi
lương,
Vải bô bậu mặc thường thường thì
thôi.
9. Bởi anh tham việc nông
công,
Cho nên mới có bồ trong bịch
ngoài.
10. Canh rau cũng thể canh
rau,
Để ai cậy thế, ỷ giàu mặc ai.
11. Cây khô tưới nước cũng
khô,
Vận nghèo đi tới xứ mô cũng
nghèo.
12. Có răng thì để răng
nhai,
Không răng lợi gặm chẳng sai miếng
nào.
13. Có tiền khôn như con
tép,
Không tiền dại như con dòng dòng.
14. Có ăn vất vả đã xong,
Không ăn ta phải nhọc lòng làm
chi.
15. Cơm ăn một bữa một lưng,
Hơi đâu mà giận người dưng thêm
phiền.
16. Cú có cú ăn,
Vọ không có vọ lăn ra chết.
17. Của giàu tám lượng,
nghìn tư,
Chết hai tay cắp lỗ đít.
18. Cuộc đời để mặc cho đời,
Vinh hoa thế sự phó cho mặc đời.
19. Chẳng lo đuổi thỏ săn
hưu,
Rồng còn uốn khúc ở ao đợi thì.
Kình nghê vui thú kình nghê,
Tép tôm thì lại vui bề tép tôm
Xem loài bán thỏ buôn hùm,
Thấy mồi như trĩ bởi tham mắc
giò.
Thà ăn cáy ngáy o o,
Còn hơn ngay ngáy ăn bò làm chi.
20. Chẳng được miếng thịt miếng
xôi,
Cũng được lời nói cho nguôi tấm
lòng.
21. Chẳng nên cơm cháo gì
đâu,
Trở về đất bãi trồng dâu chăn tằm.
Ai ơi ! trời chẳng trao quyền,
Túi thơ đủng đỉnh vui miền thú
quê.
22. Chẳng ngon cũng thể sốt,
Chẳng tốt cũng thể mới.
23. Chi bằng cần trúc áo
tơi,
Danh cương lợi tỏa mặc đời tranh
đua.
24. Chim gà, cá, lợn cành
cau,
Mùa nào thức ấy giữ màu nhà quê.
25. Chồng chài, vợ lưới, con
câu,
Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà.
26. Chữ nhẫn là chữ tương
vàng,
Ai mà nhẫn được thì càng sống
lâu.
27. Dù ai sang cả mặc ai,
Thân này nước chảy hoa trôi sá
gì.
28. Đã từng ăn bát cơm đầy,
Đã từng nhịn đói bảy ngày không
ăn.
29. Đã giàu thì lại giàu
thêm,
Đã khó lại khó cả ngày lẫn đêm.
30. Đàn ông học sảy học
sàng,
Đến khi vợ đẻ phải làm mà ăn.
31. Đàn bà không biết nuôi
heo, đàn bà nhác,
Đàn ông không biết cột nuộc lạt,
đàn ông hư.
32. Đánh cờ nước bí không
toan,
Dù anh khéo liệu trăm bàn cũng
thua.
33. Đến ta mới biết của ta,
Nghìn trăm năm trước biết là của
ai ?
34. Đói thì đầu gối phải bò,
Cái chân phải chạy cái giò phải
đi.
35. Giàu về thể, nghèo về thể,
Mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn.
36. Giàu không hà tiện, khó
liền trong tay.
Khó không hà tiện, khó ăn mày.
37. Giàu từ trong trứng giàu
ra,
Khó từ ngã bảy ngã ba kéo về.
38. Giàu nhân ngãi hãy giữ
cho giàu,
Khó tiền bạc mựa lo rằng khó.
39. Giàu ba mươi tuổi chớ mừng.
Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo.
40. Hay làm mà chẳng hay lo,
Làm chi làm vậy làm cho nhọc
mình,
41. Hoài tiền mua pháo đốt
chơi,
Pháo nổ tan xác tiền ơi là tiền.
42. Hoài tiền mua thuốc nhuộm
răng,
Để tiền mua mía đánh khăng vào mồm.
43. Ý ai thì mặc ý ai,
Ý tôi, tôi muốn canh khoai đầy nồi.
44. Khó giúp nhau mới thảo,
Giàu phù trợ không ơn.
45. Không ngoan chẳng lọ thật
thà,
Lường thưng tráo đấu, chẳng qua
đong đầy.
46. Không ai giàu ba họ,
Không ai khó ba đời.
47. Làm trai có chí lập
thân,
Chẳng nên thì chớ chẳng nhờ cậy
ai.
48. Làm trai chí ở cho bền,
Đừng lo muộn vợ, chớ phiền muộn
con.
9. Làm trai quyết chí tu
thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Khi nên trời giúp công cho,
Làm trai năm liệu bảy lo mới hào.
Trời sinh trời chẳng phụ nào,
Công danh gặp hội anh hào ra tay,
Trí khôn rắp sẵn dạ này,
Có công mài sắt có ngày nên kim.
50. Làm người chỉ biết tiện
tần,
Đồ ăn thức mặc có ngần thì thôi.
Những người đói rách rạt rời,
Bởi phụ của trời làm chẳng nên
ăn.
51. Làm thân con vạc mà chẳng
biết lo,
Bán đất cho cò phải đi ăn đêm.
52. Làm trai phải biết đủ
nghề,
Hòng khi có lỡ thì về mót khoai.
Mót được củ chạc, củ chài,
Củ giắt lưng khố, củ nhai vào mồm.
53. Lận đận lao đao, phải
sao chịu vậy,
Tới số ăn mày, bị gậy phải mang.
54. Lên non ẩn sĩ qui điền,
Kiếm nơi cha thảo mẹ hiền gởi
thân.
55. Lòng đã thắm, dạ vàng
phai,
Hơi đâu theo đuổi đường dài uổng
công.
56. Mặc ai đánh sáp soi
gương,
Mặc ai đỏng đảnh phố phường trăng
hoa.
57. Mặc ai chác lợi mua
danh,
Miễn ta học đặng đạo lành thì
thôi.
58. Mặt trời tang tảng rạng
đông,
Chàng ơi thức dậy ra đồng kẻo
trưa.
59. Một ngày ba bữa cơm đèn,
Lấy gì má phấn răng đen hỡi
chàng.
60. Một cây làm chẳng nên
non.
Ba cây dụm lại thành hòn núi cao.
61. Một ngày mấy lượt trèo
đèo,
Lấy gì làm đẹp làm giòn hỡi anh.
62. Một ngày ba bận trèo cồn,
Còn gì mà đẹp mà giòn hỡi anh.
63. Một ngày ba bận trèo
đèo,
Vì ai vú xếch, lưng eo hỡi chàng.
64. Mưu toan thì dễ
Sự thành thì khôn dễ làm nên.
65. Nợ nần cũng chẳng là
bao,
Ra công tháo vát lúc nào cũng
xong.
66. Nghề xe đổi lấy nghề đò,
Sông sâu nước chảy tôi mò từng
xu.
Chiều buồn gió thổi vi vu,
Thân tàn rũ liệt canh thu hít hà.
67. Ngồi rồi sau chẳng xé
gai,
Đến khi có cá mượn chài ai cho.
68. Người có chí ắt phải
nên,
Nhà có nền ắt phải vững.
69. Người ta đi cấy lấy
công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày,
trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.
70. Nhà anh cột gỗ kèo tre,
Trên thì lợp ngói dưới che mành
mành.
71. Ông cả ngồi trên sập
vàng,
Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo.
Ông bếp ngồi trong xó tro,
Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.
72. Ở cho phải phải phân
phân,
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
73. Phượng hoàng gặp bước
cheo leo,
Sa cơ thất thế phải theo đàn gà,
Bao giờ mưa thuận gió hòa,
Thay lông đổi cánh lại ra phượng
hoàng.
74. Quê mùa ở đất đồng
chiêm,
Lấy dao cắt cỏ, lấy liềm bửa cau.
75. Ra đường thấy cánh hoa
rơi,
Hai tay nâng lấy, cũ người mới
ta.
76. Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc có ngày phong
lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày cợ cấy, con trâu đi bừa.
77. Sinh không, tử lại hoàn
không,
Khó ta, ta chịu, đừng mong giàu
người.
78. Sự đời để mặc đời lo,
Nghiêng tai giả điếc, gật đầu làm
ngơ.
79. Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
80. Tu thân rồi mới tề gia,
Lòng ngay nói vậy, gian tà mặc
ai.
81. Thân lươn chẳng quản lấm
mắt,
Thân trạch chẳng quản lấm đầu.
82. Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.
83. Tranh quyền cướp nước gì
đây,
Coi nhau như bát nước đầy là hơn.
84. Trời mưa trời gió đùng
đùng,
Cha con chú Sùng đi gánh phân
trâu.
Đem về trồng bí trồng bầu,
Trồng hoa, trồng quả, trồng cau,
trồng dừa.
85. Trời mưa thì mặc trời
mưa,
Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi.
86. Trời nào có phụ ai đâu,
Hay thì làm giàu, có chí thì nên.
87. Vua Ngô ba mươi sáu tàn
vàng
Thác xuống âm phủ chẳng mang được
gì.
g) TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI
VẬT
Từ ngàn xưa, các nhà văn bác học
đều quan niệm rằng tâm hồn người bình dân hầu hết gắn liền với mây ngàn cỏ nội,
ruộng lúa nương dâu. Bởi lẽ cuộc sống của họ không tách rời những cảnh vật ấy.
Nhận xét trên không sai! Cảnh vật
đối với tâm tư con người có liên hệ mật thiết. Những buồn, vui, hờn, giận, đau
đớn, thích thú… trong bản năng con người không bao giờ độc lập với vũ trụ cả.
Chính người bình dân thời xưa đã
quan niệm như vậy, và họ đã nói lên tiếng nói của quan niệm họ:
Người vui thì cảnh cũng vui,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Hoặc : Khi vui non nước cũng
vui,
Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng
buồn.
Họ đã thấy tâm tư gắn liền với
ngoại vật, và ngoại vật là tấm gương phản ảnh của tâm tư, mà cũng là nơi chứa đựng
tình cảm con người. Họ đem tình cảm phủ lên cảnh vật, và gởi vào cảnh vật những
tâm tư trong cuộc sống.
Như vậy, đối với họ, cái vui buồn
của ngoại vật chỉ là sản phẩm của tâm tư.
Không, tuy họ thấy cảnh vật diễn
biến theo tâm tư họ, nhưng rồi họ lại thấy tâm tư họ bị ảnh hưởng rất mạnh ở
ngoại vật :
Ngồi buồn khuấy nước giỡn trăng,
Nước xao trăng lặn, buồn chăng hỡi
buồn !
Tâm tư con người không thể tách rời
ngoại cảnh, thì cũng không thể nào độc lập được với ngoại cảnh. Nếu vũ trụ vì sự
mâu thuẫn chung của tạo vật, phát sinh cảnh nắng mưa, gió bão, thì chính tâm tư
con người cũng vì sự mâu thuẫn chung trong cuộc sống mà diễn biến qua nhiều trạng
thái của tâm tư. Tâm giới và ngoại giới đều là sản phẩm của vũ trụ. Con người
không có gì cả. Con người với vũ trụ cũng chỉ là một. Hay nói cách khác, con
người là một bộ phận của vũ trụ không thể đứng riêng ra ngoài qui luật thiên nhiên
để tạo thành vũ trụ, trong đó có con người.
Xưa nay, người ta quan trọng hóa
con người, cho tâm giới con người là một đối tượng của vũ trụ, thành thử họ
phân tách giữa tâm và vật, nhưng nếu chúng ta quan niệm con người với vũ trụ là
một, thì vấn đề tâm và vật cũng chỉ là của vũ trụ, và sự diễn biến ngoài vũ trụ
với sự diễn biến trong tâm tư cũng chỉ là một sợi dây chằn chịt có liên hệ mật
thiết với nhau, do yếu tố mâu thuẫn chung trong qui luật sinh diệt mà thôi.
Bởi vậy, nếu chúng ta cho cảm giới
người bình dân gần gũi với cảnh vật hơn những lớp người khác thì cũng chỉ mới
đúng trên quan điểm cá biệt, mà chưa đúng trên quan điểm duy nhất.
Trên quan điểm cá biệt chúng ta
thấy người bình dân Việt-nam sống về nông nghiệp, cảnh sắc của núi sông hun đúc
họ có một tình cảm bao la hơn, từ cái vui, cái buồn của họ đều phảng phất qua cảnh
vật, và mọi diễn biến của cảnh vật được tâm tư họ tiếp nhận làm thành cái buồn,
cái vui của tâm tư họ.
Nhưng nếu chúng ta đứng trên quan
điểm duy nhất của cảm giới con người, thì chúng ta lại thấy không những chỉ có
người bình dân mới đem tâm tư hòa vào cảnh vật và thu nhận những trạng thái của
cảnh vật gói vào vào tâm tư mà tất cả mọi người không ai tránh khỏi sự liên hệ
giữa tâm tư và ngoại cảnh.
Một cô gái phòng khuê sống trong
phong lưu đài các, cảm giới của họ không thể vì bốn bức tường ngăn cách thân phận
họ mà tâm tư họ tách ra khỏi ngoại vật. Bởi vì, khi nói đến tổ chức xã hội loài
người, chúng ta thấy có sự phân chia giai cấp, nhưng khi nói đến con người,
chúng ta lại thấy nó chỉ là một. Con người của phòng khuê cũng như con người của
đồng nội, trong phạm vi thiên tánh, tức là trạng thái biến động của vũ trụ, thì
họ vẫn như nhau.
Ai dám bảo cô gái phòng khuê
không mang những ưu tư trước mây ngàn cỏ nội ! Ai dám bảo cô gái khuê phòng
không thể thu nhận ở cõi lòng mình những sắc thái của thiên nhiên ! Tâm tư con
người đều giống nhau trước qui luật biến động của vạn hữu, chỉ khác nhau ở lãnh
vực giao cảm, nghĩa là trạng thái đúc kết của tâm tư do sinh hoạt xã hội phân
hóa mà thôi.
Bởi vậy, trong phạm vi tâm giới
và ngoại giới, chúng ta không thể nào phân biệt giai cấp bình dân hay quí tộc,
mà chúng ta thấy tất cả đều là con người, và cùng chung một vũ trụ.
Cái buồn của cô gái phòng khuê có
thể không giống cái buồn của cô thôn nữ, cái vui của cô thôn nữ không giống cái
vui của cô gái phòng khuê, nhưng tác động của tình cảm, nghĩa là sự gắn bó giữa
cái vui và cái buồn của hai cô gái đối với ngoại cảnh thì vẫn như nhau. Cả hai
cô đều nhận được cái vui, cái buồn từ tâm tư mình diễn biến ở ngoại cảnh, và sự
diễn biến ngoại cảnh tác động vào cái buồn cái vui trong tâm tư mình.
Do đó từ một anh chàng nghệ sĩ, một
cô gái lầu xanh, một nàng khuê phụ, một gã nông dân, cho đến các bậc vua chúa
không ai tách rời được tâm tư với cảnh vật, và tất cả đều phải dùng
mọi diễn biến của tâm tư, bởi vì cảnh vật và tâm tư đều là trạng thái của vũ trụ.
Nói như thế cũng có nghĩa là
không phải chỉ có người bình dân sống gần gũi với thiên nhiên mới đem tình cảm
mình hòa vào thiên nhiên, gắn liền với cảnh vật những sắc thái của tâm tư, mà tất
cả mọi người, dù trong từng lớp nào, cũng đem tâm tư đi tìm cảnh vật, và thu nhận
những trạng thái biến động của cảnh vật làm yếu tố giao cảm của tâm tư mình.
Đây, một nàng chinh phụ đã đem
tâm tư mình giao cảm với cảnh vật trong cái buồn nhớ nhung của cô gái phòng
khuê :
Hoa đãi nguyệt, nguyệt in một
tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng
bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng
trùng,
Trên hoa dưới nguyệt, trong lòng
xiết đau.
(Chinh phụ ngâm)
Như vậy, đủ thấy dù phải sống
trong bốn vách tường của xã hội duy lý, người chinh phụ vẫn không bị bốn bức tường
ấy làm ngăn cách giữa tâm tư và ngoại cảnh.
Còn đối với người thôn nữ, sống
giữa cõi bao la, trời mây bát ngát, trong cái buồn nhớ nhung luyến ái, tâm tư họ
cũng chỉ hòa vào cảnh vật, không khác gì cô gái phòng khuê :
Gió đưa trăng thì trăng đưa gió,
Trăng lặn rồi, gió biết đưa ai !
Tình cảm của cô gái phòng khuê và
cô gái đồng ruộng đối với ngoại cảnh quả không khác gì nhau cả.
Cho đến một cô gái lầu xanh, khi
buồn đã đem tâm tư gieo vào cảnh vật :
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm
xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một mầu xanh
xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…
!
(Kim Vân Kiều)
Thì đối với cái buồn của một cô
thôn nữ sống trong thửa ruộng nương dâu, vẫn không khác mấy :
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao
mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai
?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?
Đêm đêm tưởng dãi ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm
tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào-khê nước chảy hãy còn trơ
trơ… !
Đã không một bầu tâm tư nào không
chứa đựng cảnh vật, thì cũng không có cảnh vật nào thoát ra ngoài tâm tư. Diễn
biến của cảnh vật và tâm tư vẫn là diễn biến chung của vạn hữu.
Tuy nhiên, nếu chúng ta thừa nhận
trạng thái diễn biến vạn hữu là trạng thái cố định, thì chúng ta lại cũng phải
thừa nhận tánh chất đổi thay của vạn hữu qua thời gian và không gian.
Tâm tư con người cũng vậy. Sự diễn
biến của tâm tư và cảnh vật tuy cố định, nghĩa là bất kỳ thời gian và không
gian nào, tâm tư con người cũng không thể nào tách rời cảnh vật, nhưng trong
cái không thể tách rời ấy lại có chỗ khác nhau, qua thời gian, không gian, và
qua sự biến thái của mọi chế độ xã hội.
Như vậy có nghĩa là con người
không khác nhau trong lãnh vực duy nhất của vũ trụ, và không giống nhau trong
lãnh vực biến dịch. Tính chất của vũ trụ đối với con người là tính chất
nhất thể, còn tính chất biến dịch đối với vạn hữu là tính chất đa thể, lệ thuộc
vào cá biệt.
Buồn vui là trạng thái của tâm
tư, dù cho người ngàn xưa, hay người của muôn nghìn thế hệ về sau vẫn không
thay đổi. Tiền nhân của chúng ta có buồn, có vui, và chúng ta ngày nay cũng có
buồn, có vui. Trạng thái tâm tư có khác gì đâu ? Tiền nhân của chúng ta đã đem
cái buồn vui ấy gởi gắm vào cảnh vật, và thu nhận ở cảnh vật những diễn biến
làm tình cảm cho tâm tư, thì ngày nay chúng ta cũng đem những buồn vui của
chúng ta trao đổi với ngoại cảnh. Cũng chẳng có gì khác nữa.
Nhưng cái khác biệt của tiền nhân
đối với chúng ta là tính chất cái buồn, cái vui ấy.
Tính chất của cái buồn, cái vui
giữa tiền nhân và chúng ta không thể giống nhau được. Đó chính là yếu tố biến dịch
của thời gian và không gian. Cho nên khi chúng ta đem con người trở về với con
người thì mọi người đều giống nhau, và khi chúng ta đem con người trở về với cuộc
sống thì mọi cái lại khác nhau.
Ở đây chúng ta không đi tìm con
người trong tính chất vũ trụ mà đi tìm con người trong tính chất biến dịch.
Chúng tôi muốn nói đến cuộc sống bình dân, nên chúng ta lại phải cứu xét đến
tính chất của tâm tư họ khi đã bị hòa vào cuộc sống.
Cuộc sống chi phối tình cảm con
người, và gieo vào cảm giới con người một tính chất riêng rẽ, mà chúng ta gọi
là tâm trạng.
Người bình dân đem tâm trạng hòa
với ngoại vật, tìm ở ngoại vật những buồn vui đang phát khởi trong lòng họ, và
coi ngoại vật cũng chính là lòng họ.
Quan niệm ngoại vật, nội tâm đồng
nhất như vậy, chính người bình dân đã gần với lẽ sống thiên nhiên.
Đây, chúng ta thử tìm vào cảm giới
của họ khi đứng trước thiên nhiên :
Chim bay về núi tối rồi,
Không cây nó đậu, không mồi nó ăn
!
Một cánh chim lạc loài trong
hoàng hôn tận cuối trời đã làm cho họ nghĩ đến cảnh cô đơn, đói khát và không
nơi nương tựa. Họ cảm thấy thân phận con chim cũng như thân phận con
người, và tất cả muôn loài trong vũ trụ đều chịu chung số phận như nhau. Sự
thương xót bản thân đi đến sự thương xót ngoại vật, và cảm giác của họ là cảm
giác bình đẳng trước cuộc sống.
Không những họ mang ý thức bình đẳng
giữa con người và con người, mà tính chất bình đẳng của họ còn bao trùm cả muôn
loài vạn vật nữa. Cho nên cảm nghĩ họ khi hòa vào ngoại vật đã vượt quá giới hạn
con người.
Bởi vậy, lúc nào họ cũng nhân
cách hóa ngoại vật như :
Cá lý ngư sầu tư biếng lội,
Con chim trên cành sầu cội biếng
bay !
Nhân cách hóa sự vật không với mục
đích bắt sự vật phục vụ cho cảm giới con người, mà để diễn tả tính chất độc lập,
bình đẳng của ngoại vật.
Khác với tính chất bình dân, các
nhà văn bác học trong giai cấp quí tộc cũng nhân cách hóa sự vật, nhưng họ nhân
cách hóa không phải với tinh thần bình đẳng, độc lập trước cuộc sống, mà họ
nhân cách hóa với dụng ý để phục vụ cảm giới cá nhân họ.
Ví dụ khi cần diễn tả một sắc đẹp
tuyệt mỹ của nàng Phi-Tần, Ôn-như Hầu đã mượn chim cá để nói lên :
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng da tời nhạn ngẩn ngơ sa ?
Chim sa cá lặn vì nhìn thấy sắc đẹp
của nàng Phi-Tần, vậy cảm giác của tác giả đối với ngoại vật chỉ là gán ép và
điều khiển. Con cá, con chim với tác giả cũng là loại cá chim phong lưu và
không sống được ngoài vòng phong tỏa của ý thức con người.
Nguyễn-Du, tác giả truyện Kiều đối
với ngoại vật cũng thế. Ngoại vật chỉ xoay quanh cảm giới con người để phục vụ
cho lẽ sống con người.
Khi tả sắc đẹp của nàng Kiều, ông
viết :
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém
xanh ?
Sự ghen của hoa, của liễu là chỉ
để phục vụ cho sắc đẹp nàng Kiều mà thôi.
Đối với người bình dân ngoại vật
không cần phải phục vụ cho cảm giới con người, mặc dù vẫn được họ nhân cách hóa
:
Chú mèo trèo lên cây cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng
nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa,
Mua mắm mua muối, giỗ cha chú
mèo.
Mèo chuột vẫn sống tự do, vẫn
bình đẳng và độc lập với cuộc sống loài người, không bị sự bắt buộc hiện diện của
nó để phục vụ cho mục đích nào trong cảm giác con người cả.
Sự sống con người càng phức tạp,
tâm tư chiếm đoạt của con người càng gay gắt thì cảm giới con người càng đi lần
vào chỗ độc tài, ý thức con người đi lần đến chỗ ngự trị ngoại vật. Bởi vậy tâm
tư của chúng ta ngày nay nếu nói đến ngoại vật thì đó chỉ là ý thức bắt buộc
ngoại vật phục vụ cho cảm giới chúng ta mà thôi.
Nếu chúng ta được nghe một thi
nhân tả mùa thu :
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô.
(L.T.L)
Thì con nai vàng và chiếc lá khô
kia chính là sở hữu trong cảm giới mà tác giả bắt buộc nó phục vụ cho hình ảnh
của mùa thu.
Người bình dân trái lại, không
dùng tính chất bắt buộc ấy đặt ngoại vật độc lập với cảm giới.
Chiều chiều vịt lội cò bay,
Con voi bẻ mía chạy ngay vô rừng.
Con vịt, con cò, con voi, cây mía
xuất hiện trong cảm giới họ không chịu sự điều khiển ý thức của họ, mà chỉ hoạt
động theo hệ thống thiên nhiên, cũng như họ đi cắt cỏ, gánh phân… thế thôi. Cảm
nghĩ của họ đối với ngoại vật là độc lập, bình đẳng và tương quan. Cho nên
chúng ta không lấy làm lạ, khi trong ca dao bình dân đầy dẫy những câu hát, như
:
Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép để con ở nhà
Mẹ đi một quãng đường xa,
Mẹ sà chân xuống phải mà anh
lươn.
Ông kia có cái thuyền nan,
Chỉ vào ao rậm xem lươn bắt cò
Ông kia chống gậy lò cò,
Con lươn tụt xuống, con cò bay
lên.
Chúng ta đừng tưởng những bài hát
như thế đối với họ không có ý nghĩa. Tâm tư chúng ta ngày nay bị thời gian đúc
kết do không biết bao nhiêu phức tạp của cuộc sống, khiến chúng ta không còn giữ
được bản chất hồn nhiên nữa, thì làm sao thu nhận và hòa hợp nổi cảm giới của
người xưa ?
Ngày nay mỗi ý nghĩ, mỗi cảm giác
chúng ta khi hòa vào ngoại vật, nếu không rên rỉ kêu than thì cũng bắt ép hình
bóng của ngoại vật phải phụng sự cho cuộc sống tinh thần của chúng ta. Đó là kết
quả của một chuỗi thời gian mà loài người đã dùng lý trí đưa xã hội loài người
trải qua những cuộc chém giết, xâu xé đến tận cùng.
Tâm tư người xưa không phải như
tâm tư của chúng ta. Họ không biết lợi dụng, họ không bắt những cánh én phải dệt
cho họ những mùa xuân để họ thưởng thức. Họ không bắt rặng liễu phải rủ tóc buồn
đứng chịu tang để tô điểm một mùa thu trong cảm giới của một thi nhân. Họ không
bắt mặt nước hồ thu phải cau mày lại để diễn tả cái giận dữ của một cô gái đẹp
khi họ thích. Họ không lấy màu sắc đậm đà trên đỉnh núi mùa xuân để diễn tả bộ
ngực đẹp của giai nhân mà các nhà thơ ca tụng… Không, hình ảnh ngoại vật đi vào
tình cảm của họ không bị lợi dụng, không bị nô lệ cho cảm giác họ, không bị bắt
ép phục vụ cho tham vọng của một tâm hồn họ. Tính chất người bình dân không muốn
lợi dụng ai, không muốn lợi dụng ai, không muốn bắt ai nô lệ cho mình, nên họ
cũng không thể bắt hình bóng ngoại vật phải phụng sự cho tham vọng cảm giác họ
được. Họ xem sự sống của ngoại vật cũng độc lập và bình đẳng như sự sống của họ.
Trạng thái ấy đã biểu lộ rõ rệt
qua các câu hát hồn nhiên và vô tư như :
Con mèo con chó có lông,
Cây tre có mắc, nồi đồng có quai
!
Chúng ta cho là vô lý, thiếu ý
nghĩa ! Phải ! Nó vô lý đối với chúng ta, bởi vì chúng ta đòi hỏi ngoại vật lúc
nào cũng phục vụ cho cảm giới chúng ta cả, nếu nó tách rời nhiệm vụ ấy thì trở
thành vô lý, thiếu ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa của người bình dân thời xưa sống
trong tâm tư hồn nhiên, không đem tình cảm chinh phục ngoại cảnh, thì đối với họ
không là vô lý !
Mà, tại sao lại vô lý ? Tại sao
chúng ta lại bắt họ phải tưởng tượng con mèo con chó không có lông ? Hoặc,
chúng ta bắt họ tưởng tượng lông con mèo con chó bóng láng và óng ả như những
giọt sương đọng trên suối tóc giai nhân ? Không, tâm hồn người bình dân không
như tâm hồn của chúng ta ngày nay. Họ cũng muốn ngoại vật được sống độc lập, tự
do như tâm hồn của họ, không bị áp chế và lợi dụng.
Khi mà tâm hồn của họ đối với cuộc
sống còn hồn nhiên, chất phác như :
Rủ nhau xuống biển bắt cua,
Lên non bắn nhạn, lên chùa nghe
kinh.
Thì cảm giới của họ đối với ngoại
vật cũng phải hồn nhiên và chất phác như :
Ngó lên đám bắp trổ cờ
Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.
Hoặc : Chiều chiều én liệng
trên trời
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên
cây.
Tâm tư hồn nhiên, chất phác của
người bình dân trước ngoại vật như vậy, chúng ta tưởng không lấy gì làm lạ.
Trong quyển « Phong tục miền
Nam », ông Đào-văn-Hội đã nghe lời một cụ già sửa lại câu hát :
Con mèo con chó có lông
Cây tre có mắc, nồi đồng có quai.
Chúng tôi xin trích lại đoạn ấy :
« Đây, tôi xin mở dấu ngoặc,
và nhắc lại câu ta thường nghe hát :
Con mèo con chó có lông
Ống tre có mắc, nồi đồng có quai.
Thật hiển nhiên quá ! Có gì lạ
đâu ?
Nhưng một cụ già mà chúng tôi được
hầu chuyện cho biết rằng câu ấy truyền tụng sai, chính ra phải như sau mới đúng
:
Con gà con vịt cũng không,
Bóng tre có mát, ngoài đồng không
ai.
Ấy là cảnh đồng buổi trưa vắng vẻ
nông phu đã về nhà, gà vịt tìm nơi tránh nắng, chỉ có khóm tre bóng mát, giữa
cánh đồng rộng rãi bao la… »
Thật ra chúng tôi không đồng ý với
sự sửa chữa bằng cách suy nghiệm như vậy. Nếu bảo câu hát « con mèo con chuột
có lông » là vô lý, không có gì lạ, thì những câu như :
Ngó lên đám bắp trổ cờ
Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông.
Hoặc : Chiều chiều én liệng
trên trời,
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên
cây.
Lại có gì lạ, hoặc hữu lý đâu ?
Chúng tôi tưởng cái lạ, cái hữu lý chính là trạng thái tâm hồn của người xưa,
trạng thái tâm hồn khác biệt với trạng thái tâm hồn chúng ta ngày nay. Cho nên
những vết tích tâm tư, lưu lại với thời gian, chúng tôi thiết tưởng nên cố gắng
tìm hiểu hơn là thay đổi.
Vì tâm tư người bình dân thời xưa
mang tính chất hồn nhiên, vô tư, phản ảnh ngoại vật, cho nên ngoại vật cũng hồn
nhiên, vô tư như tâm trạng họ. Cũng chính vì thế mà tâm giới họ đã đưa ngoại vật
hòa hợp vào cuộc sống thực tiễn của họ đến nỗi chúng ta thấy tâm giới và ngoại
cảnh hình như muốn lẫn lộn cùng một sinh hoạt xã hội.
Trạng thái ấy biểu lộ rất rõ rệt
qua những bài hát sau đây :
Cái cò chết tối hôm qua
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng mua trống mua kèn
Một đồng mua mỡ đốt đền thờ vong
Một đồng mua mớ rau rong
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò
Tâm tư họ hòa vào ngoại vật đưa sức
sống của ngoại vật vào cảm giới : con người với tính chất tương đồng, không
riêng rẽ. Nếu họ có những đau buồn, băn khoăn, mến tiếc trước cái chết của người
thân, thì họ cảm thấy ngoại vật cũng biết đau buồn, mến tiếc trước cái mất mát ấy.
Bởi vậy, tình cảm họ bàng bạc trước
mọi sinh vật, như :
Cái cò đi đón cơn mưa,
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về !
Cò về thăm gốc cây đề
Giương cung anh bắn cò về làm chi
?
Cò về thăm bác thăm dì
Thăm cô xứ Bắc, thăm dì xứ Đông.
Tình cảm đối với ngoại vật cũng
như tình cảm giữa con người với con người. Nhưng giữa con người và con người có
những mâu thuẫn vì lẽ sống, còn tình cảm họ với ngoại vật chỉ chứa đựng tính chất
thương yêu mà thôi. Ví dụ :
Cóc chết để nhái mồ côi
Chẩu ngồi chẩu khóc : chàng ôi là
chàng !
Ễnh ương đánh lệnh đã vang,
Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi !
Từ con cóc, con nhái, con cò, con
vịt… đến muôn
loài vạn vật, đối với tâm tư người bình dân trước lẽ sống như bình đẳng.
Nhưng tại sao tâm hồn họ đối với
vạn vật muôn loài lại có sự bình đẳng như vậy ? Dĩ nhiên đó là trạng thái thiên
nhiên. Tâm tư họ chưa bị lịch sử tranh đấu của loài người làm biến chất.
Đã sẵn có tình thương đối với
muôn loài vạn vật như vậy cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi một anh nông
phu dắt trâu ra đồng hát vang lên :
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với
ta.
Hoặc họ đặt địa vị con trâu ngang
với con người :
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa.
Nhà đạo đức học thường nói
: « Muốn biết
trình độ văn minh của một dân tộc cao hay thấp người ta có thể xét ngay ở cách
dân tộc ấy đối đãi với loài vật ».
Thật vậy, nếu những hành động chặt
đuôi chó, cắt tai mèo không phải là những hành động văn minh thì chính người
bình dân Việt nam ta thưở xưa cũng không đến nỗi man rợ.
Đây, chúng tôi xin lược trích một
vài hình ảnh đã in trên những làng quê đất Việt thuở xưa, được ông Hoa-Bằng ghi
lại trong quyển « Dân tộc tính trong ca dao Việt-nam » xuất bản tại Hà-nội năm
1952 :
« …Một cô bé độ 12, 13 tuổi, chễnh
chệ ngồi trên lưng con bò mẹ dưới bóng hoàng hôn.
Đàng xa xa, con bê con mà cô thường
gọi quen nó bằng tiếng nựng nịu là « Mế », đang mải miết ăn hết đám cỏ nọ lại
ngoạm đến chòm cỏ kia. Nó ăn mãi… rồi lại la cà nô đùa, quên cả đường về.
Cô bé ngồi trên lưng mẹ « Mế » cất
tiếng thương yêu gọi Mế :
Mế ơi là con bò Mế !
Mế hương, Mế hoa,
Mế cà, Mế rợ,
Mế ở ba mùa.
Ai mua chẳng bán,
Ai hoạn chẳng cho,
Cắt cỏ ăn no.
Cày bừa cho đỡ mẹ Mế
Mế ơi là con bò Mế !
Mế ! Mế ! Mế !
Giọng cô lanh lảnh, rung động cả
bầu không khí phẳng lặng êm đềm… Người ta ngẫm nghĩ mãi về bài « Gọi Mế » của
cô mới hiểu tình thương của cô đối với con bò con. Cô cắt cỏ nuôi cho nó ăn, ai
muốn mua nó cô cũng chẳng bán, ai hoạn nó cô cũng chẳng cho. Cô hy vọng trong
vài ba năm nữa Mế lớn lên sẽ giúp đỡ mẹ Mế trong công việc cày bừa, khiến mẹ Mế
khỏi phải một mình vất vả…
Cũng một chiều, trên sườn đồi đi
về mấy chiếc nhà tranh lẻ tẻ, dưới rặng sim, những tàu lá thô sơ nhuộm đẫm ánh
tà vàng lợt, mấy cô gái thơ ngây mộc mạc ngất ngưởng trên lưng trâu, véo von
hát :
Nghé ơi là nghé !
Nghé khôn theo mẹ
Nghé dại theo đàn
Nghé chớ ăn càn
Người ta đánh nghé !
… … …
Một nhát đến tai
Hai nhát đến đầu !
Lấy tiền đâu, của đâu
Chuộc lấy đầu lâu
Mang về trả mẹ Nghé !
Đó là mấy bài ca mục đồng đầy ý
nghĩa thương yêu loài vật. Đó cũng là những nét biểu hiện lòng bác ái bao la,
man mác của dân tộc Việt-nam… »
Bản chất người bình dân ngày xưa
bắt nguồn từ tâm tư hồn nhiên, tạo cho cảm giới họ có một đặc tính vô tư, bình
đẳng và độc lập trước cuộc sống ngoại vật. Tuy nhiên, xã hội loài người không đứng
yên, dòng thời gian trôi mãi, mỗi bóng mặt trời khi đi qua là là mỗi vết tích
ghi lại trên lịch sử xã hội loài người. Bởi vậy, những gì chất phác hồn nhiên
trong cảm giới cũng không thể bảo tồn được. Tâm tư người bình dân cũng theo lịch
sử thời gian biến thiên. Từ những câu hát vô tư, mộc mạc chuyển sang ý thức đau
buồn, khắc khoải như :
Vì mây cho núi lên trời,
Vì chưng gió thổi, hoa cười với
trăng.
Vì sương cho núi bạc đầu,
Vì đâu mưa nắng cho rầu rĩ hoa.
Tâm tư đau buồn của họ phát xuất
từ cuộc sống xã hội loài người chuyển vào cảnh vật, và chính cảnh vật đối với họ
cũng chịu một thân phận đau khổ như họ :
Thương cho thân thể quả dừa,
Non thì khoét mắt, già cưa lấy đầu.
Hoặc : Thương thay thân phận
con rùa,
Lên đình đội hạc, xuống chùa đội
bia.
Tuy nhiên, càng đau đớn trước những
biến thái của xã hội loài người, người bình dân càng đem tình thương gắn vào
ngoại vật. Chỉ có những kẻ bị mất tình thương trước cuộc sống loài người mới thấy
tình thương là quí giá. Họ muốn nói lên cái quí giá ấy bằng cách chia xẻ nỗi khổ
đau của muôn loài vạn vật xung quanh họ.
Một tiếng dế kêu giữa đêm trường
cũng đủ làm cho tâm tư đau khổ của họ nổi dậy hòa lẫn với tiếng dế ấy ! Ví như
:
Lòng thương con dế ở hang
Nắng mưa phải chịu sõi sàng tiếng
kêu !
Một luồng gió thổi qua, một chiếc
lá vàng rơi, họ cũng cảm thấy xót xa cho thân phận của cây cối.
Đố ai quét sạch lá rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung
cây.
Chính họ cảm thấy chẳng những
loài người tạo cho mình một cuộc sống khổ đau, mà muôn loài vạn vật trong vũ trụ
cũng bị sức mâu thuẫn của thiên nhiên tạo cho chúng những đau khổ chẳng kém
loài người.
Chỉ có kẻ đau khổ mới thấy được
đau khổ ! Người bình dân là lớp người thấp thỏi nhất trong xã hội nên thấy khổ
đau nhiều hơn ai hết. Bởi vậy lòng nhân đạo dễ kích động đối với họ.
Tính chất ấy đã biểu lộ qua các
câu ca dao rất cảm động như :
Chiều chiều bắt nhái cắm câu,
Nhái kêu cái ẹo, thảm sầu nhái ơi
!
Móc một con nhái vào lưỡi câu, tiếng
kêu đau đớn của con nhái đã làm cho họ liên tưởng đến thân phận đau đớn của họ
trước cuộc sống loài người !
Hỡi những bậc vua chúa thời xưa
trong cung vàng điện ngọc ! Bên tai các ngài lúc nào cũng bị tiếng đờn, tiếng
tiêu du dương mãi, chắc các ngài chưa bao giờ được nghe tiếng đau đớn của một
con nhái bị mắc vào lưỡi câu, để xem thử lòng mình có nhói lên một cảm giác
thương hại như người bình dân chăng ?
Nhưng thôi ! Chúng ta hãy trở lại
với người bình dân !
Cuộc sống của người bình dân càng
đau khổ thì tâm tư của họ lại đi lần vào tình thương ; cho nên cảm giới của họ
đối với ngoại vật rất gần gũi và khắng khít. Họ gắn liền tâm tư họ với cảnh vật.
Một lỗ chân trâu, một chiếc gàu
tát nước, một con đường mòn, một tiếng gà gáy ban mai… tất cả những gì
có liên hệ đến đời sống họ đều được họ xem như tình bạn.
Đây, chúng ta nghe một cô gái
giãi bày tâm tư họ đối với ngoại vật :
Giả ơn cái cối cái chày,
Nửa đêm gà gáy, có mày có tao !
Giả ơn cái cọc bờ ao,
Nửa đêm gà gáy, có tao có mày !
Thì không còn tình cảm nào thống
thiết hơn.
Cuộc sống đã đưa lớp người bình
dân đi lần vào trạng thái khổ đau, nên tâm tư họ đối với ngoại vật cũng lần lần
tiến tới trạng thái ấy. Cảnh vật trở thành nơi chứa đựng những khắc khoải ưu tư
của họ.
Tóm lại, nếu chúng ta thừa nhận
tâm tư và ngoại giới là hai lãnh vực ảnh hưởng mật thiết với nhau thì chúng ta
có thể gọi đó là hai người bạn.
Khi đã là bạn, tất nhiên phải có
những tâm hồn gần gũi nhau.
Cho nên, nếu nguồn văn chương bác
học đã chọn trong cảnh vật một người bạn hào hoa, phong nhã, bóng bẩy, lả lướt…
để hợp với tâm hồn họ thì chính người bình dân lại chọn trong cảnh vật một người
bạn cần cù, chất phác, đau khổ, xót thương… để hợp với cảm giới họ.
Cũng chính vì vậy mà chúng ta
ngày nay có hai dòng văn chương : Bác học và Bình dân.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI VẬT
1. Ai về tôi gởi bức thư,
Cô Tám ở lại, cô Tư lấy chồng.
2. Ai mua con quạ bán cho,
Đen lông, đen cánh, bộ giò cũng
đen.
3. Ai đem con sáo sang sông.
Để cho con sáu sổ lồng nó bay.
4. Ai nhất thì tôi thứ nhì,
Ai mà hơn nữa, tôi thì thứ ba.
5. Ai lên nhắn chị hàng cau,
Chiều buồn rấp nước giữ mầu cho
tươi.
6. Anh mong gởi cá cho chim,
Chim bay ngàn dặm cá tìm biển
đông.
7. Ao to ta thả cá chơi,
Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi
gà.
Quanh năm khách khứa trong nhà,
Ao vườn sẵn có, lọ là tìm đâu.
8. Ba cô đi chăn bò vàng,
Để bò ăn lúa, ba nàng hái hoa
Hái được cành bổng, cành la,
Cành nào tươi tốt cho ta một
cành.
9. Ba đời bảy họ nhà tre,
Hễ cất lấy gánh nó đè lên vai.
10. Ba bà đi bán lợn con,
Bán thì chẳng được bon bon chạy về.
Ba bà đi bán lợn sề,
Bán thì chẳng được chạy về bon
bon.
12. Bao giờ cho chuối có
cành,
Cho sung có nụ, cho hành có hoa.
13. Bắc thang lên gọi ông
Trăng,
Hỏi rằng chị Nguyệt đã chừng mấy
con.
14. Bắc thang lên hỏi cung
mây,
Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời ?
Cuội nghe thấy nói, Cuội cười,
Bởi hay nói dối phải ngồi gốc
cây.
15. Bắc thang lên đến tận trời,
Thấy ông Nguyệt-lão đương ngồi xe
tơ.
16. Bể sâu con cá lớn vẫy
vùng,
Trời cao muôn trượng cánh chim hồng
cao bay.
17. Sá chi đồi cát, vũng lầy,
Những loài tôm tép biết ngày nào
khôn.
18. Biểu về nói với ông câu,
Cá ăn thì giật, để lâu mất mồi.
19. Bồng bồng mà nấu canh
tôm,
Ăn vào mát ruột, đến hôm lại bồng.
Bồng bồng mà nấu canh khoai,
Ăn vào mát ruột, đến mai lại bồng.
20. Bồng thơm, thơm lạ,
thơm lùng,
Thơm cây, thơm rễ, người trồng
cũng thơm.
21. Bước sang tháng sáu giá
chân,
Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.
Con chuột kéo cày lồi lồi,
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong
cong.
Vườn rộng thì thả rau cong,
Ao sâu giữa đồng, vãi cải lấy ngồng
làm dưa.
Một đàn con cò đi tắm đến trưa,
Một đàn con vịt đi bừa ruộng
nương.
Voi kia nằm ở gậm giường,
Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc
nhằn.
Chuồn kia thấy cám liền ăn,
Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay
qua.
Trời mưa cho mối bắt gà,
Thòng đong cân cấn, đuổi cò xao
xao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Thóc giống cắn chuột trong bồ,
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.
Chim chích cắn cổ diều hâu.
Con gà tha quạ biết đâu mà tìm.
Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi,
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng
mai.
Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc.
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.
Hương hoa thì hôi, nhất thơm nhì
cú.
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu,
Hay cắn thì trâu, hay cày thì
chó.
22. Bướm già thì bướm có
râu,
Thấy bông hoa nở, cúi đầu bướm
châm.
Bướm châm mà bướm lại nhầm,
Có bông hoa nở ong châm mất rồi.
23. Cá buồn cá lội thung
thăng,
Người buồn người biết đãi đằng
cùng ai.
Phương đông chưa rạng sao mai,
Đồng hồ chưa cạn biết ai bạn
cùng.
24. Cái bóng đi chợ cầu
canh,
Cái tôm đi trước, củ hành đi
sau.
Con cua lạch đạch theo sau,
Cái chầy rơi xuống vỡ đầu con
cua.
25. Cái kiến mày ở trong
nhà,
Tao đóng cửa lại, mày ra đàng
nào,
Con cá mày ở dưới ao,
Tao tát nước vào, mày sống được
chăng.
26. Cái bống cõng chồng đi
chơi,
Đi đến chỗ lội, đánh rơi mất chồng.
Chú lái ơi ! tôi mượn chú cái cỗ
gàu sòng.
Tôi tát, tôi múc cho chồng tôi
lên.
27. Cái cáo mặc áo em tao,
Làm tổ cây cà,
Làm nhà cây chanh,
Đọc canh bờ giếng,
Mỏi miệng tiếng kèn,
Hỡi cô trồng sen !
Cho anh hái lá,
Hỡi cô trồng bưởi !
Cho chàng hái hoa.
Một cụm cà là ba cụm lý,
Con nhà ông lý, mặc áo tía tô.
Con nhà thằng Ngô, mặc áo lang
khách.
Hai con chim khách đánh nhau trên
cây.
Hai cái bánh giầy đánh nhau mâm cỗ.
Hai hạt đỗ đánh nổ nồi rang,
Hai con kiến vàng đánh nhau lọ mật.
Hai hòn đất đánh vật bờ ao,
Mầy tát chuôm tao, tao tát chuôm
mày.
Mầy đầy rổ cá, tao đầy rổ tôm,
Mày đi chợ Cầu-nôm, tao đi chợ Cầu-rền.
Mày bán cửa đền, tao bán cửa vua,
Mày làm mắm chua, tao làm mắm
thính.
Mày con ông Chính, tao con ông
Xã,
Mày là cái ả, tao là cái hai,
Mày đội bồ đài, tao đội nón méo.
Mày cầm cái kéo, tao cầm con dao,
Mày làm sao, tao làm vậy,
Mày đi buôn cậy, tao đi buôn hồng.
Mày đi lấy chồng, tao đi lấy vợ,
Mày lên kẻ chợ, tao về nhà quê.
28. Cái kiến mày đậu cành
đào,
Leo phải cành cọc lèo vào leo ra.
Cái kiến mày đậu cành đa,
Leo phải cành cọc leo ra leo vào.
29. Cái cò là cái cò con,
Mẹ nó yêu nó, nó còn làm thơ.
Cái cò bay bổng, bay bơ,
Lại đây anh gởi, xôi khô cho
nàng.
Đem về nàng nấu nàng rang,
Nàng ăn có dẻo thời nàng lấy ta.
30. Cái cóc mày lặn ao chà,
Bay lên rũ cánh làm nhà chị
nương.
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Vã đi, vã lại, anh đồ yêu đương.
31. Cái bống là cái bống
bang,
Ăn cơm bằng sàng, bốc muối bằng
vung.
Mẹ giận mẹ đẩy xuống sông,
Con ra đường biển lấy chồng lái
buôn.
Khát nước thì uống nước nguồn,
Lạc đường thì bảo lái buôn đưa về.
32. Cái kiến mày kiện củ
khoai,
Chê em tao khó, lấy ai cho giàu.
Nhà tao chín đụn, mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
Cầu này là cầu ái ân,
Một trăm cô gái rửa chân cầu nầy.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh.
33. Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được mười tám mười chín con
trê.
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn.
Cái ngủ ăn chẳng hết, để dành đến
Tết mùng ba.
Mèo già ăn trộm, mèo ốm phải đòn,
Mèo con phải vạ, con quạ đứt
đuôi,
Con ruồi đứt cánh, đòn gánh có mấu,
Củ ấu có sừng, bánh chưng có lá,
Con cá có vây, ông thầy có sách,
Đào ngạch có dao, thợ rào có búa,
Xay lúa có giành, việc làng có
mõ.
Cắt cỏ có liềm, câu liêm có lưỡi,
Cây bưởi có hoa, cây cà có trái.
Con gái có chồng, đàn ông có vợ,
Kẻ chợ có vua, trên chùa có Bụt,
Cái bút có ngòi, con voi có quản.
34. Cánh hồng bay bổng trời
thu
Thương con chim gáy cúc cu trong
lồng.
Duyên may, tay bế, tay bồng,
Thương ai vò võ trong phòng chiếc
thân.
35. Có ông bốn vợ :
Một vợ rửa bát cầu ao,
Chẳng may gió cả rạt vào bụi tre.
Một vợ thì đi buôn bè,
Chẳng may gió cả nó đè xuống
sông.
Một vợ thì đi buôn bông,
Chẳng may gió cả nó bồng lên cây.
Một vợ thì đi buôn mây,
Chẳng may gió cả nó bay lên trời.
36. Con kiến mày chạy trong
nhà,
Ta đóng cửa lại, mày ra đàng nào.
Con cá mày ở dưới ao,
Ta tát nước vào, mày chạy đàng
mô.
37. Con mèo lành sao kêu mèo
vá,
Con cá không thờ sao gọi cá linh.
38. Con quạ nó đứng đầu cầu,
Nó kêu bớ má têm trầu khách ăn.
39. Con quốc kêu réo rắt
trên ngàn,
Gà rừng táo tác gọi con tha mồi.
Lạnh lùng thay láng diềng ôi !
Láng diềng lạnh ít, sao tôi lạnh
nhiều ?
40. Con chó chê khỉ lắm
lông,
Khỉ lại chê chó ăn dong, ăn dài,
Lươn ngắn lại chê chạch dài,
Thờn bơn méo miệng chê trai lệch
mồm.
41. Con cò chết rũ trên cây,
Cò con mở sách xem ngày làm ma.
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim ri ríu rít bò ra lấy phần.
42. Con gà cục tác lá chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng, khóc ngồi,
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
43. Con chim chìa vôi bay
ngang đám thuốc,
Con cá bã trầu lội tuốt vô mương.
44. Con chim sáo sậu,
Ăn cơm nhà cậu,
Uống nước nhà cô,
Đánh vỡ bát Ngô,
Bà cô phải đền.
45. Con quạ tha lá lợp nhà,
Con cu chẻ lạt, con gà dừng phên.
46. Con mèo, con mẽo, con
meo,
Vồ con chuột béo nhảy leo xà nhà.
47. Con ai mà chẳng con cha,
Cháu ai mà chẳng cháu bà, cháu
ông.
48. Con chim mầy ở trên cây,
Tao đứng dưới gốc cây mầy bay
đàng nào.
49. Con cá lý ngư sầu tư biếng
lội,
Con chim trên nhành sầu cội biếng
bay.
50. Con quạ nó đứng chuồng
heo,
Nó kêu bớ má, bánh bèo chín chưa.
51. Con mèo, con mẽo, con
meo,
Ai dạy mầy trèo, mày chẳng dạy
tao.
Mắt mi xanh sáng như sao,
Móng mi bén ngót, tiếng ngao dậy
trời.
52. Con mèo mày trèo cây
cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng
nhà ?
Chú chuột đi chợ đàng xa,
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.
53. Con cóc là cậu ông trời,
Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.
Con cóc là cậu thầy nho,
Hễ ai đánh chết, trời cho quan tiền.
54. Cô thỉ, cô thi,
Cô đang đương thì cô kẹo với ai.
Cô tú kẽo kẹt cô cai,
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới
sông.
Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng,
Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một
nơi.
Mâm thịt kẽo với mâm xôi,
Thịt bùi, xôi dẻo kẽo nơi bà già.
Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa,
Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.
Nồi cơm kẽo với nồi canh,
Quả bí trên nhành kẽo với tôm he.
Bán rán kẽo với nước chè,
Cô kia cò kè kẽo với anh đây.
Bà cốt kẽo với ông thầy.
Con chim loan phượng kẽo cây ngô
đồng.
55. Cô kia tát nước bên
đàng,
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.
56. Cô kia gánh nước quang
mây !
Cho xin một gáo tưới cây ngô đồng.
Ngô đồng thêm tốt, thêm xanh,
Để chim phượng đo đầu cành so le.
57. Chiều chiều vịt lội cò
bay,
Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng,
Vô rừng bứt một sợi mây,
Đem về thắt gióng cho nàng đi
buôn.
58. Đàn ai khéo gảy tinh
tinh,
Một đàn con cá nước lặn ghềnh nó
nghe.
59. Đào khoe tươi, liễu khoe
mềm,
Cây khô nẩy nhị, cành thêm ấm chồi.
Chữ rằng : « Thiên hữu tứ thời ».
Ngày thời hoa nở, tối thời hoa
thơm.
60. Đen đen là con quạ, bạc
bạc là con cò,
Đi lò dò là con ông lão.
61. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất
trâu.
62. Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao
mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ.
Đêm đêm hướng dải Ngân hà,
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm
tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ
trơ.
63. Đêm khuya ra đứng giữa
trời,
Giơ tay ngoắt nguyệt, nguyệt dời
phương nao.
Đêm khuya thức dậy xem trời,
Thấy sao bên Bắc đã rời bên Nam.
64. Đi đâu lả cả là cà,
Như chim lạc tổ, như ma lạc mồ.
Đi đâu lả cả la cà,
Ông tầm phất lại gặp bà tầm phơ.
65. Đố ai lượm đá vá trời,
Đan gàu tát biển, ghẹo người cung
trăng.
66. Đố ai quét sạch lá rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung
cây.
67. Gà về bới nát cỏ sân,
Mèo buồn lại chạy kiếm ăn ngõ
ngoài.
Chó nằm hè gặm vỏ khoai,
Lợn ngồi ủi đất ngậm hơi gầy gò.
68. Gió đánh cành tre, gió đập
cành tre,
Chiếc thuyền anh vẫn le te đợi
làng.
Gió đánh cành bàng, gió đập cành
bàng,
Dừng chèo anh hát, cô nàng hãy
nghe.
69. Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên-mụ, canh gà Thọ-xương.
70. Gió đưa trăng thì trăng
đưa gió,
Quạt nọ đưa đèn, đèn có đưa ai.
71. Gió đưa trăng thì trăng
đưa gió,
Trăng lặn rồi gió biết đưa ai.
72. Hoài tiền mua thuốc nhuộm
răng,
Để tiền mua mía đắng khăng vào mồm.
Hoài tiền mua mía đánh khăng,
Để tiền mua thuốc nhuộm răng cho
vàng.
73. Khá khen con bướm khôn
ngoan,
Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm
bay.
74. Khi đi trúc mọc le te,
Khi về trúc đã kết bè giữa sông.
75. Lác đác mưa ngâu,
Sình sịch mưa ngâu,
Lá ngâu rụng xuống,
Bông lau phất cờ,
Nước trong xanh, lặng ngắt như tờ.
Một đàn cá lớn nhấp nhô đầu ghềnh.
Kìa ai đứng ở đầu ghềnh.
76. Lạy trời đừng nắng chớ
mưa,
Êm êm dịu dịu cho vừa lòng em.
77. Lạy trời cho cả mưa đào,
Cho sen chìm xuống, cho bèo nổi
lên.
78. Lúa ngô là cô đậu nành,
Đậu nành là anh dưa chuột,
Dưa chuột là ruột dưa gang,
Dưa gang là nàng dưa hấu,
Dưa hấu là cậu lúa ngô,
Lúa ngô là cô đậu nành.
79. Má ơi ! Đừng đánh con
hoài,
Để con đi câu cá nấu xoài má ăn.
80. Má ơi con vịt chết chìm,
Thò tay vớt nó, cá kìm cắn con.
81. Mẹ em đi chợ đường
ngoài,
Mua em cây mía vừa dài vừa cong.
Mẹ em đi chợ đường trong,
Mua em cây mía vừa cong vừa dài.
82. Mẹ em khéo đẻ em ra,
Đẻ em mười bốn, đẻ ta hôm rằm
Đi đâu mà vội mà nhầm,
Sao em chẳng đợi trăng rằm cho
trong.
83. Nằm đây, chớ chẳng ngủ
đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu, con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò, con trâu.
84. Nó ra, rồi nó lại vô,
Chớ nào nó có vác vồ đuổi ai ?
Nó ra, rồi nó lại vào,
Chớ nào nó có phá cũi, dỡ rào nhà
ai ?
85. Non cao ai đắp mà cao,
Sông sâu ai bới, ai đào mà sâu ?
Sông sâu ai đắp ai đào,
Non cao ai đắp đá vào mà cao ?
86. Nửa đêm trở dậy trông trời,
Ông sao bên Bắc đã dời bên Đông.
Bờ hồ lai láng mênh mông.
87. Nước không chưn sao rằng
con nước đứng.
Chén uống một mình sao gọi chén
chung.
88. Nước sông cuồn cuộn chảy
xuôi,
Có con cá diếc đỏ đuôi theo mồi.
89. Ngồi buồn trách lẫn ông
xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại
cười.
Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà
reo.
Giữa trời vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thì trèo với
thông.
90. Ngồi buồn may túi đựng
trời,
Đan xề sảu đá, giết voi xem giò.
Ngồi buồn đem thước đi do,
Đo từ núi Sở, núi So, chùa Thầy.
91. Ra về thấy kiểng thảm
thương,
Nhành mai ủ dột, vách tường nhện
giăng.
92. Rủ nhau lên núi hái chè,
Hái năm ba ngọn xuống khe ta ngồi.
Ta ngồi ta bắt con ốc lặn,
Bắt con ốc lội, ta đem lên bờ.
Ta đập đánh chát, ta hút đánh chụt,
Ta lên trên ngàn hái nắm rau mơ,
Ta lên trên bờ hái lá rau răm.
93. Sáng trăng sáng cả đêm rằm,
Nửa đêm về sáng trăng nằm ngọn
cây.
94. Tạnh trời mưa cuốn về
non,
Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông
mưa.
95. Tình tính tang, tang
tình tang,
Súng vác vai, hỏa mai tọng nạp.
Gươm tuốt trần, giáo cắp, mộc
mang.
Tang tình tang,
Con cốc nó lội, con cò nó bay.
Tình tình tang, tang tình tang.
96. Tí hâu mày liệng cho
tròn,
Đến mai ta gả gà con cho mày.
Gà con ta để ta nuôi,
Đến mai ta gả con chó cụt đuôi
cho mày,
Tình tính tang.
Bắt con kiến càng, buộc chỉ ngang
lưng.
Bên thời lấy giấy mà bưng,
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến
sang.
Tình tính tang.
97. Tò vò mày nuôi con nhện,
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi.
Tò vò ngồi khóc tỉ ti,
Nhện ơi ! nhện hỡi ! Mày đi đàng
nào ?
98. Trăm thức hoa đua nở về
tiết tháng giêng ?
Có bông hoa cải nở riêng tháng mười.
Trăm cành hoa cười, trăm nụ hoa nở
mùa xuân sang.
Đàn con yến trắng, dập dìu đàn
ong.
Con chim kia sao khéo não nùng,
Cuốc kêu gióng giả như nung dạ sầu.
Gió nam hây hẩy lúc ban chiều,
Một đàn bướm trắng dập dìu trên
non.
Đêm đông trường nghe vượn ru con,
Vượn hót ru con, cá khe lẩn bóng,
chim luồn cỗi cây.
Con ve kêu ỏng ảnh tiếng chày,
Kìa quân tử trúc dạ nầy bâng
khuâng.
Em như hoa thơm mà mọc góc rừng,
Thơm cay ai biết, ngát lừng ai
hay.
99. Trăng bao nhiêu tuổi
trăng già ?
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non
?
Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn ?
Núi bao nhiêu tuổi núi còn trơ
trơ ?
100. Trong đầm gì đẹp bằng
sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị
vàng.
Nhị vàng, bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn.
101. Trời mưa trong núi mưa
ra,
Bồ câu gáy giục, đa đa gáy dồn.
102. Vào vườn xem vượn hái
hoa,
Xem voi đi guốc, xem gà nhuộm
răng.
Xuống sông xem cá đấu roi,
Xem tôm quần thảo, xem trai giở
mình.
103. Ví dầu cầu ván đóng
đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
104. Ví dầu cá bóng hai
hang,
Cá trê hai ngạnh, tôm càng hai
râu.
105. Ví dầu con cá nấu canh,
Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho
thơm.
II. LIÊN HỆ GIỮA ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN
Tinh thần, vật chất tuy là hai
lãnh vực, song luôn luôn khắng khít nhau như một. Xưa nay nhiều triết gia đã
phân tích mà vẫn chưa đạt một chân lý. Ở đây không phải chỗ chúng ta bàn đến.
Tuy nhiên, vì muốn khảo sát quan
niệm nhân sinh của người bình dân thời xưa, chúng ta không thể tách rời những cảm
nghĩ của họ có liên quan giữa đời sống vật chất và tinh thần. Vì vậy chúng ta
chỉ bàn đến phạm vi ảnh hưởng mà không đi sâu vào những triết thuyết.
Trong mục thứ nhất, chúng ta đã
nói đến bản năng tự tại, tức là phân tích cái bản chất của người bình dân thời
xưa xuyên qua thi ca, thì ở mục này chúng tôi lại tiếp tục khảo sát bản chất
con người khi họ nhìn vào thực trạng. Nói cách khác, chúng tôi muốn nêu lên sự
hòa hợp tinh thần của con người bình dân thời xưa trong lãnh vực đối ngoại.
Sài Gòn, 1/7/1969
Nguyễn Tấn Long - Phan Canh
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét